1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Hỏa Ngục - Dan Brown (end)

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,875
                  Type: TMT
      CHƯƠNG 83
       

       

      Mình cần khí, Robert Langdon nghĩ. khung cảnh…bất kỳ thứ gì.

      Thân máy bay kín mít như khép chặt lại xung quanh . Dĩ nhiên, câu chuyện lạ lùng về những gì thực xảy ra với hôm nay giúp được gì cả. Tâm trí vẫn quay cuồng với những câu hỏi chưa có lời giải đáp, hầu hết đều liên quan đến Sienna.

      lạ, lại rất nhớ .

      ấy ra tay, tự nhủ. Lợi dụng mình.

      lời, Langdon rời khỏi chỗ Thị Trưởng rồi về phía đầu máy bay. Cánh của khoang lái vẫn mở, và ánh sáng tự nhiên lọt qua đó lôi cuốn như ngọn đèn hiệu. Đứng ở khuôn cửa mà những người phi công hề phát ra, Langdon để cho ánh nắng ấm áp rọi lên mặt mình. gian rộng mở trước mắt giống như món quà trời ban. Bầu trời xanh trong trông thanh bình đến vĩnh cửu.

      Chẳng có gì là vĩnh cửu, tự nhủ, trong khi vẫn phải gắng chấn nhận thảm họa tiềm tàng mà họ đối mặt.

      “Giáo sư?”, giọng khẽ vang lên sau lưng , và quay lại.

      Langdon giật mình lùi lại bước. Đứng ngay sau chính là bác sĩ Ferris. Lần cuối cùng, Langdon nhìn thấy người đàn ông này là lúc ông ta co quắp sàn Thánh đường St. Mark, tài nào thở nổi. Giờ đây ông ta trong chiếc máy bay này, mặt ông ta tái nhợt, phủ kín lớp thuốc calamine. Ngực và nửa thân của ông ta được băng kín, còn hơi thở rất yếu ớt. Nếu Ferris có bệnh dường như ai cũng nghĩ rằng căn bệnh đó dễ lây lan.

      còn…sống à?”, Langdon , nhìn sững người đàn ông.

      Ferris mệt mỏi gật đầu. “Ít nhiều như vậy.” Thái độ người đàn ông này thay đổi thấy , dường như thư thái hơn.

      “nhưng tôi cứ nghĩ…”, Langdon im bặt. “Thực tế…tôi chắc phải nghĩ gì thêm nữa.”

      Ferris mỉm cười với đầy thông cảm. “ nghe rất nhiều lời dối trá ngày hôm nay rồi. Tôi nghĩ tôi cần dành thời gian lời xin lỗi. Như đoán ra, tôi hề làm việc cho WHO, và tôi hề tới để mời ở Cambridge.”

      Langdon gật đầu, vì quá mệt mỏi nên chẳng còn tỏ ra ngạc nhiên trước bất kỳ điều gì đến thời điểm này nữa. “ làm việc cho Thị trưởng.”

      “Đúng vậy. Ông ấy cử tôi tới để hỗ trợ khẩn cấp cho và Sienna…và giúp thoát khỏi SRS.”

      Vậy tôi đoán thực hiệm nhiệm vụ của mình rất hoàn hảo”, Langdon , nhớ lại chuyện Ferris xuất tại nhà rửa tội, thuyết phục tin rằng ông ta là nhân viên WHO, sau đó giúp và Sienna di chuyển ra khỏi Florence, tránh xa nhóm của Sinskey. “ ràng phải là bác sĩ.”

      Người đàn ông lắc đầu. “, nhưng tôi đóng vai đó ngày hôm nay. Công việc của tôi là giúp Sienna duy trì màn kịch để có thể phán đoán ra vị trí chiếc máy chiếu chỉ tới. Thị trưởng định tìm kiếm thứ mà Zobrist tạo ra để có thể bảo vệ nó trước bà Sinskey.”

      hề biết đó là bệnh dịch ư?”, Langdon , vẫn rất tò mò về tượng dị ứng lạ lùng và xuất huyết bên trong của Ferris.

      “Dĩ nhiên là rồi! Khi nhắc đến bệnh dịch, tôi cứ nghĩ câu chuyện Sienna ra để khích lệ . Cho nên tôi cũng đóng kịch theo. Tôi đưa tất cả lên tàu Venice…và sau đó, mọi việc thay đổi.”

      “Như thế nào?”

      “Thị trưởng nhìn thấy đoạn video đáng sợ của Zobrist.”

      Có lẽ là như vậy. “Ông ấy nhận ra Zobrist là kẻ điên rồ.”
      ”Chính xác, Thị trưởng đột nhiên hiểu ra tất cả những gì Consortium dính vào, và ông ấy hoảng sợ. Ông ấy đề nghị chuyện riêng với người biết Zobrist nhất – FS-2080 – để xem liệu ta có biết những gì Zobrist làm .”

      “FS-2080 ư?”

      “Xin lỗi, Sienna Brooks chứ. Đó là bí danh ta chọn cho nhiệm vụ này. cái tên theo phong trào Siêu nhân học. Và Thị trưởng có cách nào tiếp cận được Sienna trừ cách thông qua tôi.”

      “Cuộc điện thoại tàu”, Langdon . “’Bà mẹ già yếu’ của .”

      “Chà, ràng thể nhận điện của Thị trưởng trước mặt , cho nên tôi phải ra ngoài. Ông ấy kể với tôi về đoạn video, và tôi rất hoảng. Ông ấy hy vọng Sienna cũng bị lừa gạt, nhưng khi tôi với ông ấy rằng và Sienna về bệnh dịch và dường như có ý định từ bỏ nhiệm vụ, ông ấy biết ngay Sienna và Zobrist cùng phe trong vụ này. Sienna lập tức trở thanh đối thủ. Ông ấy bảo tôi giúp ông ấy bám sát vị trí của chúng ta ở Venice…vì ông ấy cử nhóm tới bắt giữ ta. Nhóm của đặc vụ Brũder gần như tóm được ta ở Thánh đường St. Mark…nhưng ta lại tìm cách thoát được.”

      Langdon nhìn trân trân xuống sàn, vẫn như thấy đôi mắt nâu rất đẹp của Sienna sững sờ nhìn xuống trước khi chạy .

      Em xin lỗi, Robert. Vì tất cả mọi việc.

      ta rất ghê gớm”, người đàn ông . “Có lẽ thấy ta tấn công tôi tại thánh đường.”

      “Tấn công sao?”

      “Phải, khi những người lính ập vào, tôi định hét to và tiết lộ vị trí của Sienna, nhưng chắc chắn ta cảm nhận được chuyện đó. ta đánh thẳng cườm tay của mình vào giữa ngực tôi.”

      “Sao cơ?!”

      “Tôi biết thứ gì nện vào mình. kiểu động tác võ thuật gì đó, tôi đoán vậy. Vì tôi bị bầm tím rất nặng ở đó, đau kinh khủng. Tôi phải mất tới năm phút mới thở lại được. Sienna kéo ra ban công trước khi có nhân chứng phát giác ra những gì vừa xảy ra.”

      Sững sờ, Langdon nhớ lại người phụ nữ Ý có tuổi quát lên với Sienna - “Ấn vào ngực ta!” - và làm động tác ấn tay lên ngực mình.
      ! Sienna trả lời. Làm hô hấp nhân tạo khiến ta tử vong! Nhìn ngực ta xem!

      Khi nhớ lại tấn kịch trong đầu, Langdon mới nhận ra Sienna Brooks suy nghĩ nhanh. khôn khéo ứng biến trước câu tiếng Ý. Ấn vào ngực ta phải là gợi ý rằng Sienna làm động tác ép ngực, đó là lời cáo buộc giận dữ: đánh vào ngực ta!

      Trong tình thế hỗn oạn lúc đó, Langdon thậm chí còn chú ý.

      Ferris mỉm cười đau đớn với . “Chắc nghe rồi, Sienna Brooks rất ghê gớm.”

      Langdon gật đầu. Tôi nghe rồi.

      “Người của bà Sinskey đưa tôi trở lại tàu The Mendacium và băng bó cho tôi. Thị trưởng bảo tôi cùng đội hỗ trợ quốc tế, bởi vì tôi là người duy nhất ngoài , ở cùng Sienna ngày hôm nay.”

      Langdon gật đầu, vẫn phân vân vì chứng dị ứng của người đàn ông. “Mặt của ?”, Langdon hỏi. “Và vết bầm tím ngực nữa. phải là…”

      “Dịch hạch phải ?”, Ferris bật cười và lắc đầu. “Tôi biết được thông báo chưa, nhưng thực tế tôi đóng vai hai vị bác sĩ ngày hôm nay.”

      “Sao cơ?”

      “Khi tôi xuất ở nhà rửa tội, trông tôi hơi quen.”

      “Đúng vậy. Hơi hơi thôi. Đôi mắt , tôi nghĩ vậy. bảo tôi đó là vì là người mời tôi ở Cambridge…”, Langdon ngừng lại. “Điều mà giờ tôi biết là đúng, cho nên…”

      “Trông tôi quen bởi vì chúng ta gặp nhau. Nhưng phải ở Cambridge.” Người đàn ông cố nhìn vào mắt Langdon để xem có nhận ra điều gì . “Thực ra tôi chính là người đầu tiên nhìn thấy khi tỉnh dậy vào buổi sáng nay trong bệnh viện.”

      Langdon nhớ lại căn phòng ảm đạm trong bệnh viện. Lúc đó đứng vững và thị lực cũng bị ảnh hưởng cho nên chắc chắn rằng người đầu tiên mình nhìn thấy khi tỉnh dậy là vị bác sĩ đứng tuổi xanh xao, với đôi lông mày và chòm râu rậm rạp, chỉ tiếng Ý.

      ”, Langdon . “Bác sĩ Marconi là người đầu tiên tôi nhìn thấy khi…”

      “Xin chào, giáo sư”, người đàn ông ngắt lời bằng giọng Ý rất chuẩn. “Nhưng nhớ tôi phải ?” Ông ta cúi khom người như người đứng tuổi, vuốt vuốt ngược đôi lông mày rậm tưởng tượng và bộ râu hề tồn tại. “Tôi là bác sĩ Marconi.”

      Miệng Langdon há hốc. “Bác sĩ Marconi là… sao?”

      “Đó là lý do tại sao thấy mắt tôi rất quen. Tôi chưa bao giờ đeo râu và lông mày giả, và may là cũng chẳng biết gì cho đến khi bị dị ứng với chất kết dính – thứ keo chế bằng nhựa cây – khiến cho da mẫn ngứa. Tôi chắc rất sợ khi nhìn thấy tôi, nhất là lại dè chừng thứ dịch bệnh có thể bùng phát.”

      Langdon chỉ biết nhìn sững sờ, giờ nhớ ra vị bác sĩ Marconi luôn gãi râu trước khi bị Vayentha tấn công khiến ông ấy nằm dài sàn bệnh viện, máu chảy loang từ ngực.

      “Tệ hơn nữa”, người đàn ông , tay chỉ chỗ băng gạt quấn quanh ngực mình, “cái mồi nổ của tôi lệch trong lúc thực công việc. Tôi tài nào kịp chỉnh nó về đúng vị trí, và khi nổ, nó bị lệch. Gãy xương sườn và bầm tím nặng. Tôi khó thở suốt cả ngày là vì vậy.”

      Và tôi cứ nghĩ bị bệnh dịch.

      Người đàn ông hít hơi sâu và nháy mắt. “Thực tế, tôi nghĩ đến lúc tôi cần ngồi nghỉ lại.” Khi rời , ông ấy ra hiệu về phía sau Langdon. “Có vẻ như có bạn đồng hành rồi.”

      Langdon quay lại và thấy tiến sĩ Sinskey sải bước lên khoang lái, mái tóc bạc dài buông sau lưng. “Giáo sư, đây rồi.”

      Vị giám đốc WHO trông như kiệt sức, nhưng lạ là Langdon lại nhận ra tia hy vọng trong mắt bà. Bà ấy phát ra điều gì đó.

      “Tôi rất xin lỗi để ở lại đây mình” , Sinskey , đến bên cạnh Langdon. “Chúng tôi vừa phối hợp và thực số tìm kiếm.” Bà ra hiệu về phía cửa buồng lái để ngỏ. “Tôi thấy hứng chút ánh nắng phải?”

      Langdon nhún vai. “Máy bay của bà cần có cửa sổ.”

      Bà mỉm cười thông cảm với . “Về vấn đề ánh sáng, tôi hy vọng Thị trưởng soi rọi cho chút về những kiện gần đây?”

      “Vâng, mặc dù chẳng có gì khiến tôi hài lòng.”

      “Tôi cũng vậy thôi”, bà đồng tình, ngó quanh để bảo đảm rằng chỉ có họ. “Tin tôi ”, bà thầm, “ có hình phạt nghiêm khắc cho ông ta và tổ chứng của ông ta. Tôi làm việc đó. Còn lúc này, tất cả chúng ta cần tập trung vào việc tìm cho ra cái túi chứa dịch trước khi nó tan ra và làm lây lan dịch bệnh.”

      Hoặc trước khi Sienna tới đó và làm cho nó tan nhanh hơn.

      “Tôi cần chuyện với về tòa nhà có phần mộ của Dandolo.

      Langdon hình dung ra tòa nhà tráng lệ kể từ khi nhận ra đó mới chính là đích đến của họ. Tòa bảo quán của tri thức thánh thiêng.

      “Tôi vừa biết được chuyện rất thú vị”, Sinskey . “Chúng tôi nối máy với sử gia địa phương”, bà . “Ông ấy biết tại sao chúng ta lại hỏi về mộ Dandolo, nhưng tôi hỏi ông ấy có biết những gì nằm dưới mộ , và thử đoán xem ông ấy gì.” Bà mỉm cười. “Nước.”

      Langdon ngạc nhiên, “ sao?”

      “Đúng, có vẻ như bên dưới tòa nhà đều bị ngập nước. Suốt nhiều thế kỷ, mực nước bên dưới tòa nhà dâng cao, ngập ít nhất hai tầng bên dưới. Ông ấy ở đó có tất cả các dạng túi khí và gian bị ngập phần phía dưới.”

      Chúa ơi. Langdon nhớ lại đoạn video của Zobrist và cái hang ngần kỳ quái có những bức tường rêu mốc nơi nhìn thấy phần bóng lờ mờ thẳng đứng của những cây cột chống. “Đó là căn phòng ngập nước.”

      “Chính xác.”

      “Nhưng vậy …làm cách nào Zobrist mò được xuống đó?”

      Mắt Sinskey sáng lên. “Đó là chi tiết kỳ lạ. tin nổi những gì chúng tôi phát ra đâu.”



      ***



      Lúc đó, cách bờ biển Venice chưa đầy dặm, hòn đảo có tên Lido, chiếc Cessna Citation Mustang bóng bẩy cất cánh khỏi sân bay Nicelli và lao vút lên bầu trời thẫm dần lúc chạng vạng.
      Chủ nhân của chiếc máy bay, nhà thiết kế trang phục lừng danh Giorgio Venci, máy bay, nhưng ông ra lệnh cho phi công của mình đưa vị khách trẻ tuổi quyến rũ tới bất kỳ đâu ấy cần.
                 
      CHƯƠNG 84
       

       

      Đêm buông xuống cố đô Byzantine.

      Suốt dọc bờ biển Marmara, những ngọn đèn pha nhấp nháy chiếu sáng, soi tỏ đường chân trời với những giáo đường sáng đèn và những ngọn tháp mảnh mai. Lúc này là giờ aksam - giờ hành lễ tối, và những chiếc loa phóng thanh bố trí khắp thành phố ngân nga vang lên tiếng adhản, lời mời gọi đến cầu nguyện.

      La-ilaha-Allah.

      có thần thánh nào ngoài Đức Thánh.

      Trong khi các tín đồ hối hả tới các giáo đường bộ phận còn lại của thành phố vẫn tiếp tục mọi việc mà chẳng hề bận tâm. Đám sinh viên đại học tiếp tục uống bia, giới doanh nhân chốt lại những thỏa thuận làm ăn, những nhà buôn rao bán gia vị và thảm, còn khách du lịch ngỡ ngàng nhìn ngắm tất cả.

      Đây là thế giới bị chia rẽ, thành phố của những đối nghịch – tôn giáo và thế tục, cổ xưa và đại, phương Đông và phương Tây. Với biên giới địa lý trải ra giữa châu Âu và châu Á, thành phố chịu ảnh hưởng của thời gian này đúng là cây cầu từ Cựu Thế giới, nối sang thế giới thậm chí còn xưa cũ hơn nữa.

      Istanbul.

      Mặc dù còn là thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng trong nhiều thế kỷ, nơi đây là tâm điểm của ba đế chế tách biệt – Byzantine, La Mã và Ottoman. Vì lý do này, Istanbul vẫn được xem là trong những địa điểm có lịch sử phong phú nhất trái đất. Từ Cung điện Topkapi đến Giáo đường Xanh hay lâu đài Bảy ngọn tháp, thành phố này có vô số câu chuyện dân gian về các trận đánh, niềm vinh quang và cả thất bại.

      Tối nay, tít cao bầu trời đêm phía những đám đông náo nhiệt của thành phố, chiếc máy bay vận tải C-130 hạ thấp dần qua vùng biên bão hình thành, tiếp cận sân bay Atatũrk. Trong khoang lái, Robert Langdon ngồi chắc chắn trong chiếc ghế phụ lật phía sau phi công, nhìn qua kính chắn gió, cảm thấy nhõm vì được dành ghế ngồi có thể nhìn ra ngoài.

      Sau khi được ăn chút và ngủ gà gật ở phía cuối máy bay trong gần tiếng nghỉ ngơi quý giá, Langdon phần nào tỉnh táo trở lại.

      Lúc này, ở phía bên phải, Langdon nhìn những ánh đèn của Istanbul. bán đảo lấp lánh ánh sáng hình chiếc sừng nhô ra vùng đen thẫm của biển Marmara. Đây là phần phía châu Âu, tách biệt với phần châu Á bằng dãi tối chạy ngoằn ngoèo.

      Thủy lộ Bosporus.

      Mới nhìn qua, Bosporus có lẽ chỉ là dòng nước rộng chia tách Istanbul làm đôi. Nhưng thực tế, Langdon biết con kênh này chính là huyết mạch thương mại của Istanbul. Bên cạnh việc cung cấp cho thành phố hai đường bờ biển thay vì chỉ có , kênh Bosporus còn giúp tàu bè từ Địa Trung Hải, cho phép Istanbul trở thành trạm dừng giữa hai thế giới.

      Khi máy bay hạ thấp qua lớp sương mù, Langdon dõi mắt nhìn về thành phố phía xa, cố định vị trí tòa nhà đồ sộ mà họ tìm kiếm.

      Vị trí mộ phần của Enrico Dandolo.

      Hóa ra Enrico Dandolo - vị tổng trấn bội bạc của Venice - lại được an táng ở Venice, thay vào đó, hài cốt của ông ta được chôn ngay chính giữa pháo đài mà ông ta chinh phục được năm 1202 - thành phố trải dài bên dưới họ. Rất thích hợp là Dandolo lại yên nghỉ trong ngôi đền kỳ vĩ nhất ở thành phố này - công trình cho đến ngày hôm nay vẫn là báu vật của cả vùng.

      Hagia Sophia.

      Được xây dựng vào năm 360 sau Công nguyên, Hagia Sophia từng là thánh đường Chính thống giá phương Đông cho tới tận năm 1204, khi Enrico Dandolo chiếm được thành phố và biến nó thành nhà thờ Thiên Chúa giáo vào cuộc Thập tự chinh lần thứ tư. Sau đó, vào thế kỷ XV, sau khi Fatih Sultan Mehmed chiến được Constantinople, nó trở thành giáo đường Hồi giáo, và vẫn là nơi thờ nguyện của đạo Hồi cho tới năm 1935, khi tòa nhà được thế tục hóa và trở thành bảo tàng.

      Tòa bảo quán mạ vàng của tri thức thánh thiêng, Langdon thầm nghĩ.

      Hagia Sophia chỉ được trang hoàng bằng số gạch lát vàng nhiều hơn cả thánh đường St. Mark mà tên gọi của nó - Hagia Sophia - theo đúng nghĩa đen là “Tri thức thánh thiêng.”

      Langdon hình dung ra tòa nhà đồ sộ. và cố gắng nghĩ về thực tế rằng đâu đó bên dưới nó, có cái đầm tối tăm chưa chiếc túi dập dờn trong nước, từ từ tan dần và chuẩn bị giải phóng những gì đựng bên trong.

      Langdon cầu mong họ đến quá muộn.

      “Những tầng dưới của tòa nhà bị ngập”, Sinskey trước đó trong lúc bay, phấn chấn ra hiệu cho Langdon theo bà trở lại khu vực làm việc. “ thể tin nổi những gì chúng tôi phát ra đâu. bao giờ nghe về đạo diễn phim tài liệu tên là Gõksel Gũlensoy chưa?”

      Langdon lắc đầu.

      “Trong lúc nghiên cứu về Hagia Sophia”, Sinskey giải thích, “tôi phát ra rằng bộ phim được làm về địa điểm này. phim tài liệu do Gũlensoy thực vài năm trước.”

      “Có hàng chục bộ phim được làm về Hagia Sophia.”

      “Đúng”, bà lúc đến khu vực làm việc của mình, “nhưng có bộ phim nào như thế này”. Bà xoay máy tính của mình để có thể nhìn . “Hãy đọc nội dung này .”

      Langdon ngồi xuống và xem bài viết – bài tổng hợp từ vài nguồn tin thời khác nhau, trong đó có tờ Hũrriyet Daily News, về bộ phim mới nhất của Gũlensoy: Dưới
      những tầng sau của Hagia Sophia.


      Lúc bắt đầu đọc, Langdon lập tức nhận ra tại sao Sinskey lại phấn khích đến vậy. Chỉ mấy từ đầu tiên làm cho Langdon phải ngước lên nhìn bà đầy ngạc nhiên. Lặn bằng bình khí?

      “Tôi biết”, bà ấy . “Cứ đọc .”

      Langdon lại đưa mắt nhìn trở lại bài viết.

      “LẶN BẰNG BÌNH KHÍ BÊN DƯỚI HAGIA SOPHIA: Nhà làm phim tài liệu Gõksel Gũlensoy và đội thám hiểm lặn bình khí của ông xác định vị trí những bồn trũng ngập nước nằm sâu hàng trăm sải bên dưới công trình tôn giáo thu hút nhiều du khách của Istanbul.

      Trong quá trình ấy, họ phát ra nhiều kỳ quan kiến trúc, trong đó có những mộ phần chìm dưới nước có tuổi đời tám trăm năm của các trẻ em tự đạo, cũng như những đường hầm chìm nổi Hagia Sophia với Cung điện Topkapi, Cung điện Tekfur, và những gian mở rộng dưới lòng đất của nhà ngục Anemas người ta vẫn đồn đại bấy lâu nay.

      “Tôi tin những gì bên dưới Hagia Sophia còn thú vị hơn cả những gì nổi bề mặt”, Gũlensoy giải thích, mô tả lấy cảm hứng để làm bộ phim sau khi nhìn thấy bức ảnh cũ chụp cá nhà nghiên cứu khảo sát phần móng của Hagia Sophia bằng thuyền, bơi qua đại sảnh bị ngập phần dưới nước.”

      ràng tìm đúng tòa nhà rồi”, Sinskey kêu lên. “Và có vẻ như có những gian lớn bơi thuyền được bên dưới tòa nhà đó, nhiều chỗ tiếp cận được mà cần thiết bị lặn bình…Điều đó có thể giải thích cho những gì chúng ta thấy trong đoạn video của Zobrist.”

      Đặc vụ Brũder đứng phía sau họ, nghiên cứu màn hình máy tính. “Cũng có vẻ như bên dưới tòa nhà có những thủy lộ tỏa ra ngoài tới mọi khu vực khác. Nếu túi Solublon đó bị tan trước khi chúng ta đến có cách gì ngăn được những thứ chứa bên trong loang rộng ra.”

      “Thứ bên trong…”, Langdon đánh bạo. “Các vị có ý kiến gì về nó ? Ý tôi là đích xác ấy? Tôi biết chúng ta phải giả quyết thứ dịch bệnh, nhưng…”

      “Chúng tôi phân tích đoạn phim”, Brũder , “gợi ý rằng thực tế thứ đó là sinh học chứ phải hóa học… thế tức là thứ gì đó sống. Nếu xét số lượng ít ỏi trong cái túi chúng tôi cho rằng nó có khả năng lây nhiễm rất cao và có khả năng sinh sôi nảy nở. Chúng tôi chưa dám chắc đó là loại dịch bệnh dựa vào nước giống như loại vi khuẩn, hay nó có khả năng lan truyền trong khí như loại virus khi được giải phóng, nhưng khả năng nào cũng có thề xảy ra.”

      Sinskey , “Giờ chúng ta thu thập dữ liệu về nhiệt độ nước ngầm trong khu vực, cố gắng đánh giá xem những loại chất truyền nhiễm nào có thể phát triển mạnh trong các khu vực dưới lòng đất đó, nhưng Zobrist là người vô cùng tài năng và có thể dễ dàng tạo ra thứ gì đó có khả năng độc nhất vô nhị. Và tôi dám chắc rằng Zobrist chọn địa điểm này là có lý do.”

      Brũder gật đều rồi nhanh nhẹn trình bày tiếp đánh giá của ta về chế phát tán khác thường của cái túi Solublon chìm dưới nước. Và tất cả bọn họ chỉ mới bắt đầu nhận ra tài tình đơn giản của nó mà thôi. Bằng cách để cho cái túi ở dưới nước và ngầm trong lòng đất, Zobrist tạo ra môi trường ủ bệnh cực kỳ ổn định: Nơi có nhiệt độ nước đổi, có bức xạ mặt trời, có lớp đệm động lực học, và hoàn toàn kín đáo. Bằng cách chọn cái túi có độ bền đúng mức, Zobrist có thể để mặc thứ dịch bệnh ấy sinh trưởng trong khoảng thời gian nhất định mà cần trông coi trước khi nó tự giải thoát đúng hạn định.

      Kể cả khi Zobrist bao giờ quay trở lại nơi đó nữa.

      Cú xóc bất ngờ khi máy bay tiếp đất làm Langdon chúi trở lại ghế phục của mình trong khoang lái. Phi công đạp mạnh phanh và sau đó cho máy bay dừng hẳn lại nhà chứa khá đặc biệt.

      Langdon hy vọng được đón chào bởi cả đội quân nhân viên WHO trong trang phục phòng dịch. Nhưng lạ thay, người duy nhất đợi họ đến lại là tài xế chiếc xe thùng màu trắng lớn, mang biểu trưng là chữ thập cân đối màu đỏ tươi.

      Chữ thập đỏ ở đây sao? Langdon nhìn lại, nhận ra còn chủ thể nữa cũng sử dụng chữ thâp đỏ. Đại sứ quán Thụy Sĩ.

      tháo khóa ghế ngồi và tìm kiếm Sinskey khi mọi người chuẩn bị rời máy bay. “Mọi người đâu cả rồi?”, Langdon hỏi, “Nhóm WHO ấy? Rồi cả cơ quan chức năng Thổ Nhĩ Kỳ nữa? lẽ tất cả đều đến Hagia Sophia rồi sao?”

      Sinskey nhìn lo lắng. “ ra”, bà giải thích, “chúng tôi quyết định đánh động giới chức đại phương. Chúng ta có nhóm SRS của Trung tâm Ngăn ngừa và Kiểm soát dịch bệnh châu Âu cùng rồi, và có vẻ giữ kín nhiệm vụ này thời gian tốt hơn là tạo ra cơn hoảng loạn có khả năng lan rộng.”

      Gần đó, Langdon nhìn thấy Brũder cùng nhóm của ta kéo khóa những chiếc túi đen có chứa đầy đủ các dụng cụ đối phó với độc chất – quần áo chống khuẩn, mặt nạ phòng độc, và cả thiết bị dò tìm điện tử.

      Brũder xốc túi của mình lên vai và bước lại. “Chúng tôi thử. Chúng tôi vào trong tòa nhà, tìm mộ của Dandolo, nghe tiếng nước như bài thơ gợi ý, sau đó đánh giá lại và quyết định xem liệu có nên gọi những đơn vị chức năng khác đến hỗ trợ .”

      Langdon nhìn ra kế hoạch có vấn đề. “Hagia Sophia đóng cửa vào buổi chiều, cho nên nếu có giới chức địa phương, chúng ta thể vào trong được.”

      sao đâu”, Sinskey , “Tôi có đầu mối liên lạc trong sứ quán Thụy Sĩ. Người đó liên lạc với người phụ trách bảo tàng Hagia Sophia và đề nghị cuộc tham quan riêng hạng VIP ngay khi chúng ta đến nơi. Người phụ trách đồng ý rồi.”

      Langdon gần như cười phá lên. “ chuyến tham quan hạng VIP cho giám đốc Tổ chức Y tế Thế giớ sao? Và cả đội quân mang theo đồ nghề ứng phó với độc chất nữa à? Các vị nghĩ điều đó có thể khiến vài người thắc mắc sao?”

      “Đội SRS và đồ nghề ở nguyên trong xe trong khi Brũder, và tôi đánh giá tình hình”, Sinskey . “Thêm nữa, để cho chính xác, tôi phải là VIP. Chính đấy.”

      “Bà sao cơ?”

      “Chúng tôi với bảo tàng rằng có giáo sư Mỹ nổi tiếng bay tới cùng nhóm nghiên cứu để viết bài về những biểu tượng của Hagia Sophia, nhưng máy bay của họ bị trễ năm tiếng và ta lỡ mất giờ tới tham quan tòa nhà. Vì ta cùng nhóm của mình ngay vào sáng mai nên chúng tôi hy vọng…”

      “Được rồi”, Langdon . “Tôi hiểu ý rồi.”

      “Bảo tàng cử nhân viên tới đó để gặp riêng chúng ta. Quả nhiên, ta là người rất hâm mộ những bài viết của về nghệ thuật Hồi giáo.” Sinskey mỉm cười mỏi mệt với , ràng cố tỏ ra lạc quan. “Chúng ta được bảo đảm rằng có thề tiếp cận tất cả ngóc ngách của tòa nhà.”

      “Và quan trọng hơn”, Brũder , “ chỉ có chúng ta làm chủ toàn bộ gian đó.”
       

       

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,875
                  Type :TMT
      CHƯƠNG 85
       

       

      Robert Langdon trân trân nhìn ra ngoài cửa sổ chiếc xe thùng khi nó lao vùn vụt dọc theo xa lộ kế bên bờ nước nối sân bay Atatũrk với trung tâm Istanbul. Các quan chức Thủy Sĩ bằng cách nào đó giúp cho thủ tục hải quan dễ dàng, và Langdon, Sinskey, cùng những thành viên khác trong nhóm lên đường chỉ trong vài phút.

      Sinskey ra lệnh cho Thị trưởng và Ferris ở lại chiếc C-130 cùng với vài nhân viên WHO và tiếp tục tìm cách truy tìm dấu vết của Sienna Brooks.

      Mặc dù tin Sienna có thể đến Istanbul kịp thời gian nhưng mọi người vẫn có tâm lý e ngại rằng trước khi nhóm Sinskey có thể can thiệp, kịp gọi điện cho trong những đệ tử của Zobrist ở Thổ Nhĩ Kỳ và đề nghị trợ giúp thực kế hoạch đầy hoang tưởng của Zobrist.

      Liệu có Sienna dính vào việc giết người hàng loạt ? Langdon vẫn sao chấp nhận được tất cả những gì diễn ra ngày hôm nay. cảm thấy đau đớn khi phải nghĩ về như vậy, nhưng buộc phải chấp nhận . Mày chưa bao giờ hiểu ta, Robert ạ. ta dắt mũi mày.

      cơn mưa bắt đầu trút xuống thành phố, và Langdon bỗng cảm thấy mệt mỏi khi nghe thấy tiếng rít lặp lặp lại của những cần gạt nước kính chắn gió. Bên phải , biển Marmara ngoài kia, có thể nhìn thấy ánh đèn quét qua của những du thuyền sang trọng và cả những tàu chở dầu đồ sộ ra vào hải cảng phía trước mặt. Dọc bờ cảng là những tòa tháp mảnh mai và trang nhã vươn cao phía các giáo đường có mái vòm, như thầm nhắc người ta nhớ rằng mặc dù Istanbul là thành phố thế tục đại, nhưng cốt lõi của nó vẫn dựa vào tôn giáo.

      Langdon luôn thấy đoạn cao tốc dài mười dặm này là trong những đoạn đường đẹp nhất ở châu Âu. Là ví dụ hoàn hảo cho va chạm giữa cái cũ và cái mới của Istanbiul, cung đường này bám theo phần bức tường của Constantine, được xây dựng trước cả khi nhân vật được lấy tên cho đại lộ này - John F Kennedy - cất tiếng khóc chào đời hơn mười sáu thế kỷ. Vị Tổng thống Hoa Kỳ rất ngưỡng mộ tầm nhìn của Kernal Atatũrk*, người đưa nước cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ vươn lên từ đống tro tàn của đế chế sụp đổ.

       

      *Mustafa Kernal Atatũrk (1881-1938-) là nhà cách mạng, tổng thống đầu tiên của cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi đế quốc Ottoman thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông lãnh đạo phong trào Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, và kết quả là nước cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời năm 1923. Sau chiến tranh, Atatũrk tiến hành cải cách chính trị, kinh tế và văn hóa nhằm biến cựu đế quốc Ottoman thành nhà nước đại và thế tục. Những nguyên tắc cải cách đó được biết đến với tên “Chủ nghĩa Kernal.

       

      Với những góc nhìn ra biển đâu sánh bằng, Đại lộ Kennedy uốn mình qua những tràng cây tuyệt đẹp cùng các công viên lịch sử, chạy qua bến cảng ở Yenikapi, và cuối cùng len lỏi giữa ranh giới của thành phố với vịnh Bosporus, nơi nó tiếp tục chãy về phía bắc tới tận Mũi Vàng*. Ở đó, sừng sững phía thành phố là pháo đài của đế chế Ottoman, Cung điện Topkapi. Với tầm nhìn chiến lược cho toàn bộ thủy lộ của Bosporus, cung điện này là trong những nơi được du khách rất ưa chuộng. Họ tới đây để chiêm ngưỡng cả khung cảnh lẩn bộ sưu tập báu vật Ottoman có hai, trong đó có cả áo choàng và thanh gươm được đồn là những vật thuộc về nhà tiên tri Muhammad.

       

      *Mũi vàng: Golden Horn là vịnh chia thành phố Istanbul và tạo thành hải cảnh tự nhiên cho các tàu thuyền của Hy Lạp, La mã, Byzantine. Ottoman và các nước khác suốt hàng nghìn năm. Đây là cửa biển có hình thanh đao, của các sông Alibeykõy và Kagithane, nối với Bosphorus đúng vị trí eo biển nhập vào biển Marmara, hình thành nên bán đảo với phần đầu mút chính là “Istanbul” cũ (Byzantium cổ và Constantinople).

       

      Chúng ta xa đến thế, Langdon biết như vậy, trong đầu hình dung ra điểm đến của họ ở phía trước, Hagia Sophia, cách trung tâm thành phố xa lắm.

      Khi họ rời khỏi Đại lộ Kennedy và bắt đầu len lỏi vào thành phố dân cư đông đúc, Langdon nhìn những đường phố và vỉa hè tấp nập người, cảm thấy bị ám ảnh bởi những cuộc trò chuyện trong ngày.

      Quá tải dân số.

      Dịch bệnh.

      Những nguyện vọng lệch lạc của Zobrist.

      Mặc dù hiểu địa điểm nhóm SRS này hướng tới, nhưng cho tới lúc này Langdon mới đánh giá được đầy đủ về nó. Chúng ta tiến tới tâm chấn. hình dung ra cái túi từ từ tan dần, bên trong chứa thứ chất dịch màu vàng nâu, và tự hỏi làm cách nào lại rơi vào tình cảnh này.

      Bài thơ lạ lùng mà Langdon và Sienna phát ờ mặt sau chiếc mặt nạ người chết của Dante cuối cùng cũng chỉ dẫn tới đây, Istanbul. Langdon hướng dẫn nhóm SRS tới Hagia Sophiam và biết có nhiều việc cần làm khi họ tới đó.

      “Hãy quỳ gối bên trong bảo quán mạ vàng của tri thức thánh thiêng,

      và áp tai xuống mặt đất,

      lắng nghe tiếng nước giọt.

      Hãy lần sau vào toà cung điện bị chìm…

      vì ở đây, trong bóng tối, con quái vật chốn địa phủ chờ đợi,

      lặn ngụp trong thứ nước đỏ như máu…

      của cái đầm hề phản chiếu ánh sao.”

      Langdon lại cảm thấy run bắn khi biết rằng khổ cuối Hỏa ngục của Dante kết thúc bằng cảnh tượng gần như giống hệt. Sau hành trình dài xuyên qua địa phủ, Dante và Virgil đến điểm thấp nhất của địa ngục. Ở đây có lối ra, họ nghe thấy tiếng nước chảy giọt qua những khối đá dưới chân. Họ theo khe nước qua các kẽ nứt và khe hở đề rồi tìm được chỗ an toàn.

      Dante viết: “ nơi dưới đó…nơi thể nhận biết bằng mắt, mà qua tiếng khe nước, chả xuôi theo chỗ trũng của tảng đá…và theo con đường kín đó, người dẫn đường của ta và ta bước vào, để trở lại thế giớ dương gian.”

      Cảnh tượng của Dante ràng chính là cảm hứng cho bài thơ của Zobrist, mặc dù trong trường hợp này dường như Zobrist đảo ngược mọi thứ. Thực tế, Langdon và những người khác đangtheo tiếng nước giọt, nhưng khác với Dante, họ rời khỏi hỏa ngục…mà thẳng vào trong đó.

      Khi chiếc xe thùng chạy qua những đường phố hẹp hơn và đông đúc hơn, Langdon bắt đầu hiểu ra cái logic khác thường khiến Langdon lựa chọn trung tâm Istanbul là tâm chấn của đại dịch.

      Đông gặp Tây.

      Giao lộ của thế giới.

      Trong rất nhiều thời điểm của lịch sử, Istanbul từng bị những đại dịch chết người hoành hành cướp số lượng lớn dân cư. Thực tế, trong giai đoạn cuối cùng của Cái chết Đen, thành phố này được gọi là “tâm dịch” của cả đế chế, và người ta đại dịch này giết hơn vạn dân cư ngày. vài bức vẽ Ottoman nổi tiếng mô tả người dân thành phố tuyệt vọng đào những hố dịch hạch để chôn hàng núi xác chết tại các cánh đồng ở Taksim gần đó.

      Langdon hy vọng Karl Marx sai khi , “Lịch sử luôn lặp lại.”

      Dọc những con phố mưa rơi, các sinh linh vô tư lự vẫn bận rộn với công việc buổi tối của mình. phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ xinh đẹp gọi con cái về ăn tối, hai ông già cùng nhân nhi tại quán cà phê ngoài trời, cặp đôi ăn mặc chỉnh tề tay trong tay dạo cưới ô, và người đàn ông mặc áo lễ phục nhảy xuống từ xe buýt và chạy dọc phố, cố giấu hộp đàn vĩ cầm của mình bên dưới áo khoác, ràng vì đến muộn buổi hòa nhạc.

      Langdon xem xét những gương mặt quanh mình, cố gắng hình dung ra những điều phức tạp trong cuộc đời mỗi người.

      Đám đông được hình thành từ những cá nhân.

      nhắm mắt lại, ngoảnh mặt khỏi cửa sổ và cố gắng gạt bỏ những chiều hướng u ám trong suy nghĩ. Những vết thương hằn sâu. Trong khoảng tối tâm trí của , hình ảnh mong muốn, - cảnh tượng hoang tàn trong bức tranh Chiến thắng của Tử thần của Bruegel - bức đại cảnh gớm ghiếc về dịch hạch, nỗi thống khổ và đau đớn tàn phá thành phố ven biển.

      Chiếc xe thùng ngoặt sang phải vào đại lộ Torun, và trong khoảnh khắc Langdon nghĩ họ đến đích. Bên trái , giáo đường sừng sững xuất trong màn sương.

      Nhưng đó phải là Hagia Sophia.

      Giáo đường Xanh, nhanh chóng nhận ra nó khi nhìn thấy sáu tòa tháp hình bút chì của đền thờ với nhiều tầng ban công vươn lên bầu trời với chòm tháp nhọn hoắc. Langdon từng đọc được rằng vẻ đẹp như trong chuyện thần tiên của các tòa tháp có ban công ở Giáo đường Xanh truyền cảm hứng cho việc thiết kế tòa lâu đài của nàng Cinderella trong công viên thế giới Disney, Giáo đường Xanh có tên gọi như vậy là do những bức tường bên trong đều được ốp gạch màu xanh dương, chẳng khác gì vùng biển đẹp đến sững sờ.

      Chúng ta đến gần lắm rồi, Langdon nghĩ khi chiếc xe thùng lao vùn vụt về phía trước, ngoặc sang Đại lộ Kabasakal và chạy dọc theo quảng trường Công viên Sultanahmet rộng rãi nằm giữa Giáo đường Xanh và Hagia Sophia, vốn nổi tiếng vì có thể quan sát được cả hai kỳ quan ấy.

      Langdon nheo mắt nhìn qua lớp kính chắn gió ướt mưa, cố tìm kiến hình dáng Hagia Sophia ở đường chân trời, nhưng mưa và ánh đèn pha làm cho thị lực trở nên khó khăn. Tệ hơn nữa, xe cộ dọc đại lộ dường như dừng lại.

      Phía trước, Langdon chẳng nhìn thấy gì ngoài hàng đèn hậu đỏ lòe.

      “Có kiện gì đó rồi”, người lái xe thông báo. “Tôi nghĩ là buổi hòa nhạc. Có lẽ bộ nhanh hơn.”

      “Bao xa?”, Sinskey hỏi.

      “Chỉ cần qua công viên này thôi. Ba phút. Rất an toàn.”

      Sinskey gật đầu với Brũder và sau đó quay sang đội SRS. “Cứ ở trong xe. Tới càng gần tòa nhà càng tốt. Đặc vụ Brũder liên lạc lại ngay.”

      xong, Sinskey, Brũder và Langdon nhảy ra khỏi chiếc xe thùng xuống phố và tiến thẳng qua công viên.

      Những hàng cây lá rộng trong Công viên Sultanah-met che chắn cả nhóm khỏi thời tiết càng lúc càng xấu khi họ hối hả bước dọc những lối dưới vòm là của công viên. Các lối thỉnh thoảng lại có biển chỉ dẫn cho du khách tới nhiều điểm tham quan trong công viên – cột tháp Ai Cập lấy từ quần thể Đền Luxor, cột đồng rắn biển lấy từ đền Apolo ở Delphi, và cột mốc Milion từng được xem như “điểm số 0” để đo mọi khoảng cách ở đế quốc Byzantine.

      Cuối cùng, họ ra khỏi những tán cây ngay chân bể nước hình tròn ở trung tâm công viên. Langdon bước ra chỗ trống và ngước mắt nhìn về phía đông.

      Hagia Sophia

      giống tòa nhà mà giống như trái núi.

      Vẫn sáng lấp lánh trong màn mưa, hình dáng đồ sộ của Hagia Sophia chẳng khác gì cả thành phố. Mái vòm trung tâm của tòa nhà lớn đến khó tin và được chống đỡ bằng khung màu xám bạc, như dựa cả khối kết hợp gồm những tòa nhà có mái vòm khác được chồng lên xung quanh nó. Bốn ngọn tháp cao vút - mỗi tháp đều chỉ có ban công duy nhất và phần chóp nhọn màu xám bạc - vươn lên ở bốn góc tòa nhà, cách xa hẳn mái vòm trung tâm khiến cho người ta khó xác định được chúng chính là hợp phần của tòa nhà duy nhất.

      Cả Sinskey và Brũder, cho đến lúc này vẫn chăm chú bước đều, bỗng cùng vượt lên, ngước mắt nhìn lên …lên nữa…như thể tâm trí họ cố gắng thu hết toàn bộ chiều cao và bề rộng của công trình sừng sững trước mắt họ.

      “Lạy Chúa lòng lành:, Brũder khẽ thốt lên như tin nổi. “Chúng ta phải tìm kiếm…chỗ đó sao?”



       

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,875
      Chương 86
      Type: Candy Lai
      Mình bị tạm giữ, Thị trưởng cảm thấy như vậy khi ông ta bước tới bước lui trong khoang chiếc máy bay vận tải C-130. Ông ta đồng ý tới Istanbul để giúp Sinskey ngăn chặng cuộc khủng hoảng này trước khi nó hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát.

      Thị trưởng biết rằng hợp tác với Sinskey có thể giúp giảm mức độ hình phạt mà ông ta có thể phải chịu vì khinh suất dính líu vào cuộc khủng hoảng này.Nhưng giờ Sinskey lại bắt giữ mình rồi.

      Ngay khi chiếc máy bay đậu lại bên trong nhà chứa của chính quyền tại sân bay Ataturk, Sinskey và nhóm của bà rời khỏi máy bay, và vị giám đốc WHO ra lệnh cho Thị trưởng cùng vài nhân viên trong đội ngũ Consortium của ông ta phải ở nguyên máy bay.

      Thị trưởng tìm cách ra ngoài hít thở chút khí nhưng bị mấy tay phi công mặt lạnh như tiền chặn lại.Họ nhắc ông ta nhớ rằng tiến sĩ Sinskey cầu tất cả mọi người phải ở nguyên trong khoang máy bay.

      xong rồi, Thị trưởng nghĩ thầm, kiếm chỗ ngồi trong khi thực bắt đầu cảm thấy an tâm về tương lai của mình.

      Thị trưởng từ lâu quen làm người điều khiển, là thế lực tối thượng kiểm soát những sợi dây, nhưng đột nhiên tất cả quyền năng này của ông ta bị tước hết.

      Zobrist, Sienna, Sinskey.

      Tất cả bọn họ đều coi thường và thao túng chính ông ta.

      Lúc này, bị kẹt cứng trong khoang chiếc máy bay vận tải xa lạ có lấy ô cửa sổ của WHO, ông ta bắt đầu tự hỏi phải chăng vận may của mình chấm hết, nếu như tình thế tại có thể chính là hình thức trừng phạt tiền oan nghiệp báo đối với cả đời lấy gì làm lương thiện của ông ta.

      Ta dối lừa để kiếm sống.

      Ta là người cung cấp những thông tin sai lệch.

      Mặc dù phải là người duy nhất bán những lời dối trá cõi đời này, nhưng Thị trưởng thành danh như là con cá to nhất trong ao. Những con cá hơn là giống khác hẳn, và Thị trưởng thích liên quan gì đến bọn họ.

      Cũng diện mạng Internet, những công ty với tên gọi kiểu như Công ty Alibi và mạng Alibi kiếm tiền khắp thế giới bằng việc giới thiệu những đối tác hôn nhân bội bạc chuyên lừa dối và dễ bị phát . Hứa hẹn rằng “cho thời gian ngừng lại” trong khoảnh khắc để khách hàng của họ có thể thoát khỏi chồng, vợ, hoặc con cái, các tổ chức này là bậc thấy trong việc tạo ra những chuyện lừa gạt – thỏa thuận làm ăn giả dối, cuộc hẹn gặp bác sĩ giả dối, thậm chí cả đám cưới giả dối – tất cả mọi hình thức, kể cả những lời mời qua điện thoại, tờ rơi, vé máy bay, mẫu xác nhận của khách sạn, và thậm chí cả số liên lạc đặc biệt nối với tổng đài của Công ty Alibi, nơi các chuyên gia được đào tạo đóng giả làm bất kỳ nhân viên lễ tân hay đầu mối liên lạc gì mà màn lừa gạt cần có.

      Tuy nhiên, Thị trưởng bao giờ phí phạm thời gian của mình với những mánh lwosi như thế.Ông ta chỉ thực những cú lừa dối quy mô lớn, làm việc với những người có khả năng chi hằng trăm triệu đô là để nhận được dịch vụ tốt nhất.

      Các chính phủ.

      Các tập đoàn lớn.

      Những nhân vật VIP cự phú.

      Để đạt được mục tiêu, những khách hàng này có thể tuyý sử dụng tài sản, nhân , kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của Consortium. Mặc dù vậy, hết, họ nhận được quyền phủ nhận – lời cam kết rằng bất kỳ màn lừa gạt nào được dựng lên để hậu thuẫn cho dối trá của họ đều bao giờ liên can gì tới họ.

      Cho dù là chống lưng cho thị trường chứng khoán, hậu thuẫn cuộc chiến, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử, hay nhử kẻ khủng bố ra khỏi chỗ náu, các tay trùm môi giới của thế giới đều phải dựa vào những mưu lừa lọc nhằm định hình nhận thức của công chúng.

      Luôn luôn theo cách thức như vậy.

      Vào những năm 1960, người Nga xây dựng mạng lưới gián điệp hoàn toàn giả mạo chuyên dùng hộp thư chết khiến người phải tìm cách đề phòng suốt nhiều năm. Năm 1947, lực Hoa Kỳ tạo ra màn đánh lừa về vật thể bay xác định rất tinh vi nhằm đánh lạc hướng chú ý khỏi vụ rơi máy bay ở Roswell, bang New Mexico. Và gần đây hơn, thế giới bị “dắt mũi” để tin rằng Iraq có những vũ khí hủy diệt hàng loạt.

      Trong suốt gần ba thập kỷ, Thị trưởng giúp những nhân vật quyền thế bảo vệ, duy trì và tăng quyền lực của họ.Mặc dù đặc biệt cẩn trọng với các nhiệm vụ mà mình tiếp nhận, nhưng Thị trưởng vẫn luôn sợ rằng có ngày ông ta đảm nhận nhiệm vụ sai lầm.

      Và giờ cái ngày đó đến.

      Thị trưởng tin rằng, mọi thiên hùng ca sụp đổ đều có thể truy vết ngược trở lại thời điểm duy nhất – cuộc gặp tình cờ, quyết định đúng, ánh mắt khinh suất.

      Trong trường hợp này, ông ta nhận ra rằng, cái khoảnh khắc đó gần như đến từ chục năm về trước, khi ông ta đồng ý thuê sinh viên y khoa trẻ tuổi muốn kiếm thêm chút tiền.Trí thông minh sắc sảo, khả năng ngôn ngữ đáng kinh ngạc, và tài năng ứng biến của này khiến ngay lập tức trở thành nhân vật nổi bật tại Consortium.

      Sienna Brooks là tài năng bẩm sinh.

      Sienna ngay lập tức hiểu hoạt động của Thị trưởng, và ông ta cảm thấy trẻ này lạ lẫm với việc giữ bí mật.Sienna làm việc cho ông ta suốt gần hai năm, kiếm được khoản lương rất khá giúp trang trải được chi phí học ngành y của mình, và sau đó, hoàn toàn báo trước, tuyên bố xong xuôi. muốn cứu thế giới, và như với Thị trưởng, thể làm việc đó tại Consortium.

      Thị trưởng bao giờ nghĩ Sienna Brooks lại xuất trở lại gần thập kỷ sau đó, mang theo mình món quà tuyệt vời – vị khách giàu có kinh khủng.

      Bertrand Zobrist.

      Thị trưởng thấy phát điên khi nhớ lại mọi việc.

      Đây chính là lỗi của Sienna.

      ta luôn tham gia vào kế hoạch của Zobrist.

      Gần đó, bên chiếc bàn hội ý tạm thời trong chiếc C-130, cuộc trò chuyện càng lúc càng sôi nổi, với những nhân viên WHO trao đổi điện thoại và tranh luận với nhau.

      “Sienna Brooks à?!”, người hỏi như quát điện thoại. “Có chắc đấy?” Nhân viên này lắng nghe lúc, lông mày cau lại: “Được, cho tôi chi tiết . Tôi giữ máy.”

      ta bịt ống nghe và quay sang các cộng của mình. “Hình như Sienna Brooks rời khỏi Ý ngay sau chúng ta.”

      Tất cả mọi người bên bàn đều sững lại.

      “Bằng cách nào chứ?”, nhân viên nữ thắc mắc. “Chúng ta chặn sân bay, cầu, ga tàu…”

      “Sân bay Nicelli”, người kia trả lời. “ chiếc Lido.”

      thể nào”, nhân viên phản ứng lại, lắc đầu quầy quậy. “Nicelli rất bé. có chuyến bay nào rời đó cả. Nó chỉ phục vụ được các chuyến bay trực thăng trong vùng và…”

      hiểu sao Sienna Brooks có thể sử dụng máy bay riêng đậu tại Nicelli. Họ vẫn tìm hiểu về nó.” ta lại đưa ống nghe lên miệng.“Vâng, tôi đây.Các có gì rồi?”Trong lúc lắng nghe thông tin cập nhật, vai ta càng lúc càng nặng trĩu, ta ngồi phịch xuống.“Tôi hiểu.Cảm ơn.” ta kết thúc cuộc gọi.

      Các đồng nghiệp của ta đều chăm chú nhìn với vẻ trông đợi.

      “Máy bay của Sienna hướng về Thổ Nhĩ Kỳ”, ta thông báo, tay dụi dụi mắt.

      “Vậy gọi ngay cho Cục Vận tải Hàng châu Âu!” ai đó . “Bảo họ cho chiếc máy bay đổi hướng.”

      được đâu”, chàng nhân viên WHO . “Nó hạ cánh cách đây mười hai phút tại sân bay riêng Hezarfen, chỉ cách nơi này có mười lăm dặm. Sienna Brooks biến mất rồi.”
      Chương 87
      Type: Candy Lai
      Lúc này mưa trút ào ào xuống mái vòm cổ kính của Hagia Sophia.

      Suốt gần nghìn năm, đây là nhà thờ lớn nhất thế giới, và thậm chí bây giờ vẫn khó có thể nghĩ ra thứ gì lớn hơn. Nhìn lại tòa nhà lần nữa, Langdon nhớ rằng Hoàng đế Justinian 57 , khi hoàn thành Hagia Sophia, bước lùi lại và tự hào tuyên bố, “Này ngài Solomon, tôi vượt qua ngài rồi.”

      Sinskey và Bruder quả quyết tiến nhanh về phía tòa nhà đồ sộ, như càng lúc càng phình lên khi họ lại gần.

      Các lối ở đây đều có hai hàng đạn súng thần công được lực lượng của Mehmet Người Chinh Phạt 58 sử dụng – hình thức trang trí gợi nhớ rằng lịch sử của tòa nhà này thấm đẫm bạo lực vì sau khi bị chinh phục, nó được chuyển đổi công năng để phục vụ nhu cầu tinh thần của những thế lực chiến thắng.

      Khi họ tiến gần đến mặt tiền phía nam, Langdon liếc nhìn sang bên phải, chỗ ba khu phụ trông như những hầm chứa có mái vòm nhô ra khỏi tòa nhà chính. Đây chính là lăng của các vị Sultan, trong số đó – vua Murad III – theo lời đồn đại, có tới trăm người con.

      Có tiếng chuông điện thoại di động vang lên trong gian về đêm, và Bruder lấy điện thoại ra, kiểm tra nhận dạng người gọi, rồi trả lời cộc lốc: “Chuyện gì?”

      Trong lúc nghe thông tin, ta lắc đầu lia lịa như tin nổi. “Sao có thể thế được?” ta lắng nghe thêm và thở dài.“Được rồi, liên tục thông báo cho tôi.Chúng tôi sắp vào trong.” ta tắt máy.

      “Chuyện gì vậy?”, Sinskey hỏi.

      “Cần để mắt dè chừng”, Bruder , liếc nhìn toàn khu vực.“Chúng ta có thể có bạn đồng hành.” ta đưa mắt nhìn Sinskey. “Có vẻ như Sienna Brooks có mặt tại Istanbul.”

      Langdon nhìn sững Bruder, vô cùng ngạc nhiên khi nghe rằng Sienna tìm được cách lọt vào Thổ Nhĩ Kỳ và thêm nữa, sau khi trốn thoát khỏi Venice, còn dám bất chấp khả năng bị bắt và thậm chí bị giết để đảm bảo rằng kế hoạch của Bertrand Zobrist thành công.

      Sinskey cũng cảnh giác kém và hít hơi dài như thể chuẩn bị hỏi thêm Bruder, nhưng ràng bà suy nghĩ lại, nên quay sang Langdon. “Lối nào đây?”

      Langdon chỉ sang trái chỗ góc tây nam của tòa nhà. “Đài phun nước Tẩy uế đằng kia”, .

      Điểm gặp gỡ của họ với nhân viên của bảo tàng là nguồn nước có rào chắn trang nhã từng được sử dụng cho các nghi lễ tẩy uế trước khi thực việc cầu nguyện của đạo Hồi.

      “Giáo sư Langdon”, giọng nam giới gọi to khi họ đến gần.

      người đàn ông Thổ Nhĩ Kỳ tươi cười bước ra từ bên dưới vòm bát giác che bên đài phun nước. ta vẫy vẫy tay. “Giáo sư, ở đây!”

      Langdon và hai người vội vã tới.

      “Xin chào, tên tôi là Mirsat”, ta , giọng tiếng nặng trịch đầy nhiệt tình.Đó là người đàn ông mảnh dẻ với mái tóc lưa thưa, cặp kính nhìn trí thức và mặc bộ đồ màu xám.“ vinh hạnh cho tôi.”

      “Chúng tôi cũng rất vinh hạnh”, Langdon đáp, bắt tay Mirsat. “Cảm ơn vì lòng hiếu khách của dù chúng tôi thông báo vội vàng.”

      “Vâng, vâng!”

      “Tôi là Elizabeth Sinskey”, tiến sĩ Sinskey , bắt tay Mirsat và sau đó ra hiệu về phía Bruder. “Còn đây là Cristoph Bruder. Chúng tôi đến đây để hỗ trợ giáo sư Langdon. Tôi rất xin lỗi vì máy bay của chúng tôi bị trễ. chu đáo khi tiếp đón chúng tôi thế này.”

      sao! phải suy nghĩ gì đâu!”, Mirsat rối rít. “Vì giáo sư Langdon, tôi phục vụ riêng bất kỳ giờ nào. Cuốn Những biểu tượng Thiên Chúa giáo trong thế giới Hồi giáo của ấy rất được ưa chuộng trong cửa hàng quà tặng của bảo tàng chúng tôi.”

      sao?Langdon nghĩ thầm.Giờ mình biết nơi duy nhất đời đón nhận cuốn sách đó.

      “Chúng tôi chứ?”, Mirsat , ra hiệu cho họ theo.

      Cả nhóm vội vã băng qua khoảnh sân , qua lối vào dành cho khách du lịch và tiếp tục tới nơi ban đầu là lối vào chính của tòa nhà – ba cổng tò vò khoét sâu với những cánh cửa đồng độ sộ.

      Hai nhân viên an ninh có vũ trang đợi sẵn để đón họ. Ngay khi nhìn thấy Mirsat, những nhân viên này mở khóa cánh cửa và đẩy mạnh ra.

      “Sag alun”, Mirsat trong những cụm từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ mà Langdon quen thuộc – cách “cảm ơn” đặc biệt lịch thiệp.

      Cả nhóm bước qua, và các nhân viên ninh lập tức đóng những cánh cửa nặng nề phía sau lại, tiếng va chạm vang vọng khắp gian nội thất bằng đá.

      Giờ Langdon và mấy người kia đứng ở sảnh của Haiga Sophia – dạng phòng chờ hẹp vốn rất phổ biến trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo, có chức năng như khu đệm kiến trúc giữa gian linh thiêng với gian trần tục.

      Đường hào tinh thần, Langdon thường gọi khu vực này như vậy.

      Cả nhóm về phía những cánh cửa tiếp theo, và Mirsat đẩy bên cửa mở ra. Phía sau, thay vì nhìn thấy điện thờ như dự đoán, Langdon lại thấy sảnh thứ hai, lớn hơn cái đầu tiên chút.

      Sảnh nội, Langdon nhận ra ngay, dù quên mất rằng điện thờ của Hagia Sophia có đến hai tầng bảo vệ cách ly với thế giới bên ngoài.

      Như thể để chuẩn bị cho khách tham quan về những gì nằm ở phía trước, khu sảnh nội này được trang trí cầu kỳ hơn hẳn khu sảnh ngoài, các bức tường đều được làm bằng đá mài bóng loáng nên bắt sáng từ những ngọn đèn chùm rất đẹp. Langdon chăm chú ngắm nhìn bốn cánh cửa ở đầu bên kia của gian trầm lắng này, phía có những bức gồm khảm vô cùng ngoạn mục.

      Mirsat bước tới cánh cửa lớn nhất – cánh cổng đồ sộ bọc đồng.“Hoàng môn”, Mirsat khẽ, giọng ta hẫng nhưng vẫn hết sức nhiệt thành, “cho tôi hỏi, có cái gì đặc biệt muốn xem ở bên trong ?”

      Langdon, Sinskey và Bruder đều nhìn nhau.

      “Có”, Langdon .“Có rất nhiều thứ cần xem, dĩ nhiên rồi, nhưng nếu được, chúng tôi muốn bắt đầu từ mộ Enrico Dandolo.”

      Mirsat nghiêng nghiêng đầu như thể hiểu . “Sao cơ ạ? Các vị muốn xem… mộ Dandolo à?”

      “Vâng.”

      Mirsat đầy vẻ thất vọng. “Nhưng, thưa… mộ Dandolo rất đơn giản. hề có biểu tượng gì cả. phải là đề xuất tuyệt nhất của chúng tôi.”

      “Tôi biết thế”, Langdon nhã nhặn .“Tuy nhiên, chúng tôi rất biết ơn nếu có thể đưa chúng tôi đến đó.”

      Mirsat nhìn Langdon lúc lâu, và sau đó ta đưa mắt nhìn lên phần gốm khảm ngay cánh cửa, nơi Langdon vừa ngắm nhìn. Phần gốm khảm này là hình ảnh từ thế kỷ XIX của Chúa Jesus Toàn năng – hình ảnh trở thành biểu tượng mô tả Chúa Jesus cầm Kinh Tân ước bên tay trái trong khi tay phải ban phước.

      Sau đó, như thể có tia sáng lóe lên trong tâm trí, khóe miệng Mirsat nhếch lên thành nụ cười đầy hiểu biết, và ta bắt đầu ngoắc ngoắc ngón tay. “Quả là sắc sảo! Rất sắc sảo!”

      Langdon nhìn sững.“Tôi hiểu?”

      sao, thưa giáo sư”, Mirsat bằng giọng thào đầy mưu mô. “Tôi cho bất kỳ ai biết lý do khiến giáo sư tìm đến đây đâu.”

      Sinskey và Bruder cùng nhìn Langdon vẻ khó hiểu.

      Langdon chỉ biết nhún vai trong khi Mirsat đẩy cửa mở ra và dẫn họ vào trong.

      57 Justinian I (482 - 565) là hoàng đế Đông La Mã từ năm 527 đến khi qua đời.Ông được phong Thánh bởi các tín đồ Chính Thống giáo Đông phương. Triều đại của Justinian được đánh dấu bởi tham vọng phục hồi lãnh thổ của đế quốc Tây La Mã nhưng chỉ có thể thực được phần ở Bắc Phi, khôi phục lại Dalmatia, Sicilia, Ý, và Rome trở về đế quốc sau hơn nửa thế kỷ nằm dưới kiểm soát của người man di. Justinian là người san định và hệ thống luật pháp La Mã. Ông thành lập bộ luật được biết dưới cái tên “Dân luật đại toàn” (Corpus Juris Civilis)

      58 Mehmed II (được biết là Mehmed Người Chinh phạt) (1432-1481) là vị Sultan thứ bảy của đế quốc Ottorman trong thời gian ngắn từ năm 1444 tới tháng Chín năm 1446, và sau đó là từ tháng Hai năm 1451 đến 1481. Ở tuổi hai mươi mốt ông chinh phạt Costaninople, dẫn tới sụp đổ của đế quốc Đông La Mã.Mehmed tiếp tục chinh chiến ở châu Á, thống nhất lại Tiểu Á, và mở rộng lãnh thổ tới Beograd ở châu Âu.
      Chương 88
      Type: Candy Lai
      Kỳ quan thế giới thứ tám, số người gọi nơi này như vậy, nhưng lúc này đứng bên trong, Langdon có ý định tranh luận về đánh giá đó.

      Khi cả nhóm bước qua ngưỡng cửa tiến vào khu điện thờ đồ sộ, Langdon sực nhớ rằng Hagia Sophia có thể gây được ấn tượng với khách tham quan về quy mô tráng lệ của nó chỉ trong nháy mắt.

      Gian phòng này lớn đến mức dường như ngay cả những đại giáo đường ở châu Âu cũng biến thành những chú lùn. Langdon biết rằng, choáng ngợp của nó phần là ảo giác – hiệu ứng phụ nhờ phần mặt sàn kiểu Byzantine, với toàn bộ gian thờ cúng tập trung trong gian phòng vuông vức duy nhất, chứ phải trải ra theo bốn nhánh của bố cục hình thập tự - vốn là phong cách được sử dụng cho các thánh đường sau này.

      Tòa nhà này còn nhiều tuổi hơn Notre-Dame đến bảy trăm năm, Langdon nghĩ bụng.

      Sau khi mất lúc mới quan sát được hết quy mô rộng lơn của gian phòng, Langdon ngước mắt nhìn lên, phải hơn bốn mươi lăm mét phía đầu, về phía mái vòn màu vàng sáng lấp lánhtrùm lấy gian phòng. Từ điểm trung tâm, bốn mươi gọng vòm tỏa ra như những tia nắng mặt trời, chạy tới dãy tường cuốn hình tròn gồm bốn mươi ô cửa sổ vòng cung. Vào ban ngày, ánh sáng tràn qua những ô cửa sổ này phản chiếu và khúc xạ những mảnh kính khảm chặt lớp mái vàng, tạo ra “thứ ánh sang kỳ ảo”, điểm nổi tiếng nhất của Hagia Sophia.

      Langdon từng lần duy nhất thấy cái gian mạ vàng của gian phòng này được nắm bắt cách chính xác trong tranh vẽ.Họa sĩ John Singer Sargent. có gì lạ, khi tạo ra bức Hagia Sophia nổi tiếng của mình, vị họa sĩ người Mỹ này chỉ giới hạn bảng màu trong phạm vị những sắc độ khác nhau của màu duy nhất.

      Màu vàng.

      Phần mái vòm vàng lấp lánh, thường gọi là “mái vòm của Thiên đường”, được đỡ bằng bốn khung tò vò cực lớn và những khung này lại được cố định bằng rất nhiều kết cấu nửa vòm và lá nhĩ. Rồi lại có tầng nửa vòm và dãy cuốn hơn đỡ dưới các chi tiết này, tạo ra hiệu ứng như thế thác nước gồm toàn những dạng thức kiến trúc từ trời tìm đường xuống trái đất.

      Chạy từ trời xuống đất, mặc dù theo lộ trình trực tiếp hơn, những sợi cáp dài từ mái vòm lao thẳng xuống và đỡ cả biển chúc đài được treo thấp đến mức những vị khách cao lớn rất dễ va phải chúng. Nhưng thực tế, đây lại là ảo giác nữa do hoành tráng của gian này tạo ra, bởi lẽ những ngọn chúc đài đều treo cao cách sàn gần bốn mét.

      Cũng như với tất cả các điện thờ lớn khác, kích thước đồ sộ của Hagia Sophia nhằm hai mục đích. Thứ nhất, nó là bằng chứng trước Chúa về những gì con người sẵn sàng thực để tỏ lòng tôn kính với ngài. Và thứ hai, nó là hình thức gây sốc cho các tín đồ - gian vật lý hùng vĩ đến mức những người bước vào đều cảm thấy mình trở nên bé, cái tôi của họ tan biến, cái bản thế vật chất cùng tầm quan trọng của họ chỉ còn là chấm nhoi trước Chúa – nguyên tử trong tay của Tạo hóa mà thôi.

      Chừng nào con người chẳng là gì cả Chúa cũng chẳng thể tạo ra được gì từ ta. Martin Luther từng những lời này vào thế kỷ XVI, nhưng quan niệm đó nằm trong tư duy của những người xây dựng từ thời có những hình mẫu xưa nhất của kiến trúc tôn giáo.

      Langdon liếc nhìn Bruder và Sinskey, cũng chăm chú nhìn lên và lúc này mới hạ ánh mắt xuống.

      “Chúa Jesus”, Bruder .

      “Phải!”, Mirsat hào hứng . “Và cả Thánh Allah cùng Đức Muhammad nữa!”

      Langdon phì cười khi chàng hướng dẫn viên của họ bảo Bruder nhìn bàn thờ chính, nơi có bức tranh gốm khảm cao ngất hình Chúa Jesus kèm hai bên là hai chiếc đĩa lớn có tên bằng tiếng Ả Rập của Muhammad và Thánh Allah theo kiểu thư pháp trang trí.

      “Bảo tàng này”, Mirsat giải thích, “cố gắng gợi cho khách tham quan nhớ đến những mục đích đa dạng của gian thiêng liêng, nên lần lượt thể cả biểu tượng Thiên Chúa giáo, từ thời kỳ khi Hagia Sophia còn là nhà thờ, lẫn biểu tượng Hồi giáo, khi nó được dung như giáo đường”. ta mỉm cười tự hào. “Bất chấp xích mích giữa hai tôn giáo trong đời thực, chúng tôi vẫn nghĩ những biểu tượng của họ khá hòa hợp với nhau. Tôi biết cũng tán thành, thưa giáo sư.”

      Langdon chân thành gật đầu, nhớ lại rằng tất cả những biểu tượng Thiên Chúa giáo đều bị che kín bằng vôi khi tòa nhà này trở thành giáo đường Hồi giáo. Việc phục hồi lại những biểu tượng Thiên Chúa giáo bên cạnh các biểu tượng Hồi giáo tạo ra hiệu quả hấp dẫn, đặc biệt vì những phong cách và đặc điểm nhạy cảm của hai hệ thống biểu tượng này lại là hai cực đối lập nhau.

      Trong khi truyền thống Thiên Chúa giáo ưa những hình ảnh thế tục của các vị thần thánh, Hồi giáo lại tập trung vào thư pháp chữ Ả Rập và những hoa văn kỷ hà để thể vẻ đẹp trong vũ trụ của Chúa trời. Truyền thống Hồi giáo cho rằng chỉ có Chúa trời mới tạo ra cuộc sống – thần linh, con người, thậm chí động vật.

      Langdon nhớ từng cố gắng giải thích quan niệm này cho các sinh viên của mình: “ Michelangelo theo đạo Hồi, xin lấy ví dụ như vậy, chẳng bao giờ vẽ gương mặt Chúa trần Nhà nguyện Sistine. Ông ấy khắc tên Chúa trời.Thể gương mặt Chúa bị coi là hành động báng bổ.”

      Langdon tiếp tục giải thích lý do của việc này.

      “Cả Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đều lấy ngôn từ làm trung tâm luận”, với sinh viên, “có nghĩa là họ tập trung vào Ngôi Lời. Theo truyền thống Thiên Chúa giáo, Ngôi lời trở thành xác thịt trong cuốn sách của Thánh John: ‘Và Ngôi Lời trở thành xác thịt, và Ngài ở giữa chúng ta’. Do đó, người ta chấp nhận việc mô tả Ngôi Lời có hình dạng con người. Còn trong truyền thống Hồi giáo, Ngôi Lời trở nên xác thịt, cho nên Ngôi Lời cần giữ nguyên hình dạng của ngôn từ… trong hầu hết các trường hợp, đó là những hình thức thể bằng thư pháp tên của các nhân vật thần thánh trong đạo Hồi.”

      trong số các sinh viên của Langdon đúc kết đoạn lịch sử phức tạp này bằng ghi chú bên lề vở chính xác đến thú vị rằng: “Người Thiên Chúa giáo thích mặt, người Hồi giáo thích chữ.”

      “Trước mặt chúng ta đây”, Mirsat tiếp tục, ra hiệu về phía bên kia gian phòng kỳ vĩ, “các vị thấy hòa trộng độc đáo giữa Thiên Chúa giáo và Hồi giáo”.

      ta chỉ kết hợp của các biểu tượng ở khu hậu cung hoành tráng, đáng chú ý nhất là hình tượng Đức mẹ Đồng trinh và Chúa Hài đồng nhìn xuống mihrab – chỗ ngách tường hình bán nguyệt trong giáo đường Hồi giáo cho biết phương hướng của Mecca. Gần đó, dãy cầu thang chạy lên đến bục giảng kinh, trông giống kiểu bục dung làm nơi thực các bài thuyết pháp Thiên Chúa giáo, nhưng thực tế lại là minbar, bục thánh lễ cho thầy tế thực các buổi lễ ngày thứ Sáu. Tương tự, kết cấu hình hoa cúc gần đó trông giống khu vực dành cho đội hợp ca nhà thờ Thiên Chúa giáo nhưng thực tế lại là muezzin mahfili, loại bục được tôn cao dành cho thầy tu báo giờ quỳ và cầu kinh đáp lại lời cầu nguyện của thầy tế.

      “Các giáo đường Hồi giáo và thánh đường Thiên Chúa giáo giống nhau đến kinh ngạc”, Mirsat tuyên bố.“Truyền thống của Đông và Tây khác biệt nhiều như chúng ta nghĩ!”

      Mirsat?”, Bruder thúc bách, giọng đầy nôn nóng. “Chúng tôi rất muốn vào xem mộ Dandolo, nếu có thế?”

      Mirsat có vẻ hơi bực mình, như thể vẻ nóng vội của Bruder chính là biểu thiếu tôn trọng đối với nhà thờ này.

      “Phải”, Langdon .“Tôi xin lỗi vì vội vàng, nhưng chúng tôi có thời gian biểu rất sít sao.”

      “Cũng được thôi”, Mirsat , tay chỉ ban công khá cao bên trái họ. “Chúng ta lên gác và xem ngôi mộ.”

      lên sao?”, Langdon giật mình đáp lại. “ phải Enrico Dandolo được chôn cất trong hầm mộ à?” Langdon nhớ về ngôi mộ, nhưng nhớ vị trí chính sác trong tòa nhà nơi có mộ. hình dungra những khu vực tối tăm ngầm trong lòng đất của tòa nhà.

      Mirsat có vẻ khó chịu trước câu hỏi.“, thưa giáo sư, mộ của Enrico Dandolo chắc chắn ở tầng.”

      ***

      Có chuyện quái quỷ gì ở đây vậy nhỉ?Mirsat thắc mắc.

      Khi Langdon đề nghị tới thăm mộ Dandolo, Mirsat cảm thấy đề nghị đó như kiểu nghi trang.Chẳng ai muốn xem mộ Dandolo cả. Marsat cho rằng thứ Langdon muốn xem là kho báu bí ngay bên cạnh mộ Dandolo kia – tác phẩm Gốm khảm Deesis – bức chân dung Chúa Toàn năng cổ vẫn được xem là trong những tác phẩm nghệ thuật bí nhất trong tòa nhà này.

      Langdon tìm kiếm bức tranh gốm, và cố gắng giữ kín điều đó, Mirsat phán đoán, cho rằng vị giáo sư có lẽ viết tác phẩm bí mật về bức Deesis.

      Tuy nhiên, đến giờ Mirsat hiểu.Chắc chắn Langdon biết tác phẩm Deesis nằm tầng hai, nhưng tại sao lại có phản ứng ngạc nhiên như vậy?

      Trừ phi đúng là ta tìm kiếm mộ Dandolo chăng?

      Bối rối, Mirsat dẫn họ về phía cầu thang, qua trong hai cái đỉnh nổi tiếng của Hagia Sophia – đại khí nặng tới gần nghìn hai tram năm mươi cân đẽo từ khối cẩm thạch nguyên khối vào thời kỳ Hy Lạp hóa.

      Lúc này Mirsat im lặng leo lên cùng cả đoàn, cảm giác hơi bồn chồn. Các cộng của Langdon dường như giống dân học thuật chút nào. người trong số họ giống dạng lính tráng nào đó, cơ bắp và cứng nhắc, lại mặc toàn đồ đen.Còn người phụ nữ có mái tóc bạc Mirsat cảm thấy như mình gặp bà ấy từ trước.Có lẽ truyền hình chăng?

      ta bắt đầu thấy nghi ngờ rằng mục đích chuyến viếng thăm này phải như họ lúc đầu. tại sao họ lại đến đây?

      “Chỉ đợt cầu thang nữa thôi”, Mirsat vui vẻ khi họ đến chiếu nghỉ.“Chúng ta thấy mộ của Enrico Dandolo tầng, và dĩ nhiên”, ta ngừng lại, mắt nhìn Langdon, “bức Gốm khảm Deesis nổi tiếng”.

      có lấy chút do dự.

      Có vẻ như Langdon, thực tế, hề đến đây vì bức Deesis tí nào. và các vị khách của mình dường như tập trung cách khó hiểu vào ngôi mộ của Dandolo.




    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,875
                  Type: TMT
      CHƯƠNG 89
       

       



      Khi Mirsat dẫn đường lên gác, Langdon nhận thấy Brũder và Sinskey rất lo lắng. Phải thừa nhận việc leo lên tầng hai dường như chẳng có nghĩa lý gì. Langdon cứ nghĩ đến đoạn video ngầm trong lòng đất của Zobrist và bộ phim tài liệu về những khu vực ngầm bên dưới Hagia Sophia.

      Chúng ta cần phải xuống.

      Cho dù như vậy, nếu đây đúng là nơi có mộ của Dandolo họ cũng còn lựa chọn nào khác ngoài việc làm theo đúng những chỉ dẫn của Zobrist. Hãy quỳ gối bên trong bảo quán mạ vàng của tri thức thánh thiêng, và áp tai xuống mặt đất, lắng nghe tiếng nước giọt.

      Cuối cùng khi đến tầng hai, Mirsat dẫn họ sang bên phải, dọc theo gờ ban công, nơi có tầm nhìn đẹp đến nín thở về khu điện thờ phía dưới. Langdon vẫn hướng về phía trước, rất tập trung.

      Mirsat vẫn nhiệt thành về bức Gốm khảm Decsis, nhưng Langdon chẳng hề để tâm.

      Giờ thấy mục tiêu của mình.

      Ngôi mộ của Dandolo.

      Ngôi mộ vẫn đúng như Langdon còn nhớ - miếng cẩm thạch trắng hình chữ nhật được khảm vào nền đá nhẵn bóng và được quây lại bằng cọc và xích.

      Langdon tiến nhanh lại và xem xét những dòng chữ khắc.



      HENRICUS DANDOLO



      Khi những người khác tiến đến phía sau, Langdon lập tức hành động, bước nhanh qua xích bảo vệ và đặt chân ngay phía trước bia mộ.

      Mirsat lớn tiếng phản đối, nhưng Langdon vẫn tiếp tục, nhanh nhẹn quỳ gối như thể chuẩn bị cầu nguyện dưới chân vị tổng trấn bội bạc.

      Tiếp đó, bằng động tác khiến Mirsat thốt lên kinh hãi, Langdon đạt hai tay lên mộ và úp sấp mặt xuống sàn. Lúc ấy, Langdon thấy mình như quỳ lạy ở Mecca vậy. Động tác của khiến Mirsat cứng đờ, câm bặt, và dường như toàn bộ tòa nhà đột ngột chìm vào im lặng.

      Langdon hít hơi sâu, ngoảnh mặt sang phải và nhàng áp tai trái vào mộ. Da thịt cảm nhận lạnh lẽo của lớp đá.

      Thứ thanh nghe vọng lên qua lớp đá rệt như ban ngày.

      Lạy Chúa.

      Khúc cuối Hỏa ngục của Dante dường như vọng lên từ bên dưới.

      Rất chậm rãi, Langdon xoay đầu, đăm đăm nhìn lên Brũder và Sinskey.

      “Tôi nghe thấy rồi”, thào, “Tiếng nước giọt.”

      Brũder nhảy qua dây xích và quỳ xuống bên cạnh Langdon lắng nghe. lúc sau, ta gật đầu lia lịa.

      Giờ đây khi họ nghe thấy tiếng nước chảy xuống dưới, câu hỏi vẫn còn đó. Nó chảy đâu

      Tâm trí Langdon bỗng nhiên ngập tràn những hình ảnh của cái hang chìm nửa, ngập trong thứ ánh sáng màu đỏ kỳ quái, đâu đó bên dưới họ.

      “Hãy lần sâu vào tòa cung điện bị chìm…

      vì ở đây, trong bóng tối, con quái vật chốn địa phụ chờ đợi,

      lặn ngụp trong thứ nước đỏ như máu…

      của cái đầm hề phản chiếu ánh sao.”

      Khi Langdon đứng lên và bước qua các cọc rào lần nữa, Mirsat vẫn trừng trừng nhìn với vẻ cảnh giác và bị phản bội mặt. Langdon đứng cao hơn chàng hướng dẫn người Thổ đến hơn gang tay.

      “Mirsat”, Langdon bắt đầu . “Tôi xin lỗi. có thể thấy đấy, đây là tình thế rất bất thường. Tôi có thời gian để giải thích, nhưng tôi có câu hỏi quan trọng để hỏi về tòa nhà này.”

      Mirsat cố gắng gật đầu yếu ớt. “Vâng.”

      “Ở đây, bên mộ của Dandolo, chúng tôi nghe thấy tiếng dòng nước chảy đâu đó bên dưới lớp đá. Chúng tôi cần biết chỗ nước này chảy đâu.”

      Mirsat lắc đầu, “Tôi hiểu. Có thể nghe thấy tiếng nước bên dưới sàn nhà ở khắp mọi chỗ trong Hagia Sophia mà.”

      Tất cả mọi người cứng đờ.

      “Vâng”, Mirsat với họ, “đặc biệt khi trời mưa. Hagia Sophia có xấp xỉ chín nghìn ba trăm mét vuông mái cần thoát nước, và thường phải mất hàng ngày trời. Và thông thường trời lại đổ mưa trước khi nước kịp thoát hết. Tiếng nước giọt rất phổ biến ở đây. Có lẽ các vị biết rằng Hagia Sophia ở bên những hang nước rất lớn. Có hẳn phim tài liệu mà…”

      “Đúng, đúng”, Langdon lên tiếng, “Nhưng có biết liệu chỗ nước nghe rất ở đây, tại mộ của Dandolo này, chảy tới chỗ nào đó cụ thể ?”

      “Dĩ nhiên”, Mirsat . “Nó chảy tới cùng chỗ mà toàn bộ nước trút xuống từ Hagia Sophia chảy tới. Đó là bể chứa của thành phố.”

      ”, Brũder lên tiếng, chân bước qua rào chắn. “Chúng tôi tìm kiếm bể chứa nước. Chúng tôi tìm gian ngầm rất lớn, có lẽ còn có cả những cột trụ nữa?”

      “Đúng rồi”, Mirsat . ”Bể chứa cổ của thành phố chính là nơi đó – gian ngầm rất lớn có cột trụ. Thực tế là rất ấn tượng. Nó được xây dựng vào thế kỷ VI để chứa nguồn cấp nước cả thành phố. Còn bây giờ nó chỉ còn khoảng hơn mét hai nước, nhưng…”

      “Nó nằm ở đâu!”, Brũder hỏi, giọng ta vang rền trong gian phòng trống trải.

      “Cái…bể nước hả?”, Mirsat hỏi lại, vẻ sợ hãi. “Cách đây dãy nhà, ngay phía đông tòa nhà này.” ta chỉ tay ra bên ngoài. “Nó được gọi là Yerebatan Sarayi.”

      Sarayi sao? Langdon thắc mắc. Giống như trong Topkapi Sarayi à? Tấm biển chỉ dẫn Cung điện Topkapi xuất thường xuyên lúc họ lái xe tới đây. “Thế…sarayi có phải nghĩa là “cung điện’ ?”

      Mirsat gật đầu. “Đúng vậy. Tên bể nước cổ của chúng tôi là Yerebatan Sayri. Nó có nghĩa là…cung điện chìm.”
                  Type: TMT
      CHƯƠNG 90
       
       



      Mưa bắt đầu giăng khi tiến sĩ Sinskey lao vộ ra khỏi Hagia Sophia cùng với Langdon, Brũder và chàng hướng dẫn Mirsat chóng váng của họ.

      Hãy lần sâu vào tòa cung điện bị chìm. Sinskey nghĩ.

      Địa điểm bể chứa nước của thành phố - Yerabatan Sarayi - ràng ở phía sau Giáo đường Xanh và hơi chếch về phía bắc.

      Mirsat dẫn đường.

      Sinskey còn lựa chọn nào khác là cho Mirsat biết họ là ai và rằng họ phải chạy đua để ngăn cản cuộc khủng hoảng y tế có thể nổ ra ngay trong cung điện chìm đó.

      “Lối này!”, Mirsat gọi, dẫn họ chạy men theo công viên tối om. Giờ Hagia Sophia đồ sộ như trái núi ở phía sau họ, và những ngọn tháp như trong truyện cổ tích của Giáo đường Xanh lấp lánh phía trước.

      Bên cạnh Sinskey, đặc vụ Brũder như quát vào điện thoại, cập nhật tình hình cho đội SRS và ra lệnh cho họ gặp nhau tại lối vào bể chứa nước. “Xem ra Zobrist nhắm vào nguồn cấp nước của thành phố”, Brũder , thở ra hơi. “Tôi cần giản đồ của tất cả đường ống - ra vào bể chứa. Chúng ta thực quy trình ngăn chặn và cách ly hoàn toàn. Chúng ta cần các rào chắn hóa học và vật lý cùng với chân …”

      “Đợi ”, Mirsat gọi ta. “ hiểu nhầm tôi rồi. Bể chứa phải là nguồn cấp nước của thành phố. còn chức năng ấy nữa!”

      Brũder hạ điện thoại, nhìn sững người hướng dẫn. “Sao cơ?”

      “Thời xưa bể nước là nguồn cấp nước”, Mirsat . “Nhưng còn thế nữa rồi. Chúng tôi đại hóa rồi.”

      Brũder dừng phắt lại bên dưới tán cây, và tất cả mọi người cũng dừng lại theo.

      “Mirsat”, Sinskey , “ có chắc rằng còn ai uống nước từ bể chứa ?”

      “Hoàn toàn ”, Mirsat . “Nước nằm nguyên dưới đó…cuối cùng tự thẩm thấu vào trong đất.”

      Sinskey, Langdon và Brũder cùng nhìn nhau vẻ chắc chắn. Sinskey biết mình cảm thấy nhõm hay thêm hoảng. Nếu ai thường xuyên tiếp xúc với nước tại sao Zobrist lại chọn đầu độc nơi đó?

      “Khi chúng tôi đại hóa nguồn cấp nước từ nhiều thập kỷ trước”, Mirsat giải thích, “bể chứa còn được sử dụng nữa và trở thành cái bể lớn trong gian phòng ngầm dưới đất”. ta nhún vai. “Còn bây giờ chỉ là điểm du lịch thôi.”

      Sinskey xoay người về phía Mirsat. điểm du lịch ư? “Khoan …mọi người có thể xuống đó à? Xuống bể nước ấy?”

      “Dĩ nhiên rồi”, ta . “Có đến hàng nghìn người tham quan mỗi ngày. Hang ngầm khá ấn tượng. Có các lối lót ván phía mặt nước…và thậm chí còn có quán cà phê . Thông khí hơi hạn chế nên khí khá ngột ngạt và ẩm thấp, nhưng nơi đó vẫn rất nổi tiếng.”

      Sinskey nhìn sững Brũder, và bà có thể khẳng định rằng cả bà và chàng đặc vụ SRS được huấn luyện kỹ càng đều cùng hình dung ra điều – hang ngầm ẩm thấp, tối tăm toàn nước đọng trong đó có ủ thứ mầm bệnh. Cơn ác mộng thềm hoàn chỉnh với diện của những lối lót ván nơi khách du lịch qua lại suốt ngày, ngay phía mặt nước.

      tạo ra dạng thuốc phun sinh học”, Brũder tuyên bố.

      “Nghĩa là sao?”, Langdon hỏi.

      “Nghĩa là”, Brũder đáp, “nó có thể lan truyền trong khí.

      Langdon im bặt, và Sinskey thấy lúc này hình dung mức độ ghê gớm của cuộc khủng hoảng này.

      có lúc trong đầu Sinskey nghĩ đến kịch bản thứ mầm bệnh lan truyền trong khí, nhưng khi bà tin rằng bể chứa nước chính là nguồn cung cấp nước của thành phố, bà hy vọng có lẽ Zobrist chọn bệnh lây lan theo nước. Các loại vi khuẩn sống trong nước rất mạnh và chống chịu được thời tiết, nhưng chúng cũng chậm phát tán.

      Các mầm bệnh dựa vào khí lại lan truyền nhanh.

      Rất nhanh.

      “Nếu nó tồn tại trong khí”, Brũder , “ có khả năng là virus.”

      loại virus, Sinskey đồng ý. Thứ mầm bệnh lây lan nhanh nhất mà Zobrist có thể lựa chọn.

      Phải thừa nhận giải phóng loại virus tồn tại trong khí xuống nước là điều lạ thường, nhưng có nhiều dạng sống sinh trưởng trong chất lỏng và sau đó nở trong khí – muỗi, bào tử nấm mốc, những loại vi khuẩn gây bệnh viêm phổi khuẩn, độc tố nấm, thủy triều đỏ*, và thậm chí cả con người. Sinskey hình dung ra thứ virus tỏa ra khắp đầm nước trong bể chứa, và sau đó những giọt nước siêu bị lây nhiễm bay lên trong khí ẩm thấp.



      *Thủy triều đỏ (red tide) là tên gọi quen thuộc chỉ tượng các vi sinh vật biển, đặc biệt là các loại thực vật phù du, tập trung dày đặc gần mặt nước, khiến nước nhưu đổi sang màu đỏ hoặc nâu. số trường hợp thủy triều đỏ sản sinh ra các độc tố tự nhiên, làm giảm ô xy trong nước và gây ra những tác động có hại khác. Ảnh hưởng đáng sợ nhất của tượng này là khiến cho các loài cá, chim, động vật biển và những sinh vật đại dương và duyên hải khác chết hàng loạt.

       

      Lúc này Mirsat trân trân nhìn đường phố ùn tắc với vẻ lo sợ mặt. Sinskey nhìn theo ánh mắt của ta tới tòa nhà thấp lát gạch trắng-đỏ có cánh cửa mở, để lộ ra thứ trông như cầu thang. nhóm người ăn mặc chỉnh tề đứng dưới những chiếc ô che bên ngoài trong khi nhân viên gác cửa kiểm tra dòng khách khứa theo lối cầu thang xuống dưới.

      sàn nhảy dưới lòng đất phải.

      Sinskey nhìn dòng chữ vàng khắc tòa nhà và cảm thấy ngực đột nhiên thắt lại. Sàn nhảy này được gọi là Bể chứa nước và được xây dựng vào năm 523 sau Công nguyên, cho nên bà nhận ra tại sao Mirsat trông lo lắng đến vậy.

      “Cung điện chìm”, Mirsat lẩm bẩm. “Dường như…có buổi hòa nhạc tối nay.”

      Sinskey có vẻ hoài nghi. “Hòa nhạc trong cái bể chứa à?”

      “Đó là gian trong nhà rất rộng”, ta đáp, “Nó thường được sử dụng như trung tâm văn hóa.”

      ràng Brũder cũng nghe được đầy đủ. ta lao vội về phía tòa nhà, lách qua dòng xe cộ lộn xộn Đại lộ Alemdar. Sinskey và những người khác cũng chạy vội theo, bám sát gót chàng đặc vụ.

      Khi họ đến lối vào bể chứa, khuôn cửa bị chặn bởi nhóm người dự hòa nhạc đợi đến lượt vào trong - nhóm ba phụ nữ mặc áo choàng che kín mặt, hai du khách tay nắm tay, người đàn ông vận lễ phục. Tất cả đều túm tụm bên dưới khuôn cửa, cố gắng tránh nước mưa.

      Sinskey nghe những giai điệu du dương của tác phẩm nhạc cổ điển vang lên từ bên dưới. Berlioz, bà phỏng đoán căn cứ theo cách phối rất đặc trưng cho dù đó là bản gì cũng có cảm giác nó thích hợp lắm cho khung cảnh những đường phố tại Istanbul này.

      Khi họ đến gần cửa hơn, bà cảm nhận được luồng hơi ấm thổi ngược lên cầu thang, từ tít sâu trong lòng đất và thoát ra từ cái hang kín mít. Luồng hơi mang theo lên mặt đất chỉ tiếng vĩ cầm, mà cả mùi hơi ấm và mùi đám đông người lẫn đâu được.

      Nó còn mang tới cho Sinskey linh tính vô cùng bất an.

      nhóm du khách từ dưới cầu thang xuất , vừa vừa trò chuyện vui vẻ, trong lúc ra khỏi tòa nhà, nhân viên gác cửa liền cho nhóm tiếp theo xuống.

      Brũder lập tức tiến vào, nhưng nhân viên gác cửa chặn ta lại bằng cái vẫy tay vui vẻ. “ lát thôi, thưa ông. Bể chứa kín người rồi. Chưa đến phút nữa là du khách tiếp theo ra thôi. Cảm ơn ông.”

      Nhìn Brũder có vẻ sẵn sàng cố chen vào, nhưng Sinskey vẫn đặt tay lên vai ta và kéo sang bên.

      “Đợi ”, ba ra lệnh. “Nhóm của đường và thể lùng sục ở nơi thế này mình đâu.” Bà ra hiệu về phía tấm biển tường bên cạnh cửa. “Bể chứa rất rộng.”

      Tấm biển thông tin về gian phòng dưới lòng đất có kích thước bằng cả thánh đường - gần chín nghìn ba trăm mét vuông và được chống đỡ bằng cả khu rừng ba trăm ba mươi sáu cây cột đá cẩm thạch.

      “Nhìn xem”, Langdon , đứng cách đó vài thước. “Các vị tin nổi đâu.”

      Sinskey quay lại. Langdon ra hiệu về phía tấm áp phích hòa nhạc tường.

      Ôi, lạy Chúa lòng lành.

      Giám đốc WHO đúng khi xác định phong cách nhạc là lãng mạn, nhưng tác phẩm được biểu diễn phải do Berlioz biên soạn. Nó là của nhà soạn nhạc phong cách lãng mạn khác - Franz Liszt.

      Tối nay, sâu trong lòng đất, dàn nhạc Giao hưởng Bang Istanbul biểu diễn trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Liszt - Giao hưởng Dante - tác phẩm hoàn toàn lấy cảm hứng từ cuộc du hành xuống địa ngục rồi trở về của Dante.

      “Nó được trình diễn ở đây tuần liền”, Langdon trong lúc chăm chú đọc tấm áp phích. “ buổi hòa nhạc mở cửa tự do. Bên dưới kí tên nhà tài trợ giấu tên.”

      Sinskey nghĩ mình có thể đoán ra ai là nhà tài trợ giấu tên đó. Niềm đam mê kịch của Bertrand Zobrist dường như cũng là chiến lược rất thiết thực nhưng nhẫn tâm. So với bình thường, tuần biểu diễn hòa nhạc miễn phí này thu hút thêm hàng nghìn du khách kéo xuống bể chứa và nhét họ vào khu vực chật cứng, nơi họ hít thở thứ khí bị nhiễm bệnh, sau đó quay về nhà mình cả ở đây lẫn ở nước ngoài.

      “Thưa ông?”, nhân viên gác cửa gọi Brũder. “Chúng tôi có chỗ cho hai người nữa.”

      Brũder quay sang Sinskey, “Gọi cho chính quyền địa phương. Cho dù tìm ra thứ gì dưới đó, chúng ta cũng vẫn cần hỗ trợ. Khi nhóm của tôi đến, bảo họ liên lạc với tôi để cập nhật tình hình. Tôi xuống dưới và xem xem liệu tôi có thể nhận ra Zobrist ém thứ này ở đâu .”

      dùng mặt nạ phòng độc à?”, Sinskey hỏi. “ biết chắc cái túi Solublon còn nguyên vẹn ?”

      Brũder cau mày, tay giơ lên luồng khí ẩm nóng phả ra khỏi cửa. “Tôi phải điều này, nếu thứ bệnh lây này thoát ra tôi đoán có lẽ tất cả mọi người trong thành phố này đều bị nhiễm bệnh rồi.”

      Sinskey cũng nghĩ đến chính điều ấy nhưng muốn ra trước mặt Langdon và Mirsat.

      “Thêm nữa”, Brũder thêm, “tôi nhìn thấy chuyện gì xảy ra với đám đông khi nhóm của tôi tiến vào cùng với trang phục phòng độc. Chúng ta gặp cảnh hoảng loạn và giẫm đạp lên nhau.”

      Sinskey quyết định chiều theo Brũder vì cho cùng, ta là chuyên gia và ở trong những tình huống như thế này trước đó rồi.

      “Lựa chọn thực tiễn duy nhất của chúng ta”, Brũder với bà, “là giả định rằng nó vẫn còn an toàn dưới đó, và cố gắng ngăn chặn việc này.”

      “Được rồi”, Sinskey . “Làm .”

      ta sao chứ?”, Brũder hỏi.

      “Cho dù có ý định của ta ở Istanbul này là gì ta cũng rất giỏi ngôn ngữ và có thể chuyện với số người Thổ Nhĩ Kỳ.”

      “Vậy sao?”

      “Sienna biết bài thơ đến ‘cung điện bị chìm’”, Langdon . “Và torng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, ‘cung điện bị chìm’ theo nghĩa đen chính là…” chỉ về phía tấm biển YEREBATAN SARAYI phía khung cửa. “…đây.”

      “Đúng vậy”, Sinskey mệt mỏi đồng ý. “ ta có thể đoán ra nơi nà y và bỏ qua Hagia Sophia.”

      Brũder nhìn khuôn cửa hiu quạnh và lầm bầm rất khẽ. “Được thôi, nếu ta xuống đó và tìm cách phá vỡ cái túi Solublon trước khi chúng ta kịp bao nó lại ít nhất ta cũng chưa ở đó được lâu. Đó là khu vực rất rộng và có lẽ ta chưa biết tìn đến chỗ nào. Và có rất nhiều người ở xung quanh, nên ta thể nhảy ùm xuống nước mà bị chú ý.”

      “Thưa ông?, nhân viên canh cửa lại gọi Brũder. “Ông có muốn vào bây giờ ?”

      Brũder nhìn thấy nhóm người dự hòa nhạc nữa từ bên kia phố tiến sang, nên gật đầu với nhân viên canh cửa ra ý rằng ta đến ngay.

      “Tôi cùng ”, Langdon theo.

      Brũder xoay lại và đối diện với . “Chẳng để làm gì đâu.”

      Giọng Langdon rất cương quyết. “Đặc vụ Brũder, trong những lý do chúng ta ở trong tình thế này là vì Sienna Brooks dắt mũi tôi suốt cả ngày nay. Và như , có thể tất cả chúng ta đều bị nhiễm bệnh rồi. Tôi giúp cho dù có thích hay .”

      Brũder nhìn lúc rồi dịu lại.



      ***



      Khi vượt qua ngưỡng cửa và bắt đầu xuống cầu thang khá dốc theo sau Brũder, Langdon cảm thấy luồng hơi ấm thổi qua họ từ rất sâu dưới bể chứa. Luồng khí ẩm thấp mang theo nó những giai điệu bản Giao hưởng Dante của Liszi cũng như thứ mùi quen thuộc nhưng khó tả - thứ mùi của rất nhiều người người chen chúc nhau trong gian kín mít.

      Langdon bỗng cảm thấy có tấm màn ma quái vây phủ lấy mình, như thể những ngón tay rất dài của bàn tay vô hình vươn lên từ mặt đất và sờ nắn da thịt .

      nhạc.

      Dàn hợp xướng giao hưởng - với trăm giọng hát - lúc này trình bày đoạn nổi tiếng, đọc rành rẽ từng tiết trong lời văn u sầu của Dante.

      “Lasciate ogne speranza”, họ cất tiếng hát vang, “voi ch’entrate”.

      Sáu từ này - chính là dòng thơ nổi tiếng nhất trong toàn bộ phần Hỏa ngục của Dante - vang lên từ từ phía dưới cầu thang chẳng khác gì mùi tử khí đáng sợ.

      Kèm theo tiếng kèn cùng tù và vút cao, dàn hợp xướng lại ngân nga lời cảnh báo ấy. Lasciate ogne speranza voi ch’entrate!”

      Vứt bỏ mọi hy vọng, những kẻ bước vào đây!






    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,875
      CHƯƠNG 91


      Ngập trong thứ ánh sáng màu đỏ, cái hang ngầm ầm vang những tiếng nhạc đầy hơi hướng địa ngục – những giọng hát rền rĩ, tiếng dây đàn chói tai, và tiếng trống trầm đục, vang vọng khắp hang như cơn địa chấn .
      Theo những gì Langdon nhìn thấy trong tầm mắt, nên của cái thế giới ngầm này là màn nước trong vắt - tối tăm, tĩnh tại, phẳng lặng - giống như lớp băng màu đen ở hồ nước đóng băng tại New England.
      Cái đầm hề phản chiếu ánh sao.
      Nhô lên khỏi mặt nước là hàng trăm cột trụ Doric vững chải được bối trí kỹ càng thành những hàng lối dường như bất tận, vươn cao đến hơn chín mét để đỡ phần trần uốn vòm cung của lòng hang. Các cột trụ được rọi từ bên dưới nhờ hàng loạt bóng đèn rọi sắc đỏ, tạo thành cánh rừng siêu thực với những thân cây được chiếu sáng chạy hút vào bóng tối, tực như dạng ảo ảnh qua gương.
      Langdon và Brũder dừng lại ở chân cầu thang, đứng ngây lúc ở ngưỡng cửa trước khi tiến vào khoảng gian trước mặt. Dường như chính lòng hang cũng tỏa ra thứ sắc đỏ, và khi quan sát xung quanh, Langdon nhận thấy mình cố gắng hít thở nhàng hết sức.
      khí dưới này nặng nề hơn tưởng.
      Langdon nhìn thấy đám đông cách đó quảng bên tay trái họ. Buổi hòa nhạc diễn ra tít sâu trong gian ngầm này, ở quãng giữa khoảng cách với bức tường phía bên kia, và khán giả đều ngồi những cái bục. Vài trăm khán giả ngồi thành những vòng tròn đồng tâm được bố trí xung quanh dàn nhạc trong khi có khoảng trăm người khác đứng ở vòng ngoài. Vẫn có thêm những người ở các vị trí bên ngoài, những lối lót ván gần đó, tựa người vào hàng rào chắn vững chãi và chăm chú nhìn xuống nước trong lúc lắng nghe tiếng nhạc.
      Langdon đưa mắt nhìn khắp lượt những cái bóng vô định hình, mắt cố tìm kiếm Sienna. nhìn thấy ở đâu cả. Thay vào đó, thấy những bóng người mặc áo đuôi tôm, áo choàng dài, bisht của Ả Rập, áo che mặt của người Hồi Giáo, và thậm chí cả những du khách mặc quần cộc và áo lạnh cộc tay. Cảnh tượng nhiều người tụ lại trong thứ ánh sáng màu đỏ đối với Langdon giống như những người tham dự nghi thức tế lễ huyền bí nào đó.
      Nếu Sienna ở dưới này, nhận ra như vậy, gần như thể nào phát ra ấy.
      Đúng lúc đó, người đàn ông bệ vệ qua họ, leo lên cầu thang, ho sặc sụa. Brũder quay phắt lại và nhìn theo người đó, chăm chú quan sát ta. Langdon cảm thấy hơi nhột nhạt ở trong cổ họng nhưng tự nhủ đó chỉ là do tưởng tượng.
      Lúc này Brũder quả quyết bước lên lối lót ván, đưa mắt nhìn vô số khả năng lựa chọn của họ. Lối trước mặt họ chẳng khác gì lối vào mê cung của quái vật đầu bò Minotaur. Lối lót ván duy nhất nhanh chóng chia làm ba ngả, từng ngả lại tiếp tục chia nhánh, tạo thành mê cung lơ lửng mặt nước, luồn lách qua những cột trụ và chạy hút vào trong bóng tối.
      Mình ở trong khu rừng tối tăm, Langdon nghĩ thầm, nhớ đến khổ thơ đầu tiên trong kiệt tác của Dante, vì cái lối dễ thấy mất dấu rồi.
      Langdon ngó qua rào chắn của lối , nhìn xuống nước. Nước sâu khoảng hơn mét và trong đến kỳ lạ. Có thể nhìn nền lát đá, phủ lớp bùn mịn.
      Brũder nhìn nhanh xuống dưới, bật ra tiếng lầm bầm thái độ cụ thể, và sau đó lại đưa mắt về phía gian phòng. “ có nhìn thấy gì giống nhau như khu vực trong đoạn video của Zobrist ?”
      Tất cả mọi thứ, Langdon nghĩ, mắt quan sát những bức tường trơn trượt, ẩm ướt xung quanh họ. ra hiệu về góc hành lang xa nhất, tít bên phải, cách biệt hẳn với khu sân khấu hòa nhạc đông nghịt. “Tôi đoán ở đâu đó phía sau kia.”
      Brũder gật đầu. “Trực giác của tôi cũng mách bảo như vậy.”
      Hai người vội vã bám theo lối lót sàn, men theo ngả bên phải dẫn họ rời xa đám đông về hướng xa nhất của cung điện chìm.
      Trong lúc họ di chuyển, Langdon nhận ra việc náu qua đêm tại nơi này mà bị phát quá dễ dàng. Zobrist có thể làm như vậy để thực đoạn video của mình. Dĩ nhiên, nếu hào phòng đứng lên tổ chức chương trình hòa nhạc dài cả tuần này cũng có thể đề nghị được sử dụng khoảng thời gian riêng tư ngay trong bể chứa.
      Chuyện đó còn thành vấn đề nữa.
      Giờ Brũder sải bước nhanh hơn, như thể vô thức bắt theo nhịp độ của bản giao hưởng lúc này tăng tốc thành cả loạt quảng lửng bán cung thấp dần.
      Dante và Virgil xuống địa ngục.
      Langdon chăm chú nhìn khắp lượt những bức tường rêu trơn trượt phía xa bên phải họ, cố gắng so sánh với những gì họ thấy trong đoạn video. Đến mỗi ngả ba mới, họ đều rẽ sang phải, di chuyển rời xa đám đông thêm nữa, tiến về phía góc xa nhất của cái hang, Langdon ngoảnh nhìn lại và vô cùng kinh ngạc trước quảng đường mà họ qua.
      Giờ họ xa rào chắn hơn, vượt qua vài khách tham quan vẩn vơ, họ càng tiến vào sâu, số người lại càng thưa dần cho đến khi chẳng còn ai.
      Chỉ còn lại Brũder và Langdon.
      “Nhìn chỗ nào cũng giống nhau”, Brũder tỏ vẻ thất vọng. “Chúng ta bắt đầu từ đâu đây?”
      Langdon cũng chung tâm trạng. còn nhớ rất rành rẽ đoạn video, nhưng dưới này chẳng có gì làm đặc điểm nhận diện cả.
      Langdon đọc kỹ những tấm biển thông tin có đèn chiếu sáng được bố trí từng quãng dọc lối trong lúc họ di chuyển về phía trước. tấm biển ghi gian này có sức chứa gần tám mươi nghìn mét khối. tấm biển khác cho biết có cây cột trụ đồng bộ vì được đoạt về từ công trình gần đó trong quá trình xây dựng. Và còn tấm biển khác nữa về hình chạm cổ giờ mờ còn nhìn nữa - đó là biểu tượng Mắt Gà Lệ - khóc thương cho tất cả những nô lệ bỏ mình trong quá trình xây dựng bể chứa này.
      Rất lạ là có tấm biển chỉ vỏn vẹn có từ duy nhất khiến Langdon đứng sững lại.
      Brũder cũng dừng bước, quay trở lại. “Có chuyện gì sao?”
      Langdon chỉ tay.
      tấm biển, kèm theo mũi tên chỉ phương hướng, là tên của nữ đáng sợ - con quái vật khét tiếng.

      MEDUSA 

      Brũder đọc tấm biển rồi nhún vai. “ sao chứ?”
      Tim Langdon đập rộn lên. biết Medusa chỉ là con quỷ có tóc là những con rắn đáng sợ, với cái nhìn có khả năng biến bất kỳ ai nhìn nó hóa thành đá, mà còn là nhân vật nổi bật trong hệ thống thần sống trong lòng đất của Hy Lạp – nhóm đặc biệt thường được biết đến như là những quái vật đại phủ.
      Hãy lần sâu vào tòa cung điện bị chìm...
      vì ở đây, trong bóng tối, con quái vật chốn địa phủ chờ đợi…
      chỉ lối, Langdon nhận ra như vậy, và vùng chạy dọc theo lối lót sàn. Brũder khó khăn lắm mới bắt kịp Langdon trong khi chạy ngoằn nghèo khuất vào bóng tối, theo đúng những tấm biển chỉ dẫn tới chỗ Medusa. Cuối cùng, tới lối cụt chỗ sàn quan sát , gần móng bức tường tận cùng bên phải của bể chứa.
      Ở đó, trước mắt cảnh tượng lạ thường.
      Vọt lên khỏ mặt nước là khối cẩm thạch đồ sộ được đục đẽo - chính là đầu Medusa - với mái tóc là những con rắn quằn quại. diện của ả ở đây càng kỳ quái hơn nữa vì cái đầu ả được đặt xoay ngược cổ.
      Đầu ngược như kẻ bị đọa đày, Langdon nhận ra như vậy, trong đầu lại hình dung ra bức Vực Địa ngục của Botticelli và những kẻ tội đồ bị xoay ngược đầu mà ông đưa vào rãnh quỷ Malebolge.
      Brũder hổn hển đến bên cạnh Langdon chỗ rào chắn, nhìn sững chiếc đầu lộn ngược của Medusa với nét mặt sững sốt.
      Langdon ngờ rằng cái đầu chạm khắc này, có chức năng như chân để đỡ lấy chiếc cột, có lẽ được đoạt về từ nơi nào đó khác và sử dụng ở đây như hạng mục cung ứng xây dựng mấy tốn kém. Lý do tư thế đảo ngược của Madusa chắc chắn là do niềm tin có phần mê tín rằng việc xoay ngược như vậy tước bỏ quyền năng hắc ám của ả. Mặc dù vậy, Langdon cũng thể nào xua tan đước ý nghĩ đầy ám ảnh dồn dập tấn công .
      Hỏa ngục của Dante. Đoạn cuối. Trung tâm trái đất. Nơi trọng lực đảo ngược. Nơi lên biến thành xuống.
      Lúc này thấy nổi gai ốc với lời tiên tri, nheo mắt nhìn qua màn hơi nước đỏ ngầu xung quanh cái đầu chạm khắc kia. Phần lớn mái tóc rắn của Medusa chìm trong nước, nhưng đôi mắt cả ả mặt nước, ngoảnh sang trái, đăm đăm nhìn qua đầm nước.
      Đầy sợ hãi, Langdon nhoài người ra ngoài rào chắn và ngoái đầu, đưa mắt dõi theo ánh mắt của bức tượng về phía góc tường trống trơn khá quen của tòa cung điện chìm.
      Trong khoảnh khắc, biết .
      Đây chính là vị trí cần tìm.
      Điểm bề mặt của Zobrist.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :