Tắt Đèn Kể Chuyện Ma - Loan Bảo Quần (Tập 1)

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Tắt đèn kể chuyện ma
      (Tập 1)
      [​IMG]


      Tác giả: Loan Bảo Quần
      Dịch giả: Hoàng Quyên
      Giá bìa: 126.000 ₫
      Kích thước: 13 x 21,5 cm
      Ngày xuất bản: 15-11-2012
      Công ty phát hành: Đinh Tị
      Nhà xuất bản: NXB Văn Học


      Giới thiệu



      Cuộc sống luôn tồn tại những điều khó có thể lý giải, được đồn thổi từ người này sang người khác, từ năm này qua năm khác và dần phủ lên chúng lớp vỏ bí ma mị. "Tắt đèn kể chuyện ma" là cuốn sách tổng hợp những câu chuyện liêu trai, cổ quái như vậy. Nhưng thay vì khai thác yếu tố ma mị vốn là thế mạnh của những câu chuyện liêu trai, tác giả Loan Bảo Quần với uyên bác và tinh tế của mình khéo léo kết hợp những kiến thức đông tây kim cổ và kể lại những câu chuyện ấy theo khía cạnh khác đời thường hơn, thực tế hơn. Có thể là những lý giải khoa học khách quan, có khi lại là những suy diễn chủ quan của góc nhìn tác giả, có những câu chuyện buồn bã thê lương, cũng có những mẩu chuyện vô cùng hài hước. Nhưng dù là câu chuyện nào cũng đều khiến độc giả kinh ngạc và thích thú vì những bí mật được hé mở trong đó.



      Thủy quỷ, nịch quỷ, cương thi, trành quỷ, sát quỷ, thảo trái quỷ, khảo trường đại đầu quỷ, quỷ thất tình lục dục, quỷ hóm hỉnh, hài hước; vấn đề miếng ăn, chỗ ở, cái mặc của quỷ; vấn đề cái chết của quỷ... Thế giới ma quỷ rốt cuộc có dáng vẻ ra sao?



      Tắt Đèn Kể Chuyện Ma là thế giới của những câu chuyện liêu trai và cổ quái, là giao hoà của tri thức đông tây kim cổ tích tụ từ ngàn năm. Đằng sau lớp vỏ ma mị ấy chứa những gì?



      Tự nghĩ trong thiên hạ, người viết văn nhiều, mà người nhặt nhạnh những thứ phế liệu để kết thành trang viết quả thực cũng hiếm. Vì tuổi già ập đến, được dịp thảnh thơi làm mấy việc nhàn rỗi, khâu vá thêm vào để làm thành cái áo, tuy rằng cầm tà áo trước ngực mà nhìn thấy cả khuỷu tay, nhưng mặc cho áo ngắn mà thân lệch. có rận để bắt ta chuyện ma quỷ, tập hợp thành tập truyện để được dâng lên bạn đọc.


      <img class="aligncenter" style="border: 0px solid #cccccc; clear: both; cursor: pointer; max-width: 560px; min-width: 10px; padding: 4px 0px 0px;" alt="" src="http://i363.photobucket.com/albums/oo75/shishi32_2009/1199_200803061011102jiYM.gif" border="0" />





      (TGĐA) - Nếu ai thích thể loại truyện kinh dị hay truyện về ma quỷ có thể tìm đọc cuốn Tắt đèn kể chuyện ma của tác giả Loan Bảo Quần. Đây là cuốn sách mang tính bác học, đọc để tìm hiểu, chiêm nghiệm hơn là đọc giải trí như như những tác phẩm văn học kinh dị khác.



      Trung Quốc trải qua bao nhiêu năm lịch sử cũng ngần ấy năm, những câu chuyện ma được hình thành và phát triển theo nhiều hướng khác nhau, mỗi vùng mỗi khác. Nhưng chung quy lại, dân gian Trung Quốc sáng tạo ra những câu chuyện ma đầy liêu trai, kỳ bí, hấp dẫn và bất ngờ. Các loại quỷ như thủy quỷ, nịch quỷ, cương thi, trành quỷ, sát quỷ, khảo trường quỷ, quỷ thất tình lục dục, quỷ hóm hỉnh, hài hước… hay các vấn đề như miếng ăn, chỗ ở, cái mặc của quỷ; vấn đề cái chết của quỷ đều được dân gian xây dựng chi tiết và ngày càng phong phú. Phải chăng con người khi bị hổ ăn thịt trở thành quỷ để giúp lão hổ bắt những người khác? Có đúng là những người chết đuối cần phải tìm được người thế mạng mới có thể siêu thoát và được đầu thai sang kiếp khác?



      Trường thi vốn là nơi uy nghiêm để tìm ra những nhân tài phục vụ đất nước, lẽ nào cũng có can thiệp hay quấy rối của ma quỷ? Hay khi con người chết đâu, về đâu, xuống địa ngục hay lên thiên đường? Địa ngục là nơi như thế nào, có ai ở đó, con người sau khi chết xuống đó như thế nào, phải qua những đâu? Tất cả những điều đó đều có trong các câu chuyện dân gian và được truyền từ đời này qua đời khác, được ghi chép vào sách của các học giả từ nhiều triều đại qua, để cùng với các câu chuyện truyền miệng trong dân gian, chúng trở thành những tư liệu quý cho chúng ta ngày nay tìm hiểu về tín ngưỡng của ông cha ta ngày trước.



      Tác giả Loan Bảo Quần tập hợp những câu chuyện như thế và viết cuốn sách Tắt đèn kể chuyện ma dưới góc nhìn và phân tích, những lời nhận xét hóm hỉnh, hài hước nhưng kém phần sâu sắc của chính tác giả.



      Vậy thế giới tâm linh huyền bí về ma quỷ rốt cuộc có dáng vẻ ra sao?



      Bạn đọc lần theo gợi mở từng câu chữ, quay ngược thời gian trở về với hàng ngàn năm trước, vén bức màn bí lên để từng bước khám phá thế giới u minh huyền bí của người Trung Quốc xưa và nay!



      Tác phẩm Tắt đèn kể chuyện ma do Đinh Tị books liên kết với Nhà xuất bản Văn học ấn hành.


      <img class="aligncenter" style="border: 0px solid #cccccc; clear: both; cursor: pointer; max-width: 560px; min-width: 10px; padding: 4px 0px 0px;" alt="" src="http://i363.photobucket.com/albums/oo75/shishi32_2009/1199_200803061011102jiYM.gif" border="0" />

      [/B]

      MsoNormal" style=" Chương 1: Phần mở đầu[/B]





      Mặc dù rận là loài côn trùng chẳng lấy gì làm tốt đẹp, nhưng cái việc “Bắt rận” mà được viết mặt giấy lại được coi là thứ nghệ thuật hết sức tao nhã. Điều này cũng rất đỗi tự nhiên như chuyện Vương Cảnh Lược đến bắt rận mà cứ thản nhiên như . Thành thử dùng ý này để đưa vào tên sách lại khiến người ta có cảm giác thú vị như Lý Bạch say sưa uống rượu họa thơ vậy.

      Nhưng nghĩ kỹ lại ở đời loài rận cũng chẳng phải hoàn toàn “vô duyên” như thế. ngày mùa đông của hơn bốn mươi năm trước, khi tôi cùng với quân đoàn kéo về từ phương Bắc, người chẳng có gì chỉ còn sót lại những con rận từ ba tỉnh Giang Tô, Chiết Giang và An Huy theo về, nếu cộng thêm loạt học sinh, sinh viên từ các tỉnh khác, ngoại trừ đảo Đài Loan, các dân tộc rận từ hai mươi chín tỉnh thành và các khu tự trị có thể tề tựu đông đủ nhà. Nhưng hiểu sao lúc ấy chúng tôi lại hề cảm thấy có cái gì đó ngứa ngáy, khó chịu, có lẽ do lũ rận đông đúc lúc này còn bận bịu tranh vương tranh tước với nhau, chẳng còn để ý tới những việc khác, hoặc cũng có thể do “tư tưởng đấu tranh giai cấp” trong chúng tôi lúc đó đạt đến độ nghiêm chỉnh, lại đúng vào thời khắc tâm hồn nhạy cảm “xúc động” khiến cho da thịt tê dại đến cực độ, chẳng còn biết đến cảm giác gì khác nữa. Nhưng khi vừa bước tới cổng nhà, mẹ tôi ngay lập tức bắt lột hết quần áo mặc người xuống, sau đó đun mấy nồi nước sôi lớn, nhúng nhúng lại quần áo vào nước sôi sung sục bếp tới mấy lần, lúc này chỉ thấy hàng ngàn, hang vạn con rận trôi nổi mặt nước bỏng rẫy, thuận theo dòng nước mà chìm xuống, họ hang nhà rận từ hai mươi chín tỉnh thành và các khu tự trị cùng sinh tử với nhau như thế. Giờ ngẫm lại những kỷ niệm hồi đó vẫn thấy có nhiều điều tiếc nuối: Mặc dù sống chung với rận suốt thời gian dài, vậy mà tôi lại bỏ lỡ cái duyên “bắt rận làm vui”, quả thực là đáng tiếc!

      Cho nên, hai chữ “bắt rận” ở đây chỉ là mượn cái ý vị trong câu “bắt rận hổ khách” của Vương tiên sinh từ hàng ngàn năm về trước để trang điểm cho vẻ bề ngoài của câu chữ, thực chất hoàn toàn chỉ là chuyện phiếm mà thôi.

      Ý nghĩa thực ở đây là “ chuyện ma”. Nhưng “ chuyện ma” lại là việc “ dễ mà làm khó”! Tô Đông Pha khi bị lưu đày ở Hoàng Châu [1] thích nhất là chuyện ma, chính những câu chuyện ma quỷ ấy lại chất chứa trong đó bao nhân tình thế thái, bao đời được phản ánh cách gián tiếp mà sâu sắc. Trong tác phẩm của mình, Tô Đông Pha viết:Bắc khách nhược lai hưu vấn , tây hồ huy hảo mạc ngâm thi.[/I] Trong bài thơ tặng Quách công phụ có đoạn:Mặc hướng giang biên lộng minh nguyệt, dạ thâm vô số thải châu nhân[/I]. Thơ viết ra phải để ngâm, trăng cao phải để thưởng, gian tĩnh mịch như vậy phải để chuyện ma chuyện gì? Nhưng vào thời đó vẫn chưa thịnh hành lối chuyện ma quỷ, chưa có chuyện xây lên những “ô đài quỷ ám”. chuyện ma quỷ cũng chỉ là những ý sâu xa, chỉ là những gợi nhắc thoáng qua mà thôi. Nhưng từ những gợi nhắc sơ sài, qua quýt trong gần ngàn năm trước ấy, đến thế kỷ XX lại trở thành đề tài hấp dẫn được viết thành truyện.

      [1] Hoàng Châu: địa danh ở tỉnh Hồ Bắc[/I]

      Những trò cấm ma bài quỷ trong những năm 50 của thế kỷ trước, chỉ là những mê tín dị đoan thuần túy, chứ tuyệt đối có chút dụng ý sâu xa nào khác, những suy nghĩ hồi đó cũng chỉ là những tình cảm tốt đẹp theo hình thức “ ghét kiểu trẻ con”. Tôi còn nhớ như in kỷ niệm hồi khi xem kịchCửu canh thiên,[/I] vở kịch dọa cho tôi sợ đến nỗi cả đêm ngủ được, chỉ cần nhắm mắt lại là hình ảnh con ma đầu lại lên, chạy đến kêu oan. Vì vậy, để đưa ra quyết định cấm đoán những hình thức mê tín mù quáng kiểu như thế này, người ta cũng phải suy tính lại đến đau đầu bạc tóc cả rồi, mục đích là để hạn chế những nỗi sợ hãi đến mất hết lý trí như vậy. Nhưng đến năm 1957, thời kỳ “hữu khuynh”, sân khấu lại xuất hiệnHọa bì[/I], câu chuyện ma đầy tính xác giới theo kiểuLiêu trai chí dị, [/I]biết bao bộ phim như thế xuất cùng thời điểm, trong các rạp chiếu phim toàn là những phim câu khách kiểu như vậy (số còn lại thuộc kiểu phim hài được ăn khách cho lắm). Sau khi xem xong, đêm về hễ cứ nhắm mắt lại là những con quái “mặt xanh nanh dài” lại lên, so với con quỷ đầu lần trước còn đáng sợ hơn nhiều. Nhưng hình ảnh ác quỷ giả dạng mỹ nhân là ám chỉ những “phần tử hữu khuynh”, rất có thể từ ám ảnh, sợ hãi mà chúng ta lại càng hiểu hơn về tàn nhẫn trong tư tưởng của phần tử quái hữu này. Việc mượn chuyện ma quỷ để gửi gắm những ý sâu xa từ đây lại trở thành “bút pháp độc đáo” trong nghệ thuật, đó chính là dụng tâm sâu sắc: Đừng nghĩ rằng tôi chuyện ma quỷ là chỉ để tới ma quỷ, mà qua chuyện ma quỷ tôi muốn tới chuyện con người, lấy ma quỷ để răn đe con người. Nhưng làm thế nào để biết người ta mượn chuyện ma để chuyện người? Đến năm 1959, để công kích lại phái phản động trong và ngoài nước, loạt những câu chuyện cổ vũ cho tinh thần “Bài trừ ma quỷ” đồng loạt xuất các diễn đàn. Cùng lúc đó, tư tưởng “mỗi người dạ” của các phần tử trí thức có cơ hội được bộc lộ ràng, vì thế những vở kịch nhưLý Tuệ Nương, Tạ Dao Hoàn[/I] lại có cơ hội được trình diễn. Trong vở kịch, Lý Tuệ Nương nguyền rủa Giả Tự Đạo, qua đó chỉ trích quốc vương Hải Thụy. Nhưng có vở kịch lại cổ xúy cho tư tưởng ca ngợi “loài ma quỷ vô hại”. Điều này chẳng phải là công nhiên đề xướng tư tưởng dùng ma quỷ để “chống đối Đảng” sao? ra khi tới chuyện ma quỷ, người đều có mục đích sâu xa cả. Và người cầm cờ khởi xướng là tác giả của tác phẩm ký tên Lương Bích Huy được đăng trênBáo văn hối[/I] của Thượng Hải, chủ đề ma quỷ vốn cấm kỵ, đến nay chính thức bắt đầu được thừa nhận, lúc đó là vào năm 1963. Có người cho rằng đây là cuộc “đại cách mạng trong văn hóa nghệ thuật” mà trước nay chưa từng có, góp tiếng “tước ngôi Hải Thụy” trong vở kịch trước đây. Điều đó cho thấy chủ đề “ma quỷ” chiếm giữ vị trí quan trọng như thế nào trong cuộc đấu tranh tư tưởng, có lẽ đó cũng là điều hi hữu từ xưa đến nay.

      Cho đến khi “kết thúc thời kỳ thái bình thịnh trị”, nhà vua vô cùng phẫn nộ, lệnh cấm ma quỷ bỗng trở nên nghiêm ngặt hơn. Nhưng có lẽ lệnh cấm đó còn hữu hiệu, vì ngay cả người có quyền lực cách mạng tối cao, thực tế đối với những nhu cầu cơ bản về vật chất và tinh thần của người dân cũng sao đảm bảo được, vì vậy quyền lực bị mất hoặc xoay chuyển cũng là điều dễ thấy. Sau năm 68, tôi về sống ở nông thôn. Ban ngày tôi chuyên tâm làm công việc phê bình, buổi tối lại chuyên tâm viết truyện ma quỷ, hai công việc chẳng có liên quan gì đến nhau nhưng lại cùng chung bối cảnh của công cuộc Đại cách mạng văn hóa. Những người dân sống quanh tôi, họ hoàn toàn chẳng hiểu gì về chuyện hồn ma và “cách mạng văn hóa” (Ngược lại, họ chẳng sợ cái gì cả, thậm chí họ còn tỏ thái độ khinh miệt, tinh thần mới, cách khác, họ cho những việc tôi làm chẳng khác nào là “chuyện rỗi hơi”). Nhưng những đề xuất nông cạn của tôi lại gặp gỡ họ ở cái “nhu cầu tâm linh” huyền bí. Đương nhiên tôi thể có cái tài làm cho ma quỷ sống lại, càng có năng khiếu dùng chuyện ma mà lấp đầy cái bụng trống rỗng của họ, chỉ là tích góp mỗi ngày chút ít kinh nghiệm từ trời đất, làm trận đại phê bình và với người cũng thích đấu tranh, nhưng ngược lại đạt được cảm giác thích thú như mong đợi. Thế chuyện ma quỷ để tìm cảm giác gì ở trong đó, chỉ là thú vị, kích thích, mà còn có cảm giác thể có trong thực tế, cảm giác khiến người ta vừa sợ hãi lại vừa thích thú đến mê hoặc. Nhưng cũng thể đề cập tới tác động của Cách mạng văn hóa, trong đó cũng khó tránh khỏi bộ phận thích thú, thậm chí là sợ hãi, như những oan hồn phục thù hoặc số loại tương tự.

      Mở lối cho những lệnh cấm chuyện ma quỷ, tất nhiên phải đến sau thời kỳ Cách mạng văn hóa, thậm chí nếu công khai chuyện ma quỷ còn phải đợi đến thời gian sau nữa. Trong ký ức của tôi, có lẽ phải đợi tới gần mười năm sau, Phùng Ký Tài tiên sinh mới viết cuốn tùy bút đưa ra đề xuất mang tính thăm dò: Có nên sâu nghiên cứu về vấn đề “văn hóa chuyện ma quỷ”? Sau này, nhà xuất bản ở Thượng Hải xuất bản cuốn tiểu thuyết dịch có tên làVăn hóa ma quỷ.[/I] Mặc dù “văn hóa u minh” của Trung Quốc và “văn hóa ma quỷ” của phương Tây là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt, nhưng tạo điều kiện cho những phong bế cấm kỵ nghiêm ngặt trước đây được dịp mở cửa hoàn toàn. Từ đó đến nay, những lệnh cấm đoán chuyện ma quỷ đương nhiên còn tồn tại, chỉ cần lên mạng và tra cứu dòng chữ “liên bồng quỷ thoại” là có thể thấy ngay tư tưởng được khai mở đến mức nào.

      Từ tôi thích nghe kể chuyện ma, vừa nghe vừa sợ, nhưng càng sợ lại càng muốn nghe, đến khi tôi biết đọc, biết viết, tôi liền tự tìm đến những cuốn sách ma để xem. Bây giờ có thể tự tin đọc được văn ngôn cũng chính là kết quả của thời niên thiếu ham thích những cuốn sách kiểuLiêu trai chí dị[/I]. Đọc nhiều truyện ma quỷ cũng giúp ta có thêm nhiều hiểu biết về thế giới u minh của người Trung Quốc, những câu chuyện xét về khía cạnh nào đó còn là biểu cho quan niệm về thế giới hồn, thế giới của người chết theo phong tục lâu đời trong dân gian. Vì những điều đó, mỗi tác phẩm như vậy ra đời chỉ là sản phẩm của cá nhân mà bao hàm trong đó là phản ánh nhiều kiểu quan niệm, suy nghĩ phức tạp về con người và thế giới, qua đó cũng có thể định hướng cách thống nhất giữa những quan điểm rối ren, phức tạp và đầy mâu thuẫn. Cái chung nhất có thể cảm nhân được chính là cảm giác trải qua nỗi sợ hãi sau mỗi câu chuyện ma thú vị, nỗi sợ hãi ám ảnh khác hẳn với cái sợ sệt vẫn thấy trong cuộc sống hằng ngày. cách hình ảnh hơn chính những câu chuyện ma quỷ ấy lại có thể giúp người ta có được thú vị sâu sắc tận trong tâm hồn. Do đến cái tuổi nhàn rỗi đến nhàm chán, cho nên nảy sinh cái thú vị chuyện ma quỷ làm vui.

      Mặc dù vậy nhưng để có được cuốn truyện ma được đăng tập san quả thực cũng phải chuyện dễ dàng, đó còn chưa kể đến lệnh cấm nghiêm ngặt ở . Nhưng điều thôi thúc tôi đến với những câu chuyện ma nhất chính là cảm giác kỳ ảo, ma quái, thể thành lời toát lên từ mỗi trang truyện. Quả thực có những thứ thực khó lý giải mà người ta chỉ có thể tìm thấy tính hợp lý của nó ở trong những câu chuyện hấp dẫn này. Vì thế, khi tôi thử đặt bút viết cuốn sách này, trong lòng cũng có nhiều điều e sợ, sợ mang rắc rối đến cho người biên tập, càng sợ gây thêm phiền phức cho gia đình. Cho nên khi gửi bản thảo rồi mà nghe tin bị gửi trả hay thông tin gì đó tương tự, tôi hề cảm thấy bất ngờ chút nào. Nhưng điều nằm ngoài mong đợi của tôi là tạp chíVạn Tượng[/I] những mạnh dạn chấp nhận mà còn hào phóng đề nghị mở chuyên mục kể chuyện ma báo. Nhờ có khích lệ đó mà chỉ trong vòng hai, ba năm tôi nỗ lực ngừng để có được số lượng lớn các câu chuyện ma. Trong thời gian kể , bên cạnh hỗ trợ đắc lực của tạp chíVạn Tượng[/I], tôi còn nhận được quan tâm, động viên của các độc giả, những người trẻ tuổi luôn mến và cổ vũ tôi để tôi có được nỗ lực và quyết tâm hoàn thành cuốn sách như ngày hôm nay. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất.

      nay, nhà xuất bản Văn học và Nghệ thuật Thượng Hải có ý định tập hợp những câu chuyện kể về ma này với những sáng tác có cùng chủ đề chuyện ma của những người bạn của tôi để xuất bản thành bộ sách. Đây thực niềm vinh dự lớn đối với tôi. Như vậy, những câu chuyện tản mạn về ma của tôi trong suốt hai, ba năm bao gồm cả những sáng tác chưa lần đăng tải tạp chíVạn Tượng, [/I]cũng được tập hợp và sắp xếp ấn định theo thời gian sáng tác, trong mỗi trang truyên có những câu từ còn chưa thực hoàn hảo, khi xem lại tôi điều chỉnh đôi chút ở bên dưới, sau này có thể cắt gọt bớt cho hàm súc. Đồng thời, trong quá trình viết truyện, khi viết xong mỗi chương đoạn tôi đều tạm thời dừng lại, sau khi lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc rồi mới quyết định nên hay nên viết tiếp, và nên lựa chọn viết như thế nào.

      LOAN BÁO QUẦN - ngày mùa thu năm 2009


      <img style="border: 0px solid #cccccc; clear: both; cursor: pointer; max-width: 560px; min-width: 10px; padding: 4px 0px 0px;" alt="" src="http://i363.photobucket.com/albums/oo75/shishi32_2009/1199_200803061011102jiYM.gif" border="0" />

      MsoNormal" style=" Chương 2: Lại về “Những thứ dưới nước”[/B]





      Đường lão nhân khi xưa viết cuốn sách bàn về “vạn vật sống trong nước”, cuốn sách nổi tiếng giới thiệu những loài “tôm, cá, cỏ, cây”. Chủ đề này thực gợi mở cho tôi nhiều suy nghĩ, vì thế cho nên tên đề mục mở đầu câu chuyện nhất thiết phải ràng cái ý “quỷ sông ma nước” mà chỉ cần gợi mở ra trong phạm vi rộng lớn của lớp ngôn từ có tính bao quát, vừa mơ hồ, lại vừa bí . Hơn nữa, cũng cần phải nhắc tới đặc thù hay nghiêm trọng của ma quỷ, mà chỉ cần tới vạn vật chung chung mà thôi. Nhưng hôm nay, vấn đề này lại được bàn luận cách chi tiết, tỉ mỉ hơn. Giả dụ câu chuyện mà chúng ta bàn tới ở đây được đặt típ chuyện giật gân “ chuyện về những con ma chết đuối” hay văn nhã hơn là “thuyết nịch quỷ [1] ”, điều này chắc hẳn rất khó tìm được tạp chí thích hợp để đăng tải. Vì thế mượn lối của tiền nhân và đưa thêm vào dấu ngoặc kép, người viết hề có ý gì sâu xa mà chỉ mong sao thoát khỏi được những mông lung, rối rắm trong nhan đề, để câu chuyện đến được với độc giả và nhận được đồng thuận, mến. Đương nhiên sau khi tháo gỡ được những khó khăn này, vẫn thể tránh khỏi nhiều ý kiến trái chiều, điều này cũng giống như khi sung sướng thưởng thức cá biển mà vẫn phải lo ngại về điều gì đó sâu trong dòng nước. Tuy nhiên, đó là những câu chuyện của sau này, còn thực tại vẫn rất khó để có thể vượt qua nỗi mông lung, hỗn độn này.

      [1] Thuyết nịch quỷ cũng có nghĩa là chuyện về những con ma chết đuối.[/I]

      Trong tác phẩm của mình, Đường lão nhân có đoạn dụng ý việc chuyên tâm chuyện ma quỷ của mình, trong đó có đoạn viết: “Tôi có ý muốn lấy ma nước là đề tài tiên phong cho tác phẩm của mình, chính đề tài này gợi ra nhiều hứng thú cho mọi người trong việc nghiên cứu, thẩm định nhiều phương diện.” Trong khoảng bảy mươi năm sau khi có câu này, biết có ai hứng thú làm công việc thẩm định, nghiên cứu về vấn đề này chưa, hoặc là sau những điều tra nghiên cứu cũng chưa thấy có ý kiến tranh luận gì. tóm lại, tôi vẫn chưa phát thấy có bài viết nào đề cập tới phương diện này. Thành phố tôi ở khi còn vùng sông nước phương Bắc, có ít sông, hồ, kênh, rạch chằng chịt, cho nên người dân nơi đây vẫn thường kể cho nhau nghe câu chuyện về những con ma chết đuối. Những câu chuyện ấy chỉ nhằm nhắc nhở trẻ con trong vùng được chơi đùa ở những chỗ gần sông nước. Mặc dù tôi còn nhớ những câu chuyện hồi ấy có đặc sắc như những câu chuyện ma vùng sông nước Giang Nam hay , nhưng đến bây giờ, mặc dù nước sông vùng Hoa Bắc cạn khô, lòng sông rộng lớn của mười mấy năm trước đây nay trở thành công trường thi công nạo vét, nhưng “vạn vật trong nước” ấy chính là những thứ được đào khoét nằm sâu trong lòng đất. Thành phố tôi sống bây giờ lại là nơi chẳng có lấy dòng sông hay con suối, và đương nhiên cũng chẳng có những câu chuyện ma như trước kia. Mấy năm về trước, để cải thiện tình hình, thành phố cho đào con sông nhân tạo, lòng sông được lát xi măng, hai bên bờ sông là những bậc thềm ngay ngắn, sườn dốc thoai thoải, nhưng hiểu vì sao, cứ sau ba đến năm bậc lại đột ngột hạ xuống mấy thước, kết quả là mấy năm liền đều có người bị rơi xuống nước chết đuối. Những ghi chép để lại về những vụ chết đuối ấy có lẽ cũng nhiều lắm, chủ yếu đều là những ghi chép tinh thần khoa học, nhuốm màu sắc mê tín dị đoan, cho nên cũng chỉ có mấy dòng tin tức, cảnh báo đăng rải rác các tạp chí, còn lại chẳng có gì được coi là dấu hiệu của những câu chuyện huyền bí về “người thế tội”. thao thao bất tuyệt hồi, mục đích của người cũng chỉ nhằm giải thích hai chữ “lại ” có trong đầu đề chương chuyện. Thực tế những chuyện đây cũng chẳng liên quan gì nhiều với những điều mà Đường lão nhân viết, chỉ là từ trong những câu chuyện ấy có chứa đựng vài thông tin thú vị về ma nước mà chúng tôi muốn bàn tới ở đây.

      Chết đuối có thể được coi là biểu phản ánh tiến hóa từng bước của con người, vì trong hành trình lên của nhân loại luôn luôn có những lối mòn và con người cứ theo cái lối mòn ấy mà . Chết đuối cũng là trong những lối mòn như thế. Lội nước trượt chân và lũ quét dữ dội đều là những điều mà tổ tiên chúng ta thể lường trước được. Đối với chúng ta, để có được khái niệm về hồn ma ràng cần phải có nhiều hơn những ghi chép về các vụ chết đuối, mà những hồn ma và những người chết đuối lại gặp gỡ nhau ở quan niệm trở thành cố hữu trong tín ngưỡng dân gian là người chết đuối bao giờ cũng phải kéo theo người khác rơi xuống nước để làm kẻ thế thân cho mình mới có tư cách tham gia vào vòng luân hồi của những kiếp “ma nước”. Từ trước đó, thi thể của người chết đuối có thể bị chôn vùi hay chìm nổi lênh đênh theo dòng nước lũ làm mồi cho cá dữ nhưng linh hồn của họ vẫn vẩn vơ nơi mồ mả hoặc men theo những người hợp duyên qua lại đường, những người chết này hầu như có trường hợp ngoại lê.

      Linh hồn của người chết đuối mà có danh tính, địa chỉ quê quán ràng, phần lớn đều được gọi với tên là “Phùng Di”. Cái tên Phùng Di này khẳng định đây là vay mượn tạm thời vì vốn dĩ đó là tên gọi của Hà bá. TrongHoài Nam Tử[/I] có đoạn viết: “Phùng Di đặc đạo, dĩ tiềm đại xuyên [2] ” Từ thời nhà Hán trở về trước, dòng sông lớn được nhắc tới ở đây chính là sông Hoàng Hà. Trong những tài liệu còn ghi chép lại được xuất câu chuyện lưu tryền trong dân gian về Phùng Di. Trong những câu chuyện ấy, Phùng Di lên là vị thần sông từ thời cổ đại vô cùng gần gũi với người dân vùng sông nước. Dường như vị thần sông ấy có nguồn gốc xuất thân từ người bình thường trong dân gian, chỉ sau khi tu luyện “đắc đạo” mới trở thành thần sông nước: “Phùng Di, người vùng Hoa Dương, đắc đạo trở thành thần sông.” Nhưng làm thế nào Phùng Di có thể đắc đạo thành tiên? Những ghi chép giải thích về vấn đề này lại hoàn toàn giống nhau, trong cuốn bốn truyện sưu tầm về thần thánh của Ca Bảo thời Đông Tấn hé lộ số thông tin được lưu truyền trong dân gian:

      Hoằng Nông Phùng Di là người vùng Hoa [/I] [3] , chết đuối trong lần qua sông vào ngày Canh Thìn tháng Tám. Thiên hoàng thương xót phong làm Hà bá cai quản vùng sông nước. Trong sách Ngũ hành cũng viết: “Hà bá chết vào ngày Canh Thìn. thể chèo thuyền qua sông, đắm thuyền mà chết.”[/I]

      [2] Có nghĩa là: Phùng Di tu luyện thành công về ở nơi sông lớn.[/I]

      [3] Tên địa danh ở tỉnh Thiểm Tây - Trung Quốc.[/I]

      ra, “đắc đạo” của Phùng Di xuất phát từ nguyên nhân chết đuối của ông ta. Nhưng lúc đó vẫn chưa thịnh hành thuyết “thi giải [4] ” thành tiên, ở đây ám chỉ chết đuối của Phùng Di. thực tế, ông ta rơi vào tình cảnh tai ương như vậy thực chẳng có gì may mắn cả, cũng chẳng phải thoát xác hóa thần hóa thánh gì hết. Vì thế việc chết đuối và “đắc đạo” là hai chuyện hề liên quan đến nhau. Vậy nhưng, tại sao Thiên hoàng lại phong tước cho ông ta là Hà bá? Để lý giải điều này người ta chỉ có thể dựa vào phỏng đoán. Đứng từ phương diện cái thiện mà sau khi Phùng Di qua đời, đảm nhiệm vai trò thần sông, xuất phát từ chính nỗi bất hạnh mà cuộc đời mình gặp phải, nên ông ra sức cứu giúp, bảo vệ người dân, tránh cho họ gặp phải tai nạn chết đuối. Đó là việc làm đầy thiện tâm. Nhưng đứng từ phương diện cái ác mà lý giải, theo thuyết Ngũ hành đưa ra lời khuyên cảnh báo tới những người chèo thuyền qua sông vào những ngày nước lớn phải hết sức cảnh giác, vì thời điểm đó chính là lúc Hà bá giận dữ sẵn sàng nhấn chìm bất cứ ai xuống vực nước sâu thăm thẳm. Tuy nhiện, trong tâm thức của con người, chúng ta vẫn tin vào tấm lòng thiện tâm của người quân tử, cho nên mỗi người dân vẫn thường nghi ngại mà nhận định rằng việc làm quen thuộc, giản đơn của thần Hà bá chính là bảo vệ, cứu giúp những người qua sông được an toàn. Có thể đưa ra ví dụ dễ thấy từ truyện Dinh tân phụ [5] trích từ cuối năm,Sưu thần ký[/I] [6] :

      dòng sông Hoài Nam từng xảy ra cái chết thương tâm của trẻ, vốn là thiếu nữ xinh đẹp, mười sáu tuổi xuất giá. Câu chuyện về nàng thương tâm! Sống ở nhà chồng, nàng bị áp bức, đánh đập đến nỗi thể chịu được. Vào đúng ngày mùng Chín tháng Chín, trong nỗi đau khổ, uất ức đến tột cùng, nàng tự tìm đến cái chết. Câu chuyện về người con bất hạnh ấy vẫn được người dân kể lại với nỗi thương cảm vô bờ. Trong những ghi chép của mình, Vu Chúc đưa ra lời khuyên: “Những người phụ nữ trong gia đình cần ghi nhớ trong ngày mùng Chín tháng Chín chớ nên làm bất cứ việc gì.”[/I]

      [4] Thi giải: có nghĩa là thoát xác.[/I]

      [5] Người vợ trẻ.[/I]

      [6] Những ghi chép, sưu tầm chuyện về các vị thần.[/I]

      oan hồn bị mẹ chồng đối xử tàn nhẫn mà chết, linh hồn hóa thành minh thần để bảo vệ những người phụ nữ bất hạnh, vị minh thần này cùng với oan hồn chết đuối chẳng phải cũng giống nhau ở hành động nhân nghĩa ấy sao?

      Nếu phỏng đoán này là đúng, thi Hà bá chính là oan hồn đầu tiên được phong thần. việc chết đuối mà hóa thành thần sông như thế, hàng ngàn năm sau, vào thời Nam Tống cũng lưu truyền trong dân gian câu chuyện nổi tiếng về Lý Hầu khi qua sông bị quỷ ám mà chết. Cũng giống như Phùng Di, ông ta chết đuối và cũng được phong làm thần trị thủy. ví dụ khác trongHữu đài tiên quán bút ký[/I], cuốn chín,Tiên giang nữ thần[/I] của Du Việt có đoạn kể về dân nữ họ Lưu sống ở huyện Hữu Tuyền, tỉnh Tứ Xuyên sau khi chết đuối: “Ở dòng sông Tiên Giang, mỗi khi có người rơi xuống nước thường có vị thần xuất cứu vớt. Vị thần này mỗi lần lên thường mặc chiếc áo trắng, dung mạo toát lên vẻ xinh đẹp của thiếu nữ còn xuân trẻ. Người ta cho rằng, rất có thể đó là linh hồn của người con họ Lưu kia. trải qua bao đời mà linh hồn người khuất vẫn lẩn khuất đâu đây, người dân vùng này gom góp tiền bạc xây dựng miếu thờ nàng, thành miếu còn ghi tạc dòng chữ “Tiên Giang thủy thần miếu [7] ”, lúc nào cũng nghi ngút khói hương.” Từ điều này có thể thấy, người dân sống vùng sông nước thường có niềm tin, hy vọng tuyệt đối vào sức mạnh của những vị minh thần phù hộ cứu giúp mình vượt qua khó khăn, hoạn nạn.

      [7] Nghĩa là: Miếu thờ thủy thần sông Tiên Giang. [/I]

      Nhưng cũng có những điều trái ngược với tín ngưỡng này, đó là tư tưởng “giang Trành [8] ”, linh hồn sau khi chết thường tìm đến lôi kéo những người khác vào chỗ chết đuối để làm người thế thân cho mình. Quan niệm “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” này được tới sớm nhất trong cuốn ba, truyện truyền kỳBắc mộng tỏa ngôn[/I] [9] của Tôn Quang Hiến, trong tác phẩm có đoạn viết:

      Lưu vực hai bên bờ những dòng sông lớn thường có nhiều oan hồn chưa siêu thoát vẫn về về dụ dỗ nhưng người qua lại ngã xuống nước, đắm thuyền mà chết, oan hồn người chết lại tiếp tục quẩn quanh dụ dỗ, hãm hại những người qua sông khác, tạo thành cái vòng luẩn quẩn đầy oan nghiệt.[/I]

      [8] Nghĩa là: Ma đưa lối quỷ dẫn đường.[/I]

      [9] Nghĩa là: Những ghi chép tản mạn về giấc mộng phương Bắc.[/I]

      Cũng vẫn tác phẩm ấy, trong cuốn bốn có đoạn ghi:

      Phàm là những người chết do hổ vồ, hay ngã nước linh hồn đều rất khó siêu thoát, họ thường vật vờ quanh quẩn tìm người thế mạng cho mình.[/I]

      Sau này, hai chữ “giang trành” còn được người đời sau sử dụng, thay vào đó học nhắc nhiều đến những chữ “oan hồn chết đuối”. Điều này đại khái là chỉ những kẻ chết đuối nếu tìm được người thế mạng đầu thai thành người được. thực tế, những oan hồn cần tìm người thế mạng chỉ có ở quanh ao, hồ, sông nước mà ngay cả oan hồn chết đuối dưới giếng cũng cần tìm người thế thân. TrongTiền thị tư chí[/I] của Tiền Thế Chiêu thời Nam Tống có đoạn viết:

      Vào thời Thiệu Hưng, Ngô Sơn Hạ có cái giếng lớn, mỗi năm đều có nhiều người rơi xuống giếng chết đuối. Thái úy Đống Đức cùng nhân dân hào phóng quyên góp tiền của xây cất giếng, có thể dùng thùng lấy nước, giúp hạn chế nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra, có người trước khi chết còn nghe thấy từ trong giếng vọng ra tiếng : “Các người luôn sợ hãi trước cái chết, chúng ta có khả năng cướp sinh mạng của các người bất cứ lúc nào.”[/I]

      Câu cuối cùng đó thực chất chỉ là thủ pháp “vẽ rồng thêm mắt” của người viết, rất có thể là ảnh hưởng từ truyệnTiếu lâm [/I]hoặc trích từ Phật môn. Còn đối với câu chuyện về oan hồn chết đuối, trong những cuốn tiểu thuyết từ thời Tống nhiều lần đề cập đến, tác dụng giáo dục mà những câu chuyện đó mang lại chính là khuyên mọi người đặc biệt lưu ý khi qua lại những khu vực ven sông, nơi từng có người bị chết đuối, những nên lội nước mà tốt nhất hãy tránh xa khu vực đó khoảng cách an toàn. Bài học có ý nghĩa cảnh báo đặc biệt với những ai sống trong khu vực nhiều sông, hồ, kênh, rạch.

      khi những hồn ma tìm được người thế thân, họ ra sức tìm cách lôi kéo, dụ dỗ, hoặc sử dụng những trò lừa gạt, bịp bợm, hoặc dùng chính nhan sắc để mê hoặc. Người viết cố ý nhấn mạnh và đưa ra lời cảnh báo tới những gia đình sinh sống ở ven sông, vì thực tế, phần lớn những hồn ma chết đuối đều có liên quan tới những vụ án sông nước, cho nên những linh hồn ấy nếu chưa được siêu thoát chẳng khác gì lũ thổ phỉ chuyên gieo tội ác, hãm hại người vô tội. TrongDi kiên giáp chí, [/I]cuốn bốnTưởng Bảo vong mẫu[/I] của Hồng Mại thời Nam Tống có đoạn kể lại cách súc tích, khúc triết và đầy sống động về vấn đề này:

      Phác Tưởng Bảo mình ngựa rong ruổi về quê, chìm đắm trong cảnh sắc thôn dã giữa đem khuya tĩnh mịch, bỗng từ phía sau tới giai nhân khoác mình bộ xiêm y trắng toát, cùng song hành tới bến nước trước mặt. Giai nhân mời mọc chàng cùng tắm tiên, nàng cầm vạt áo nhàng cởi ra, rồi từ từ ngâm mình xuống nước. Bất chợt vang lên tiếng gọi mơ hồ, ban đầu chỉ là những thanh vọng lại từ xa nghe , sau dần, nghe ai oán như lời khóc mẹ. Trong lời than khóc có hàm ý răn đe: “Đồng hành giả phi hảo nhân, thiết bất khả dữ dục[/I] [10” Lời vừa dứt, Phác Tưởng Bảo vội vã lội vào bờ, phi ngựa chạy thẳng đến nhà dân gần đó. Khi trấn tĩnh ngoái đầu nhìn lại chỉ còn thấy chiếc áo trắng phất phơ, mập mờ rồi biến mất.[/I]

      [10] Có nghĩa là: Người cùng phải là người tốt, tuyệt đối nên tắm chung.[/I]

      Câu chuyện nhằm đưa ra bài học đề cao cảnh giác, ý nghĩa của bài học này chỉ có tác dụng đối với nhân dân sống ở những vùng sông nước, mà suy rộng ra ở những nơi như tụ điểm cờ bạc, lầu xanh cũng có tượng “ma đưa lối, quỷ dẫn đường” dưới nhiều dạng thức khác nhau. Như vậy có thể , tác dụng giáo dục của những câu chuyện ma quỷ là thiên biến vạn hóa, có thể áp dụng vào nhiều trường hợp khác nhau trong cuộc sống, tuy chưa đầy đủ nhưng cũng có thể bổ sung cách phong phú và cụ thể hơn cho tư tưởng “thần giáo” theo quan niệm của dân gian.

      TrongTử bất ngữ[/I] của Viên Mai, cuốn ba,Thủy tiên điện[/I] có đoạn viết: chàng thư sinh, đường vào kinh hưởng bổng lộc vua ban, tình cờ gặp người áo đen, người này dùng hết lời ngon tiếng ngọt dụ dỗ chàng theo nàng ta xuống “Điện Thủy tiên” dạo chơi vãn cảnh. Khi cánh cửa sơn son thiếp vàng mở ra, từ phía tây hồ nổi lên cung điện uy nghi lộng lẫy, bên trong xuất vô số các cung nữ với xiêm y lộng lẫy say sưa trong lời ca điệu múa. Người áo đen chỉ tay và : “Kia là chốn bồng lai tiên cảnh, chàng hãy cùng ta ở lại đây ngắm nhìn các mỹ nữ, thưởng nhạc họa thơ, cuộc sống như vậy chẳng phải vui vẻ lắm sao?” Câu chuyện này còn ngụ ý lời khuyên sâu sắc gửi tới các bạn thanh niên trẻ tuổi nên ham mê quá đà vào những trò ăn chơi nơi vũ trường, quán xá. Với ý nghĩa đó, câu chuyện vượt qua cả giới hạn bó hẹp của phạm vi “kể chuyện ma quỷ” mà vươn ra tầm xã hội, mang đến những bài học giáo dục thiết thực nhất. Những câu chuyện ma quỷ được ghi chép lại trongHữu đài tiên quán bút ký [/I]có sử dụng rất nhiều yếu tố huyền ảo nhằm huyễn hoặc con người, chẳng khác nào dùng tấm màn che nhiều màu sắc che khuất tầm nhìn của người khác, khiến họ thể thấy được lối mà chỉ còn cách men theo những thanh vịn lan can chới với để qua cầu.

      Từ những hành vi ma quỷ đó, có thể thấy đây đều là những mưu xấu xa nhằm hãm hại người khác để chuộc lợi về mình, vì thế cả “giang trành” và “hổ trành [11] ” đều chẳng kém gì lũ lừa gạt, đê hèn, bỉ ổi, xấu xa… chúng đôi khi còn giống nhau ở ngay thủ đoạn và hành vi hại người. Như trongTùng song mộng ngữ [/I]của Trương Hãn ghi lại trường hợp hai thư sinh bị chết đuối sông. Để mình có thể được đầu thai luân hồi vào kiếp khác, họ đành phải hóa thành hai kiều nữ chốn “thanh y” hòng dụ dỗ những chàng thư sinh tuấn tú đồng môn của mình. Cho nên, điều bị coi là “ích kỷ” ở đây thực chất lại là những mong muốn chính đáng, lựa chọn nào khác buộc họ phải sử dụng những thủ đoạn tàn ác đẫm máu, đó chỉ là lựa chọn bất đắc dĩ của những hồn ma khát khao được luân hồi chuyển kiếp mà còn cách nào. Thành thử suốt khoảng thời gian mấy chục năm về trước, loạt những quy định nghiêm ngặt về “bạch phân chi ngũ” hóa ra đều là mong tìm được người thế mạng. Tuy nhiên, trong thời điểm đó cũng xuất những hồn ma cao thượng, chịu chấp nhận số kiếp lưu đày khổ ải mà cần thế thân. Câu chuyện của Vương Lục Lang trongLiêu trai chí dị[/I] chắc hẳn quá quen thuộc với mọi người, vì thương tình Vương Lục Lang mà Thiên đế ban cái chết cho làm oan hồn thế thân cho chàng ta, nhưng ngờ sau bao ngày tháng trông mong có vận may để đầu thai, siêu thoát, vậy mà đến lúc cần đưa ra quyết định, ta lại lựa chọn chấp nhận mãi mãi làm oan hồn lênh đênh chìm nổi mặt nước mà nhường lại cơ hội sống sót cho người con vô tội kia. (Câu chuyện này về sau còn được dùng để tới quan điểm về báo ứng ở đời, nhưng khi đưa vào “cảm ứng thiên bàng chứng” lại dùng để tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống). ví dụ khác trongHữu đài tiên quán bút ký, [/I]cuốn sáu, có kể lại câu chuyện về người chẳng may sa chân xuống nước mà chết đuối, mặc dù giống hành động của Vương Lục Lang, nhưng nhân cách của ta cũng được xem là cao thượng, vì bắt đầu từ giây phút ta lìa khỏi thế gian và chìm dưới đáy nước, ta cũng hề có ý định hại người hòng thế mạng cho mình, cho nên những hồn ma chết đuối ấy tất nhiên cũng được nhân dân coi thờ như những vị thần tốt bụng luôn bảo vệ cuộc sống của con người.

      Đối với những hồn ma tìm cách hãm hại người vô tội để thế mạng cách vô lý, Viên Mai, nhà thơ nổi tiếng đời Thanh cũng đưa ra nghi ngờ, trongViết tiếp tử bất ngữ, [/I]cuốn ba,Đả phá quỷ lệ [/I]có đoạn viết:

      Đêm khuya thanh vắng, chàng thư sinh họ Lý say sưa đọc sách bên dòng suối cạnh nhà, bỗng từ xa vẳng lại giọng đầy ma mị: “Ngày mai có người qua sông, và thế thân cho ta.” Ngày hôm sau, quả nhiên có người qua sông, chàng thư sinh họ Lý bèn tìm cách ngăn ta lại.[/I]

      Đêm về, hồn ma hôm trước đến trách mắng: “Nhà ngươi cớ sao lại ngăn cản việc ta tìm người thế thân?” Chàng thư sinh họ Lý đáp: “Vạn vật đều có quy luật luân hồi, tại sao ngươi chờ đợi đến kiếp luân hồi mà nhất nhất phải tìm người thế thân cho mình?” Hồn ma đáp lại: “Lệ thường dưới phủ trước nay đều như thế, ta cũng thể làm khác. Ta đâu có được may mắn như người sống giữa chốn trần gian, học được cấp lương, được làm quan, chức quan còn trống tất nhiên có người được bổ khuyết, ngươi nghĩ xem như vậy chẳng phải là quá may mắn hay sao?” Chàng thư sinh họ Lý đáp: “ như ngươi quả là nhầm lẫn quá rồi! Học trò học được nhà vua cấp lương thảo, quan lại được hưởng bổng lộc vua ban, người dân trong thôn cùng xóm vắng ai nấy đều có phần, vậy chẳng thể là lãng phí, tất cả đều có định mức được quy định ràng, thể là việc làm tùy tiện, bất đắc, bất nhiên được. Hơn nữa cuộc sống trần gian và địa phủ, giữa và dương vốn khác xa vời vợi, tự sinh tự diệt, mình làm mình hưởng, vì thế tạo hóa chỉ có công quản lý của cải và phân chia công bằng cho tất cả mọi người mà thôi.” Hồn ma lại : “Vậy với kẻ quân vương, hai chữ thịnh suy, thế ngôi giải thích làm sao?” Lý đáp: “Nhà ngươi còn hỏi tới chuyện thế ngôi sao? Các vương triều thay thế nhau là điều tất yếu của lịch sử, việc nhà ngươi đến để kéo ta làm người thế thân, lại còn hỏi ta về việc luân vương, chẳng khác nào mắng người trước mặt.” Hồn ma cười lớn, nhảy múa mà , từ đó thấy quay lại nữa.[/I]

      Viên Từ tới ma quỷ mà tin ma quỷ, trong những câu chuyện cổ dân gian vẫn thường thấy có những cách hỏi vặn như vậy, qua đó hàm rất nhiều những kiến giải đặc sắc về cuộc sống, con người, về nhân tình thế thái. Ông đưa ra ví dụ về chuyện ma quỷ ở thế giới địa phủ, nhưng từ chuyện cõi mà người ta có thể dễ dàng hình dung, liên tưởng tới cõi dương, đây là dụng ý lấy chỉ dương của người viết. Mục đích của câu chuyện phải là chuyển luân vương mà là chính chúng ta, những con người sống trong thế giới thực tại.

      Nhưng tại sao chúng ta lại có cơ sở khoa học lý giải điều này mà phải mượn cớ hồn ma đáng thương tự tìm đến phiền phức trong câu chuyện để gửi gắm suy nghĩ của mình? Quả thực, ngay cả những gợi dẫn từ trong câu chuyện dân gian, Viên Tử cũng mới chỉ đưa ra những gợi ý cho những nghiên cứu sau này. Khiêm nhường đưa ra cách lý giải xuất phát từ căn nguyên của câu chuyện này để gửi thông điệp cảnh báo tới mọi người nên tránh xa những mép nước nguy hiểm. Ngoài ra, thông qua câu chuyện này, người viết còn muốn đưa ra lời cảnh báo thứ hai, lời cảnh báo dành cho những ai có ý định nhảy sông tự tử, đừng coi thường mạng sống của mình, cách khác chính là ông lên tiếng phản đối những suy nghĩ tiêu cực muốn tìm đến cái chết hòng trốn tránh cuộc đời. Tất nhiên, với những hồn ma tự vẫn như vậy ít có nhiều liên quan đến nguyên nhân do cuộc đời đưa đẩy.

      Quả thực, những tài liệu nghiên cứu có thể phản ánh phần nào cách chân thực hoàn cảnh lịch sử của thời đại. Những câu chuyện về “nịch quỷ cầu đại [12] ” xuất muộn nhất vào cuối đời Đường. Nếu so sánh với những câu chuyện về “ải quỷ cầu đại [13] ” xuất vào thời Nam Tống là xuất sớm hơn mấy trăm năm. Từ những ảnh hưởng khách quan, có thể thấy, so với “ải quỷ”, “nịch quỷ” có tác động xấu, phá hoại và làm ô nhiễm môi trường sinh thái của chúng ta, vì thế đối với “nịch quỷ”, mọi người thường có thái độ phản cảm. cách mang tính chất thăm dò mặc dù trong lịch sử có nhiều người chết vì treo cổ hơn những người chết vì chết đuối, nhưng có vẻ như càng về sau này số vụ chết đuối ngày càng tăng. Vấn đề đặt ra là có nên nâng cao trình độ “thuyết phục” bộ phận những người có suy nghĩ coi thường mạng sống muốn nhảy sông tự vẫn sang treo cổ tự vẫn? Về vấn đề này khó để đưa ra những con số thống kê chính xác, chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở vài suy nghĩ mang tính chủ quan như vậy.

      [12] Hồn ma chết đuối tìm người thế thân.[/I]

      [13] Hồn ma treo cổ tìm người thế thân.[/I]

      lại, dù sao dám cả gan đề cập đến những vấn đề này cần phải có thái độ dứt khoát, hoặc là làm hoặc là . khi nhắc đến hồn ma chết đuối phải thêm về những linh hồn vì treo cổ tự tử mà chết. đây nhắc tới “ải quỷ cầu đại”, cũng nên hơn về chủ đề này.



      Hồn ma treo cổ[/B]


      <img class="aligncenter" style="border: 0px solid #cccccc; clear: both; cursor: pointer; max-width: 560px; min-width: 10px; padding: 4px 0px 0px;" alt="" src="http://i363.photobucket.com/albums/oo75/shishi32_2009/1199_200803061011102jiYM.gif" border="0" />

      TrongDuyệt vi thảo đường bút ký [/I]của Kỷ Vân dẫn câu chuyện về tên côn đồ, qua đó phân biệt hai loại hồn ma, loại chết chìm dưới giếng, loại khác treo cổ tự vẫn, cả hai hình thức tìm đến cái chết đó đều cần phải đắn đo vì chẳng ai có thể biết lựa chọn nào là thích hợp.

      TrongĐường ngôn [/I]có câu : “La bặc bạch thái các hữu sở ái [14] ”, câu khác cũng có ý nghĩa tương tự: “Đầu hà thượng điếu, các hữu sở hiếu [15] ” Tại sao lại có những người dễ dàng tìm đến cái chết mà biết trân trọng cuộc sống của mình? Tất nhiên phải tìm đến con đường lối thoát như vậy cũng có nhiều nguyên nhân từ hoàn cảnh đến tâm lý, nhưng nghĩ kỹ lại còn có nguyên nhân khác xuất phát từ chính “ thoải mái” trong quá trình đơn giản hóa cuộc sống và cái chết, nên những người tự tử ngày càng gia tăng trở thành điểm nóng của xã hội.

      [14] Ngay cả loài củ cải trắng còn có tình .[/I]

      [15] Cúi đầu mặt sông xót thương người chết cũng là biểu của tình thương .[/I]

      biết là bắt đầu từ khi nào, thắt cổ tự vẫn trở thành phương thức thường dùng nhất của những người muốn tự sát. Mặc dù, đó phải là cách thể “oanh liệt” nhất, nhưng thể nghi ngờ đó là hình thức tiện lợi và nhanh chóng nhất. Và đó cũng là hình thức thường dùng của các vị hoàng đế ngày xưa. Thời Xuân Thu, Sở Linh Vương, Ngô Vương là những vị hoàng đế cao quý lựa chọn đến với cái chết bằng cách treo cổ tự vẫn bên gốc cây đỉnh Vạn Tuế sơn. Còn đối với những người dân thường, trongTự quái đông nam ký[/I] có miêu tả, từ những ngôi nhà tranh ven sông thường vọng đến những thanh thảm thiết, đó là tiếng khóc thương, than vãn của những người dân thường khi họ tới bước đường cùng buộc phải tìm đến cái chết xà nhà để giải thoát cho chính mình.

      Ở thời cổ đại, hình thức tự sát ràng phải là “cái mốt đa dạng” theo kiểu “quang điện hóa khí” như thời đại, nhưng cũng có vài hình thức để lựa chọn. Vậy mà cách họ tự sát cũng oanh liệt chẳng kém gì Sở Bá Vương hay Vưu Tam Thư. Bởi lẽ ở họ có dũng khí, có lợi hại mà người bình thường thể có, khi nhảy lầu, lúc lại rơi từ đài cao xuống… Hình thức tự sát ở thời cổ đại cũng có những đặc quyền nhất định, trong đó mức thấp nhất chính là hình thức bêu xấu khán đài, rồi ép uống thuốc độc, nhốt vào nhà lạnh hoặc xông khói độc… đến những phí tổn do các hình thức tự sát này gây ra, ràng thời nay chúng ta thể dễ dàng theo được cha ông ta về “tinh tế” và “mức độ sáng tạo” như thế. lại, lựa chọn hình thức tự vẫn treo cổ hay nhảy sông vẫn đỡ tốn kém chi phí nhất. Hơn nữa, hình thức treo cổ lại câu nệ về mặt thời gian, địa điểm hay bị người ngoài xoi mói, bắt bẻ nhiều điều. cách khác hình thức này vốn bị phụ thuộc vào địa hình, địa thế, chỉ cần chuẩn bị sợi dây đủ đỡ trọng lượng cơ thể mình là có thể đạt được mục đích rồi. Từ những điểm có thể thấy treo cổ tự vẫn vẫn là hình thức tiện lợi mà từ những người bình dân đến dòng dõi quý tộc thường lựa chọn mỗi khi muốn tìm đến cái chết.

      số lượng những người tìm đến cái chết là những kẻ nghèo đói và những người sống trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc. Trong sách cổ thường có số lượng lớn ghi chép về nỗi tuyệt vọng của những người buộc phải lựa chọn cho mình con đường chết. Đó là những người dân chạy loạn do chiến tranh hoặc những người dân lầm than cơ cực vì khổ sai lao dịch. con đường đầy bất hạnh ấy, cứ cách mười bước chân lại có người đói khát treo mình cành cây. Thảm cảnh này thực là quá sức tưởng tượng. (Đương nhiên, nếu như có vương triều cho người dân cái quyền tự do giải thoát mình khỏi cái đói, cái khổ của cuộc sống bằng cách tự vẫn cũng chỉ là hình thức lấp liếm qua quýt để phô ra cái vẻ tốt đẹp bề ngoài mà thôi.) đến thời kỳ loạn lạc, có thể dẫn ra đây đoạn ghi chép từ cuốn bảy,Quang Châu binh mã trùng[/I] trongDi kiên chi chí quý tập:[/I]

      Quang Châu (tức Hoàng Xuyên, Hà Nam ngày nay) trải qua thời kỳ chiến loạn bi thảm, tàn khốc trong lịch sử. Binh đao khói lửa vô tình khiến bao người dân vô tội chết thảm. Trong hoàn cảnh đó, nhiều hùng nhân kiệt như Thuần Hi Sơ, Trương Nhiễu Trịnh tìm mọi cách trấn thủ địa phận quận huyện mình cai quản. Thậm chí họ còn cho xây dựng hành lang trấn thủ kiên cố, vững chắc ở phía tây thành. Hỏi sai dịch của quan lại nhận được câu trả lời: “Những kho kiên cố đó đến nay chưa mở cửa lần.” Trong suy nghĩ Trịnh Tố Tham ắt có tư tưởng phục quốc. Đạp đổ xiềng xích, gông cùm, gươm đao… đó đều là những tư tưởng lệch lạc làm tổn thất đến lợi ích quốc gia nên thể tin dùng. Hệ lụy xảy đến là hàng vạn người treo mình xà nhà tự vẫn. Có người ghi lại: “Thời buổi loạn lạc, người dân chạy loạn kín đường, họ tự tìm cách giải thoát cho mình bằng sợi vải tơ thắt cổ tự vẫn.”[/I]

      Hàng vạn người treo cổ tự vẫn xà nhà, con số này quả thực có sức mạnh tố cáo ghê gớm. Điều này trở thành tượng” vô cùng kỳ lạ. Lần lượt hàng vạn người treo mình tự tử tạo nên tình cảnh thảm thương, bi đát, xót xa đến cùng cực trong lịch sử Trung Hoa thời đó.

      Mặc dù phần lớn những người tự vẫn đều thuộc tầng lớp dân đen con đỏ, những người rơi vào vào cảnh sống lầm than cơ cực, lối thoát, nhưng đứng phương diện lịch sử mà đây quả thực là giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước. bộ phận những người tìm đến cái chết thời kỳ này là những trung thần hết mình vì đất nước, những liệt nữ kiên trinh tìm đến cái chết để bảo vệ phẩm giá cao quý của mình. Hành động ấy của họ tiêu biểu cho những con người trung nghĩa, chính trực trong vương triều, đối lập với những cái chết đê hèn của kẻ thất phu tiểu nữ chỉ bôi nhọ thêm cho nền thống trị vốn dĩ là linh thiêng thần thánh theo kiểu “tự kinh ư câu độc nhi mạc chi tri dã [16] ”.

      [16] Theo Luận ngữ.[/I]

      Đặc biệt thời kỳ Tống, Nguyên sau này, khi cái lý học dần dần thấm nhuần trong tư tưởng của quần chúng nhân dân vấn đề tự sát được biểu dưới những hình thức, thậm chí là những thủ đoạn đơn giản mà tinh vi hơn rất nhiều nhằm bảo vệ cái gọi là trung nghĩa, tiết liệt của người quân tử. Và dường như người ta cũng ưa lựa chọn cái “long xà” làm nơi thực hành động treo thân mình tự sát để bảo vệ danh phẩm của mình. (Tất nhiên đây là việc làm của những người có thân phận cao quý trong xã hội.) Họ tìm đến hình thức tự sát này chẳng những để bảo vệ danh giá của gia tộc mà còn vì Tổ quốc. Mặc dù họ chết nhưng vẫn còn thế hệ con cháu sau này cung kính mà tưởng nhớ. Những hành động lập cờ biểu, lập bàn thờ, lưu danh sử sách đều là những thủ đoạn của những người đương quyền trong tại hay quá khứ nhằm đề cao, tán dương những thứ được gọi là đạo đức hoàn thiện theo kiểu “dị dạng” đó. Thành thử hình thức này trở thành hành động “diễn trò” tồn tại trong suốt mấy triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Khi Sùng Trinh lên ngôi hoàng đế đưa ra lệnh chỉ những người thân cận, gần gũi nhất với mình mới được phép diện kiến, song hành cùng với nhà vua, còn những kẻ khác có cơ hội này. Tin tức truyền đến, số trung thần lũ lượt tìm cách treo mình lên xà nhà quyên sinh nhằm phản đối. Với hành động ấy, lẽ đương nhiên những người này được ghi danh trong sử sách. trường hợp khác, người mẹ khi biết con rể chết, người con còn xuân trẻ của mình buộc phải thủ tiết thờ chồng vô cùng khốn khổ. Bà đắn đo suy tính, hoặc là khuyên con nên bỏ cái chữ tam tòng, mặc kệ việc đánh mất danh tiết mà bước nữa, hoặc là giữ lấy hai chữ tiết trinh mà khuyên con mình treo cổ tự vẫn để trở thành tấm gương liệt nữ và được người đời sau truyền tụng, ngợi ca, lưu danh sử sách. Trong lịch sử những trường hợp như thường thấy rất nhiều.

      Cho nên, dù có số liệu thống kê cách tuyệt đối nhưng nhìn cách khái quát có thể quả quyết rằng treo cổ là phương thức tự vẫn được con người lựa chọn nhiều nhất trong lịch sử từ cổ chí kim. Mặc dù vậy nhưng ở thời cổ đại, khoảng thời gian rất dài có hồn ma treo cổ nào được quan tâm cách đặc biệt. Chính vì vậy, có thể thấy loại hồn ma treo cổ xuất tương đối muộn. Sau này, những người treo cổ tự vẫn vào các câu chuyện ma quỷ cách rất tự nhiên, như ác ma đội lốt thái tử trongTả truyện [/I]hay người con họ Cung trong câu chuyệnHồng diệp truyền thi [/I]trích từBắc mộng tỏa ngôn [/I]xuất thời kỳ Ngũ Đại. Nhưng tất cả những linh hồn chết do thắt cổ tự vẫn này thường đều trở thành những linh hồn kỳ dị. Do những quy định nghiệt ngã của gia tộc chia cắt mối tình trong sáng giữa người con họ Cung xinh đẹp và chàng thư sinh Lý Nhân thông minh, tuấn tú. Tuyệt vọng, đau khổ vì tình tan vỡ, nàng tìm đến cái chết. Nhưng:

      Sau khi chết, linh hồn người con họ Cung vẫn vấn vương, rời chàng thư sinh họ Lý. Vài năm sau, Lý Nhân đột nhiên lâm bệnh nặng. Gia đình thuốc men tìm người chạy chữa khắp nơi vẫn khỏi. hôm, có vị đạo sĩ già qua, người nhà bèn mời vào xem bệnh. Đạo sĩ phán “Người này có tà đeo bám” nên sắp cho mấy lá bùa hòng xua đuổi tà ma. Từ khi có những lá bùa yểm bên người Lý Nhân, linh hồn người con họ Cung còn chỗ đeo bám đành phải cáo từ ra .[/I]

      Xem ra linh hồn treo cổ tự vẫn ấy những đa tình mà còn vô cùng lương thiện. Nhưng xét về diện mạo bên ngoài hay tính cách bên trong của người con họ Cung kia so với những hồn ma khác cũng có gì khác biệt. Ngay cả việc dùng khí thâm nhập vào người ở dương thế cũng là chuyện rất đỗi tự nhiên như những hồn mà khác vẫn thường làm. Tất nhiên, trong những câu chuyện viết về đề tài ma quỷ thể thiếu những chi tiết được người viết cường điệu hóa cách đặc biệt. Đó là những yếu tố kỳ ảo làm nên nét độc đáo, cuốn hút cho từng câu chuyện. Và truyện về người con họ Cung dẫn ra đây cũng phải là trường hợp ngoại lệ.

      Nhưng để hình ảnh hồn ma treo cổ tự vẫn trở thành đề tài được định danh trong lịch sử các câu chuyện cổ ít nhất chúng ta cũng phải vượt qua được nỗi sợ hãi đơn thuần trước những câu chuyện ma quỷ đó. Đứng từ phương diện văn hóa mà nhìn nhận có lẽ bắt đầu từ thời Nam Tống, trongDi kiến chí, [/I]yếu tố ma quỷ chính thức xâm nhập vào trong các câu chuyện cổ. Tôi cho rằng tượng này ít nhiều có liên quan đến những hạn chế nhất định trong khả năng trị quốc của triều đình đương thời, do đó có thể lý giải phần nào nguyên nhân khiến cho số lượng các vụ treo cổ tự vẫn ngày gia tăng trong xã hội thời kỳ đó. Tuy nhiên, điều này chúng ta từ từ bàn đến sau.

      Hình ảnh những hồn ma treo cổ tự vẫn trong Di kiên chí đương nhiên vẫn giữ được vẻ bề ngoài xinh đẹp có sức cuốn hút, hấp dẫn như những hồn ma thời Đường. Chắc hẳn nếu có được dung mạo mê hoặc như thế làm sao có thể dụ dỗ những kẻ si tình say đắm đến điên đảo. Tất nhiên, trong số đó hi hữu cũng có những hồn ma treo cổ mà có được vẻ bề ngoài hấp dẫn. Có những đôi lứa nhau nồng thắm, nhưng khi người bị vạch trần thân phận thực là hồn ma treo cổ họ thành ra xa lạ, trở mặt thành thù, rồi xuất những tình cảm oán hờn lẫn nhau. Có thể thấy, từ thời Nam Tống trở , mặt “Ác” trong những hồn ma treo cổ dần dần bộc lộ. TrongDi kiên ất chí, [/I]quyển hai mươiĐồng ngân tượng[/I], có đoạn miêu tả lại cảnh đối đầu giữa hồn ma treo cổ và người tình sau khi trở mặt nhau: “Từ xà nơi chính giữa gian nhà, hai hồn ma cùng thè ra hai cái lưỡi dài hơn hai thước để tiêu diệt lẫn nhau.” Hình ảnh hai cái lưỡi dài dữ tợn lao vào tương tàn, sát hại lẫn nhau quả thực từ trước đến nay chưa bao giờ có trong lịch sử văn học.

      Với tư cách là loại hồn ma hung dữ, hình ảnh “lệ quỷ” trở nên rất đáng thương nhưng cũng vô cùng đáng sợ. Đương nhiên, hình ảnh này có liên hệ mật thiết với dung mạo người chết khi treo cổ tự vẫn: lưỡi thè ra, mắt nhìn trừng trừng vẻ hung dữ, cổ ngoẹo sang bên, tóc thả rũ rượi… Từ những hình ảnh trong thực tế đó, khi bước vào các câu chuyện ma quỷ bao giờ cũng có khuếch trương, phóng đại đến mức nào, bao giờ người viết cũng dụng công miêu tả chi tiết cái lưỡi như điểm nhấn thể thiếu khiến hình ảnh người chết lên thêm phần rùng rợn, kinh hãi.

      Cũng bắt đầu từ thời Nam Tống, xuất số câu chuyện về những hồn ma treo cổ thể đầu thai chuyển kiếp. Những hồn ma ấy mãi mãi nằm sâu trong lòng đất, giữa chốn u minh tăm tối, tĩnh mịch, lạnh giá.Di kiên chi chí canh tập, [/I]cuốn sáu với tên gọiXứ Châu khách điện, Tam chí dân tập, [/I]cuốn chín mang tênTiêu dân kiến hồ nhất ti,[/I] hay trongTam chí dã tập, [/I]cuốn bốn có tênPhó cửu Lâm tiểu nữ[/I]… đều ghi chép lại những chuyện có liên quan đến vấn đề nêu . Linh hồn những người treo cổ tự vẫn khi thể đầu thai họ chỉ có thể lưu lạc giữa chốn trần gian mà gây chuyện, quấy phá làm hại dân lành. Những linh hồn ấy phải đợi đến khi có người trần làm công đức thờ cúng, làm lễ giải hồn mới có cơ hội chuyển thế đầu thai kiếp khác. Nhưng điều làm chúng ta băn khoăn là tại sao có những người nguyện treo cổ tự vẫn để giữ gìn phẩm giá sáng trong, để giữ vững cái đạo trung, hiếu, tiết nghĩa của người quân tử, hay cả những kẻ đáng thương vì may rơi vào hoàn cảnh trớ trêu, phải tới bước đường cùng tự tìm đến cái chết, họ khi còn sống hoặc là những kẻ đáng thương, hoặc là những người đáng kính, vậy tại sao khi chết, những vong hồn ấy đều khiến người dân sợ hãi, thậm chí là ghét bỏ đến như vậy?

      những thế, thời gian rất lâu sau, đến triều đại nhà Minh lại xuất hồn ma treo cổ tự vẫn bắt buộc phải có “Cầu đại [17] ” mới có thể đầu thai chuyển thể được. Thẩm Đức Phù trongVạn lễ dã hoạch biên [/I]có đoạn viết: “Theo truyền thuyết, hễ có người treo cổ tự vẫn ắt phải tìm người khác thế mạng cho mình mới có thể đầu thai sang kiếp khác.” (Điều này cũng được đến trong cuốn sách khác có tên làLiễu phàm tứ huấn[/I]) Có lẽ chính nguyên nhân này khiến cho những hồn ma treo cổ càng trở nên đáng sợ hơn với con người nơi dương thế. Và tất nhiên, để có thể đầu thai chuyển kiếp được, những hồn ma này tiếc dùng những thủ đoạn lừa gạt, dụ dỗ thậm chí là cưỡng ép người khác tự tìm đến cái chết xà nhà hiu quạnh. Cho dù khi còn sống những hồn ma này là những người trung nghĩa, lương thiện, nhưng khi chết tất cả những phẩm chất ấy thay đổi hoàn toàn, họ trở thành con người ích kỷ đến độ vô liêm sỉ. Viên Mai trongTử bất ngữ,[/I] cuốn mười sáuLiễu như thị vi lệ[/I] [18] ghi chép lại những điều mờ ám trong nhân gian: những hồn ma treo cổ chỉ dụ dỗ con người ta đến quyết định tự tìm cái chết xà nhà, mà còn xui khiến rất nhiều người dân treo cổ hàng loạt. Những hồn ma khi còn sống có nhân phẩm, tướng mạo trong sáng, tuấn tú còn như vậy, huống hồ những bọn chuyên làm hại người khi sống, chuyện khi chết có lẽ cũng chẳng cần bàn luận thêm.

      [17] Tức là người dương thế cầu khẩn cúng tế.[/I]

      [18] Liễu rủ như lệ.[/I]

      Dưới ngòi bút tinh tế, sắc sảo của Viên Mai, những câu chuyện ma quỷ được kể bao giờ cũng chứa nhiều bài học nhân sinh sâu sắc. Theo nhà văn, những hồn ma treo cổ tự vẫn mà linh hồn chưa siêu thoát vẫn thường lang thang khắp chốn dương gian để tìm người thế thân phù hợp với mình, phần lớn đều là những kẻ thất phu, tiểu nữ, nhân cách rất đỗi bình thường. Ngay cả cái chết của họ thực chất cũng chẳng khác gì cái chết theo kiểu “Tự kinh câu hách giả [19] ”. Cho nên, nếu như Thượng Đế khai ân cho những kẻ chết đuối, cho họ hưởng đặc ân sau khi chết được luân hồi chuyển thể mà nhất thiết phải thờ cúng, hương khói, cầu nguyện, những hồn ma treo cổ tự vẫn kia cũng cần được đối đãi như vậy. Thậm chí số trường hợp đặc biệt cũng được phong là minh thần hoặc thần thổ địa. Như vậy, suy nghĩ của Viên Mai hình thành giấc mộng đẹp về bình đẳng trong việc phân chia những đặc quyền đặc lợi giữa các linh hồn chưa siêu thoát. Tuy nhiên, theo kiến giải của chúng tôi, nhà thơ Viên Mai nên đưa ra quy định ràng, đối với những dân nữ bình thường cũng phải hương khói chu toàn mới có thể được siêu thoát, nếu “giấc mộng đẹp” kia rất khó được tán thành.

      [19] Chẳng may rơi xuống nước mà chết đuối.[/I]

      Từ thời Nam Tống đến nay, những hồn ma treo cổ tự vẫn được liệt vào các loại hồn ma “lách sách”. Vốn khi còn sống họ tìm đến cái chết thê lương, đau đớn là thế, vậy mà khi chết họ lại trở thành hồn ma chuyên làm những việc mờ ám, ác độc, sau này bị phạt được đầu thai chuyển kiếp. Tất cả những điều này nên lý giải ra sao?

      Người treo cổ tự vẫn trước đây phần lớn đều vì đói rét cơ hàn mà phải đến bước đường cùng là tự tìm đến cái chết. Nhưng từ thời Nam Tống trở lại đây, đa số những hồn ma treo cổ lại là các hùng, liệt nữ. Có người treo cổ trong hoàn cảnh binh đao loạn lạc, có người treo cổ vì chồng chết nên thủ tiết theo chồng, có người tìm đến cái chết để giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắt với vị hôn phu chẳng may qua đời, có người vì bị cưỡng hiếp, uất ức mà treo cổ tự vẫn, có người vì miệng lưỡi thế gian hiểm ác buộc phải tìm đến cái chết để giải thoát cho chính mình… Muôn hình vạn trạng những lý do khác nhau đưa đẩy con người ta đến với cái xà nhà lạnh ngắt để tự kết liễu đời mình. tượng này gây ảnh hưởng lớn đến việc hình thành quan niệm “tiết liệt dị dạng” ngày càng lan tràn trong đời sống xã hội, khiến cho hình thức treo cổ tự vẫn trở thành phương thức được lựa chọn nhanh nhất của những người vốn coi rẻ mạng sống của mình. Đối với triều đình thời đó, treo cổ tự vẫn góp phần tô điểm cho cái xã hội giả dối, bất lương. Với những người treo cổ khi còn sống họ bị ghẻ lạnh, coi thường, đến khi chết họ lại được triều đình liệt vào hàng trung thần liệt nữ, lập gian thờ thắp hương, thờ cúng trang trọng. Còn đối với gia đình, người thân và cả xã hội đó lại là tổn hại ghê gớm đánh vào tâm thức của mỗi con người. Tự đáy lòng mỗi người dân, những con người coi rẻ mạng sống tự tìm đến cái chết vẫn được họ xem là tai nạn đáng thương tâm may xảy đến với mỗi gia đình. TrongHữu đài tiên quán bút ký, [/I]cuốn có đoạn viết:

      Huyện Quảng Đông Hoa có ngôi làng . Người dân ở ngôi làng đó sống vui vẻ, quây quần bên nhau. Từ ngôi làng về phía thành phố khoảng hơn mười dặm, có con sông , nước chảy xiết, xanh biếc vắt ngang qua. Nối hai bờ sông là cây cầu sắt. Bên bờ có tảng đá dáng vẻ rất giống ông lão biết đứng đó tự bao giờ. Mọi người trong thôn đều gọi đó là “Kiều đầu thổ địa thần [20] ”, hương hỏa rất cẩn thận. Sau này, trong làng có sáu người con đều ở vậy lấy chồng, hôm, họ cùng hẹn nhau đứng cây cầu mà nhảy sông tự vẫn. Từ đó, người dân nơi đây truyền tai nhau câu chuyện bi thương về sáu người con độ xuân ấy. Mặc dù có thần thổ công đứng bên cầu mà vẫn thể bảo vệ họ thoát khỏi cái chết chìm bi đát. Thấy vậy, người dân nơi đây dần dần phá bỏ tục lệ thờ cúng tảng đá bên sông.[/I]

      [20] Thần thổ công đứng ở đầu cầu.[/I]

      Cả sáu người con cùng “thủ chí” đồng lòng tìm đến cái chết khi còn xuân trẻ, xét từ phương diện đạo đức điều đó tất yếu gây nên tiếng vang lớn, khó quên trong tâm thức người dân làng. Từ đó, nhân dân ngày đêm hương khói, cầu nguyện cho linh hồn họ sớm siêu thoát đầu thai kiếp khác, và mãi truyền tai nhau câu chuyện thương tâm này. Nhưng cũng phải thấy điều trong trường hợp này, cho dù là thần thổ công cũng có cách nào ngăn cản hành động tự sát bất ngờ và có chủ ý của họ, nên việc còn tin tưởng và thờ cúng thần thổ công như trước của dân làng cũng cần phải xem xét. Mọi người đối với việc tự sát cũng tương tự như vậy, ngay cả trường hợp là những người trung nghĩa, liệt nữ, ngoại trừ trường hợp đặc biệt, còn lại là những người thân thiết của họ cũng thể ngồi im mà nhìn con cháu mình tìm đến cái chết mà ngăn cản hay ít ra là cầu nguyện cho họ, huống chi là vị thần. TrongHữu đài thần quán bút ký, [/I]cuốn tám có đoạn tán dương câu chuyện ca ngợi thần thổ công cứu người tự sát. Để cứu những quả phụ mất lòng tin vào cuộc sống mà tìm đến xà nhà treo cổ tự vẫn, thần thổ công dùng cánh tay của mình đỡ lấy chân họ cho đến khi có người kịp đến cứu mới buông ra.

      Từ rất sớm, vào khoảng cuối triều Minh, có người phản đối hành động treo cổ tự vẫn của những “người con chưa chồng”. Người con họ Tào buồn rầu, đau khổ vì vị hôn phu qua đời, nàng than khóc, giam mình trong khuê phòng tuyệt thực rồi treo cổ lên xà nhà mà chết. Có lẽ chính cái chết thảm thương của người con họ Tào cảm động đến Triệu Thời Xuân. Để biểu thị quan điểm phản đối của mình, ông viếtTrinh nữ tiết phụ giải [/I]và cho rằng dân nữ họ Tào kia nên vì vị hôn phu chết mà cũng tìm đến cái chết thảm thương như thế.

      phản đối của Triệu Thời Xuân trước hành động treo cổ tự vẫn của người con còn xuân tạo nên hiệu ứng thông tin mạnh mẽ. Những người phản đối (trong đó có tác giả củaQuốc xác[/I]) và ngay cả chúng ta cũng có cách nào ngoài việc chỉ có thể dùng những câu chuyện ma quỷ để phản ánh hậu quả nghiêm trọng của việc treo cổ tự vẫn. Và tất nhiên, trong những câu chuyện ma quỷ đó tránh khỏi việc miêu tả những tình tiết thê lương, bi thảm, thậm chí gây cảm giác sợ hãi cho người đọc. Chính những yếu tố này có tác dụng cảnh báo sâu sắc tới những người có ý định treo cổ tự vẫn. Họ, với tư cách là những người nhận được hương hoa mà nhân gian thờ cúng, khó tránh khỏi kiếp trầm luân trong cõi u minh tăm tối, và sa đọa trong đạo đức, đáng giận, đáng ghét! Chúng ta hãy hy vọng qua các câu chuyện ma quái có thể loại trừ phần nào đó quan điểm về tiết liệt ác ý đầy tính dị dạng này.

      Những câu chuyện được ghi lại đây tất nhiên lĩnh hội nhất định. Ông viết tất cả hai câu chuyện ma, trong đó đưa ra nhiều dẫn chứng, phân tích, kiến giải cách sâu sắc. Thứ nhất, qua các câu chuyện, ông muốn mượn lời ma quỷ để phản đối, răn đe những con người coi thường mạng sống của mình:

      Thượng Đế nhân từ biết bao! Người bao giờ mong muốn con người tự ý ruồng bỏ sinh mạng quý giá của mình. Những trung thần tận trung với nước, những người phụ nữ tiết hạnh cao quý, họ đều chết cách bất ngờ và đầy uẩn khúc. Còn những người may mắn sống cuộc sống nghèo túng, bế tắc, tìm được con đường mưu sinh thích hợp, họ buộc phải đưa số phận của mình đến bước đường cùng trong đớn đau tuyệt vọng, treo thân mình lên xà nhà lạnh ngắt… Tất cả đều là những câu chuyện vô cùng thương tâm, cũng là những vòng quay luân hồi vô định của bánh xe cuộc đời. Có lẽ, chẳng thể định trước được số phận của mình, duy chỉ có điều “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” là quy luật tất yếu của cuộc đời. Nếu như chỉ vì chút giận dỗi, ít thất vọng, vài đau khổ, khó khăn, cùng cực, giận mình, trách người mà khinh xuất treo mình cái dây thòng lọng quả thực phụ lòng thương, hy vọng của biết bao người thân thương, của biết bao sinh linh vạn vật trong cuộc đời. Chính vì vậy, những linh hồn ấy sau khi chết bị đầy xuống địa phủ, giam cầm trong cõi tối tăm, lạnh lẽo, trăm năm được siêu thoát.[/I]

      Ông cũng đưa ra những lời bình luận thêm:

      Chắc hẳn ở chốn u minh tăm tối ấy, những linh hồn lạnh lẽo kia cũng tìm cách để được cứu thế, cầu siêu. Nhưng biết với những luật lệ nghiệt ngã chốn ti, liệu có chấp nhận cho những người xấu số kia được đầu thai chuyển kiếp hay ? Tất nhiên, những người vốn coi thường mạng sống của mình cũng bị trừng phạt chẳng khác chi những kẻ hiểm ác, chắc chắn dễ dàng, nhanh chóng được đầu thai. Từ những điều này, người viết muốn nhắn gửi thông điệp tới những người sống trần gian: trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, dù cho khó khăn, khắc nghiệt đến mức nào cũng phải biết giữ gìn và quý trọng mạng sống của chính mình![/I]

      Hai là, tác giả xuất phát từ chính những nỗi thống khổ của người treo cổ tự sát mà đưa ra lời khuyên:

      Phàm là những người tiết tháo, kiên trung khi treo cổ tự vẫn, linh hồn thăng thiên từ đỉnh, cho nên cái chết thường đến với họ nhanh hơn, nhàng hơn. Còn những người chết vì phẫn uất, đố kỵ, ghen ghét, linh hồn thường từ trong tim giáng xuống, cho nên cái chết thường đến cách dai dẳng, đau đớn. Trong khoảnh khắc đoạn tuyệt với cuộc đời, hàng trăm tĩnh mạch bỗng nhiên ngừng đập, da thịt bỗng chốc tan vỡ, tê tái như có hàng trăm nhát dao cắt rời từng khúc, từng khúc môt, ruột gan cũng cồn cào, quặn thắt tựa như xuất ngọn lửa bốc cháy mãnh liệt trong lồng ngực, ra sức thiêu đốt đến bỏng rát, tái tê, thể chịu đựng được… Và trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, hình ảnh sống ngày càng mờ xa.[/I]

      Như vậy, cách tinh tế và sâu sắc, Thảo Đường đưa ra những kiến giải độc đáo phân biệt ràng hai loại người treo cổ tự vẫn: loại treo cổ để giữ trọn tấm lòng trung nghĩa, loại khác treo cổ chỉ vì những ganh ghét, đố kỵ nhoi. ràng những kiến giải này khác hoàn toàn với những lý giải mà Tùy Viên nêu ra trước đó. Từ những nghiên cứu tưởng chừng vô căn cứ ấy, Thảo Đường khéo léo mượn những câu chuyện ma quỷ để phản đối, cảnh tỉnh những ai có ý định treo cổ tự vẫn hãy biết trân trọng mạng sống quý giá của mình. Lời cảnh tỉnh ấy đến sau này vẫn còn giá trị sâu sắc.
      Last edited by a moderator: 1/8/14

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793

                Chương 3: Thuyết cương


      cách chính xác hơn, chữ “cương” mà chúng tôi bàn tới ở đây chính là “cương” trong “cương thi [1] ”. Nhưng vì sao ngay từ đề mục người viết ý nghĩa này mà lại chỉ đưa ra chữ “cương” đầy bí như thế? Quả thực, cách hiểu về hai chữ “cương thi” thực tế lại quá mơ hồ. Đa số mọi người thường hiểu hai chữ “cương thi” ý nghĩa sinh học thông thường của nó. Điều này được lý giải, ở người chết, máu huyết đông lại liền trở nên căng cứng, tượng này được gọi là “cương thi”. Trong sách cổ thường nhắc đến những chữ như “cương thi biên dã [2] ” hay “cương thi như ma [3] ”. Đó chỉ là số dẫn chứng sách vở thường gặp. Với cách hiểu , ngoài những nhà nghiên cứu y học ra chắc hẳn chẳng ai có hứng thú đặc biệt để tìm hiểu sâu sắc về vấn đề này. Tuy nhiên, thứ xác chết được coi là hiệp nghĩa có lẽ ngay cả những nhà nghiên cứu y học thực thụ cũng dám đề cập sâu, đây chính là vấn đề mà chúng tôi muốn tới. Nhưng chính những xác chết cương cứng được coi là hiệp nghĩa tới ở đây cũng chỉ là khái niệm mơ hồ, bản thân nó bao hàm cả hai loại tính chất “dị vật” đồng nhất.

      [1] Ý chỉ xác chết cương cứng.

      [2] Xác chết nơi hoang dã.

      [3] Xác chết bị tê liệt.

      Chu Tác Nhân trong bài viết về “những dị vật trong văn học nghệ thuật” cho rằng: “Những xác chết cương cứng được tới trong các tiểu thuyết Trung Quốc, về cơ bản được chia làm hai loại. loại là xác chết chưa phân hủy. Đó là những xác người mới chết có thể cảm nhận được ràng nguồn thực khí thi thể. Loại xác chết này vẫn thường tác oai, tác quái tìm cách dụ dỗ, lừa gạt những người còn sống, dẫn dắt họ tự tìm đến cái chết. Cho nên tính cách của loại xác chết này vô cùng hung dữ và độc ác. loại khác là những xác chết để lâu trong quan tài được đem chôn, theo thời gian những thi thể ấy biến đổi, tính cách cũng trở nên tàn ác, xấu xa, là nhân tố tác động đến tình trạng hạn hán kéo dài, và có khả năng cản trở trời sinh mưa. Nhưng ở khía cạnh khác, trong các truyền thuyết còn ghi lại hình ảnh những thi thể cương cứng xuất trong những câu chuyện tình cảm động, mang lại màu sắc ấm áp, tươi vui, gợi ấn tượng sâu sắc cho người theo dõi. Hơn nữa, những câu chuyện về hồn ma trong đời sống văn hóa tâm linh của người Trung Quốc lại rất có ý nghĩa giáo dục, có tác dụng cảm hóa tâm hồn con người. Thông qua nỗi sợ hãi, kinh hoàng, người đọc tự rút ra những bài học nhân sinh sâu sắc. Đó chính là dụng tâm trong ngòi bút, cũng là thành công của người viết. Trở lại vấn đề phân loại xác chết cương cứng làm hai loại, cơ bản cũng dựa nhiều căn cứ khác nhau. Trong Duyệt vi thảo đường bút ký, quyển mười có khẳng định:

         Xác chết cương cứng có hai loại, loại chỉ những thi thể mới chết, còn chưa mai táng bỗng nhiên nhảy lên vồ lấy người khác; loại thứ hai chôn cất được thời gian nhưng thi thể chưa phân hủy, tự biến đổi hình dáng trở thành loài ma quỷ kỳ quái, đêm đến thường lại khắp nơi, gặp người liền dọa dẫm, cướp bóc. Người ta thường : “Ma quỷ hành sinh ra hạn hán ở khắp nơi.” Có lẽ chưa ai giải thích được điều này.

      Thực ra “cương thi” được nhắc tới ở đây trước tiên là để chỉ những thi thể cương cứng sau khi chết được thời gian. Tình trạng cứng đờ của xác chết vốn dĩ là tượng sinh học hết sức tự nhiên. Nhưng điều đáng ở đây là việc để cho lũ tà ma có cơ hội mượn chính những xác chết ấy mà tác oai tác quái, làm điều xằng bậy hại người. Tuy nhiên, điều may mắn là trong thời gian diễn ra tất cả những trò tác tác quái lại hoàn toàn tách biệt và chẳng liên quan gì đến linh hồn của những xác chết đó. Cho nên, chủ nhân của những thi thể bị ma quỷ mượn hình khi còn sống có thể là người rất lương thiện, thậm chí còn có thể mang mình thân phận cao quý. Sau khi lũ tà ma mượn xác chết ấy “giày vò, hành hạ” xong, nó lại thoát ra và thi thể trở lại nguyên vẹn là người đứng đắn, ngay thẳng, thà. Những người thân trong gia đình và bạn bè trước đây vẫn ngày ngày tưởng nhớ, mặc niệm họ trong thầm, lặng lẽ, cảm động, hơn nữa họ còn viết lên những lời ai điếu khóc thương cho người khuất. Có thể chủ nhân của những thi thể đó, cũng như phần linh hồn của nó hoàn toàn phải gánh chịu bất cứ trách nhiệm nào đối với những hậu quả nghiêm trọng mà thể xác bị tà ma biến đổi gây ra. Lũ ma quỷ kia làm những chuyện ác đạo, bất lương dĩ nhiên phải thi thể vốn có của ta mà là hình hài xác chết bị biến đổi.

      Tuy nhiên, điều chủ yếu mà chúng tôi muốn ở đây chính là loại cương thi thứ hai. Điều mà chúng tôi muốn bàn tới căn bản cũng dựa chính “những biến đổi của xác chết được mai táng lâu ngày mà chưa bị phân hủy”, và quan trọng là bàn tới những tác hại, hay chính là tính nghiêm trọng của tượng này. Loại xác chết này trong các câu chuyện ma quỷ và trong những công trình nghiên cứu hay trong quan niệm dân gian, người ta vẫn thường gọi chúng với cái tên ngắn gọn là “cương” (ý chỉ xác chết cương cứng mà chưa thối rữa). Nhưng sau này còn xuất thêm số cách gọi khác như “mao cương”, “bạch cương”, và những thi thể vẫn càn quấy, làm hại con người cũng được xếp vào loại được gọi là “tẩu cương”. Tất cả những điều dài dòng mà chúng tôi dẫn dắt đây mục đích sau cùng cũng chỉ nhằm giải thích thêm lý do vì sao trong tên đề mục lại chỉ đưa ra chữ “cương” mà thôi.



                   1


      Loại thi thể mai táng, chôn cất lâu ngày mà vẫn bị thối rữa, trước khi đạt tới độ “cương cứng” mà bị “dị hóa” phải trải qua rất nhiều bước thăng trầm, thậm chí còn có thể gọi đó là cả lịch sử huy hoàng. Ở thời kỳ cổ đại, người chết là những kẻ giàu có hay thuộc bậc đế vương quyền quý, họ tìm mọi cách để thi thể mình trường tồn mãi mãi mà bị phân hủy theo thời gian. Để đạt được ước mong này, ban đầu họ tìm đến khấn nguyện trước các đấng thần linh. Nguyện cầu thất bại. Lúc đó họ buộc phải tự mình tìm tòi và làm đủ mọi cách để xác chết có thể đông cứng lại đến ngàn năm tuổi vẫn nguyên vẹn bị phân hủy. Họ đem vàng, bạc, ngọc ngà, châu báu, thủy ngân, mi-ca… những thứ của cải quý giá chất đầy quanh người chết, thậm chí nhét đầy vào khoang bụng, đeo đầy lên cổ, tai, tay, chân… Cách làm ấy chỉ giúp cho thi thể trở nên cương cứng, nguyên vẹn, trường tồn mãi mãi với thời gian, mà còn khiến cho kẻ thù của mình dù có dùng mọi cách để báo thù từ “bạo thi [4] ”, “lục thi [5] ”, “trách thi [6] ” cho đến “liệt thi [7] ”… cũng thể làm cho xác người chết vỡ vụn thành trăm mảnh, thậm chí ngay cả dùng lửa thiêu đốt cũng thể hủy diệt được những xác chết được làm cho cương cứng bất tử kia.

        [4] Làm điều bạo ngược hành hạ người chết.

                  [5] Chém giết xác chết thêm lần nữa.

                  [6] Phanh thây thi thể.

                  [7] Làm mọi cách cho thi thể người chết nứt ra, vỡ ra.

      tượng làm nảy sinh cách nhìn hoàn toàn khác với những thi thể khi khai quật mộ phần mà vẫn còn nguyên vẹn. Họ cho rằng những thi thể này chính là phần xác của những con người khi còn sống hoặc là những người giàu có, hoặc là những nhân vật quyền quý, sang trọng, lúc sinh thời vốn là những người có đạo đức, có tiết hạnh. Vì thế, với những trường hợp này, theo họ cũng nên quảng bá rộng rãi trong quần chúng, thậm chí còn đến mức lưu truyền trong sử sách. Trong Tam thập quốc Xuân Thu có đoạn ghi lại câu chuyện: “Vào thời Tấn Nghị Hi, trong dân gian còn truyền nhau câu chuyện về nhóm cướp cưỡi những con ngựa dũng mãnh cướp thi thể của Biện Hồ. Khi bị cướp, thi thể còn nguyên vẹn, hai bàn tay nắm chặt, móng tay để dài y như khi còn sống [8] ” Khi Tô Tuấn tạo phản, để giữ yên triều chính, đồng thời thể lòng trung thành tận tụy với đất nước, ông tình nguyện xuất binh chinh phạt, và may bị hãm hại. Chính nhờ tấm lòng kiên trung, lẫm liệt ấy mà thi thể của ông sau khi chết được triều đình chăm sóc cẩn thận, sắc diện hình hài vẫn y như lúc còn sống, thậm chí móng tay sau khi chết vẫn tiếp tục dài ra. Đó phải chăng là linh ứng của tấm lòng người trung thực mãi bất tử với thời gian. Lại có ví dụ khác từ Tân ngũ đại sử - Mân thế gia kể về chuyện khi Vương Hi được phong làm thái tử, tính tình ngang ngạnh, khó trị. Tướng quốc Vương Đảm thời đó được giao nhiệm vụ dạy dỗ, uốn nắn thái tử phải rất vất vả, gây ra ít những điều khó chịu trong lòng thái tử. Sau này, Vương Hi lên ngôi, lúc đó Vương Đảm chết, Hi liền lệnh cho phá mộ, giày xéo thi thể Vương tướng quốc. Khi mở nắp quan tài, hình hài Vương Đảm vẫn còn nguyên vẹn, dung mạo tươi tắn ý như còn sống. Khi mổ xẻ, phanh thây xác chết vẫn còn thấy máu đỏ chảy ra khắp thân. Mặc dù chết nhưng thi thể của Vương Đảm vẫn vẹn nguyên như khi còn sống, tấm gương của ông được lưu truyền trong sử sách. Người ta cho rằng, tất cả những điều này đều nhờ “chân khí” có liên quan mật thiết đến tấm lòng ngay thẳng, kiên trung và phẩm chất trong sáng của ông khi còn sống tạo nên. Nhưng lấy tượng thi thể còn vẹn nguyên y như khi còn sống của người chết làm tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất trung nghĩa của ta, xem ra cũng có cơ sở khoa học vững chắc. Để đưa ra những luận giải chính xác về phẩm giá của con người thể căn cứ vào những thứ có trong quan tài mà đánh giá. Việc làm này chỉ có thể xem là những giả định mang tính chủ quan về người chết khi tiến hành khai quật lăng mộ mà thôi. Có những trường hợp sau khi chết, phần đầu của những bậc trung thần nổi tiếng được lưu danh sử sách lại có tượng nát rữa, ngược lại, phần đầu thi thể của những hoạn quan trải qua năm tháng vẫn còn nguyên vẹn trong quan tài mà hề hấn gì. Giải thích điều này, người ta cho rằng đó là do ông trời cố ý làm như vậy, mục đích là để cho những hồn ma lang thang có cơ hội mượn xác của những trung thần mà hoành hành, tạo ác. Hơn nữa, khi chúng nhập vào xác hoạn quan hay kẻ gian thần, đến khi nhập quan lại phải chịu trừng phạt, giày xéo thêm lần nữa. (Những văn nhân như chúng tôi từ xưa vốn rất thích Ung Chính, đối với thi thể còn vẹn nguyên y như còn sống ở Lũ Lưu Lang, chúng tôi cũng thử đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau. Trong Kinh thánh, những người cầm bút có tài thường rất khéo léo và tinh tế khi biết cách biến hóa ngòi bút của mình, cho dù thế nào họ cũng có thể sáng tạo, tưởng tượng, hư cấu ra những “thiên ý” thuận lòng hoàng thượng, và cũng làm thỏa mãn tất cả mong muốn của người xem.)

        [8] Trích trong Thái bình ngự lãm, cuốn 557.

      Cũng với mục đích ca ngợi những tấm gương kiên trung, tận quốc, thời nhà Đường lưu danh Nham Chân Khanh, trung thần vì can ngăn Lý Hi Liệt làm điều bạo ngược nên bị ta ép treo cổ tự vẫn. Sau khi chết, thi thể của ông được ướp trong linh cữu mà đem chôn cất. Sau này, Lý Hi Liệt cuối cùng cũng bị trừng phạt thích đáng. Chân Khanh gia di chuyển thi thể ông lên thượng kinh an táng. Đường gập ghềnh, hiểm trở, linh cữu bị hư hỏng, mục nát dần, nhưng hình hài xác chết vẫn trang nghiêm, ngay ngắn, các bắp thịt như được hồi sinh, chân tay trở nên mềm mại, thậm chí râu, tóc vẫn mọc xanh đen, “Mười ngón tay đan vào nhau rời, móng tay mọc dài đến mu bàn tay”. tượng đó quả thực khiến cho “người người xa gần đều kinh sợ [9] ”. Theo kiến giải của các nhà Nho học, nguyên nhân khiến cho thi thể của Nham Chân Khanh bị thối rữa xuất phát từ chính khí chất trung nghĩa tiết liệt của ông, mặc dù linh hồn lìa khỏi thể xác nhưng nhân phẩm cao quý, trong sáng của ông còn sống mãi, cho nên thể xác mãi nguyên vẹn bị phân hủy theo thời gian. Nhưng Nham Chân Khanh còn là kẻ tu hành khổ hạnh theo đạo Phật, cho nên những đạo sĩ dựa vào những điều này để tạo ra những truyền thuyết ca ngợi bất tử của ông. Thi thể ông được đặt trong quan tài bằng gỗ cũ nhưng dung mạo vẫn “như sống”, nhưng khi được chuyển tới chiếc quan tài mới, thể xác dần dần trở nên vô tri vô giác, ra ông sớm thoát xác thành tiên. tượng thi thể cương cứng khi hồn lìa khỏi xác được giải thích là thoát xác thành tiên, cách giải thích như vậy vốn cũng thường gặp rất nhiều trong sách vở. Ví dụ như Bảo Cái thời Hậu Hán, sau khi chết, an táng được hơn ba mươi năm, đột nhiên về báo mộng cho thê tử rằng mình hồi sinh. Người vợ vội vàng chạy đến mở nắp quan tài, quả thực thi thể ông sắc diện như còn sống, duy chỉ có điều thấy hơi thở thoát ra. Hơn nữa, trong mộ, đèn thắp suốt ba mươi năm vẫn tắt [10] . Vào thời Ngũ Đại, giai đoạn cuối thời nhà Đường, viên đại tướng Quách Sùng Thao đem quân chinh phạt vùng Tứ Xuyên (thời Tiền Thục), đến Vấn Châu gặp ngôi mộ cổ có thi thể như còn sống, liền truyền lệnh cho quân sĩ làm lễ mai táng cách trang trọng. Khi đêm xuống, chủ nhân của thi thể đó lên báo mộng: “Ta vốn là kẻ hầu người hạ của Thái Ất chân nhân, nay được nhà ngươi mai táng, chôn cất tử tế như vậy, xem như nhà ngươi có thể tránh được tai họa rồi.” (Theo Trương Thương đời Tống trong Thục đào ngột, quyển hạ. Nhưng Quách Sùng Thao sau khi chinh phục xong đất Thục lại bị kẻ gian vu oan buộc phải tự sát, vì thế những lời mà vị thần trước kia về báo mộng thể lường trước được điều này).

         [9] Ngọc đường nhàn thoại, quyển năm

                  [10] Trích trong Bảo khánh tứ minh chí, cuốn mười , Dư địa chí.

      Có lẽ chính những truyền thuyết đó khiến cho xác chết cương cứng có được chất “tiên khí” quý giá, vì thế mà có truyền thuyết cho rằng thịt của những thi thể cương cứng ấy có thể dùng làm các loại thuốc chữa bệnh. Những truyền thuyết kỳ lạ này xuất sớm nhất vào thời Nam triều và còn được ghi chép lại trong các sáng tác văn đế thời Tống. Vào cuối thời Hán, lăng mộ của những nhà học thuật thường là mục tiêu của những kẻ trộm cắp. Những xác chết ấy sau khi bị đánh cắp, theo đúng quan niệm “thịt của những xác chết cương cứng có thể làm thuốc chữa bệnh”. Cho nên lũ trộm cắp mỗi người tay chân nhanh chóng mổ xẻ, chia chác nguồn dược liệu quý giá đó. Người thành tiên mà bị đem ra mổ xẻ, phanh thây thậm chí còn bị lăng trì hành hạ như vậy quả tu luyện đắc đạo thành tiên mà vẫn chưa được yên phận. Truyền thuyết này có lẽ phải đến thời Ngũ Đại mới được người ta tin tưởng. Trong Cựu Ngũ Đại sử - Chu Cấn truyền đến Chu Cấn sau khi tự sát, quyền thần Từ Ôn bèn “đem thi thể của Cấn bày ra giữa chợ, phơi dưới cái nóng như thiêu như đốt, hết ngày này sang ngày khác mà da thịt vẫn hỏng, ngay cả ruồi nhặng cũng dám tới đậu vào”. Do đó, “phàm những người có bệnh, dùng đất đắp nấm mộ chôn thi thể người chết được phơi kỹ, sắc lấy nước uống liền khỏi bệnh”. Ngay cả những người chết vừa mới được chôn cất “đúng thời điểm nhân dân trong vùng mắc bệnh sốt rét rất nhiều, họ tranh nhau đến lấy đất nấm mộ sắc lấy nước uống, bệnh tình liền khỏi ngay, càng là những chỗ đất mới càng trở thành ngôi mộ quý được nhiều người săn tìm”. Chính vì lý do này mà thi thể của Chu Cấn sau khi chết bị thối rữa ngay, phần mộ ấy trở thành hiệu thuốc chữa bệnh miễn phí cho người dân.

      Tuy nhiên, loại xác chết cương cứng thối rữa đề cập trước đó, bởi lẽ để có được cái cớ hợp lý cho mục đích tìm kiếm vàng ngọc, mi-ca, báu vật, cho nên tìm được những thi thể cương cứng thối rữa vẫn là kết quả như mong muốn. Chẳng hạn như trong Hậu Hán thư - Lưu Huyền Lưu bồn tử liệt truyện có nhắc tới thi thể phi tần của triều Tây Hán: “Thi thể mai táng trong hộp ngọc, hình hài đẹp đẽ như còn sống, đôi lông mày nhuộm đỏ như cố tình ve vãn người xem.” Tấn Can Bảo trong Sưu thần ký, tập mười lăm có đoạn kể về thời Ngô Tôn Hưu, người ta cho khai quật khu mộ phần có nấm mộ uy nghi, đường vệ, to lớn như lăng mộ của bậc công hầu nào đó. Khi người ta tiến hành phá quan tài, trong quan tài xuất thi thể với mái tóc hoa râm, xiêm y, mũ mão màu sắc vẫn còn tươi sáng, dung mạo xác chết như người còn sống. Trong quan tài chất mi-ca dày đến hơn mười thước, phần dưới xác chết dùng tới ba mươi tấm ngọc bích trải làm đệm, hai bên tai và trong lỗ mũi nhét đầy vàng bạc giống như cây táo chất đầy ngọc châu vậy. Nguyên Đào Tông Nghi trong Nam thôn chuyết canh lục, cuốn mười , Mộ thi như sanh có đoạn viết về ngôi mộ cổ thời Tống như sau: “Khi tiến hành phá quan tài, hề có uế khí thoát ra, sắc diện người chết vẫn như còn sống, nét môi vẫn sáng bóng. Những dụng cụ, đồ trang sức bằng vàng bạc rải khắp nơi.” Du Việt, người đời Thanh, trong Hữu đài tiên quán bút ký, quyển mười sáu, kể về người con họ Phan, khi mai táng: “Thi thể nằm trong quan tài, dung mạo vẫn như khi còn sống, y phục hề bị nhàu nát. Nhìn kỹ những chữ số khắc quan tài thấy có đến hơn trăm hai mươi tám năm, vậy mà tựa như người mới chết. đó còn đề chữ: “Trong quan tài có châu báu, ngọc ngà, xác chết mới bị phân hủy, đó là lời cổ nhân truyền dạy.” Gần đây Lưu Thành Ngu trong Thế tái đường tạp ức ghi chép lại câu chuyện Tôn Điện khai quật lăng mộ của Tây Thái hậu [11] . Khi nắp quan tài vừa được mở ra liền xuất luồng hào quang chiếu rọi. Nhìn sâu vào bên trong, dung mạo của Tây Thái hậu vẫn tươi trẻ như khi còn sống, ngón tay thon dài, trắng trẻo. Ánh hào quang ấy là do muôn ngàn tia sáng lấp lánh từ vô số châu báu, ngọc ngà chất đầy trong quan tài phát ra.

      [11] Tây Thái hậu là tên gọi khác của Từ Hi Thái hậu.

      Những ghi chép được tìm thấy gần đây, trong sách vở còn có rất nhiều, đại để là hầu hết các bậc đế vương quyền quý được sùng bái, suy tôn khi mai táng, chôn cất, đều được chôn theo rất nhiều vàng bạc, châu báu để mong được bất tử. Chính điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là những lăng mộ đó nghiễm nhiên trở thành mục đích của bọn cướp bóc hoặc tư doanh hoặc quan doanh. Như Khổng lão phu tử có lần nhắc nhở về việc đem của cải chôn cùng người chết, châu báu quý giá: “Điều đó chẳng khác gì hành động tàn bạo làm hại người chết thêm lần nữa [12] ” Làm như vậy, chẳng những báu vật bị lấy cắp, mà ngay cả thể xác người chết cũng bị lăng nhục, giày xéo, hủy hoại ghê gớm, thậm chí còn phải hứng chịu những hành động tàn ác hơn thế. Ngoài thi thể với hình ảnh lông mày nhuốm đỏ được nhắc tới trước đó, Can Bảo trong Sưu thần ký, quyển mười lăm còn nhắc tới câu chuyện về Hán Hằng Đế Phùng, bảy mươi năm sau khi chết mà vẫn bị phát mả làm nhục. Thái bình quảng ký, quyển ba trăm ba mươi có tái lại câu chuyện Đường Huyền Tông Hoa Phi Tử sau khi chết hơn hai mươi năm vẫn bị đào mả lên lăng mạ. Và ngay cả Hán Cao Lữ Thái hậu cùng với Từ Hi Lão Phật gia lớn tuổi như vậy mà cũng khó thoát khỏi tai ương. Có thể thấy, những tiểu thư khuê các và thái thái phu nhân miệng lưỡi lúc nào cũng tươi cười hời hợt lại có cuộc sống ấm áp, nhàn nhã hơn. Trước kia Dương Liễn Chân gia cho khai quật lăng mộ của Chư đế, vị vua thời Nam Tống, trong đó lăng mộ của Lý Tông được mai táng cách chu đáo, cẩn thận nhất và thi thể cũng được xem là còn nguyên vẹn và đẹp nhất trong các thời đại đế vương trong lịch sử:

         Thi thể của Lý Tông vẫn nguyên vẹn, đẹp đẽ như còn sống, có người ngài ngậm trong miệng viên dạ minh châu, nó có sức tỏa ngược lên thân cây, xuống thành từng giọt nước bạc, cứ như vậy suốt ba ngày đêm. Cũng có người kể lại khi Tây Phiên Tăng tụng niệm theo phong tục phải lấy đầu lâu của đế vương mới có thể yếm thắng, giàu có, may tục truyền đến tai kẻ trộm cắp. (Chu Mật - Quý tân tạp thức biệt tập).

                  [12] Trích trong Lữ thị xuân thu của Mạnh Đông Kỷ, An Tử Thiên.

      Từ những lý do có thể thấy, xuất của những “xác chết cương cứng” có từ rất lâu và tồn tại trong khoảng thời gian dài. Mọi người hoặc dùng nó như phương thuốc chữa bệnh trong y học, hoặc căn cứ vào đó để tìm kiếm châu báu. Dù bằng cách này hay cách khác con người vô tình hay cố ý vẫn làm tổn hại, thậm chí là lăng nhục những thể xác quý giá đó. Ngay bản thân họ cũng chẳng khác chi ốc mang nổi mình ốc, còn gì đến chuyện gieo rắc tai họa cho người khác? Đương nhiên, nếu những hành động càn quấy làm hại người khác của hồn ma cương cứng được hiểu theo nghĩa rộng rất có thể đó là hành vi của số nữ thoát xác biến hình ra khỏi ngôi mộ, nhập vào ai đó rồi lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt người khác. Như trong Sưu thần ký, cuốn mười sáu ghi lại câu chuyện về Chung Diêu có người con xinh đẹp vẫn thường xuyên qua lại, lui tới thăm nom, sau thời gian biệt vô tín, bèn tìm đến ngôi mộ lớn tìm kiếm, trong mộ có người con , dung mạo xinh đẹp giống y như người còn sống. Nhưng những tình tiết này vốn là câu chuyện thường thấy trong sách vở giữa ma nữ và chàng thư sinh nào đó, chỉ có điều thi thể của ma nữ kia vẫn chưa bị phân hủy mà thôi. Mặc dù những hồn ma đó hoàn toàn mang lại lợi ích gì cho con người thời đó, nhưng đối với hậu thế sau này, những thi thể cương cứng lại trở nên hết sức hung bạo, độc ác. Những câu chuyện kiểu như thế từ trước thời nhà Thanh rất ít xuất , và nếu có được nhắc đến đều là những tính cách rất đỗi bình thường, có gì đặc biệt hay nổi bật. Vì thế chúng tôi khẳng định câu chuyện về những thi thể cương cứng gieo rắc tai họa cho người khác thực xuất tương đối muộn, căn cứ vào những tư liệu mà chúng tôi tổng hợp được phải tới triều đại nhà Thanh mới có những câu chuyện kiểu như thế.



                   2


      Những thi thể cương cứng xuất trong các câu chuyện thời nhà Thanh cũng chính là chữ “cương” trong hai chữ “cương thi” như các triều đại trước, hình dáng bên ngoài thay đổi trở thành con quỷ đầy vẻ ghê sợ. “Mặt mũi xấu xí, đen đúa như thịt cá sấy, hai con mắt sâu hoắm vô cùng đáng sợ.” (Theo Viên Mai trong Tử bất ngữ, cuốn mười ba, Cương thi cầu thực.) Đây đều là diện mạo của những thi thể cương cứng, những “mĩ nữ nơi lầu son gác tía” mới được khai quật gần đây, ước tính số lượng vàng ngọc châu báu được chôn theo vô cùng lớn. Nhưng cũng có thuyết cho rằng, những thi thể khô cứng này mỗi khi xuất vào nửa đêm làm chuyện hại người thường thay đổi diện mạo, do đó mà nảy sinh truyền thuyết kể về những “Cương thi dạ phì trú sấu [13] ”:

      Theo lời Du Thương Thạch tiên sinh: Phàm những xác chết đợi khi màn đêm buông xuống lên cướp bóc, tướng mạo trông béo tốt, đầy đặn chẳng khác gì người bình thường, nhưng đến khi trời sáng, mở nắp quan tài mới biết người nằm đó dáng vẻ gầy gò, khắc khổ như kẻ ăn mày, chỉ còn da bọc xương. Đem đốt còn nghe thấy tiếng khóc hu hu vọng lại. (Theo Tử bất ngữ, quyển hai mươi tư.)

                  [13] Những xác chết cương cứng ban đêm béo, ban ngày gầy.

      biết Du tiên sinh phải quan sát tỉ mỉ qua biết bao nhiêu thi thể cương cứng hết ban ngày rồi tới ban đêm để có thể đúc kết được những kết luận như thế. Nhưng dù sao “nhất gia chi ngôn”, kết luận mang tính chủ quan ấy cũng thể tránh khỏi những ý kiến trái chiều. Trong các ghi chép còn lại từ triều đại nhà Thanh, người ta cũng bàn luận khá nhiều về những thi thể cương cứng kiểu như vậy. Hình dạng của những “cương thi” trong các ghi chép ấy hoàn toàn có chút gì được xem là cố tình tâng bốc, hơn nữa trong đó đa phần đều là hình hài ma quỷ lên với những bộ lông tóc màu sắc giống nhau. Ví như trong Tử bất ngữ, quyển hai mươi ba, Cương thi bão Vi Đà: “Bện khắp cơ thể là lớp lông mao màu trắng toát như loài chuột khoác lên mình bộ lông ánh bạc, lộ khuôn mặt là hai con mắt thâm đen, ở giữa lồi lên hai con ngươi xanh biếc phản chiếu những quầng sáng lập lòe, lấp lánh.” Trong Duyệt vi thảo đường bút ký, quyển bảy có đoạn viết: “Lông mao trắng toát khắp cơ thể, hai con mắt ánh đỏ như chu sa, ngón tay cong lại như làm dấu hình móc câu, hàm răng chìa ra bên ngoài như dao cạo.” ràng những thi thể cương cứng chính là những thây ma, những quỷ dạ xoa vô cùng lợi hại vẫn thường vơ vẩn bay lượn khắp đó đây. Đớn Liên Phân trong Ly biêm hiên chất ngôn, quyển hai, Cương thi tam sắc có đề cập đến: “ thay đổi hình hài của thi thể cương cứng có thể thấy qua vài hình ảnh như: tóc tai dựng ngược, mặt mày dữ tợn, răng cái thụt cái thò chen nhau mọc.” Trong Tử bất ngữ, quyển mười hai, Phi cương cũng dẫn ra câu chuyện, ở vùng Vân Sơn xuất xác chết cương cứng, có thể bay lượn trong trung, bắt người qua lại, đặc biệt là trẻ em làm thức ăn.

      Những “cương thi” đáng sợ và độc ác như vậy hầu như chưa xuất trong các tiểu thuyết, ghi chép trước triều đại nhà Thanh. Nghe độc ác của những xác chết cương cứng này còn phân loại ở nhiều cấp độ khác nhau, căn cứ vào khác biệt hiển thị qua màu sắc của lông và tóc. Do màu sắc lông mao các loại cương thi giống nhau cho nên lại có cách gọi tên căn cứ vào màu sắc để phân biệt như “bạch cương”, “hồng cương”… Từ Côn trong Độn trai ngẫu bút, quyển hạ, thuần túy miêu tả loại xác chết được gọi là “bạch cương”. Du Phương Hàn trong Cao tân ngọc trai tạp trước hơn về vấn đề này:

      Bỗng nhiên bên ngoài cửa sổ xuất người, mặt trắng, toàn thân cháy màu đỏ lửa, nhìn vào bên trong cười đùa cách hể hả. lát sau, người đó nhảy nhót vào, bước đến ngã lăn chiếc giường hẹp, tay với màn, vặn vẹo cái đầu nhô lên hạ xuống cho dịch não tràn ra rồi lại chảy ngược vào trong đầu, hai bàn tay thọc xuống phần bụng, chộp lấy dạ dày, rồi lại nhảy nhót ra… Trong màn “biểu diễn” khủng khiếp ấy, may mắn thay xác chết đó vẫn còn giữ được vẻ mặt trắng toát, toàn thân cháy đỏ, nếu cảnh tượng ấy biết còn có sức chấn động ghê gớm đến đâu.

      Hình hài “bạch cương” trong câu chuyện dẫn ra đây mới chỉ là giai đoạn đầu của xác chết được gọi là “hồng cương”, vậy mà lợi hại, độc ác như thế, nếu từ trắng mà chuyển thành đỏ hung dữ của những thi thể cương cứng còn tăng lên bội phần. Lúc đó đến cả thiên lôi từ trời được phái xuống trấn áp có lẽ cũng đành bất lực. Trong Tử bất ngữ, quyển chín, Quật trúng kỳ báo có liệt kê ra mấy loại “cương thi”, trong đó xác chết cương cứng có màu tím được gọi là “tử cương” hề chứa sắc đỏ thi thể. Rất có thể đó là những vật đồng loại nhưng được gọi tên khác nhau, hoặc màu đỏ thi thể cương cứng ấy chuyển sang sắc tím, phát triển lên trạng thái cao hơn theo thời gian. Và mức độ phát triển cao nhất của các loại “cương thi” phải kể đến là “lục cương [14] ”. Tử bất ngữ, quyển mười, có tới loại “cương thi” có “lớp lông màu xanh rất kỳ quái”. Trong Hữu đài tiên quán bút ký, quyển bốn, Túy trà chỉ quái của Lý Khánh Thần, quyển hai, có đoạn về “hạn bạt” đều nhắc tới loại xác chết “lục cương” kỳ lạ này. Mắt đỏ rực như lửa cháy, toàn cơ thể phủ lớp lông màu xanh kỳ quái, chỉ với diện mạo ấy khiến người đọc hình dung ra vẻ khủng khiếp của loại “cương thi” đáng sợ này. Nhưng miêu tả cách tỉ mỉ hơn, những hình nhân bằng giấy hay tượng đất nặn xuất ở miếu Thành Hoàng, hay vào mỗi dịp “tam tiết” (tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu, tết Nguyên Đán) còn kém xa về hình hài xác chết cương cứng về độ hung tợn và bạo ngược của nó. Vẻ khủng khiếp của “lục cương” tất nhiên vẫn thể vượt quá phạm vi tưởng tượng của con người. Trong các loại thi thể cương cứng còn phải kể đến loại khác nữa, đó chính là “hắc cương”. Loại này được ghi chép trong Tử bất ngữ, quyển hai, Tần trung mộ đạo với tên gọi là “hắc hung”, có lẽ đó là cách gọi khác của người vùng Tây Bắc Trung Quốc:

      Thời nhà Tần, dưới lớp đất rất dày, phải đào tới ba mươi lăm trượng vẫn chưa tìm thấy mạch nước ngầm. Chim phượng từng đàn bay về phía tây, nơi đây còn có phong tục kỳ lạ: Người chết được đem chôn mà phải phơi ra giữa đồng, đến khi máu thịt phân hủy hết mới được đem chôn, nếu gặp phải điều ác. Những thi thể chưa phân hủy mà đem chôn, nhiễm phải khí đất, ba tháng sau toàn thân mọc đầy lông mao, bạch giả biến thành bạch hung, hắc giả biến thành hắc hung, chuyên gieo rắc tội ác trong nhân dân.

                  [14] Xác chết cương cứng có màu xanh.

      Cách gọi tên trắng, đỏ, xanh, đen này ràng đều căn cứ vào màu sắc cơ thể và bộ mặt “cương thi”, nhưng màu sắc ấy ở đây đều phải dùng để chỉ màu da mà là để chỉ màu lông cơ thể con người [15] . Cho nên hai chữ “mao cương” trong cách của Viên Mai chính là để chỉ màu sắc lông mao cơ thể những những xác chết cương cứng, phân biệt với những “cương thi” tương tự nhưng có lông. Vì vẫn còn ít những câu chuyện có đề cập đến những thi thể cương cứng nhưng có lông, cho nên những thi thể cương cứng này ràng khả năng tu luyện của chúng còn chưa đạt, thể cho là hại người được. Nhưng ngoài những loại “mao cương” kể , tất nhiên còn có những loại lông vũ được gọi là “phi cương”. Trong Hữu đài tiên quán bút ký, quyển bốn, có ghi lại loại “cương vân”: “Nửa phần thân mọc lên loại lông giống lông thú, nửa phần thân dưới mọc lên loại lông giống lông chim.” Tử bất ngữ, quyển mười hai, cũng có đoạn về “phi cương” như sau: “Có thể bay được trong trung, cơ thể như trẻ con vậy.” Ngoài những điều kể , xác chết cương cứng còn có loại có trọng lượng tương đối được phân thành “du thi, mật thi, ba loại xương cốt phân hóa [16] ”, còn có thuyết về “can kỷ tử [17] ”. Tất cả những thứ “cương thi” được coi là bạo ngược, hung ác được liệt ra đây đều là sản phẩm của triều đại nhà Thanh suốt gần trăm năm gây dựng. Chính thực này lại khiến con người rất khó lý giải được nguyên do tồn tại của nó. Nhưng từ kết quả thu thập được các thi thể cương cứng mặc dù hầu hết đều bị coi là độc ác và đáng sợ, nhưng cũng cần phân biệt cái gì là chủ yếu trong tính cách ác độc, hung hãn của nó. Chính điều này lại phải căn cứ vào đặc điểm bộ lông cơ thể chúng. Hơn nữa thân thế, lai lịch của các loại “cương thi” lại là câu đố mà có lẽ căn cứ vào đây cũng có thể lý giải được phần nào.

        [15] Trong Động linh tiểu chí của Quách Tắc Vân có ghi chép: ở ngã tư đường Tây Tà, Bắc Kinh có ngôi nhà bị ma ám, dưới gầm giường có hai xác chết, toàn thân bao bọc bởi lớp lông mao màu vàng kim. Có lẽ những xác chết này tu luyện đến thứ hạng nhất định nào đó, chỉ có điều ta chưa biết đó là thứ hạng nào mà thôi.

                  [16] Theo Viên Mai, Viết tiếp tử bất ngữ, quyển năm.

                  [17] Tức con hoẵng khô. Theo Viết tiếp tử bất ngữ, quyển bốn.



                   3


      Những tài liệu mà chúng tôi có trong tay đại để có thể tổng hợp, phân tích như vậy. Tác giả của những ghi chép này ngoài Lý Khánh Thần, tác giả của Túy trà chí quái là người Thiên Tân ra, còn lại về cơ bản đều là người phương Nam. Hơn nữa các câu chuyện về “cương thi” chỉ có đến mười truyện có nguồn gốc từ phương Bắc, số còn lại hết thảy đều là sáng tác từ phương Nam, mà đặc biệt tập trung ở vùng Dương Châu, Nam Kinh và xung quanh khu vực Thái Hồ. Đây đều là những địa phương có kinh tế tương đối kém phát triển, nhiều sông ngòi, khí hậu ẩm ướt, gắn liền với những làng nghề sản xuất quần áo và vật dụng sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là nghề thuộc da, những việc có liên quan đến sinh trưởng của “lông” vốn chẳng lạ lùng gì với người dân nơi đây. Thực ra ở phương Bắc, nhiều vùng cũng có kiểu thời tiết mưa dầm, ẩm ướt, theo thường lệ cũng xuất tượng như vậy, cho nên ở đây chúng tôi cũng có câu chuyện về “loại thời tiết ẩm ướt gây cảm giác khó chịu là điều kiện lý tưởng để lông tóc cơ thể con người mau chóng sản sinh”. Như vậy, đến đây, vấn đề khác lại được đặt ra là: Vậy những xác chết cương cứng có khả năng mọc lông tóc nữa ? Có điều với những mỹ nữ thể xác khô cứng thông thường còn hy vọng có thể mọc lại lông tóc, nhưng với những thi thể mới được chôn cất, thể xác còn chưa phân hủy khi được chôn sâu xuống lòng đất, lông tóc vẫn có điều kiện tiếp tục sinh sôi. Tôi được trực tiếp thực hành, cũng có cơ hội tận mắt chứng kiến tất cả những điều này, do đó chỉ có thể hình dung việc qua tưởng tượng mà thôi. Nhưng từ thời nhà Minh đến thời nhà Thanh ít những nhân tài uyên bác lên tiếng khẳng định vấn đề này, thậm chí còn được kiểm nghiệm thực tế. Như vậy có thể thấy bắt đầu từ triều đại nhà Thanh, trong dân gian xuất phong tục đào mả, hơn nữa đối tượng đào bới chủ yếu là những ngôi mộ mới được chôn cất lâu.

      Như vậy chủ đề câu chuyện được dẫn ra là hủ tục lâu đời về “Những xác chết cương cứng hóa thành hạn bạt [18] . Thần hạn hán vì sinh tồn của vạn vật mà luôn phải lánh mình ở những nơi xa xôi. Thuyêt văn giải tự tới hạn bạt, hạn quỷ, trong đó có đoạn ghi chép: “Thần nắng, thần hạn hán cũng từ những thây ma bị phơi nắng khô cháy mà ra. Như vậy thần và quỷ chỉ khác nhau ở cách gọi mà thôi”. Tuy nhiên, “hạn thần” hay “hạn quỷ” từ thời cổ đại cũng có nhiều cách lý giải khác nhau. Theo những cách hiểu quen thuộc hoặc đó là thiên nữ nữ bạt, nữ thần hạn hán trong các thời đại hoàng đế xa xưa, hoặc hiểu theo cách hiểu trong Thần dị kinh - Nam hoàng kinh như thế này: “Phương Nam có người dài hai đến ba tấc, cơ thể trần truồng, hai mắt ở mãi đỉnh đầu, lại như bay, xưng danh là thần hạn hán, hễ nơi nào gặp đại hạn là đất đai lại đỏ ngầu cả mấy nghìn dặm.” Nhưng thần hạn hán và thi thể của người chết có liên quan gì đến nhau? Vào thời nhà Minh, những vùng đất thuộc phương Bắc như Sơn Đông, Hồ Bắc, Hồ Nam… mỗi năm thường xuyên xảy ra hạn hán, người dân những nơi này vẫn chỉ vào những thây ma mới chôn cất mà cho rằng chúng chính là thần hạn hán, bèn hò nhau đến đào mả, lôi xác phanh thây người chết, trong dân gian gọi đó là “đả hạn cốt thung [19] ”. Nhưng ngược lại, phải thi hài nào cũng đều trở thành thần hạn hán, chỉ có những xác chết “mao cương” có khả năng mọc ra lông trắng mới có thể làm việc ấy. Hàng ngàn dặm khô hạn đến cháy đỏ hóa ra đều là do cái thứ xấu xa bên trong mồ mả ngấm ngầm giở trò quấy phá, vì thế cho nên nó mới bị trừng phạt. Tuy nhiên, với những nấm mồ mới được chôn cất cũng nên điều tra tỉ mỉ, thể cứ mở quan tài xem xét, nhìn ngắm thi hài cách đơn giản, qua quýt là được, nhất định phải mời những chuyên gia hiểu biết đến tìm hiểu, đó cũng chính là những pháp sư, thầy mo ở ngay tại địa phương đó, với hiểu biết và kinh nghiệm vốn có, họ dễ dàng thu hẹp phạm vi điều tra. Ư Thận Hành thời nhà Minh, trong tác phẩm Cốc san bút chủ, quyển mười bốn, có ghi lại như sau: “Vào những đêm khuya, lấy lửa soi vào những nấm mộ ấy, nếu như thấy mộ có ánh hào quang phát ra chứng tỏ bên trong mộ chính là “mao cương”. Nhưng với mỗi nấm mộ, các thầy mo lại có cách thức và thủ đoạn tiến hành khác nhau. Thời nhà Minh, Tạ Triệu Chiến trong Ngũ tạp trở có nêu: “Chỉ có mộ của trẻ em mới có thể là nấm mộ có “mao cương”. Cách hiểu này có lẽ xuất phát từ chính quan niệm về hình ảnh thần hạn hán trong truyền thuyết miêu tả, chỉ cao khoảng hai đến ba tấc, vì thế chỉ có hình hài của đứa trẻ mới tương xứng như thế. Nhưng nguyên nhân chủ yếu ở đây có lẽ là đào bới những nấm mộ của trẻ em so với đào bới nấm mộ của cha mẹ hay người thân của chúng ít bị phản đối, ngăn chặn hơn. Tất nhiên khi tiến hành luôn gặp phải những hành động phản đối, cấm đoán, do đó bao giờ cũng phải làm công tác giáo dục tư tưởng, thuyết phục họ phải biết lấy “đại cục” làm trọng, hơn nữa cần phải cho họ hiểu, thi thể của người chết nằm dưới mồ lúc này bị thần hạn hán nhập vào nên linh hồn của quý công tử hay tiểu thư đều vô can, vì thế ảnh hưởng đến danh tiếng của gia tộc, càng thể ghi vào gia phả của dòng họ v.v… Nhưng đối với những kẻ cố chấp chịu nghe theo, cũng thể kéo dài cái luận điệu “ nhàng, cung kính” ấy được, lúc đó thường thường “nhưỡng thành vũ đầu [20] ”, lại tạo ra số loại thi thể mới:

      đất Yên, Tề suốt bốn, năm tháng trời ròng rã có lấy giọt mưa, người dân nơi đây cho rằng vùng đất này bị ma quỷ trấn giữ, ắt phải đào lên mà đốt mới mong mưa xuống. Người ta cho rằng ma quỷ thường trá hình vào những nấm mộ chôn trẻ em mới chết, nên thường chỉ vào những nhà có trẻ em mới chết mà ám chỉ ma quỷ. Những người khác hùa nhau đến đào mả, hành hạ thi thể người chết. Trong khi đó, người nhà lại cực lực phản đối, chống lại hành động đánh đập dã man. Thường xuyên lôi nhau lên công đường rồi làm đơn kiện tụng, là việc đáng cười [21] !

                  [18] Hạn bạt: tức thần hạn hán.

                  [19] Tức là để đẩy lùi hạn hán cần đánh gãy xương người chết. Theo Minh Hoàng Vĩ, trong Bồng song loại ký, quyển hai.

                  [20] Ủ lâu thành ra đồng ý.

                  [21] Theo Ngũ tạp trở, quyển .

      Nhưng nếu như chỉ đào mộ chôn những đứa trẻ coi như là “khống chế” được tình hình, vậy giả dụ mộ của những đứa trẻ đào lên mà tình trạng hạn hán vẫn chưa được giải quyết, thái độ của người dân trở nên “phẫn nộ”, lúc đó hậu quả nghiêm trọng đến mức nào? Do vậy, ngay cả những ngôi mộ mới được chôn cất cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng, “Làm gì cũng phải làm cho tới cùng”, đào ra được thi thể mọc lông kia được ngừng tay. Hơn nữa, ngay cả trong trường hợp xấu nhất, nếu đào mãi mà vẫn nếm thử trong đó có thứ gì ngòn ngọt, chính là tìm thấy dấu hiệu của “mao cương”. Kết quả này cũng có thể là nấm mộ mới chôn nên được may mắn cho lắm, thậm chí ngay cả những thứ chôn theo thi hài người chết trong mộ tự nhiên cũng cánh mà bay. Vì thời đó có người phát ra, ngay cả những phần tử được coi là đứng đầu trong cuộc vận động “đả hạn cốt thung [22] ” ấy thực chất cũng xen lẫn những tư lợi cá nhân, đơn giản chỉ là lấy danh nghĩa việc công để mưu lợi cá nhân, tranh thủ vơ vét số của cải có giá trị, mà như trong Bồng song loại ký chỉ : “Những kẻ xảo quyệt thường cầu hạn hán để báo thù riêng.” số phần tử đứng đầu lại rất hay kích động, lôi kéo, xúi giục, tập hợp tới ngàn vạn người cùng vào cuộc, ra sức đổ thêm dầu vào lửa làm cho mâu thuẫn giữa các bên càng trở nên gay gắt. Đối mặt với nhóm người trong cơn phẫn nộ, quá khích, người còn mang theo cả vũ khí, hễ ai đến gần là lập tức bị chĩa mũi nhọn vào đả kích, trừ khi tự biến mình thành “hạn cốt thung” mới thôi. Vào những năm Hoằng Trì trị vì phái cử quan Ngự sử có hiểu biết đến tìm hiểu việc và tấu trình lên triều đình nghiêm cấm những hành động nguy hại này, “Phải có hành pháp để trừng trị kẻ cầm đầu nhóm người gây rối, bắt chúng phải chỉ ràng lai lịch, quê quán những kẻ tay sai còn lại để bắt giữ (Cách làm này vẫn thường được gọi là “sung quân phát phốt”). Cái gọi là “bắt giữ” ở đây chỉ là cách giữ thể diện mà thôi, thực tế căn bản vẫn thể khống chế được họ.

         [22] Đào mả đánh gãy xương người chết.

      Bất luận là phung phí của cải cũng được, để lộ ra ngoài nỗi uất ức cá nhân cũng tốt, nhưng danh nghĩa mà , số hành vi bạo ngược của những kẻ mông muội cũng có lý do chính đáng của nó. Lý do đó xuất phát từ hai chữ “kháng hạn [23] ” mà ra. Những hành động bạo lực đấu tranh với hạn hán mặc dù nhận được ít kháng cự, nghiêm cấm từ phía quan phủ, nhưng đối với những người nông dân hằng ngày phải đỏ mắt nhìn tình cảnh hạn hán kéo dài đến tuyệt vọng những mệnh lệnh cấm đoán ấy dường như cũng chỉ là tờ giấy vô nghĩa, ngay cả trong khoảng thời gian phải thi hành kỷ cương phép nước chẳng qua cũng chỉ là hình thức “kỳ phong sảo tập [24] ” mà thôi. Trước tình hình ấy, quan phủ ở số địa phương lại thi hành chính sách “làm ngơ có điều kiện”, như Nhàn Trai Thị trong Dạ đàm tùy lục, quyển hai, có ghi lại chuyện xảy ra ở vùng ngoại ô Bắc Kinh, quan phủ nơi đây quy định, nếu người dân đào thấy xác chết “mao cương”, nhất định phải báo lại cho quan phủ, sau khi xác minh ràng thân thế mới được đem hỏa thiêu. Những quy định “ràng buộc” như vậy chẳng khác gì thừa nhận tính hợp pháp của hành động dã man đào mả hành hạ người chết. Ở thời đại vốn được coi là “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn” mà còn như vậy, làm sao có thể tưởng tượng được sau triều đại nhà Minh, khi pháp trị ngày suy yếu làm cách nào để khống chế được tình hình đào mả đả thần ngừng leo thang? trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân cuối thời Minh phần liên quan đến tình hình hạn hán kéo dài nơi đây. Tôi nghĩ việc này bắt đầu từ chính số phần tử nổi loạn ở địa phương lợi dụng việc đào mả đả thần để mở màn cho những cuộc nổi dậy có quy mô sau đó.

        [23] Chống lại hạn hán.

                  [24] Dùng ngọn gió thổi thoảng qua để dập tắt ngọn lửa lớn.



                  4


      Nhưng cổ nhân căn cứ vào quan niệm giữa “cương thi” và “thần hạn hán”, hai loại này xưa nay vốn chẳng có quan hệ gì nhưng lại thường xuyên bị kéo vào chỗ? Nếu tự nhiên kiếm tìm trong sách Nông chảnh toàn thư hay Thiên công khai vật thể tìm ra được cái nhân duyên nào trong đó. Để lý giải được điều này chỉ có cách duy nhất là lục tìm trong số ghi chép của những thầy mo sống lưu lạc trong dân gian. Trước triều đại nhà Minh hoàn toàn có ghi chép nào về vấn đề này, nhưng ngược lại vẫn có thể tìm thấy những dấu vết mờ nhạt có liên quan đến nó. Hóa ra, phải tới triều đại nhà Tống mới có loại học thuyết cho rằng “cương thi” là thứ có khả năng “hút nước”. Trong Di kiên ất chí, quyển năm, Lưu Tử Ngang có đoạn đến Hỏa Châu, Hỏa Phù, Lưu Tử Ngang vì có ma quỷ nấp nên phải mời về vị đạo sĩ trừ . Vị đạo sĩ này phân tích rằng ma quỷ tác tác quái trong phủ chính là loài quái, hơn nữa lại ở trong chính nha môn. Đạo sĩ tự có thuật “thám trắc”. Ông ta lệnh cho người gánh mấy chục gánh nước đổ vào cả góc sân đến năm, sáu tấc, đợi đến khi nước rút cạn, đào sâu xuống, quả nhiên là thi thể cương cứng lên thể làm hại người khác nữa.

      Nhưng cao kiến này của đạo sĩ, dưới triều đại nhà Tống chỉ dùng để trừ diệt quái, những bí quyết và kĩ thuật này ngày càng mai theo thời gian, về sau bị thất truyền. Cho đến triều đại nhà Minh, những phần tử tri thức trong mỗi hương thôn đều có khả năng tìm hiểu các vật hữu hình, vô hình trong trời đất, nó sinh, nó diệt, nó hợp, nó ly như thế nào. Dường như từ những kinh nghiệm trong sách cổ cùng với những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày gợi mở cho họ nhiều vấn đề khiến họ bừng tỉnh: “cương thi” có thể thối rữa, hơn nữa còn có thể tiếp tục mọc lông, vì thế cần phải giữ được thành phần nước có trong thi thể. Đặc điểm này làm chúng ta tưởng tượng ra những “quái vật” có khả năng hút nước. Hơn nữa, năng lực liên tưởng của con người luôn luôn là vô hạn, rất có thể lại còn tưởng tượng ra đây là xác chết cương cứng có khả năng hút hết nước từ khắp nơi trời dưới đất trong phạm vi rộng lớn hàng trăm dặm. Và chỉ cần thần hạn hán bị đập vỡ là có thể phóng thích ra lượng nước tương đương như thế, từ đó sinh ra mây, tạo mưa cách tự nhiên.

      Nhưng dưới triều đại nhà Minh, những thi thể cương cứng này bị “vu cáo, hãm hại” và bị đào mả bốc xương cũng chỉ vì cơ thể của chúng vẫn còn khả năng mọc lông mà thôi, nhưng ngược lại, cho dù là đáng kinh sợ thế nào chúng vẫn phải trải qua quá trình bị hành hạ dã man từ đào mả, đánh đập, đến nện vỡ, rồi cuối cùng là thiêu cháy. Phần lớn những thi thể cương cứng bị hành hung như vậy đều “kêu” lên mấy tiếng “chít chít”, từ đó có ai dám phản kháng, càng thể là quá nghiêm khắc hay có điều ám muội. Cho nên, đến triều đại nhà Minh, những biểu của thi thể cương cứng vẫn có thể là tương đương với các thân sĩ. Nhưng điều may mắn là, đến triều đại nhà Thanh, ở phương Nam, tính chất của những “cương thi” này lại chuyển hóa dần sang những biểu của tính ác, biến thành “mao cương” với nhiều màu sắc, hình dạng như giới thiệu ở .

      Câu chuyện về “cương thi” bị đào mả bốc xương được khẳng định truyền từ phương Bắc đến phương Nam. Nhưng có lẽ, người phương Nam vận dụng những kinh nghiệm chống hạn như người phương Bắc làm. Từ những ghi chép đều thể tìm thấy những ví dụ thực tế về phương diện này. Và cách tự nhiên, tình trạng khô hạn ở vùng Hồ Nam vẫn thường xảy ra ít hơn so với những vùng phương Bắc. Chu Tác Nhân cho rằng “cương thi” trong quan niệm của người dân “thường bị đánh đồng với thần hạn hán, có khả năng ngăn cản trời mưa”, điều này khiến cho người dân cảm thấy những thi thể cương cứng ở phương Nam dường như giúp ích rất nhiều cho nhân dân trong việc phòng chống lũ lụt, ngập úng. Đương nhiên, ở Hồ Nam cũng có chuyện đào mồ đào mả để tìm kiếm thần hạn hán, họ cho rằng những công thần nơi đây có những việc làm hữu ích, có tác dụng to lớn trong việc giúp dân tránh lũ lụt, hành động của họ chẳng khác nào việc làm của nữ thần hạn hán giúp dân đẩy lùi những trận mưa to bão lớn. Nhưng có vẻ như trong khi tới những mặt tốt đẹp của cương thi, họ phần nào bỏ sót, đề cập tới mặt xấu, mặt ác của chúng. Đây hoàn toàn là “bỏ sót” chứ phải là thái độ khoan dung đối với những “cương thi” này. Những thi thể cương cứng ở phương Bắc khi bị người dân đào lên đều là những vật ký sinh sống nhờ vào thể xác của người khác và trở thành thần hạn hán. Còn những “mao cương” ở phương Nam quấy phá làm hại người khác lại là những hành vi của chính thi thể đó. thực tế, những tình tiết phạm tội nghiêm trọng của những xác chết cương cứng đều là do những “cương thi” ấy làm chủ được hành vi của mình dẫn đến từ chỗ bị lôi kéo trở thành những thủ phạm phạm tội. Nếu như những xác chết cương cứng ở phương Bắc chỉ nằm trong quan tài và bị thần hạn hán nhập vào thể xác rồi điều khiển, khống chế tình hình hạn hán, ngược lại, những thi thể cương cứng ở phương Nam lại nhảy ra khỏi quan tài, giở thủ đoạn hại người, trở thành phần tử khủng bố hoàn toàn. (Lưu ý, cụm từ phương Bắc, phương Nam được tới đây chỉ là cách ước lương chứ có tính tuyệt đối [25] )

        [25] Ở phương Nam cũng có cách kiến giải đồng nhất khái niệm “cương thi” và “thần hạn hán”, câu chuyện điển hình nhất được tới chính là Động linh tục chí của Quách Tác Vân vào cuối đời nhà Thanh, đầu thời dân quốc. Trong quyển ba có đoạn viết: “Giữa đời Vua Hàm Phong, tỉnh Phúc Kiến gặp hạn hán, mấy tháng trời có lấy giọt mưa. Mỗi lần mây đen kéo đến, tưởng rằng mưa, nhưng ngay sau đó lại có những áng mây đỏ rực như lửa bay tới mang theo gió lớn thổi tan đám mây đen. hôm, mây đen từ bốn phía hợp lại mỗi lúc dày, từ dưới đất, những đám mây rực lửa lại từ từ bốc lên ra sức chống lại. Mây đỏ dần dần chống đỡ được, đúng lúc đó đám mây xuất vô số những con rồng và con quái thú với màu vàng kim kỳ lạ từ giữa đám mây thò đầu ra. Đột nhiên, những tràng dài sấm chớp nổi lên, mưa đổ xuống như trút nước, hình bóng những con rồng và cả quái thú còn xuất . Cùng vào ngày hôm đó có người dân trong thôn chạy đến báo quan phủ: “Trong hang sâu xuất “cương thi” mọc ra hàng trăm cái đầu, hết cái này đến cái khác treo lơ lửng cành cây mà rơi xuống. ràng quái thú có bộ lông màu vàng kim ấy chính là loại ma quỷ. Trong Tử bất ngữ từng khẳng định đó cũng là cách biến hóa độc đáo của “cương thi”. Xem ra, xác chết cương cứng có thể biến thành thần hạn hán, và thêm lần biến hóa nữa là hình ảnh về loài quái thú đáng sợ. Xác chết cương cứng với hàng trăm cái cổ dài và bộ lông màu vàng kim cùng vô số những con rồng lao vào trận hỗn chiến. Cảnh chiến đấu ác liệt ấy quả là hùng vĩ, sấm sét vang động cả vùng trời, dưới màn mưa trắng xóa, thi thể cương cứng vươn ra hàng trăm cái cổ dài treo lở lửng khắp các cành cây, chỉ cần nghĩ đến thôi cũng đủ khiến người ta giật mình hoảng sợ.



                   5


      Những thi thể cương cứng muốn thoát ra khỏi quan tài cần có điều kiện tối thiểu là nắp quan tài có thể mở ra được. Điều này lại xuất phát từ số nguyên nhân hoặc đó là do mồ mả cũ chưa được tu sửa, phần gỗ của quan tài để lộ ra ngoài, hoặc như lời Chu Tác Nhân “Linh cữu để lâu được đem chôn”, quan tài được bày ngay mặt đất, đối với những thi thể cương cứng, điều này quả thực chẳng khác gì ngôi nhà mà cánh cửa luôn có thể đóng mở, chuyển động cách dễ dàng.

      Từ Lục triều trở về trước, ở phương Nam có phong tục cổ hủ là thi thể người chết được đặt trong quan tài thời gian dài mà được đem chôn. Tất nhiên hủ tục này rất ít thấy ở người phương Bắc, nhưng chung ít nhiều vẫn còn tồn tại. Những phong tục cổ hủ này nhận được quở trách của ít những nhân sĩ vùng Trung Nguyên di chuyển xuống phương Nam. Đa số những ý kiến đưa ra đều tập trung vào vấn đề “Đạo lý” trong gia đình và phản ánh khía cạnh trong văn hóa u minh của con người, đó chính là xuất của tượng “sai lầm khi chôn cất xác chết kịp thời, khiến chúng biến thành loài quái [26] ”. Nếu như thi thể người chết được chôn cất kịp thời, theo thời gian, trong quan tài tự sắp xếp, biến hóa thành quái. Cách như vậy phản đối cách tự nhiên hành động mê tín để linh cữu người chết trong nhà lâu ngày đưa chôn, nhưng ngược lại cũng đưa ra lời khẳng định chắc chắn rằng những thi thể ma ấy chính là “cương thi”. Hơn nghìn năm sau, từ Lục triều đến cuối đời nhà Minh, cả phương Nam và phương Bắc đều còn xuất câu chuyện về những xác chết để lâu ngày đem chôn hóa thành quái càn quấy dân lành. Ngay cả câu chuyện thành tinh, thành quái của những thi thể khô cứng trong quan tài cũng ít thấy xuất . Thử nghĩ lại chút, đứa con bất hiếu đem quan tài của cha mẹ già phơi ra giữa trời đất, chỉ vậy thôi hai thân già đó cũng đủ đáng thương rồi, vậy mà còn cho họ trở thành “thi ”, vô tâm bất nhẫn quấy quở người khác. Hơn nữa, hành động của đứa con bất hiếu kia cũng chính là kết quả của thói quen được nuông chiều từ , hai thân già bị biến thành quái, có thể cũng chỉ làm những việc quấy phá trong nhà người khác chút, nhưng chính đứa con ấy lại thay họ gánh vác tất cả trách nhiệm mà họ gây ra. Ngay cả hình dáng những “thi ” như vậy cũng có bất cứ ý nghĩa giáo dục nào đối với chính đứa con của mình, tất yếu cũng chẳng cần quan tâm, dạy bảo chúng. Nhưng những câu chuyện ma quỷ khác có ý nghĩa phản đối hủ tục để xác lâu trong nhà chôn xuất ít. Đa số đều là do phủ đứng ra trừng phạt những đứa con bị coi là bất hiếu đối với cha mẹ, như Giang Tu Phúc, người thời Tống, trong Lễ tuyên bút lục, quyển thượng, phần phụ lục có dẫn ra câu của người hầu : “Vốn người tôn quý, chỉ vì cha mẹ chết mà nỡ chôn, nay bị giáng chức lưu đày thành hạng ma quỷ đê hèn.” Hồng Mại thời Nam Tống trong Di kiên ất chí, quyển bảy, La Củng khiến có đoạn về La Củng thi cử nhiều lần mà chưa đỗ đạt, bèn đến miếu thần thắp hương hỏi bước đường công danh, có vị thần về báo mông: “Cha mẹ nhà ngươi chết lâu rồi mà vẫn chưa được chôn cất, vô cùng khốn khổ giữa chốn phủ, hãy nhanh chóng trở về quê nhà, còn hỏi đến tiền đồ, công danh làm gì nữa!” Đến triều Minh - Thanh, những hình phạt như thế này càng trở nên nghiêm khắc, khiến cho thi thoảng xuất câu chuyện về những hồn ma phải chịu đựng cực hình ghê gớm nhất. Như Đổng Hàm, sống vào khoảng đầu đời nhà Thanh, trong Thuần hương chuế bút, quyển hạ, có tới khả năng khác thi thể cha mẹ được an táng lại gây báo ứng cho chính những đứa con của mình, cuối cùng dẫn đến những cái chết đột tử cách lạnh lùng thương tiếc, chỉ cần những oán hận ấy thôi cũng đủ để khắc cốt ghi tâm. Nhưng dù cho như thế các nhân vật trong những câu chuyện này vẫn là những con người đáng thương, nhẫn tâm để họ thể an thân dưới lòng đất mà phải lang thang khắp chốn, trở thành những hồn ma hóa “lệ quỷ” hoặc “thi ”, cho nên cái gọi là “ chôn cất gặp điều chẳng lành, xác chết hóa ma” thực chất rất khó để có thể duy trì hình ảnh này trong các câu chuyện ma quỷ.

               [26] Theo Thuật dị ký của Nhiệm Phưởng.

      Nhưng đến triều đại nhà Thanh, có lẽ nhận được những gợi ý từ trong các câu chuyện về “mao cương”, cho nên ý thức người dân tiến thêm bước trong việc phát huy mặt tích cực tinh thần vứt bỏ những hủ tục trước đây. Vấn đề này trong thời kỳ đó trở thành chủ đề văn hóa, đạo đức trong nếp sống của người dân. Trong các câu chuyện chỉ còn lấy đề tài “xác chết hóa ma” làm chủ đề sáng tác. Đó là hàng loạt những thi thể cương cứng hóa thành ma do xác chết để lâu ngày trong quan tài được đem chôn cất mà thành. Trong Độn trai ngẫu bút, quyển hạ, Cương thi có đoạn viết: “ người khách qua đường tìm được căn nhà ba gian ngủ tạm qua đêm, trong căn nhà vắng vẻ, đìu hiu đặt chiếc quan tài ở chính giữa gian.” Nhàn Trai Thị trong Dạ đàm tùy lục, quyển hai, Thi biến có đoạn viết: “Dưới lầu, gần ngôi mộ cổ chôn chung nhiều xác chết lúc nào cũng ảm đạm, thê lương, ngoài con số vạn, còn có thêm những chiếc quan tài mới chôn và có khoảng mười linh cữu khác nằm rải rác trong đám cỏ mọc rậm rạp, tốt tươi.” Du Phượng Hàn trong Cao hạnh nghiêm trai tạp ký viết: “Người con hàng xóm chết, đủ sức để chôn, bèn gửi quan tài vào chùa nương nhờ nơi cửa phật.” Trong Tử bất ngữ, quyển hai mươi hai, Cương thi bão vi đà cũng có đoạn về linh cữu người chết được gửi vào trong chùa. Hữu đài tiên quán bút ký, quyển bốn, viết: “Sau khi đạo binh nổi loạn ở Kim Lăng, từ trong nhà đến ngoài thành, mồ mả, thây ma người chết quăng quật tứ tung mà được chôn cất tử tế.” số ví dụ được dẫn ra đây đều là những ví dụ tiêu biểu về quan tài của các thi thể cương cứng. Mặc dù con có số câu chuyện cũng nhắc tới tượng “mao cương” xuất trong các ngôi mộ bị phá hủy, nhưng còn nghi ngờ gì nữa, thi thể cương cứng trong quan tài luôn là chủ đề dẫn dắt của người viết trong các câu chuyện ma quái. Có thể , ở đó chứa dụng tâm sáng tạo tuyệt vời của người viết. Đó chính là thành công lớn trong việc tạo ra những bằng chứng xác thực nhằm khẳng định “Hậu quả nghiêm trọng của hành động để xác chết trong nhà đem chôn cất, xác chết dễ dàng biến thành ma quấy phá con người”. Mặc dù cái đích cuối cùng của những câu chuyện này vẫn là trở về với chủ đề đạo đức, đưa ra những bài học giáo dục, răn rạy cách sống sao cho phải đạo với mỗi cá nhân trong xã hội. Có người từng cho rằng, những câu chuyện về xác chết cương cứng “quên tầng lớp ý nghĩa mà luận bàn về nghệ thuật xây dựng truyện, đó thành công rồi”. Có lẽ ý nghĩa của những câu chuyện độc đáo này thể dễ dàng cắt nghĩa được qua ngôn từ, vì thế trong cách hiểu đó vẫn hơi có phần võ đoán. Nhưng từ cách “cửu táng bất hủ [27] ” theo thời gian được cải biên thành “cửu tẫn bất táng [28] ”, càng thể khiến người ta khâm phục về chuẩn xác trong trực giác của người dân Trung Quốc thuở xa xưa.

          [27] Để lâu chôn thối rữa.

                  [28] Bỏ mặc chôn cất.

      Chu Tác Nhân , trong câu chuyện về “cương thi”: “ mặt nào đó lại có truyền thuyết về những câu chuyện tình nồng nàn, say đắm, từ đó đem đến chút sắc màu ấm áp, say mê.” Qua những cuốn sách mà tôi may mắn được đọc cũng có cuốn sách nào có thể hấp dẫn hơn thế, cho nên có phát nào có khả năng dẫn dắt người ta chìm đắm trong những câu chuyện tình đẹp đẽ, tinh tế, sâu sắc của những xác chết cương cứng cách đầy mê hoặc đến thế. Nhưng các câu chuyện về thi thể cương cứng đến giai đoạn sau hoàn toàn đem đén cho người ta cảm giác hung dữ, sợ hãi, mà gia tăng ít những nội dung nhân tính hóa, gần gũi với đời sống của con người và dần dần trở nên thực tế hơn rất nhiều. Có nhiều câu chuyện xoay quanh những xác chết cương cứng như: Chuyện về xác chết cương cứng nơi quán trọ, “cương thi” là người thân, tình của hồn ma khô cứng… Những chủ đề này chỉ đáng sợ, đáng mà còn hết sức hài hước. Điều khiến chúng ta cần chú ý ở đây chính là trong các xác chết cương cứng còn có khống chế, ngăn chặn giữa nhưng “cương thi” với nhau, đặc biệt là giữa cương thi đồng loại với “cương thi” chuyên làm điều ác hãm hại dân lành. Những thay đổi theo chiều hướng tích cực này góp phần đem lại chút “màu sắc ấm áp”, đặc biệt là “thắp sáng những hy vọng” cho mỗi chúng ta từ sau những câu chuyện ma quái huyền bí, hấp dẫn [29] .

        [29] Du Phượng Hàn trong Cao hạnh nghiễm trai tạp ký có bàn về chuyện Thẩm Mộng Nham ở nhờ trong ngôi chùa bên Tây Hồ, cạnh ngôi chùa là căn nhà mười gian rộng rãi để đầy những chiếc quan tài chưa được chôn cất. hôm, có vị tăng ni trong chùa gọi Thẩm Mộng Nham đến và : “Thí chủ có mong muốn được mở rộng tầm mắt của mình ?” xong, vị tăng ni liền bước đến ngôi nhà xếp đầy quan tài đó, tra khóa vào rồi mở ra. Sau đó, lên trước mắt họ là trăm nghìn linh cữu hình thù vô cùng kỳ lạ, có loại chưa từng thấy bao giờ, ở chính giữa là chiếc quan tài lớn nhất và cũng kỳ lạ nhất được bày đặt hương án bên . Thẩm Mộng Nham định hỏi xem đó là linh cữu của ai vị tăng ni liền lên tiếng: “Đây là linh cữu của Chu Bát tướng quân cuối đời nhà Tống, vị tướng quân này trước kia từng thụ đồ nơi cửa chùa, sau khi chết gửi thân trong linh cữu này, tính đến nay cũng được trăm năm rồi.” lát sau khi quay trở lại nơi cư ngụ, vị tăng ni bất ngờ hỏi: “Thí chủ có mong muốn được như Chu Bát tướng quân ?” Thẩm Mộng Nham vừa vui mừng vừa kinh sợ, hỏi lại: “Sao ạ?” Vị tăng ni đáp: “Mặc dù tướng quân chết, nhưng thực ra người vẫn chết, vì người hóa thành địa tiên, thường du sơn ngắm thủy, thi thoảng lại trở về, khi trở về có thể gặp, hoặc có thể . Nay trở về, mai lại ra .” Vị tăng ni bỗng nhiên hạ thấp giọng, thầm : “Nếu có duyên, ngày nào đó ắt gặp tướng quân.” Để trai giới, suốt mấy tuần lễ, vị tăng ni vẫn thường xuyên lui tới ngôi nhà cất giữ linh cữu người chết và chăm chú nhìn vào chiếc quan tài đặt nơi chính giữa gian nhà, có lỗ hổng hình bán nguyệt, bỗng vọng vào thanh kỳ lạ, quả nhiên ngoài hành lang xuất người, thân hình to lớn, râu tóc bạc phơ, bên ngoài choàng chiếc áo dài chấm gót, tựa mình vào lan can ngắm trăng, chỉ trong khoảnh khắc soi bóng vào phòng, rồi biến mất còn nhìn thấy nữa.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 4: Tị sát chị mê [1]


      trong những phong tục cổ hủ trong tang của người Trung Quốc thời cổ đại khiến người ta vừa cảm thấy khó hiểu, vừa cảm thấy sợ hãi nhất đó chính là “tị sát”. Lý giải mặt chữ có thể thấy “tị sát” chính là trốn tránh hung thần. Nhưng hai chữ “hung thần” được bàn tới ở đây lại khác hoàn toàn so với cách “hung thần ác quỷ” mà chúng ta vẫn thường nghe thấy trong cuộc sống hàng ngày. Nó là loại sát quỷ đặc biệt chỉ xuất khi nhà có tang . Chữ “sát” trong “tị sát” còn được viết là chữ “sát” [2] , thời cổ đại còn gọi là “suy” [3] , sau này gọi là “sảnh” [4] , hoặc gọi thành “ương” [5] . Nhưng tôi vẫn cho rằng tất cả những chữ đó đều là biến của chữ “tang” mà ra. Ví dụ, có số địa phương thường liên kết từ tạo ra từ ghép hai tiếng là “sát ương”, mà “sát”, “ương” - hai chữ này hợp lại chính là chữ “tang” mà thôi. Cho nên Chu Tác Nhân thường gọi “hồi sát” thành “hồi tang” là vì thế, và đó cũng có thể là nghĩa nguyên bản được tiếp cận gần đây nhất. Lại căn cứ vào cách dùng từ của các bậc tiền bối như Chu Tác Nhân, hay tác giả của Ký kham tứ chí, cuối đời nhà Thanh, trong quyển hai có đoạn viết “quy sát” thành “chuyển sát”. Hơn nữa, nhất là vào thời nhà Minh, chữ “sát” ngay cả đọc hay viết đều có thể chuyển thành “tang” và ngược lại. Ngay cả khi đọc hai chữ “sảnh” và “suy”, thực tế cũng phát rất gần với chữ “tang”. Còn có số địa phương, chữ “thần mã” trong “hung thần”, mặt chữ liền thay bằng “phi thương” hoặc “thương” [6] . Nếu đây chỉ là phỏng đoán “hung thần” ở đây thể coi là “tang thần” được.

        [1] Thu mình lại trốn tránh hung thần trong cõi u mê.

                  [2] Tức “đánh, giết”.

                  [3] Tức “yếu, suy yếu”.

                  [4] Tức “tai nạn”, “sai sót”.

                  [5] Tức “tai họa, tai ương”.

                  [6] Tức “thương tích, tổn thương”.

      Phong tục “tị sát” của người xưa đến nay còn lại dấu vết, nhưng trong khoảng hai nghìn năm về trước từng rất phổ biến ở cả hai miền Nam, Bắc. Có thể do nó có trong đám tang, vì những người cầm hốt mà xòe tay áo đỏ, quan viên hoặc những người thuộc tầng lớp thượng lưu lại thường vô đạo, điều đó càng khiến người ta cảm thấy xa lạ.

      Thực ra, rất nhiều độc giả là những người từng chứng kiến và ghi lại những điều tương tự, thường thấy nhất là phần Khám kha ký thu trong Phù sinh lục ký có đoạn ghi chép lại cách sinh động về “tị sát” như sau:

            Trong tuần lễ hồi sát, có tục truyền là ban ngày linh hồn thường theo bóng ma mà trở về ngôi nhà cũ và sắp đặt lại mọi thứ y như khi còn sống, từ cái chiếu nằm, cái áo cũ khi còn sống vẫn để ở giường đến đôi giày cũ để ở dưới gầm giường. Mỗi lần quay trở về, hồn ma đều nhìn trước ngó sau, nghĩ nghĩ lại, rồi cố gắng “thu vào tầm mắt” tất cả mọi thứ hữu xung quanh. Dùng mọi cách để kéo dài thời gian, trước với lấy cái giường sau lại gạt bỏ tất cả, gọi là “tiếp sảnh”, ở Dương Châu còn có tục lệ bày sẵn cỗ bàn, tiệc rượu trong nhà người chết, nhất gia tận xuất, được gọi là “tị sảnh” [7] .

                  [7] Tức là “tránh sai sót”.

      Ở đây là đến ngày hồi sát, vong linh của người chết cùng bóng ma trở về thăm lại ngôi nhà cũ vốn vô cùng gắn bó với mình, cũng chính là , bóng ma và người chết, hồn lìa khỏi xác. Nhưng đây chỉ là khẳng định mang tính nhất thời, phía. “Sát” và “vật”, thẳng ra là linh hồn và thể xác của người mới chết, và hơn thế, có cái gì đó là hung thần và ác quỷ. Để hơn những khái niệm mơ hồ này, có thể hiểu hung thần được tới đây chính là loài chim ác. nay, ở Vân Nam vẫn có khả năng tìm thấy số hình ảnh về hung thần, đó là thứ có hình dáng giống như chim, mặt mũi có chút hung ác, dữ tợn, nhưng ngược lại rất khó để người ta tin tưởng vong hồn lại nhập vào chính loài vật như thế trở về nhà cũ mà nhìn trước ngó sau.

                  1.


      Với Nhan thi gia huấn, quyển hai, Phong thao, có khẳng định Bắc Tề Nhan là trong số những người bàn tới vấn đề “tị sát” sớm nhất trong các trước tác của mình. Thời ấy, ông gọi đó là “quy sát”, ông lý giải thêm, con người sau khi chết, linh hồn thường tìm cách quay trở về ngôi nhà cũ của mình, lúc trở về, nếu là ban ngày “chạy nhảy rong chơi cùng đám trẻ con, khi chắc chắn có ai mới dám vào nhà”, chính vì thế người nhà thường tìm cách ra ngoài để trốn tránh linh hồn người chết trở về, có khi phải mời thầy cúng đến “họa ngõa thư phù, tác chư yếm thắng” [8] , “môn tiền nhiên hỏa, hộ ngoại liệt khôi” [9] … đây đều là những tục lệ của người Trung Quốc xưa trong những gia đình có người mới hết. Khi cả gia đình trở về rồi cũng cần mời thầy cúng đến để “phất tống gia quỷ” [10] , cũng chính là “tống sát” [11] . “Gia quỷ” được tới ở đây chính là chỉ vong hồn của người chết. Nhưng những ghi chép về “tị sát” xuất sớm nhất có lẽ là vào thời Tam Quốc, trong Tam Quốc chí - Ngụy chí - Trần Quần truyện đến ấu nữ của Ngụy Minh Đế sau khi ra đời chưa được đầy tháng chết yểu. Trần Quần Gián bèn tìm cách ngăn cản xa giá, tới chuyện “tị suy”, ông cho rằng: “Người chết dù sao cũng thể quay về được nữa”. ràng lời khuyên can đó có ý nghi ngờ linh hồn người chết thể quay về được. Cách này tỏ thái độ hoài nghi đối với việc “quy sát” trong phong tục của người xưa. Ông lại : “Tám tuổi được coi là chết non, phải để tang, vì thế cũng cần sắm sửa đồ cúng lễ”. Cách kiến giải của Trần Quần Gián cũng có điểm gần gũi với quan niệm sau này về những đứa trẻ chết yểu, họ cho rằng: “Những đứa bé chết khi còn chưa mọc răng có linh hồn, thể quay về” [12] . Nhưng bởi vì nó được viết ra cách vô cùng đơn giản, như những lời “gia huấn” cách tỉ mỉ, kỹ càng, cho nên nhiều người chú ý tới.

          [8] Ý chỉ vẽ những hình thù gì đó lên mái ngói để đánh dấu cho linh hồn người chết tìm về đúng chỗ.

                  [9] Ý trước nhà nhóm lên ngọn lửa, ngoài cửa bầy ra chút tro tàn.

                  [10] Cung tiễn ma quỷ ra khỏi nhà.

                  [11] Tiễn vong hồn người thân về nơi thế.

                  [12] Theo Duyệt vi thảo đường bút ký - Như thị ngã văn.

      Trong thời kỳ Nam - Bắc triều, đây là tập tục được phổ biến rộng rãi từ Bắc đến Nam. Ở phương Bắc, với mỗi người dân, tập tục này vô cùng quen thuộc, số thầy mo có chuyên môn còn có cả những cuốn sách ghi chép lại vài nội dung liên quan đến tập tục này. Đến thời kỳ đầu nhà Đường, Bách kỵ lịch thể khả năng tinh thông thiên văn, nhạc luật và thuật giả kim của người xưa. Đặc biệt, trong đó còn có nội dung bàn về cách thức tránh khỏi tang sát, cách tính thời gian “hồi sát”, phạm vi mà linh hồn người chết trở về thường hay lui tới, còn đến những phần như “hùng sát” [13] , “thư sát” [14] . Cuốn sách gốc theo thời gian bị thất lạc từ lâu, đến nay những nội dung này chỉ có thể tìm thấy phần trong Xuy kiếm tứ lục của Du Văn Báo, người thời Tống, trong đó có đoạn viết:

            biết từ bao giờ, con người quan tâm đến vấn đề “tị sát”. Theo Đường Thái Thường trong “Bách kỵ lịch”, phần “Tang sát tổn hại pháp”, người con trai chết linh hồn nhập vào con chim đực, được gọi là “hùng sát”, bốn mươi bảy ngày sau bay trở về hồi sát, người con mới khoảng mười ba, mười bốn tuổi, thư sát, xuất phương Nam đệ tam gia, sát bạch sắc, là nam tử, hoặc hộ Trịnh, Phan, Tôn, Trần, từ ngày hai mươi đến ngày hai chín có hai lần trở về tang gia. Mỗi thời tục lệ có thể nhau, nhưng đến những ngày ấy người nhà cần tránh nơi khác… Khi nhập niệm, ngay cả những đứa con có cha mẹ chết cũng phải tránh , thậm chí phụ nữ cũng dám đứng lên , tất cả đều giao phó cho lão gia bộc lo liệu mọi .

                  [13] Tức là “linh hồn người chết trở về nhập vào loài chim đực”.

                  [14] Tức là “linh hồn người chết trở về nhập vào loài chim cái”.

      Sau này, tục “tị sát” được ghi chép lại trong những cuốn tiểu thuyết, và số lần xuất của nó cũng ngày nhiều hơn. Đế Phu Thị trong Nguyên hóa ký cho rằng “cần phải phòng tránh hung thần, quỷ thần đột nhập vào nhà làm tổn hại đến người và của”, cho nên toàn thể gia đình phải dọn đến ở nhờ nhà những người thân quen để tránh mỗi lần vong hồn người chết hồi quy. Trong Kỷ văn của Ngữu Túc, chữ “煞” (hung thần) được viết thành “杀” (giết, đánh) [15] , gọi “归剎” (quy sát) là “杀出” (diễn ra hành động đánh, giết), cũng là “煞出”, : “Trong nhà có người chết, liền mời ngay thầy mo đến cúng “tức ngôn kì sát xuất nhật, tất hữu phương hại, tử gia đa xuất tị chi” [16] ”. Trong Kê thần lục của Từ Huyễn thời Ngũ Đại Nam Đường cũng ghi lại những điều tương tự.

          [15] Trong tiếng Trung

                  [16] Đại ý là, trong ngày vong hồn hồi quy tất yếu có hại cho gia chủ, vì thế ngày hôm đó, những người trong gia đình có người chết cần lánh nơi khác.

      Đến thời nhà Tống, vấn đề “tị sát” ở phương Nam trở nên khá phổ biến. Trong Di kiến ất chí của Hồng Mại thời Nam Tống, quyển mười chín, Hàn thị phóng quỷ có bàn tới vấn đề “tị sát”, hơn nữa còn bắt đầu xuất chuyện “dùng tàn tro làm dấu”, ràng có thể xem đó là dấu hiệu can thiệp vào tái sinh, chuyển thế :

        Ở Giang Tô và Chiết Giang có tục tin vào những thầy mo cúng ma gọi quỷ. Tương truyền, người chết hồn lìa khỏi xác, lấy ngày đó để tính ngày vong hồn tìm về quy sát, cách phòng tránh tốt nhất là lúc ấy tránh ra bên ngoài, hành động ấy được gọi là “tị phóng”. Nhờ người con trai khỏe mạnh hoặc vị tăng ni rắc tro xuống đất làm dấu, đến khi trời sáng nhìn dấu vết ấy.

      Trong Di kiên chi ất, quyển , Đổng thành nhị lang cũng có đoạn :

      Đến thời điểm vong linh người chết quy sát trở về, để cất giấu mọi thứ, người nhà thường làm theo tục lệ xưa, lấy cái dần hay cái sàng làm lớp tro bụi bếp, phủ lên cái siêu sành, hay nồi đất để kiểm tra xem người chết có hồi quy hay .

      Dấu vết để kiểm tra ở đây là xem vết chân lớp tro mà phán đoán người chết có thể đầu thai sang kiếp sau là gì, thấy dấu chân gà nghĩa la đầu thai làm gà, thấy dấu chân chó có thể đầu thai thành chó… Họ cho rằng vào ngày kia, người chết nhận được thông báo sang thế giới bên kia. quay về “hồi sát” được tới ở đây chỉ là cách để họ từ biệt những người thân của mình còn sống dương thế. Du Văn Báo là người thà, chất phác, có tư chất thông minh, hiểu biết, sống vào thời Nam Tống, ông từng biểu thị phản đối kịch liệt đối với những hủ tục “tị sát” trong dân gian. Tại thời điểm đó, nhiều người dần dần từ bỏ tục lệ “tị sát”, theo tăng đạo, tin dương, có thể thấy lệ “tị sát” trong dân gian thịnh hành như thế nào.

      Thầm Bảng, người triều Minh, trong Uyển thụ tạp ký, quyển mười bảy có đến “đóa sát”, phong tục của người Bắc Kinh:

      Những nhà dương học thường căn cứ vào năm tháng của người chết để tìm ra ngày mà hung thần đến hòng đưa cả gia đình đến nơi khác để tránh.

      Thời nhà Minh có người Triều Tiên thông hiểu tiếng Hán, là tác giả của cuốn sách Bổ thông nổi tiếng, ghi lại tục lệ “thiếp ương bảng” [17] . Tục lệ này có từ trước đó rất lâu, từ thời Lã Tài có tục kiêng kỵ “sát phạm sinh nhân”, vốn chính là tục thông cáo ở làng quê. Trong Bổ thông có ghi lại đọan đối thoại rất độc đáo:

      “Trước nay người ta vẫn thường dán bản cáo phó trước cửa mỗi khi nhà có tang, nhìn thấy bao giờ chưa?” “Tôi chưa từng thấy qua. Người ta viết những gì trong bản cáo phó đó?” “Viết là: Ngày Mười hai, Đinh Mão, tháng Hai, Bính Ngọ, năm Nhâm Thìn, người thanh niên sinh năm Bính Thân, qua đời ở tuổi ba mươi bảy. Giờ Đinh, ngày Hai mươi tư tiến hành an táng tại cổng thành. Người có chi Tị, Ngọ, Hợi, Mão, kỵ với tuổi người chết”…

      [17] Tức dán cáo phó.

      Bản cáo phó, sau này ở số địa phương còn gọi là “phê thư”, trong đó, ngoài những thứ như ngày sinh tháng đẻ của người chết, cầm tinh của người thân trong gia đình được viết trang cáo phó, còn cần thông báo với làng xóm khi nào tiến hành tiểu liệm, khi nào đại liệm, khi nào nghênh thần (thần ở đây chính là để chỉ hung thần), cùng với những điều xung, kỵ cần tránh… những điều này chỉ áp dụng trong ngày “tị sát”, mà còn cả trong suốt tuần lễ để tang, đối với số người đây cũng chính là những ngày cần tránh. Khi nào mới được dán bản “phê thư’ đó? Điều này cũng có những quy định của nó. Trước hết là cầu cần thiết dán nghiêng giống như khi người ta dán giấy niêm phong tập tài liệu vậy. Nghĩ đến thời thơ ấu thường đến đầu phố dán những biểu ngữ khẩu hiệu hoặc “đả đảo” hoặc “vạn tuế”, mà chẳng cần biết ai đả đảo, ai nổi lên, chỉ biết cũng vẫn là cách dán nghiêng như thế, tất nhiên lúc ấy đôi khi cũng có những người già qua thấy vậy liền đứng lại dán như thế là được, chỉ có vậy rồi luôn chẳng giải thích vì sao lại thể. Bây giờ nghĩ lại, cách dán ấy chắc phạm phải điều kiêng kỵ nào đó trong cách dán cáo phó hoặc giấy niêm phong.

      Phong tục “tị sát” đến thời nhà Thanh dường như có xu thế ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Phong tục này có nơi còn gọi là “nghênh sát”, họ quan niệm bảy ngày sau khi trong nhà có người thân chết, cả nhà phải tạm rời chỗ khác để tránh tai ương. Theo nguyên tắc chung của người phương Nam, họ gọi đó là “hồi sát”, và theo thời gian kéo dài tới hai mươi bảy ngày kể từ sau khi người thân chết. Thời gian quy định ở Phố Đông - Thượng Hải là ngắn nhất, người chết đến ngày thứ ba được gọi là ngày quy sát, nguyên nhân vì họ cho rằng cần phải cúng linh hồn trước, vì vậy người ta gọi kiện đó với cụm từ đầy hoa mỹ là “tác tam triều”, biết người trong cuộc nghe thấy có cho rằng gia đình họ sinh ra chàng béo tốt hay ? Người Bắc Kinh gọi đó là “xuất ương” [18] , người Sơn Tây gọi đó là “hồi ương” [19] .

         [18] Theo Diêu Nguyên Chi trong Trúc diệp đinh tạp ký, quyển bảy.

                  [19] Theo Từ Côn trong Độn trai ngẫu bút, quyển hạ.

      Vấn đề “tị sát” được giới thiệu cách tương đối ràng, tỉ mỉ trong tác phẩm của Vương Gia Trinh là Tại dã nhĩ ngôn, quyển sáu, Hồi sát có đoạn viết:

          Trong ngày hồi sát người ta thường phủ lên giường tấm vải khâm liệm, phía trước bếp đặt mâm cỗ đầy đủ thịt rượu, ở giữa đóng cọc , phía trước bếp đặt chiếc nồi. Trong những ngày ấy, ngay cả gia nhân trong nhà cũng sợ hãi mà trốn tránh căn phòng đặt linh cữu. Sáng ngày hôm sau chuẩn bị đưa linh cữu chôn cất, người nhà quay vào kiểm tra thấy trong chiếc nồi đặt trước cửa hằn những dấu chân chim, mâm cỗ thiếu mất con gà cúng, tìm kiếm hồi lâu mới phát ra giấu trong tâm vải khâm liệm, chiếc cọc cũng mất dấu, như có chuột lén vào ăn vụng vậy.

      Hứa Thu Đà trong Văn kiến dị từ, quyển hai, có ghi lại phong tục độc đáo của người Chiết Giang:

      Chết chính là câu chuyện “nghênh sát”, kể về hung thần gõ cửa lần lượt theo thứ tự luân phiên nhau. Từ ngày Mười tám trở về trước đến ngày mùng Chín, từ rất sớm, những loài chim được triệu đến, thể xác người chết nằm ở giường nhưng linh hồn ở ghế dưới cái sàng được phủ lên lớp tro bếp, lúc sau hằn lên vết chân chim, trông như những vết chân bé, uyển chuyển của loài chim hồng vượt qua bùn tuyết, nó phải là những dấu vết lẩn tránh hay làm hại đến ai. Duy chỉ có hung thần ở Huy Châu hung dữ nhất. Trong làng có người chết, từ rất sớm, người ta treo lá cờ thông báo cho mọi người biết, sau đó tất cả những người thân thích, con cái, trai , lớn đều phải quây quần xung quanh, được trốn nơi khác.

      đây dẫn ra hai ví dụ cho thấy khác nhau trong phong tục “tị sát” ở ba địa phương thuộc vùng Giang Nam, nhưng cái cách dùng tro bếp để nhận dạng dấu chân như chỉ có hai cách. Điều này được Nhản Trai Thị ghi lại cách tinh tế và sâu sắc trong tác phẩm của mình. Dạ đàm tùy bút, quyển hai, Hồi sát có kể lại câu chuyện “hồi sát” liên quan đến “đóa tị” mà người Bắc Kinh gọi là “đóa ương”:

           Người chết có thuyết “hồi sát”, đều khiến người ta tin vào những chuyện kỳ lạ, khác thường. Có người, thậm chí cả gia đình trong suốt thời gian “hồi sát” phải ở nhờ nơi khác để tránh tai ương. Cho dù là những gia đình quyền quý, giàu có cũng phải để nhà mà đến nơi khác để tránh tai họa, như thế gọi là “đóa ương” [20] . Cứ đến đúng ngày, người nhà lại phải thu dọn đồ dạc còn lại của người chết ở trong nhà, từ giường xuống dưới đất, dùng tấm vải trải rộng ra rồi rắc lên đó lớp tro đốt từ cỏ lau. Phàm có tiền đồng gói lại trong lớp giấy trắng, làm cho ma quỷ phải sợ hãi. Ở đầu giường bày sẵn cốc rượu, con gà luộc, đốt ngọn đèn, đóng cửa và cài then lại. Ngày hôm sau, dùng thanh sắt gõ vào cửa rồi mở ra, kiểm tra xem lớp tro rải dưới đất có dấu chân gà, dấu chân hổ, dấu móng ngựa, hay dấu vết rắn bò… hay , các dấu vết đó phải hoàn toàn là loại. Có lẽ người chết thuộc về thế giới u minh nào đó, việc xem xét dấu vết để lại là để tìm hiểu xem nghiệp chướng của người đó nặng ra sao, gọi là tìm hiểu xem cái gông đeo nặng thế nào để mà tìm cách hóa giải. Ngay cả cỏ cây, gà, chó… khi vô ý gặp phải tai ương cũng trở nên khô héo, hay ngã chết giữa đường. Phong tục di nhân, kể cả người đức hạnh cũng thể tránh khỏi, điều này trở thành tập tục phổ biến trong nhân dân thể phá bỏ. Bởi lẽ tập tục này dần trở thành đạo lý trong lòng người dân, thể làm sai khác được, hoặc người chết có linh thiêng biết được mà quay về vấn vương thương nhớ hay sao?

                  [20] Tức là: trốn tránh tai ương.

      Hồ Phác An trong Hoa toàn quốc phong tục chí, hạ biên, có chương về “Chiết Giang”, ghi lại tục “nghênh sát” của người dân vùng Hải Ninh, trong đó đưa ra số tình tiết khá phiền phức: “Trong ngày nghênh thần, trước tiên cần đặt người chết nằm nguyên giường, lúc người đó sắp chết lấy bộ quần áo lót phủ lên giường, bên dùng giấy buộc lại thành hình cái đầu, sau đó lấy bốn cái bánh chưng giấu trong tay áo, ống quần tạo hình tay chân, để cái bánh bao ở giữa làm thành bụng. Như vậy, tổng thể tạo hình giống như người nằm. Phía dưới giường dùng tro phủ đều nền nhà. Ngoài ra còn dùng giấy, tre, và hồ làm thành “hồn đình” - “quán nghỉ chân của linh hồn”, gọi là “tọa đầu”, chính là nơi khi linh hồn quay trở về cần có cái chõng nghỉ chân. Những gia đình giàu có thường làm “chỗ nghỉ chân của linh hồn” thành lầu gác có đài tạ lễ quy mô hoành tráng. Ngày lễ nghênh thần thông thường kéo dài tới bảy ngày, ngày nào cũng phải hương hỏa, thờ cúng cẩn thận, thậm chí có khi kéo dài tới hơn hai năm, dài nhất là qua đông chí của năm thứ ba. Cho nên câu đối treo “hồn đình” được viết là “nguyệt kinh thủy hoa, phù sinh nhất mộng, chỉ song trúc ốc, tiểu trú tam niên”. Phong tục vong hồn tìm về dương thế trong thời gian dài như vậy ở các địa phương khác hề nghe tới. Đây là nét khác biệt có lẽ chỉ thấy riêng ở vùng Hải Ninh, Chiết Giang mà thôi.

      Dựa vào những tổng hợp đây có thể thấy, đến thời nhà Thanh, phong tục “tị sát” trong dân gian có dấu hiệu xuống. Trước tiên mời thầy dương đến tính thời gian “hồi sát”, rồi dán bản tai ương, đến đúng ngày cả gia đình di cư ra ngoài hòng tránh tai ương, hay còn gọi là “đóa ương”, “xuất ương”, và danh mục còn nhắc ràng hai chữ “nghênh sát”, gọi là “nghênh”, chính là lấy tấm vải rải tro bếp lên , và sắp xếp, chuẩn bị đầy đủ những đồ cúng lễ… Ngày hôm sau, khi trời sáng trở về nhà lại có loạt những nghi thức khác nữa gọi là “tống sát” [21] , lúc này hung thần rời rồi, cần phiền phức lại tiễn lần nữa. Phong tục này tồn tại được gần trăm năm dần mai , nhưng vẫn còn sót lại vài dấu vết trong những vở kịch sân khấu như trong vở diễn Quỳnh lâm minh có màn “đả côn xuất tương” [22] , trong đó cũng có cảnh hung thần sân khấu, đó là hình tượng của ác quỷ mặt xanh nanh vàng. Nhưng từ sau thời kiến quốc, những tình tiết liên quan đến ma quỷ bỗng nhiên bị kiểm duyệt, rồi dần dần đào thải hết. Trong ngôn từ truyền thống thi thoảng có nghe thấy hai chữ “xuất ương” để người nào đó với ý nghĩa giống như muốn xua đuổi tai ương vậy, ít người nghe thấy cũng chẳng hiểu hết được ý nghĩa của nó, nhưng cũng biết được rằng đó chẳng phải là lời tốt đẹp gì.

         [21] Tức là: tiễn hung thần.

                  [22] Tức là: màn đánh gậy.

                  2.


      Mặc dù “quy sát” là linh hồn người chết trở về, điều này đối với những người thân dương thế chẳng phải có thể xem là cơ hội rất tốt để lời chia tay hay sao? Hơn nữa, ràng ngày hôm đó là ngày để người thân bày tỏ niềm thương tiếc, tưởng niệm, truy điệu linh hồn người mất. Những người thân, bạn bè đều tề tựu đông đủ, nâng chén rượu tương giao và những lời cuối cùng với vong linh người chết, người thân nghe di huấn cuối cùng của người chết, sau đó nắm chặt bàn tay nhìn nhau trong nước mắt, vái chào lần cuối theo đúng nghi thức, há chẳng phải là thỉnh lễ đầy đủ cả nhân thân cách ấm áp, sum vầy hay sao? Hơn nữa, ngay cả những điều tốt đẹp cũng bao giờ là mãi mãi, như người giàu có, quyền quý cũng có khi chết vì tình trường, sòng bạc, thương trường và cả quan trường… trong trường hợp này có thể bổ sung người lập di chúc. Có những người may mắn mất mạng trong tay thích khách hoặc kẻ cướp hung bạo, khi ấy có thể chỉ hung thủ là ai. Điều khiến người ta cảm thấy được an ủi nhất là ngay cả những người đần độn, ngu ngốc đến mức nghiêm trọng trong thời gian dài, đến khi “quy sát”, tinh thần cũng trở nên minh mẫn, rạng rỡ, ba năm cất tiếng mà chỉ tiếng kêu cũng khiến người khác giật mình kinh ngạc… Những điều như thế quả thực thôi thúc người ta mong muốn được thấy vong hồn người chết quay về. Vậy lẽ vào đến ngày “quy sát” mà bao người mong chờ ấy, người nhà lại bỏ trốn hay sao? Nhưng nghĩ kỹ lại, chuyện tốt đẹp này cũng là điều vừa muốn lại vừa muốn. Thẩm Tam Bạch sâu nghiên cứu những điểm yếu được coi là còn sơ hở của “quy sát”, nếu như ma quỷ bí mật hẹn hò với vong thê, sớm bị ông trời làm , cho nên khi vong linh quay về cần phải bố trí, sắp đạt người nào đó áp giải hung thần hoặc ác quỷ. Hay cách khác, thân phận của vong linh lúc đó chính là tội nhân, cần phải xem xét thần thái của ta lúc quay về, khi ta bước vào nhà phải theo dõi xem có biểu nào đáng nghi ngờ được coi là chứng cứ phạm tội như bề ngoài dơ bẩn hoặc thái độ ngơ ngác tìm kiếm, nhặt bới mọi thứ hay ? Như vậy, những điều cam chịu đó khiến vong thê, vong thiếp tách ra, trở thành tiểu mệnh đa tình (vì hình như thấy đến vợ chồng), đành phải cùng người nhà tránh hung thần. Nhưng thực tế, từ Lục triều đến đời Minh - Thanh, mặc dù về mặt “lý luận”, “hồi sát” được thành “vong linh quay về”, nhưng nay trong các câu chuyện càng ít tới vấn đề này. Cũng chính là , trong các câu chuyện về “hồi sát” rất ít thấy đến tình tiết bản thân người chết tự mình hoặc bị áp giải trở về.

      Ngưu Túc, người nhà Đường, trong Kỷ văn có ghi lại câu chuyện về thiền sư Nghi Quang ở chùa Thanh Long, Trường An. Câu chuyện kể về vong hồn tự mình quay về “hồi sát”. Thời Đường Huyền Tông, có vị quan triều đình vợ qua đời, bèn mời thiền sư Nghi Quang đến lập đàn cầu phúc cho vong hồn người chết. Nhưng đến ngày hồi sát, mọi người trong nhà lần lượt lén lút lủi chỗ khác hòng tránh hung thần, chỉ còn lại mình vị thiền sư già ở lại trong dinh phủ tụng kinh. Đến nửa đêm, đột nhiên trong phòng thoáng thấy có bóng người lướt qua, tiếp đó là tiếng cửa mở khe khẽ, và từ dưới bếp người phụ nữ xuất , múc nước thổi lửa, lát sau bưng đến trước mặt thiền sư bát cháo nóng. Đương nhiên, người phụ nữ này chính là người vợ mới chết của quan phủ, linh hồn vừa về nhập vào thi thể nằm giường như “sống” lại. Vị “hung thần” này cử chỉ y như người còn sống vậy, cũng làm bất cứ chuyện gì có hại đến người khác.

      câu chuyện khác về Bành Hổ Tử được viết trong Thái bình quảng ký. Mẹ của Bành Hổ Tử qua đời, đến ngày “hồi sát”, mọi người trong nhà đều lẩn trốn hết, chỉ còn lại Hổ Tử vốn tin vào chuyện thần quỷ, nên nhất định ra khỏi nhà. Thế là nửa đêm liền có chuyện xảy ra:

            Có người đẩy cửa, rồi vào căn phòng phía tây, tìm người thấy, vào phòng rồi lại ra, sau lẩn vào căn nhà sơ sài. Hổ Tử bị bất ngờ biết làm thế nào, cạnh đầu giường có bình sứ lớn, vội vàng chui vào bên trong, lấy tấm ván làm nắp che đầu. Cảm giác như mẹ ở tấm ván, có người hỏi: “Dưới ván có người sao?” Mẹ trả lời: “ có.” Sau đó bỏ .

      Trong câu chuyện xuất vong hồn người mẹ chết của Hổ Tử, mặc dù theo cùng còn có những ác quỷ khác, những hồn ma ác quỷ này vào nhà để tìm kiếm người sống, và cũng để chứng nhận tạm thời rằng vong linh người chết quay lại lần. Tiếc là sau đó thấy xuất câu chuyện nào giống như thế nữa. Đến thời Nam Tống, Hồng Mại trong Di kiên chi chí, quyển tám, có đoạn về “Lý Sơn phủ thê” [23] kể chuyện vong linh người chết quay về, sống cùng người chồng của mình thời gian, mặc dù mẹ chồng của nàng cũng rắc tro bếp lấy dấu (chi tiết dùng tro bếp lấy dấu chỉ được dùng khi hồi sát, mà đến triều đại nhà Thanh vẫn còn phương thức hữu hiệu truyền lại trong dân gian để kiểm tra dấu hiệu của ma quỷ, điều này được Lý Khánh Thần bàn tới trong Túy trà chí quái) để kiểm tra xem có phải là ma quỷ hay . Nhưng linh hồn của phải trở về trong ngày hồi sát, mà vượt quá thời gian. Cho nên, đây chỉ có thể xem là loại chuyện kể về tình nồng thắm của con người ngay cả khi trở thành hồn ma nơi thế, trong đó có chi tiết liên quan đến tục “quy sát” trong dân gian. Mãi đến thời nhà Thanh, trong Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển , Sát thần thụ gia mới thấy xuất câu chuyện hung thần áp giải vong hồn quy gia. Vợ chồng Lý Mỗ chung sống bên nhau rất thuận hòa, đầm ấm, thể tin rằng Lý Mỗ mới hơn ba mươi tuổi mà bệnh nặng qua đời, thi thể nhập liệm, người vợ của Lý Mỗ kìm được nỗi đau, ôm ghì lấy quan tài, sớm hôm than khóc hết nước mắt. Đến ngày vong hồn người chết trở về, nàng nhất định chịu rời trốn, mà mình ngồi lại bên trong bức trướng chờ đợi:

      Đến canh hai, bỗng nhiên làn gió lạnh lẽo thổi tới, ngọn đèn dầu vốn leo lét chợt cháy lên ngọn lửa xanh biếc. bóng ma xuất , đôi mắt tròn xoe, mái tóc hung đỏ, cao khoảng trượng, bàn tay nắm chặt cây xiên hình dấu gạch chéo bằng sắt, và chiếc dây thứng kéo người chồng từ ngoài cửa sổ vào. Thấy quan tài có bầy sẵn tiệc rượu, bèn hạ cây xiên xuống đất, giải thẳng người chồng vào trong, ngồi xuống và ăn. Người chồng vuốt lên mặt bàn, đau xót buông tiếng thở dài ai oán, rồi đến bên chiếc giường, nhàng vén tấm màn lên. Người vợ khóc nấc lên ôm chầm lấy chồng, tiếng gió thổi qua kéo theo đám mây lạnh lẽo ùa vào, cái bọc rơi xuống. Hung thần tóc đỏ giật mình đến cướp lấy. Người vợ kêu to, ra sức giằng về, hung thần tóc đỏ bước lảo đảo, nghiêng ngả. Người vợ nhanh chóng lấy cái bọc bắt lấy phần hồn để vào trong quan tài, thi thể dần dần có sinh khí, người vợ mừng rỡ bế xác chồng lên giường nằm nghỉ ngơi, mớm từng chút cháo loãng cho chồng, ngày hôm sau, thi thể người chồng hồi lại. Từ đó, hai vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau đến hơn hai mươi năm nữa.

                  [23] Nghĩa là: người vợ mới cưới của Lý Sơn.

      Cũng trong Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển chín, có đoạn về “Giang Dật Lâm”. Người vợ của Giang Dật Lâm qua đời, đến ngày “hồi sát”, ta nhất định tránh nơi khác. Khi vong hồn của người vợ quay lại, Giang hỏi: “Nghe người chết có quỷ tay sai áp giải nên bị câu thúc, gò bó, mất tự nhiên, khi vong hồn quay về lại có hung thần theo sát, cớ sao nàng trở về lại chỉ có mình vậy?” Người vợ đáp: “Hung thần chỉ quản thúc và lính lệ cũng vậy, có phạm tội mới bị dùng dây trói lại mà giải . Chốn phủ biết thiếp hề phạm tội, lại vì lẽ đường tiền duyên với phu quân vẫn chưa đoạn, nên cố ý cho thiếp mình quay trở về.” Đây là loại chuyện linh hồn mượn dịp hồi sát để phục sinh, cũng có thể liệt vào loại chuyện viết về vong linh hồi sát. Nhưng ngoài những điều kể , nguyên nhân khiến tôi dẫn ra cách có mức độ những cuốn sách này làm ví dụ là vì muốn bạn đọc phải xem lại những câu chuyện linh hồn quy sát mà về hình thức đều gần giống nhau. (Thanh Thang Dụng Trung trong Dực quynh bại biên, quyển sáu, có đoạn tới việc phân loại thành hai loại truyền về “hồi sát”)

      Như vậy, trong loại chuyện kể , tới câu chuyện về hung thần, hồi sát, đó chẳng phải cũng là hình tượng khác của vong hồn hay sao? Điều vốn bị coi là tai ương, là hung thần rốt cuộc lại chính là những vong hồn hay cách khác chính là dị vật. Mặc dù trong cách , chúng ta vẫn thiên về khuynh hướng gọi đó là vong hồn, nhưng thực tế tất cả đều thể khẳng định được cách ràng. Do đó, hình ảnh hung thần cũng chỉ là cách theo quan niệm của số đông mà thôi. Vì có ai từng tận mắt nhìn thấy hung thần, hoặc giả nếu có người nào đó khẳng định ta từng nhìn thấy thần tai ương, chắc chắn ta chỉ nhìn thấy cái gì đó khiến ta có cảm giác đó chính là hung thần mà thôi. Cho nên cái gọi là “sát” hay “ương” ở đây bản chất chỉ là hình dáng mơ hồ nào đó, là cái mà trong cuốn sách gọi là vướng víu vô hình, khó diễn đạt. Như trong Dạ đàm tùy lục đưa ra năm ví dụ, cách diễn đạt thứ nhất là: “Đột nhiên có cơn gió lốc ào tới thổi tắt đèn, bóng đen tấm lưới đánh cá, ngọn lửa xanh biếc, long lanh như đá quý, sáng bóng như tiền.” Cách diễn đạt thứ hai: “Đột nhiên thấy vật màu đen, trông như đám tóc rối, từ mười tấc đất ngoi lên, xoay tròn ngớt. Lúc đầu to như mặt trời nhô lên cao, dần dần như cái bát, rồi như cái chén, cuối cùng lăn lộn rồi chui vào trong cái lỗ dưới gầm giường, lát sau lại ra ngoài, co ro quay tròn nghỉ, lúc lâu sau mất tăm.” Cách hình dung thứ ba: “Ngọn đèn đột nhiên tắt lịm, vật giống như cái vòi dài, hay đồ hút rượu mờ mờ , phát ra tiếng động “gừm, gừm” đầy ghê sợ, rồi bỗng dưng ngã lăn xuống đất, biến thành con mèo lớn, khuôn mặt trắng bệch như người đánh phấn, bám vào đất quay tròn mấy vòng như diễn trò cho người khác xem.” Cách hình dung thứ tư: “Đột nhiên bà lão xuất , cứ quanh quẩn bên dưới gầm giường, hai mắt sáng quắc như đính ngọc, tay chống gậy, hóa thành con nhím, kêu lên những tiếng chít chít, rồi càng ngày càng co mình lại, bỗng nhiên hóa thành làn khói dày dặc, cuồn cuộn tản ra tứ phía, hoặc chui qua vách tường, hoặc bay lên đỉnh lều, tản ra rồi mất.” Cách miêu tả thứ năm: “ người con , cao khoảng gần mười tấc, đập mạnh vào khóa cửa sổ, từ cửa sổ ra làn khói đen mù mịt, đúng lúc có làn gió thổi qua cuốn mất.” ràng chi tiết miêu tả về hung thần đây đều là những hình ảnh “tận mắt chứng kiến”. Nhưng những hình ảnh đó rất có thể chỉ là số cảnh sắc ban đêm, trong điều kiện ánh sáng mờ mịt thấy , lại đúng lúc đầu óc cũng mơ màng, trạng thái bần thần, sợ hãi, cho nên những điều trông thấy trở nên hư hư thực thực, huyễn hoặc mơ hồ. Ngay cả người chứng kiến thần trí cũng tỉnh táo dẫn đến những lời mê sảng, rối loạn… điều này rất đỗi tự nhiên. Nhưng nếu như có những ghi chép, thống kê cách chi tiết, cụ thể về “hung thần”, phát ra điều rất đặc biệt, ra “hung thần” trong các truyền thuyết lại liên quan mật thiết đến loài chim.

                  3.


      Điều này liên quan đến tập tục khác trong dân gian, hoàn toàn giống với tục “hồi sát” . Trong tục “xuất sát”, vị thần hung dữ phải là trở lại của vong hồn người chết, mà xuất chính từ trong linh cữu của người chết. Đường Trương Độc trong Tuyên thất chí có viết: “Tục truyền rằng, sau khi người chết chết được mấy ngày mà có loài chim từ trong quan tài bay ra gọi là “sát”. Lại , có người khi săn, ta giăng lưới bẫy chim, bẫy được con chim lạ, mình dài khoảng năm thước, nhưng đến khi mở lưới để bắt chim mới ngỡ ngàng vì con chim mắc vào lưới biến mất từ lúc nào . Vô cùng kinh ngạc, ta đem câu chuyện kỳ lạ vừa rồi kể cho người dân sống xung quanh đấy nghe, người : “Trong làng có người chết mấy ngày nay rồi, thầy bói xem quẻ , hôm nay có “sát thần” tới. Đến nhà người đó xem , có con chim màu xám nhạt từ trong quan tài bay ra. Con chim kể có lẽ chính là con chim ấy?”.

      Con chim màu xám nhạt trong câu chuyện được gọi là “la sát mị”, ràng cũng thuộc lại ma quỷ đại diện cho cái ác. Trương Trạc trong Triều dã thiêm tái có nhắc đến câu chuyện về chàng thanh niên đường tình cờ gặp cũng rảo bước mình. Dung mạo xinh đẹp của khiến chàng trai mê mẩn. Chàng bèn mời về nhà. Ngày hôm sau, người nhà gõ cửa phòng hồi lâu mà thấy ta ra mở cửa, họ bèn đứng bên ngoài nhìn qua cửa sổ thấy cái đầu lâu vừa mới bị ăn xong. Người nhà kinh hãi phá cửa xông vào, thấy từ xà nhà tối u xuất con chim lớn, vươn cổ nhằm hướng cửa chính bay ra. Người ta cho rằng đó chính là loài “la sát mị” hung ác vẫn được nhắc tới trong dân gian. Viên Mai, thời nhà Thanh, trong Tử bất ngữ cũng nhắc đến loài chim la sát. Hứa Thu Trà trong Văn kiến dị từ dùng tro bếp để nhận dạng dấu vết và xem xét tỉ mỉ, kỹ lưỡng vết chân lớp tro bụi ấy là dấu vết của loài chim nào, rồi vui rằng: “Nhìn dấu chân này, người trần mắt thịt cũng biết ngay đó là loài chim la sát.” Có thể thấy, những câu chuyện dẫn ra đây đều có chung mục đích khẳng định “la sát mị” chính là loài ác quỷ, mà ác quỷ thường ăn thịt thi thể người chết.

      Trong Thông u ký cũng tới loài dị vật tương tự xuất sau khi có người chết. Tính chất của loài ác quỷ cũng biểu rất ràng trong câu chuyện độc đáo này:

      Chín năm trời giữ trọn tấm lòng kiên trinh, tận trung với nước, người cha của đô dốc xứ Bạc Châu, Lô Viện lâm bệnh nặng và qua đời. Hai ngày sau, giữa ban ngày, bỗng có con chim lớn màu xám nhạt, biết từ đâu bay đến sân nhà, bay lượn vòng trung, in bóng xuống mặt đất rộng khoảng bốn, năm thước. Cả nhà kéo nhau ra xem. Đột nhiên nó sà xuống cái giếng ở góc phía tây nam, rất lâu sau mới bay . Mọi người chạy đến xem, phát thấy nước trong giếng cạn hết, bên trong còn có hai quả trứng, to bằng nắm tay. Mọi người vớt lên đập vỡ quả, máu từ trong chảy ra lênh láng. Đến sáng hôm sau, đột nhiên nghe thấy có tiếng khóc thảm thương của người phụ nữ từ trong nhà phía tây. Lại gần xem, phát ra người con , tuổi chừng mười tám, mười chín, quàng chiếc khăn mỏ quạ màu đen đầu khóc rất thê thảm. Hỏi từ đâu đến, người con trong tiếng khóc: “Tôi từ trong quả trứng dưới giếng chui ra, nào dám hãm hại ai?” Vừa dứt lời liền quay lại phía tây lôi ra xác chết thối rữa, xong vung cánh tay lên rồi , ra đến cổng biến mất.

      Đến thời nhà Tống, trong Thanh tôn lục, Liêm Bố cũng tới hình ảnh kỳ dị của con vật lạ: “ con vật trông giống như chim hạc, có màu xám đen, đôi mắt long lanh sáng rực như ngọn đuốc, đôi cánh lớn căng phồng đạp gió vù vù.” Ông cũng cho biết thêm, có người nhìn thấy con vật kỳ dị này trong quan tài sau khi người chết được mấy hôm: “Thi thể người chết khí chất biến đổi thành la quỷ.” Hồng Mại trong Di kiên đinh chí, quyển mười ba cũng kể lại câu chuyện về Từ Cát Khanh ở Cù Châu, trong suốt thời gian sáu năm miệt mài hành đạo, ban ngày thường có con vật lạ đến đậu ở chân tường, thân người, đầu chim, dài khoảng trượng. hôm, bất ngờ người vợ lẽ trông thấy liền kinh động mà chết. Người con thứ tư của Từ Cát Khanh làm quan ở Tú Châu, ngày hôm sau nghe được tin dữ, cả ngày ám ảnh dứt về loài chim lạ đó.

      Đến triều đại nhà Thanh, sát quỷ được đến như là loài chim lạ cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Đồng Hàm trong Thuần hương chuế bút có đoạn về “hung thần” là “ con gà, cao khoảng bốn, năm trượng, cái mào đỏ thẫm, cựa cứng như sắt, đứng mô đất, vỗ cánh dài đến xà nhà, ngẩng cao đầu, nhìn từ bên ngoài vào.” tác phẩm khác của Vương Đổng Qũy là Nhĩ đàm loại tăng, quyển hai tư cũng cho rằng “hung thần” chính là “ con gà trống to như loài ngỗng, mỏ quặp lại, mắt trợn trừng, bay đến đậu quan tài”. Tam tá lư bút đàm, quyển mười đoạn miêu tả lại cảnh “gặp gỡ hung thần”, trong đó cũng chỉ hung thần là con ngỗng lớn, hai mắt long lanh màu xanh biếc. Tiền Vịnh trong tác phẩm Lý viên tùng thoại, quyển mười lăm, Đả sảnh thần cũng khẳng định “hung thần” là con chim lớn, khuôn mặt, dáng đứng giống hệt con người, nhưng lại có thêm đôi cánh dũng mãnh, mỗi lần vẫy cánh chẳng khác nào trận gió lớn nổi lên. Trong Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển hai, Lạc sát điểu cũng nhắc đến con chim lớn, màu hung đen, mỏ quặp lại, bàn chân như tuyết, đứng giữa nấm mồ bỏ hoang, nơi “mặt trăng chiếu rọi những vệt sáng mờ ảo thi thể người chết” mà biến hóa. Độn trai ngẫu bút, quyển hạ có đoạn về chuyện “hồi ương” như sau: “Có người nọ thấy gia đình bỏ nhà mà dắt díu nhau chạy trốn hung thần, trong nhà có đặt chiếc quan tài, quan tài có con vật lạ trông giống như gà nhà, liền nghi ngờ đó chính là thần tai ương hình.” Tiết Phúc Thành trong tác phẩm Dung am bút ký, quyển sáu có đoạn về “Dương Lão Liêm gặp phải hung thần”, và cho rằng hung thần hình thành con gà trống dũng mãnh, thường tụ tập trong mộ căn phòng lớn, hai mắt phát ra luồng ánh sáng xanh biếc chiếu thẳng vào mặt người. Cuốn Dực quynh bại biên, quyển năm có đến “sát thần” cách vô cùng xác thực. Ông nhắc tới phong tục ma chay ở Thường Châu, người chết khi khâm liêm cần lấy những vại sành xếp mặt đất để làm nơi trú ngụ cho hung thần, khi đưa linh cữu an táng, mời thầy mo đến đọc bùa chú đập vỡ những vại sành, xua đuổi hung thần nơi khác, và hung thần ở đây cũng có hình dáng giống như con gà. Gia đình Phùng Thị có người mới chết, cẩn thận để lũ trẻ làm vỡ mất vại sành, nhân cơ hội đó hung thần trốn ra ngoài. Nhà hàng xóm có lầu gác, đóng cửa lâu, đúng lúc đó bỗng nghe thấy có tiếng vỗ cánh, mở cửa lầu gác ra xem thấy “ con gà mào, cựa rất lớn biết từ đâu đến, bị nhốt trong cái lồng lớn, tự dưng lại thấy xuất ở đây”.

      đến điều này, tôi chợt nhớ đến câu trong Luận hành - Đính quỷ của Vương Sung thời Đông Hán:

      Theo phong tục dân gian, khi người thân ai đó gặp phải điều bất hạnh, thấy luồng sáng chiếu thẳng vào trong nhà, hay trông thấy thứ gì đó có hình dáng giống con gà bất ngờ xuất trong nhà.

      “Người nhà gặp điều bất hạnh” ý muốn khi có người thân lâm trọng bệnh đến độ nguy kịch, sắp trút hơi thở cuối cùng, lúc đó thấy xuất những dị vật như . Ở đây mặc dù đến “hung thần”, nhưng hình ảnh của ma quỷ lại được nhắc đến với “dáng vẻ của con gà”. Vì vậy có thể thấy, trong giai đoạn sau này, mỗi khi nhắc tới xuất của hung thần hay ác quỷ, người ta thường so sánh hoặc thay thế nó bằng hình ảnh của con chim hoặc con gà kỳ lạ nào đó. Chúng ta có thể suy đoán, từ nhà Đông Hán trước thời Tam Quốc có thể tới điềm báo mang tính dự đoán tai ương sắp ập đến. Nhưng tục trốn chạy hung thần có từ trước thời điểm dự đoán hơn hai trăm năm. Do xã hội Trung Hoa ngày càng văn minh, cho nên vấn đề mà các gia đình quan tâm nhất nay chính là chỗ ở, vì thế, có lẽ tục “tị sát” cuối cùng còn tiếp diễn đến ngày nay, mà vì lý do nào đó trong dân gian xuất tục lệ ma chay ngược lại với lễ giáo của người Trung Quốc. Vì sao người dân lại phải trốn tránh hung thần? Và trốn tránh hung thần rốt cuộc là như thế nào? Vì sao người ta luôn cho rằng hung thần mang hình dáng của loài chim nào đó?

                  4.


      Theo quan điểm của chúng tôi, ý nghĩa của chữ “tị” trong “tị sát” chính là ma quỷ “từ bên trong mà ra”, và cái gọi là “vong hồn quay trở lại” chỉ là thủ đoạn nhằm đánh lừa lòng tin của người dân mà thôi. Vậy bản chất của ma quỷ từ bên trong mà ra là như thế nào? thực tế, cổ nhân từng tiếp xúc và có những lý giải về vấn đề này. Đó chính là số ma quỷ, hung thần trú ngụ trong quan tài hay nơi mồ mả bỏ hoang, gặp điều kiện thuận lợi liền hình. Điều kiện thuận lợi tới ở đây chính là khi “thể xác gặp khí thiêng liền biến hóa”. Trở lại với vấn đề thời gian “hồi sát” như trong Độn trai ngẫu bút từng đề cập đến: “Theo quan niệm của các nhà dương học, ngày “hồi sát” chính là ngày mà phần khí thừa tích tụ trong thời gian dài tan ra, tiếp xúc phản ứng hết.” Cho nên gọi là sát quỷ cũng được, có điều sát quỷ ấy chính là “khí sinh ra từ thi thể người chết”. Vì thế có thể khẳng định lần nữa, tị sát tức là chạy trốn khỏi tử khí là có thực, còn chạy trốn khỏi ma quỷ chỉ là lừa phỉnh mà thôi.

      Đào Tiềm trong Tục sưu thần ký cũng có đoan ghi chép liên quan đến “sát ương”, mặc dù trực tiếp nhắc đến vấn đề “tị sát”, nhưng có tới cái được gọi là “tà ma”. Quyển sáu cuốn sách này có viết: An phong Hầu Vương Nhang từng chứng kiến chuyện xảy ra trong đám tang, khi người chủ lễ khấn đọc để đưa thi thể người chết nhập quan, các quan khách đến dự tang lễ đều đứng đợi đông đủ trong lễ đường, chỉ có Vương Nhang nằm nghỉ ngơi mình xe. Đột nhiên, ta nhìn thấy “ trung xuất con vật kỳ lạ, trông giống như con chim”, sau đó thoắt biến thành chiếc xe ngựa màu đỏ nhạt, trong xe có người, khăn áo màu đỏ nhạt, tay cầm cái rìu. Con ngựa kéo xe mỗi lúc nhanh mặt đất, người đó đánh xe thẳng vào con đường , nơi chiếc xe của Vương Nhang đỗ, gọi Vương lại hỏi: “Xin tặng công tử câu : Phàm là những người ruột thịt thân thiết mới đến khâm liệm, đưa tiễn linh hồn người chết, những người thân thiết nên tùy tiện, càng thể nôn nóng đứng quanh đây.” Tại sao con quỷ đó lại những lời này với Vương Nhang? Phải chăng nó muốn dự báo trước cho Vương Nhang cái điều “đương trí vị tam công” xảy đến sau này. (Vương Nhang là trong những “Trúc Lâm thất hiền” trong triều Ngụy Tần, đến khi Tây Tấn suy phân tách thành Tam công.) Hoặc giả ngay trong thời điểm đó nó muốn báo trước tai họa nào đó xảy đến chăng? Trong giờ phút thi thể người chết sắp được nhập quan, tất cả quan khách đều hướng về thi thể lời từ biệt cuối cùng, con quỷ đó cũng lẻn vào, hòa lẫn trong đám khách khứa, lấy cây rìu ra giáng vào tấm ván bên cạnh quan tài. Những điều này đương nhiên chỉ có Vương Nhang có thể nhìn thấy. Có người thân đến gần quan tài, cúi đầu xuống gần thi thể lời vĩnh biệt trong niềm đau xót vô hạn, đúng lúc con quỷ giơ cao cái rìu đánh thẳng vào đầu người đó, người này tức thời ngã lăn xuống đất, mọi người xung quanh vội vã đỡ dậy, đại để chỉ gây ra tượng choáng váng rồi ngã xuống, chưa chắc đe dọa đến tính mạng.

      Con quỷ quàng khăn đỏ, mặc áo đỏ, tay cầm rìu chính là thần tai ương. Nhưng vị thần tai ương này hoàn toàn phải hồn ma người chết, mà chỉ là ác quỷ xuất khi người chết được nhập quan. Trong câu chuyện này, mặc dù nhắc đến tục “tị sát” nhưng có thể thấy bản thân câu chuyện chính là lời khuyên hữu ích cho những người tham dự buổi lễ nhập quan người chết, rằng tuyệt đối nên đứng quá gần thi thể người chết, với những người phải là người thân hay có quan hệ đặc biệt nào với người mất tốt nhất nên có mặt vào giờ phút nhập quan. Cho nên cái gọi là ác quỷ dùng rìu đánh vào đầu người khác thực chất là bị tử khí từ trong quan tài bốc lên làm choáng váng, ngã xuống mà thôi. Sau này, Lưu Nghị Khanh trong U minh lục cũng đến xuất của dị vật sau khi có người chết:

         Chu Tông thường nhìn thấy hình ảnh đám đông đưa linh cữu đến nơi mai táng, phía trước quan tài cách khoảng ba thước có vật màu xanh, hình dáng giống như cái vỏ sứ có nắp đậy (cái chum to đậy nắp). Đám đông tham dự tang lễ, người cúi mặt khóc thương, buồn bã, người lại đến gần ghé sát quan tài nhìn người chết thêm lần nữa. Từ phần đầu thi thể bất động có vật màu xanh bốc lên. Lại : Khi người đến tham dự tang lễ, trong tức khắc ma quỷ cũng nhanh chóng đến theo cùng.

      Trong câu chuyện , đáng chú ý nhất là câu sau cùng, “khi người đến tham dự tang lễ, trong tức khắc ma quỷ cũng nhanh chóng đến theo cùng”, đó chính là ý nghĩa của hai chữ “tạm hoàn” (nhanh chóng góp mặt). cách tự nhiên, điều đó ám chỉ hình của vong linh người chết hay với cách “vong hồn quy sát” của người phương Bắc cũng chính là . Chỉ có điều hình ảnh quy sát về là “dị vật màu xanh” có hình dáng “giống như cái vò sứ có nắp đậy” chứ phải như hình hài người chết. Nhưng vì sao Chu Tông lại dị vật đó cách linh cữu người chết khoảng ba thước? ràng đó là lời khuyên dành cho những người viếng đám ma nên đứng cách xa phần đầu người chết khoảng cách nhất định, tối thiểu là ba thước, cũng chính là cần tránh khỏi vùng ảnh hưởng của tử khí người chết bốc lên, vì tử khí chủ yếu sinh ra từ phần miệng và mũi của người chết.

      Trong vở tạp kịch Tử sinh giao phạm trương kê thử, phần thứ ba có kể lại câu chuyện Phạm Cự Khanh muốn được trông thấy thi thể của Trương Nguyên Bá trong linh cữu, : “Mọi người hãy mở nắp quan tài ra, ta muốn nhìn lát.” Mẹ của Nguyên Bá : “ nên làm vậy. Người chết khá lâu, sợ rằng tử khí bốc lên.” Như vậy, qua màn đối thoại này có thể thấy mọi người biết thi thể người chết để lâu ngày có tử khí bốc lên, gây hại cho con người.

      Có thể chứng minh những lời đây có cơ sở quan trọng, xuất phát từ chính việc “rải tro bếp để nhận dạng dấu chân” phản ánh phong tục ma chay trong quan niệm dân gian. Ngày “tị sát”, trước khi người trốn ra ngoài để né tránh hung thần, cần phải “quét dọn sạch , cẩn thận phòng ốc của người chết, từ giường xuống dưới đất, sau đó lấy tro đốt từ loại cỏ lau rải xuống khắp nền nhà”. là để xem khi vong linh người chết hồi sát có để lại dấu chân lớp tro bụi hay , từ vết chân đó có thể cho người nhà biết người chết đầu thai chuyển kiếp thành loài vật nào. Nhưng ràng lý do này thực chỉ khiến vong hồn thêm khó xử. Vì những dấu vết đó, ngoài dấu chân của mèo, chó, gà, vịt còn có cả dấu chân của kẻ trộm. Do vậy, ý đồ thực của việc “rải tro bụi làm dấu” này xuất từ rất lâu trong dân gian, sớm nhất là từ thời Nam - Bắc triều. Theo quan niệm của người dân, trong ngày “tị sát” nhất thiết phải “đốt đám lửa ở trước cửa, bên ngoài rải lớp tro bụi”. Tro ở đây chính là tro đốt từ cây cỏ, sau này, người ta cũng dùng nó để xua tan khí hôi bốc lên từ nhà vệ sinh, cho nên bô vệ sinh còn được gọi là “khôi đồng”, đổ bô vệ sinh được gọi là “khái khôi”, ngay cả đến thần trấn giữ nhà xí cũng được gọi bằng biệt hiệu rất đáng “khôi thất nương”. Mục đích thực của việc “rải tro bụi” chính là để nó hút vào những tử khí độc hại bốc ra từ thi thể người chết, chứ hoàn toàn phải để xem người chết đầu thai sang thế giới khác biến thành loài súc vật nào. Hơn nữa, những người bạn của tôi ở Nam Kinh còn giới thiệu rất kỹ lưỡng về vấn đề này. Họ cho biết, vào những ngày hè nóng nực, cần chú ý phủ lớp tro bụi dày xuống dưới đáy quan tài, sau đó dùng tấm vải phủ kín bên , để người ngoài nhìn thấy được. Làm như vậy những có thể xua tan được tử khí bốc ra từ thi thể mà còn có tác dụng hút hết nguồn nước rỉ ra từ xác chết. Những kinh nghiệm nêu chỉ thấy duy nhất ở Giang Nam, mà nó còn là phát minh quan trọng được vận dụng trong suốt gần thế kỷ qua. Cho nên có thể thấy, việc nhận thức được tính năng thẩm thấu của lớp tro từ cây cỏ là chuyện có từ rất sớm trong lịch sử. Còn đối với việc đốt đám lửa ở trước cửa nhằm mục đích làm khí nóng bốc lên, dẫn đến áp suất khí tập trung ở trước cửa thấp, hình thành vòng tuần hoàn luân chuyển, khi ấy tử khí có hại từ trong nhà nhanh chóng được thoát ra ngoài. Ngày “tị sát”, cả nhà đều tránh ra ngoài, cửa ngõ đều mở hết, cũng là để cho tử khí được dễ dàng thoát ra. Thầy mo tính toán đúng ngày tị sát là nhờ căn cứ vào khoảng thời gian tử khí bốc lên nhiều nhất và gây nhiều độc hại nhất. Tro đốt từ cây cỏ hút hết tử khí khiến cho nguồn khí này tập trung gần mặt đất trong khoảng thời gian ngắn và thể ngay lập tức thoát hết ra ngoài, chính điều này khiến căn phòng được rải tro tích tụ lượng lớn tử khí gây ảnh hưởng tốt cho con người. Vì thế, ngay sau khi rải lớp tro thảo mộc lên nền nhà, người nhà cần tránh nơi khác, có lẽ đó chính là nguyên nhân thực tế của tục lệ “tị sát” lưu truyền trong dân gian. Mọi người trong nhà đều tránh đến nơi khác trong khoảng thời gian “hồi sát”, cửa ngõ đều mở rộng, những con gà, chó… sống nơi hoang dã ngửi thấy mùi thơm bay ra từ thức ăn bày biện mâm cỗ cúng lại vào “hưởng thụ” mới là chuyện lạ, bởi vậy lớp tro rải dưới nền nhà có lưu lại những dấu chân động vật lại. Nhưng những con vật ăn thức ăn mâm cỗ cúng trong điều kiện tử khí bốc lên thường nhiễm độc mà chết, cách khác đó chính là “cây, cỏ, gà, chó thường rơi vào tình cảnh khô héo, ngã chết giữa đường”. Trong Trung Hoa toàn quốc phong tục chí, quyển hạ, Giang Tô cũng có chương đến tục “tị sát”, nhưng với cách gọi khác là “bế ương” (có số cuốn sách nhầm lẫn gọi đó là “tị ương”). Mọi người trước khi ra khỏi nhà phải rửa sạch toàn bộ nồi, niêu, xoong, chảo… là sợ khi vong linh người chết vào nhà chui vào đó. Nếu ma quỷ chui vào vại sành, giả sử nó thể chui ra, vậy chắc chắn nó ở lại trong nhà cúng bái tổ tiên, thần, Phật, ý tưởng này quả thực cũng tồi. Cho nên, việc làm lạ lùng này góp phần ngăn chặn các loại gà, chó, rắn, chuột… hạ cố đến thăm. Đối với số địa phương có tục lệ như trong ngày “tị sát”, buộc con gà trống vào chân bàn, khi hung thần đến nghe thấy tiếng gà kêu, nhưng có điều con gà trống đương nhiên trở thành “vật cảnh báo” làm cho những vị khách mời thêm kinh hãi mà thôi.

      Nhưng hành động chạy trốn khỏi tử khí thoát ra từ thi thể người chết đây lại ngược với truyền thống đạo hiếu vốn là tiêu chí quan trọng trong đạo học của Nho gia. Chúng ta làm sao có thể để lại người thân trong nhà mà ra khi hài cốt của họ còn chưa nguội lạnh? Vậy là chúng ta tạo nên câu chuyện ma quỷ về vong hồn người chết “hồi sát”, hồn ma trở về thăm lại ngôi nhà thân của mình. Nhưng chuyện “về thăm” này phải để thăm hỏi người thân mà chỉ là tự mình quay về ngắm nhìn lại tất cả trong niềm hoài nhớ, xót xa. Lý do này thực tế vẫn chưa thực đầy đủ, xác đáng. Vì ngay cả khi người nhà muốn quay trở về, họ cũng thể thấy được hữu của người quá cố, họ chỉ có thể đứng bên, cố tìm ra cái cốt lõi hợp lý bên trong cái vẻ bề ngoài vô lý ấy. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn có số cái chưa thực thỏa đáng cần lý giải, ví dụ như con cháu có hiếu hoặc những cặp vợ chồng, những đôi nam nữ có tình cảm sâu sắc, họ vượt qua được cái giới hạn của cõi u minh. Những đứa con, đứa cháu có thể nhìn thấy được ông bà, cha mẹ của mình, những người vợ hoặc chồng thể nhìn thấy nhau nhưng ông bà, cha mẹ, chồng hoặc vợ lại có thể nhìn thấy con cháu, người vợ hoặc người chồng còn sống của mình. Cho nên số học giả còn cho rằng, khi vong hồn người chết quay về, những người thân trong gia đình càng nên tránh đến nơi khác, cả gia đình nên ở lại đoàn tụ xum vầy thành “gia đình hạnh phúc” như thế mới thỏa đáng. (Du Văn Báo có dẫn ra câu của Trần Đông San như sau: “Trong dám tang cần có người thân ở bên, nhưng theo tục lệ mà toàn thể gia đình lại tránh xa khỏi tai họa, để linh cữu người chết mình lẻ loi trong căn phòng trống vắng sao? Lại có người cha, người mẹ nào muốn hại con cái mình sao?”) Đó là lời đầy thức tỉnh của ma quỷ, hình ảnh “hung thần” trở về đó phải là hình ảnh của người chết mà là bị ác quỷ khác áp giải trở về, cho nên cái mà mọi người trốn chạy phải vong linh người thân của họ, mà chính là tên ác quỷ đó. Điều này cách vô thức gán cho ma quỷ số những hành vi tàn ác, mục đích chính là để người nhà có lý do hợp lý để tránh khỏi nguồn “tà khí” độc hại kia.

      Nếu như vậy xem ra Nhan Chi Thôi, Du Văn Báo, Trần Đông San, Đằng Nhật Dụng và vài người khác lấy “đạo hiếu” trong Nho giáo để phê phán hủ tục “tị sát” về mặt lý luận có lẽ là chính xác. Nhưng từ góc độ “khoa học” mà lại hoàn toàn sai lầm. Hơn nữa, từ chính quan điểm Nho giáo cũng vẫn có thể bác bỏ được. Người xưa từ rất sớm hợp nhất tử khí và ma quỷ làm , những thế còn đưa ra được những lý giải vô cùng hợp lý. Trong Lễ ký - Nguyệt lệnh của Trịnh Huyền Chú, thời Hậu Hán dẫn ra vài lưu ý “ nấm mộ lớn chứa đầy tử khí, khí độc dật khiến cho ma quỷ mang mầm bệnh dịch được dịp hoành hành”. Ma quỷ mang dịch bệnh được tới ở đây chính là quỷ ôn dịch, tích tụ từ thi thể người chết chôn sâu dưới những nấm mồ, thường là do chiến tranh hoặc dịch bệnh khiến người chết được chôn trong nấm mồ chung, chính điều này khiến cho dịch bệnh dễ dàng lây lan trong phạm vi lớn, khi đó ở mỗi đất nước, mỗi tỉnh thành đều phải tiến hành lễ cầu mát, còn gọi là “cửu môn trách nhương” [24] , chính là “lễ tiễn trừ ác khí”. Điều này thực tế chính là ngày “tị sát” được tiến hành trong toàn thành phố, khắp các vùng miền đất nước, chỉ có điều, lúc ấy chẳng còn nơi nào có thể chạy trốn được cho nên mọi người đành phải dùng cách mời thầy mo đến cúng bái xua đuổi tà ma.

      [24] Tức là: tiến hành lễ tế thần nhằm giải trừ tai họa ở cả chín cổng lớn dẫn vào thành.

      Vì thế mà Lưu Ngọc Thư, văn nhân thời nhà Thanh, trong tác phẩm Thường đàm : “Tin rằng có tử khí bốc lên từ thi thể người chết, nếu tiếp xúc với nguồn khí gây dịch bệnh ấy con người dễ dàng mắc bệnh. tin rằng tai ương có thể giáng xuống đầu con người, nhưng bệnh dịch vẫn lén lút gây hại cho con người”. Tai ương và tử khí bốc lên từ thi thể người chết đều được nhắc đến, con người lại tin vào quy sát, nhưng lại ra sức đề phòng tử khí, thể thừa nhận những kiến giải sáng suốt của người xưa.

      Còn về việc hung thần thường bị mọi người cho rằng mang hình dáng của loài chim nào đó, điều này cũng phải thể lý giải được. Trước hết, trong tác phẩm Tuyên thất chí có đoạn viết: “Có con chim từ trong linh cữu bay ra.” Điều này tuyệt đối phải việc thường thấy hay lặp lặp lại nhiều lần, giống như việc biểu diễn ảo thuật sân khấu, chỉ cần mở chiếc khăn tay lập tức có con chim bồ câu bay ra. Nhưng cũng có nghĩa là tự nhiên từ trong khí mà chui ra, quan tài luôn có nắp che kín, làm sao có vật gì có thể chui vào được? Loài chim thích ăn thịt xác chết đương nhiên ngửi thấy mùi thịt phải “thích thú”, khi có người đến, nó có lý do gì mà trở thành “con cú mèo sợ hãi”, đành phải làm “chim ưng” bay . Hơn nữa, khi có người sắp chết, số loài vật thường lũ lượt kéo đến, khi quan tài tạm thời được đặt ở nơi nào đó trước khi đưa chôn cất, chúng hoặc liệng quanh trung, hoặc tập trung trong nhà. Chuyện như thế xuất mấy lần, nhiều người nhìn thấy truyền tai nhau, khiến cho động vật biến thành “la sát mị”, lại từ đó mà biến thành hung thần trong các câu chuyện ma quái.

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793

      Chương 5: Ai Trành [1]
                 

      Tôn Quang Hiến thời Ngũ đại, trong tác phẩm Bắc mộng tỏa ngôn có viết: “Phàm những người chết do hổ vồ, đắm nước được gọi là “trành”, cần phải tìm người thế mạng, tưởng chừng đó chỉ là chuyện phiếm nhưng thực ra lại có ”. Từ quan điểm của Tôn Quang Hiến có thể thấy “trành” có hai loại: loại chết do hổ vồ được gọi là “hổ trành”, loại khác chết vì đắm nước gọi là “giang trành”. Loại thứ hai sau này còn được gọi với tên khác như “yêm tử quỷ” [2] hoặc “nịch tử quỷ” [3] , hay như ở vùng Giang Nam còn có cách gọi khác là ma sông quỷ rước… Chính vì vậy, người dân nơi đây thường treo thờ chữ “伥”(trành), có lẽ vì “giang trành” và “hổ trành” đều giống nhau ở điểm là phải “cầu thế thân”, tức là người thế mạng mới có thể mong được siêu thoát, đầu thai sang kiếp khác. Nhưng những hồn ma phải “cầu thế thân” chỉ có hai loại nêu , mà còn có cả “dật tử quỷ”, “thực độc khuẩn quỷ” (bao gồm cả “trụy nhai quỷ”, “nghiêm nan quỷ” và còn số loại khác tương tự nhưng được gọi là “trành” mà chúng tôi tiện nhắc tới ở đây). Đến thời đại nhà Thanh, lại có thêm loại khác được gọi là “ngân trành”. Viên Mai trong Viết tiếp Tử bất ngữ, quyển bốn, có nhắc đến những kẻ trộm cắp vàng bạc, châu báu thường bị giày vò suốt đời, nên phải cầu đến cái chết để mong được giải thoát và phải đứng trước lựa chọn: “nếu khi chết chấp nhận canh giữ hầm chứa vàng bạc bị giày vò thêm nữa”, và dĩ nhiên phải bằng lòng, chấp thuận. Kể từ đó, những kẻ trộm cắp buộc phải tìm người thế thân, nếu như sau đó có người phát ra hầm bạc, ngửi thấy có mùi hôi thối kỳ lạ đến nỗi thể đến gần, thể tìm ra nguyên nhân, đó chính là gặp được “ngân trành”, lúc ấy chỉ cần làm công đức siêu độ, hồn ma kia lập tức được đầu thai sang kiếp khác, và mùi hôi thối kỳ lạ cũng tự biến mất. Nhưng trường hợp ai phát ra hầm bạc, lúc đó linh hồn của “ngân trành” mãi mãi bị giam cầm mà thể siêu thoát được. Như vậy, những hồn ma có thêm chữ “trành” mặc dù nhất thiết phải tìm người thế thân, những xem ra để giải thoát vẫn phải dựa vào điều khó khăn tương tự như vậy.

                [1] Có nghĩa là: xót thương cho những kiếp ma quỷ lông bông chẳng tìm thấy đường về.

                  [2] Tức là: ma chết đuối.

                  [3] Tức là: ma chết chìm.

      Chữ “trành” trong sách cổ thường được dùng theo cách hiểu “trành trành nhiên” [4] . Tư Mã Ôn Công trong Thích thiện kệ giải thích “chữ “trành” theo quan điểm của các học giả mang ý nghĩa chỉ ngông cuồng mê muội”. Chữ “伥” (trành) hay còn được viết là “怅” (trướng) [5] chỉ tăm tối, mù mịt biết gì, cũng để tâm vào việc gì. Nhưng tại sao chữ “trành” lại dùng để chỉ cái gì đó gắn liền với những hồn ma, quỷ quái? Điều này đến nay vẫn chưa có ai giải thích , chỉ thấy Trần Thiệu, tác giả thời nhà Đường viết trong Thông u ký:

          Đường Kiến năm thứ hai, ở Giang Hoài nổi lên tin đồn có quỷ dữ từ Hồ Nam đến. Loài ma quỷ này có người gọi là “mao quỷ”, lại có người viết là “mao nhân”, hoặc gọi là “trành”. chung nó có rất nhiều tên gọi khác nhau. Nó có khả năng biến hóa khôn lường. Người ta rằng loài quỷ này “hảo thực nhân tâm”, thích moi tim uống mật của những đứa trẻ dù hay trai. Thực là độc ác vô cùng.

                  [4] Tức là: liều lĩnh thiếu thận trọng.

                  [5] “Trướng” có nghĩa là buồn phiền.

          “枨” nay đọc là “cheng”, gần với từ “伥” (đọc là “chang”), biết là do sai chữ hay là biến , nhưng có thể giữa chúng có mối liên hệ nào đó với nhau. “Mao quỷ” được nhắc tới đây chính là để chỉ cơ thể có lớp lông mao kỳ lạ, còn gọi là “mao trùng” (sâu róm). “Ngoa ngôn” [6] (讹言) nghĩa, chúng tôi quả thực cũng đoán ra, nhưng chữ “枨” có lẽ có nguồn gốc “du nhập” từ Hồ Nam đến, tìm trong vốn từ ngữ cổ của địa phương cũng thấy có. Điều này cho thấy thể căn cứ vào ý nghĩa hữu mặt chữ để truy cứu mà tìm ra lớp nghĩa thực chứa sau lớp ngôn từ khó hiểu đó. Bỏ số từ ngữ này ý nghĩa của từ “伥” cũng vẫn ràng, minh bạch, vì vậy đành phải gác lại, chờ cơ hội để thỉnh giáo cao minh. Còn hai chữ “giang trành” có dịp đến trong phần “Những thứ ở trong nước” đây, chữ “trành” trong “hổ trành” cũng có ý nghĩa tương tự như vậy.

                  [6] Ngoa ngôn: tin đồn, tin vịt.



      Chu Tác Nhân tiên sinh từng “Trong các câu chuyện ma quái Trung Quốc, “cương thi” dĩ nhiên được coi là hung tàn và độc ác nhất, còn “hổ trành” vẫn được xem là thảm thương và ảm đạm nhất”. Hai chữ “ảm đạm” dùng để đến “hổ trành” quả thực là sinh động như vậy. Mặc dù chưa lần được chứng kiến, nhưng qua cách hình tượng này cũng giúp chúng ta thấy như ra trước mắt cõi lòng, dáng vẻ, thần thái u, mịt mờ, tăm tối…

      “Vi hổ tác trành” trở thành câu thành ngữ chỉ hành động “nối giáo cho giặc”, đồng nghĩa với “trợ kiệt vi ngược”, nhưng xem xét kỹ lưỡng thấy, hai cách này vẫn có những điểm khác biệt nhất định. Điểm khác biệt nằm ở chỗ “vi hổ tác trành”, hiểu theo nghĩa rộng có thể thấy trong đó còn thể ép buộc, nô dịch, và hơn hết, chữ “伥” (trành) ở đây thể cái gì đó rất oán hận, căm ghét, thậm chí còn thể chút bi ai, thương xót. Để biểu đạt được ý nghĩa này, đề mục chương truyện, người viết mạnh dạn dẫn ra chữ “ai” (哀), nhưng biết liệu người đọc có gật đầu chấp thuận hay ?

                  1.


      Cách gọi “hổ trành” xuất sớm nhất vào thời nhà Đường, nhưng những hồn ma được coi là “vi hổ tác trành” phải tới thời kỳ Đông Tấn mới có. Lưu Kính Thúc, sống vào thời Lưu Tống, trong tác phẩm Dị oán của mình nêu ra hai câu chuyện, câu chuyện thú vị xảy ra ở Hồ Nam được tác giả giới thiệu trong quyển ba, chuyện kể rằng:

                  Ngu Đức người Long Dương, Võ Lăng, lần ngao du tới Ích Dương, trọ tại nhà Hạ Man. Ngô Đức nhìn thấy trong nhà Hạ Man có tờ giấy rộng chừng thước, vẽ hình đầu người con Hạ Man, bèn lấy xuống xem. lúc sau, con hổ chạy đến cổng nhà rồi lại chạy . Rồi lại thấy bà cụ Hà mang tờ giấy có hình đầu người con đặt về chỗ cũ, Ngô Đức lại lấy nó xuống, hai người cứ người lấy xuống người cất lên nhiều lần. Cuối cùng, Ngô Đức chuyện đó với Hạ Man, hai người mỗi người cầm cây gậy đứng canh trước cổng. lúc sau con hổ quay lại, hai người cùng xông vào đánh hổ. Cuối cùng con hổ bị đánh chết.

      ràng Ngu Đức là người có khả năng đặc biệt. Ông ta có thể nhìn thấy những hồn ma mà người khác thể thấy được. Bà cụ Hà và tờ giấy treo tường bình thường chỉ có lão hổ mới có khả năng nhìn thấy. Nhân vật bà cụ Hà được tới ở đây có thể khẳng định chính là thân của “hổ trành”, những hành động được coi là “nối giáo cho giặc” của bà ta chính là chỉ điểm cho lão hổ đến sát hại những người khác, mà cách thức chỉ điểm cũng rất giống với cách thức mua bán, trao đổi hàng hóa ngoài chợ, những thương nhân thường giải quyết mọi việc giấy tờ, chính là dán những lời nhắn quan trọng, cần lưu ý, được coi là nhận mua. Ích Dương, vùng sông nước, người dân thường tụ họp phía tây dòng sông Tương để lấy gỗ, ngay cả những hành động của hổ quỷ ở nơi đây cũng giống như những nhà buôn gỗ. Những biểu của “trành quỷ” với tư cách là kẻ trung gian buôn bán, giao dịch sau này phải hoàn toàn mất dấu tích, chỉ là có biến đổi về mặt hình thức mà thôi, ví dụ như lấy tờ giấy đậy đầu khi ngủ [7] , hay dùng tờ giấy trắng phủ lên mặt người [8] ,v.v… Vì vậy, có thể nghĩ tới giả định xung quanh những câu chuyện hổ quỷ bao giờ cũng có chung nguồn gốc nào đó, nguồn gốc đó có lẽ đều xuất phát từ những vùng dân tộc thiểu số ở xung quanh khu vực sông Tương. (Chữ “枨” trong Tự Hổ Nam lai [9] được tới trong Thông u ký biết có thể được coi là bằng chứng chứng minh cho giả thiết hay ?) Tuy nhiên, những điều mà “trành quỷ” ám chỉ ít những tư tưởng bảo thủ bác bỏ, có thể thấy điều này qua đoạn viết về “hổ trành” ở Triết Giang trong cuốn sáu:

      Thời nhà Tấn, có Mãnh phụ lần lên rừng nhặt củi chẳng may bị hổ sát hại. năm sau, từ trong đám cỏ ngải đột nhiên có người phụ nữ lên : “Công từ hôm nay , ắt gặp phải chẳng lành. Nhưng tôi tìm cách giải trừ cho. “Sau đó, từ phía trước, bầy hổ xuất , nhảy nhót tiến về phía Mãnh phụ, có vẻ giống như che chở, bảo vệ cho chủ tướng của mình. lát sau, bỗng có người từ bông hoa sen bước ra, bầy hổ được lệnh tấn công, Mãnh phụ chỉ tay thu lệnh về, bầy hổ đột nhiên thu mình quay trở lại.

                  [7] Theo Nguyên hóa ký, mục Liễu tịnh.

                  [8] Theo Di kiên bính chí, quyển ba, Hoàng hoa trành quỷ.

                  [9] Tự Hồ Nam lai: có nghãi là đến từ Hồ Nam.

      Ở đây có vấn đề, đó là bầy hổ có chủ đích ăn thịt người từ trước hay do trành quỷ đưa lối chỉ đường? Rất ràng, người chồng của vị trành quỷ này ban đầu vốn là bữa điểm tâm ngon lành cho lũ hổ, nếu cần lãng phí những rắc rối cần thiết, chỉ cần thả cho ta trở về là có thể giải quyết được vấn đề rồi. Hay người phụ nữ Hồ Nam cũng chính là số trời định trước, nếu phải như vậy bà cụ Hà đó làm sao có thể hết lần này đến lần khác dễ dàng dán tờ giấy có hình đầu , mặt khác, thịt cha mẹ chưa hẳn khó ăn hơn ấy. Từ những câu chuyện về trành quỷ (bao gồm cả “giang trành”) có thể thấy trong nội dung đều chú ý nhấn mạnh đến vấn đề “số mệnh”, giống như trong Liêu trai có đoạn kể về “Miêu Sinh”, xác định được ràng thân thế của mình, nhưng chỉ cần khoác lên mình bộ y phục khác lũ hổ dám giết thịt. Nhưng có rất nhiều truyện lại cho thấy “số mệnh” vẫn có thể thay đổi được, quan niệm nhân quả báo ứng “Đinh thị đinh, mão thị mão” của Phật giáo phù hợp với quan niệm của người Trung Quốc, chữ “tình” của người Trung Quốc thông thường có thể chiến thắng cả “định luật” nghiệt ngã của thiên mệnh. Công năng của trành quỷ như vậy xem ra rất được chú ý, điều này thể ở chỗ, ngay cả lũ hổ cũng hề biết số mệnh an bài ai bị chọn dùng làm bữa điểm tâm, chỉ có trành quỷ mới biết, có chỉ thị của trành quỷ, lũ hổ cũng dám manh động, mà ngay chính trành quỷ trước đó lâu cũng chính là bữa điểm tâm của lũ hổ. Con người trở thành món ăn của bầy mãnh thú đó, điều này khó lý giải. điều cũng khó đưa ra được lời giải thích là, nếu như lũ hổ có trành quỷ dẫn đường chỉ lối thể ăn thịt người, vậy , từ khi sinh ra, lần đầu tiên chúng giết người ăn thịt ai chỉ điểm. Lại , người bị hổ ăn thịt biến thành trành quỷ, vậy như giáo lý đạo Phật “chúng sinh bình đẳng”, có biết bao nhiêu loài động vật khác cũng làm mồi cho hổ, tại sao chúng thể biến thành trành quỷ? Vấn đề này khó có thể đưa ra được đáp án thỏa mãn, chúng tôi chỉ còn cách suy đoán trong mơ hồ vậy thôi.

                  2.


      Câu chuyện về người vợ Nghiêm Mãnh có đề cập đến vấn đề, đó chính là ấy mặc dù trở thành trành quỷ, hãm hại, lừa gạt người khác để làm mồi lấp đầy bụng hổ, nhưng xem ra trong tình huống này, ta vẫn còn vương lại chút tình người. Tính cách con người khi trở thành trành quỷ luôn có biến đổi ghê gớm theo xu hướng tiến dần đến xấu xa, bẩn thỉu, nhưng cũng hẳn tất cả đều như vậy. Trong số câu chuyện còn lưu truyền trong nhân gian, chúng ta có thể nhận thấy hình ảnh số trành quỷ mà trong linh hồn ma quái của chúng vẫn còn le lói lên chút nhân tính. Nhân tính được tới ở đây chỉ là những tình cảm đặc biệt đối với người thân của họ, và hơn hết còn là lòng thù hận sâu sắc đối với bầy dã thú gây ra cái chết thảm thương cho chính mình. Trong Quảng dị ký của Đới Phu, tác giả thời nhà Đường có kể lại câu chuyện như thế:

      Vào cuối thời Thiên bảo, ở Tuyên Châu có đứa bé sống ở gần núi. Mỗi khi đêm về thường trông thấy bóng ma dẫn theo sau con hổ chạy đến như là báo trước số trời định. Đứa trẻ liền với cha mẹ: “Bóng ma dẫn hổ theo sau ắt tránh khỏi cái chết. Người xưa thường : “Người nào làm mồi cho hổ, khi chết oan hồn hóa thành trành quỷ”. Con chết, chắc chắn biến thành trành quỷ. Nếu hổ bắt con dẫn chúng vào trong thôn, nên đào sẵn cái hố ở gần đường cái, lũ hổ có thể sập bẫy.” Ngày hôm sau, quả nhiên đứa bé bị hổ ăn thịt. thời gian sau, đứa bé báo mộng về cho cha mẹ, : “Con trở thành trành quỷ, ngày mai dẫn hổ đến, hãy chuẩn bị sẵn cái bẫy lớn ở phía tây.” Cha mẹ và người dân trong thôn lập tức đào cái hố rất sâu, ngày hôm sau, quả nhiên bẫy được con hổ lớn.

      Đứa bé trong câu chuyện từ trước đó vốn biết mình rất khó có thể thoát khỏi số mệnh làm mồi cho hổ, nhưng đối mặt với nguy hiểm vẫn vững vàng hề khuất phục. Cậu sáng suốt nghĩ cách sắp đặt đưa hổ vào bẫy, mặt vừa để báo thù cho chính mình, mặt khác có thể giúp ngươi nhà và dân làng thoát khỏi cảnh bị hại. Những trành quỷ như vậy thực rất ít thấy.

      Nhưng đề cập đến vấn đề trành quỷ chắc chắn các văn nhân đều muốn qua hình ảnh này gửi gắm thông điệp sâu sắc nào đó. Vì các văn nhân thời cổ đại phần lớn đều là những người có chức tước trong triều đình, nơi ấy vẫn thường có ma quỷ , cho nên mọi cái đều có thể xảy ra. số văn nhân sau những lúc tâm huyết dâng trào khó tránh khỏi buồn bã chân tay mà dùng chính những kinh nghiệm của độc giả để viết ra điều gì có thể đưa vào cuốn tiểu thuyết của mình. Trong Truyền kỳ của Bùi Hình, văn nhân thời nhà Đường có kể lại câu chuyện liên quan đến trành quỷ: Mã Chửng Du dạo chơi đến núi Hành Sơn cùng Chúc Dung, suýt nữa may trở thành miếng mồi ngon trong miệng hổ. Khi tới dòng suối uốn lượn quanh núi, tình cờ chứng kiến cảnh tượng kỳ lạ, con hổ ấy trong phút chốc biến thành lão tăng. Hai người tính kế đẩy lão tăng kia xuống suối, bỗng chốc lão tăng biến trở lại hình dáng con hổ ban đầu, hai người họ ra sức đẩy tảng đá lớn xuống suối đè chết con hổ. Khi họ xuống núi, tình cờ gặp được Trương Cơ Đồ, thợ săn dũng mãnh chuyên bắt hổ, họ bèn theo người thợ săn trèo lên cây dò xét. Đêm đến, bỗng có khoảng từ ba mươi đến năm mươi người qua đó, có tăng ni, có đạo sĩ, có đàn ông, có đàn bà… người ca hát, người nhảy múa, rồi có người đứng trước gò đất trước mặt mà quát lớn: “Lão hòa thượng của chúng ta vừa bị sát hại, ngay lập tức chúng ta phải tìm cho ra hai kẻ giết chết lão hòa thượng để báo thù, chúng còn muốn sát hại cả tướng lĩnh của chúng ta nữa!”, điều này kiến cho chúng mất người chèo lái quan trọng. Người thợ săn quay sang với hai người họ: “Những người này đều là trành quỷ, trước đây đều là người bị lão hổ ăn thịt”. Vì vậy, điều cốt yếu lúc này là phải bầu ra bộ phận thống lĩnh toàn bộ. Ngay tức khắc, con hổ trúng tên, kêu lên những tiếng gầm rú vang trời rồi chết. Đứng chôn chân tần ngần lúc, đến khi hiểu chuyện gì xảy ra, tất cả lũ trành quỷ vội vàng chạy đến quỳ phục bên thi thể con hổ bị bắn, khóc than thảm thiết. Hai người họ đứng ngoài chứng kiến từ đầu đến cuối liền phẫn nộ, quát lớn: “Lũ quỷ mông muội kia, chẳng biết phân biệt đúng sai, tốt xấu. Xưa kia các người vốn bị hổ cắn chết, nay ta báo thù cho các người, các người biết đường báo đáp mà lại còn khóc lóc, than vãn cái gì? Sao lại có đám ma quỷ hiểu biết lễ nghĩa như các ngươi cơ chứ!”

      Có thể thấy những ý trong câu chuyện đây được bộc lộ khá ràng. chuyện ma quỷ với cách cường điệu “ vọng ngôn chi, vọng thính chi” theo nguyên tắc của phương Đông, như vậy có thể đem lại cho người đọc cảm giác hứng thú, khiến cho người ta có thể quên những toan tính, mưu lược mà say sưa thả hồn vào những câu chuyện “ngư tiền nhàn thoại” nhàng, hấp dẫn. Có lẽ, Tô Thích phải chịu đựng ít những nỗi khổ cực do kẻ tiểu nhân gây ra trong các cuộc đấu tranh đảng phái. Cho nên ông cảm thấy chỉ mấy câu mắng chửi này thôi đủ để thỏa mãn và bù đắp cho những gì mình trải qua, vì thế cần phải tiếp tục cất cao giọng mắng mỏ lũ đần độn, mông muội kia cho hả hê, vui sướng.

      khắp thế gian này thiếu những hồn ma được coi là trành quỷ. Ví như muốn thăng tiến nhanh chóng để có nhiều lợi lộc, thành thử từ mọi thủ đoạn xấu xa, bẩn thỉu nào, chẳng phải trành quỷ là như thế sao? Xảo trá, thủ đoạn như loài ưng khuyển quẩn quanh làm trò chỉ điểm quanh chân người, rong ruổi chạy theo kẻ ác làm điều dối trá. Chỉ sợ mình kém cỏi hơn người khác. Khi chưa đạt được mục đích, chúng tỏ ra ngông cuồng, kiêu căng, ngạo mạn, mưu mô, độc ác để phô trương uy thế của mình. Nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ, những chúng làm hỏng việc của mình mà còn bị đầy biệt xứ, biết sống chết ra sao!

      Nghe những lời mắng chửi đầy sảng khoái ấy khiến người đọc cũng cảm thấy hết sức hả hê. Nhưng nghĩ kỹ lại hình ảnh trành quỷ trong những câu chuyện dân gian đâu đó vẫn có bóng dáng của lũ chó săn, chim săn. Chúng vô liêm sỉ là thế, hèn hạ, bỉ ổi là thế nhưng công bằng khi chúng lại có trong tay quyền lực và địa vị xã hội! Tuy nhiên, nếu giải thích ràng bản chất lũ trành quỷ này cũng chỉ uổng công vô ích mà thôi, vì những câu chuyện về trành quỷ càng về sau lại càng trở nên sâu sắc và phong phú. Hơn nữa, trong nhân gian, phẩm hạnh của những kẻ làm quan vô liêm sỉ lại luôn bị những tên trành quỷ gian manh, xảo quyệt kia làm cho thêm nhơ bẩn, nhem nhuốc.

      Do đó, vẫn có những trành quỷ từ núi ném xuống dưới ít quần áo và những vật dụng hàng ngày, nhiều người lần theo những đồ vật đó để lượm nhặt, dần dần đến tận hang ổ của hổ và trở thành miếng mồi ngon cho chúng [10] . Lại có người nhờ có đôi chân khỏe mạnh, ra sức vùng vẫy mong chạy thoát, nhưng cuối cùng vẫn nằm gọn trong miệng cọp [11] . Còn có loại trành quỷ vui vẻ theo sau hổ, thích thú, cười cợt khi thấy nạn nhân bị lột trần rồi dần dần nằm gọn trong nanh vuốt loài hổ đói [12] . Lại có con hổ may bị bắt, bèn gầm lên những tiếng khóc than thảm thiết suốt đêm ngày để đồng loại biết được mà kéo đến giải cứu và báo thù cho mình [13] … Những trạng thái bất thường trong nhân cách của trành quỷ như vậy phần lớn cũng từ trong nhân tình thế thái mà ra. Đây chẳng những là chuyện về lũ ưng khuyển có địa vị giàu sang quyền thế mà ở gốc độ khác còn là câu chuyện đáng xấu hổ về giới chức quyền, cũng giống như nguyên hình của trành quỷ vậy.

            [10] Theo Kỷ Vân trong Duyệt vi thảo đảng bút ký, quyển mười bảy.

                  [11] Theo Hồng Mại trong Di kiên chi mậu, quyển .

                  [12] Theo Du Giao, trong Mộng xưởng tạp trước, quyển tám.

                  [13] Theo Lang , trong Thất tu loại cảo, quyển mười bảy.

      Nhưng phàm là những câu chuyện kể vẫn có những trường hợp đặc biệt. Hung bạo, xấu xa là vậy nhưng cũng có khi chính trành quỷ lại tự hiến dâng sinh mạng mình cho hổ đói. Kỷ Hiểu Lam trong Duyệt vi thảo đường bút ký, quyển mười bảy có ghi lại: Trành quỷ vứt xuống những đồ dùng, quần áo hòng dụ dỗ người đường lần theo dấu vết mà mắc bẫy, nhưng như thế cũng tức là chỉ điểm cho những người thợ săn biết được nơi náu của lão hổ. “Con người trành quỷ biến hóa vô lường, mọi đều có toan tính từ trước. Lão hổ cứ ngỡ trành quỷ giúp mình mà dẫn người đến, biết đâu có ngày ngay cả mình cũng bị sát hại”. Những ý kiến bàn luận của Kỷ tiên sinh đây chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc, có vẻ như muốn ám chỉ bè lũ quyền cao chức trọng trong triều đình, luôn ngấm ngầm lợi dụng nước đục thả câu, cố tình dứt dây động rừng, hòng lợi dụng trành quỷ giúp mình tay. Nhưng họ lại quên mất điều rằng, lão hổ có thể ăn thịt trừ ai. Chẳng phải chính những kẻ gian tà, bất chính ấy luôn tìm cách vơ vét của cải làm hại dân, hại nước đó sao? Cho nên giữa chúng và lũ trành quỷ muôn hình vạn sắc kia cũng chẳng khác là bao.

      Dù sao , người có quyền thế, tự nhiên mời gọi được lũ trành quỷ vây quanh mình, mục đích cuối cùng của những hành động nối giáo cho giặc ấy cũng là để làm lợi cho bản thân mà thôi. Nhưng điều đáng ở đây là giữa bọn họ ai lợi dụng ai, hay cách khác, ai trở thành công cụ của ai? Chúng ta thường thấy kẻ có quyền ngồi chễm trệ chiếc ghế quan, phía dưới là đám tiểu nhân ra sức nịnh bợ lấy lòng, vậy thực chất đâu mới là kẻ “ hùng hào kiệt”? Như vậy, lão hổ bị lôi vào cuộc chơi do chính lũ trành quỷ sắp đặt, sau đó lại tự đưa mình lên đoạn đầu đài lúc nào hay. Đến lúc ấy, trành quỷ sớm thay đổi kế sách từ trước hoặc tháo chạy thoát thân. Những câu chuyện ma quỷ của Trung Quốc ngẫm ra ý nghĩa tuyệt vời, qua những câu chuyện ấy chúng ta hiểu được bất ngờ trong cuộc sống, ra chính lũ trành quỷ lại là kẻ trực tiếp tạo ra lão hổ uy quyền giả tạo kia! Trong Quảng dị ký có dẫn ra câu chuyện:

         Ở Kinh Châu có người men theo con đường bên sườn núi, bất ngờ gặp phải trành quỷ. Thấy chiếc mũ làm bằng da hổ bèn nhặt đội lên đầu, bỗng chốc biến thành hổ dữ, chịu chỉ huy của trành quỷ. Suốt ba, bốn năm liền chuyên hại người, bắt gia súc làm thịt ăn và trở thành loài vật hoang dã, thể thuần hóa được. Thân mặc dù biến thành hổ nhưng tâm vẫn miễn cưỡng, hề muốn, tuy vậy cũng chẳng biết phải làm sao?

      Con hổ đó sau này thừa dịp lén vào ngôi miếu hoang, nấp ở đó thời gian khá lâu, cho tới khi dần trút bỏ được lớp da hổ cơ thể. Nhưng đến ngày ở cửa miếu tình cờ xuất trành quỷ khác, lại vớ được miếng da hổ choàng vào người ta, từ đó ta sợ đến nỗi dám đặt chân đến cửa miếu. Tôi cảm thấy câu chuyện này hết sức có ý nghĩa, chỉ đối với những kẻ quan quyền từng ngày lún sâu vào vũng bùn lầy đen tối, mà còn là lời cảnh tỉnh tới đám người mua danh bán lợi đầy rẫy trong xã hội ngày nay, vì thế càng đọc, càng ngẫm nghĩ lại càng cảm thấy thú vị vô cùng.

                  3.


      Rốt cuộc là phải xuất phát từ trải nghiệm cuộc sống như thế nào mà con người lại có thể sáng tạo ra hình tượng trành quỷ, loại hồn ma đặc biệt đến như vậy? Thiết nghĩ, ngoài vài nguyên nhân xã hội , còn phải kể đến tượng kỳ lạ có thể cũng có tác động tương tự, đó chính là sau khi thân thể những người xấu số trở thành miếng mồi ngon trong miệng hổ, thường vẫn thấy quần áo, y phục còn sót lại bao giờ cùng được gấp cẩn thận, gọn gàng. Do đó có thể tưởng tượng lão hổ trước khi ăn thịt người, lột bỏ hết tư trang, quần áo của người đó ra và còn gấp lại cho chỉnh tề, ngay ngắn. Đối với chúng ta đây quả thực phải là việc làm khó khăn, nhưng đối với loài hổ ngược lại, thể làm được như thế. Vậy vệc này cần phải giải thích ra sao? Chắc chắn chỉ có cách là nhờ người khác giúp đỡ, mà “người” ở đây ai khác, chỉ có thể là hồn ma của người đó.

      Đoạn Thành Thức, văn sĩ thời Đường, trong Tây dương tạp trở, quyển mười tám cho rằng đó là do trành quỷ sai khiến linh hồn người chết làm: “Lão hổ giết người, lại có thể ra lệnh cho linh hồn người chết tự trút bỏ quần áo, gấp lại gọn gàng, rồi mới ăn thịt.” Nạn nhân sau khi bị cắn xé cho tới chết, linh hồn của ta lại phải tự cởi bỏ y phục, rồi gấp lại ngay ngắn, chỉnh tề, việc này cũng ám chỉ lúc đó ta trở thành trành quỷ, phải chịu mọi sai khiến, chỉ bảo của lão hổ. Hoàng Phủ Thị, thời Đường, tác giả Nguyên hóa ký, cũng đưa ra những kiến giải tương tự, có điều ông miêu tả cách tinh tế hơn, khiến những điều xảy ra càng trở nên đáng sợ: Huyện úy Phiêu Thủy, Tuyên Châu nổi tiếng chính trực, luôn sống rất đạm bạc, màng danh lợi cho tới khi mãn nhiệm. Trước khi cáo lui khỏi chốn quan trương, ông có tiến cử Trương Sĩ, vốn là trang khách trước kia của ông, dẫn theo gia đình đến Phiêu Thủy nhậm chức. Khi khởi hành giữa đêm khuya, thê tử của Trương Sĩ bị rớt sau họ mười bước chân, trong nháy mắt bị hổ ăn thịt. Trương Sĩ thề rằng nhất định báo thù cho vợ.

          Cánh tay kẹp hai mũi tên, dắt theo cây cung sau lưng, ông mình ra giữa lúc đêm khuya. được khoảng ba mươi dặm, lạc sâu vào chốn rừng rú u, biết bao nguy hiểm rình rập. Sau đó, lại tới sơn cốc gần đó, có hàng trăm cây đại thụ bao quanh sào huyệt của lão hổ, khuôn mặt thanh tú đẹp đẽ ánh lên nỗi hoài nghi, dò xét nấp sau mỗi tán cây. Đúng lúc đó, nhìn sâu xuống chân núi, dường như có vật gì đó trong tư thế phủ phục, dò xét với ánh mắt đầy ham muốn, vật đó chính là lão hổ. Người vợ quý của mình bị hổ ăn thịt chết thảm thương, thi thể còn lành lặn, món nợ này hôm nay tính toán hết với nhau. Lão hổ từ trong sào huyệt của mình dẫn ra bốn con hổ con, đều to như con cáo ngoe nguẩy cái đuôi của mình mà cười cợt, nhạo báng. Lão hổ dùng lưỡi liếm láp khắp thi thể người chết, rồi cả thay lao vào giành giật nhau từng miếng ăn.

      Kết quả, vì báo thù cho vợ, Trương Sĩ cũng chết cách thảm thương dưới nanh vuốt của năm con hổ lớn .

      Chuyện này còn tồn tại đến tận triều nhà Thanh. Du Thừa Đức, văn sĩ thời nhà Thanh trong tác phẩm Cao tân nghiễn trai tạp trước có ghi lại câu chuyện:

      Có người lần du hành đến tỉnh nọ, vào ngày mưa mình trong đêm khuya và bị lạc vào rừng sâu, bất ngờ nhìn thấy lão hổ, vội vàng rảo bước nhanh nấp vào ngôi chùa hoang gần đó. lúc sau, lão hổ trong miệng ngậm chặt người đặt mặt đất, chân còn động đậy, con hổ quay lại, người đó đột nhiên đứng dậy, cởi bỏ quần áo mặc người, lão hổ vừa ngoe nguẩy đuôi vừa thưởng thức bữa tiệc ngon lành trong niềm hân hoan vui sướng, từng dòng máu tươi đỏ au rỉ ra từ mỗi miếng thịt, thấm ướt khoảnh đất rộng.

      Du Giao, văn nhân khác thời nhà Thanh trong tác phẩm Mộng xưởng tạp trước, quyển tám, Trành quỷ ký có ghi chép lại truyền thuyết khác: “Trành quỷ vui cười theo sau giúp cởi bỏ quần áo và gấp lại gọn gàng, lão hổ chỉ việc chờ đợi miếng mồi ngon của mình trần trụi còn mảnh vải che thân rồi từ từ thưởng thức.” Như vậy, quần áo người nạn nhân phải do người chết tự cởi, mà trước đó trành quỷ ra tay cởi bỏ. Điều này cũng cho thấy nạn nhân bị cắn chết, linh hồn trở thành đầy tớ phục dịch lão hổ, và trành quỷ, người tiền nhiệm trước đó lúc này được giải thoát, có thể đầu thai chuyển kiếp, hoặc đứng cương vị hoàn toàn khác.

      Nhưng chúng ta có thể nhận thấy hình thành của trành quỷ rất có thể có liên quan tới những bí xung quanh chuyện cởi bỏ y phục người nạn nhân. Trành quỷ tự nhiên thể làm được điều này, cũng thể có nạn nhân nào bị lão hổ cắn chết mà vẫn tự mình làm được cái chuyện kỳ lạ kia. Nhưng tôi nghĩ, chuyện y phục được gấp lại gọn gàng, ngay ngắn kia chưa hẳn là chuyện bịa đặt, chỉ là quần áo đó thể là người chết tự gấp lại mà thôi. Vì hầu hết những người bị hổ ăn thịt là những lữ khách độc hành qua núi, người họ ắt phải mang theo vài bộ quần áo để mặc thay đổi. Có người bị hổ rượt đuổi, quần áo trong tay nải rơi xuống đất, đó cũng là đoạn đường mà trành quỷ thường vứt quần áo, đồ vật hòng dụ dỗ người qua đường mà đoạn tới. Nạn nhân bị hổ đuổi bắt, đường tháo chạy vướng víu đầy những bụi rậm, những lùm cây gai góc, quần áo mặc người bị rơi rách, đến khi nằm trọn trong móng vuốt của hổ chỉ còn lại tấm thân trần trụi mà thôi. Viên Mai trong Viết tiếp Tử bất ngữ, quyển bảy, Liệt Hộ chuyện hổ có viết:

        Tương truyền câu chuyện hổ tấn công người đều do trành quỷ ra tay cởi bỏ y phục người nạn nhân cho hổ dễ bề ăn thịt. Lại có người rằng lão hổ có khả năng lệnh cho thi thể người chết tự mình cởi bỏ quần áo người, điều này quả thực là trái với tự nhiên. thực tế, ai nhìn thấy hổ trong thời điểm đó, vì thế, những suy luận chỉ là những suy đoán theo cảm tính mà thôi. Trịnh Liệt Hộ cho rằng: “Hổ bắt người, dùng hàm răng sắc nhọn cắn mạnh vào cổ, nạn nhân vô cùng đau đớn, ra sức chống cự, dồn sức vùng vẫy hòng thoát ra, quần áo người tự rơi xuống.”

      Tình cảnh được tới đây hiếm có người nào được tận mắt chứng kiến. Những điều mà Trịnh Liệt Hộ tới có thể cũng chỉ là lý giải bằng cách suy luận mà thôi. Bản chất của vấn đề “thoát y” này có thể dẫn dắt chúng ta đến nhiều liên tưởng khác nhau. Đầu tiên là thi thể nạn nhân tự mình cởi bỏ quần áo người, sau đó quần áo lại được gấp ngay ngắn, chỉnh tề mặt đất. Hai việc này lão hổ đều thể thực được, có khả năng làm những việc này chỉ có thể là người nào đó. Câu chuyện tự mình lột sạch quần áo cơ thể, thậm chí làm cách thuần thục rồi nằm lên cái mâm tự nguyện dâng hiến cho kẻ cường quyền, trong dân gian quả thực phải là rất hiếm gặp. Cho nên, hình tượng trành quỷ xuất ở đây cũng chẳng cần phải dùng trí tưởng tượng quá nhiều cũng có thể hiểu ra nghĩa hàm sâu xa của nó.

      Nhưng điều này cũng góp phần hé mở số phận “đáng thương” của trành quỷ.

                  4.


      Trành quỷ vốn dĩ là kẻ rất đáng ghét, đáng khinh, nhưng nếu suy xét lại cách thấu đáo, con người ấy lại khiến ta cảm thấy có gì đó đáng thương vô cùng.

      Điều khiến ta thương cảm cho số phận của họ, trước hết vì chính họ vốn là những người may mắn bị lão hổ ăn thịt đầu tiên. Nếu như “ải quỷ” và “nịch quỷ” có số là tự mình tìm đến cái chết, trành quỷ hoàn toàn ngược lại, luôn rơi vào tình thế hiểm nguy cách bị động. Trong thâm tâm họ hề mong muốn làm mồi cho hổ dữ, và cũng bao giờ ngờ tới có ngày mình lại trở thành miếng mồi ngon trong nanh vuốt hổ quỷ. Cho nên khi họ bị hổ vồ, chỉ đơn giản là do bản năng thích ăn thịt người của loài ác thú mà kèm theo đó là cả câu chuyện duy tâm về cái gọi là “thiên ý”, do ý trời sắp đặt. Mặt khác, cái gọi là “thiên ý” dị thường ấy cũng chẳng phải cách sắp đặt tự nhiên của tạo hóa, bởi lẽ “thiên ý” cũng chỉ dám lựa chọn những kẻ yếu đuối chốn nhân gian mà đẩy vào miệng hổ, trong đó phụ nữa và trẻ em là lựa chọn hàng đầu của họ. Những đối tượng này những đủ sức phản kháng mà đến sức lực chạy trốn cũng có. Qủa thực họ đều là những nạn nhân thuần khiết và vô tội. Mặc dù yếu đuối chưa hẳn là nguyên nhân chủ yếu khiến họ trở thành người bị nạn, nhưng như Kỳ Vân trong Việt vi thảo đường bút ký mãnh hổ chỉ “ăn thịt những kẻ thiên lương”. Câu ấy quả có chút cảm tính, nhưng nhìn ở góc độ khác cũng phản ánh đúng phần thực tế. đây nhắc tới phụ nữ và trẻ em, vấn đề này thiết nghĩ cũng cần chỉ vài điểm đặc biệt. Thông thường, trong các câu chuyện về “trành quỷ”, đa số đều miêu tả dáng vẻ trành quỷ mang hình hài của đứa trẻ con. Ví như trong Quảng dị ký có đoạn viết: “Vô tình gặp phải trành quỷ hình hài trông giống đứa trẻ bảy, tám tuổi, người miếng vải che thân, cơ thể toát lên màu xanh ngọc bích kỳ quái.” Lại có đoạn viết: “Ở Khê Nam Thạch có đạo sĩ Y Châu Y, có hai thanh y đồng tử đứng hầu hạ bên cạnh”, vị đạo sĩ đó chính là mãnh hổ biến thành, mà hai đồng tử đứng bên cạnh ai khác chính là “trành quỷ”. Nguyên hóa ký cũng ghi lại câu chuyện về trành quỷ, thân cao hơn thước, hình dạng như con khỉ ma các. Trong Di kiên bính chí, quyển ba, Hoành hoa trành quỷ cũng “có đứa trẻ mặc áo màu xanh, lớn hơn thước, sắc mặt xám đen”. Cuốn thứ mười hai, sơn hổ trong tập Di kiên chi mậu viết: “Vào ban đêm, có phụ nữ trong thôn nằm mộng thấy bị hổ ăn thịt, kể lại: “Tôi phải nằm rạp xuống đất, cố bò vào rừng để tránh nạn, nhưng lại có hai đứa trẻ túm lấy chân lôi lại, nên thể tiến lên phía trước. Lúc ấy vì quá hoảng sợ, tôi ra sức kêu cứu mong ông trời rủ lòng thương mà giữ lấy tính mạng cho mình, nhưng bỗng chốc mãnh hổ ở bên cạnh, rồi lao vào ăn thịt.” Câu chuyện mãnh hổ vồ người cũng xuất ở cuốn thứ tư, Tầm dương liệt nhân trong Di kiên chí (bổ sung) trong đó ghi: “Có con ma bé mặc áo màu xanh, tóc dài đến lông mày.” Việc các câu chuyện trành quỷ mang hình dáng đứa trẻ như dẫn ra đây còn xuất phát từ thực tế rằng mãnh hổ ăn thịt đứa trẻ là việc quá đơn giản và dễ dàng. Do đó, trong các câu chuyện ma quỷ, những đứa trẻ bị hổ ăn thịt hóa thành trành quỷ tuổi luôn tạo được nỗi cảm thương, xót xa nơi người đọc, đó cũng là nguyên nhân để tôi đưa hai chữ “ai trành” làm đề mục đây.

      Tất nhiên, đó cũng là lý do thứ hai cho ta thấy loài trành quỷ chết trong tay mãnh hổ là vô cùng đáng thương. Chúng chết trong đau đớn, tủi hờn, đến khi chết rồi lại buộc phải làm tay sai cho loài cầm thú từng hành hạ mình. Đây là điều bất đắc dĩ, là kết cục ai mong muốn, cũng chẳng ai có thể ngờ tới. Làm tay sai cho kẻ thù, nỗi đau trong họ lần nữa bị giày xéo, xót xa hơn bội phần.

      Sau khi con người bị hổ ăn thịt, hồn ma của họ nhất định phải tìm được người thay thế mới có thể siêu thoát. Lý do thực ở đây cũng giống như ma chết đuối, ma ngã xuống sườn dốc, ma cỏ rậm… đều nhằm mục đích cảnh báo con người hãy tránh xa những nơi nguy hiểm đó. Nhưng cái được gọi là “cảnh báo” mặc dù nhằm bảo vệ mạng sống của con người, nhưng đối với những hồn ma sa vào vòng tội lỗi, đây thực “quy tắc” cực kỳ tàn khốc. “Lăn lộn dưới đất”, cái này hình như vẫn có thể chấp nhận được, chỉ cần đứng dậy là xong, ngay cả khi bị đánh chết, hai mươi năm sau có thể lại trở thành đấng hảo hán, nhưng nếu lại bị giẫm đạp lên cả nghìn vạn vết chân “vĩnh viễn được đầu thai chuyển thế”, “quy tắc” ấy làm cho người ta chỉ nghĩ đến thôi khỏi rùng mình kinh hãi. Chúng ta có lẽ thể đưa ra những cầu quá cao đối với trành quỷ, đặc biệt là những trành quỷ bé đáng thương như thế. Thử nghĩ xem, ngay cả Bolcheviques của Bukharin hễ chút là lại ăn năn, cầu xin tha thứ, ai cũng như thế chắc hẳn chúng ta chẳng còn gì để . Họ sợ lưỡi dao đồ tể sắc nhọn của Sa Hoàng, bởi họ tin rằng, ngay cả khi bản thân họ bị giết cũng chỉ là giây phút bất ngờ “ngã xuống đất” mà thôi, thế gian này hiểu được họ, và khi ấy họ trở thành hùng, mãi mãi về sau họ được người đời tưởng nhớ đến. Còn nếu như ở “pháp đình của nhân dân”, tất cả những mưu, những hành động vu cáo, hãm hại, tàn sát người khác đều núp sau cái bóng của mỹ từ “vì danh nghĩa của cách mạng”, tiếng tăm ấy, xấu xa ấy đến nghìn đời sau cũng rửa sạch. Đó chính là hình phạt thích đáng cho số những phần tử phản động phải chịu cực hình “mãi mãi được đổi đời”. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh việc mãnh hổ bạo loạn cũng giống như bạo loạn chính trị vậy, “vĩnh viễn được siêu sinh” và “vĩnh viễn được đổi đời” đối với trành quỷ hay kẻ phản động kia cũng chẳng khác nhau là mấy. khi làm hồn ma dưới móng vuốt của mãnh hổ, còn người thân thích ruột thịt hay bạn bè, chỉ có chủ nhân của nó - người đem nó làm đồ điểm tâm, bóc lột và sai khiến nó, bức ép nó phải giết người vô tội, hay bài răn dạy: ngươi chỉ có bán rẻ đồng loại của mình mới thể được trung thành, nếu làm tốt đến lúc nào đó, chủ nhân khai ân giải thoát hợp đồng làm nô lệ cho nhà ngươi. Loại ma chước quỷ như vậy nếu có cái thần thái và tâm hồn băng giá từ cõi “ tàn” thể có khẩu khí khôn ngoan, quỷ quyệt như thế!

      Từ đó xuất lý do thứ ba khiến loài trành quỷ trở nên đáng thương vô cùng. Nó chỉ phải chịu áp bức tàn bạo của lũ hổ quỷ mà còn bị lừa gạt vào cái thuyết siêu sinh mù quáng do mãnh hổ vạch ra. Những lời phỉnh nịnh như vậy chẳng qua chỉ là lừa bịp mà thôi. Ngay sau khi họ lôi kéo, dụ dỗ được vài người đến làm mồi cho hổ, tự bản thân họ chưa chắc nhận được giải thoát thực . Thử nhìn lại hình ảnh trành quỷ ở những phần trước ắt thấy tự do với chúng ràng là điều tưởng, đương nhiên cái mà chúng nhận được lúc này là thế lực mỗi lúc đông hơn, còn đơn độc như trước, mà có tới mấy người, mười mấy người thậm chí là ba mươi, năm mươi người cùng kết bạn làm tay chân, làm “ma đưa lối quỷ dẫn đường” cho mãnh hổ. Có thể thấy, ngay cả khi bán rẻ đồng loại của mình, những cơn ác mộng triền miên của trành quỷ cũng hề có điểm kết thúc. Mãnh hổ buông tha cho nó, hơn nữa còn tiếp tục kiểm tra trung thành của nó, đẩy nó lún sâu vào con đường tội lỗi, cho đến khi nhân tính trong nó hoàn toàn biến mất. Con đường tội lỗi ấy đáng giận mà cũng đáng thương. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt như trong Hà gian phụ của Liễu Tống Nguyên dẫn: “Từ con người bị ức hiếp, mất danh tiết, nạn nhân bỗng trở thành kẻ bất cần, sãn sàng mở đường cho cái ác để cuối cùng tự nguyện thành trành quỷ, đồng đảng của mãnh hổ.” Những loài trành quỷ như vậy thực đáng để người ta thương và hơn nữa, đắc ý của chúng thực tế cũng đâu đếm xỉa gì đến lòng xót xa, thương cảm của con người.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 6: Bữa cơm nơi phủ


            
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />


      Có những chuyện xảy ra rồi càng nghĩ lại càng khiến người ta thêm buồn bã. ràng ban đầu mọi người cùng chung sống bên nhau, thương, gắn bó, thân thiết là vậy, nhưng rồi bỗng nhiên, hề hẹn trước, trong số họ đột ngột về với “thế giới bên kia”. Sinh ly tử biệt, dương xa cách nghìn trùng. Muốn gặp mặt hàn huyên đôi chút cũng phải chuyện đơn giản, mà ngay cả cuộc sống hằng ngày cũng bị thay đổi, xáo trộn ít nhiều. Trong phút chốc biến thành “Bắc Hồ - Nam Việt”.

      Thế nên Chu Tác Nhân tiên sinh trong chuyện ma hoài cảm mà viết những dòng tâm như sau:

      Phải chăng ma quỷ thực là thứ vô cùng thú vị và cực kỳ có ý nghĩa, cho nên chúng ta luôn tò mò, thích thú khi tìm hiểu về cảm xúc, về cuộc sống của ma quỷ. Từ các bài văn, bài báo đăng tải các tạp chí, sách vở, cho đến các phong tục tập quán ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của mọi người, ở tất cả mọi mặt, chúng ta đều miệt mài tìm kiếm, lý giải, cắt nghĩa nó, tất cả cũng chỉ vì mong muốn hiểu thêm chút ít về cái gọi là “tình” mà thường ngày chúng ta khó nắm bắt. cách khác, cái mà chúng ta say mê tìm kiếm chỉ có thể có trong thế giới ma quỷ huyền bí mà thôi. Giả dụ, nếu ta tập hợp và viết ra cách tỉ mỉ, ràng tất cả các câu chuyện kể về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của loài ma quỷ ở Trung Quốc, tuy đó là công việc hết sức khó khăn, tương đương với việc hoàn thiện luận văn Tiến sĩ, nhưng những điều đó lại vô cùng thú vị và có ý nghĩa. thực tế, những điều ấy nếu được viết ra minh chứng sinh động, hùng hồn cho tấm lòng nhân nghĩa, chân thành của dân tộc Trung Hoa. Giá trị giáo dục của những trang viết này hơn hẳn kiểu “võ mồm”, “thùng rỗng kêu to” lúc nào cũng rao giảng về luân thường đạo lý, về cái đúng cái sai diễn ra hằng ngày trong cuộc sống mà vẫn khiến người ta đặt dấu chấm hỏi đầy vẻ hoài nghi: Liệu có thể tin được ? (xem “Trúc đóa ký”).

      Phải có con mắt cực kỳ tinh tường mới có thể có ý kiến tự nhiên, sâu sắc như vậy. Ngay cả giới nghiên cứu chuyên sâu về các phong tục ở Trung Quốc cũng rất hiếm khi thấy thảo luận về vấn đề này, nếu có phần lớn cũng chỉ để ý đến thế giới hồn ma hay bàn thêm về mấy cuốn sách “văn hóa ma” mà thôi. Ví như về Thập Vương, quỷ đầu trâu mặt ngựa, các thủ đoạn “nghênh tiếp” linh hồn người chết về nơi “cực lạc”… Còn những chuyện liên quan đến cuộc sống sinh hoạt của ma như ăn, mặc, ở, lại… đều bị liệt vào chuyện vặt vãnh, linh tinh, chỉ đáng đưa ra ngoài lề trang chính sử, đáng để các bậc cao minh học vấn uyên thâm để ý tới. Viết về đề tài “Cuộc sống của con người sau khi chết”, quả là lựa chọn mạo hiểm của người viết. Phải viết sao để có thể đáp lại cách trọn vẹn kỳ vọng của độc giả? Phải viết như thế nào để có thể khiến ai nấy đọc xong cũng cảm thấy vô cùng thú vị? Đó là nỗi trăn trở khôn nguôi của người cầm bút.

      Hơn nữa, xưa nay mấy ai có hứng thú khi về chuyện hồn ma ăn cơm. Mặc dù trong dân gian còn tồn tại ít những phong tục tập quán được coi là kỳ quái, nhưng riêng chuyện ăn cơm từ cổ chí kim đều rập khuôn theo cách thức có sẵn, luôn phải bắt đầu từ miệng mà vào, ở đây khó có “sáng tạo” nào mới hơn được. Thử hỏi đời có ai dùng lỗ mũi để ăn cơm? Nếu có tất yếu được coi là chuyện lạ, lưu truyền khắp nơi rồi. Những khi con người ta trở về với “thế giới bên kia”, mọi chuyện ra sao? ràng thế giới bí ấy là mảnh đất màu mỡ cho những câu chuyện kỳ quái, chưa hề có ở thế giới người phàm tục được gieo hạt, nảy mầm. Cho nên, có người từng cho rằng, nếu có những hành động ngược với nhân thế dường như thích hợp với thế giới của những hồn ma. Thế nhưng khi đến việc ăn cơm, chắc hẳn ở nơi kỳ quái đó cũng khó có thể sáng tạo ra chiêu trò gì mới hơn được nữa. Cũng từng có người thử sức sáng tạo trong lĩnh vực này, nhưng dường như họ thành công. Ví dụ từng có người bị chặt ngang người mà chết, hồn ma của họ lúc ăn cơm cứ thế đặt thức ăn vào giữa bụng. Hay như trong cuốn Dị uyển của Lưu Kính Thúc, ở thời kỳ Lục triều, có kể lại câu chuyện như sau: Vào thời hậu kỳ tam quốc Tào - Ngụy, quyền lực chính trị nằm trong tay gia tộc Tư Mã. Thân tộc của Tào thị đặt hy vọng phục quốc vào Hạ Hầu Huyền, nhưng Hạ Hầu Huyền may bị em nhà Tư Mã chém đầu. Người nhà ông ta lập bàn thờ cúng tế, họ nhìn thấy hồn Hầu Huyền đến ngồi ở bàn thờ ăn đồ cúng: “Tháo đầu đặt ở bên cạnh, đem thức ăn, cá thịt, hoa quả cho qua cổ, xong, lại lắp đầu trở lại như cũ.” Có người : “Ba đời làm quan, rất cần chú trọng đến chuyện ăn mặc.” Cháu của Hạ Hầu Huyền từ trước đến nay là người phong lưu nho nhã, đối với việc ăn, uống đương nhiên rất chú ý và coi trọng. Nhưng ngờ sau khi chết, con người ấy lại có tướng ăn uống phàm phu tục tử như vậy! Tướng ăn này làm cho người khác khỏi giật mình, e sợ. Sợ trước hết là hành động ăn uống tùy tiện, mất vệ sinh của viên mãnh tướng thời. Cái sợ thứ hai là việc tháo đầu xuống dễ dàng như tháo đồ chơi, biến cái cổ giống như cái ống to bằng sắt làm nơi cho thức ăn vào. Hơn nữa, việc giải phẫu cơ thể người được miêu tả như quả là việc làm vô cùng thiếu hiểu biết. Chính vì thế, sau này, chúng ta rất ít gặp những tình tiết hãi hùng như vậy trong các cuốn tiểu thuyết khác.

      Vậy là việc đưa thức ăn vào trong cơ thể con người cuối cùng vẫn phải theo con đường cũ mà thôi. những thế, ngay cả thứ tự khi ăn như nhai, bài tiết, tiêu hóa, cũng chẳng thấy có chiêu trò gì mới trong các câu chuyện ma sau này. Có thể , tất cả đều giống như thói quen cũ được định hình ở chốn dương gian. Khổng Phu Tử : “Thờ thần như thần hữu.” Câu ấy ngoài việc khuyên răn khi thờ tế thần thánh phải hết sức nghiêm túc, cung kính giống như thờ cúng tổ tiên vậy, tôi nghĩ nó còn có hàm ý nhắc nhở cả việc cần tôn trọng vấn đề ăn uống của người lớn tuổi, được nhìn họ giống như dị loại, mà phải phục dịch như người còn sống. Về điểm này những con hiền, cháu thảo lại thường hay quên lãng. Chẳng hạn như việc “loại tửu” [1] , chính là phản ánh hành động mời tổ tiên uống rượu. Đây là nghi thức trang trọng nhưng hợp với thực tế. Đó là chưa kể tới việc “loại tửu” thường thấy sân khấu hoặc truyền hình ngày nay chỉ mang tính hình thức, qua loa đại khái mà thôi. Họ hướng lên khán đài, mặt nhìn về đình viện, vén tay áo bên phải, sau đó đem rượu trong cốc rắc xuống đất từng ít, từng ít . Đẹp đẹp rồi, những làm như vậy mấy ai có thể uống được rượu vào miệng đây? Người thường còn vậy huống chi là cụ già lưng gù, gầy yếu. Mà thậm chí, ngay cả câu thanh niên chân tay linh hoạt, hãy để cậu ta thử quỳ xuống đất, ngửa mặt lên trời, sau đó há to miệng, lựa theo hành động tưới rượu xuống đất mà thay đổi tư thế, thử xem có thể hứng được bao nhiêu rượu vào miệng? Tôn Quang Hiến, thời Ngũ Đại, trong phần thứ tám của cuốn Bắc mộng tỏa ngôn có kể về câu chuyện ở thời nhà Đường: “Tôn Hội Tông tập hợp tất cả thân quyến đến nhà mở hội, khi uống rượu có rắc rượu xuống đất thể ý nguyện là người và ma cùng chung vui. vị thân quyến có khả năng nhìn ma đoán quỷ, hôm đó bận việc đến chậm bước. Vừa đến cổng, ông ta liền nhìn thấy vị quan viên toàn thân nhếch nhác, tức tối ra, miệng ngớt lầm bầm chửi mắng, mặt mũi và áo dài đều ướt hết. ra đây chính là tổ tiên nhà ta, vị này hơi vội vã chút, mặc dù chuẩn bị tư thế, nhưng khi rượu rót xuống lại đổ ập xuống đầu và mặt khiến cho vị này khỏi tức tối, giận dữ mà bỏ .” Câu chuyện về ma chứng minh cho ta thấy, quan niệm cho rằng ma quỷ uống rượu đều phải quỳ xuống đất mà liếm hoặc ngửi như cách nghĩ của người ở dương gian là hoàn toàn sai lệch. [2]

      [1] Có nghĩa là: tưới rượu xuống đất hoặc mồ mả khi cúng.

      [2] Kỳ Vân trong Việt vi thảo đường bút ký, quyển mười có về thí sinh rất bạo dạn: “Vào đêm trăng sáng, ta đem rượu đến cạnh ngôi mộ ngồi uống, và còn gọi ma đến uống cùng. Sau đó, có khoảng mười người kéo đến, chàng thư sinh dùng bình đựng rượu lớn, rắc xuống đất để ma có thể ngửi được mùi rượu.” Đây là cách mà Kỳ tiên sinh về việc tưới rượu xuống đất để phê phán suy nghĩa và hành động sai lầm của chàng thư sinh nọ. Nghĩ kỹ lại chút, hành động này dường như học được từ việc rắc thức ăn cho gà, vịt vậy. Đối với người được thờ cúng đó thực là điều rất vô lễ.

      Vì thế, vấn đề ăn cơm nơi phủ tưởng rằng phức tạp nhưng thực ra lại rất đỗi bình thường. Linh hồn từ khi rời bỏ cuộc sống nơi trần thế để trở về với thế giới u minh nơi địa phủ, họ vứt bỏ mọi lo toan về miếng ăn cái mặc hằng ngày, ngay cả tâm trạng hồi hộp, lo lắng khi lần đầu tiên vào nhà hàng Tây dùng bữa mà biết dùng dao, dùng dĩa ra sao đến lúc này cũng còn ý nghĩa. Thế giới thay đổi, nhưng về cách ăn, uống hề có thay đổi. Điều này phải chăng làm cho các vị tiên sinh có tính hiếu kỳ, thích khám phá phải thất vọng? Nhưng cũng đừng quá nản lòng, vấn đề ăn uống ở chốn phủ tuy có chuyện gì mới mẻ đến nỗi chỉ nghe thôi chỉ sởn da gà, những vẫn còn có nhiều chuyện so với dương thế lại khác biệt rất nhiều. Việc nhất chính là, mặc dù các hồn ma cũng biết đói, thậm chí là luôn miệng kêu đói, nhưng vĩnh viễn họ bao giờ chết vì đói cả!




      <img class="aligncenter" alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />
                  Người dân coi thức ăn là Trời [3] . Bởi lẽ, nếu có cơm ăn điều đó đồng nghĩa với cái chết, cũng có nghĩa là trở thành ma đói. Từ kết cục này ta có thể thấy, dường như vấn đề ăn uống ở thế giới ma quỷ nghiêm trọng bằng người sống ở chốn dương gian. Thậm chí là ma đói tiếp tục đói thôi, chứ còn biết làm sao nữa? Nhưng cảm giác đói của ma quỷ cũng chẳng khác chi người trần mắt thịt. Trong xã hội đại ngày nay, thế hệ trẻ may mắn phải trải qua cảm giác chịu đói và chết vì đói như xưa. Chỉ cần thấy đói, ngay lập tức họ có thể tìm nơi làm thỏa mãn cơn đói của mình: “Tôi đói rồi, tìm quán McDonald thôi!” Nếu là người tinh tế về chữ nghĩa khi chuyện, cái đói của những thanh niên kia chỉ có thể coi là “cơ” (饥: đói), chứ thể gọi là “ngã” (饿: đói) được. “Cơ” là cái đói còn có thể chịu đựng được, còn “ngã” thể nhẫn nại hơn được nữa, nếu còn phải chịu đựng nữa chỉ có thể đau đớn, khổ sở đến chết mà thôi. Người nào trải qua trận đói thảm khốc nhất trong lịch sử Trung Hoa mới có thể hiểu sâu sắc về nỗi giày vò khi cái đói cận kề cái chết. Trong Ky tô sơn bá tước, Danglar’s dùng mười đồng tiền Pháp chỉ để mua con gà, đấy phải do ông ta sợ chết mà vì ông ta chịu nổi việc bị bỏ đói, chịu nổi cảm giác bị giày vò giữa sống và cái chết. Nỗi thống khổ của đói khát đối với ma quỷ cũng có trường hợp ngoại lệ. Nhưng nếu ta bỏ qua cái kết cục của tầng thứ nhất việc có đồ để ăn đối với ma quỷ lúc này cũng chẳng phải vấn đề gì quá nghiêm trọng nữa.

      [3] Câu gốc: Dân dĩ thực vi thiên.

      biết vì sao, chốn phủ ở Trung Quốc lại có quan, có dân, hơn nữa ở đó còn có công việc (nhưng phần lớn là đến trần gian làm việc), có trao đổi buôn bán (chợ của ma quỷ là trung gian giữa thế giới của người và ma). Chỉ có điều, chốn phủ có nông dân, nơi ấy có mùa xuân để trồng cây, mùa thu để thu hoạch như ở trần thế. Nhưng có nông dân có nghĩa là cần ăn cơm. Vấn đề “quỷ do cầu thực”, được ghi chép và truyền từ trong Kinh thánh [4] . Từ xa xưa, ở dưới phủ, thức ăn của tổ tiên chúng ta là dựa vào đồ cúng của con cháu ở trần gian cung cấp. Nếu dòng họ bị diệt chủng linh hồn của tổ tiên ở nơi phủ chỉ có thể như “ma đói nhà họ Ngao mà thôi”. Vấn đề này dường như phải là nét đặc sắc của riêng Trung Quốc, Chu Tắc Nhân tiên sinh từng dịch câu chuyện của Hy Lạp có tên Chuyện liên quan đến đám tang, trong đó có đoạn viết: “Chất dinh dưỡng của họ chủ yếu dựa vào rượu và các thứ tế phẩm mà chúng ta thờ cúng đặt mộ, vì vậy, nếu như trần thế còn thân quyến, bằng hữu nữa, những con ma này ở dưới phủ phải chịu đói đến suốt đời suốt kiếp mà thôi.” Nhưng đồ thờ cúng của con cháu phải là cả xe thực phẩm đông lạnh để tổ tiên từ từ hưởng thụ, mà chỉ là được quan tâm, để ý đến số bữa nào đó mà thôi. Ngoài việc mời tổ tiên ăn nhiều hơn chút vào những dịp ấy việc để dành cho tổ tiên gói ghém mang về khó mà được thực . Chính vì thế, nếu hồn ma vẫn còn chưa thoát khỏi thói quen ngày ăn ba bữa ở trần thế, đến khi chết khó có thể tránh khỏi tình trạng bụng réo sôi ùng ục suốt ngày. Mặt khác, sau khi Phật giáo được truyền vào Trung Quốc, đối với vấn đề ăn uống nơi phủ cũng có nhiều cải thiện theo chiều hướng “thêm dầu vào lửa”. Vương gia của đạo Bà La Môn ( tôn giáo cổ ở Ấn Độ) được coi là ông chủ lớn - người quản lý địa ngục, vì vậy “xã hội” ở đó giống như công đường và địa ngục, mà “nhà tù” ở đây làm theo mô hình “tam sản”, vì thế “niềm vui lớn nhất của người nông dân là hạt lúa, hạt gạo” là điều hề có, và đương nhiên cũng có bột mì, càng có bánh bao, đậu phụ, quán cơm, nhà ăn càng cần nhắc đến. Vì vậy, việc ăn cơm đối với ma quỷ ràng là cả “vấn đề”.

      [4] Theo Tả truyện.

      Cổ Thần Tử người thời Đường, trong Bác dị trí (trí lớn khác thường) có ghi chép lại tình cảnh của con ma đói xót xa nài nỉ với người: “Tôi là người Giang Hoài, vì cơ hàn mà rời bỏ quê hương làm ăn, tháng trước tôi đến huyện này, chết trong phòng trọ. Bây giờ, tôi vừa đói vừa lạnh, tôi rất muốn làm tôi tớ cho ông, cầu bữa ăn và xin thêm chiếc mũ chống rét, biết như vậy có được ?” Đây là hình ảnh con ma chết đường, chết chợ, do hoàn cảnh cơ hàn, sau khi chết có nghề nghiệp gì, chỉ mong muốn làm tôi tớ cho con người để kiếm miếng cơm nhét vào cái bụng đói cho qua ngày. ví dụ khác dẫn từ cuốn thứ tám, Tú châu tư đại đình trong Di kiên ất trí của Hồng Mại thời Nam Tống, lại có đoạn viết về hồn ma chết hai năm rồi, tuy rằng trong túi thiếu tiền nhưng có nơi để mua đồ ăn, chỉ có thể dựa vào việc ăn trộm cơm thừa canh cặn trong nhà bếp ở chốn dương gian hoặc chiếm hưởng chỗ người khác thờ cúng để lấp đầy cái bụng đói cho qua ngày mà thôi.

      Còn về những “minh dịch”, tức những người làm việc trong quân đội, phục dịch đất nước, ban đầu vốn dĩ là “ăn cơm quan”, cũng là bụng rỗng làm việc quan sai (chủ yếu là câu hồn). Kết cục cuối cùng “ có tiền thể nuôi thanh liêm”, những người này chỉ cần ăn bữa cơm khách nhà người là sẵn sàng tiết lộ thiên cơ hoặc thả người phạm tội ra chờ báo đáp. Trong Hội xương giải di lục từ thời nhà Đường có kể lại câu chuyện như sau: “Vào ngày tuyết rơi rất dày, Ngưu Sinh ngồi trong quán khách nơi thôn dã, vô tình mời Minh sứ vừa đói vừa rét ăn bốn, năm bát mì to, vị Minh sứ này vô cùng cảm động, tiết lộ những bí mật về cuộc đời của Ngưu Sinh, biết Ngưu Sinh ba lần gặp hoạn nạn, liền học cách của Gia Cát Lượng viết ra ba cách giải cứu vào ba bức thư, để Ngưu Sinh khi gặp chuyện mở thư ra để giải hạn.” Trong cuốn Soạn dị ký của Lý Mai có ghi câu chuyện như sau: “Có vị Minh sứ bốn mươi năm mới có được bữa ăn no, để cảm ơn về bữa cơm ấy, Minh sứ tha cho tên quan “Tham tiền háo sắc, gặp lợi quên nghĩa” mà truy cứu những tội gây ra.”

      Minh sứ thế các quan cấp cao ở dưới phủ chắc hẳn cũng phải ngoại lệ. Đới Phù thời nhà Đường, trong Quảng dị ký, có đoạn viết: “Quỷ thần thường đói khổ. Khi hóa vàng, có thể kèm chút rượu cơm, dùng hai bó cỏ dựng đứng lên, tôi có thể dựa vào cỏ mà ngồi, cũng có thể ăn được.” Trong cuốn sáu, Tế loại khinh cố ngục [5] trong tập Di kiên chí bổ của Hồng Mại có dẫn ra câu của vị quan lại dưới phủ: “Quỷ thần đều đói khổ, nếu con có thờ cúng được ăn no, còn phải chịu đói.” “Quỷ thần đều đói khổ”, cũng có nghĩa là minh thần và hồn ma đều được ăn no, đây dường như là tình trạng thường thấy trong thế giới u minh. Trong U minh báo ký của Đường Lâm, nhân sĩ sống vào khoảng đầu thời Đường có viết về chuyện vị quan nơi phủ kể khổ với người dân: “Quỷ thần cũng có thức ăn nhưng được ăn no, thường chịu cảnh đói khổ. Nếu có thực phẩm của con người được ăn no tới năm. Có rất nhiều hồn ma ăn trộm thức ăn của con người, nhưng tôi là bậc quan gia trọng lễ nghĩa, thể ăn trộm được.” Vị quan ở phủ này tuy được ăn no nhưng vì muốn mất mặt nên đồng ý ăn trộm, cố giữ gìn nhân cách chính trực, thanh liêm, chịu làm quan phỉ. Trong các câu chuyện ma quỷ thường đến nếu liêm sỉ ở nhân gian, khi chết được vinh dự làm quan dưới phủ, viết đến đây có lẽ làm cho con người sống nơi dương thế khỏi cúi mình cảm phục, ngưỡng mộ người làm quan thanh liêm. Nhưng tôi nghĩ, vì sao ông trời lại ban thưởng cho những con người đáng kính như thế? Hơn nữa, phải chăng những vị thánh quan này khi ở dương gian sống cuộc đời bần hàn, đói khổ cho nên khi chết cứ tiếp tục cam chịu cảnh đói khổ như thế mà thể làm hơn, thậm chí còn cố ý chịu đói để làm tấm gương sáng cho mọi người noi theo?!

      [5] Có nghĩa là: câu chuyện chi tiết về cuộc sống trong ngục.

      Ở chốn phủ, tự nhiên có được bữa ăn no phải chuyện dễ dàng. Chính hoàn cảnh ấy tôi luyện cho các hồn ma có được bản lĩnh thép để có thể nhẫn nại sống chung với cơn đói. Vào ngày lễ tết, con cháu có cúng tế, lúc đó mới được ăn no, ngày bình thường biết đến ăn là gì, tóm lại, ma quỷ thường xuyên chịu đói là điều dễ hiểu, vì vậy mới có chuyện “nhân đắc nhất bão, khả nại tam nhật, quỷ đắc nhất bão, khả nại nhất niên” [6] . ( bữa cơm mà có thể no được ba ngày, cái bụng giỏi chịu đựng ấy quả thực làm cho bách dân ở nhân thế cảm thấy hổ thẹn!) Hồn ma bất luận như thế nào cũng là tổ tiên của người còn sống, nếu tổ tiên ở dưới phủ luôn được ăn uống no đủ, vậy con cháu hiếu thuận thể cảm thấy trách nhiệm to lớn của mình. Vì vậy, cho dù họ được ăn ngày ba bữa nhưng đến mỗi dịp lễ tết đều phải cố gắng làm được điều đó đối với tổ tiên. Cái gọi là “quỷ đắc nhất bão, khả nại nhất niên” là giới hạn thấp nhất cho con cháu ở chốn dương gian.

      [6] Có nghĩa là: người ăn no ngày có thể nhịn được ba ngày, quỷ ăn no ngày có thể nhịn năm.

                 
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />


      Người đói tìm thức ăn, đó là điều thể trách mắng, ngay cả đối với những kẻ lười biếng cũng vậy, cũng phải để họ nhét đầy cái bụng trống rỗng họ mới nghe và làm theo những điều quy định, giáo huấn, khuyên răn. Đối với ma quỷ khi đói ngay cả việc khuyên can cũng còn ý nghĩa. có đất để canh tác, có việc để làm, có đồ để mua, đường trở về cõi , ngay cả tiếng “than thở” cũng nghe thấy, vậy ma quỷ dùng cách nào để lấy được thức ăn, giải quyết được vấn đề của cái dạ dày đây? Ngoài việc năm hoặc vài lần con cháu cúng lễ, cái hy vọng duy nhất của họ là đợi người đời bố thí mà thôi. Nếu chờ đợi như thế những cách khác đều là những cách lấy gì làm vẻ vang cho lắm. Nếu mưu trí, khỏe mạnh cướp, gạt, sức yếu chút ăn trộm, ăn cắp, bần cùng nhất, đáng thương nhất là ăn xin, van xin lòng thương hại của người khác… Nhưng cũng đừng lầm tưởng rằng ở khắp các ngả đường trong thế giới u minh đều chỉ có bộ mặt tối tăm, u ám với đầy rẫy những kẻ ăn xin và lừa gạt. Ở đó thực thế giới thái bình, nhà nhà đều trống rỗng, chẳng có đồ vật gì, cần phải lo lắng có khách mời mà đến, vì thế “dạ bất bế hộ” [7] là lẽ tự nhiên, nếu giả dụ có “bế hộ” [8] có thể có tâm bệnh rồi. Còn việc xin ăn của hồn ma chỉ có thể diễn ra ở chốn dương gian mà thôi, còn ở dưới phủ là điều thể. xã hội muốn có ăn xin, ngoài thế giới đại đồng ra chỉ có hai loại: là do pháp lệnh nghiêm cấm, gặp ai xin ăn bắt luôn người đó, hai là nhà nhà đều có gạo nấu cơm (thực tế làm gì có), cần phải ăn xin. Thế giới u minh chắc thuộc loại cuối cùng, vì thế, những con ma đói ở đó chỉ có thể lưu vong đến trần gian. Thế giới u minh có thể được coi là tấm gương mẫu mực về vấn đề trị an, ngay cả kẻ ăn xin cũng có, thành tích bất hủ này có thể bẩm báo lên Ngọc Hoàng Thượng đế. Nếu dựa theo định nghĩa của Khảo Đình phu tử, được ăn no là “thiên lý” (lẽ trời), phân biệt tỉ mỉ mùi vị là “nhân dục” [9] , ở đó chỉ có “thiên lý”, thậm chí để cho vị đạo đức gia hà khắc nhất làm giám khảo cũng chỉ có thể khẳng định được như vậy mà thôi.

      [7] Có nghĩa là: đêm cần đóng cửa.

      [8] Có nghĩa là: đóng cửa.

      [9] Có nghĩa là: ham muốn của con người.

      Con cháu thờ cúng tính vào việc cầu xin thức ăn, có thể gọi là “hâm hưởng” [10] , là cần mũ áo đàng hoàng đến nhận báo hiếu, kính trọng từ con cháu mình, ngoài ra nó còn có ý nghĩa rất quan trọng, điều này bàn luận riêng ở phần sau.

      [10] Tức là được hưởng phúc.

      Nhắc đến việc người ở nhân gian bố thí cho ma quỷ, lễ tế Lệ Đàn được nhắc tới đầu tiên, bởi đó đều do các bậc quan lại làm, được ghi trong các cuốn sách cổ. Những chuyện xoay quanh lễ tế Lệ Đàn ra dài dòng, ở đây chỉ nhắc đến những việc có liên quan đến vấn đề ăn uống của ma quỷ mà thôi. Cái gọi là Lệ Đàn giống như cơ cấu thu nhận ở chốn nhân gian, chỉ có điều cái được thu nhận ở đây là những linh hồn người khuất, những hồn “chết do binh đao, thủy hỏa, chết do bị cướp giật, hoặc bị kẻ gian lấy hết tài sản, ép vào con đường cùng phải tự tìm đến cái chết hay trường hợp bị người khác cướp mất thê thiếp của mình nên uất ức đến chết” mà có ai hương khói… Những hồn ma này khi sống ở trần gian phần lớn là tầng lớp bách dân thấp cổ bé họng, “chết có chỗ dựa, linh hồn thể tan ra, kết hợp với linh, hoặc là dựa vào cây cỏ, hoặc là trở thành quái”, nếu tiến hành thu nhận chỉ làm hại cho xã hội mà thôi. Vì thế, ở bất cứ dân tộc nào cũng đều có Lệ Đàn. Những lễ tế Lệ Đàn chỉ để bố thí cho hồn, u hồn, còn đối với những oan hồn chết uổng vì bị nhốt ở trong thành, giống như Đậu Nga chết nơi tù ngục, được hưởng những phúc lợi xã hội này.

      Dưới thời nhà Minh, lễ tế Lệ Đàn mỗi năm tổ chức ba lần, vào các ngày: tết Thanh minh, rằm tháng Bảy và ngày mồng tháng Mười. Lễ tế Thái Lệ ở kinh thành phải đặt bài vị Hoàng thần lên đàn, đồ cúng tế mà quỷ đặt ở dưới chân đàn bao gồm ba con dê, ba con lợn và ba đấu gạo lớn. Những đồ này cũng chỉ là hình thức. Điều quan trọng là phải làm cho khí ồn ào, náo nhiệt để cho muôn dân trăm họ hiểu được tấm lòng chân chính của thiên tử truyền đến cửu tuyền, như thế là đủ rồi.

      thực tế, Lệ Đàn chỉ là nơi tụ họp ăn uống năm ba lần của những hồn ma có người thờ cúng, bình thường những vong hồn, hồn có chốn nương thân, có nhà để ở cũng thường đến nơi đây để tìm chỗ nương mình, mong được hưởng phúc. Bởi lẽ chính những nơi này bình thường cũng có nhiều người hành thiện đến đây thắp nén hương, mang đồ đến cúng, và như thế, năm ngoài ba bữa cơm những hồn thi thoảng cũng có đồ để ăn vặt.

      Với Lệ Đàn, vào tết Trung thu, việc bố thí thức ăn là việc làm của quan phủ. Trong dân gian có phong tục bố thí thức ăn vào tết Trung thu riêng. Ngày Rằm tháng Bảy, trong sách cổ còn gọi là “Quỷ tiết” [11] , ở Đạo giáo gọi là tết Trung nguyên, ở Phật giáo gọi là tết Vu Lan. Thực ra đây chính là những ngày lễ tết điển hình ở Trung Quốc, như Đạo giáo chính là “tháng Giêng vọng đến Thượng nguyên, tháng Bảy vọng đến Trung nguyên, tháng Mười vọng đến Hạ nguyên”. Nhưng sau khi Phật giáo truyền vào, có chuyện Mục Liên cứu mẹ, hợp nhất với đạo hiếu của Trung Quốc. Đến đời Đường lại có chuyện về “tết Vu Lan”, và cũng định vào ngày Rằm tháng Bảy, ngày này cũng là ngày các tăng lữ kết thúc ba tháng “an cư”, phải bắt đầu ra ngoài hoạt động.

      [11] Tức là Tết của ma.

      Vào những ngày này, theo phong tục thờ cúng tổ tiên của người Trung Quốc, mà như Phật giáo là việc Mục Liên cứu mẹ, chết làm ma đói trong ngục, để tưởng nhớ công đức này, nên người ta cúng tế để cho ma đói có bữa ăn no. kết hợp hai cái Tết giữa trong và ngoài cũng chính là lý tưởng ban đầu bàn tới ở , cũng có nghĩa là “Phật dùng Trung nguyên của Đạo giáo, là giới tăng lữ phân tranh lợi lộc ở Trung nguyên nên mới thế” [12] , và kết quả xuất việc ngoài ý muốn, tổ tiên của bổn gia và những con ma đói ở bên ngoài cùng tụ tập ở phòng. Vu Thận Hành, người thời Minh trong Cốc sơn bút trần, tập mười sáu viết lời trách móc hoàng đế đời Đường về việc thờ cúng tổ tiên vào tết Trung nguyên: “Thờ thần thánh lại thực cùng ngày với ma quỷ đói, như vậy chẳng phải là làm ô nhục tổ tiên của mình sao?” Những lời lẽ trách móc như vậy lại được thốt lên từ chính miệng vị đạo học gia vốn am hiểu đời, điều đó lại càng làm cho người khác cảm thấy có chút thất vọng. Quốc nhân vốn coi trọng tấm lòng nhân hậu, giàu có nhưng được bất nhân, tổ tiên của gia chủ tụ họp ăn uống, chẳng lẽ lại thể bố thí chút đồ ăn cho những hồn vô gia cư hay sao? Mà năm cũng chỉ có lần, lần bình đẳng, hài hòa chút lẽ nào lại khó khăn đến vậy sao? Người Tiêu Sơn dưới triều đại nhà Minh, vào đêm Ba mươi hằng năm thường mặc trang phục chỉnh tề, đứng ngoài cổng nhà gọi lớn: “Phàm là những hồn vô chủ, đêm nay có nơi nào để , mời đến nhà họ Kỳ chúng tôi đón năm mới.” Ở trong phòng ăn bày biện thịnh soạn các vật thờ cúng để các vong hồn hưởng thụ, đến sáng sớm ngày mồng lại tiễn họ ra ngoài. (Việc làm có tâm ý như vậy khiến người đời sau vô cùng cảm động, nhưng nếu như ở nhân gian ai cũng làm việc này, gọi tất cả những người lang thang, cơ nhỡ ở đầu đường, xó chợ đến nhà mở tiệc vào buổi đêm giao thừa chắc hẳn chúng ta càng khâm phục hơn.) Trong Ngũ đóa trở của Tạ Triệu Chế, tập hai có đến phong tục rất hay của người Mãn. Phong tục ấy mặt thể được “tôn kính tổ tiên, lúc nào cũng phải cẩn thận, chuẩn bị đồ cúng cho tổ tiên phải đầy đủ, được thiếu bất cứ thứ gì”, mặt khác lại thể được ý nghĩa lớn lao “như ánh trăng soi sáng đêm dài, niềm vui lớn nhà nhà cùng chung hưởng”. Vì vậy, nếu ai đó có bản lĩnh gặp ma, thường nhìn thấy hình ảnh những vong hồn ma quỷ khi đói vội vã lao vào mà tranh giành từng chiếc bánh bao cách khốc liệt.

      [12] Theo Trung nguyên bố thí tập thứ mười ba, phần Quý tị lưu cảo.

      Ngoài tết Trung nguyên ra, những gia đình hoặc những pháp sư tổ chức buổi làm “thủy lục” cũng là dịp để những hồn ma có cơ hội lần được ăn no bụng. Nếu biết tin tức nhà nào làm thủy lục, chúng liền chạy báo tin cho nhau, kêu gọi đồng loại, kết bè kết phái vội vàng kéo nhau ăn chay.

      Đó là vào những dịp lễ tết hoặc những cơ hội hiếm hoi có được bữa ăn no, còn với những ngày bình thường, phần lớn họ đều ăn xin cầu thực. Ngay cả hùng hào kiệt, những lúc đói khát cùng đường, đói đến độ như có ngọn lửa thiêu đốt trong cơ thể, thể chịu đựng được nữa, lúc đó bỏ hết sĩ diện để cầu xin thức ăn của người khác cũng chẳng phải việc gì mất mặt cả. Việc ăn xin trong thế giới của ma quỷ nên được nhìn nhận cách khách quan hơn. Vào thời nhà Nguyên, thể chế chính trị phân biệt xã hội con người thành những tầng lớp khác nhau, theo đó ăn xin là tầng lớp đứng sau tầng lớ Nho gia, có thể tính làm hàng xóm với nhau được. sắp đặt này thực ra có gì là quá sai lệch. Bởi lẽ có nhà Nho mang phong thái của kẻ ăn mày, lại có kẻ ăn mày toát lên cốt cách của bậc Nho gia, vì thế, những tiên phu tiểu Nho cũng cần phải vì mình hơn kẻ ăn mày tấm bằng cấp mà đùng đùng bày tỏ bất công. [13]

      [13] Theo Duyệt vi thảo đường bút ký.

      Kì Nhân Lục Nhiên viết: “Có người hổ thẹn mà rằng: “Ông đừng sợ, tôi hại ông đâu, bản thân tôi giờ là ma rồi. Lúc sinh thời là người dân tộc Thổ, đuổi được những con ma đói đến tranh tiền gạo, tự cảm thấy rất xấu hổ, cầu xin ông cho tôi bữa cơm có được ?”

      Du Việt người đời Thanh, trong tập Hữu đài tiên quản bút ký [14] , cuốn chín, viết có thể báo ân bằng bữa cơm, cũng là hiền nhân của người ăn xin rồi. [15]

      [14] Nghĩa là: Ký viết bên quán Đài tiên.

      [15] Xã Nam, huyện Quy An có núi Trường Siêu, mạo lâm tu trúc, cảnh rất yên ắng và thanh tĩnh. Núi có mây che phủ bảo vệ am. Tương truyền Minh Lăng Trung Giới Công (Lăng Văn Cừ) , lúc đầu ông học ở trong am, thi thoảng vào lúc trăng sáng dạo dưới chân núi, bỗng nhiên có cụ già lên phía trước vái chào, miệng ngập ngừng như có lời muốn . Công hỏi, cụ già đáp: “Tôi là người trong mộ cổ, con cháu thờ ơ, có ai thờ cúng. Nay tôi đến xin ông bữa cơm có được ?” Công tin chuyện này, cười đáp: “Tính tôi rất thích được yên tĩnh, nên mới đến đây đèn sách. Nhưng bốn phía đều có tiếng ếch nhái kêu, từ chập tối cho tới sáng ngày hôm sau, tôi thấy rất khó chịu và khổ sở về điều này, nếu ông giúp tôi làm đám ếch nhái kia còn kêu nữa, tôi báo đáp ông.” Cụ già đáp: “Đồng ý!” Rồi tức biến mất. Ngày hôm sau, khi màn đêm buông xuống, quả nhiên còn nghe thấy tiếng ếch nhái kêu nữa. Công bèn chuẩn bị cơm rượu đến tế ở gò hoang. Từ đó, bên cạnh am còn tiếng ếch, và cho đến nay cũng vậy.

      Còn số con ma đói, vì cầu thực nên dùng số trò ma mãnh để lừa gạt người khác, chẳng qua cũng vì có những điều khó . Ví như Đường Lâm trong Minh báo ký có viết về con ma vô chủ giả làm đứa em vừa chết của nhà người ta, sau đó bị chủ nhà vạch trần, đánh đuổi ra ngoài, cuối cùng câu “đói nên đến xin bữa ăn mà thôi” làm cho người nghe cảm thấy chua xót. Cuốn thứ hai, phần bốn trong Duyệt vi thảo đường bút ký có ghi, có con ma giả mạo làm hồn ma của danh nhân Tề Ung đến tìm đồ cúng tế, nhưng con ma này chỉ xem qua bản ca của Triệu Ngũ Nương tỳ bà ký, đem câu chuyện đó thành Những chuyện trong triều nhà Hán, vì thế mà bị lộ. Nhưng giả mạo làm Tề Trung Lang mà giả làm Cao Vệ Nội cũng được coi là có tính phong nhã. Mà biết đỏ mặt hổ thẹn, những ở thế giới ma quỷ, ngay cả ở nhân gian cũng có thể là điều dễ dàng gì. Tuy Kỳ Vân có thể chỉ là mượn câu chuyện về ma để châm biếm tình thế, nhưng suy đoán theo tình thế, trong thế giới của ma quỷ cũng ít trường hợp như thế này.

      Nhưng có lúc vì muốn lừa gạt để được bữa ăn, hại cho nhà người khác phen hú vía cũng đáng trách. Di kiên đinh chí, cuốn mười lăm, Đảm tiểu ca có đoạn viết: “Có con ma giả mạo làm con trai của lão thái thái, làm cho lão nhân gia tưởng rằng con mình chết rồi, liền mời hòa thượng đến tụng kinh siêu độ. Con ma đó vì thế được ăn bữa cỗ rất thịnh soạn. Nhưng vài tháng sau, người con trai làm ăn ở xa trở về, người nhà tưởng đó là ma liền dùng trượng đánh đuổi, suýt nữa mất mạng.”

      Trong thế giới ma quỷ vẫn còn tồn tại những pha lừa lọc lớn hơn nhiều, như chuyện “niệm ương”, “cục trá” trong tác phẩm Liêu trai. Chỉ cần dùng đống tiền giấy và cuộc tế ma bài quỷ là có thể xua đuổi bọn chúng nơi khác. Duyệt vi thảo đường bút ký, cuốn mười ba có ghi chép lại câu chuyện về Liêu Thái Học, vì thương tiếc người vợ khuất mà buồn rầu năng gì. Có nhiều con ma biến thành vong hồn của người vợ, buộc lại, úp mặt xuống đất chịu trượng, làm cho Liêu Thái Học cho nhiều ma đói ăn, bố thí quá độ. Nhưng những con ma này ngày càng quá đáng, chỉ có , hai lần lừa bịp, mà dạ dày cũng ngày càng to hơn, còn đòi làm bảy đêm thủy lục đạo trường mới được, kết quả là bị bại lộ.

      Dựa vào việc ăn trộm, ăn cắp để được ăn no, trong thế giới ma quỷ, hạng ma ấy cũng thuộc vào loại “lưu manh” có tiếng. Vốn là ăn trộm, nhưng những hồn ma ấy cũng là những trường hợp vô cùng đáng thương. Lưu Phủ, thời Bắc Tống trong Thanh tỏa cao nghị, cuốn thứ nhất, Bành lang trung ký [16] ghi lại: “Có con ma vô chủ vào bếp ăn trộm thức ăn, bị Táo Quân bắt được, đánh cho trận tơi bời, chủ nhà thấy chuyện liền ra can: “Đói bụng, bất quá phải ăn trộm, hà tất phải trách phạt nặng nề như thế!”

      [16] Nghĩa là: viết về người họ Bành.

      Theo cách nhìn của người nhân từ, do đói quá mà phải ăn trộm thức ăn đáng bị trách phạt nặng như vậy. Thế mà trong dân gian ít người mũ áo đàng hoàng, ngồi ăn bám, hoặc giống như những con ma ăn trộm thức ăn, lại được xử lý nhàng. Lê Cung Chấn người đời Thanh, trong Bắc đông viên bút lục tam biên, cuốn thứ tư, Vi sư ác báo [17] , truyền rằng có tên ma ăn trộm thức ăn về việc báo ứng vô cùng có lý lẽ: “Có người tên Sử, là đạo sĩ hành thiện có khả năng nhìn thấy ma quỷ. hôm, vị đạo sĩ này đến thăm nhà họ Dương, cười rằng: “Ở dưới bếp nhà ông có con ma ăn vụng thức ăn, nay đầu thai làm người, biết Dương gia có làm việc gì đáng trách ?” Gần đây nhà họ Dương mới sinh được đứa con trai, liền bế ra ngoài, đạo sĩ xem kỹ rồi phán: “ biết ông từng làm việc gì tạo nên nghiệp chướng mà nay con ma ăn trộm thức ăn đó lại đầu thai làm con trai ông?” Họ Dương bèn : “Tôi tự tin là cả đời này chưa từng làm việc gì phạm lỗi lớn, chỉ là khi tôi chưa đạt công danh từng dạy học ở trường tư thục, khi giảng dạy có chút làm tròn trách nhiệm.” Đạo sĩ vỗ vào vai người họ Dương mà : “Ông vì chuyện cơm áo của mình mà làm mất tuổi thơ hồn nhiên của học trò, vậy những chuyện đó chẳng phải lỗi lớn hay sao?!” Sau đó, con trai của nhà họ Dương lớn lên, ngày ngày tửu sắc, ruộng điền bán hết để đổi lấy rượu, chưa hết đinh kết thúc.

      [17] Nghĩa là: vì thầy báo ác.

      Làm nghề giáo mà làm qua quýt, giả mạo để kiếm bữa ăn, sau này các cán bộ lớn từ quan địa phương đến trung ương cũng làm việc qua quýt, giả tạo để thăng chức, hành động này còn nguy hại hơn cả việc ăn trộm thức ăn của ma quỷ. Vì có những rường cột quốc gia như vậy nên các vị sử trị của quốc gia cũng thế, chỉ cần nghĩ ta có thể biết là được rồi. Trong Viết tiếp tử bất ngữ của Viên Mai, cuốn ba, Oa thượng hữu thủ phạn đồng tử [18] có kể lại câu chuyện: “Trong nhà có tiểu thần chuyên phòng tránh ma đói đến trộm thức ăn. Xem ra việc phòng tránh tiểu quỷ đến ăn trộm có vẻ rất dễ dàng, còn đối với những đại nhân tiên sinh ngồi ăn bám chỉ còn cách cầu báo ứng, gieo nhân nào hái quả đó thôi. (Trong Tam cương thức lược của Đổng Hàm trừng phạt đối với những kiểu người như thế này là để bản thân họ làm chó ba năm.)”

      [18] Nghĩa là: nồi có đồng tử giữ nồi cơm.

      Có thể bổ sung thêm điểm sau cùng, trong thế giới hồn ma cũng có việc dựa vào nhân gian để làm việc kiếm ăn, như ở nhắc tới người trong Bác dị chí của Cốc Thần Tử, nhưng cái này lại tính vào loại khác, mà việc ma đến nhân gian làm việc sau này nếu có cơ hội hơn.

                 
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />


      Hồn ma ở phủ nhưng lại ăn thức ăn của chốn dương gian, về điểm này thể khiến người ta suy nghĩ. Làm thế nào để hai vật thực, kẻ người dương lại có thể dung hợp được với nhau. Ban đầu có ý kiến cho rằng, chuyện ăn uống của con người ở chốn dương gian và hồn ma nơi phủ gần giống nhau. Nếu như người có thể chứa đầy thức ăn trong dạ dày hồn ma cũng có khả năng ăn đến cạn bình, sạch bát y như vậy. Phổ Can Bảo trong Sưu thần ký, cuốn mười sáu về chuyện ma uống rượu, có thể uống đến độ còn thừa lại giọt nào. Trong U minh lục [19] của Lưu Tống - Lưu Ý Khánh có viết: “Ma ăn cơm và uống rượu, cả hai thứ đựng đầy hai bình đều sạch trơn.” Điều này lần nữa cũng được khẳng định lại trong Thuật dị ký: “Ma ăn uống khác gì người sống cả.” Sau này, mặc dù rất hiếm khi gặp cách chân thực như vậy nhưng cũng phải có. Trong tập Di kiên chi canh của Hồng Mại thời Nam Tống, cuốn thứ nhất, Hoàng giải nguyên điền bộc có đoạn kể chuyện Trương mỗ, người đầy tớ làm ruộng bệnh mà chết. Sau khi chết ba ngày vẫn chưa được chôn cất, ông ta đột nhiên ngồi dậy, cất tiếng chuyện trò. ra ông ta vừa vào tới phủ bị phái làm quan sai. Biết Trương mỗ phải gọi hồn Hoàng Giải Nguyên, vợ ông liền chuẩn bị đầy đủ thức ăn và đôi dép cỏ, để tiện cho việc đường. Việc chuẩn bị diễn ra vội vàng trong thầm lặng lẽ, người vợ dám cất tiếng hỏi han lấy nửa lời. Mặc dù thân thể của Trương mỗ vẫn nằm yên giường như lúc lâm chung, hề nhúc nhích, thế nhưng bát cơm để gần đó hết sạch và đôi dép cỏ cũng cánh mà bay. Trong Canh kỷ biên, cuốn chín, Hoàng thôn tượng nhân có ghi lại hình ảnh hồn ma đứng đối diện với người sống, ăn hết con gà quay, ăn xong chỉ còn lại đống xương gà vứt chỏng chơ nền đất. Chuyện kể về “Diêm La yến” [20] trong Liêu trai chí dị cũng dẫn ra tình tiết kỳ thú: “Diêm Vương và các tùy tùng cùng nhau kéo đến dùng tiệc mà Thiệu Sinh chuẩn bị cho người mẹ khuất của mình. Bữa tiệc kết thúc, họ cũng ăn uống no nê, sạch , còn sót lại gì cả.”

      [19] Nghĩa là: ghi chép chuyện phủ và dương gian.

      [20] Nghĩa là: tiệc đãi thần Diêm Vương.

      Nhưng cách lý giải như thế này quả thực quá xa vời với thực tế. Bởi lẽ, bình thường khi người ta bày đồ thờ cúng, thiết đãi quỷ thần, sau khi cúng tế xong, mọi thứ vẫn còn nguyên hề bị quỷ thần ăn mất. Lúc ấy, mọi người vẫn có thể ăn uống bình thường, những mùi vị thức ăn thay đổi, mà còn có quan niệm cho rằng, những đồ cúng rồi đem phúc đến cho người ăn nó. Chính vì vậy, ở đây ta lại bắt gặp cách tương phản, trái ngược hoàn toàn với cách lý giải đây, hơn nữa cũng phù hợp với tình hình thực tế, đó là quan niệm cho rằng hồn ma chưa bao giờ ăn thức ăn của người trần. Nếu như vậy chẳng khác nào khẳng định quỷ thần hề đụng đến những thức đồ bày biện, cúng tế của nhân gian, và như thế đồng nghĩa với việc người đời thành tâm thành ý thờ cúng thần quỷ giờ biến thành hư ảo? Nếu theo cách hiểu như vậy những có bất kính đối với quỷ thần mà ngay cả tồn tại của quỷ thần thực tế cũng bị hoài nghi và trở nên bất tín. thực là tiệc rượu cúng tế bày biện ra vẫn còn nguyên, quỷ thần hề nhấm nháp hay làm mất mát thứ gì. Đồ thờ cúng vẫn còn nguyên nhưng vẫn thể thờ cúng, vậy làm thế nào để có thể dung hòa hai mặt đối lập này đây? Cổ nhân đưa ra hai cách lý giải. Cách thứ nhất, họ cho rằng việc quỷ thần ăn uống no say đồ tế lễ là có , nhưng sau khi ăn xong rồi khỏi mọi thứ lại trở về nguyên vẹn như cũ. Cách giải thích này được Phổ Nhân tiên sinh tới trong tác phẩm Chân di lục của mình, ông viết: “Hạ Văn Quy chết được năm trở về thăm nhà, cùng với ông còn có khoảng hơn mười người theo hầu. Hạ tự mình làm quan trấn giữ tại Bắc Hải. Người nhà chuẩn bị tiệc rượu thết đãi linh đình, ràng nhìn thấy ma ăn hết mọi thứ bày biện mâm cúng, nhưng lúc ma quỷ rồi đồ ăn thức uống lại đầy nguyên như cũ.”

      cách lý giải khác, người xưa quan niệm phải là hồn ma ăn đồ cúng tế, chỉ là họ lựa dùng những cái “tinh hoa” nhất mà thôi, những thứ còn lại người trần mắt thịt nhìn thấy vẫn còn nguyên như cũ, nhưng thực tế đó chỉ là cặn bã mà thôi. Đoàn Văn Thành, nhân sĩ thời nhà Đường, trong Tây dương tạp trở, cuốn có bàn về việc ma uống rượu nhưng chỉ uống hơi rượu, tuy rượu vẫn còn nguyên nhưng mùi vị nhạt chẳng khác gì nước lã. Cách này được người đời sau tán thành, hưởng ứng. Trong Việt vi thảo đường bút ký, cuốn mười có đoạn viết về thư sinh bạo dạn, vào đêm trăng sáng đem rượu đến mộ ngồi uống, và còn gọi ma đến uống cùng. Tức khắc có khoảng mười người theo lên, thư sinh dùng hũ đựng rượu lớn, rót xuống đất để ma có thể ngửi được mùi rượu. Hiểu theo cách hiểu này hình ảnh ma quỷ “dùng mũi hút rượu vào bên trong” như trong Lữ viên tùng thoại của Tiền Vĩnh, cuốn mười lăm, Quỷ hí [21] miêu tả là hoàn toàn sai lệch. Có lẽ người viết đứng từ cao nhìn xuống, lại nhìn ràng nên mới hiểu lầm rằng ma dùng mũi để uống rượu!

      [21] Nghĩa là: kịch ma.

      Về cách ăn của ma cũng tương tự như vậy, thức ăn còn mà tinh hoa của nó mất. Viên Mai trong tập Tử bất ngữ, cuốn hai mươi hai có phần viết về Ma cướp bánh bao rất thú vị:

      núi Đồng Đình có rất nhiều ma đói. Có gia đình hấp khay bánh bao, bánh bao chín họ mở nắp nồi ra, nhìn thấy chiếc bánh bao tự động bay lên, làm cho chủ nhà thất thần, cái bánh bao to như cái bát mà trong giây lát co lại xíu, bánh còn nhưng mùi vị giống như bột mì sống. Ban đầu họ thể giải thích được tượng này, sau có cụ già rằng: “Việc này là do con ma đói cướp , nếu lúc vừa mở nắp nồi ra mà dùng bút màu đỏ chấm vào, ma cướp được.” như vậy nhưng cái nào đánh dấu được đánh dấu, cái nào bị co lại vẫn co, người đánh dấu làm sao có thể thắng được đám ma đói kéo nhau hàng đàn đến cướp bóc!

      Cũng trong tập Tử bất ngữ, cuốn hai mươi hai, Thành thần bất tất hiền nhân [22] có đoạn viết về việc ăn uống của ma như sau: “Tất cả các việc liên quan đến ăn uống của ma là chỉ ngửi mà nuốt, những thức ăn nóng bị ngửi cho đến khi nguội lạnh.” Tinh hoa và hơi nóng cùng lúc mất , ma chỉ ăn những chất dinh dưỡng và vi lượng của thức ăn, cách ăn này rất đại mà lại vô cùng khoa học, miễn được nhiều chuyện phiền toái khi tiêu hóa thức ăn.

      [22] Nghĩa là: trở thành thần thánh nhất thiết phải là người hiền tài.

                 
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />


      Chăm lo hương khói, thờ cúng tổ tiên là những hành động thể lòng hiếu thuận của con cháu ở chốn nhân gian. Khi chôn cất quan tài, ngay cả hoàng đế thuở xưa dù có được cúng bái hàng nghìn vật ngon của lạ dùng mãi cũng có ngày hết [23] . Vì vậy, con cháu cần nhớ vào những dịp giỗ, tết phải cúng lễ tổ tiên cho chu toàn, cẩn thận. Ngoài cúng tiệc rượu còn phải hóa quần áo, tiền vàng làm từ giấy… tóm lại, cháu con phải làm sao để ông bà, cha mẹ mình ở chốn tà lạnh lẽo phải lo lắng đến chuyện ăn mặc, có như vậy mới làm tròn đạo hiếu với người khuất. Hình thức thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình đến nay có nhiều thay đổi. Mặc dù có điểm mâu thuẫn là trong đạo Phật có tục thờ cúng tổ tiên, nhưng trong lễ giáo bao đời của người Trung Hoa, phong tục ấy vẫn hề bị mai . Vào thời cổ đại, ngoài việc tế Xuân Thu ra, trong các ngày lễ, tết khác, người người nhà nhà đều quên thờ cúng tổ tiên. Mặc dù đến xã hội đại, hình thức thờ cúng tại gia còn giữ được nguyên gốc những tập tục dân gian tự thuở xa xưa, nhưng tinh thần của những ngày tết Thanh minh tảo mộ, tết Đông nguyệt “gửi áo ấm mùa đông” vẫn còn lưu giữ được trong dân gian. Tuy nhiên, để những phong tục này được lưu truyền mãi mãi, rất cần có tư tưởng nhất quán làm tiền đề, đó là niềm tin vô hình vào tồn tại vĩnh cửu của các vong hồn tiền nhân ở chốn u minh, địa phủ.

      [23] Căn cứ theo Cựu Đường thư, hoàng đế lúc nhập quan phải cúng ở trong cung “nghìn vị thực”, thủy lục cùng các món khác lên đến hơn nghìn loại, màu sắc phong phú, bắt mắt rồi để vào phần mộ, kèm theo là hoa quả và thịt ngựa, trâu, lừa, bê, hoẵng, hươu v.v…, cùng với hơn ba mươi loại rượu.

      Chính điều này làm nảy sinh mâu thuẫn mới trong văn hóa vong hồn của người Trung Quốc. Bởi lẽ, theo quan niệm của Phật giáo, và trong nước cũng có bộ phận người dân tin tưởng, tiếp thu qu định của lục đạo luân hồi, nghĩa là những hồn ma mà hậu nhân vẫn chăm lo thờ cúng vốn được đầu thai đến thế giới dương gian rồi. Và nếu như thời gian mà có trùng hợp việc đầu thai chuyển kiếp ấy thậm chí còn nhanh hơn cả việc thay đổi chuyến tàu, ở đây chưa qua “đầu thất”, bên kia qua “tam triều” rồi. Sau khi chuyển thế, người có phẩm tiết, đức hạnh được đầu thai thành người có quyền cao, chức trọng, còn kẻ thấp hèn, xấu xa phải làm chó, lợn cả đời để phục dịch con người. Vậy , trong thế giới phủ còn có vong hồn nào mà mấy mươi đến mấy trăm năm chịu đói khổ giữa chốn u minh lạnh lẽo ấy nữa! Nhưng văn hóa hồn ma ở Trung Quốc lại rất quan tâm việc thờ cúng tổ tiên, vậy lý luận Phật giáo của người phương Tây du nhập vào cũng cần phải tuân theo các đặc trưng của Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là, khi thờ cúng tổ tiên, chúng ta đều lấy tiền đề là tổ tiên ở thế giới bên kia bị đói, bị rét làm cơ sở để nương theo. Việc cúng tế và câu chuyện luân hồi chuyển kiếp là hai việc làm tưởng chẳng có gì tương tác với nhau, nhưng trong những trường hợp đặc biệt điều đó vẫn có thể xảy ra. Câu chuyện dưới đây trong Ngụ phổ tạp chí của Vương kỳ, cuốn bảy, Lâm Nhất Ngạc trú mộng [24] minh chứng điều đó:

      [24] Nghĩa là: Lâm Nhất Ngạc nằm mơ giữa ban ngày.

      Lâm Nhất Ngạc làm quan ở Giang Tây, vào ngày lễ Trung nguyên chợt nằm mộng giữa ban ngày. Trong giấc mộng, ông thấy mình may mắn được hưởng đồ thờ cúng của Nhất phu nhân. Kinh ngạc hơn, khi tỉnh dậy liền thấy những đồ vật ấy ở ngay cạnh mình. Ngơ ngác nhìn quanh phòng ốc, đường xá vẫn y nguyên như trước. Ông theo hướng được chỉ sẵn trong giấc mộng, quả nhiên gặp cụ bà khoảng hơn bảy mươi tuổi thắp nhang thờ cúng người chồng quá cố của mình, tro hóa vàng vẫn còn chưa nguội. Hỏi cụ về ngày giờ, tháng, năm mà chồng cụ mất, lại trùng khớp với ngày sinh mà trong mộng Lâm Nhất Ngạc vừa mơ thấy. ta cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Sau khi biết chuyện về người chồng quá cố của cụ già ấy. Lâm Nhất Ngạc cũng thường xuyên mang chút đồ đến thăm nuôi cụ.

      Người sống giữa chốn dương gian mà lại được hưởng đồ cúng tế của người thân ở kiếp trước, câu chuyện này quả thực có chút gì đó vô cùng kỳ quái, nhưng sau khi đọc xong lại khiến người ta có cảm giác thương cảm vô cùng. Tình cảm của đôi vợ chồng già mấy chục năm mà nay gặp mặt lại hề quen biết, lão phu nhân vẫn ngày đêm tưởng nhớ người chồng quá cố của mình. Trong khi đó, linh hồn người chồng quá cố sau khi chuyển thế lại lưu lại chút ký ức nào từ kiếp trước. Cái gọi là “mang chút đồ đến thăm nuôi” đó chỉ là tình thương của người qua đường dành cho bà lão già yếu mà thôi. Tuy nhiên, chuyện này cũng thể trách người ta vô tình, “song dài trăm thước, da dê năm bộ, bây giờ là người phú quý rồi quên những việc làm trước đó”. Chỉ trong thoáng chốc làm cho người khác giật mình hiểu ra ý nghĩa sâu sắc của câu “chỉ trong nháy mắt mà xa cách nghìn trùng”. Những câu chuyện kiểu như thế này lần đầu tiên xuất trong các tác phẩm văn học thời Nam Tống, Thiệu Bác trong Thiệu thị vấn kiến hậu lục, cuốn ba mươi, Lục xán, hay thời nhà Minh trong Canh tị biên, cuốn bốn, Như Công hay Mẫn Văn Thành trong Thiên thái lô hy triết… đều lấy việc thờ cúng tổ tiên trong các gia đình để chứng minh tồn tại của luân hồi. Nhưng chính người viết cũng nghĩ đến tác dụng ngược lại, họ thờ cúng tổ tiên trong nhà nhưng cùng lúc họ dùng luân hồi để chứng minh vô ích của việc thờ cúng đó. Lô Kỳ Dã viết bài tùy bút, trong đó có nhắc đến chuyện ngày lễ tết, vì đồ ăn quá nhiều nên dễ làm cho con người cảm thấy ngán, liền đùa rằng: “Chắc chắn ăn phải đồ tế phẩm của con cháu ở kiếp trước rồi.” Phải chăng việc thờ cúng trong gia đình là điều vô ích, vậy cần gì phải duy trì tục lệ lâu đời ấy nữa? Nhưng nếu làm như vậy luân lý vững chắc của người Trung Quốc tự ngàn xưa chẳng phải sụp đổ hay sao? Cho nên những câu chuyện như vậy thường gây ra hoài nghi, hoang mang trong suy nghĩ, tư tưởng của nhân gian và vì thế cần liệt vào những chuyện “ ” khi bàn tới.

      Hơn nữa, điều làm cho người thời nay cảm thấy vô cùng kỳ quái đó là, ràng chúng ta nghĩ tổ tiên ở thế giới phủ vô cùng đói khổ, vậy tại sao con cháu ở chốn trần gian lại thể “nhân cách hóa” thế giới của người chết chút, thổi vào đó chút khí ấm áp, tươi vui? Họ thậm chí phải tổn hao công sức mà chỉ cần dùng mồm miệng, dùng tiếng của mình là có thể tạo ra thiên đường rộng lớn, tiện nghi, có đầy đủ “điện, nước, điện thoại, tầng , tầng dưới…” cho tổ tiên của mình, và thêm nữa là thức ăn, thức uống dư thừa, chưa hết, còn phải lo toan miếng ăn, cái mặc hằng ngày. Vậy tại sao họ cứ phải để tổ tiên mình trong tình trạng bụng đói cồn cào, miệng mồm khô khốc, mắt nhắm nghiền, rệu rã chờ nuôi dưỡng mà vài tháng mới có lần, đồng thời cũng gây nên ít rắc rối cho bản thân mình?

      Ý tưởng xây dựng thế giới phủ thông thẳng đến thiên đường hoặc thế giới thần tiên cũng từng có người nghĩ ra. Trong Dậu dương tạp trở của Đoàn Thành Thức dẫn ra câu chuyện kể việc Triệu Bùi đến phủ. Triệu Bùi bị bệnh mà chết, được Châu y Nhân nhận về tào địa phủ, dẫn thăm thú vòng. Cảnh tượng vô cùng sầu thảm ra trước mắt, tấc đất nào được coi là có hạnh phúc. Sau đó, Châu Y Nhân hỏi Triệu tiên sinh: “Ông có muốn thêm chút nữa để đến “thượng thanh” ?” Và thế là đến “thượng thanh” tiên cảnh, cảnh vật đẹp đến mê hồn. Ở địa phủ mà lại có cổng sau thông lên tiên giới, ngay cả vị hòa thượng nào đó có công tạo ra phủ có lẽ cũng thể nghĩ ra. Châu Y Nhân ràng là “kéo khách hàng” về cho đạo sĩ. Vì vậy, loại truyện như thế này chỉ khiến người ta cảm thấy đây chẳng khác nào khu chợ tranh giành tín đồ giữa đạo sĩ và hòa thượng mà thôi, khó mà làm cho người khác tin vào những lời khoác lác, thổi phồng đó được. Ngoài ra, hòa thượng cũng dễ để bị người ta đưa ra đùa cợt, cho nên, lẽ đương nhiên họ để lão đạo sĩ khoét lỗ ở góc tường dưới phủ làm cửa sau, vì thế con đường tắt đến thượng thanh tiên cảnh được người ta nhắc đến nữa.

      Nhưng trong các loại “thiện thư” vẫn khuyến khích những linh hồn có giấc mộng đẹp mong muốn đến thẳng thiên đường. Những người hiền lương có tiền sau khi chết , đến sông Nại, người khác phải qua cây cầu bé nước đen, bùn sục lên lầy lội, vô cùng đáng sợ, còn họ được những Tiên Đồng - Ngọc Nữ đáng dẫn đường đến cầu vàng, cầu bạc, sau đó đặt chân lên hoa sen là có thể lên thiên giới. “Thiện thư” thường được đặt ở hai bên hành lang trong đền chùa tại Cảng Đài, ngoài việc bố trí, sắp xếp “Địa phủ du ký” ra, vẫn còn loại nữa là “Thiên đường du ký”. Nếu chịu khó tu luyện để đến với thế giới Phật môn, khi đắc đạo được đưa đến con đường dẫn người chết đến thế giới cực lạc của Phật quốc, giống như trong Thiên long bát bộ từng nhắc tới. Nhưng cách làm này phải chịu khổ cực chút và phải ai cũng dễ dàng đạt được ý nguyện, ngay cả phật Như Lai tu thành chính quả nhưng vẫn phải trải qua bao nhiêu cửa ải, bao nhiêu kiếp nạn. Với những kẻ phàm phu tục tử muốn đến được thiên đường, nếu chịu được lục đạo luân hồi quay cuồng, điên đảo, lại bị đánh nghìn tám trăm cái cần nghĩ tới giấc mộng thiên đường nữa. Vì thế thiên đường này cũng chỉ để an ủi những phu thê ngu muội mà thôi, ở Trung Quốc đây vẫn là chuyện cần “ ” như trước.

      Sau hai lần “ ” như vậy, dường như số phận của tổ tiên chúng ta cũng gần như được xác định rồi. Vậy nên nếu người dân trong nước lòng dạ hiếu thuận, tưởng nhớ liệt tổ liệt tông linh thiêng cũng vĩnh viễn thấu hiểu và vinh dự thưởng thức những đồ mà con cháu dâng hương tế lễ, đó cũng là điều thuận tình hợp lý.

                
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />


      Từ thuở xa xưa, việc cúng tế tổ tiên luôn được xem là việc làm thiêng liêng và vô cùng quan trọng, đặc biệt với những gia đình quyền quý, nó giống như được vinh dự vào triều vái Vạn Tuế gia vậy. Trong nhà thờ tổ tiên, đặt bài vị đầu tiên là của liệt tổ liệt tông, treo ảnh của tổ tông có ghi họ tên, được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp. Người tế lễ đứng nghiêm túc, trang trọng dưới từ đường, khấu đầu cầu khấn rồi mời các vị tổ tông về thưởng thức đồ tế lễ mà con cháu dâng lên. Trong giờ phút linh thiêng ấy, hầu hết linh hồn của các vị tổ tông đều về dự đông đủ, ai nấy đều mặc quan phục hiển hách lúc sinh thời. Bài vị được sắp xếp theo thứ tự, tả đơn hữu song, bên cạnh thái sư kê sẵn giá đỡ, hương khói quấn xung quanh, cung phụng hương hoa, thêm nữa là mâm cỗ đầy đủ các loại, mùi thơm từ các đĩa thức ăn bay lên. Các vị liệt tổ liệt tông vì giữ lòng tự trọng để bụng trống rỗng có khi đến vài tháng, nay nhận được bồi dưỡng cách đầy đủ, thể đắc ý mà nghĩ rằng, được làm tổ tông tuyệt!

      Nhưng thịnh vượng, đắc ý của người quá cố cõi u minh đó cũng phải có tiền đề cơ bản để đảm bảo, đó chính là làm sao để con cháu sống chốn nhân gian đoạn tuyệt việc hương khói! gia tộc hoặc gia đình nếu chẳng may rơi vào tình cảnh tuyệt tử tuyệt tôn tất cả mọi niềm hoan hỷ biến thành bong bóng hết. Lúc ấy, đừng đến việc con cháu xếp hàng dài trong từ đường, mà ngay cả bát cơm, bát canh cũng có người nhớ đến. Vì thế, cổ nhân rất coi trọng việc có con cháu nối dõi tông đường. Cái gọi là “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” [25] , là bởi vì hậu quả của nó chính là làm cho tổ tiên mãi mãi trở thành ma đói. Trong Quảng dị ký có ghi chép việc Thượng thư Lý Hồi Tú sau khi chết, linh hồn dưới phủ có linh cảm rằng con cháu của mình có mưu đồ bất chính, chắc chắn gây họa diệt môn. Chỉ cần nghĩ đến việc sắp bị tuyệt tử, có người hương khói mà nước mắt chảy ròng ròng. Cảnh bi thương đó thậm chí còn đáng thương hơn cả việc người già neo đơn tự nhiên bị cướp sạch khoản tiền dưỡng lão.

      [25] Nghĩa là: có ba cái bị gọi là bất hiếu, và cái bất hiếu lớn nhất đó là có con cháu nối dõi tông đường.

      Đương nhiên dưới ảnh hưởng của Phật giáo cũng có người cho rằng “người và ma hai con đường khác nhau, lẽ nào còn tình phụ tử trăm năm” [26] . khi chết, tiền duyên cũng hết, mà người khoáng đạt để lại di chúc cho con cháu thờ cúng mình. Nhưng cái đó rốt cuộc cũng chỉ là trường hợp ngoại lệ, được các giáo phái khác ở Trung Quốc công nhận. Bởi thế, nếu có cháu trai phải tìm người con kế để làm hậu tự, đấy những là việc “mua bảo hiểm” cho cuộc sống của mình sau khi chết, mà hơn nữa còn có liên quan đến “cái bụng đói” của tổ tiên nơi phủ. Bởi vì, giả dụ như ba đời đơn truyền, khi tuyệt tử, việc ăn uống của đời ông, đời bố dưới gian cũng là cả vấn đề. Cuốn mười sáu trong Hữu đài tiên quản bút ký của Du Việt có kể lại câu chuyện về người sau khi chết có cháu con thờ cúng, hồn ma của người đó suốt ngày đến nhà người thân để phá phách, ép họ phải lập tự cho mình. Người thân hỏi: “Sao lúc còn sống lo lắng, vội vàng, bây giờ tới tìm tôi làm gì?” Hồn ma trả lời: “Đấy là do tổ tông vì tôi mà có đồ ăn, họ tha cho tôi đấy chứ!”

      [26] Theo Bắc mộng tỏa ngôn của Tôn Quang Hiến thời Ngũ Đại, cuốn ba, Đường Lưu Sở thoát xác, từ rất sớm là văn học ứng vào sĩ cử, trong đó phần đức giới viết “bất cứ ai vào, nghèo hay giàu, hy vọng về tôi. Nếu sau khi tôi chết, cũng đừng thờ cúng tôi”. rồi lên thuyền câu cá làm thú tiêu khiển và ai biết ông ở nơi đâu.

      Mình đẻ được con trai, chỉ còn cách dựa vào con trai kế để giải quyết vấn đề, nhưng việc “lập tự” đơn giản như việc nhận đứa trẻ ở nhi viện về nuôi. Từ thời nhà Hán, trong các câu chuyện ma quỷ xuất cách : “Ma của tổ tông hưởng đồ tế lễ của người mang họ khác.” Trong cuốn Phong tục thông dịch [27] của Ứng Thiệu có câu chuyện vô cùng kinh điển, cần phải giới thiệu toàn văn như sau:

      [27] Nghĩa là: giải thích ý nghĩa của các phong tục.

      Chu Ông Trung người Nhữ Nam, thời còn làm thái vị duyện thuộc (tức nhân viên công sở ngày nay), vợ ông sinh hạ người con trai. Đến khi ông làm tướng Bắc Hải, liền phái thuộc hạ của mình tên là Chu Quang đến Nhữ Nam làm công chuyện. Lúc chuẩn bị xuất hành, Chu Ông Trung với Chu Quang: “Đợi sau khi làm xong công chuyện, vào ngày mùng Tám tháng Chạp, nhờ đưa con trai tôi đến tế lễ tổ tông của gia đình tôi.” Chu Quang vốn là người có thể nhìn thấy hồn ma, đợi khi ta từ Nhữ Nam về Bắc Hải, Chu Ông Trung liền hỏi ta về tình hình tế lễ ra sao, Chu Quang : “Khi tế lễ, tôi nhìn thấy đồ tể mặc quần áo rách nát, tóc tai bờm xờm, đến thẳng bàn thờ, cầm dao cắt thịt cúng để ăn. Ngoài ra còn có mấy vị mặc quan phục, chỉ lại lại bên thùng đựng đồ ở phòng lớn mà vào bên trong. biết nguyên cớ vì sao?” Chu Ông Trung nghe xong vô cùng phẫn nộ, cầm kiếm thẳng lên phòng, lớn tiếng quát mắng vợ mình: “Vì sao bà lại gian dâm với tên đồ tể sinh ra đứa con nghiệt chủng này?” Vợ ông ta nghe thấy thế cũng vô cùng tức giận trả lời: “Bình thường chẳng phải ông hay đứa trẻ này từ hình dáng, cử chỉ, điệu bộ đến giọng đều rất giống ông sao? Hôm nay ông muốn sống nữa hay sao mà ra những lời điên cuồng như thế!” Chu Ông Trung kể lại tường tận mọi việc Chu Quang nhìn thấy, và : “Nếu bà ra , tôi chém chết hai mẹ con bà!” Đến lúc này, người vợ mới khóc lóc ra : “Lúc đó tôi thấy chúng ta đều có tuổi rồi mà vẫn chưa có con trai, tâm lý bất an, liền đem đứa con vừa sinh xong đổi lấy đứa con trai của tên đồ tể, và còn cho gia đình họ vạn quan tiền.”

      Tổ tiên ở dưới gian chỉ có thể hưởng được đồ tế lễ của chính con cháu mình, điều đó đồng nghĩa với việc đồ tế lễ của con cháu chỉ có những người thực là tổ tiên của họ mới hưởng thụ được. Câu chuyện là kết hợp khéo léo giữa việc phản ánh tín ngưỡng thờ cúng trong dân gian với việc lý giải chế độ tông pháp trong xã hội xưa. Họ cho rằng tài sản riêng của xã hội phong kiến được phân chia rạch ròi dựa vào “luận chính”. Vì thế, cuốn thứ chín trong tập Quý tân tạp nhận - Biệt tập của Chu Mật thời Nam Tống cải biên câu chuyện này chút và đưa thêm cái kết đầy kịch tính:

      Vào ngày cúng thần (ngày mồng Tám tháng Mười hai) có quan gia đến nhà đồ tể, gặp đứa trẻ rất đáng liền bế đứa bé lên rồi rằng sau này, khi đứa bé lớn lên trở thành người hiểu biết. Đứa bé khi xưa nay lớn lên quả thực có khả năng đặc biệt hơn người. lần, khi thờ cúng tổ tiên, bỗng mơ màng nhìn thấy tất cả các bậc tổ tiên đều đeo gươm đao người ngồi ngay ngắn. lát sau lại nhìn thấy người mặc lễ phục có hoa văn đứng bên cạnh các bậc tổ tiên. ta vô cùng kinh ngạc, liền đem cảnh tượng đó kể lại cho cha nuôi mình nghe. Lúc này người cha nuôi mới cho ta biết, nguyên tắc trong việc tế lễ là cha đẻ và cha nuôi phải được phân ra ràng, thứ tự tiếp nhận đồ tế lễ phải được sắp xếp theo cấp quan hay cấp bậc công lao. Cha nuôi : “Con cháu đời sau thể biết điều đó.”

      Những đồ cúng lễ của con cháu trước tiên dành cho người thân thích ruột thịt với người dâng lễ hưởng thụ trước, còn bên dòng họ của người bố nuôi phải đợi sau, đến khi gia chủ ăn xong được ăn những đồ còn thừa lại. Kiểu lý giải như thế này so với chuyện của Ứng Thiệu có vẻ nhàng hơn đôi chút nhưng vẫn làm cho tâm lý của người con nuôi được thoải mái cho lắm. Phải đợi đến thời nhà Thanh vị trí của người con nuôi mới được khẳng định. Kỳ Vân trong tác phẩm của mình hơn việc con nuôi thể bị coi là người ngoại tộc. Nếu có phân biệt như vậy nhận người ngoại tộc làm con nuôi tất yếu tổ tông được đến hưởng phúc. Do đó, phải coi con nuôi như con đẻ, có như vậy việc tổ tiên đến hưởng phúc của con cháu mới được đường đường chính chính, ngẩng cao đầu mà tự hào vì dòng dõi bao đời vẫn được nối tiếp mà bị ngắt quãng. Trong Việt vi thảo đường bút ký, cuốn mười ba có viết:

      Có người nhìn thấy ma : “Người con nuôi, là những người khác dòng họ, dù là con của người con , cháu của vợ, khi thờ cúng chỉ có những người sinh thành đến hưởng phúc, người đời trước có ai. Phàm là người cùng họ, dù là ngoài năm đời khi thờ cúng vẫn có thể đến hưởng. Người sinh ra cũng đến, thức ăn để ở bên cạnh, mà dám đến trước. Duy có Vu mỗ bế con nuôi Trương mỗ, khi thờ cúng vẫn đến sau để hưởng. Sau nhiều thế hệ mới biết, phu nhân của Vu mỗ có thai, sau đó cưới Trương sinh, là người trong tộc Vu.”

      Có thể thấy, câu chuyện này muốn với người đời rằng, ai có con trai, nếu muốn nhận đứa con trai để làm con nuôi, tốt nhất nên chọn người trong tộc. Bởi vì nếu con nuôi là người ngoại tộc, kể cả là người rất gần với mình như cháu ngoại hoặc cháu bên đằng vợ, sau này, khi họ tế lễ tổ tiên, đến hưởng phúc chỉ có thể là người có cùng huyết thống. Mà con cháu trong bổn tộc, ngay cả ngoài năm đời, khi họ trở thành con nuôi của bạn, vậy khi họ tế lễ, người đến hưởng phúc đầu tiên là bạn, mẫu tử thân sinh ra họ cũng chỉ được sắp sẵn thức ăn để ở bên cạnh mà thôi.

      Tuy nhiên, đây là đạo lý của người hay đạo lý của ma? ràng dù là đạo lý của ma mục đích đặt ra cũng nhằm bảo vệ cho đạo lý của người: Huyết thống của tổ tông thể lẫn lộn được, tài sản của tổ tông cũng được để truyền ra ngoài. Về vấn đề lập tử danh nghĩa là để lo cho cái ăn, cái mặc của tổ tiên, nhưng thực tế, mục đích chính là vì con cháu, vì tính toán đến chuyện được mất tài sản của tổ tông. Việt vi thảo đường bút ký vẫn còn câu chuyện lý thú kể về ba huynh đệ, người hai chết sớm, có con cháu, người cả và em út đều muốn lập con trai mình làm con nuôi của hai, bởi vì muốn tài sản của gia đình hai rơi vào tay mình, hai em vì việc này mà tranh cãi từ dương gian đến tận thế. ràng chuyện này đối với người hai từ lâu trở nên vô nghĩa.

      Qua những câu chuyện này chúng ta hiểu được thực chất của vấn đề ma đói được bàn tới ở . ra chỉ có thể để hồn ma dưới chốn gian ăn uống mới có thể thấy được ý nghĩa việc thờ cúng của con cháu là vô cùng quan trọng. Và hệ quả tất yếu, muốn bảo đảm cho tổ tông năm ba bữa đủ đầy tài sản để lại cho con cháu bắt buộc được để truyền vào tay người khác dòng họ của mình! Vì lợi ích thực tế của tổ tông, cho nên mọi thứ cần phải được bảo hộ ở cấp cao nhất, vì thế, để linh hồn tổ tông ở dưới phủ chịu ấm ức chút cũng chẳng đáng là bao.

      Viết đến đây, ngẫm lại câu ban đầu của Châu Tác Nhân: “Qua việc này có thể thấy tấm lòng chân thành của dân tộc Trung Quốc, còn hơn việc dùng võ mồm, thùng rỗng kêu to để về những luân thường đạo lý, về những việc đúng sai trong cuộc sống, liệu có thể tin tưởng được ?”, ít ra cũng cảm thấy có chút thấm thía đến nghẹn ngào.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :