1. QUY ĐỊNH BOX TRUYỆN SƯU TẦM :

    Đặt Title theo mẫu [Tên truyện] [dấu cách] - [dấu cách] [Tác giả] [Số chương]
    ----•Nội dung cần:
    - Hình minh họa (bìa truyện, hình ảnh,etc,...)
    - Nguồn
    - Tác giả
    - Tên editor +beta
    - Thể loại
    - Số chương
    Đặc biệt chọn canh giữa cho đoạn giới thiệu
    ---- Quy định :
    1. Chỉ đăng những truyện đã có ebook và đã được public trên các trang web khác
    2 . Chỉ nên post truyện đã hoàn đã có eBook.
    3. Trình bày topic truyện khoa học, bôi đen số chương để dễ nhìn
    4 . Cần có trách nhiệm post đến hết truyện. Nếu không thể tiếp tục post liên hệ Ad và Mod

  2. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Nơi Chưa Người Đặt Chân

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây (Sưu Tầm)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      [​IMG]

      Nơi Chưa Người Đặt Chân
      ( Hoang Đảo ngoại truyện)
      Tracey Garvis-Graves


      Về Tác Giả:
      Tracey Garvis-Graves là tác giả của Hoang Đảo, Nơi Chưa Người Đặt Chân và Ham Muốn (tạm dịch). Với giọng văn quá hoa mỹ, nhưng lại sống động như , thu hút vô số độc giả hâm mộ.
      sống ở vùng ngoại ô của Des Moines, Iowa, với chồng, hai con, và chú chó Chloe hiếu động. blog ởwww.traceygarvisgraves.com, dùng ngôn ngữ đa màu đa dạng và giọng văn hài hước châm biếm của mình để viết về đời sống hàng ngày, những chương trình tv ngớ ngẩn, và hàng xóm ở vùng ngoại ô của mình.


      Về Nơi Chưa Người Đặt Chân:
      "Nơi chưa người đặt chân" là chìa khóa giải mã tất cả những nghi vấn còn tồn đọng trong " Hoang Đảo". Đây vừa là mở đầu, vừa là kết thúc. Câu chuyện của Owen Spark, Calia Reed và James Reed kể hết tất cả.
      Owen Spark, triệu phú kinh doanh công ty mạng, bất mãn vì lòng người thay đổi từ khi trở nên giàu có và cuộc sống xô bồ xô bộn khiến đánh mất niềm vui trong cuộc sống. quyết định bán đứt cổ phần trong công ty của mình và dứt khoát rời , bỏ lại bọn sâu mọt trục lợi ngoài đòi hỏi tiền bạc cũng chỉ biết đòi hỏi. nhớ lại thời thơ ấu, cùng cha cắm trại ngoài trời. thích ra bên ngoài, đến những vùng hoang dã cắm trại. muốn tìm lại niềm vui đó, cảm giác đó mà bao năm nay còn. Thế là tìm đến viên phi công ở Maldives đồng ý đưa đến hòn đảo, hoàn toàn có ngườiở, và chuyển đồ dùng, lương thực, nước uống đến đảo hàng tháng.
      độc, tĩnh mịch là thứ theo đuổi.
      Lúc mới đến đảo, còn nghĩ rằng, nơi đẹp như thế này sao có thể có chuyện gì xảy ra được. Nhưng sai. bị vẻ đẹp bên ngoài của nó dụ dỗ, và vẻ đẹp này mang đến cho nỗi hối hận khôn cùng, mãi mãi cũng thể xóa mờ.

      (by gauthichdocsach)

      Chương 1 - Owen
      Dịch: gauthichdocsach

      Ngôi nhà biệt lập, được bao bọc xung quanh bởi cây cối và khoảnh sân cỏ được chăm sóc kỹ. Trong góc sân vườn là nhà chơi cầu tuột cho trẻ em, và chiếc xe đạp ba bánh bị bỏ lại ở lối trước nhà. Mùa xuân chỉ vừa mới đến ở vùng Mid West (1) , nhưng có ai đó kẻ ô chơi lò cò bằng phấn màu đất. cái bảng được đóng cọc xuống đất cảnh báo ngôi nhà được bảo vệ bởi hệ thống bảo an ADT (2) , và khi tôi vừa bấm chuông, tiếng chó sủa ầm ĩ vang lên, theo sau là tiếng chân chó dồn dập như sấm.

      Người phụ nữ trả lời cửa bế đứa bé trong tay và hai đứa trẻ mới biết báu víu vào váy . Con chó, thuộc giống Golden Retriever to lớn, gầm gừ và chực chờ cho ấy thả nó ra ngoài. Tôi cầu mong ấy làm vậy. Đôi mắt xanh của nheo lại trong khi nhìn xoáy vào tôi sau che chở của cánh cửa chắn bão mà tôi tin chắc được khóa chốt. Tấm cửa kính bóp nghẹt tiếng của ấy, nhưng tôi vẫn có thể hiểu được khi , "Tôi có thể giúp gì được ?" Tôi có thể hiểu thái độ dè dặt của , ai cũng như vậy, nếu người đó sống ở vùng nông thôn và cả thế giới đều biết câu chuyện của mình và ước tính được tổng số tài sản mà mình có.

      "Chồng của có ở nhà ?" Tôi hỏi.

      " ấy ở lầu. nghe điện thoại," .

      "Tôi muốn chuyện với cả hai bạn. Có ngại nếu tôi đợi ?"

      ấy ràng thích điều này. Tôi có thể bằng cái cách đẩy bầy trẻ ra sau mình và so vai, hơi nâng cằm lên.

      À, nàng là nữ chiến binh đây. Điều này làm tôi ngạc nhiên chút nào.

      " phải quay lại vào hôm khác thôi," , và bắt đầu đóng cửa lại. Nhưng trước khi cánh cửa đóng hẳn, chiếc xe tải bụi bặm lái vào trong đường lái xe và nhõm tràn ra khuôn mặt .

      Người đàn ông lái xe đạp thắng gấp và gần như là xông ra trước khi chiếc xe ngừng hẳn. ta sải bước nhanh tới chỗ tôi với nét mặt đầy vẻ nghi hoặc. Nghi hoặc và thịnh nộ. Tôi lớn hơn ta, nhưng ta trông giống tôi đến nỗi người ta có thể nhầm lẫn chúng tôi là em; cả hai chúng tôi đều có cùng mái tóc nâu nhạt và tạng người.

      ta liếc nhìn người phụ nữ đứng ở cửa. "Em ở trong ." Quay lại phía tôi, ta , " là ai và muốn gì?"

      "Chỉ có chuyện muốn với và vợ thôi."

      "Chúng tôi có biết ?"

      "." Tôi đút tay vào trong túi quần và nhắc nhở mình nguyên do cuộc viếng thăm của tôi. "Tên tôi là Owen Sparks."

      Người đàn ông nhìn tôi, mày nhíu lại trong khi ta cố lục lọi trí nhớ của mình về ấn tượng của tên tôi. Nhưng người phụ nữ, ta biết ngay lập tức, và cả hai chúng tôi cùng quay về phía ấy khi hít mạnh hơi vào.

      "T.J.," người phụ nữ . mở cửa rộng ra để chúng tôi có thể nghe tiếng và con chó vọt ra như viên đạn bắn khỏi nòng súng, hung hăng đánh hơi khắp người tôi, nhưng may mắn thay, nó quyết định tôi phải là đe dọa. "Cái người bị mất tích. Người đàn ông bị mất dấu vết ở Cộng Hòa Maldives đấy. nhớ ? Tên ta là Owen Sparks."

      Nhận thức bừng lên mặt ta và họ nhìn tôi như thể tôi là hồn ma bóng quế vậy. " là người dựng cái lán gỗ à?" ta hỏi.

      "Đúng vậy."

      "Nhưng phải Bones."

      Tôi lắc đầu. "." Tôi cần hỏi cũng biết ý họ là gì. Người họ gọi Bones là ai.

      Bởi vì tôi biết hết.



      ***


      Họ mời tôi vào trong nhà, tò mò gạt qua bên mọi hồ nghi. Tôi hiểu chần chừ ban đầu của họ, nhưng bộ dạng tôi trông khá là vô hại. Tôi mặc quần jean và chiếc áo sơ-mi cài nút tay dài, mới mua mấy ngày trước. Tóc tôi tuy hơi dài, nhưng sạch . Tôi còn cạo râu luôn, và chuyện đó phải rất thường xảy ra.

      Anna giữ cho cánh cửa mở, chuyển đứa bé sang hông bên kia. Khi T.J. bước qua ngưỡng cửa, hai đứa trẻ kia hét lên, "Papa!" và nhảy vào lòng ta, kêu ré lên và cố trèo lên người ta trong lúc ta trao cho mỗi đứa cái ôm. ta đặt bọn trẻ xuống, nghiêng người tới, và hôn Anna.

      "Em ổn chứ?" ta hỏi.

      ấy gật đầu và mỉm cười, và rồi ta thơm cái lên đầu em bé.

      Tôi theo sau. "Các con của hai bạn bao nhiêu tuổi rồi?" Tôi hỏi.

      "Cặp song sinh lên hai tuổi vào tháng sáu," Anna . "Josie, Mick. Hai đứa chào chú nào?"

      Nụ cười của tôi hơi chùn khi ấy cái tên Mick, nhưng may, ai chú ý thấy vẻ mặt biến đổi của tôi. Hai đứa trẻ rụt rè và muốn xin chào, nhưng chúng cũng lầm bầm lời chào hỏi và rồi trốn ra sau cha mẹ mình.

      "Và đây là Piper," Anna thêm vào, xoa xoa chút tóc ít ỏi của đứa bé. "Con bé được bảy tháng tuổi rồi và luôn bò qua bò lại khắp nơi. Chẳng mấy chốc nữa con bé đến lúc tập và đến lúc đó tôi bận đến rối bời tay chân."

      "Làm sao tìm được chúng tôi?" T.J. hỏi, cởi áo khoác ra.

      " internet." Phải tìm lúc mới tra ra địa chỉ nhà của họ, nhưng tôi khá giỏi trong việc tìm người nếu tôi đặt tâm trí vào nó. Tôi kể với họ tôi lên mạng bao lâu rồi hay là chuyện tên của họ lên tức khi tôi đánh Maldives vào ô tìm kiếm của Google. Lúc đó tôi chỉ định tìm những thông tin hoàn toàn khác, và thứ mà tôi tìm được thay vào đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi đến mức phải mất tận tuần tôi mới có thể buộc mình đọc hết mọi tin tức về họ.

      Và lâu hơn thế chút trước khi tôi có thể lấy hết can đảm để đến đây.

      "Vào ," T.J. . Tôi theo ta từ lối vào thẳng vô nhà bếp. " muốn uống gì?" ta hỏi.

      " cần đâu, cám ơn."

      " chắc chứ?" Anna hỏi. "Chúng tôi có -ca, nước trái cây, trà đá, bia, nước khoáng đóng chai."

      ", đấy. Tôi ổn cả."

      "Cho tôi biết nếu đổi ý," . Nụ cười tặng cho tôi làm cả gương mặt rạng ngời. ấy rất xinh đẹp theo kiểu tự nhiên, và thể nào chú ý đến đôi mắt ấy, to tròn và xanh biếc. Tôi có thể hiểu tại sao ta lại đắm đuối ấy như vậy. ấy bước tới bếp để xem xét món gì đó sôi ùng ục bếp, và tôi nhìn đồng hồ. gần sáu rưỡi tối rồi. Đáng lẽ tôi nên đến đây trễ thế này, quá gần giờ ăn tối. Họ hẳn là có đủ thứ việc phải làm.

      T.J. ngồi xuống cái ghế trong nhà bếp và Anna trao đứa bé cho ta. Mùi hương tỏa ra trong bếp rất thơm, giống như mùi bánh mì tỏi, và khi đồng hồ hẹn giờ kêu lên, Anna lôi khay bánh mì tỏi ra khỏi lò nướng. Bọn trẻ chạy ra chạy vào nhà bếp, nhưng Anna né khỏi chúng, và luồn lách giữa mớ đồ chơi bày la liệt sàn, cách dễ dàng.

      "Chậm lại nào, Mick," T.J. khi cậu nhóc đâm sầm vào bàn. "Con sao chứ?"

      Mick gật đầu, có vẻ hề hấn gì.

      "Các con vào chơi với Josie trong phòng khách , được chứ? Đồ ăn sắp xong rồi."

      "Dạ," cậu bé .

      khí trong ngôi nhà này ồn ào và náo động, khác gì với thôn làng của tôi. Nơi tôi gọi là nhà đông đúc con nít, hầu hết bọn chúng đều để chân trần. Tất cả chúng luôn tranh nhau chú ý.

      T.J. buộc em bé vào cái ghế cao và chắt nước mì pasta trong khi Anna trộn nhanh tô xà-lách và lôi đĩa trong tủ ra. Họ gọi bọn trẻ rửa tay và T.J. bày thức ăn lên bàn. Họ phối hợp làm việc rất ăn ý với nhau, rất hiệu quả và có bất kì lời phàn nàn nào. Chị ruột của tôi và chồng chị ấy lúc nào cũng gây cãi với nhau về việc tới phiên ai gọi điện đặt pizza, và có lần tôi còn thấy họ thảy đồng tiền để xem coi ai là người phải thay tã bẩn cho con trai họ. nhiều năm rồi tôi gặp chị tôi, và mặc dù tôi ghét khi thể có vai trò trong cuộc sống của đứa cháu trai mình, tôi thấy hổ thẹn vì phải thừa nhận rằng tôi nhớ nhung gì chị ấy.

      " ở lại ăn tối nhé?" Anna hỏi. Tôi nhìn xuống và thấy họ để thêm phần bàn.

      "Chắc rồi," tôi . "Như vậy tuyệt."



      ***


      Trong bữa ăn, họ hỏi tôi vài câu hỏi đơn giản: Tôi đến hòn đảo bằng cách nào? Tôi kể với họ rằng tôi tìm được phi công bằng lòng đưa tôi đến đó. Họ hỏi tôi sống ở đó bao lâu, và tôi chừng mười lăm tháng. Họ muốn biết bây giờ tôi bao nhiêu tuổi. Ba mươi bốn, tôi . Trông cái cách họ nghiêng người về trước trong ghế mình, tôi có thể thấy họ rất háo hức để được nghe thêm.

      "Chúng ta dành những câu hỏi còn lại cho đến khi bọn trẻ ngủ," T.J. , liếc nhìn Anna.

      gật đầu.

      "Được," tôi . Họ quá đỗi tử tế, khiến tôi càng cảm thấy tồi tệ hơn về những chuyện mà tôi sắp kể cho họ. Tôi còn thấy ngon miệng nữa khi nghĩ đến họ có thể phản ứng thế nào, nhưng dù vậy tôi vẫn tiếp tục ăn. Ít ra tôi cũng có thể làm điều đó.

      Sau bữa tối, tôi quan sát họ cùng phụ giúp nhau dọn bàn ăn và đút chén đĩa vào máy rửa chén. Tôi tỏ ý muốn giúp tay, thế nên Anna đưa cho tôi cái khăn lau mặt ướt và chỉ tay về phía bọn trẻ. Tôi mỉm cười và giọng với chúng trong khi tôi lau mặt và hai tay của chúng, và bọn trẻ có vẻ phản đối; em bé toét miệng cười đáp trả và bật cười khanh khách, xoay mặt né tránh như thể nó là trò chơi vậy.

      " giỏi chăm sóc trẻ đấy," T.J. . " có con chưa?"

      "Vẫn chưa." đúng ra, tôi có cả thôn trẻ con, nhưng chúng phải là của tôi, ít ra là phải ruột thịt. Mới đầu chuyển đến thôn, tôi chẳng có chút kiến thức về con nít. Và nó làm tôi thấy hơi bối rối, cái cách mà chúng nhìn tôi như thể tôi đến cứu rỗi chúng vậy. Cảm giác thoái chí làm sao. Bây giờ tôi biết chúng bất cứ thứ gì tôi làm cho chúng, cho dù có vụn vặt thế nào đối với tôi. Có lẽ khi bạn có gì, mọi thứ đều trở nên có giá trị.

      "Muốn xem gì nào? Caillou hay Dragon Tales?" T.J. hỏi cặp song sinh.

      "Dragon Tales," chúng đồng thanh hét lên.

      "Xem tập thôi, rồi phải ngủ đấy, được chứ?"

      "Vâng ạ," chúng , và chạy ra khỏi phòng.

      "Để em mở phim cho chúng," Anna . dừng lại trước T.J. đường ra khỏi bếp. "Em cho con bé vào nôi. Con bé hơi thiu thiu ngủ rồi."

      Em bé mỉm cười, mi mắt trĩu xuống, và T.J. hôn bé. "Ngoan ngoan, cục cưng. Ngủ ngon nhé con ."

      quay lại phía tôi sau khi họ vào trong. "Tôi lấy bia cho nhé? Bởi tôi nghĩ mình dứt khoát cần phải làm lon."

      ta biết lời của mình đúng với thế nào. Lẽ ra tôi nên bảo ta bỏ qua bia và chộp lấy chai rượu mạnh nhất trong tủ rượu ra. "Bia có vẻ được đấy. Cám ơn."

      "Tôi lấy nó," ta . " vào phòng khách ngồi trước ."

      Tôi xuống hành lang ngắn và chú chó theo sau tôi. Cặp song sinh nằm dài sàn ngay trước T.V., chồng gối xếp đầy sàn. màn hình chiếu cảnh cậu bé trai và chuyện với con rồng màu hồng.

      Tôi ngồi xuống chiếc ghế ngoại cỡ và đưa tay xuống vuốt ve chú chó, gãi gãi sau hai tai nó. Nó nằm phịch xuống dưới chân tôi. Khi T.J. bước trở vào trong phòng với mấy lon bia trong tay, ta , "Coi bộ Bo đeo bám rồi. Chắc là nó sướng rơn vì chưa thấy bắt ép nó cho mình cưỡi lên lưng."

      "Nó là chú chó giữ nhà giỏi. Nó thích lúc tôi bấm chuông cửa."

      "Ở ngoài đây, chúng tôi có rất ít khách ghé thăm. Cũng mừng là chú bé này vẫn còn biết nhiệm vụ của mình." T.J. đặt lon bia xuống góc bàn cạnh ghế tôi.

      "Cám ơn," tôi .

      ta ngồi xuống chiếc ghế sofa dài đối diện tôi. "Tôi tin nổi ở đây đấy. Chúng tôi cứ tưởng rằng..." Tiếng của dần khi liếc qua chỗ Mick và Josie. "Chúng tôi cứ tưởng rằng C-H-Ế-T (3) ."

      hình ảnh sống động theo bản năng lên trong đầu tôi, khiến tôi giật người về sau.

      "Này. sao chứ?" T.J. hỏi.

      "Tôi sao." ta trông như muốn hỏi tôi cả ngàn câu hỏi nhưng rồi liếc nhìn bọn trẻ lần nữa và gì.

      Anna quay trở về phòng và nhắc bọn trẻ sau khi phim kết thúc là đến lúc phải thay đồ pajama và nghe kể chuyện. Chúng cự nự, nhưng cũng dám ầm ĩ.

      "Piper ngủ ngoan chứ em?" T.J. hỏi.

      "Ngủ tức như bóng đèn tắt vậy," trả lời.

      " khui sẵn chai rượu cho em. kệ bếp đấy."

      "À, em biết em lấy cũng có nguyên nhân mà," , cúi người xuống trao cho ta nụ hôn.

      "Đó phải là lý do duy nhất đâu," T.J. , cười ha hả lúc ra. gọi với theo . "Em biết còn vô số những lý do khác mà."

      Anna trở về phòng cầm tay ly rượu. ngồi xuống cạnh T.J. và nhấp ngụm rượu. " định ở trong thị trấn này bao lâu, Owen?" Anna hỏi.

      "Tôi cũng chắc," tôi . "Tôi khách sạn trong thành phố." Ngày bay của tôi có lẽ được quyết định bởi cuộc chuyện của chúng tôi diễn ra thế nào. Biết đâu chừng tôi có thể phải rời ngay lập tức.

      Khi phần credit (4) bắt đầu chạy T.V., Anna cầm remote và ấn nút tắt phim. "Đến giờ ngủ rồi," .

      "Chúng tôi quay lại ngay," T.J. . đưa cho tôi cái remote. " cứ việc xem thứ gì mình muốn."

      Tôi cầm lấy remote đưa, nhưng mở T.V. lên. Tôi cũng chả biết xem cái gì. Thay vào đó, tôi uống ngụm bia và nhìn quanh phòng. Chung quanh là những đồ đạc gia đình ấm cúng. Có những cái gối để sofa và những tấm chăn và bình hoa lớn cắm đầy hoa tươi. Những bức ảnh chụp gia đình và ảnh chụp riêng của bọn trẻ trong khung ảnh bạc trưng bày đầy mặt bàn và ngăn kệ. Tôi thể tưởng tượng được họ sống như thế nào đảo suốt ba năm rưỡi. có thức ăn và nước uống thường xuyên được vận chuyển đến bằng thủy phi cơ. sách hay báo chí để đọc. có điện thoại kết nối qua vệ tinh. có những chuyến cuối tuần đến Malé những lúc họ buồn chán hoặc cảm thấy muốn tiếp xúc với người ta. có gì cả ngoại trừ những thứ vốn có đảo hoặc những thứ bị trôi dạt từ ngoài biển vào bờ. Ngôi nhà này của họ hẳn là chốn thiên đường bình yên sau những gì họ phải trải qua.

      Tôi vẫn ngồi đó nghiền ngẫm gì với họ khi họ trở lại phòng khách mười lăm phút sau.

      "Tôi lấy cho thêm lon nữa nhé?" T.J. hỏi.

      Tôi vừa định từ chối, nhưng rồi nhận ra lon của mình trống . "Được," tôi đổi lại. "Cám ơn." lâu rồi tôi có chất cồn vào người, và chưa chi mà tôi cảm nhận được tác dụng của nó. Tuy vậy, tôi cảm thấy bình tĩnh hơn, điều may mắn. T.J. cầm lon bia rỗng của tôi vào trong bếp và quay về với bia lạnh cho cả hai chúng tôi. Anna ngồi lên ghế dài sofa, gập chân lại bên dưới váy. với tay lấy ly rượu của mình và T.J. ngồi xuống cạnh .

      "Tôi biết nên bắt đầu từ đâu đây," tôi .

      "Kể ngay từ đầu , Owen," Anna . "Hãy kể cho chúng tôi tất cả."



      text-decoration: underline']Ghi Chú:

      (1) Vùng trung tâm phía Bắc Hoa Kỳ, từ vùng Đại Hồ đến sông Ô-hai-ô, Kandat và Mitxuri.

      (2) Là dịch vụ bảo an, chuyên cung cấp các loại máy báo động như máy báo trộm, máy báo hỏa hoạn... khi tín hiệu nguy cấp được báo đến Trung Tâm Điều Hành ADT, các đoàn xe cứu hộ như đội cứu hỏa, cảnh sát, cấp cứu... được gửi đến.

      (3) Ở nước ngoài, nếu có từ nào họ kiêng kị, họ đánh vần từ đó, thay vì thẳng từ đó ra.

      (4) Danh sách các thành viên trong nhóm làm phim.
      Last edited by a moderator: 28/8/14

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 2 - Owen
      Dịch: gauthichdocsach

      Los Angeles

      Tháng năm 1999

      Tôi đậu chiếc BMW của mình trong tầng đỗ xe dài hạn ở sân bay. Giáo sư Donahue đến lái nó sau, dùng bộ chìa khóa phụ mà tôi đưa cho ông. "Bác lái chiếc xe của cháu đời trong lúc cháu ," ông .

      Tôi nhìn ông và cười ha hả. "Cháu mong bác làm vậy."

      Tôi chật vật lôi cái vali to đùng của mình ra khỏi thùng xe và kéo nó theo sau, đeo túi xách bên tay kia. Cố gắng cân bằng những thứ mang dễ dàng chút nào. Đến cuối cùng, tôi quyết định thiết thực hết mức có thể, và vali của tôi chứa đa số là quần áo và các vật dụng vệ sinh cá nhân. Cơ trưởng Forrester đảm nhận trách nhiệm mua những thứ khác mà tôi cần đến sau.

      Người phụ nữ quyến rũ sau quầy vé của hãng hàng Emirates mỉm cười với tôi lúc đến phiên tôi check-in (5) . nàng vén tóc ra sau tai và đứng thẳng người lên. Ưỡn ngực ra trước chút. Dưới những hoàn cảnh khác, có lẽ tôi có hứng thú, nhưng phải là hôm đó. Tôi đưa bằng lái xe của mình và hộ chiếu, lặng lẽ quan sát ta đánh bàn phím.

      " có mấy túi?" ta hỏi.

      "Chỉ thôi," tôi .

      "Vùng Cộng Hòa Maldives là nơi rất đẹp," . " đến đó bao giờ chưa?"

      "Chưa."

      ta nhìn tôi và cười duyên. " công tác hay nghỉ mát?"

      Tôi cầm lấy phiếu lên máy bay ta đưa ra cho tôi và nụ cười của tôi họa may trông có vẻ bí khi tôi , "Cả hai đều ."



      ***


      Nơi tiếp theo tôi đến là dịch vụ cho thuê két trữ đồ ở gần quầy vé. người đàn ông mập lùn đứng sau quầy tiếp khách cảnh giác quan sát tôi khi tôi lôi ra phong bì bằng giấy Manila lớn ra khỏi túi xách của mình. " chỉ muốn cất giữ nhiêu đây thôi à?" Ông ta hỏi.

      "Đúng."

      "Bên trong là gì?"

      "Ba chìa khóa và hai mươi chiếc CD." Đó là chìa khóa xe, nhà, và két sắt của tôi, cùng với số đĩa CD lưu trữ dữ liệu lấy ra từ ổ cứng trong máy tính tôi.

      " muốn giữ nó ở đây bao lâu? Tôi có thể bảo lưu nó cao nhất sáu mươi ngày."

      "Tôi muốn nó được bảo lưu vô thời hạn."

      "Tôi giữ đồ vô thời hạn."

      " làm thôi," tôi , cười lễ độ và lôi ra từ trong bóp xấp tiền. Tôi đếm mười tờ giấy bạc trăm đô la và đặt tiền lên quầy. Đoán chừng nghìn đô la này là món tiền lớn mà ông ta dễ dàng kiếm được nhất trước giờ.

      "Thôi được," ông ta , đúng như tôi đoán biết. "Đây là vé lấy đồ."

      "Cho tôi mượn cây viết."

      Ông ta lấy từ túi áo cây viết và đưa nó cho tôi. Tôi bôi đen hết dãy số tấm vé và viết thay vào đó bốn con số khác, những số mà tôi khó để lưu trong trí óc. Chỗ này phải là nơi duy nhất tôi bảo lưu những dữ liệu được mã hóa của mình, nhưng nếu người đàn ông này giữ đúng theo thỏa thuận giao kèo, đây là nơi dễ dàng nhất để thu hồi lại nó.

      "Cất cái vé này ở nơi nào an toàn. Đây là con số tôi đưa cho ông lúc tôi đến lấy phong bì của mình."

      " muốn thế nào cũng được," ông ta khi cầm tấm vé lấy đồ từ tôi. "Đây vốn là show diễn của mà."

      "Chúc ông ngày tốt lành," tôi , và rồi tôi xách túi xách của mình lên và ra cổng.



      ***


      Tôi đáp xuống Dubai mười lăm tiếng sau, tám tiếng trong đó tôi ngủ mê man, cũng nhờ vào thuốc Xanax mà tôi thuyết phục bác sĩ của mình kê đơn. Bị stress, tôi . ngủ được ngon giấc.

      Từ tốn xuống lối giữa, tôi ngáp và vươn vai và theo sau đoàn người phía trước vào trong trạm chờ. Tôi còn mấy tiếng nữa mới đến giờ đáp chuyến bay tới Malé, vì vậy tôi tha thẩn vòng quanh sân bay chen chút người, vu vơ nghe những cuộc đối thoại nhốn nháo bằng những thứ ngôn ngữ mà tôi hiểu. Khi tôi đến khu vực khởi hành bay ở Trạm số 1, tôi ghé vào nhà hàng phục vụ món ăn Mỹ và gọi cái burger và lon bia. Di động của tôi vẫn trong túi quần, tắt máy. Tôi muốn kiểm tra xem có bao nhiêu tin nhắn chất chồng trong hộp thư. Cũng phải như tôi có ý định trả lời tin nhắn nào cả.

      Cứ mỗi dặm đường để lại sau lưng, tôi càng cảm thấy bớt căng thẳng hơn. Và càng thấy tin tưởng hơn vào quyết định của mình. Có lẽ nó quả quyết định cực kỳ và tuyệt đối điên rồ. Còn lập dị nữa chứ. Nhưng tôi quan tâm, bởi vì tôi chỉ muốn được trốn tránh khỏi cuộc sống giờ thời gian và kế hoạch này có vẻ thích hợp nhất cho ý muốn đó của tôi.

      Tôi trở nên rất hứng thú với Cộng Hòa Maldives sau khi lắng nghe đối tác kinh doanh kể về những quần đảo ở đó. "Khu nghỉ mát ở đó tuyệt vời," ta . "Nhưng cũng có những hòn đảo hoàn toàn chưa có người đặt chân đến. Nếu muốn, còn có thể đến đó chơi nữa. Cũng có thể ở lại qua đêm. Họ bay trở lại đó và đón mình."

      Trong những ngày chuẩn bị đưa công ty lên sàn chứng khoán, khi mọi thứ chính thức vượt ra ngoài tầm kiểm soát, tôi thể ngăn cái suy nghĩ rằng cuộc đời mình dễ dàng hơn thế nào nếu tôi chỉ việc bỏ lại tất cả và rời . Di động của tôi lúc nào cũng reo. Ngay cả cái điện thoại nằm cái bàn bằng gỗ gụ to trong văn phòng riêng của tôi cũng thế. Những tiếng reo đinh tai nhức óc khiến tôi điên tiết và có cảm giác ngẹt thở. Ai cũng muốn lợi dụng thứ gì đó từ tôi: thời gian, tiền bạc, giúp đỡ.

      Vào buổi trưa căng thẳng đến cực độ, tôi nhấc điện thoại lên và dùng nó để chính mình gọi và thăm dò số thông tin. Trong mấy tuần sau đó, tôi lấy được visa do công ty đỡ đầu, cho phép tôi nhập cảnh vào Cộng Hòa Maldives và được quyền lưu lại đó vô thời hạn. Tôi tìm được phi công bằng lòng chở tôi đến nơi tôi muốn đến - và mua thêm đồ dùng và lương thực mà tôi cần - với những nghi vấn tối thiểu nhất. Tôi cho rằng đến lúc nào đó tôi gặp phải những rào cản, dẫn đến kế hoạch của tôi bị đình trệ, nhưng chuyện đó xảy ra. Muốn biến mất là chuyện vô cùng dễ dàng chỉ cần có đủ tiền, và tôi có dư dả thứ đó.

      Và vì lợi ích của mình, tôi cần phải rời xa, xa trước khi bọn họ nhận ra đoàn tàu chở tiền cho họ bị đình chỉ rồi.



      ***


      Đó là vào sáng sớm khi tôi hạ cánh xuống Malé; tôi phải ngồi máy bay lâu đến nỗi tôi còn biết hôm đó là hôm nào nữa. Tôi nhìn thấy nhà vệ sinh và cúi thấp đầu để chui vào buồng riêng thay vào quần soóc nam và áo thun.

      Dãy xếp hàng của hành khách ở quầy kiểm vé thủy phi cơ trong sảnh đón khách dài lắm. Tôi kiên nhẫn chờ đợi và khi đến lượt mình, tôi lấy ra tờ giấy có in dãy số xác nhận đó ra khỏi bóp tiền của mình. "Tôi thuê riêng chiếc máy bay," tôi . "Cơ trưởng Forrester là phi công."

      Người phụ nữ sau quầy mở ra đơn đặt chỗ trước của tôi máy tính. " được đăng ký và sẵn sàng lên máy bay bất cứ lúc nào, ngài Sparks. Tôi nhắn tin cho cơ trưởng Forrester. Tôi tin rằng ông chờ sẵn ở đó."

      "Tôi khẳng định là vậy," tôi . Tôi chi trả cho ông món tiền rất hào phóng để ông luôn trong tư thế sẵn sàng chờ tôi, cho dù tôi có gặp phải bao nhiêu vấn đề trì hoãn trong chuyến , hoặc bất kể thời gian nào tôi đến. Tôi biết với tin tưởng tuyệt đối rằng chiếc thủy phi cơ chờ tôi sẵn ở ngoài boong tàu.

      "Mời theo tôi," nhân viên mặc đồng phục của hãng hàng . Tôi theo ta ra ngoài và đứng ở bên lề. "Xe buýt đưa đến trạm bay thủy phi cơ. Nó đến đây ngay."

      "Cám ơn," tôi . Ra khỏi tòa nhà gắn máy điều hòa làm cho cái nóng dường như càng thêm ngột ngạt. khí có cảm giác nặng nề và ẩm ướt khi tôi hít vào, và gần như ngay tức tôi bắt đầu đổ mồ hôi như tắm. Lúc chiếc xe du lịch đến, tôi leo vào bên trong có mở sẵn máy lạnh, nhắc nhở chính mình nên quá quen với nó. Sau khi tài xế dừng lại ở trạm bay, ta dẫn tôi qua cánh cửa đôi. Chúng tôi qua luôn cửa đôi khác ở phía bên kia phòng và rồi chúng tôi ra đến bên ngoài. Những chiếc thủy phi cơ xếp thành hàng, neo vào dãy những cầu tàu hình chữ nhật cắt nhau. Tôi đưa phiếu lên tàu cho tài xế và ta xem nó và , "Lối này đây, ngài Sparks."

      Tôi theo sau ta đến chỗ chiếc thủy phi cơ chờ, và lúc ta ra hiệu cho tôi đưa túi xách của mình, tôi đưa nó cho ta và đứng quan sát trong khi ta lên máy bay. Nhìn quanh, tôi thu vào mắt mặt nước xanh biếc và bầu trời trong trẻo gợn mây. Giờ phút này, mọi thứ có vẻ trở nên đơn giản hơn nhiều, và tôi cảm thấy căng thẳng cuối cùng của mình cũng tan biến.

      người đàn ông tuổi trung niên ló đầu ra khỏi cửa máy bay.

      "Cơ trưởng Forrester?" Tôi , bước tới và đưa tay ra để bắt tay ông. "Tôi là Owen Sparks."

      Ông nhìn tôi cái và lắc đầu. "Chà, thể tin nổi," ông , cười khùng khục và bắt tay tôi. "Cậu giống như tôi trông chờ. Bao nhiêu tuổi rồi đấy, con trai?"

      "Hai mươi ba," tôi . Tôi thấy bị xúc phạm bởi phản ứng của ông; tôi quá quen với nó. Đó là do cung cách xử lý giao dịch của tôi khiến tôi có vẻ già dặn hơn thực tế. người cư xử như thằng oắt con thể nào đạt được thành tựu mà tôi có được khi còn trẻ như vậy. Mọi người xử lễ độ với tôi, lắng nghe ý kiến của tôi.

      Tôi nghi ngờ rằng tài sản của mình cũng chính là nguyên nhân tách biệt tôi khỏi đám bạn đồng trang lứa. Và có những lúc - như ngay lúc này - tôi thấy sung sướng vì mình có quá nhiều tiền. Tiền này do tôi kiếm được, và tuyệt khi có thể dùng nó để mua bất cứ thứ gì mình khao khát thay vì cái cảm giác bị buộc phải giao tiền ra vì đối phương chìa tay để nhận.

      "Được rồi, vào nào," ông . Tôi theo sau ông qua cửa máy bay , và ông chỉ tay vào những dãy ghế phía sau ông. "Cậu muốn ngồi đâu cũng được. Chỉ cần phải đảm bảo thắt dây an toàn."

      Túi xách của tôi được đặt cái ghế ở hàng ghế đầu, vì vậy tôi ngồi xuống cạnh nó và xách nó đặt dưới chân mình. Tôi theo dõi trong khi cơ trưởng Forrester đeo tai nghe lên đầu và bắt đầu ấn chỉnh các công tắt. Ông ngắn gọn vào trong cái mic-rô gần miệng, và ngay sau khi được lệnh cho phép, ông bắt đầu khởi động rời khỏi bục gỗ. Chúng tôi tăng tốc và tôi cảm nhận lực đẩy mạnh lúc chúng tôi cất cánh.

      Trong khi bay, tôi nhìn ra cửa sổ, sửng sốt trước quang cảnh đập vào mắt. Tôi nheo mắt chắn ánh nắng mặt trời chói chang tràn vào khoang máy bay và lôi cặp kính mát ra khỏi túi xách. Bầu trời trong veo xanh biếc như mặt biển bên dưới.

      Mất gần hai tiếng để tới điểm đến của chúng tôi. Bay khá lâu rồi nhưng tôi vẫn chưa nhìn thấy đất liền, nhưng rốt cuộc máy bay cũng hạ dần xuống và tôi nhìn thấy hòn đảo lần đầu tiên. Trông nó quá lớn, có lẽ chỉ rộng chừng dặm (1,61km) thôi. Bãi biển cát trắng tinh. Cây cối xanh um. Những rặng cọ và dừa vươn cao lên trời xanh từ trong khu vực rậm rạp cây cối gần trung tâm đất liền.

      Tôi nhớ lúc đó mình nghĩ rằng thể nào có chuyện gì tồi tệ xảy ra ở nơi xinh đẹp như thế.

      Chúng tôi đáp ngay xuống phá.

      "Tốt nhất nên tháo giày ra," ông .

      Tôi mỉm cười lúc nhìn xuống chân ông và phát ra ông để chân lái máy bay.

      Sau khi tôi cởi giày ra và nhét chúng vào trong túi xách, ông mở cửa buồng lái và nhảy xuống vào trong nước cao đến đầu gối. Ông mở khoang chứa hành lý ở bên sườn máy bay và chúng tôi tiến hành khuân đồ dự trữ của tôi lên bờ, phải đến mấy lần mới dỡ hết tất cả xuống được. Những đàn cá bơi vọt khi tôi bước trong dòng nước ấm nóng như nước tắm vậy.

      "Chúng ta hãy kiểm lại danh sách và bảo đảm tôi có quên thứ gì nào," ông , sau khi chúng tôi đặt kiện hàng cuối cùng lên mặt cát. Từ túi áo, ông lôi ra tờ giấy gấp lại mà tôi nhận ra là trong những email tôi gửi cho ông.

      Món đầu tiên là điện thoại vệ tinh Idridium. Ông báo trước với tôi di động bình thường hoạt động được bởi hòn đảo ở vị trí quá hẻo lánh. "Số phone của tôi được cài sẵn trong đó rồi, vì vậy nếu cậu có gặp vấn đề gì, hoặc là cần tìm tôi, cậu chỉ cần ấn vào nút này là được," ông , chỉ tay vào cái nút và đưa điện thoại cho tôi. Ông nghiêng người tới và chỉ vào cái nút khác. "Nếu vì nguyên do nào đó mà tôi bắt máy, cậu hãy gọi số này. Đây là số của sân bay. Pin của nó nên dùng được luôn mấy tháng nếu cậu nổi hứng gọi điện cho mọi người mỗi khi thấy đơn."

      "Tôi gọi cho ai cả," tôi . có lấy người tôi rời bỏ mà tôi muốn trò chuyện với cả.

      Ông đưa tay lấy món kế tiếp, ba-lô to đùng nằm cát. Nó là loại mà những tay leo núi thực thụ sử dụng khi họ muốn cắm trại ở nơi vùng sâu vùng xa và cần phải phụ thuộc vào người khác để khuân vác hộ hành trang của mình. Lần cuối cùng tôi dùng cái ba-lô thế này là lúc tôi mười hai tuổi. Cho quà sinh nhật của mình, tôi vòi cha đăng ký cho tôi tham gia hành trình ba-lô thám hiểm và leo núi ở dãy núi Sierra Nevada của chương trình cắm trại ngoài trời Outward Bound. Cha tôi và tôi thích mê cắm trại, và trong ký ức mà tôi có thể nhớ được, ông luôn dẫn tôi theo cùng. Mẹ tôi chút hứng thú và chị tôi cũng vậy, nhưng tôi thấy mình chưa bao giờ vui sướng hơn mỗi khi được ở ngoài trời, và càng ở nơi xa xôi hẻo lánh, càng tốt. Lúc cha tôi mang về quyển giới thiệu chương trình của Outward Bound và chúng tôi cùng đọc nó với nhau, tôi biết ngay là mình muốn đón nhận cuộc thử thách này.

      Bảy ngày mà tôi trải nghiệm trong vùng hoang dã là tất cả những gì mà tôi trông đợi, và nó thay đổi con người tôi theo lối mà vào thời điểm đó tôi chưa hiểu . Nhưng cha tôi qua đời do chứng phình mạch máu não hai ngày sau khi tôi trở về từ chuyến thám hiểm Outward Bound, và từ đó về sau, tôi bao giờ cắm trại ngoài trời nữa.

      Giờ phút này, đứng bãi biển, tôi tự hỏi nỗi khao khát sống hoang đảo, đơn độc mình và ở nơi hoang vắng thế này, liệu có phải là nỗ lực để tái lại cảm giác mà tôi cảm nhận trong chuyến thuở bé. Tôi còn quá để có thể thực kinh qua cái cảm giác thần thánh lúc đó, nhưng tôi nhận thức được tồn tại to lớn hơn. thức tỉnh nào đó chỉ có thể đạt được khi sống ở nơi hầu như chưa có con người đặt chân đến, trong tĩnh mịch tuyệt đối.

      Tôi mở dây kéo ba-lô và lôi ra đồ bên trong: túi ngủ, chiếu, và lều. Đúng ra tôi cũng cần cái ba-lô lắm, nhưng nó có thể dùng để trữ đồ và giúp cho việc vận chuyển đồ đạc từ thủy phi cơ xuống bờ biển dễ dàng hơn. Nó cũng tiện lợi những lúc tôi khám phá quanh đảo.

      Ông cầm tờ danh sách và đánh dấu trong khi tôi xem xét đồ trong cái thùng giấy lớn và kiểm kê thành tiếng. "Lò bếp cắm trại, nhiên liệu, dao, bật lửa, đèn pin, cần câu, hộp lưỡi câu, nồi và chảo, hộp thuốc cứu thương, đồ dùng ăn uống, thuốc xịt chống côn trùng, kem chống nắng, túi nước tắm ngoài trời, xẻng, bình nhựa to có miệng rộng, giấy vệ sinh, và bao rác."

      Thức ăn có thể dự trữ lâu là thứ tiếp theo. Mọi món đều được sấy khô và được đóng gói chân hoặc trong hộp thiếc có móc mở nắp. Có rất nhiều loại hạt, ngũ cốc, và trái cây, thịt bò khô, và bột pha nước uống mà tôi có thể hòa tan vào nước. Đậu Hà Lan và bắp đóng hộp. "Trong phá có đầy cá. Còn có cây dừa và sa kê nữa. Cậu có rất nhiều thức ăn."

      Ông chỉ tay vào ba bình nước chứa bảy ga-lông (26.5L) nước uống mỗi bình. "Trữ chúng ở trong mát đấy," ông . "Nước được lạnh, nhưng nó mát hơn chút. Lượng nước này đủ để cậu dùng trong ba mươi ngày, nhưng nếu cậu hứng nước mưa trong này - ông cầm lên cái bình nhựa - cậu ổn cả thôi."

      "Được," tôi . Phải bảo đảm mình có đủ nước để dùng khiến tôi thấy hồi hộp. Lúc tôi mới bắt đầu qua lại email với ông, và giải bày cái kế hoạch mà mình muốn thực , ông rằng thiếu thốn nước ngọt là trở ngại lớn nhất khi sống hòn đảo người.

      "Cậu nhớ cho những rác rưởi đốt được vào trong bao rác. Lúc cậu quay về, cậu mang nó theo để chúng ta có thể xử lý chúng."

      Tôi định trước xem hòn đảo này như nơi cắm trại, tôn trọng nó như mảnh đất mà tôi tạm trú. "Tôi để sót lại mẩu rác nào ở đây."

      trong những câu hỏi đầu tiên mà tôi hỏi ông chính là liệu cái kế hoạch mà tôi muốn làm có thể thực được hay - và ông có đồng ý giúp tôi ?

      "Hầu như người ta chỉ đến những hoang đảo này chơi chừng hoặc hai ngày là cao nhất," ông trả lời. "Họ đến đây picnic và thử nghiệm cuộc sống của Robinson Crusoe, rồi sau đó họ sẵn sàng quay trở về khu nghỉ mát của họ. Tôi chưa bao giờ gặp ai muốn dọn liền tới nơi như vậy sống vô thời hạn. Nhưng nếu đó là điều mà cậu muốn, tôi biết nơi có lẽ phù hợp. Nó xa tuốt ở ngoài giáp ranh phía bắc và gần như là có máy bay nào bay qua đó cả. Nguy cơ chiếc thủy phi cơ hạ xuống phá với cặp vợ chồng son hưởng tuần trăng mật là bằng , cho nên tôi nghĩ cậu cần phải lo lắng ai đó phát ra cậu."

      "Đó chính xác là thứ mà tôi muốn," tôi vậy.

      Khi mọi thứ được dỡ ra, tôi nhìn sang ông, hít hơi sâu và , "Bác hẳn là cho rằng tôi bị điên rồi."

      "Tôi gạt cậu, con trai. Ý nghĩ đó đúng là từng lên trong đầu tôi. Hoặc là như thế hoặc là mong muốn rời bỏ tất cả của cậu mãnh liệt hơn những người mà tôi biết."

      Tôi cũng có dè dặt của mình. thể chối cãi, đây đúng là lần tôi cho phép bản thân thỏa mãn chính mình nhất từ trước đến nay. "Biết đâu chừng ham muốn này của tôi vơi sớm hơn tôi dự định," tôi .

      Ông dùng đuôi áo lau mồ hôi mặt. "Cậu nghe tôi này, từ giờ cho đến chừng tháng mười là khoảng thời gian cậu gặp mưa nhiều nhất. Cậu có vấn đề gì trong việc trữ nước mưa để uống, bởi vì trời mưa xuống nhiều lần trong ngày. Chỉ cần bảo đảm cậu để sẵn đó bình chứa nước thôi. Mất nước là nguy hại lớn nhất của cậu ở đây, vì vậy phải kỹ lưỡng chú ý đến lượng nước dự trữ."

      Tôi biết vùng Maldives chỉ có hai mùa - mùa mưa, hay còn gọi là gió mùa Tây Nam, chính là mùa vào thời điểm bây giờ, và gió mùa Đông Bắc khô khan, bắt đầu chuyển mùa vào tháng mười hai. "Thế còn bão?" Tôi hỏi. "Nó lớn đến mức nào?"

      "Bão ở đây phải như hurricane (6) - ở đây chúng tôi có chúng - nhưng số cơn bão cũng có thể rất dữ tợn."

      "Tôi có thể tránh được nó trong lều ?"

      "Chắc là được," ông , gật đầu. "Tôi theo dõi ra-đa, nghe tin tức khí tượng. Nếu có trận bão nào sắp kéo tới mà tôi cho rằng nó quá khốc liệt cho cậu chống đỡ được, tôi đến đón cậu ngay." Ông đặt tay lên vai tôi. "Cậu phải thận trọng khi sống ở đây, con trai. Luôn cảnh giác kể cả dưới nước và bờ. Hòn đảo này phải là khu nghỉ mát đâu." Ông bóp vai tôi và bỏ tay xuống.

      Tôi thấy đáng kinh ngạc làm sao khi người đàn ông tôi quen biết lại bận tâm đến an toàn của tôi, trong khi gia đình của mình dường như chẳng quan tâm gì khác ngoài bản thân họ. Cảm giác này tốt, giống như gánh nặng của cả thế giới chỉ đè vai mỗi mình tôi. "Tôi ổn thôi," tôi . "Dù thế nào, tôi cũng rất cảm kích quan tâm của bác. Cám ơn bác về mọi thứ."

      Ông mỉm cười và đưa tay ra. " có chi đâu. Cứ gọi cho tôi nếu có gì cần. Nếu có gì tôi quay lại trong ba mươi ngày nữa."

      "Được."

      Chúng tôi bắt tay nhau và tôi đứng dõi theo ông rời , đuôi chiếc áo sơ-mi cỡ cực lớn của ông phất phơ trong ngọn gió. Ông lội vào trong nước và chẳng mấy chốc tiếng động cơ máy bay bao trùm lên tĩnh lặng nơi đây.

      Khi ông chỉ còn là hạt cát bầu trời, tôi xoay người và bắt đầu cuộc sống mới của mình.



      text-decoration: underline']Ghi Chú:

      (5) Đăng ký lên máy bay và gửi hành lý. Check-in cũng được dùng để chỉ việc đăng ký phòng khách sạn. Khi trả phòng là check-out.

      (6) Xoáy thuận nhiệt đới (tropical cyclone). Ngoài những cơn gió mạnh và mưa lớn, còn có thể kéo đến thủy triều dâng cao và những cơn bão xoáy có sức tổn hại kinh hoàng.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 3 - Owen
      Dịch: gauthichdocsach

      Nhật Ký

      15 Tháng năm, 1999

      Tôi đến đảo hôm nay. Tôi dựng lều bãi biển và tầm cuối giờ chiều, có dự báo trước gì cả, trời bắt đầu mưa xối xả xuống, điều này kỳ quái làm sao vì bầu trời vẫn còn sáng chói chang cao. khí nóng bức đến ngột ngạt. Những lúc tôi bơi trong nước, tôi tránh nắng trong những bóng râm, nhưng thể chịu nổi bọn côn trùng. Tôi xịt thuốc chống côn trùng từ đầu xuống tận ngón chân. Song nó cũng thể xua đuổi hết được tất cả, nhưng cũng được phần lớn trong đó. Tôi phát mấy con nhện to nhất và gớm ghiếc nhất mà tôi từng thấy. Chúng có màu nâu và những cái chân dài, và nếu có lúc nào đó mà tôi trông thấy con như vậy trong lều, tôi chắc chắn gào thét lên như đứa con chết tiệt.

      Lúc mặt trời lặn xuống, bầy dơi bắt đầu xuất . Đây là trong những cảnh tượng ngoạn mục nhất mà tôi từng gặp. Chúng nhiều đến nỗi khi chúng bay đầy bầu trời, chúng che khuất hẳn vầng trăng sáng.

      Ở đây yên tĩnh, có gì cả ngoài tiếng sóng vỗ đập. Đa số người chắc là chán ghét nơi này, nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy bình thản và yên bình như lúc này đây.



      17 Tháng năm, 1999

      Tôi dùng hầu hết thời gian ban ngày để thăm dò hòn đảo. Trong phá có vô số đàn cá bơi lội, và tôi ước chi mình có bộ mặt nạ với ống thở lặn để có thể quan sát chúng được ràng hơn. Tôi phát mấy con cua và rùa biển hôm qua, dường như tôi còn nhìn thấy cái vây cá nữa, nhưng nó thụp ngay xuống mặt biển trước khi tôi kịp xem xét kỹ nó. Nhưng để đề phòng, tôi lên bờ.

      Tôi quên hỏi về cá mập. Tôi biết chúng có ở vùng này, nhưng tôi biết liệu chúng có bơi vô đầm phá .

      Tốt nhất tôi nên tìm hiểu sớm về vấn đề này.



      21 Tháng năm, 1999

      Tôi biết bằng cách nào hay tại sao, nhưng đảo này có gà. Hôm qua, tôi bước trong khu rừng rậm rạp nhất hòn đảo, nơi ánh sáng mặt trời chỉ có thể len lỏi xuống tới mặt đất trong những tia sáng hẹp, và tôi nghe thấy tiếng động phành phạch quái quắc. Rồi con gà từ đâu bay thẳng ra trước mặt tôi, và suýt tí nữa tôi vãi ra quần. Nó chạy trốn điên cuồng như thể nó sợ tôi đuổi theo nó vậy, điều đó là buồn cười trong khi tôi vẫn còn trong tư thế đứng hình, chờ đợi cho động mạch tim vỡ ra, bởi vì tim tôi đập quá dồn dập. Tôi thề phải đến năm phút sau các bộ phận trong cơ thể tôi mới trở lại hoạt động bình thường.



      24 Tháng năm, 1999

      Nghi vấn:

      Gà. Quái quỷ gì vậy?

      Có sinh vật gì trong phá có thể giết chết tôi ?

      Nhện nâu khổng lồ - có độc đây?



      ***


      bao lâu sau, tôi dần dần hình thành lề thói hằng ngày đảo. Tôi thức dậy sớm và mỗi buổi sáng tôi bơi và rồi pha cà phê bằng bếp lò cắm trại của mình. Sau bữa sáng ngũ cốc và trái cây khô, tôi thường ngồi viết nhật ký và khám phá những nơi khác đảo.

      Tôi còn thấy quá oi bức nữa, và có đôi lúc tôi duỗi người nằm dài cát, được bảo vệ bởi kem chống nắng có độ SPF (7) ở mức 50, và tắm ánh mặt trời chiếu rọi thẳng xuống tôi. Những lúc tôi quá nóng nực, tôi xuống nước bơi hoặc tìm bóng mát nào đó. Tôi có mang theo quyển sách mình thích nhất, quyển The Stand bìa mềm đầy nếp gấp ở góc của Stephen King. Tôi mở bừa trang và đọc đến cảnh Frannie và Stu và Glen và Larry đối đầu thế nào với trận đại dịch.

      Kỳ lạ là tôi cảm thấy tẻ nhạt. Luôn có đủ mọi thứ để làm hoặc để quan sát, và đến thời điểm tôi đảo được hai tuần, tôi khám phá hết từng tấc đất nó. Tôi bắt gặp con gà nhiều lần rồi - có lẽ cùng là con - và nó luôn vỗ cánh phành phạch chạy trốn mỗi khi nó nghe tiếng chân tôi đến gần. Tôi cũng phát đảo này có dân số chuột nhiều đến khủng khiếp, nhưng chúng chủ yếu chỉ xuất về đêm, mắt chúng sáng rực lên trong bóng tối trong khi chúng vọt tới vọt lui mặt đất.

      Tôi nhìn thấy cái vây cá trong phá lần nữa, nhưng lần này có đến hai cái. Lấy tay che mắt chắn bớt ánh sáng, tôi đứng bờ và nheo mắt nhìn. Chúng trông giống vây cá mập, nhưng tôi chắc lắm. Tôi lội vào trong nước vài foot, chăm chú canh chừng hai cái vây cá, nhưng nhanh chóng lên bờ khi chúng lặn xuống mặt nước.

      Tôi bắt đầu ước chừng thử thời gian trong ngày bằng cách quan sát vị trí của mặt trời bầu trời. Nhiều lần vào ban sáng và ban chiều tôi thử đoán và rồi lấy đồng hồ ra khỏi túi quần để xem thử mình có đúng .

      Trời mưa liên tục, tốt cho việc bổ sung lượng nước dự trữ của tôi, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có bão. ngày kia bầu trời trở đen, và tôi ngồi trong lều và lắng nghe tiếng mưa tuôn rơi xối xả như thác đổ, nhưng giờ sau, trời trong xanh trở lại và tôi thở phào nhõm.

      Tôi bắt đầu nhen nhóm suy nghĩ biết có thể xây dựng nơi ở cố định nào đó đảo , nơi kiên cố hơn để đề phòng thời tiết trở xấu dữ dội. Ý tưởng này trụ lại trong đầu tôi và tôi mở ra trang mới trong nhật ký của mình và phát họa vài mô hình. Lúc còn là đứa bé, tôi say mê mấy trò xếp hình Lego và Lincoln Log, bỏ ra hàng giờ đồng hồ để lắp ráp những mô hình công phu. Tôi luôn khao khát có ngôi nhà cây, nhưng vườn nhà tôi có loại cây nào đủ cứng cáp để chống đỡ kiến trúc lớn như vậy. Tôi thích cái ý nghĩ có thể xây dựng quy mô lớn, bằng chính đôi tay mình. nơi cho tôi trú thân.

      nơi cho tôi cảm giác giống mái nhà của mình hơn.



      Ghi Chú:

      (7) SPF viết tắt cho sun protection factor, tức yếu tố giữ cho da khỏi chịu tác hại của tia tử ngoại của mặt trời.



      P.S. Hôm nay đến đây nhé. 3 chương này gộp lại dài bằng 4-5 chương của Hoang Đảo đấy. Comment mai tui post. Khà khà... *cười gian*
      Last edited by a moderator: 5/8/14

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 4 - Owen
      Dịch: gauthichdocsach

      Nhật Ký

      4 Tháng sáu, 1999

      Thủy phi cơ quay trở lại trong mười ngày nữa. Tôi cảm thấy đơn - hẳn là vậy - nhưng dù sao, được nghe tiếng của con người khác và có thể tán gẫu đôi chút với ai đó vẫn là tốt hơn.

      Tôi phát ra mình thích câu cá. Dùng những lưỡi câu khác nhau có trong hộp lưỡi câu, tôi đứng trong phá nước sâu đến hông, chờ đợi cho thứ gì đó cắn câu. Tôi câu được cá có kích cỡ theo thứ tự từ sáu đến mười đến mười hai inch (15,2cm – 25,4cm – 30,5cm), nhưng tôi chỉ bắt những con nào mình có thể ăn hết cho bữa ăn kế. Lần đầu tiên làm sạch cá, tôi biến nó thành mớ thịt máu bầy nhầy ghê tởm đến buồn nôn và mém tí nữa bị con dao cứa đứt tay. Nhưng tay nghề tôi tiến bộ hơn. Cũng bao nhiêu năm rồi kể từ lần cuối cùng tôi cùng cha câu cá, và cha tôi luôn là người làm sạch chúng, thế nên tôi đành phải vừa làm vừa học thôi.

      Hóa ra những cái vây cá tôi hay bắt gặp trong phá là vây cá heo, phải vây cá mập. Ba con cá heo bơi đến gần bờ biển ngày nọ và tôi cả người khi thấy chúng trồi lên khỏi mặt nước. Từ lúc thấy chúng xuất , tôi chậm rãi nhàng bước xuống nước và chúng bắt đầu bơi đến gần tôi hơn. Thường là có hai hoặc ba con và ngày hôm trước còn có con thổi nước ra khỏi lỗ phun nước. Như thể nó , xin chào Owen!

      Thời gian tôi bơi lội trong nước càng ngày càng lâu hơn. Tôi bơi dọc theo bờ, trong vùng nước quá sâu, và tôi bơi ngừng cho đến khi vai và lồng ngực nhức mỏi và còn đủ hơi để bơi tiếp tục. Sau đó tôi lại thấy cả người khoan khoái đến kinh ngạc.



      7 Tháng 6, 1999

      Cá heo là loài sinh vật vô cùng thú vị. Phải mất thời gian, nhưng rốt cuộc chúng cũng dần tin tưởng tôi. Tôi câu số cá và ném con vào mồm của con cá heo bơi gần nhất, và bây giờ cậu bé? hay bé nhỉ? còn sợ tôi chút nào. Tôi chuyện với chúng và có cảm giác như chúng hiểu tôi gì.



      10 Tháng 6, 1999

      Tôi dùng hơn tiếng để tự tay đút thức ăn cho bầy cá heo. Tôi nghĩ cả đời mình bao giờ dùng từ "nô đùa", nhưng đó chính là từ duy nhất để mô tả những gì trước mắt tôi từ lúc bầy cá heo xuất và bắt đầu bơi theo tôi và tung người trung. Chúng lật người và để tôi vuốt ve bụng của chúng, chút tức giận khi tôi nắm lấy vây chúng và cưỡi người chúng đảo quanh phá. Tôi bắt đầu coi chúng như những người bạn của mình.

      Tôi cầu mong điều này phải là dấu hiệu chứng tỏ tôi mất dần lí trí hay gì đó.

      Ngày mai thủy phi cơ đến.



      text-decoration: underline']Ghi Chú:

      (8-) loại sốt kem làm từ mayonnaise và số nguyên liệu khác.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 5 - Anna
      Dịch: gauthichdocsach

      Tôi cảm thấy khó khăn để có thể hoàn toàn thấm nhuần vào đầu những gì Owen kể cho chúng tôi. Trong lúc lắng nghe ta mô tả về những ngày đầu của đảo, tôi khỏi nhớ đến khoảng thời gian đó của T.J. và tôi. Tôi nhớ mình nghĩ rằng bởi vì tôi là người lớn, tôi có trách nhiệm phải tìm cách cho cả hai sống sót, và cái ý thức đó - nỗi sợ hãi - gần như đè bẹp tôi bởi chính tôi cũng có chút khái niệm, có chút đầu mối về việc phải làm gì. Tất cả những gì tôi biết đó là tôi kinh hãi vô cùng và tin chắc chúng tôi chết.

      Liếc nhìn qua T.J., tôi ngừng lại. Người đàn ông ngồi bên cạnh tôi chiếc ghế sofa này là người bình đẳng với tôi, là người bạn tri kỷ của tôi. Là tình của đời tôi. là mẫu tượng cho mọi định nghĩa của mạnh mẽ. Nhưng tôi nghĩ về lúc đó và nhớ đến thuở mới mười sáu: gầy còm, thiếu tự tin về vai trò của mình, và đeo kiềng răng. Sợ hãi. Trong đầu tôi lên hình ảnh đôi môi nức nẻ của T.J., những vết trầy xước mặt , con mắt sưng húp. Bỗng dưng bị đẩy vào trong hoàn cảnh sống-hoặc-chết mà có lựa chọn nào ngoài việc đối đầu với mọi nguy nan và chiến đấu để sinh tồn.

      Nếu chúng tôi bị rơi vào trong tình cảnh tuyệt vọng như vậy, liệu chúng tôi có thể thưởng thức được vẻ đẹp đảo giống như Owen chăng? Chúng tôi có thể cảm nhận bình yên mà ta cảm nhận được chăng? Điều đó quan trọng, bởi vì chúng tôi thể so sánh quãng thời gian sống đảo của mình với Owen.

      Về sau này, chúng tôi cũng cảm thụ được vẻ đẹp như tranh vẽ của nơi đó, hệt như Owen. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ quên bản thân mình yếu đuối và bất lực thế nào. Với chúng tôi, có thủy phi cơ nào thường xuyên ghé qua cung cấp đồ dùng, lương thực. có điện thoại vệ tinh. có gì gắn liền chúng tôi với thế giới bên ngoài. ai để chúng tôi cầu cứu. Thứ duy nhất có , thứ thủy chung đổi thay trong suốt thời gian chúng tôi sống đảo, thứ duy nhất mà chúng tôi có thể dựa dẫm vào, đó là lẫn nhau.

      Tôi nhìn sang T.J. biểu lộ cảm xúc gì mặt, và chính tôi cũng chắc suy nghĩ gì. Có phải cũng hồi tưởng những tuần lễ đầu tiên chúng tôi lưu lạc khác biệt đến thế nào? Tôi đưa tay tới và nắm lấy tay , bởi vì ngay khoảnh khắc này tôi cần phải cảm nhận mối liên kết giữa hai chúng tôi. Khi siết tay tôi, tôi siết tay đáp lại, như mọi khi tôi vẫn làm.

      Và tôi tập trung chú ý của mình về lại Owen, vì cho dù đối mặt với những ký ức này khổ sở, tôi vẫn muốn nghe đến cùng những gì ta cất công đến đây để thổ lộ với chúng tôi.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :