1. QUY ĐỊNH BOX XUẤT BẢN :

       

    Đặt Title theo mẫu [Tên truyện] [dấu cách] - [dấu cách] [Tác giả] [Số chương]

    ----•Nội dung cần:

    - Hình minh họa (bìa truyện, hình ảnh,etc,...)

    - Tác giả

    - Dịch giả

    - Đơn vị phát hành

    - Số trang ( nên có)

    - Giá bìa (nên có)

    - Ngày xuất bản (nên có)

    --- Quy định

    1 . Thành viên post có thể tự type hoặc copy từ nơi khác (để nguồn)

    2 . Trình bày topic truyện khoa học, bôi đen số chương để dễ nhìn

    3. Cần có trách nhiệm post đến hết truyện. Nếu không thể tiếp tục post liên hệ

    Ad và Mod

  2. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Đông Cung - Phỉ Ngã Tử Tồn

Thảo luận trong 'Sách XB Hoàn'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954



                  Phần II

                  VẺ XUÂN
       
      [/B]            Chương 4





                  Tôi dìu Lý Thừa Ngân dậy, nửa bên người sẫm màu máu tươi, máu ngừng túa ra từ miệng vết thương. Trong khi tôi vừa cuống vừa sợ, còn hỏi tôi:

                  - Nàng có bị thương...

                  Câu còn bỏ ngỏ, miệng ứa máu, máu của bám đầy vạt áo tôi. Mắt tôi nhòa ướt, miệng thốt lên tên :

                  - Lý Thừa Ngân!

                  Dù tôi ghét Lý Thừa Ngân đấy, nhưng xưa nay tôi nào có nguyền rủa phải chết.

                  hoang mang nắm lấy tay tôi, khóe miệng đẫm máu, vậy mà còn cười được:

                  - Xưa nay ta chưa từng thấy nàng khóc bao giờ... chẳng lẽ nàng sợ... sợ làm góa phụ trẻ...

                  Lúc nào rồi mà còn đùa được, nước mắt tôi cứ mặc sức trào ra. Chân tay tôi lóng ngóng định cầm máu cho , nhưng phải cầm ở chỗ nào đây, máu len qua kẽ tay xuống, những dòng máu ấm nóng, tanh nồng ấy, biết bao nhiêu là máu chảy. Tôi vô cùng hoảng sợ. Nhiều cung nữ nghe thấy tiếng động lạ liền chạy vào, có người vừa nhìn thấy máu hét lên hãi hùng rồi lăn ra ngất xỉu, trong điện tức khắc nhốn nháo, tán loạn. Tôi nghe bên ngoài có tiếng Bùi Chiếu xẵng giọng phát lệnh, thế rồi gã xông vào điện. Trông thấy gã, tôi tưởng chừng gặp được vị cứu tinh:

                  - Bùi Tướng quân!

                  Bùi Chiếu thoáng thấy tình hình, lập tức sai người:

                  - Mau truyền ngự y!

                  rồi gã lao tới, trỏ ngón tay điểm toàn bộ huyệt đạo xung quanh vết thương ngực Lý Thừa Ngân. Gã thấy tôi vẫn ôm chặt Lý Thừa Ngân, bèn :

                  - Thái tử phi, xin người cứ đặt Điện hạ xuống, như vậy mạt tướng mới kiểm tra được thương tích của Điện hạ.

                  hoang mang lo sợ mà thấy Bùi Chiếu vẫn trấn tĩnh như thế, bình tĩnh của gã khiến tôi được xoa dịu. Tôi nghe lời, đặt Lý Thừa Ngân nằm xuống, lúc vạch áo Lý thừa Ngân ra, Bùi Chiếu hơi chau mày. Thoạt đầu tôi hiểu cái chau mày ấy nghĩa là sao, nhưng thấy ngự y tức tốc chạy tới, rồi quá nửa Thái y viện được điều tới Đông cung, rất nhanh tôi hiểu. Tin tức được báo về trong cung, cửa phía đông rộng mở lúc nửa đêm đón Hoàng đế và Hoàng hậu trong trang phục vi hành, thân chinh xa giá đến Đông cung.

                  Tôi nghe ngự y bẩm với Hoàng thượng:

                  - Bẩm Bệ hạ, vết thương quá sâu, xin Bệ hạ thứ lỗi cho thần ngu muội, bất tài, chỉ e... chỉ e vết thương của Điện hạ... vô cùng đáng ngại...

                  Hoàng hậu rưng rưng rồi bật khóc trong câm lặng, tay cầm khăn liên tục chấm nước mắt. Bệ hạ cũng xây xẩm mặt mày. Còn tôi lấy giọt nước mắt, tôi phải đợi A Độ trở về.

                  Bùi Chiếu phái rất nhiều người truy đuổi thích khách, biết truy cứu được gì chưa. Tôi đâu chỉ lo cho mình Lý Thừa Ngân, còn nỗi lo về A Độ cứ canh cánh trong lòng.

                  Hôm sau, cuối cùng người của Bùi Chiếu cũng khiêng A Độ về, khi ấy A Độ bị thương rất nặng. Tôi thốt gọi tên A Độ, muội ấy khẽ hé mắt nhìn tôi, định nhấc tay lên, nhưng cánh tay còn chút sức lực, chỉ có những ngón tay khẽ động đậy. Tôi nhìn theo ánh mắt muội ấy, ánh mắt đăm đăm vạt áo tôi.

                  Tà áo tôi dính bê bết máu nhưng đều là máu của Lý Thừa Ngân. Tôi hiểu A Độ nghĩ gì, tôi siết chặt tay muội ấy rồi nuốt nước mắt, :

                  - Ta sao đâu!

                  Dường như A Độ vừa buông tiếng thở phào nhõm, muội ấy nhét vào tay tôi vật cứng, rồi người lả .

                  Tôi vừa đau đớn vừa ăn năn, hối hận.

                  Vì đẩy tôi ra mà Lý Thừa Ngân bị thích khách tấn công ngay trước mặt tôi, chính mắt tôi chứng kiến thanh trường kiếm ấy găm sâu vào cơ thể . Giờ đây, gã thích khách lại đả thương cả A Độ.

                  Là tại tôi, tại tôi bảo A Độ đưa đao cho mình. Đến đao cũng cầm theo, muội ấy vội truy sát gã thích khách kia.

                  Bấy lâu nay, A Độ luôn theo sát bên tôi, người dám liều mạng bảo vệ tôi chỉ có mình muội ấy.

                  Lúc nào tôi cũng là người có lỗi với muội ấy, lúc nào tôi cũng gây chuyện, để muội ấy phải chịu khổ thay mình.

                  Tôi bật khóc nức nở.

                  ai đến an ủi tôi, Đông cung hỗn loạn, người nào người nấy chạy đôn chạy đáo, tất tả lo chạy chữa cho Lý Thừa Ngân, vết thương rất nặng, có thể qua khỏi. A Độ sắp chết rồi, và cả Lý Thừa Ngân, chồng tôi... cũng sắp chết.

                  Tôi khóc mãi, khi Bùi Chiếu đến, gã khẽ khàng lên tiếng:

                  - Bẩm Thái tử phi, người của mạt tướng báo lại, lúc bọn họ truy sát tên thích khách, chỉ thấy A Độ nương hôn mê bất tỉnh ở đó mà thấy tăm tích của tên thích khách đâu nên buộc phải đưa A Độ về trước. nay, chín cổng thành đóng chặt, Thượng Kinh giới nghiêm, thích khách thể tẩu thoát được. Ngự lâm quân bắt đầu lục soát khắp kinh thành, xin Thái tử phi an tâm, tên thích khách khó lòng chạy thoát.

                  Tôi nhìn vật A Độ vừa đưa, vật đó lạ lắm, chỉ là miếng gỗ có khắc hoa văn khó hiểu bề mặt, tôi nhận ra nó là thứ gì.

                  Tôi giao cho Bùi Chiếu:

                  - A Độ đưa ta thứ này, ta đoán nó có liên quan đến hành tung của thích khách.

                  Bùi Chiếu bỗng giật mình, nhất định biết vật này. Tôi gặng hỏi:

                  - Đây là gì thế?

                  Bùi Chiếu thoái lui bước, gửi trả tôi miếng gỗ ấy, đoạn thưa:

                  - Đây là việc hệ trọng, xin Thái tử phi cứ đệ trình lên Bệ hạ.

                  Tôi cũng nghĩ, mình phải tấu trình vật này lên Hoàng thượng, tốt xấu sao người cũng là Thiên tử, là thân sinh ra phu quân tôi, là vị đế vương có quyền lực tối cao khắp thiên hạ. Người giúp chúng tôi truy xét đến cùng, xem kẻ nào dám ám sát con trai của người, dám sát hại A Độ.

                  Tôi quệt nước mắt, sai cung nữ thân cận trình bẩm, tôi muốn yết kiến Hoàng đế Bệ hạ.

                  Cả Hoàng thượng và Hoàng hậu vẫn ngự ở tẩm điện, chẳng mấy chốc Hoàng thượng cho triệu tôi, tôi bước vào vái lạy người:

                  - Phụ hoàng!

                  Rất ít khi tôi có dịp tiếp kiến Hoàng đế Bệ hạ, lần nào gặp, người cũng ngự ngai vàng ở khoảng cách rất xa. Ở khoảng cách gần như thế này đây quả là lần đầu tiên. Tôi chợt nhận ra, người cũng trạc tuổi cha tôi, tóc ở hai bên thái dương chớm bạc.

                  Người đối với tôi rất ôn tồn, đoạn sai tùy tùng:

                  - Mau đỡ Thái tử phi dậy!

                  Tôi từ chối cái đỡ của nội quan:

                  - Khởi bẩm Phụ hoàng, tùy tùng của nhi thần là A Độ vừa truy đuổi tên thích khách, may bị trọng thương, mới được Vũ lâm lang cứu về. Muội ấy giao cho nhi thần vật này, nhi thần là gì, nay tấu dâng lên Phụ hoàng, nhi thần trộm nghĩ, vật này ắt hẳn có liên quan đến thân phận của thích khách.

                  Tôi dâng miếng gỗ lên rồi dập đầu:

                  - Mong Phụ hoàng phái người kiểm chứng.

                  Nội quan đón lấy vật tay tôi, trình lên cho Bệ hạ xem, tôi thấy nét mặt người sa sầm ngay tức .

                  Người quay sang nhìn Hoàng hậu:

                  - Mai Nương!

                  Lúc ấy tôi mới biết tên cúng cơm của Hoàng hậu là Mai Nương.

                  Sắc mặt Hoàng hậu tối sầm, bà ấy bật dậy, chỉ vào tôi:

                  - Ngươi... ngươi dám vu cáo, hãm hại bản cung!

                  Tôi ngơ ngác nhìn bà ấy. Hoàng hậu khẩn thiết quay người, quỳ sụp xuống:

                  - Xin Bệ hạ minh xét, Ngân Nhi là do tay thần thiếp nuôi nấng trưởng thành, tâm huyết cả đời của thần thiếp đều dồn vào Ngân Nhi, thần thiếp tuyệt đối bao giờ làm hại Hoàng nhi!

                  Hoàng thượng buông lời, Hoàng hậu lại quay ra trách cứ tôi:

                  - Kẻ nào xúi bẩy ngươi dùng thủ đoạn này, hòng vu khống lật đổ bản cung?

                  Tôi đây đến mặt chữ Trung Nguyên còn nhớ hết, khúc củi khô ấy khắc gì tôi nào có biết, thậm chí xưa nay còn chưa từng nhìn thấy nó, thế nên tôi chỉ biết thuỗn mặt nhìn Hoàng hậu.

                  Cuối cùng, Hoàng thượng lên tiếng:

                  - Mai Nương, chỉ e ngay bản thân con bé cũng biết đây là thứ gì, sao có thể vu khống hòng lật đổ nàng được?

                  Hoàng hậu cả kinh:

                  - Bệ hạ, xin Bệ hạ chớ cả tin những điều xằng tấu này. Cớ sao thần thiếp phải ám hại Thái tử? Ngân Nhi do tay thần thiếp nuôi nấng nên người, thần thiếp coi Hoàng nhi như con ruột...

                  Hoàng thượng lạnh nhạt :

                  - Con ruột...? Chưa chắc.

                  Hoàng hậu bưng mặt, nước mắt lã chã:

                  - Bệ hạ vậy tức là người cũng tin vào những điều sàm tấu. Tuy thần thiếp mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày nhưng có khác nào thân sinh ra Thái tử đâu? Ngày Ngân Nhi mới ba tháng tuổi, thần thiếp ẵm vào cung, tay thần thiếp nuôi nấng, chỉ bảo Hoàng nhi nên người, kèm cặp Hoàng nhi học hành đến nơi đến chốn. Cũng chính thần thiếp trình tấu mong Bệ hạ lập Hoàng nhi làm thái tử, thần thiếp dồn tâm huyết cả đời vào Ngân Nhi, cớ gì thần thiếp phải sai người hãm hại con mình?

                  Bệ hạ phá lên cười:

                  - Vậy Tự Bảo lâm vô tội sao, cớ gì nàng phải ra tay với Tự Bảo lâm?

                  Hoàng hậu giật thót mình ngước lên, bà ấy ngơ ngác nhìn Hoàng thượng.

                  - Chuyện hậu cung, trẫm hỏi tới có nghĩa là trẫm biết. Nàng tạo đủ nghiệp chướng rồi. Cớ sao nàng xuống tay với Tự Bảo lâm mà phải muốn trừ khử Triệu Lương đệ? Gia tộc họ Triệu nắm giữ trong tay binh quyền hùng hậu, tương lai sau này Ngân Nhi đăng cơ, cho dù lập Triệu Lương đệ làm hoàng hậu, ắt cũng phải phong quý phi. Có đằng ngoại như thế, vậy mà nàng hề coi như mối hiểm họa từ bên trong. Nàng chỉ canh cánh nỗi bất an sau này Ngân Nhi ổn định giang sơn, điều gì khiến nàng sợ hãi? Sợ hoàng nhi chống lại mẫu hậu là nàng ư?

                  Hoàng hậu ấp úng:

                  - Cớ gì thần thiếp phải bất an...? Ý của Bệ hạ, thần thiếp tài nào hiểu...

                  - Đúng, sao nàng phải bất an? - Hoàng đế lạnh nhạt . - Chẳng phải vì e sợ Ngân Nhi biết, mẫu thân sinh ra nó, Thục phi năm đó... vì sao qua đời ư?

                  Sắc mặt Hoàng hậu tái mét, chân tay bủn rủn, ngã phịch xuống sàn.

                  Hoàng đế tiếp lời:

                  - Trách chăng nàng quá nóng vội, đợi thêm hai mươi năm nữa có hề gì? Bao giờ trẫm băng hà, Ngân Nhi đăng cơ, lập Triệu Lương đệ làm hoàng hậu, tất trở mặt với Tây Lương. Đến lúc ấy, giả sử Hoàng nhi dấy can qua với Tây Lương, nếu thắng, thâm tình giữa thiên triều ta và Tây Lương từ đó mãi mãi rạn nứt, chỉ e chiến tranh liên miên, hai nước rơi vào cảnh lầm than, rồi có ngày lòng dân oán hận sục sôi. Còn nếu chúng ta thua, nàng tranh thủ mượn gió bẻ măng, phế Ngân Nhi, lập tân đế mới cũng chưa biết chừng. Nước cờ này, phải chăng nàng tính thấu đáo từ lúc khuyên trẫm để Ngân Nhi cầu thân với Tây Lương. yên lành, cớ gì nàng lại nóng vội đến vậy? Lẽ nào vì Thái tử và Thái tử phi bỗng nhiên gắn bó quấn quýt, hai đứa trẻ phải lòng nhau, há chẳng ngoài dự đoán của nàng hay sao?

                  Hoàng hậu thào:

                  - Thần thiếp cùng Bệ hạ kết tóc se duyên nên nghĩa phu thê ba mươi năm, ra trong lòng Bệ hạ, thần thiếp là người quá quắt vậy ư?

                  Hoàng thượng lạnh lùng giáng lời:

                  - phải trẫm nghĩ quá quắt về nàng, mà chính nàng làm những chuyện quá quắt. Gieo nhân nào gặt quả nấy, ác giả ắt ác báo. Nàng hại chết Thục phi, trẫm hề đổ oan cho nàng. Nàng hại Tự Bảo lâm sẩy thai, giam lỏng Triệu Lương đệ, trẫm cũng đả động. Trẫm luôn tự bảo mình, nàng làm tất cả chỉ để tự vệ, nếu Hoàng nhi của trẫm ứng phó nổi mấy trò vặt này, chứng tỏ nó xứng làm thái tử. Thế mà hôm nay, nàng lại táng tận lương tâm muốn ám sát Ngân Nhi. Con giun xéo lắm cũng quằn, huống hồ hổ dữ còn nỡ ăn thịt con, dẫu nàng phải người mang nặng đẻ đau hạ sinh Ngân Nhi, nhưng suy cho cùng, chính tay nàng nuôi nấng nó nên người, sao nàng có thể nhẫn tâm đến vậy?

                  Hoàng hậu thảng thốt, hàng nước mắt chảy dài:

                  - Thần thiếp làm... Dẫu Bệ hạ muốn tin, nhưng quả thực thần thiếp làm... Thần thiếp sai người hãm hại Ngân Nhi...

                  Trong lòng tôi trào dâng cảm xúc, dám tin vào tai mình, tôi dám tin vào những gì mình nghe. Hoàng hậu cao quý thường ngày, Hoàng hậu ôn tồn thường ngày... Lẽ nào lòng dạ người đàn bà ấy lại thâm độc đến vậy?

                  Hoàng thượng :

                  - Chẳng lẽ trẫm lại phải đưa nhân chứng, vật chứng ra hòng vạch mặt những chuyện nàng từng làm, lẽ nào trẫm phải hạ chỉ sai Dịch đình lệnh đến thẩm vấn nàng hay sao? Nếu nàng thành khai nhận, trẫm niệm tình phu thê ba mươi năm nay, truy cứu nàng tội chết.

                  Nước mắt Hoàng hậu lã chã:

                  - Bệ hạ, oan uổng cho thần thiếp quá! Thần thiếp bị oan!

                  Hoàng thượng vẫn lạnh nhạt :

                  - Hai mươi năm trước, nàng sai người hạ độc mã tiền [1] vào thuốc của Thục phi, gói thuốc mã tiền đến giờ vẫn còn nửa, cất tại ô tủ chìm thứ hai trong chính cung của nàng. Hay nàng muốn trẫm phái người đến đó lục soát, rồi ép nàng phải nuốt chỗ mã tiền đó?

                  [1] Cây mã tiền có trái trông giống trái cam nhưng trong hạt chứa nhiều alcaloid độc. Nếu ăn nhầm bị co giật toàn thân và tê liệt cơ hô hấp gây ngạt thở dẫn đến tử vong.

                  Hoàng thượng dứt câu, Hoàng hậu liền bủn rủn, ngã vật xuống sàn, ngất lịm.

                  Tôi có cảm giác, tất thảy mọi chuyện xảy ra trong đêm nay chẳng khác nào tiếng sấm giữa trời quang, đến giờ tiếng sấm vẫn bập bùng bên tai, liên miên từng hồi dứt, vang dội tới mức tôi chết lặng người, đứng đờ đẫn, như trời trồng.

                  Hoàng thượng quay sang vẫy tay gọi tôi. Tôi dè dặt tiến lại gần, quỳ trước mặt người. Người vươn tay, dịu dàng xoa đầu tôi, :

                  - Con ngoan đừng sợ, có Phụ hoàng ở đây, kẻ nào dám làm hại con đâu. Thoạt đầu để Ngân Nhi lấy con, thực ra cũng là ý của ta, bởi lẽ ta biết con Tây Lương đối nhân xử thế rất lòng và ân cần.

                  Thú thực, tôi hề thấy sợ, bởi bàn tay người ấm áp như bàn tay cha. Hơn nữa, người có nét giống Lý Thừa Ngân, mà xưa nay tôi có bao giờ e sợ Lý Thừa Ngân đâu.

                  Hoàng thượng với tôi:

                  - Gắng chăm sóc Ngân Nhi, nó từ mồ côi mẹ. Nếu con lòng với nó, nó sẵn sàng móc cả trái tim trao cho con.

                  Dẫu người dặn, tôi cũng chăm nom Lý Thừa Ngân chu đáo.

                  Thế nhưng tình đêm nay quả thực vẫn khiến tôi thảng thốt thôi, tự đáy lòng tôi thấy sợ. Tất thảy những thứ trong cung đều đáng sợ, lòng người sao lại phức tạp đến thế? Như Hoàng hậu kia, có chết tôi cũng ngờ bà ấy lại hại đứa trẻ trong bụng Tự Nương, chỉ vì muốn giáng họa cho Triệu Lương đệ thôi ư? Sinh mạng con người trong mắt bọn họ rẻ mạt thế thôi sao? Lại còn Thục phi, người thân sinh ra Lý Thừa Ngân nữa, vì sao Hoàng hậu phải hại chết Thục phi, chỉ vì muốn tước đoạt đứa con trai của Thục phi hay sao?

                  Mọi chuyện kinh hoàng, chúng khiến tôi phải ớn lạnh rùng mình.

                  Vết thương của Lý Thừa Ngân vô cùng nguy hiểm, ba ngày rồi mà vẫn trong trạng thái hôn mê bất tỉnh. Tôi túc trực bên kể ngày đêm.

                  Tình hình vết thương có chuyển biến xấu, Lý Thừa Ngân sốt cao, ăn uống được gì, đến thuốc thang cũng phải cạy răng, bón từng thìa.

                  Tôi nghĩ phen này khó lòng qua khỏi.

                  Song tôi hề khóc. đẩy tôi ra vào đúng lúc nguy hiểm nhất. Nếu chết, cùng lắm tôi tự tử theo .

                  Con Tây Lương chúng tôi ưa kiểu sướt mướt, tôi khóc chặp rồi, bây giờ muốn khóc thêm nữa.

                  Trong cơn mê man, Lý Thừa Ngân luôn miệng thào gì đó, tôi ghé tai nghe, mới gọi “mẹ” giống như lần trước bị ốm.

                  Ngẫm tới những gì Bệ hạ , tôi lại thấy mủi lòng, ra cũng đáng thương biết bao, tuy địa vị là Thái tử đấy, song từ lúc ra đời chưa lần được biết mặt mẹ. Trong khi tâm địa Hoàng hậu lại thâm độc đến nhường này, nếu để Lý Thừa Ngân biết bà ta là người hại chết mẹ ruột mình, hẳn đau lòng lắm.

                  Rất nhiều ngự y được cử tới để theo dõi bệnh tình của Lý Thừa Ngân. Cùng lúc đó, Hoàng thượng hạ chiếu thư phế truất ngôi vị Hoàng hậu, việc này gây chấn động cả trong và ngoài triều, ngặt vì chiếu thư chỉ ra quá nhiều tội trạng của Hoàng hậu, nhất là nay Lý Thừa Ngân còn chưa sống chết thế nào nên chúng đại thần cũng khó lòng can gián. Tôi nghe mấy cung nữ rủ rỉ , nhà ngoại của Hoàng hậu vốn nắm nhiều quyền hành trong tay, họ xúi giục đám quan viên Môn hạ tỉnh [2] phê chuẩn chiếu thư, hòng phản đối việc phế bỏ Hoàng hậu. Tôi vốn hiểu chuyện triều chính, giờ mới biết hóa ra thân là Hoàng đế phải muốn làm gì cũng được.

                  [2] Môn hạ tỉnh: trong ba cơ quan đứng đầu triều đình thuộc tam tỉnh chế, lo thu nhận những báo cáo từ các nơi gửi về, đồng thời chuyển những mệnh lệnh, sắc chỉ của vua tới các quan thừa hành.

                  Buổi sáng, tôi đến thăm Lý Thừa Ngân, buổi chiều lại về chăm A Độ.

                  người A Độ có nhiều vết thương, thâm chí nội thương cũng khá nghiêm trọng. A Độ giỏi võ đến thế mà vẫn bị tay thích khách kia đánh đến nông nỗi này, xem ra gã phải loại tầm thường. Do phải thường xuyên thay thuốc nên tôi lục tìm túi A Độ, lấy hết đồ để lên bàn. Vậy ra tôi đưa cho A Độ cầm biết bao nhiêu là thứ, toàn mấy thứ tôi thấy hay mua, như cái còi đất sét nặn hình chim non này, hay bông hoa bằng len đỏ kia... Mua được cái gì tôi lại đưa cho A Độ cầm, muội ấy thường xuyên dắt bên mình, phòng lúc tôi cần dùng.

                  A Độ của tôi, A Độ đối với tôi tốt biết bao, tại tôi khiến muội ấy phải khổ.

                  Lúc thấy mũi tên reo, tôi sực nghĩ đến chuyện. Thế rồi tôi cầm theo nó, lẳng lặng ra ngoài.

                  Kẻ hầu người hạ trong Đông cung đều dồn về phía tẩm điện của Lý Thừa Ngân, trong hoa viên quạnh quẽ, vắng tanh, có bóng dáng ai.

                  Tôi bắn tên lên trời, rồi ngồi đợi ở đó.

                  Bẵng lúc, chợt có cơn gió hiu hiu thổi khẽ, Cố Kiếm lặng lẽ đáp xuống trước mặt tôi.

                  Thấy tôi, gã có vẻ sửng sốt:

                  - Kẻ nào động đến muội?

                  Tôi cũng biết người ngợm mình bây giờ rất tệ, mấy hôm trước khóc trận đời, mắt mũi sưng húp cả lên, cộng thêm mấy đêm liền mất ngủ khiến mặt mày xám xịt.

                  Tôi thuật lại tình cách đơn giản cho gã nghe, Cố Kiếm trầm ngâm lúc rồi hỏi:

                  - Muội muốn ta giết Hoàng hậu à?

                  Tôi lắc đầu.

                  Đúng là Hoàng hậu sát hại quá nhiều người, bà ta xứng đáng sống tiếp đời này, nhưng Hoàng đế có phán quyết riêng của mình, xử tội chết cũng phế truất rồi tống bà ta vào lãnh cung. Đối với loại người như Hoàng hậu, làm vậy đủ giết bà ta.

                  Tôi van lơn:

                  - Ngươi nghĩ cách cứu A Độ được ? Muội ấy bị nội thương nặng lắm, hôn mê từ bấy đến giờ.

                  Cố Kiếm bất chợt phá lên cười:

                  - Ngộ , muội nhờ ta cứu chồng muội mà lại van xin ta cứu A Độ. Thế tóm lại, muội chồng muội hay A Độ?

                  - Lý Thừa Ngân bị thương bên ngoài, là thần tiên cũng đành bó tay, qua được hay là số của . Nhưng vì tôi, A Độ mới truy đuổi thích khách để rồi bị nội thương, tôi biết thế nào huynh cũng có cách.

                  Cố Kiếm sầm mặt, bảo:

                  - Đúng, ta có cách, nhưng cớ gì ta phải cứu muội ấy chứ?

                  Tôi cáu bẳn, :

                  - Huynh từng bảo, nếu có gì nguy hiểm cứ gọi huynh, bây giờ huynh lại giở quẻ giúp!

                  Cố Kiếm đáp:

                  - Đúng thế, nhưng ta hứa giúp muội cứu kẻ khác.

                  - Bây giờ, sinh mệnh A Độ là chuyện đáng lo hơn cả, mạng của A Độ cũng là mạng của tôi. Vì tôi mà muội ấy có thể liều mình bất chấp tất cả, vết thương của muội ấy cũng là vết thương của tôi, huynh cứu A Độ... - Tôi tuốt đao kề vào cổ mình. - Tôi chết cho huynh xem!

                  Cố Kiếm vẩy hai ngón tay, thanh đao khẽ nảy lên, tuột khỏi tay tôi, rơi đánh “coong” xuống đất.

                  Tôi luýnh quýnh toan nhặt đao lên nhưng gã phất tay áo, hất văng thanh đao chỗ khác. Tôi cáu tiết vung tay về phía gã, gã lập tức ghì chặt cổ tay tôi, trước khi nó kịp chạm vào vạt áo. Mắt cay sè, tôi :

                  - cứu huynh , sau này đừng gặp nhau nữa!

                  Cố Kiếm nhìn tôi trong chốc lát, sau đành buông tiếng thở dài rồi :

                  - Thôi đừng giận nữa, ta cứu muội ấy.

                  Tôi kiếm cớ đuổi hết người hầu trong phòng A Độ ra ngoài, rồi vẫy tay gọi Cố Kiếm đứng ngoài cửa sổ. Từ bên ngoài, nhảy vọt vào trong mà hề gây tiếng động. Kiểm tra vết thương xong, gã bảo tôi:

                  - Kẻ nào ra tay ác độc, đến kinh mạch cũng đứt gần hết.

                  Thấy tôi rùng mình sợ hãi, gã tiếp lời:

                  - Nhưng ta vẫn có cách.

                  đoạn, mắt gã liếc qua tôi:

                  - Có điều, nếu ta cứu A Độ, muội định báo đáp thế nào đây?

                  Bụng dạ nóng như lửa đốt, tôi :

                  - Lúc này rồi mà huynh còn kiểu ấy! Huynh cứ cứu A Độ trước , cần bao nhiêu tiền bạc, tôi đưa.

                  khinh bỉ đáp:

                  - Ta cần tiền bạc làm gì? Muội coi thường ta quá đấy!

                  Tôi hỏi:

                  - Vậy huynh muốn gì?

                  cười cười:

                  - Trừ phi... trừ phi muội hôn ta.

                  Tôi suýt ngất xỉu, sao giống đàn ông lại thích gặm môi thế nhỉ?

                  Chẳng những Lý Thừa Ngân mà ngay cả gã cao thủ thoát tục Cố Kiếm này cũng vậy ư?

                  Tôi nghiến răng nghiến lợi tiến lại gần, ôm bờ vai gã, kiễng chân gặm môi gã hồi.

                  ngờ lại đẩy phắt tôi ra, gắt hỏi:

                  - Ai dạy muội cái trò này?

                  Tôi lấy làm khó hiểu:

                  - Gì cơ?

                  - Trước kia muội chỉ biết thơm má ta thôi, kẻ nào dạy muội? - Gã sầm mặt. - Lý Thừa Ngân?

                  Chỉ sợ gã giở chứng chịu cứu A Độ nữa, tôi bèn bấm bụng dám cãi nhau với .

                  Mặt gã đanh lại:

                  - Muội để Lý Thừa Ngân hôn muội ư?

                  Lý Thừa Ngân là chồng tôi, chẳng lẽ lại được hôn? Thực ra tôi rất sợ Cố Kiếm, sợ gã tức lên giết Lý Thừa Ngân. Gã gồng mình, chỉ e phát điên bất cứ lúc nào, sắc mặt cực kỳ khó coi, ánh mắt bám xoáy vào tôi.

                  Tôi cáu tiết, gắt lên:

                  - Chính huynh cũng rồi đấy thôi, xưa kia tôi đợi huynh ba ngày ba đêm, là do huynh đến đấy chứ! Bây giờ thôi tới việc tôi quên sạch mọi chuyện, nhưng giả sử tôi vẫn còn nhớ chúng ta cũng đâu thể ở bên nhau, tôi lấy người khác rồi. Nếu huynh tình nguyện cứu A Độ rồi mau cứu , còn thôi, tôi cũng chẳng ép huynh, ngoài ra bao giờ có chuyện tôi phản bội phu quân của mình. Con Tây Lương chúng tôi tuy giống con Trung Nguyên đề cao trung trinh tiết liệt, nhưng tôi lấy Lý Thừa Ngân rồi chàng chính là chồng tôi, cần biết chúng ta trước đây thế nào, bây giờ giữa tôi và huynh còn gì nữa.

                  Cố Kiếm nghe xong liền giật lùi bước, tôi có cảm giác trong đôi mắt ấy chứa đầy vẻ phẫn nộ và xót xa nào đó lên lời chăng?

                  Song tôi bấm bụng mặc kệ tất thảy. Từ lâu tôi muốn để Cố Kiếm hiểu. Lý Thừa Ngân tử tế hay , với tôi cũng thế cả thôi, tôi lấy vì Tây Lương, cứu tôi thoát chết trong gang tấc, thực lòng tôi nên phản bội .

                  Tôi :

                  - Thôi huynh , tôi cần huynh cứu A Độ nữa.

                  Bất thình lình, gã buông tiếng cười;

                  - Tiểu Phong... ra đây là báo ứng.

                  Gã đỡ A Độ dậy, áp lòng bàn tay lên lưng A Độ, bắt đầu trị thương.

                  Trời sắp sập tối rồi mà Cố Kiếm vẫn mải chữa trị cho A Độ. Tôi ngồi án ngữ trước cửa, chỉ sợ có người xông vào quấy rầy bọn họ. Chỉ có điều mấy ngày rồi tôi được giấc ngủ ngon, tôi tựa vào cột trụ, mơ màng ngủ gật, may mà chỉ chợp mắt được chốc lát, sau cái cộc đầu vào cột tỉnh luôn. Thấy Cố Kiếm bước ra, tôi hỏi:

                  - Sao rồi?

                  Gã đáp câu nhạt nhẽo:

                  - Chết sao được!

                  Tôi chạy vào xem A Độ nằm giường, sắc mặt muội ấy khá hơn, tôi bèn thở phào nhõm.

                  Tôi luôn miệng cảm ơn Cố Kiếm, gã vẫn lầm lì gì, sau đó rút từ trong ngực áo ra bình thuốc rồi đưa tôi:

                  - Muội Lý Thừa Ngân bị thương rất nặng đúng , thuốc này trị thương ngoài rất hiệu nghiệm, cho dùng xem sao.

                  Chẳng hiểu sao bỗng nhiên gã lại tốt bụng đến thế. Chắc bởi mặt tôi thoáng vẻ ngờ vực, gã liền cười khẩy:

                  - Sao thế, sợ ta hạ độc à? Vậy trả đây.

                  Tôi cuống quýt giấu bình thuốc vào ngực áo:

                  - Đợi khỏe lại, tôi trả ơn huynh sau.

                  Cố Kiếm cười gằn, :

                  - cần cảm ơn ta, ta chưa định dừng lại đâu. Đợi khỏe lại, ta mới giết . Xưa nay ta quen xuống tay với kẻ yếu thế, lúc khỏi mới là lúc mất mạng.

                  Tôi lè lưỡi với gã:

                  - Tôi biết huynh làm thế đâu, đợi vết thương của đỡ hơn, tôi mời huynh uống rượu.

                  Cố Kiếm nhùng nhằng với tôi thêm nữa, phẩy tay cái biến mất.

                  Mặc dù thế nhưng tôi vẫn đưa bình thuốc cho ngự y kiểm tra. Bọn họ lấy thuốc ra ngửi thử, ngắm thử, mãi vẫn hiểu đó là thứ gì, cũng dám cho Lý Thừa Ngân dùng bừa. Tôi do dự hồi lâu, sau mới trốn ra chỗ vắng, lấy ít thuốc bôi thử lên cánh tay mình, ngoài cảm giác mát mát ra, tôi cũng chẳng thấy có gì khác thường, hôm sau thức giấc liền rửa sạch, da chỗ đó trơn láng, vấn đề gì cả. Tôi thấy yên tâm phần nào, võ công của gã Cố Kiếm này rất cao cường, mấy kẻ cái thế chắc hẳn phải có ít linh đơn thần dược, chưa biết chừng bình thuốc này là của hiếm. Sang ngày hôm sau, nhân lúc ai để ý, tôi lén bôi ít thuốc lên vết thương của Lý Thừa Ngân.

                  Cũng vì thuốc này hiệu nghiệm hay thuốc do Thái y viện kê phát huy công hiệu, dẫu sao, đến xế chiều ngày thứ tư, Lý Thừa Ngân có dấu hiệu hạ sốt.

                  Ai nấy đều thở phào nhõm khi biết tin hạ sốt. Có người khuyên tôi về chợp mắt lúc. Tôi mơ màng chưa được bao lâu, Vĩnh Nương hốt hoảng gọi tôi dậy, bà ấy :

                  - Thái tử Điện hạ có chuyện rồi.

                  Tôi vội vàng qua tẩm điện của Lý Thừa Ngân, bên đó ít người. Thái y thấy tôi vào vội vã nhường đường, tôi bước đến bên giường, chỉ thấy sắc mặt Lý Thừa Ngân trắng nhợt, thở dồn dập từng cơn, miệng vết thương rỉ ra nhiều mủ, mà vẫn hôn mê bất tỉnh, tuy cơn sốt thuyên giảm nhưng sao hơi thở càng lúc càng yếu ớt...

                  Thái y chẩn đoán:

                  - Phế [3] của Điện hạ bị thương, bây giờ phong tà phạm vào mạch, vô cùng nguy hiểm.

                  [3] Phế: phổi.

                  Bấy giờ, những người có mặt trong điện đều tỏ ra hoang mang, sợ hãi. Tôi hiểu lắm, hay do thuốc trị thương có vấn đề? Hoàng thượng cũng phái người đến, song tất cả các thái y đều lực bất tòng tâm, chẳng còn cách nào khác. Thế mà lòng tôi lại yên ổn trở lại, tôi ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường, nắm chặt tay Lý Thừa Ngân, bàn tay ấy lạnh lẽo, tôi dùng bàn tay mình ủ ấm tay .

                  Thái y gì đó, tôi cũng chẳng để tâm. Đêm về khuya, trong điện thưa dần bóng người. Vĩnh Nương choàng thêm cho tôi tấm áo khoác, lúc ấy tôi nhoài người bên giường Lý Thừa Ngân, ngắm nhìn hề chớp mắt.

                  cũng đẹp trai đấy, lần đầu tiên gặp Lý Thừa Ngân, tôi thấy khá ưa nhìn. Cặp lông mày đen, rậm, sống mũi thẳng tắp, da mặt còn trắng trẻo như ngọc Hòa Điền, tuy trắng bóc nhưng hề giống con , trắng kiểu thư sinh, thô sạm như da đàn ông Tây Lương của tôi. Khuôn mặt có khí chất ôn hòa của sông núi Trung Nguyên, mang nét đặc trưng của đất Thượng Kinh...

                  Đột nhiên tôi nhớ tới chuyện, liền bảo Vĩnh Nương:

                  - Sai người thả Triệu Lương đệ ra, bảo ả đến thăm Thái tử Điện hạ.

                  Tuy Triệu Sắt Sắt bị phế thành thứ dân nhưng tôi vẫn quen miệng gọi là Triệu Lương đệ. Vĩnh Nương chau mày, bối rối thưa:

                  - Bây giờ Đông cung náo loạn thế này, ả họ Triệu kia lại có liên quan tới Hoàng hậu... Nô tì thấy, chưa có chỉ thị của Bệ hạ, Thái tử phi nên...

                  Rất ít khi tôi gắt lên với Vĩnh Nương:

                  - Bây giờ Lý Thừa Ngân ra nông nỗi này rồi, hằng ngày quý Triệu Lương đệ nhất, sao để Triệu Lương đệ đến thăm lần? Vả lại Triệu Lương đệ bị vu oan cơ mà? là vu oan, cớ sao để ả đến thăm Lý Thừa Ngân?

                  Vĩnh Nương quen kiểu tôi lôi cả họ tên Lý Thừa Ngân này Lý Thừa Ngân nọ ra mà gọi, song vẫn còn bỡ ngỡ với thái độ gắt gỏng ra oai kiểu Thái tử phi của tôi, khỏi lưỡng lự. Tôi đanh mặt tỏ vẻ kiên quyết, bà ấy bèn sai người .

                  Mấy ngày gặp, Triệu Lương đệ gầy rộc . Trước đây ả vốn đầy đặn, nở nang, giờ đây héo hon nhiều. Ả mang thân phận thứ dân nên chỉ ăn mặc đơn giản, nom liễu yếu đào tơ. Ả quỳ xuống bái chào tôi xong, tôi :

                  - Điện hạ lâm trọng bệnh, gọi muội đến là để vấn an người.

                  Triệu Lương đệ ngẩng phắt lên nhìn tôi, nước mắt lưng tròng. Thấy ả khóc, cổ họng tôi cũng nghẹn ngào khó chịu, tôi :

                  - Muội vào , nhưng cũng đừng có khóc.

                  Triệu lương đệ quệt nước mắt, lí nhí thưa:

                  - Vâng!

                  Ả vào lúc lâu, quỳ trước giường bệnh của Lý Thừa Ngân, về sau vẫn bật khóc nức nở, nước mắt ả rơi làm tôi thêm ngán ngẩm. Tôi ra bậc tam cấp ngoài cửa ngồi, ngước nhìn bầu trời.

                  Trời đêm đen tựa màn nhung dát nạm đầy những vì tinh tú.

                  Tôi nghĩ mình đáng thương, như kẻ thừa thãi.

                  Lúc ấy có người bước lại gần, khom mình vái lạy:

                  - Bẩm Thái tử phi!

                  Áo giáp người gã phát ra tiếng lanh lảnh êm tai. Thực ra lúc ấy tôi muốn gặp bất kỳ ai, nhưng Bùi Chiếu từng cứu tôi mấy lần, tôi nỡ phớt lờ, bèn cố nặn ra nụ cười:

                  - Bùi Tướng quân đấy à?

                  - Gió đêm rất lạnh, xin Thái tử phi chớ ngồi ở nơi có gió lùa.

                  Nơi đây lạnh , tôi buộc lại áo khoác người, hỏi Bùi Chiếu:

                  - Ngươi có phu nhân chưa?

                  Bùi Chiếu thoáng ngẩn người:

                  - Tại hạ vẫn chưa thành thân.

                  - Trung Nguyên các ngươi luôn đề cao cái gọi là cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Thực ra như thế chẳng hay ho gì, người Tây Lương chúng ta, nếu tâm đầu ý hợp, chỉ cần bắt đôi chim nhạn, lấy vải bố gói gọn, gửi sang nhà coi như dạm hỏi, chỉ cần con mình bằng lòng, cha mẹ cũng nỡ ngăn cản. Bùi Tướng quân này, mai kia ngươi thành thân, nhất định phải lấy người mình , mình khổ, mà người kia cũng chẳng vui vẻ gì.

                  Bùi Chiếu nín lặng đáp.

                  Tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy sao, ngậm ngùi thở dài:

                  - Ta thấy nhớ Tây Lương.

                  Thực ra tôi biết, hẳn vì nhớ Tây Lương, mà do nỗi buồn đong đầy trong tim. Mỗi lúc buồn tôi lại nhớ về Tây Lương.

                  Bùi Chiếu cất tiếng ôn tồn:

                  - Nơi này gió lạnh, hay là Thái tử phi vào điện ngồi...

                  Tôi ỉu xìu:

                  - Thôi, tốt nhất đừng vào, Triệu Lương đệ ở trong đó. Nếu Điện hạ tỉnh lại, thấy ta vào phá đám, hẳn vui. Bây giờ Điện hạ hôn mê bất tỉnh, cứ để Triệu Lương đệ ở bên người lúc, nếu người biết, có lẽ sức khỏe khá hơn.

                  Bùi Chiếu thôi gì nữa, lùi lại mấy bước, đứng kế bên tôi. Tôi chuyện với Bùi Chiếu nữa mà chống cằm suy nghĩ, giả sử Lý Thừa Ngân tỉnh lại, biết Triệu Lương đệ bị oan, ắt hẳn vui mừng lắm. Lúc ấy Triệu Lương đệ được khôi phục thân phận, lúc ấy tôi lại trở thành kẻ “chướng tai, gai mắt” trong Đông cung.

                  Ít nhất tôi cũng khiến Lý Thừa Ngân thấy chướng mắt.

                  Lòng dạ tôi bồn chồn yên, mũi chân di loạn xạ mặt đất. bao lâu sau Vĩnh Nương ra, khẽ bẩm:

                  - Để Triệu Sắt Sắt nán lại lâu cũng bất tiện, nô tì sai người đưa thị về rồi ạ!

                  Tôi thở dài.

                  Vĩnh Nương đoán được ý tôi, lại rỉ tai tôi :

                  - Xin Thái tử phi yên tâm, vừa nãy nô tì túc trực bên cạnh Điện hạ, ả họ Triệu kia sụt sùi từ đầu chí cuối, năng gì.

                  Đâu phải tôi bận tâm những chuyện ả gì với Lý Thừa Ngân, dù ả năng gì Lý Thừa Ngân vẫn quý ả kia mà.

                  Bùi Chiếu khom người hành lễ với tôi:

                  - Hôm nay Thái tử phi vất vả nhiều rồi, xin người giữ gìn sức khỏe!

                  Tôi uể oải đứng dậy, :

                  - Vậy ta vào đây!

                  Tôi quay người bước vào điện sau cái vái chào của Bùi Chiếu. Chợt có cơn gió tạt ngang mang theo hơi lạnh buốt, vừa nãy có thế đâu nhỉ? Tôi chợt nghĩ, chắc lúc nãy nhờ có Bùi Chiếu đứng chắn ở đầu hướng gió.

                  Bất giác tôi ngoái lại nhìn, thấy Bùi Chiếu lui xuống bậc tam cấp, ánh mắt mải ngóng theo bóng lưng mình. Chắc gã bất ngờ vì tôi bỗng ngoảnh lại, bốn mắt nhìn nhau khiến gã có vẻ bối rối, vội nhìn lảng nơi khác, như thể vừa làm chuyện gì sai trái.

                  Song tôi chẳng bận tâm vì sao Bùi Chiếu lại kỳ quặc thế. Tôi bước vào điện, thấy mặt mày ai nấy đăm chiêu, ủ dột, tôi cũng khỏi rầu rĩ.

                  Lý Thừa Ngân vẫn hôn mê bất tỉnh. Ngự y vòng vo mấy câu, tôi cũng hiểu ra phần nào, cứ nằm im tỉnh thế này, chỉ e khó mà qua khỏi.

                  Tôi cũng hết cách, biết phải làm sao. Cánh tay Lý Thừa Ngân dặt ngoài lớp chăn bông, cánh tay xanh xao, nhợt nhạt. Tôi xoa bàn tay , vậy mà vẫn lạnh ngắt.

                  mấy ngày chưa được chợp mắt, người mệt mỏi, bải hoải, tôi ngồi xuống ghế gác chân, bắt đầu lải nhải tâm với Lý Thừa Ngân. Trước đây, chưa bao giờ chúng tôi trò chuyện, giữa hai người chỉ toàn lục đục và cãi vã. Lần đầu tiên mình gặp là khi nào ấy nhỉ? Đêm tân hôn, nhấc bỏ chiếc khăn đầu tôi, tôi trùm khăn suốt buổi tối, bí bách đến khó chịu. Khăn voan được nhấc lên, trước mắt sáng lóa, ánh nến lung linh soi rọi khắp phòng, chảy tràn khuôn mặt, thân người . mặc áo bào đen thêu rất nhiều hoa văn tinh xảo. Mấy tháng trước đó, dưới đôn đốc của Vĩnh Nương, tôi thuộc làu quyển Điển lễ, giờ hiểu đấy là chín chương [4] thêu áo đen và xiêm [5] cam. Năm chương áo gồm rồng, núi, chim trĩ, lửa, tôn di [6] ; rau tảo, gạo trắng, phủ [7] , phất [8] hợp thành bốn chương xiêm. Áo trung đơn [9] bằng sa trắng, cổ phủ [10] , viền xanh đen, có soạn [11] và tà áo. Thắt đai da, móc vàng sáng chói, dây đai bản to, màu trắng lót đỏ, viền đỏ xanh, khuy đan bện. Áo tế đồng màu với xiêm, gồm hai chương là núi và lửa.

                  [4] trang phục và mũ miện của vua quan đều có vẽ hình nhật nguyệt, rồng, núi, chim trĩ... được gọi là chương.

                  [5] Y phục thời xua chia ra thành hai phần: là áo, dưới là xiêm. Xiêm tức là váy.

                  [6] Tôn di là loài thú hình dáng nửa khỉ nửa hổ có đuôi dài, thường được thêu y phục của thiên tử thời xưa, tượng trưng cho chữ Hiếu.

                  [7] Phủ: áo lễ có thêu hoa văn nửa đen nửa trắng (thời xưa).

                  [8] Phất: hoa văn nửa đen nửa xanh (thêu lễ phục thời xưa).

                  [9] Trung đơn là lớp áo mặc trong lớp áo thụng thời xưa.

                  [10] Cổ phủ là cổ áo có hoa văn màu trắng, đen tương phản.

                  [11] Soạn là viền dát nạm y phục.

                  mặc áo cổn, mũ miện của dịp đại lễ, ngọc trắng rủ chín chuỗi, kết thành tua, màu như lụa, bông tơ xanh che tai, trâm cài sừng tê... tôn lên vẻ khôi ngô, tuấn tú, dáng vẻ đường hoàng.

                  Cân đai mũ mão của Thái tử Trung Nguyên cũng phức tạp, tôi nhớ hồi học Điển lễ, phải đọc đọc lại mới nhớ được đoạn này, thậm chí có nhiều chữ tôi cũng chẳng biết là gì.

                  Ngẫm lại hồi đó tôi thích , vậy mà chẳng hề thích tôi. nhấc khăn đội đầu xong, thèm uống với tôi ly rượu hợp cẩn [12] mà cứ thế quay gót bỏ .

                  [12] Rượu hợp cẩn là chén rượu vợ chồng uống chung trong đêm tân hôn.

                  Thú thực, bỏ làm tôi cả người, lúc đó tôi thầm nghĩ, biết mình có quen ngủ cạnh người đàn ông xa lạ .

                  Vĩnh Nương ngồi với tôi suốt cả buổi tối hôm đó, bà ấy sợ tôi nhớ nhà, lại sợ tôi giận, mấy lần phân trần bảo gần đây Thái tử Điện hạ bị cảm, chắc Điện hạ sợ lây bệnh cho Thái tử phi.

                  Thế mà cảm suốt ba năm.

                  Ở Đông cung này, mình tôi trơ trọi trong nỗi đơn.

                  Tôi thân mình từ nơi xa xôi nghìn trùng đến được đây, tuy có A Độ cùng nhưng muội ấy biết , nếu có những cuộc cãi vã với Lý Thừa Ngân, chắc tôi càng đơn.

                  Giờ sắp về chầu trời, tôi mới nhớ đến những mặt tốt của . Tôi vắt óc để nhớ rồi kể hết những chuyện trước kia. Tôi chỉ sợ bây giờ chết , sau này tôi còn cơ hội với nữa. Có nhiều thứ tôi tưởng mình quên nhưng thực ra vẫn còn nhớ. Thậm chí tôi còn nhớ nguyên mấy câu cãi vã mỗi lần tôi và hục hặc, tôi kể hết cho nghe, cho biết lúc ấy tôi tức thế nào, tức muốn chết, song tôi toàn cố tình giả lơ, tôi biết cứ giả vờ như để bụng là thắng được , lần nào Lý Thừa Ngân cũng tức đến nghẹn họng.

                  Lại chuyện dải lụa uyên ương, vụ đó khiến tôi muối mặt, Hoàng hậu còn giáo huấn tôi trận.

                  Tôi cứ huyên thuyên hồi, chẳng biết vì sao mình phải thế, biết đâu là vì sợ, có lẽ tôi sợ Lý Thừa Ngân còn đời này nữa. Đêm thâu vắng lặng, ánh nến đằng xa hắt lên màn, nội điện quạnh quẽ, có thứ gì đó ngăn cách tất cả, là màn đêm mịt mùng hay tiếng khắc lậu [13] lẻ loi, để tôi ngồi đây lảm nhảm tự tự nghe?

                  [13] Khắc lậu là đồng hồ nước ngày xưa dùng để đo thời gian (chỉ giờ), thân đồng hồ có khắc độ để tính.

                  Thú thực tôi rất sợ lâm vào cảnh góa bụa. Ở Tây Lương, phụ nữ góa chồng buộc phải tái hôn với em chồng, như Công chúa Minh Viễn của Trung Nguyên thoạt đầu được gả cho bá phụ tôi, sau này mới tái giá với cha tôi. Mặc dù Trung Nguyên có tập tục ấy, nhưng cứ nghĩ đến chuyện Lý Thừa Ngân sắp vĩnh viễn ra là tôi lại run lên. mà ra , nhất định tôi buồn hơn rất nhiều. Tôi lập tức ngăn mình thôi suy nghĩ linh tinh nữa, rồi tranh thủ kể thêm mấy câu chuyện vô thưởng vô phạt.

                  Tôi cũng chẳng ngờ, hóa ra tôi ghét Lý Thừa Ngân như tôi vẫn tưởng. Dù hay chọc tôi tức điên đấy, nhưng ba năm qua, số lần chúng tôi gặp nhau có thể đếm đầu ngón tay, ngoại trừ mấy lần giận cá chém thớt với tôi vì Triệu Lương đệ trước đây, chúng tôi cũng thường xuyên cãi vã. Có khi hằm hè nhau, tôi lại thấy quen...

                  Còn vụ chép sách nữa, tuy tôi ghét chép sách nhất trần đời, nhưng cũng nhờ mấy lần bị phạt chép quá nhiều sách mà vốn từ Trung Nguyên của tôi bây giờ khá hơn nhiều. Nhờ bị phạt chép sách cả đấy, nào là Nữ huấn, Nữ giới, chép nhiều quá nên tôi thuộc làu. Còn nữa, chuyện này tôi chưa kể cho ai biết đâu, ấy là trong sách có nhiều chữ tôi biết, cũng biết đọc thế nào, nhưng tôi vẽ lại y nguyên từng nét , thế là chẳng ai biết thực ra tôi biết chữ ấy.

                  Nhắc mới nhớ chữ “Ngân” trong “Lý Thừa Ngân”, chữ này cũng kỳ lạ chẳng kém, hồi đầu thấy nó, tôi cứ tưởng đó là chữ “Cần”... Tôi tự hỏi rốt cuộc chữ này là sao nhỉ? Nghe người Trung Nguyên rất coi trọng chuyện đặt tên, sao lại có cái tên đó nhỉ?

                  - Ngân Châu...

                  Tôi độc thoại từ bấy đến giờ, tự nhiên có người lên tiếng đáp lời, tôi mới buột miệng hỏi:

                  - Hả? Ngân Châu nào?

                  - Thái tổ Hoàng đế nguyên gốc Ngân Châu... phía đông Trung Châu, phía nam Lương Châu... địa thế rồng chầu hổ phục... cho nên... ta mới tên là Thừa Ngân...

                  Tôi há hốc miệng nhìn kẻ nằm thoi thóp giường, giọng rất nhưng câu chữ rành rọt, tinh thần cũng có vẻ tỉnh táo. Tuy mắt khép hờ nhưng vẫn nhìn thẳng vào tôi.

                  Tôi nghệt mặt lúc lâu, rồi giật nảy mình, hét toáng lên:

                  - Á!

                  Giọng tôi hẳn phải kinh khủng lắm nên ngay sau đó mọi người xồng xộc xông vào. Thái y tưởng tình trạng của Lý Thừa Ngân chuyển biến xấu liền quáng quàng lao tới:

                  - Điện hạ sao rồi? Điện hạ sao rồi?

                  Tôi chỉ vào Lý Thừa Ngân, líu lưỡi :

                  - Điện hạ... Điện hạ...

                  Lý Thừa Ngân nằm giường, mặt mày vô cảm nhìn xoáy vào tôi. Thái y cả mừng, sụt sùi :

                  - Điện hạ tỉnh rồi! Điện hạ tỉnh rồi! Mau, mau sai người vào cung bẩm báo Bệ hạ! Thái tử Điện hạ tỉnh lại rồi...

                  Đông cung nháo nhào cả lên, ai cũng phấn chấn, hồ hởi. Ngự y , chỉ cần Lý Thừa Ngân có thể tỉnh lại, vết thương đáng ngại nữa. Đám người của Thái y viện người ngào người nấy rạng rỡ cười vui, bọn cung nữ mặt tươi như Tết, náo nức loan báo khắp nơi. Ngự y bắt mạch lần nữa, cân nhắc kê đơn thuốc mới. Nửa đêm nửa hôm họ tất bật chạy tới chạy lui, nhao nhao như bầy ong vỡ tổ, còn tôi chỉ muốn lăn ra ngủ.

                  Tôi mình thiếp từ lúc nào, chỉ nhớ lúc ấy ngự y vẫn rì rầm to gì đó bên tai. Lúc tỉnh dậy thấy mình nằm sấp gần mép giường, người đắp ngay ngắn tấm chăn bông. Chân tôi tê rần do nằm lâu, tài nào thu lại được, khẽ cựa mình cái, xương cốt toàn thân kêu răng rắc... Tôi đánh giấc ngon lành, thậm chí còn nước miếng lên tay áo Lý Thừa Ngân, ấy... tay áo của Lý Thừa Ngân!

                  Hóa ra tôi nằm bò bên mép giường của , gác cằm lên tay , ngủ suốt đêm. Trong nội điện lặng ngắt như tờ, bóng người, Lý Thừa Ngân nằm bên, cười mà như nhìn tôi.

                  Nom mặt là biết tai qua nạn khỏi. Đến lượt tôi trầy trật toan gập cái chân tê rần lại, thử rồi mới biết chỉ tốn công, vật lộn mãi mà đứng lên được, lại còn phần eo... Trời sáng , chỗ thắt lưng tôi vừa mỏi vừa đau nhức, giống như bị xe ngựa nghiền xéo cả đêm qua. Sau này tôi bao giờ ngủ kiểu này nữa.

                  Cố mãi được, cuối cùng tôi đành chống tay xuống giường ngồi dậy, tính duỗi chân thử xem, phân vân biết nên gọi người vào đỡ mình, hay ngồi nghỉ lúc cho chân bớt tê rồi hãy duỗi thử chợt nghe Lý Thừa Ngân hỏi:

                  - Nàng định đâu?

                  - Về ngủ tiếp...

                  Đến lưỡi tôi cũng tê, mở miệng suýt nữa cắn phải lưỡi, nguy hiểm!

                  - Ai bảo nàng bạ đâu ngủ đấy, nằm sấp mà cũng ngủ được, gọi mãi dậy.

                  Tôi kìm nén ném cho cái lườm, tên này vừa mới tỉnh lại mà có sức gây với tôi rồi.

                  vỗ vỗ xuống chỗ trống bên cạnh mình.

                  - Làm cái gì đấy?

                  - Chẳng phải nàng buồn ngủ sao? Dù sao giường cũng đủ rộng.

                  Đúng là rộng . Giường của Lý Thừa Ngân rộng hơn hẳn mấy chiếc giường bình thường, tám, mười người nằm đó vẫn đủ chỗ. Hiềm nỗi vấn đề phải ở đó, mà ở chỗ... Tôi ngờ vực hỏi:

                  - Điện hạ muốn ngủ chung với thần thiếp à?

                  ra vẻ phật ý:

                  - Có phải chưa từng ngủ chung đâu.

                  cũng đúng thế .

                  Lúc này, quả thực tôi buồn ngủ díp cả mắt, tôi nhanh chóng bò lên giường. Lý Thừa Ngân định nhường cho tôi nửa cái chăn, nhưng tôi sợ chạm vào vết thương người , bèn đưa tay lấy chăn ở cuối giường đắp tạm, rồi cứ thế ngủ ngon lành.

                  Lúc lâu sau Vĩnh Nương khẽ gọi tôi dậy, tôi rón rén choàng áo lên người. Vĩnh Nương thầm với tôi rằng, ý chỉ phế truất Hoàng hậu cuối cùng được bố cáo toàn dân, bên cạnh đó còn nghe Thái hoàng thái hậu ra mặt dẹp yên lòng người, hậu cung nay vẫn rất bình yên.

                  Kèm theo thánh chỉ phế bỏ ngôi vị hoàng hậu, Hoàng cung còn soạn thánh chỉ riêng, ấy là phục hồi thân phận cho Triệu Sắt Sắt, với lý do ả bị vu oan.

                  Tôi ngao ngán liếc nhìn Lý Thừa Ngân vẫn say giấc giường. Do bị thương nặng nên mấy ngày nay sắc mặt nhợt nhạt, cắt còn giọt máu, người cũng gầy thấy , thậm chí quầng mắt còn xuất vầng xanh xám.

                  Tôi bảo Vĩnh Nương:

                  - Phái người gọi Triệu Lương đệ về chăm sóc Thái tử Điện hạ.

                  Nơi này vốn thuộc về tôi, tôi trơ lì ở đây mấy ngày nay rồi.

                  đợi Vĩnh Nương kịp tấu thêm, tôi bước ra khỏi điện, sai người chuẩn bị xe.

                  Tôi về tẩm điện của mình, cảm giác buồn ngủ trốn đâu biết. Bụng bảo dạ chắc ngủ chán rồi, tôi nhìn mình trong gương, giá như tôi xinh đẹp hơn chút, liệu Lý Thừa Ngân có thích tôi ?

                  Ban đầu tôi cũng chẳng bận tâm Lý Thừa Ngân có thích tôi hay , song trải qua đại nạn này, tôi mới chợt nhận ra mình rất hay để bụng. Giờ tỉnh rồi, tôi lại mong mến mình. Bởi khi tưởng như hấp hối, tôi mới hiểu ra tôi thích nhiều lắm.

                  Thế mà trong lòng chỉ có Triệu Lương đệ.

                  Xưa kia, chưa bao giờ tôi bâng khuâng nhường này.

                  Ăn chẳng buồn ăn, ngủ chẳng buồn ngủ, ngày nào tôi cũng ngồi bần thần mình.

                  Triệu Lương đệ dọn về nơi ả sống trước kia. Thái hoàng thái hậu bù đắp khá hậu hĩnh cho những gì ả từng chịu đựng, chẳng những ban thưởng nhiều vàng bạc, châu báu, mà cha ả mới đó cũng được thăng quan. Kẻ nịnh bợ ả mỗi lúc nhiều. Bên ấy ngày nào cũng náo nức như mở hội, thỉnh thoảng tôi qua còn thấy văng vẳng tiếng cười, tiếng đàn sáo, hát ca sau bức tường...

                  Vết thương của Lý Thừa Ngân có lẽ tạm ổn, tuy bặt tăm hơi kể từ đó, nhưng có lần tôi nghe tiếng cười.

                  Cười sảng khoái nhường này, chắc khỏe rồi đây.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      justify;" align="Chương 5





                  Hôm trời đổ tuyết có hai chuyện cùng xảy ra. là trong cung truyền chỉ, Hoàng thượng ban hôn Công chúa Lạc Hy cho Bùi Chiếu; hai là Tự Nương được đưa về Đông cung.

                  Bùi Chiếu có gia thế khá lớn, mẫu thân gã chính là trưởng Công chúa Bình Nam. Vĩnh Nương kể cho tôi nghe:

                  - Bùi Tướng quân sinh ra là để làm phò mã.

                  Nghe đâu người Trung Nguyên rất chú trọng chuyện này, vậy ra thân nay càng thêm thân.

                  Tôi chợt nhớ về giấc mơ mình hay mơ thấy trước kia, bỗng có cảm giác thất vọng. Sau này Bùi Tướng quân làm phò mã rồi, có lẽ còn được thăng quan tiến chức, nếu làm Kim ngô tướng quân ở Đông cung nữa về sau khó có dịp gặp.

                  Thoạt đầu bặt tiếng Lý Thừa Ngân, bây giờ, đến cả Bùi Chiếu cũng ít khi được gặp.

                  Vĩnh Nương thu xếp cho Tự Nương ở tòa viện phía tây, bà ấy nơi đó yên tĩnh, sức khỏe Tự Nương vốn yếu ớt, cần nơi nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.

                  Tôi cũng ngẫm ra là vì Lý Thừa Ngân thích ta nên Vĩnh Nương mới chọn nơi cách chính điện rất xa. Vĩnh Nương với tôi:

                  - Triệu Nương đệ là người sắc sảo, Thái tử phi nên đề phòng, tránh va chạm.

                  Vĩnh Nương gì, tôi hiểu lắm, nhưng cũng biết đại ý bà ấy bảo tôi nên lánh Triệu Nương đệ .

                  Đằng nào ở Đông cung này, tôi cũng chẳng thích thú gì cho lắm, may mà sức khỏe A Độ có phần hồi phục, chúng tôi tranh thủ lẻn chơi.

                  Hơn hai tháng trời ra ngoài, dẫu trời vừa đổ tuyết lạnh cóng nhưng vì là giáp Tết nên phố xá vẫn rất tấp nập, nhộn nhịp.

                  Người xuống phố như nêm, hàng quán mở ra ở khắp nơi, nào bán cây tuyết liễu, cờ xuân, nào bán đồ ăn vặt lẫn tranh Tết… chưa kể đến ca hát, tạp kỹ, múa rối, đốt pháo, dây… Đâu đâu cũng là người với người. Tính tôi vốn ham vui, từ xưa thích dắt A Độ hòa mình vào dòng người, ngắm nghía chỗ này lát, xem xét chỗ kia tẹo.

                  Thế mà hôm nay, chẳng hiểu vì sao tôi thể nào phấn chấn lên được. Lượn lờ lúc, tôi kéo A Độ tới quán Mễ La uống rượu.

                  Tửu quán vẫn tấp nập như thường ngày, từ đằng xa nghe tiếng cười ngân vang như tiếng chuông của Mễ La tỷ.

                  Bước vào mái lều trúc tôi mới biết, ra tỷ ấy cười với khách, mà vị khách ấy tôi cũng quen, chính là Bùi Chiếu.

                  Tôi ngẩn người nhìn, ngờ lại gặp Bùi Chiếu ở đây. Xem vẻ gã ngớ ra, chừng như cũng ngờ.

                  Thấy Bùi Chiếu mặc thường phục, bộ dạng thoải mái, tôi liền chắp tay chào hỏi:

                  - Chào Bùi công tử!

                  phản ứng mau lẹ, lập tức đáp lời:

                  - Lương công tử ghé chơi!

                  Quán chật ních người, chỉ có bàn Bùi Chiếu ngồi là còn chỗ trống. Theo thói phóng khoáng, quen khách sáo, tôi bảo A Độ ngồi xuống rồi gọi hai hũ rượu.

                  Có câu gì nhỉ… À… mượn rượu giải sầu…

                  Dẫu tôi có muôn nỗi sầu, nhưng trong lòng thấy chán chường quá chừng. Nốc cạn hai bát rượu, mới lấy lại được đôi phần lạc quan.

                  Tôi cầm đũa gõ bát, ngâm nga làn điệu dân ca của người Tây Lương chúng tôi:

      justify;" align="            “Có con cáo đơn,



      justify;" align="            Ngồi cồn cát ngắm trăng mình,



      justify;" align="            Cơ mà đâu phải ngắm trăng,



      justify;" align="            Cáo mong đợi nàng chăn dê.



      justify;" align="            Có con cáo bơ vơ,



      justify;" align="            Ngồi cồn cát thẩn thơ sưởi mình,



      justify;" align="            Nào đâu cáo muốn sưởi mình,



      justify;" align="            Cáo đợi mình cưỡi ngựa qua.’’



                  Mấy người trong quán vỗ tay lộp bộp, vậy mà lòng tôi đột nhiên ngao ngán lạ thường. Tôi nén được tiếng thở dài, lại uống cạn bát rượu, rồi đụng đũa nhắm món thịt dê thơm phức. A Độ níu áo tôi, tỏ ý khuyên tôi uống ít thôi, song tôi vẫn tảng lờ. Lúc tôi mải mê thưởng thức thịt dê, chợt vang lên thanh dìu dặt của kèn tất lật. Tôi ngước lên, thảng thốt nhìn Bùi Chiếu ngồi ở đầu bàn phía bên kia.

                  Chẳng hiểu cớ gì A Độ lại đưa cây kèn cho gã, gã say sưa thổi, giai điệu du dương ấy cứ tuôn ngừng.

                  Tôi chống cằm lắng nghe tiếng kèn.

                  Gã thổi tiếp bài dân ca tôi hát dang dở, hẳn là gã chưa từng nghe bài hát ấy, thế nên tiếng kèn dè dặt, tuy luật sai nhưng ngắc ngứ từng hồi, thổi lúc mới bắt đầu nhịp nhàng, trôi chảy. Làn điệu dân ca này vốn có tiết tấu vui tươi, rộn ràng, song chẳng hiểu sao, lần nào tôi nghe cũng thấy thắt lòng.

                  Bùi Chiếu thổi thêm điệu rồi mới đặt cây kèn xuống. Tôi uống cạn thêm bát rượu, hỏi gã:

                  - Ngươi giúp ta việc được ?

                  Bùi Chiếu vẫn khách khí với tôi:

                  - Xin công tử sai bảo!

                  - Ta chưa từng được lên lầu Chu Tước, ngươi có thể lén dẫn ta đến đó chơi ?

                  Nom vẻ mặt Bùi Chiếu thoáng lúng túng, tôi lẩm bẩm:

                  - Thôi, coi như ta chưa gì.

                  Chẳng ngờ Bùi Chiếu lại thưa:

                  - Lén hay lắm, nhưng vẫn có cách, có điều công tử phải giả làm tùy tùng của tại hạ, như thế e công tử phải khổ phen rồi.

                  Tôi lập tức phấn chấn, vỗ tay cười:

                  - Cái này có hề gì.

                  Tôi và A Độ đóng giả làm tùy tùng của Bùi Chiếu, nghênh ngang theo gã lên lầu Chu Tước.

                  Lầu Chu Tước là nơi cao nhất ở Thượng Kinh, cao hơn nhiều so với gác Lung Linh ở hồ Thái Dịch chốn Hoàng cung. Nơi đây chính là cổng chốt phía nam trong chín cổng thành của Thượng Kinh nên canh phòng hết sức nghiêm ngặt, ba bước chòi canh, năm bước đồn gác. Song Bùi Chiếu vẫn đưa tôi lên lầu thuận lợi, suôn sẻ.

                  Đứng lầu, gió phần phật táp vào mặt, gió tựa những nhát dao rát buốt cứa lên da thịt, nhưng có thể trông xuống nhà nhà treo đèn, kết hoa trong thành, cảnh tượng hùng vĩ vô cùng. Phố thị liền kề như bàn cờ bày ngay trước mắt, những quán xá rải rác khắp kinh thành, hệt bồn thạch tích tụ những ánh đèn. Phóng tầm mắt nhìn bao quát, thấy cả mái ngói lưu ly nơi Hoàng cung xa xăm trải dài màu xanh thâm trầm như đại dương chạm tới đường chân trời. Bùi Chiếu chỉ cho tôi xem:

                  - Đông cung ở kia.

                  Có ngắm được Đông cung hay , tôi nào có bận tâm. Tôi kiễng chân, chỉ muốn nhìn về nơi xa xăm.

                  Chỗ cao thế này cũng chẳng thể trông thấy Tây Lương.

                  Tôi tiu nghỉu, nhoài người tường trỗ, cất giọng ủ ê hỏi Bùi Chiếu:

                  - Ngươi có nhớ nhà ?

                  Phải lúc Bùi Chiếu mới thưa:

                  - Mạt tướng sinh ra và lớn lên ở kinh thành, chưa xa rời Thượng Kinh được mấy lần, thế lên chưa từng có cảm giác nhớ nhà.

                  Tôi ngẫm thấy mình chẳng ra sao, đành ngượng ngùng ngoái lại nhìn gã. Cổng thành nổi gió, cuốn tay áo choàng tung bay phất phơ. Bùi Chiếu đứng cách tôi khoảng xa, đến nỗi nơi thành lầu đèn đuốc ảm đạm, tôi thể nhìn ra thần sắc khuôn mặt gã. Tôi :

                  - Thổi điệu kèn cho ta nghe !

                  A Độ đưa kèn cho Bùi Chiếu, gã chậm rãi thổi, vẫn là khúc dân ca tôi mới hát.

                  Tôi ngồi bên bờ tường trổ, khẽ ngân nga theo tiếng kèn:

      justify;" align="            “Có con cáo đơn,



      justify;" align="            Ngồi cồn cát ngắm trăng mình,



      justify;" align="            Cơ mà đâu phải ngắm trăng,



      justify;" align="            Cáo mong đợi nàng chăn dê.



      justify;" align="            Có con cáo bơ vơ,



      justify;" align="            Ngồi cồn cát thẩn thơ sưởi mình,



      justify;" align="            Nào đâu cáo muốn sưởi mình,



      justify;" align="            Cáo đợi mình cưỡi ngựa qua.’’



                  Tôi biết, con cáo ấy chẳng đợi ai cả, mà nó rất nhớ nhà.

                  Bẵng lúc, cũng chẳng là bao lâu, tôi mới thôi lầm thầm, nhưng tiếng kèn vẫn văng vẳng, quấn quýt bên người. Làn điệu thân thương ấy khiến tôi thấy yên lòng, nhõm… Dẫu ở chốn cổng thành lạnh lẽo, tận đáy lòng tôi vẫn đọng lại chút ấm nồng, nơi ấy có tiếng gọi của Tây Lương, hơi thở của Tây Lương vẫn trọn vẹn ngay giữa lòng Thượng Kinh phồn hoa, rộng lớn này, nó là thứ duy nhất tôi thân quen, tôi thấu hiểu.

                  Mây ửng sắc vàng sà xuống ngay đầu, trăng sao chẳng thấy đâu, chỉ có gió quất da thịt, đau và rát. Giấc ngủ đến chập chờn, tôi ngáp cái rồi dựa vào A Độ.

                  Tiếng kèn nỉ non cất lên, tựa như làn sương mù mùa đông, dập dềnh trong cả những cơn mơ đưa tôi vào giấc ngủ.

                  Bỗng mặt buốt lạnh, tôi ngước đầu trông lên.

                  ra trời đổ tuyết, tuyết từ trời cao từ từ rơi xuống, hiểu gió ngừng thổi tự lúc nào, chỉ có tuyết đáp xuống trong câm lặng. Những bông hoa tuyết óng ánh nối đuôi nhau bung cánh xõa nở giữa đất trời. Trong thành lác đác ánh đèn của nhà dân, bốn bề như được phủ tấm mành tuyết trắng xóa.

                  Cuối cùng, Bùi Chiếu thu cây kèn lại, ra gã thổi liên tục từ bấy đến giờ. Gã ngưng lúc, cơn ho húng hẵng ào tới từng cơn, chắc hít phải khá nhiều gió lạnh. Gã cũng ngốc , tôi bảo ngừng là cứ thổi suốt, cũng chẳng sợ bị viêm phổi. Bùi Chiếu vẫn gồng mình dằn cơn ho, gã :

                  - Tuyết rơi rồi, mạt tướng hộ tống Thái tử phi về cung.

                  Tôi để ý có đốm tuyết mềm mại đậu lông mi gã, chớp mắt tan chảy.

                  Tôi ngoan cố bảo:

                  - Ta muốn về.

                  - Bẩm Thái tử phi…

                  - Đừng có gọi ta là Thái tử phi.

                  Bùi Chiếu chẳng hề nao núng, giọng điệu vẫn cung kính như thường ngày:

                  - Vâng, thưa nương nương!

                  Lòng thấy buồn tôi bèn hỏi gã:

                  - Ngươi thích Công chúa Lạc Hy à?

                  Bùi Chiếu sững sờ, đáp.

                  Tôi vỗ vai an ủi gã:

                  - Xem ra ngươi thích rồi! Chẳng ngờ ngươi cũng bị ép phải lấy người mình . Ôi chao, thương thay cho đàn ông Trung Nguyên! Chẳng qua ta cũng chỉ là chó chê mèo lắm lông. Lý Thừa Ngân thân là Thái tử, song thể phong người mình làm Thái tử phi, còn ngươi, hóa ra ngươi và đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu…

                  Vốn thành ngữ kém cỏi của tôi chỉ dùng ở mức tầm tầm, chẳng vậy mà sắc mặt Bùi Chiếu trở lên lúng túng, sau cùng chỉ đáp câu nhạt nhẽo:

                  - Vâng ạ!

                  Tôi khẳng khái khuyên:

                  - Đừng buồn nữa, ta mời ngươi chầu hoa tửu [1] !

                  [1] Hoa tửu: Ý chỉ yếu ẩm cùng kỹ nữ nơi kỹ viện

                  Hình như gã vừa bị sặc nên húng hắng ho chập. Tôi giở giọng điệu sành sỏi:

                  - Ta có bạn chí cốt ở phường Minh Ngọc! Xinh đẹp tuyệt trần! Hôm nay ngươi sướng rồi nhé!

                  - Bẩm Thái tử phi…

                  - Đừng có gọi ta là Thái tử phi nữa! – Tôi háo hức lôi kéo gã bằng được. – nào, nào! Ta dắt ngươi uống hoa tửu!

                  Hiển nhiên là Bùi Chiếu bao giờ biết tôi là khách quen ở những nơi đầy rẫy thói trăng hoa ấy. Gã sửng sốt khi tận mắt chứng kiến danh tiếng của tôi tại phường Minh Ngọc. Chủ yếu là bởi Vương đại nương vừa nhìn thấy tôi đon đả cười đón hệt như nhìn thấy bảo vật sống. Bà ấy níu chặt tay áo tôi:

                  - Ôi chao! Lương công tử đến đấy à? Mấy chị em lầu lầu dưới kia ơi, Lương công tử ghé chơi đây này!

                  Tuy Vương đại nương đẫy đà, phốp pháp nhưng giọng lanh lảnh, cao vút, vang vọng. Vừa dứt tiếng hô, cả phường Minh Ngọc bỗng xôn xao. Lầu lầu dưới, đám con xúng xính váy áo thướt tha, lũ lượt túa ra.

                  - Lương công tử đến rồi! Lương công tử ơi, sao bấy lâu nay thấy chàng ghé thăm? Lương công tử quên chúng em rồi chăng…

                  Tôi đứng giữa vòng vây của các , hả hê lắm:

                  - Đâu mà… làm gì có… Bữa nay ta tiện đường…

                  - Hừ! Hôm nọ Nguyệt Nương còn bảo, Lương công tử mà đến mau, chúng em đào sạch mười lăm vò rượu chàng cất ở đây, uống bằng hết thôi.

                  - À đó, dưới gốc cây mai vẫn chôn vò tuyết, Nguyệt Nương quả quyết rằng phải để dành pha trà mời chàng thưởng thức!

                  - Hôm nay khéo sao trời đổ tuyết, hay chúng ta lấy chỗ nước tuyết đó nấu rượu nhé!

                  - Hay quá, hay quá!

                  Mấy nàng nhao nhao làm tôi hoa mày chóng mặt, tôi hỏi:

                  - Nguyệt Nương đâu? Sao thấy tỷ ấy?

                  - Nguyệt Nương ấy à, ốm rồi!

                  Tôi rất đỗi ngạc nhiên:

                  - Ốm á?

                  - Vâng! Ngã bệnh tương tư rồi còn đâu!

                  - Bệnh tương tư á?

                  - Há lại ? Chuyện là, bữa nọ có vị khách quý đến đây uống chén trà, nghe đoạn hát rồi luôn, chẳng ngờ Nguyệt Nương lại vấn vương thương nhớ người ta.

                  - Kẻ nào lại có thể khiến Nguyệt Nương thầm mong trộm nhớ thế?

                  - Nom dáng dấp như con nhà quyền quý có ăn có học, tướng mạo tuấn tú, lời lẽ thanh tao, khí phách hiên ngang…

                  Nghe thôi biết chẳng phải chuyện đùa. Bao lần lê la quán trà nghe kể chuyện, chỉ thấy tiểu thư con nhà giàu ngầm trao duyên, ước hẹn chuyện trăm năm với các công tử, chứ nào nghe công tử sánh vai cùng làng chơi! Huống hồ Nguyệt Nương còn là kỹ nữ tài danh bậc nhất chốn phong lưu này, đám công tử quỵ lụy Nguyệt Nương nghìn cũng phải đến tám trăm, lý nào tỷ ấy lại đổ bệnh tương tư?

                  Tôi và Nguyệt Nương vốn là chỗ tỷ muội kết nghĩa, tôi liền lên lầu, đến phòng tỷ ấy hỏi thăm. Quả nhiên tỷ ấy vẫn thức, người uể oải dựa bên lồng hương, tay chống má, mắt đăm chiêu nhìn cây đèn cầy bàn, hiểu thả hồn về đâu.

                  Tôi gọi tên mụ của Nguyệt Nương:

                  - Thập Ngũ!

                  Thấy tôi, Nguyệt Nương vẫn thẫn thờ:

                  - Muội đến đấy à?

                  Tôi ướm hỏi:

                  - Tỷ mắc bệnh tương tư đấy à?

                  - Ôi, muội biết đâu, chàng cứ như người của cõi thần tiên!

                  - Muội với tỷ rồi, đàn ông đẹp mài ra ăn được đâu!

                  - Người ta những tuấn tú, khôi ngô, mà còn nho nhã, thanh tao… Đáng quý ở chỗ, chàng tỏ ý khinh bạc tỷ. – Nguyệt Nương si mê chắp tay trước ngực. – Xin trời cao phù hộ, ngày nào đó cho đôi ta được tương ngộ dẫu chỉ lần…

                  Tôi buột miệng ngắt lời:

                  - Hay cũng là giả trai? Ngày trước, khi tỷ biết muội là con , tỷ chẳng , muội hề có thái độ cợt nhả nên thoạt trông biết muội là con đấy thôi…

                  Nguyệt Nương chẳng vì thế mà dao động:

                  - Làm gì có chuyện chàng là nữ cải trang, trông khí phách chàng đường đường là đấng trượng phu… Chao ôi…

                  Tôi rỉ tai với Nguyệt Nương:

                  - Hôm nay muội dẫn Bùi Chiếu đến đây! Chẳng phải tỷ luôn nóng lòng muốn báo thù hay sao? Hay bày mỹ nhân kế gạt vào tròng, để giúp tỷ báo thù? Cha là đại tướng quân, lại là Kim ngô tướng quân, nghe đâu quyền thế nhà họ Bùi hiển hách lắm!

                  Nguyệt Nương ngán ngẩm lắc đầu:

                  - Vô ích thôi. Quyền lực trong tay Cao Vu Minh có sức áp đảo cả trong lẫn ngoài triều, lão làm tể tướng hơn hai mươi năm nay, môn sinh của lão rải rác khắp nơi, mà vây cánh cũng nhiều, dù là Bùi gia cũng khó lòng lật đổ được lão. Hơn nữa, tỷ nghe , Cao Quý phi chẳng mấy chốc trở thành Hoàng hậu.

                  - Cao Quý phi sắp là Hoàng hậu ư?

                  - Đúng vậy! phố người ta đồn rằng Bệ hạ phế bỏ Trương Hoàng hậu hòng đưa Cao Quý phi lên.

                  Tôi buộc phải thừa nhận, cái danh xưng thái tử phi của tôi có mà như , thậm chí tôi chẳng biết ai là người có khả năng được chọn làm hoàng hậu. Hơn nữa, xưa nay tôi chỉ gặp Cao Quý phi có hai lần, đều là lúc vấn an Hoàng hậu tình cờ gặp. Tôi vắt óc hồi lâu cũng chỉ nhớ mang máng, chẳng thể nào nhớ nổi hình dáng bà ta thế nào.

                  Tôi :

                  - Nếu tỷ được gặp Hoàng thượng để bày tỏ nỗi oan khiên của mình tốt quá!

                  Gia đình Nguyệt Nương trước đây cũng làm quan, về sau bị Cao vu Minh hãm hại khiến cả nhà bị tịch biên. Năm đó tỷ ấy chừng sáu, bảy tuổi, tuy may mắn thoát thân song lại bị bán vào chốn thanh lâu làm nghề ca kỹ. Ròng rã mấy năm trời, trong lòng tỷ ấy lúc nào cũng tâm niệm phải báo thù, lần đầu tiên tôi nghe tỷ ấy tâm cảnh đời của mình mà rơm rớm nước mắt. Thế rồi chúng tôi có chung nỗi đồng cảm, tiếc thay tôi lại giúp được gì.

                  Nguyệt Nương buông tiếng thở dài:

                  - Dẫu có cơ hội yết kiến Hoàng thượng e cũng chẳng ích gì… Ôi… Mà tỷ cũng chẳng muốn gặp Hoàng thượng… Trong lòng tỷ… bây giờ… chỉ… chỉ biết bao giờ mới có dịp tái ngộ người ấy.

                  Nguyệt Nương trông vậy mà đổ bệnh tương tư, đến báo thù nhà cũng quên hết, lại nhớ nhung gã công tử nọ.

                  Tôi xuống nhà, kéo Bùi Chiếu lên lầu, trong phường Minh Ngọc đâu đâu cũng có chậu than, ánh sáng ấm áp lan tỏa tạo nên cảm giác dễ chịu. Nguyệt Nương hổ là mỹ nữ đẹp nhất của phường Minh Ngọc, vừa vén tấm mành trước phòng tỷ ấy, mùi hương tỏa ra ngan ngát. Mấy túa ra, mực kéo chúng tôi vào trong. Bùi Chiếu có vẻ bỡ ngỡ, tôi liền xua hết mấy nàng xuống lầu, chỉ để Nguyệt Nương tiếp rượu chúng tôi.

                  Vui vẻ đến tận đêm thâu, bụng dạ đói meo. Đầu bếp của phường Minh Ngọc nấu ngon nổi tiếng, bằng tôi chẳng thường xuyên ghé qua đây. Thoạt đầu vì tâm đầu ý hợp với Nguyệt Nương, sau bởi chỗ tỷ ấy có rất nhiều món ngon.

                  Tôi ăn uống trận no say, cảm giác khó chịu, chán chường lúc ở lầu hứng gió, hứng tuyết đều trôi tuột xuống bụng. Nguyệt Nương ôm đàn tỳ bà, khẽ gảy những nốt nhạc uyển chuyển, rồi hát:

                  “Cả đời chưa biết tương tư.

                  Nên vừa tương tư, liền bệnh tương tư.

                  Thân tựa mây trôi, lòng như bông sợi.

                  Hơi thở yếu mềm tựa tơ vương…” [2]

                  [2] Trích bài Chiết quế lệnh- Xuân tình của Tử Tái Tư, đời Nguyên.

                  Giọng hát yếu ớt quả “tựa tơ vương” đúng là giọng ca của người mắc bệnh tương tư đây mà. Tôi liếc sang Bùi Chiếu:

                  - Sao ngươi ăn ?

                  - Công tử cứ tự nhiên, tại hạ đói.

                  Tôi phát ra, ít nhiều Bùi Chiếu tiến bộ hơn trước, ít nhất thôi mở miệng ra là mạt tướng thế này, mạt tướng thế nọ… Tôi nhấc đũa chỉ cho gã thấy:

                  - Món cá xắt lát ở đây ngon nhất, nhì Thượng Kinh, tẩm ướp gia vị được mang đến từ Ba Tư, tanh chút nào, ngươi nếm thử xem!

                  Tôi nhiệt tình giới thiệu món cá, vậy mà gã chẳng hề động đũa.

                  đường về cung, Bùi Chiếu đột nhiên hỏi tôi:

                  - Người con ban nãy, liệu có phải thân quyến nhà họ Trần ạ?

                  Tôi ngớ người chưa kịp hiểu, gã từ tốn hỏi lại:

                  - Nguyệt Nương gảy đàn tỳ bà vừa rồi, trước đây mang họ Trần phải ạ?

                  Tôi gật đầu, nhân tiện bộc bạch luôn chuyện nhà Nguyệt Nương đáng thương ra sao, tội nghiệp thế nào…

                  Thấp thoáng đằng xa thấy dãy tường cao chót vót của Đông cung, Bùi Chiếu chợt khựng lại, bất ngờ thưa:

                  - Bẩm Thái tử phi, mạt tướng có chuyện này, biết có nên hay

                  Tôi ghét nhất kiểu người ăn vòng vo, bèn :

                  - Có gì ngươi cứ !

                  Bùi Chiếu ngập ngừng lát rồi mới thưa:

                  - Trời sinh Thái tử phi bản tính hiền lương, Đông Cung lại là nơi đầy rẫy thị phi. Điện hạ thân là đương kim Thái tử, ắt có cái khó của người. Mạt tướng trộm nghĩ, Thái tử phi chớ nên giao thiệp với hạng người như Nguyệt Nương…

                  Chưa bao giờ tôi thấy Bùi Chiếu đáng khinh như lúc này, tôi cười khẩy, :

                  - Ta biết hoàng thân quốc thích các người luôn xem thường những như Nguyệt Nương, nhưng cấm ta chơi với bạn mình, chuyện đó e là thể! Ta giống kẻ lúc nào cũng xum xoe nịnh bợ như các người, khinh kẻ khác là bần dân nên thèm kết bạn. Ngươi sai, Nguyệt Nương là làng chơi, tối nay quả làm vấy bẩn Bùi Tướng quân mất rồi! Nhưng Bùi Tướng quân yên tâm, sau này bao giờ ta đưa ngươi đến những chỗ như vậy nữa, ngươi cứ an tâm làm phò mã !

                  Có lẽ khi đó tôi với Bùi Chiếu bằng những lời lẽ gay gắt nhất, nên vừa dứt lời, hồi lâu tôi thấy gã đáp lại, chỉ nghe tiếng vó ngựa nện xuống con đường phố thị lát những viên đá xanh vuông vức phủ tuyết. Tuyết rơi dày, phủ lớp mỏng xuống đường khiến ngựa nhanh được, chỉ nhích từng bước.

                  Suốt dọc đường từ đó về đến chân tường phía nam của Đông cung, tôi kiên quyết đếm xỉa tới Bùi Chiếu.

                  Nhưng tôi hề hay biết chuyện về sau còn có nhiều biến hóa khôn lường. Cũng bởi bây giờ dịp giáp Tết, trong cung tất bật tổ chức lễ lạt, năm nay có Hoàng hậu đứng ra thu vén nên bao nhiêu việc ập xuống đầu tôi. Tôi phải bái yết các mệnh phụ phu nhân cả đôi bên nội ngoại, rồi thiết yến… Mặc dù bây giờ, chuyện hậu cung tạm thời do Cao Quý phi tiếp quản, song , bà ấy cũng chỉ là quý phi. Vĩnh Nương bảo rằng, mọi người ai cũng thấp thỏm chờ mong đại lễ Nguyên thần, ai cũng đoán già đoán non Hoàng thượng có để Cao Quý phi đứng ra lo liệu hay .

                  - Cao Quý phi lên làm hoàng hậu à?

                  Tôi biết bao giờ Vĩnh Nương tùy tiện phát ngôn những chuyện như vậy, bà ấy kính cẩn :

                  - Nô tì dám xằng. Thái tử phi chớ nên thắc mắc việc này, đây phải là chuyện phận làm dâu có thể can dự.

                  Tôi thấy dạo gần đây mình cũng gặp rất nhiều chuyện phiền não, so với chuyện ai làm hoàng hậu còn phức tạp hơn nhiều. Chẳng hạn chuyện mới đây Triệu Lương đệ cắt xén chi tiêu của Tự Bảo lâm. Tự Bảo lâm này hiền lành nhưng đám cung nữ dưới trướng phải dạng dễ bắt nạt, sảy ra tranh cãi, song vẫn bị đám cung nữ của Triệu Lương đệ đổ vạ, họ trộm đồ trong kho, toan tống khứ bọn họ khỏi Đông cung. Sau này Tự Bảo lâm đến than khóc với tôi, tôi cũng chẳng biết phải làm sao. Bảo tôi tìm lại sổ sách, tra xét thu chi, quyết tâm làm chuyện này thà giết tôi còn hơn. Tôi đành dịu giọng vỗ về Tự Bảo lâm, song hai cung nữ kia vẫn bị đuổi khỏi Đông cung, tôi bèn sai Vĩnh Nương chọn hai cung nữ khác đến hầu hạ Tự Bảo lâm.

                  Ngoài mấy chuyện vặt vãnh trong Đông cung, còn việc quan trọng hơn cả đó là Thái hoàng thái hậu đột ngột nhiễm thương hàn. Đợt ốm này nặng nhưng mọi người trong cung được phen hết hồn hết vía, chung quy, Thái hoàng thái hậu cũng lên lão bảy mươi rồi. Ngày trước cần tôi sớm chiều đến thình an, bây giờ quy định đổi khác, ngày nào cũng phải tới cung Thọ Ninh phụng dưỡng thuốc thang.

                  Lại thêm chuyện Lý Thừa Ngân bất cẩn bị trẹo cổ chân trong lúc cưỡi ngựa, đánh bóng. Tuy lại bị ảnh hưởng lắm nhưng vết thương kia vừa lành chưa được bao lâu, giờ lại sảy ra cơ này khiến Hoàng thượng nổi trận lôi đình, triệu đến, mắng cho trận té tát. Rốt cuộc khi trở về Đông cung, chẳng hiểu Triệu Lương đệ đụng chạm gì khiến thẳng tay tát cú trời giáng. Phen này họa ập xuống tới tấp, Triệu Lương đệ tức tưởi ngồi khóc lóc ầm ĩ. Kẻ hầu người hạ xúm vào khuyên can hết lời, ả mới chịu thôi, nhưng tính khí Lý Thừa Ngân nào dễ cho qua, phủi tay bỏ luôn, bẵng mấy ngày ở lì trong chính điện.

                  Mấy bận Vĩnh Nương khuyên tôi thăm Lý Thừa Ngân, tôi hiểu ý song vẫn mặc kệ.

                  Chẳng ngờ tôi tìm lại mò tới chỗ tôi.

                  Tối hôm đó, những bông hoa tuyết lất phất bay, tiết trời giá lạnh, trong điện ủ lồng hương, thoang thoảng dễ dỗ giấc. Tôi nhanh chóng nằm ấm chỗ, bất thình lình Lý Thừa Ngân mò tới.

                  chỉ dẫn theo viên nội quan, may nhờ A Độ tỉnh táo, leo lên giường lúc nào tôi cũng chẳng hay. A Độ lay tôi dậy cũng là lúc tôi ngon giấc, tôi ngáp dài, dụi mắt, mơ màng nhìn Lý Thừa Ngân.

                  - Chàng đến làm gì thế?

                  - Đến ngủ!

                  trả lời dấp dẳng, rồi ngồi xuống nhấc chân lên. Tên nội quan hầu tháo giày, lại hầu cởi áo, phất tay, gã nọ thõng tay lui mất. A Độ lay tôi dậy xong, cũng biến mất đằng nào chẳng hay.

                  Tôi ngáp ngắn ngáp dài, lăn ra ngủ say như chết, nếu Lý Thừa Ngân kéo mất cái chăn tôi cũng chẳng tỉnh.

                  Tôi mơ màng nhường nửa tấm chăn cho . sáp lại gần, hiểu ai cởi quần áo cho , người chỉ mặc bộ quần áo lụa mỏng. Cơ thể đàn ông nóng rực, ấm như lò than. duỗi tay, chèn dưới cổ tôi, dễ dàng ôm chặt rồi tiện thể kéo tôi vào lòng. Mặc dù nằm thế rất ấm nhưng tôi có cảm giác khó chịu, thiu thiu ngủ lúc, cuối cùng chịu được, bèn bảo:

                  - Đừng phà hơi sau gáy thiếp…

                  gì, tiếp tục hôn lên gáy tôi. Như thể có con cún con cắn mình, cứ ngứa ngáy mà tê tê, tôi đẩy phắt ra:

                  - Đừng cắn nữa, cứ cắn thế, thiếp ngủ được.

                  Thay vì trả lời, chuyển sang cắn vành tai tôi. Gì chứ tôi sợ nhất là buồn ở tai, cười ngặt nghẽo lúc nhũn cả người, tranh thủ kéo dây áo, tôi tỉnh ngủ ngay tức .

                  - Chàng làm gì thế?

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
      Lúc Lý Thừa Ngân sấn tới hôn môi, tôi mới vỡ lẽ, bất thình lình tung cho cú đạp:
      - Này!
      Suýt lộn cổ khỏi giường, mùng màn vắt ngang mặt, vật lộn hồi mới gỡ được đống nhùng nhằng ấy xuống, rồi bực dọc, trợn mắt với tôi:
      - Nàng bị làm sao đấy?
      - Chàng muốn… làm… việc kia… mà tìm Triệu Lương đệ ấy!
      Đừng mơ tôi chịu làm thế thân cho Triệu Lương đệ. Tuy tôi thích Lý Thừa Ngân đấy nhưng còn lâu tôi mới đồng ý để làm chuyện này với mình.
      Lý Thừa Ngân chợt cười rộ lên:
      - ra là ghen!
      Tôi trừng mắt:
      - Ai ghen? Chàng bớt kiểu “tự làm tự chịu” !
      Lý Thừa Ngân bắt bẻ tôi ngay lập tức:
      - Là “tự mình đa tình” chứ!
      Tôi lựa thành ngữ lúc nào cũng trật lất. Nhưng nghe thế, tôi phấn khích hẳn lên:
      - Chàng tự biết thế là tốt! tìm Triệu Lương đệ của chàng , hoặc Tự Bảo lâm ấy, chắc hẳn người ta ngóng chàng lắm đấy!
      - Còn nàng? Nàng mong ta đến à?
      - Thiếp có người mình thích rồi!
      Trong lòng tôi chợt dâng nỗi chua xót ngậm ngùi, chẳng qua người tôi thích lại thích tôi, hơn nữa, bây giờ tôi vẫn chống chế trước mặt chàng ta đây.

      - Thiếp mong chàng đến làm gì! Thích ai, chàng cứ tìm người đó. Cứ cưới thêm tám hay mười Lương đệ, Bảo lâm nữa cũng được, thiếp bao giờ để bụng.
      Sắc mặt Lý Thừa Ngân sa sầm thấy . Trước đây nhiều lần tôi nhắc đến Triệu Lương đệ nhưng mặt cũng khó đăm đăm thế này. Hồi lâu sau bất ngờ buông tiếng cười khảy:
      - Đừng tưởng ta biết. Chẳng lẽ là Bùi Chiếu?
      Tôi cứng họng nhìn chằm chằm.
      - Đừng quên mình là ai! Nàng là có chồng. À, ta biết rồi, đằng nào người Tây Lương các nàng cũng quen thói bại hoại rồi, bẽ mặt có là gì? Suốt ngày trốn khỏi cung, nhong nhong ngoài đường với Bùi Chiếu, có chút thể diện cũng biết giữ!
      Tôi ngờ lại biết chuyện tôi xuất cung, càng khó lường hơn là tường tận cả việc tôi uống rượu với Bùi Chiếu. Tôi thẹn quá hóa giận:
      - Chàng cưới hết người này đến người nọ còn ai! Thiếp ra ngoài chơi đấy nhưng chẳng làm chuyện gì xấu cả, vả lại giữa thiếp và Bùi Chiếu hoàn toàn trong sạch…
      cười phá lên:
      - Hẳn rồi. Bùi Chiếu có gan to bằng trời cũng chẳng dám nhập nhằng với nàng. Hơn nữa, sắp lấy Lạc Hy rồi. Công chúa thiên triều chúng ta giống loại con Tây Lương các nàng, là… sinh ra thích thói lông bông!
      Nghe được mấy chữ cuối cùng, tôi nổi cơn tam bành, nhảy chồm lên vung tay tát . nhanh nhẹn né được, cái tát sượt qua cằm. Người tôi run lên vì giận:
      - Loại người suốt ngày léng phéng với cả đám con như chàng sao hả? bao giờ ta thèm gì chưa? Ừ ta và Bùi Chiếu từng uống rượu với nhau vài lần đấy, chàng là cái thá gì mà dám vênh váo với ta? Con Tây Lương sao nào…? Hạng người như chàng cũng chỉ cậy đông hiếp yếu… Năm xưa, nếu phụ hoàng ép cha ta phải cầu thân, liệu cha ta có nỡ để con lấy chồng ở nơi xa xôi thế này ? Chẳng qua là loại chó cậy gần nhà, bằng ta thèm lấy chàng à? Đàn ông Tây Lương có ai thua chàng nào? Chàng tưởng ta thích lấy chàng lắm à? Tưởng ta thích làm Thái tử phi lắm à? Người ta thích ấy à, giỏi hơn chàng nghìn, vạn lần! Đến cọng tóc của người ta, chàng cũng bì nổi…
      Lý Thừa Ngân tức lắm, chẳng thèm mặc áo hầm hầm lao xuống giường, sau đó thẳng ra cửa rồi quay ngoắt lại, :
      - Nàng yên ! Sau này ta thèm đến nữa, cứ thoải mái tơ tưởng tới gã tốt hơn ta nghìn, vạn lần ấy !
      Chắc bực lắm, đến giày còn để lại đây, chẳng hiểu chân trần về kiểu gì nữa?
      Tôi kéo chăn trùm kín đầu, bụng dạ cồn cào mãi thôi. Tôi đuổi Lý Thừa Ngân , bởi tôi biết thích Triệu Lương đệ. Tôi chẳng rộng lượng đến nỗi, biết trái tim kia có bóng dáng mình, song vẫn để được thể gần gũi. Thà cứ như trước kia, thờ ơ, lãnh đạm với tôi còn hơn. Phận nữ nhi đáng thương thế đấy, chỉ vì đẩy tôi, đỡ hộ tôi nhát kiếm của gã thích khách nọ mà khiến tôi liêu xiêu. Nếu cứ ôn tồn, dịu dàng thế này, biết chừng cả đời này tôi khó dứt được . Lúc đó tôi đáng thương biết bao, ngày qua ngày mong chờ mòn mỏi, hy vọng bố cho mình cái nhìn, và rồi chẳng khác gì đám con Vĩnh Nương kể, ngày lại ngày ngong ngóng chờ mong… Ôi mòn mỏi…
      thể để mình sa chân vào bước đường đáng thương ấy được…
      Tôi ngồi thao thức tới khuya, sáng ra ngủ quên, may có Vĩnh Nương gọi dậy. Tôi vội vàng chải đầu, thay quần áo rồi vào cung. Dạo gần đây, tình hình sức khỏe của Thái hoàng thái hậu ngày tốt lên, thấy tôi tới, người phấn khởi ban bát cháo giống người ăn.
      Chẳng hiểu bát cháo ấy bỏ gì mà có vị lờ lợ, tôi nuốt mấy thìa mà bụng dạ cồn cào, vô cùng khó chịu.
      Thấy mặt mày tôi kém tươi tỉnh, Vĩnh Nương vội vàng dâng trà. Bụng dạ cồn cào rất khó chịu, tôi thiết uống trà, thào với Vĩnh Nương:
      - Ta buồn nôn…
      Thái hoàng thái hậu bước sang tuổi bảy mươi song tai vẫn rất thính, tôi thế mà người vẫn nghe được:
      - Hả? Buồn nôn à?
      đợi người ra lệnh, đám cung nữ xúm lấy, cần ống súc miệng, có ống súc miệng, cần nước có nước, cần khăn bông có khăn bông, người vỗ vai, kẻ dâng lồng hương. Ở cung Thái hoàng thái hậu quen dùng long diên hương, ngửi mùi ấy tôi cứ thấy lợm giọng, nhất là khi lồng hương để sát bên người, khói sộc thẳng vào mũi, tôi kìm được nhưng chẳng nôn được gì ngoài ít nước. Vĩnh Nương bưng hoa lộ cho tôi súc miệng. Sau phen sốt vó ấy, Thái hoàng thái hậu nôn nóng giục giã:
      - Mau tuyên ngự y!
      - Ấy, dạ thôi…
      Chắc tại đêm qua bị nhiễm lạnh đây mà. Lý Thừa Ngân bỏ xong, tôi ngồi bần thần tới khuya, quên đắp chăn. Sáng dậy thấy bụng đau ỉ, bây giờ chuyển sang tưng tức. Tôi thưa:
      - Cháu chỉ là ăn nhầm…
      Thái hoàng thái hậu mừng ra mặt:
      - Tuyên ngự y mau! Chắc chắn tám phần là có tin vui, cháu đừng ngại! Đơm hoa kết trái âu là lẽ thường tình, có gì mà phải ngượng! Đúng rồi, truyền cả khâm thiên giám[3] nữa, cháu xem, đứa bé này nên đặt tên là gì nhỉ…
      [3] Khâm thiên giám là cơ quan trông coi về thiên văn và việc làm lịch của các triều đình phong kiến.
      Tôi… tôi… suýt nôn ra máu… ngờ Thái hoàng thái hậu lại nóng vội tưởng tôi có tin vui, nhưng vấn đề là… chúng tôi làm gì đâu mà có em bé chứ…
      Ngự y chuẩn đoán tôi bị nhiễm lạnh, lại ăn phải cháo thịt hươu nên mới buồn nôn. Thái hoàng thái hậu tỏ vẻ thất vọng thấy , quay sang hỏi đám người hầu:
      - Thái tử đâu?
      - Khởi bẩm, sắp tới đại lễ Nguyên thần nên hôm nay Điện hạ vào Trai cung[4]…
      [4] Trai cung là nơi vua vào nghỉ ngơi trai giới trước khi làm tế lễ
      Thái hoàng thái hậu đột nhiên nổi giận, dằn mạnh tay xuống bàn:
      - Trai cung cái nỗi gì! Bất hiếu có ba tội, có con nối dõi là tội lớn nhất! Phụ hoàng nó xưa kia, bằng tầm tuổi này là cha của ba đứa con trai! Nó hai mươi tuổi đầu rồi mà chưa lên chức cha! Triệu Lương đệ kia cả ngày quấn lấy nó, vậy mà đến quả trứng cũng biết đẻ như thế nào! Lại còn ả Tự Bảo lâm nọ, yên lành có đứa con, mất là mất ngay được! Cứ thế này, bao giờ ta mới được bồng chắt? Lẽ nào nó muốn ta chết mà nhắm được mắt?
      Trước cơn thịnh nộ của Thái hoàng thái hậu, người trong điện vội quỳ sụp xuống, nơm nớp thôi:
      - Xin Thái hoàng thái hậu bớt giận!
      Nhưng càng càng khiến Thái hoàng thái hậu bực tức:
      - Người đâu! Tuyên Lý Thừa Ngân đến gặp ta! Ta tin ta nổi nó, càng tin đến sang năm mà ta vẫn chưa có chắt bồng!
      Thái Hoàng thái hậu chỉ đích danh cả họ lẫn tên Lý Thừa Ngân giống tôi. Có điều, Thái hoàng thái hậu gọi tới để mắng mỏ, lúc về thế nào cũng đổ cho tôi tội sàm tấu, chưa biết chừng chúng tôi lại có trận cãi vã nảy lửa rồi.
      Cãi cãi, tôi chẳng sợ.
      Nhưng ngờ, Thái hoàng thái hậu lại nghĩ ra cách đó. Lý Thừa Ngân đến nơi, thay vì mắng nhiếc thậm tệ, Thái hoàng thái hậu lại ôn tồn hỏi:
      - Tắm gội, xông hương rồi chứ?
      Tắm gội, xông hương là những việc bắt buộc phải làm trước khi nhập Trai cung, Lý Thừa Ngân chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì, bèn đáp:
      - Vâng ạ!
      Thái hoàng thái hậu :
      - Vậy tốt! Số cháu may lắm đấy, mấy ngày sau cháu cần phải thanh tịnh ăn chay nữa, , liệt tổ liệt tông cũng lỡ trách cứ. Người đâu, đưa Thái tử Điện hạ và Thái tử phi đến điện Thanh Vân, chưa có lệnh của ta, được phép mở cửa!
      Tôi ngẩn người, đám cung nữ cứ thế lôi lôi kéo kéo, bằng mọi cách phải đưa chúng tôi vào điện Thanh Vân. Cánh cửa đóng sầm lại, tôi ra sức đẩy, cánh cửa vẫn trơ lì mở ra.
      Lý Thừa Ngân lạnh lùng nguýt tôi, tôi quay ngoắt lại trừng mắt với .
      rít lên hai chữ qua kẽ răng:
      - Đê tiện!
      Tôi bực mình:
      - Mắc mớ gì đến thiếp? Chàng mắng cái nỗi gì?
      - Nếu nàng huyên thuyên trước mặt Thái hoàng thái hậu làm gì có chuyện người bắt nhốt chúng ta?
      Tôi tức mình mặc kệ . May mà trong điện rất ấm áp, tôi ngồi xuống cạnh bàn, xòe bàn tay, thà chơi với ngón tay mình còn hơn cãi vã với .
      Chúng tôi bị nhốt nửa ngày trời, trông ráng chiều dần buông, có cung nữ đưa cơm canh, trà nước qua cửa sổ. đợi tôi kịp thốt lên, cửa sổ đóng sầm ngay trước mặt.
      Thái hoàng thái hậu ắt cấm mọi người được phép tiếp chuyện chúng tôi. Tuy đăm chiêu, ủ dột, song cơm vẫn phải ăn. Ngồi nửa ngày, bụng đói cồn cào, lại còn có hai món mà tôi thích nữa chứ, tôi tự đơm cho mình bát đầy, đánh chén ngon lành. Thoạt đầu, Lý Thừa Ngân ngồi yên nhúc nhích, sau đó xem chừng cũng đói, vả chăng mâm cơm có bát bánh canh vừa miệng, bảo sao cũng ăn no căng bụng.
      No cơm ấm cật sinh… sinh ra… chán ngắt…
      Tôi tới lui trong điện, cuối cùng nhặt mấy hòn sỏi trong bồn cây, bắt đầu bày trò chơi cờ mình.
      Chẳng chơi được bao lâu, chậu sưởi trong điện có người thay than, chỗ củi tàn cứ thế lụi dần.
      May thay trong điện vẫn còn chậu nữa, tôi chuyển chỗ chơi lên giường, nằm trong chăn rất thoải mái, chỉ tiếc chưa chơi được bao lâu, nến cũng tắt luôn.
      Ngoài sân có nến, tôi lập cập toan lấy, nhưng vừa được mấy bước thấy lạnh cóng, bèn kéo luôn cái chăn choàng lên người rồi mò ra ngoài. Thấy Lý Thừa Ngân ngồi ở đằng kia, tôi chùm chăn kín mít, lấy được nến liền tót vào luôn, rảo được mấy bước, nghĩ thế nào lại hỏi:
      - Chàng ngồi đấy thấy lạnh à?
      Chẳng buồn liếc tôi lấy cái, rít lên hai tiếng:
      - lạnh!
      Ơ!
      Sao giọng lại run run thế nhỉ?
      tay tôi túm chặt tấm chăn choàng, tay kia nâng giá nến lên soi mặt , chỉ soi thôi chứ có làm gì đâu mà cũng giật mình hoảng hốt.
      Dưới tiết trời lạnh giá, trán đẫm mồ hôi, mặt mũi đỏ gay như phát sốt.
      - Chàng sốt đấy à?
      - !
      Thấy run rẩy, tôi bèn đặt giá nến xuống, đưa tay sờ trán . mà ốm còn gì bằng, chỉ cần đổ bệnh, Thái hoàng thái hậu thả chúng tôi ngay lập tức.
      Tôi mới khẽ chạm vào trán thế thôi, khẽ rên rỉ, cánh tay vươn ra tóm gọn tay tôi, kéo phắt tôi vào lòng. Đôi môi ấy nóng giãy, hôn tôi trong cơn run rẩy, cứ ngấu nghiến khiến tôi thở nổi. Hơi thở nóng bỏng của phả vào mặt làm tôi ngờ ngợ, nhưng ngỡ ngàng ấy phụt qua rất nhanh, bất thình lình đẩy tôi ra, nghiến răng :
      - Trong canh có thuốc.
      Thuốc gì? Canh gì có thuốc?
      Sao có thể chứ! Thái hoàng thái hậu thương đứa cháu trai này lắm, làm gì có chuyện người cho ăn mấy thứ linh tinh.
      Vả chăng bát canh thừa còn nguyên bàn, tôi hít hà hồi, ngửi chán chê vẫn chẳng thấy gì. Lý Thừa Ngân đột nhiên ôm chặt lấy tôi từ phía sau, rà môi lên vành tai tôi.
      - Tiểu Phong…
      Toàn thân tôi bủn rủn trong vòng tay , cũng hiểu vì sao, vì những cái hôn nơi vành tai, hay là vì gọi tên tôi…
      Đây là lần đầu tiên gọi tên tôi, trước đó toàn “ê”, “này”… Mà… sao biết tên tôi nhỉ?
      Lý Thừa Ngân xoay mặt tôi về phía , ngậm trọn vành môi, trao tôi nồng nàn trước nay chưa từng có, dường như muốn nuốt chửng tôi xuống bụng. Cả người nóng rực, tỏa hơi nóng rực như nồi nước sôi.
      Tôi chợt hiểu ra thứ thuốc nào được bỏ vào canh.
      Hả?
      Á!
      Ối!
      Thái hoàng thái hậu ơi, người già mà nên nết!
      Vậy mà… mà… lại…
      Tôi hộc máu mất thôi… Tôi còn gì để nữa rồi… Tôi gọi trời trời thấu, gọi đất đất thưa…
      Lý Thừa Ngân nhanh tay cởi bỏ quần áo của tôi, vừa cắn tới tấp, vừa đẩy tôi lên giường.
      Hai chúng tôi vật lộn hồi, chẳng mấy chốc tôi lép vế và bị lôi tuột lên giường. Tôi hốt hoảng nghĩ, biết ngày mai có hối hận , Triệu Lương đệ của mà biết lại chẳng làm ầm lên, và tôi nữa, lại chẳng đáng thương…
      Mười tám món võ nghệ tôi đều giở sạch, thế mà quần áo người từng chiếc, từng chiếc cứ rơi xuống. chỉ cởi áo quần của tôi, ngay cả quần áo người mình, Lý Thừa Ngân cũng tự cởi bỏ. Tôi chẳng hiểu quần áo con trai cởi kiểu gì, tuột nhanh như chớp, nhoáng cái đối diện với cơ thể trần trụi của nhau… Nhìn thế này liệu có bị đau mắt nhỉ? Tôi chưa thấy Lý Thừa Ngân trong trạng thái thiếu vải bao giờ…
      Thấy tôi láo liên đảo mắt, khóe môi Lý Thừa Ngân nhếch lên, cười gian:
      - Đẹp ?
      Tôi trỏ tay vào :
      - Đồ lưu manh chết tiệt! Đẹp cái nỗi gì! Đừng tưởng ta chưa từng nhìn! Chưa từng ăn thịt heo nhưng ta nhìn heo chạy nhiều rồi!
      Lý Thừa Ngân tranh cãi với tôi, trái lại, còn hùa theo, rót vào tai tôi ngọt xớt:
      - Vậy… giờ có muốn thử trò heo chạy ?
      - Hả!
      Trong thời khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, tôi liền gào toáng lên:
      - Sắt Sắt!
      - Sắt Sắt cái gì!
      Tôi lay cánh tay :
      - Sắt Sắt là chàng đấy! Nghĩ cho Triệu Lương đệ mà, chàng thể có lỗi với muội ấy được! Chàng đừng phụ lòng muội ấy! Chàng thích muội ấy nhất cơ mà!
      - Nàng là vợ ta, ta và nàng đường đường chính chính… Ta chẳng làm gì có lỗi với ta cả!
      - Điện hạ có thích thiếp đâu!
      rủ rỉ :
      - Ta thích nàng! Ta thích nàng…
      - Tại chàng uống nhầm thuốc thôi!
      - Uống nhầm thuốc ta vẫn thích nàng. Tiểu Phong, ta thích nàng, đấy.
      thể chịu nổi, đàn ông rặt lũ cầm thú, đồ cầm thú! Chỉ uống nhầm có chút thuốc bổ vào người mà quên phắt Triệu Lương đệ. Mắt lúng liếng nhìn tôi, chỉ thiếu chảy nước miếng nữa thôi. Tôi lay :
      - Chàng là thái tử, là thái tử kia mà! Nhịn mấy chuyện tầm thường này ! Bình tĩnh nào! Đừng để bước sa chân… Cái gì mà hận ấy nhỉ?
      - bước xa chân muôn kiếp hận.
      - Đúng rồi! bước xa chân muôn kiếp hận! Chịu đựng chút… Vì Triệu Lương đệ… chàng phải giữ thân như ngọc chứ…
      Giọng nỉ non như chú cún con:
      - Ta muốn giữ! Sao nàng máu lạnh thế, vô tình thế, tàn nhẫn thế?
      Tôi sởn da gà:
      - Thiếp máu lạnh đâu! Vô tình đâu! Tàn nhẫn đâu!
      - Có chỗ nào nàng máu lạnh? Có chỗ nào nàng vô tình? Có chỗ nào nàng tàn nhẫn?
      - Thiếp máu lạnh chỗ nào? Vô tình chỗ nào? Tàn nhẫn chỗ nào?
      - Ở đây! Ở đây này! Đây nữa!
      Mẹ ơi… Ngờ đâu lại cắn… cứ cắn… Nhục chết mất thôi!
      Tên lên dây, ngàn cân treo sợi tóc!
      Tôi nghiến răng quyết tâm, chụp lấy chiếc gối sứ sau đầu nện cho Lý Thừa Ngân cú. Trong lúc điên đảo thần hồn, quả nhiên lơ là mất cảnh giác, trán hứng cú trời giáng.
      RẦM!
      Ngất rồi!
      Ngất rồi!
      Trán Lý Thừa Ngân sưng to như quả trứng gà, tôi lóng ngóng ép chặt cái gối sứ vào chỗ sưng. Có lần tôi va đầu vào chốt cửa, đầu sưng vù, Vĩnh Nương từng dạy tôi mẹo, bà ấy bảo cứ đội cái gối sứ lên đầu, hỏi bảo mấy vết sưng tấy nhanh tan.
      Đến ngày hôm sau, cục u trán vẫn còn đấy, song lại khoan thai trở mình, vừa tỉnh trợn mắt nhìn tôi:
      - Nàng trói ta làm gì thế?
      Tôi vỗ vào mặt ra chiều an ủi:
      - Kẻo “ bước sa chân muôn kiếp hận” chứ sao nữa? Chàng chịu khó ! Chàng muốn lật người hả? Để thiếp giúp chàng.
      Ngẫm ra, nằm bất động cả đêm chắc cũng chẳng thoải mái gì, nhưng tôi trói chặt tay chân bằng cái móc vàng dùng để mắc màn, muốn lật người e cũng khó. Tôi đành phải lấy hết sức bình sinh đẩy nghiêng sang bên, nhưng quá trình xê dịch khó khăn, loay hoay thế nào mà tôi ngã đè lên người , tóc tai rối bù móc vào khuy cài màn, gỡ mãi ra.
      Đôi mắt rừng rực như chực trào lửa:
      - Nàng có thôi trèo lên người ta bảo?
      - Xin lỗi, xin lỗi nhé!
      Tôi lúng túng gỡ tóc, mải gỡ nên để ý hôn mình. Nụ hôn trượt từ bờ vai lên cổ, những cái cắn khẽ đầy đê mê gợi cơn run rẩy kì lạ trong tôi.
      - Cởi trói . – cắn vành tai tôi, khẽ. – Ta cam đoan làm chuyện gì xấu xa đâu… Thả ta ra
      - Đời nào thiếp tin chàng!
      Tôi việc gì phải khách khí cả, bao năm đấu chọi với rồi, có dùng đầu ngón chân nghĩ cũng biết chắc chắn bày trò. Lần mò mãi mới gỡ được tóc, tôi nhổm dậy, quên nguýt cái:
      - Chàng ngoan ngoãn chịu đựng !
      - Ta muốn…
      - Chàng được muốn!
      - Ta cần lắm!
      - được phép cần!
      gầm lên:
      - Nàng biết điều chút ! Con người ta có ba cái mót! Sao nàng tối dạ thế? Ta muốn giải quyết!
      Tôi ngớ ra, cũng phải, đúng là con người ta có ba cái mót. Lần trước ở Đông cung tôi cũng sốt vó cả lên, suýt nữa khóc đấy thôi. Ngẫm thấy cũng đồng cảm với , dù sao thể cấm nhà cầu được.
      Tôi tháo hai chiếc mắc màn quấn tay áo :
      - !
      Giải quyết xong, liền quay về, đúng lúc cung nữ đẩy cửa bước vào, thấy quần áo ngổn ngang dưới đất, bọn họ đỏ bừng mặt. Lại nhìn vết sưng trán Lý Thừa Ngân, ánh mắt càng thêm kỳ quái. Cung nữ dâng nước cho chúng tôi súc miệng, lại hầu thay xiêm y, xong xuôi đoàn người lập tức rút lui. Đến thần tốc và rút lui chớp nhoáng, quên khóa trái cửa.
      Tôi điên mất, lại tiếp tục nhốt chúng tôi sao?
      Bữa sáng dâng lên lại có món canh bỏ thuốc, Lý Thừa Ngân bực mình, gào qua ô cửa sổ:
      - Cụ ơi… Cụ muốn hại cháu trai của cụ à?
      Tôi chẳng sao, cùng lắm ăn.
      Lý Thừa Ngân hề đụng đũa. Chúng tôi nằm dài giường với cái bụng lép xẹp, cũng bởi có mỗi giường là nơi ấm nhất.
      Thái hoàng thái hậu quá đáng, thậm chí chậu than cũng cho người đến thay.
      Lý Thừa Ngân cũng chung tình với Triệu Lương đệ ghê gớm, thà chịu đói còn hơn bước sa chân muôn kiếp hận…
      Nhưng nằm mãi cũng chán, chúng tôi đành chơi cờ, khổ nỗi thắng suốt, chơi với tôi chẳng thú vị gì cả nên chán chẳng muốn chơi nữa. Đến tầm trưa, cả hai đói muốn chết, Lý Thừa Ngân vẫn hoạnh họe đòi tôi mua vui:
      - Hát bài cho ta nghe !
      - Sao thiếp phải hát cho chàng nghe?
      Lý Thừa Ngân nhổm dậy:
      - hát chứ gì? thế ta ăn bánh canh vậy.
      Tôi níu chặt cánh tay :
      - Được! Được! Hát hát!
      Mà tôi có biết hát bài nào khác đâu, hát hát lại mãi bài:
      “Có con cáo đơn,

      Ngồi cồn cát ngắm trăng mình,

      Cơ mà đâu phải ngắm trăng,

      Cáo mong đợi nàng chăn dê.

      Có con cáo bơ vơ,

      Ngồi cồn cát thẩn thơ sưởi mình,

      Nào đâu cáo muốn sưởi mình,

      Cáo đợi mình cưỡi ngựa qua.’’

      Lý Thừa Ngân chê tôi hát dở, tôi hát được hai đoạn, cấm tôi hát tiếp. Chúng tôi vẫn nằm dài giường, rỗi hơi liền tâm mấy chuyện trời dưới đất.
      Cũng tại buồn tẻ quá nên Lý Thừa Ngân bắt đầu liên miên. kể toàn những chuyện trước nay tôi chưa từng nghe. Giờ tôi hiểu vì sao Đông cung lại gọi là Đông cung, rồi biết hóa ra hồi tay Lý Thừa Ngân này cũng biếng ghê gớm, thậm chí từng nhổ trộm râu của Bùi lão Tướng quân, thêm chuyện bà nhũ mẫu quý nhất qua đời năm ngoái vì bị bệnh khiến buồn lòng thời gian dài, và cả chuyện lúc hay gây gổ với con trai của Trung vương. còn tiết lộ thêm vài chuyện lùm xùm trong Hoàng cung, toàn mấy tin lạ tai, hóa ra Phổ vương Lý Thừa Nghiệp, em trai cùng cha khác mẹ với thích đàn ông , rồi cả lý do Công chúa Vĩnh Ninh nằng nặc đòi xuất gia…
      Có nằm mơ cũng chẳng ngờ, có ngày tôi và Lý Thừa Ngân lại nằm dài giường chuyện phiếm với nhau.
      Thậm chí còn chuyện sôi nổi dứt ra được.
      Tôi cũng kể vài chuyện mà mình mắt thấy tai nghe bên ngoài cung cấm mỗi lần lang thang ngoài phố. Đương nhiên Lý Thừa Ngân ngờ kiến thức của tôi lại sâu rộng đến thế, chuyện nào cũng khiến phấn khích, giật mình.
      Lý Thừa Ngân hỏi:
      - tóm lại, nàng thấy heo chạy ở đâu?
      Tôi ngẩn ra chưa kịp định thần:
      - Heo nào?
      tỏ vẻ bực bội:
      - Nàng chẳng bảo, chưa ăn thịt heo nhưng thấy heo chạy rồi đấy thôi?
      - À!
      Tôi phấn khích bật dậy, khoa tay múa chân miêu tả phường Minh Ngọc cho nghe. Qua lời kể của tôi, phường Minh Ngọc được tâng thành chốn bồng lai tiên cảnh giữa nhân gian, là nơi trú ngụ của bầy tiên nữ thông thạo đàn ca sáo nhị, thơ từ ca phú, biết, tường…
      Sắc mặt chuyển sang tối sầm:
      - Nàng dám đến kỹ viện à?
      - Kỹ viện gì chứ, đó là phường Minh Ngọc!
      - Đường đường là Thái tử phi của thiên triều, lại mò tới kỹ viện!
      Trời đất ơi, cái miệng của cứ bô bô, lỡ vách nhà có tai sao! Tôi bổ nhào đến, bịt miệng , quýnh quáng :
      - Đừng có gào lên! Gào cái gì! Thiếp chỉ mở rộng tầm mắt thôi, có làm gì xấu xa đâu!
      Lý Thừa Ngân liếc xéo tôi, ú ớ dưới sức ép của tay tôi:
      - Ừ… i… àng… a… ới… ông… (trừ phi… nàng… ta… mới… )
      Đừng bảo lại muốn gặm môi nhé?
      Sao bọn đàn ông lại xấu tính thế nhỉ?
      Tôi hậm hực :
      - Hôm qua chàng hôn thiếp mấy lần rồi, chúng ta chẳng nợ nhau gì cả.
      Lý Thừa Ngân phanh ngực áo, chỉ vào vết sẹo ở ngực:
      - Thế cái này tính sao? Nàng định trả thế nào đây?
      Trông vết sẹo hồng hồng ấy, tôi khỏi chột dạ:
      - Tại tên thích khách đâm đấy chứ, có phải thiếp đâm đâu.
      - Tại cứu nàng cả đấy! Ta mà đẩy nàng ra nàng chết dưới kiếm của rồi.
      Tôi cứng họng bởi những gì hoàn toàn là , song vẫn cố cãi cùn:
      - Thế giờ chàng muốn gì?
      - Lần sau nếu nàng đến phường Minh Ngọc, phải dẫn ta theo.
      Tôi hãi hùng, rướn giọng bảo:
      - Chàng… chàng… Đường đường là Thái tử của thiên triều, lại mò tới kỹ viện!
      Lần này đến lượt Lý Thừa Ngân bổ nhào đến bịt miệng tôi, quýnh quáng :
      - Đừng có gào lên! Gào cái gì! Ta chỉ mở mang tầm mắt thôi, có làm gì xấu xa đâu!
      Tôi buồn ra mặt:
      - bị nhốt thế này, phường Minh Ngọc chơi kiểu gì… Thái hoàng thái hậu định giam chúng ta đến sang năm sao?
      Lý Thừa Ngân :
      - Lo gì, ta có cách!
      cách nào tệ hơn cách của , dám xúi tôi giả bệnh.
      Tôi giả bệnh thế nào được chứ?
      Từ tới lớn tôi khỏe như ngựa, mới ốm lần từ hồi đến Thượng Kinh. Bảo tôi giả bệnh, tôi biết phải giả thế nào?
      Lý Thừa Ngân tôi cứ nằm im chỗ là được, nhưng khổ nỗi, chỉ được lúc là tôi lại phá lên cười. Lý Thừa Ngân sốt ruột :
      - Nàng làm được để ta làm!
      đóng kịch mới khéo làm sao, vừa vật ra giường duỗi thẳng đơ rồi nằm bất động.
      Tôi chạy xộc ra cửa sổ, gào lên thất thanh:
      - Người đâu! Thái tử Điện hạ ngất rồi! Có ai
      Sau mấy câu gào, cửa điện mới chịu mở toang, nhiều người hớt hải ùa vào, nội quan tất tả truyền ngự y, phen này kích động đến cả Thái hoàng thái hậu rồi.
      Ngự y bắt mạch hồi lâu, sau cũng kết luận Lý Thừa Ngân mạch phù, tỳ khí hư.
      Hai ngày hạt cơm bỏ bụng, bảo sao tỳ khí hư. Nhưng Thái hoàng thái hậu nào có nghĩ thế, người đinh ninh Lý Thừa Ngân ngất vì kiệt sức. Dù người già nên nết cũng nỡ nhốt chúng tôi lâu hơn nữa.
      Tôi được tiễn về Đông cung, song Lý Thừa Ngân lại xui xẻo bị đưa vào Trai cung, dù gì mai cũng phải làm lễ tế trời. Dẫu về tới Đông cung nhưng tôi cũng bận tối mắt tối mũi. Bệ hạ để Cao Quý phi đứng ra lo liệu đại lễ Nguyên thần, mà việc ấy tạm thời do tôi đảm nhiệm.
      Tết nhất bận túi bụi, người tôi lúc nào cũng mệt bã thành ra chẳng thấy thích thú chút nào.
      Cái đáng lo nhất bây giờ là đại lễ Nguyên thần, tuy có Vĩnh Nương và Cao Quý phi phụ giúp, nhưng tôi cũng phải bỏ rất nhiều thời gian và công sức để học thuộc bài lễ tiết rườm rà ấy, chưa kể lễ lạt, yến tiệc này nọ lũ lượt kéo tới…
      Hằng tối, tôi mệt đến nỗi gà gật cả trong lúc tẩy trang. Thế rồi sáng nào cũng như sáng nào, trời tờ mờ chưa tỏ mặt nhau bị Vĩnh Nương đánh thức để trang điểm. Trước kia có Hoàng hậu, tôi chẳng phải lo chuyện gì, giờ khổ biết để đâu cho hết. Ngày nào tôi cũng phải gặp rất nhiều người, có quen lẫn quen, phải nhận lễ của họ, phải trệu trạo nhai những bữa cơm chán ngắt, tuần rượu nào nghe nữ quan xướng tên, tôi lại phải đứng lên trình bày bài chúc mừng lấy may, kế đó phải xem mấy bài múa hát nhạt nhẽo, nghe mấy vị mệnh phụ nội ngoại cười líu lo.
      Bữa yến duy nhất có thể coi là thú vị chỉ có hôm mùng Năm. Hôm đó, tất cả dâu mới trong thiên hạ đều về thăm đằng ngoại, và Hoàng thất thiết yến mời tất thảy các công chúa tới tham dự. Chủ tiệc là hai em của Hoàng đế Bệ hạ, sau đó lần lượt là mấy vị trưởng công chúa, đều là của Lý Thừa Ngân. Mở màn có Trưởng công chúa Bình Nam đến mời rượu tôi. Tuy tôi là lớp hậu bối, nhưng trước mắt ngôi vị Hoàng hậu còn bỏ ngỏ, Thái tử phi tôi tạm thời trở thành nữ chủ nhân của hoàng thất.
      Tôi nhấp ngụm rượu, đích thân Vĩnh Nương đỡ Công chúa Bình Nam đứng dậy, tôi mới sực nhớ ra, bà ấy chính là mẫu thân của Bùi Chiếu đây mà.
      Bùi Chiếu và bà ấy chẳng được mấy nét giống nhau.
      Bất giác tôi đảo mắt tìm Công chúa Lạc Hy, chính là mặc áo chim trĩ ngồi đằng kia. Trước kia tôi để ý đến Lạc Hy lắm, chung quy cũng tại hoàng thất có quá nhiều công chúa, tôi và các Công chúa mấy khi gặp gỡ, nhiều người tôi thấy chẳng khác gì nhau. Lần này vì Bùi Chiếu nên tôi mới chăm chăm để ý Công chúa Lạc Hy. ấy chỉ xinh xắn mà còn tao nhã, mà ngờ, trông Lạc Hy và Trưởng công chúa Bình Nam hệt như mẹ và con . Theo thông lệ cung đình, tiệc rượu thường có tiết mục ngâm thơ, vịnh phú. Vĩnh Nương sắp sẵn người viết hộ tôi ba bài Mừng thái bình đâu vào đấy, tôi chỉ việc ngâm nga theo những gì thuộc là xong. Công chúa Lạc Hy làm bài Khúc hát thanh bình, trong đó có nhiều chữ tôi chẳng biết chứ đừng xa xôi đến việc hiểu ý thơ. Ai nghe xong cũng trầm trồ khen thơ tôi làm hay, còn Công chúa Lạc Hy chỉ xếp hạng nhì. Bấy giờ tôi nghĩ bụng, có lẽ đàn ông thích người vợ lá ngọc cành vàng, dịu dàng, nhã nhặn, đa tài đa nghệ như Lạc Hy, chung rất xứng với Bùi Chiếu.
      Cũng có thể vì quá mệt mỏi nên tôi thấy Tết năm nay chẳng có gì vui vẻ cả. Bẵng mấy ngày thấy bóng dáng Lý Thừa Ngân, nghe làm lành với Triệu Lương đệ rồi, hai người lại mặn nồng như xưa. Tự nhiên tôi thấy chạnh lòng, dù sao cả tháng Giêng chỉ có ngày rằm là khiến tôi háo hức nhất.
      Tôi thích Thượng Kinh âu cũng bởi tết Nguyên tiêu.

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 6

      Thượng Kinh vào dịp tết Nguyên tiêu được miêu tả thế này: hoa đăng mười dặm, lầu cao chín tầng, pháo rộ tám phương, Thất Tinh bảo tháp, sáu phường rộn rã, ngũ tự rền vang, bốn cổng mở toang, Tam Doãn hân hoan, đôi lứa sánh vai, đời yên ổn. Phải mấy ngày nữa mới là rằm tháng Giêng nhưng phố phường nhộn nhịp chăng đèn kết hoa, con phố Chu Tước trải dài mười dặm cũng phải ngoại lệ. Đèn được làm khéo léo vô cùng, cứ ba bước cảnh, năm bước màu, nào đèn sơn thủy, nào đèn nhân vật, chim trời cá nước từ to đến , muôn hình vạn trạng, rực rỡ sắc màu, chất đầy núi, lấp đầy sông, nom đến hoa cả mắt, đẹp vô cùng. Đêm Nguyên tiêu, Thượng Kinh cấm pháo bông, nhất là ở tháp Thất Tinh, nơi ấy là tháp gạch, địa thế lại cao, nhiều xưởng pháo nổi tiếng thường chọn tháp Thất Tinh làm địa điểm luân phiên bắn pháo, hay còn gọi là “so hoa”. Lúc đó, người dân khắp Thượng Kinh được chứng kiến cảnh tượng vô cùng ngoạn mục. Tết Nguyên tiêu cũng là dịp để tiểu thư khuê con nhà các công khanh[1] thuộc sáu phường được phép ra ngoài bát phố. Đêm đó, con ở Thượng Kinh nô nức rủ nhau xuống phố ngắm đèn, ngắm người. Sau tiếng chuông cầu quốc thái, dân an của chùa Ngũ Phúc, bốn cổng thành chính nam, chính bắc, chính đông, chính tây của Thượng Kinh đồng loạt rộng mở, cấm người lại, dân chúng vùng nông thôn cũng có thể vào thành ngắm hoa đăng. Còn núi Tam Doãn chính là nơi cầu duyên thiêng nhất trong thành, nghe truyền đạo quán núi Tam Doãn có từ đường thờ Nguyệt Lão, phàm là nam nữ độc thân mà đến đó dâng hương vào ngày rằm tháng Giêng ắt thiêng. Đôi ngả song quy vốn là tập tục của Thượng Kinh, những chị em yên bề gia thất vào ngày này chắc chắn phải ngắm hoa đăng cùng phu quân của mình để thỉnh cầu năm mới bình an, thịnh vượng, còn những người chưa thành thân cũng sớm gặp được ý trung nhân. Tết Nguyên tiêu còn là dịp để nam thanh nữ tú hẹn hò gieo duyên mà vẫn trong phạm vi cho phép của lễ giáo.
      [1] Công khanh: viết tắt của tam công cửu khanh, tức ba chức quan đầu chiều và chín chức quan phụ trách các công việc khác nhau.
      Tết Nguyên tiêu năm ngoái, tôi và A Độ đến Tam Doãn ngắm đèn lồng, chen chúc đến nỗi tuột cả giày. Nghe đâu tối hôm đó, số giày bị thất lạc lên đến mấy nghìn đôi, sau này, những đạo sĩ núi Tam Doãn quét dọn, thu gom đống giày ấy quyên cho người nghèo, phải huy động mấy chiếc xe lớn mới kéo hết.
      Năm nay bụng bảo dạ phải lấy dây da quấn ủng cho chặt kẻo lại tuột mất. ngày náo nức như thế, đương nhiên thể thiếu tôi rồi.
      Hôm Mười bốn tháng Giêng, mớ bòng bòng yến tiệc bái yết cuối cùng cũng tạm vãn, tôi tranh thủ trốn việc về Đông cung đánh giấc say sưa, lấy tinh thần chơi tết Nguyên tiêu. ngủ say bị Vĩnh Nương gọi dậy:
      Tôi vẫn gật gà liêu xiêu, vừa ngáp vừa hỏi:
      - Lại gì thế?
      - Người ta tìm thấy tấm bùa gỗ dưới gầm giường của Tự Bảo lâm, nghe đồ yểm bùa, ghi ngày sinh tháng đẻ của Triệu Lương đệ. Giờ Triệu Lương đệ bắt Tự Bảo lâm, đôi bên hầu ngoài điện, muốn mời Thái tử phi đứng ra xử trí.
      mệt và buồn ngủ, tôi càng thêm bực mình:
      - nhiều chuyện! Có mỗi khúc gỗ cũng làm ầm cả lên, lại còn đương ngày Tết! Tự Bảo lâm có ngốc đâu, vả lại khúc gỗ rủa chết được Triệu Lương đệ chắc? Ả vẫn sống sờ sờ ra đấy thôi!
      Vĩnh Nương nghiêng nét mặt, :
      - Bùa ngải vốn là thứ cấm kỵ. Có lẽ Thái tử phi biết, mười năm trước, Trần Trưng vì làm bùa yểm thánh thượng mà bị tử hình, tru di cả nhà. Thiên triều ta buổi đầu lập quốc có Ngô hậu bị phế thành thứ dân cũng tại làm bùa yểm Hứa phi, thậm chí con trai ruột cũng được phép phong vương…
      Tôi sợ nhất Vĩnh Nương đem những chuyện từ mấy trăm năm trước ra giảng giải, khiến tôi đau đầu. Tôi đành bật dậy, gọi cung nữ hầu thay xiêm y, gấp gáp rửa mặt, chải đầu. Vĩnh Nương thưa:
      - Tuy chuyện Tự Bảo lâm đặt bùa có phần khó tin, nhưng dù sao Thái tử phi cũng phải hết sức cẩn thận, chớ để mắc mưu.
      Tôi thành hỏi:
      - Theo bà, ta nên giải quyết thế nào?
      Vĩnh Nương bẩm:
      - Đáng lẽ Thái tử phi nên tìm cớ thoái thác, rồi tấu lên Hoàng hậu để người phán xử, hiềm nỗi nay ngôi vị Hoàng hậu còn bỏ ngỏ, lại đương ngày Tết, phải lúc thích hợp để bàn những chuyện may mắn. Nô tì thiết nghĩ, Thái tử phi đừng ngại tấu chuyện này với Thái tử Điện hạ để người tự cân nhắc, quyết định.
      Tuy gì nhưng tôi tự nhủ, vụ này mà giao cho Lý Thừa Ngân Tự Bảo lâm bị khép tội là cái chắc.
      Triệu Lương đệ là người thương của , bất chấp phải trái thế nào, kiểu gì cũng nổi giận khiến Tự Bảo lâm phải chịu oan ức. Mà Tự Bảo lâm cũng tội nghiệp, Lý Thừa Ngân vốn chẳng ưa gì nàng ấy, lần trước vào cung thăm nom thấy ấy khóc mãi, lần này xảy ra chuyện, ấy đành ngậm đắng nuốt cay chứ biết làm sao? Tôi nghĩ mãi, chỉ thấy đành lòng.
      Thấy tôi đăm chiêu, Vĩnh Nương liền tiếp lời:
      - Bẩm nương nương, giữa chốn ao tù nước đục này, người nên lo cho mình trước.
      Tôi gắt lên:
      - Lo cho mình tức là bảo ta mặc kệ Tự Bảo lâm, để Lý Thừa Ngân tự xử trí sao? Ta muốn!
      Vĩnh Nương định khuyên thêm mấy câu, tôi liền sửa sang tay áo, :
      - Truyền Triệu Lương đệ và Tự Bảo lâm vào!
      Vĩnh Nương là người nắm vững cung quy, lại thêm mấy chục năm giáo dưỡng, lần nào tôi giở thói ngang tàng của Thái tử phi, cuối cùng, Vĩnh Nương cũng đành bất lực, phải cung kính vâng lời.
      Gặp tôi, Triệu Lương đệ vẫn tỏ vẻ kính cẩn, quỳ lạy theo đúng quy cách. Tôi sai Vĩnh Nương dìu ả dậy, ban ngồi.
      Nhưng Tự Bảo lâm vẫn quỳ dưới sàn, nom gò má đỏ ửng, mắt cũng đỏ hoe, hình như vừa khóc.
      Tôi hỏi cung nữ:
      - Sao đỡ Tự Bảo lâm dậy?
      Đám cung nữ dám trái lời, liền vội vàng vực Tự Bảo lâm dậy. Tôi bâng quơ:
      - Hôm nay nắng đẹp, hai tỷ muội rủ nhau đến chúc Tết ta đấy à?
      Có vậy thôi mà khiến mặt Triệu Lương đệ đỏ bừng rồi lại trắng nhợt.
      Đáng ra, theo quy định của Đông cung, mùng đầu năm bọn họ phải mặc trang phục hoàng tộc đến khấu đầu vấn an tôi, hiềm vì Lý Thừa Ngân chỉ lo tôi gây khó dễ với Triệu Lương đệ nên suốt ba năm qua, bao giờ để ả tự mình lại tẩm điện của tôi, tục lệ bị bãi bỏ từ đó. Giờ nghe tôi thế, chắc Triệu Lương đệ nghĩ tôi mỉa mai ả. Nhưng thực ra hôm đó trong cung bận bịu tổ chức đại lễ Nguyên thần, mãi khuya tôi mới được về Đông cung, làm gì có thời gian để bày vẽ lễ tiết này nọ, thậm chí Tự Bảo lâm cũng chẳng đến khấu đầu.
      Bấy giờ tôi nào có nghĩ xâu xa thế, sau này nhờ Vĩnh Nương thủ thỉ tôi mới hay. Lúc đó chỉ thấy sắc mặt Triệu Lương đệ là lạ, cứ ngỡ tại mình tỏ vẻ hòa nhã với Tự Bảo lâm, tôi bèn vỗ về Tự Bảo lâm mấy câu rồi sai người đưa khúc gỗ kia lên.
      Bùa ngải vốn bị coi là vật ô uế nên tấm gỗ kia được đặt khay, do cung nữ bưng tới, Vĩnh Nương để tôi phải chạm tay vào. Tôi ngắm nghía tám chữ ngày sinh tháng đẻ được khắc ràng đó hồi mà chẳng thấy gì, bỗng dưng nhớ ra chuyện:
      - Sao đột nhiên lại lục soát gầm giường của Tự Bảo lâm?
      Tôi vừa dứt lời, mặt Triệu Lương đệ thoắt biến sắc vẻ khó hiểu.
      Chuyện là con chó do Triệu Lương đệ nuôi tự dưng chạy đâu , cung nữ tìm khắp nơi thấy, có người thấy bảo nó chạy vào sân viện của Tự Bảo lâm, thế là người của Triệu Lương đệ liền xộc vào tìm. Tự Bảo lâm khăng khăng thấy con chó nào chạy vào đây cả, nhưng cung nữ hầu hạ Triệu Lương đệ tin, làm ầm ĩ cả lên, nhốn nháo chạy lục soát, chẳng ngờ thay vì tìm ra chó, lại thấy tấm bùa này.
      Triệu Lương đệ thưa:
      - Xin Thái tử phi giúp thần thiếp phân xử vụ này.
      Tôi hỏi Tự Bảo lâm:
      - Rốt cuộc thứ này ở đâu ra?
      Tự Bảo lâm quỳ sụp xuống:
      - Thần thiếp quả , xin Thái tử phi minh xét.
      - Đứng lên, đứng lên !
      Tôi vốn ghét những người hở tí là quỳ, bên quay sang với Triệu Lương đệ:
      - Có lửa mới có khói, Tự Bảo lâm sao phải yểm bùa muội? Ta cảm thấy chuyện này đơn giản…
      Triệu Lương đệ lạnh lùng lên tiếng:
      - Chứng cứ rành rành ra đó, Thái tử phi vậy, phải chăng có ý thiên vị Tự Bảo lâm?
      Ả đốp lại chẳng kiêng nể gì, mắt long lên vẻ đờ đẫn. đợi tôi lên tiếng, Vĩnh Nương thưa:
      - Ý của Thái tử phi là phải điều tra nguyên do ràng, hề có ý thiên vị, mong Lương đệ ý tứ ngôn từ.
      Ả ta đứng phắt dậy, vái tôi rồi :
      - Vậy thần thiếp chờ Thái tử phi điều tra ràng vụ này, chỉ mong sớm có ngày cháy nhà ra mặt chuột, đến lúc đó mong Thái tử phi cho thần thiếp lời giải thích ràng.
      Ngừng lát rồi ả tiếp lời:
      - Thần thiếp xin được cáo lui!
      Rồi lằng nhằng thêm nữa, cũng chẳng đợi tôi đồng ý, ả nghênh ngang dẫn người bỏ .
      Vĩnh Nương tức mình, :
      - Há lại như thế, mạo phạm đến thế là cùng!
      Tôi gì, Triệu Lương đệ ghét tôi cũng phải thôi, tôi cũng chẳng ưa gì ả.
      Tự Bảo lâm quỳ dưới sàn từ nãy đến giờ, rụt rè đưa mắt nhìn tôi. Tôi thở dài, đích thân đỡ ấy dậy, hỏi:
      - Kể ta nghe đầu đuôi chuyện ngày hôm nay, xem rốt cuộc xảy ra chuyện gì.
      Dường như Tự Bảo lâm vẫn chưa hết bàng hoàng, cho đến khi Vĩnh Nương sai người rót trà nóng, ấy chậm rãi nhấp môi, sau đó mới được ngọn ngành.
      Nơi Tự Bảo lâm sống vốn khuất nẻo. Tết này, trong cung ban thưởng theo thông lệ. Với tôi và Triệu Lương đệ những món ấy chẳng đáng là bao, nhưng với Tự Bảo lâm âu cũng là những vật quý hiếm. Tự Bảo lâm vốn chân chất, hiền lành, hai cung nữ tôi sai tới lại rất mực ngoan ngoãn, nghe lời, Tự Bảo lâm mới dấm dúi lấy bánh trái chia cho họ ăn. Mà vật ngự ban được phép biếu tặng kẻ khác, nên đành phải lén lút khóa trái cửa, phòng có người qua bắt gặp.
      Đúng lúc đó, người của Triệu Lương đệ bất thình lình gõ cửa, bọn họ giật mình hốt hoảng, thấy chột dạ nên mới vừa giữ cửa vừa hớt hải giấu chỗ bánh trái kia . Người của Triệu Lương đệ vừa xộc vào sục sạo khắp nơi, Tự Bảo lâm chột dạ, kiên quyết để bọn họ xông vào làm bừa, nhưng đám người Triệu Lương đệ phái đến chẳng biết nể nang ai, đôi bên lời qua tiếng lại, chẳng mấy chốc thành cãi cọ ầm ĩ. Người hầu của Triệu Lương đệ xưa nay quen thói làm thôi, làm phải làm tới cùng, thế là chúng xới tung cả phòng của Tự Bảo lâm, chẳng ngờ chó thấy, lại thấy tấm bùa nằm dưới gầm giường của Tự Bảo lâm. Phen này đúng là chọc phải tổ ong vò vẽ rồi, đám tay chân của Triệu Lương đệ, người quay về bẩm báo với chủ nhân, kẻ giam lỏng Tự Bảo lâm lẫn hai cung nữ kia. Triệu Lương đệ vừa nhìn thấy tấm bùa, giận đến run rẩy cả người, chẳng chẳng rằng liền lôi thẳng Tự Bảo lâm đến gặp tôi.
      Tự Bảo lâm nước mắt lưng tròng:
      - Thần thiếp quả thực biết thứ đó ở đâu ra… Xin Thái tử phi minh xét…
      Minh xét cái nỗi gì… Hai người bọn họ trời chẳng chịu đất, đất chẳng chịu trời, xoay tôi mòng mòng như thế này tôi còn minh xét cái gì được nữa, song khúc gỗ này hẳn phải từ trời rơi xuống. Tôi hỏi Tự Bảo lâm:
      - Đồ ở ngay dưới gầm giường, lẽ nào muội biết ai đặt vào đó hay sao?
      Tự Bảo lâm tưởng tôi hạch tội, giật mình quỳ phịch xuống:
      - Bẩm nương nương, thần thiếp tự biết thân biết phận, tuyệt đối có ý tranh giành với ai, nào dám oán rủa gì Lương đệ…
      Trông sắc mặt Tự Bảo lâm tái mét vì sợ, tôi liền bảo:
      - Ta có ý đó, ta chỉ muốn , phải tự dưng vật này lại ở ngay dưới gầm giường của muội. Cả ngày muội quanh quẩn trong phòng, hai cung nữ kia ngày qua ngày ở bên hầu hạ, dạo gần đây có kẻ nào khả nghi ghé qua chỗ muội, hoặc có chuyện gì đáng ngờ ?
      Tự Bảo lâm nghe thế mới dần trấn tĩnh lại, vắt óc lại xem có chỗ nào đáng nghi.
      Sau hồi ngẫm nghĩ, cuối cùng vẫn thưa:
      - Thần thiếp nhớ ra có kẻ nào khả nghi…
      Thôi, Tự Bảo lâm có khác gì tôi, cùng dạng đểnh đoảng.
      Tôi có thiện ý an ủi ấy vài câu rồi cho lui. Thấy Tự Bảo lâm vẫn bán tín bán nghi, tôi bèn :
      - Năm dài tháng rộng, có ngày được phơi bày, phải sợ, đợi sau rằm hãy tính.
      ấy trông tôi có vẻ tự tin, đoán chừng tôi chắc chắn mọi chuyện mới trịnh trọng vái chào tôi rồi lui về.
      Vĩnh Nương hỏi:
      - Thái tử phi có diệu kế để tìm ra hung thủ của vụ án này chăng?
      Tôi ngáp dài:
      - Ta có kế gì, mấy vụ như thế này ta biết gì đâu.
      Vĩnh Nương dở khóc dở cười, lại hỏi:
      - Vậy Thái tử phi định giải thích thế nào với Triệu Lương đệ?
      Tôi trợn mắt nhìn bà ấy:
      - Có phải ta đặt bùa dưới gầm giường đâu, việc gì ta phải giải thích với ả?
      Vĩnh Nương nghe tôi mà khóc dở mếu dở, cằm rằm khuyên tôi mãi, nhưng tôi buồn ngủ díp mắt, chẳng nghe được mấy câu vẹo đầu ngủ khì.
      say giấc nồng, bỗng nhiên có người xốc tôi dậy. thực, tôi vẫn mơ màng ngái ngủ. Tuy Vĩnh Nương thường xuyên sai người kéo tôi ra khỏi giường, nhưng chí ít cũng phải vừa ẵm vừa đỡ, chứ đâu xấc xược như người này.
      Tôi hé mắt nhìn. Ối, là Lý Thừa Ngân! chỉ xốc tôi dậy mà còn lên tiếng:
      - Nàng vẫn ngủ được cơ à?
      Thôi, tôi xong rồi!
      Nhất định ả Triệu Lương đệ kia mách lẻo gì với rồi, chẳng trách giờ hoạch họe tôi. Tôi xẵng giọng:
      - Có gì mà ngủ được! Chuyện Tự Bảo lâm chưa điều tra chứ sao, Điện hạ gào lên phỏng ích gì!
      nhíu mày nhìn tôi:
      - Tự Bảo lâm lại có chuyện gì thế?
      Hả? chưa biết sao? Triệu Lương đệ chưa thủ thỉ gì sao? Tôi liếc mắt, cười nịnh bợ:
      - À… có gì, có gì! Chàng tìm thiếp có chuyện gì thế?
      - Mai là tết Nguyên tiêu rồi!
      - Thiếp nhớ chứ!
      Nhảm , bằng hôm nay tôi cố ngủ nướng cả ngày để làm gì? Là để dồn sức cho tối mai, để ngắm hoa đăng chứ còn gì nữa.
      Thấy tôi vẫn tỉnh bơ, mới :
      - Mai ta phải hầu phụ hoàng lên lầu Chu Tước, cùng dân đón tết Nguyên tiêu.
      - À, thiếp biết.
      Đương nhiên phải biết chứ! Năm nào cũng vậy, cứ độ tết Nguyên tiêu, Bệ hạ và đều xa giá đến Thừa Thiên Môn, vẫy chào dân chúng trong thành, nghe bách dân trăm họ tung hô “vạn tuế”, gọi cách hoa mỹ là “cùng dân đón tết Nguyên tiêu”, còn thẳng ra là đứng hứng gió mất nửa đêm. May thay phận nữ nhi trong hoàng thất phải theo, kiểu gì tôi cũng đông cứng thành cột băng cổng thành, đóng băng chỉ là chuyện , bỏ lỡ hội hoa đăng mới là chuyện lớn.
      gườm gườm, tỏ vẻ bực mình, khó chịu:
      - Nàng hứa với ta gì nào?
      câu, phải thế nào nhỉ, gần vua như gần hổ, lòng vua khó dò. Câu này quá chí lý, tiếp con trai của hoàng đế khác gì tiếp hổ con, ý tứ khó dò y như nhau, nghĩ gì tôi đoán mãi ra, bèn rụt rè hỏi:
      - Thần thiếp hứa gì với Điện hạ ư?
      Thấy tôi ngơ ngác, liền cao giọng:
      - Quả nhiên nàng quên sạch rồi! Nàng hứa dẫn ta đến kỹ viện chơi.
      Ôi trời ơi! Câu này hà tất phải gào lên như thế sao?
      Tôi bổ nhào đến chặn đứng miệng lại:
      - Bé cái miệng chứ!
      Vĩnh Nương biết Lý Thừa Ngân đến, lòng thấp thỏm yên, chỉ sợ chúng tôi cãi vã, liền bước vào nội điện, khéo thế nào mà bà ấy vừa thò đầu vào, đập vào mắt bà ấy là cảnh tôi như con cua tám càng quắp chặt thân hình Lý Thừa Ngân, xiêm y chẳng những xộc xệch mà tay còn bụm chặt miệng . Về phần Lý Thừa Ngân, vừa xốc tôi dậy khỏi giường, hai bàn tay vẫn ghì chặt eo tôi… Quả trông tôi y như con khỉ vắt vẻo cành cây. chung tư thế của hai đứa bảo mập mờ rất mập mờ, khả nghi, đúng là có thừa khả nghi… Bà ấy chưa kịp nhìn tình giật mình quay đầu mất hút.
      Tôi thấy bực mình, lần trước là A Độ, lần này đến lượt Vĩnh Nương, hà tất họ cứ phải nhằm lúc này để xông vào?
      Lý Thừa Ngân có vẻ háo hức ra mặt:
      - Dậy nào, ta sai người chuẩn bị quần áo ổn thỏa cả rồi. Sau tết Nguyên tiêu, ta sợ còn dịp nào nữa.
      Tôi cứ tưởng sau khi làm lành với Triệu Lương đệ, quên chuyện này rồi chứ, ai mà biết còn nhớ.
      Quả nhiên chuẩn bị sẵn túi lớn toàn quần áo mới. Trước kia tôi chưa từng được ngắm Lý Thừa Ngân trong trang phục thường dân, sao cứ thấy có nét gì đó là lạ, khó nên lời. Cũng thể là chướng mắt, có điều giống với dáng vẻ thường ngày của lắm.
      hí hửng lấy từ trong túi bộ râu giả đưa cho tôi xem:
      - Có cần dán râu giả ? Thế này chắc chẳng ai nhận ra chúng ta.
      hớn hở lôi từ trong túi bộ quần áo đưa cho tôi xem:
      - Có phải vận quần áo màu đen ? Thế này tha hồ vượt tường, leo nóc nhà.
      Rồi lại lục trong túi gói thuốc mê đưa tôi xem:
      - Có phải mang thuốc mê theo ? Thế này có mười tên cũng thành vấn đề.

      Tôi điên mất thôi! Điện hạ ơi là Điện hạ, người đến kỹ viện chứ có phải giết người, cướp của, phóng hỏa ở tiệm bạc hay lương khố đâu… Tôi nóng nảy gắt lên:
      - Mang tiền là đủ rồi.
      Cái này khỏi phải , Lý Thừa Ngân những có tiền mà còn rất hào phóng nữa chứ. Tôi vừa dứt câu “mang tiền là đủ rồi”, liền vét đáy túi lấy ra đống vàng, chậc chậc, cả đống thế này phải bao trọn phường Minh Ngọc luôn ấy chứ!
      Tôi thay đồ nam xong, Lý Thừa Ngân cứ tủm tỉm cười. Tôi gườm gườm, dọa dẫn theo nữa, cố gắng lắm mới nín được cười.
      Tôi khăng khăng đòi dẫn A Độ theo, Lý Thừa Ngân sống chết chịu, tôi :
      - có A Độ bên cạnh, thiếp quen.
      nghiêm nghị bảo:
      - Có ta bên cạnh nàng là đủ rồi.
      - Thế nhưng nhỡ đâu…
      - Nàng tin ta có đủ sức bảo vệ nàng ư?
      Tôi thở dài, lần trước kẻ nào bị thích khách đâm cho nhát sống dở chết dở, suýt chết hả… Sực nhớ đến gã thích khách nọ, bỗng dưng tôi thoáng thấy áy náy, tức cũng mềm lòng, tôi bèn lén ra hiệu cho A Độ ngầm bám theo chúng tôi.
      Thế là tôi và Lý Thừa Ngân cùng lén ra khỏi Đông cung mà thần biết, quỷ hay. Thế nào Vĩnh Nương cũng đinh ninh tôi và Lý Thừa Ngân ở trong điện, kẻ nào phát ra hành tung của chúng tôi. Bỗng dưng tôi thấy háo hức vô cùng, từ xưa tôi thích xuất cung, long nhong bên ngoài mà, dù hôm nay phải dẫn theo Lý Thừa Ngân nhưng tôi vẫn rất đỗi vui sướng.
      Ra khỏi Đông cung mới nhận ra trời mưa. Làn mưa rét buốt táp vào mặt, lạnh thấu xương, bất giác tôi thấy lo lo, nếu mưa to hơn, chỉ e hội hoa đăng ngày mai kém vui. Năm kia trời cũng mưa to, tuy phố vẫn dựng lều trúc, vẫn chăng đèn, nhưng trăng lên tù mù, nào có biển hoa đăng để mà ngắm đâu.
      Con đường lát đá ngập nước, tiếng vó ngựa vang lên lộc cộc. Nhành liễu tuốt lá lưa thưa buông thõng như làn tóc rối, tô điểm cho quán xá hai ven đường, trong quán nhen nhóm ánh đèn vàng, đèn lồng nối đuôi nhau chạy dọc con đường dài trước mắt. Mai là ngày rằm tháng Giêng, nơi tửu lâu, quán trà tấp nập người ra người vào, ngựa xe như nêm. Thượng Kinh lúc nào cũng khoác lên mình vẻ phồn hoa, nhất là giáp tết Nguyên tiêu, cả nét yên ả, e ấp nữa, hệt như tân nương sắp về nhà chồng, nàng dày công trang điểm, vận xiêm y rực rỡ, chỉ đợi đến ngày mai.
      Dừng trước phường Minh Ngọc, chúng tôi xuống ngựa, tiểu nhị ân cần, niềm nở chạy đến giữ cương, dắt chúng tôi vào tàu ngựa phía sân sau.
      Tối nay phường Minh Ngọc nhộn nhịp hơn , lầu lầu dưới đâu đâu cũng kín người. Chúng tôi ướt sũng, Vương đại nương nhìn tôi mà như nhìn bảo vật sống, ngoác miệng cười mãi, giọng vẫn sang sảng như mọi khi, may mà tôi kịp cướp lời bà ấy:
      - Đại nương tìm phòng để chúng tôi thay quần áo trước , vị đại ca này lần đầu tới đây, vẫn còn lạ lẫm.
      Vương đại nương nhìn chằm chằm Lý Thừa Ngân, đôi mắt sắc sảo vừa trông thấy viên minh châu mũ đội đầu của Lý Thừa Ngân, lập tức cười híp cả mắt:
      - Vâng, vâng, vâng, đương nhiên rồi, mời hai vị công tử lối này.
      Lúc lên lầu, tôi hỏi Vương đại nương:
      - Nguyệt Nương đâu?
      - Mới có khách đến gọi Nguyệt Nương hầu đàn rồi.
      Tôi thấy là lạ, lần trước Nguyệt Nương mắc bệnh tương tư, nể mối thâm tình lâu nay giữa chúng tôi, Nguyệt Nương đàn có hai bài mà mặt ủ mày chau. Nguyệt Nương chỉ là hoa khôi của phường Minh Ngọc, mà trong đám ca kỹ hàng đầu ở Thượng Kinh, Nguyệt Nương xứng danh đệ nhất cũng phải là đệ nhị, tỷ ấy còn chẳng thèm đả động tới đám người quyền cao chức trọng nữa là… Thậm chí lần tôi dẫn Bùi Chiếu đến, tỷ ấy có bận lắm đâu. Tôi hiếu kỳ hỏi:
      - Vị khách nào mà ghê gớm vậy?
      Vương đại nương cười tươi rói:
      - Còn ai vào đây nữa! là vị lần trước khiến Nguyệt Nương nhà ta xuyến xao, bồi hồi mãi đấy thôi, hôm nay lại đến rồi.
      Hả?
      Bản tính tò mò trong tôi trỗi dậy, tôi liền chèo kéo đòi Vương đại nương dẫn xem bằng được. Vương đại nương bối rối bảo:
      - Chuyện này… Khách uống rượu trong phòng… thể phá luật được…
      Tôi mãi, mềm nắn rắn buông đủ cả, vậy mà Vương đại nương nhất quyết chịu. Bà ấy làm ăn phải chỉ ngày ngày hai, chắc nỡ hủy hoại danh tiếng gây dựng bấy lâu. Bà ấy ân cần dẫn chúng tôi lên gian phòng đẹp đẽ, lộng lẫy, còn gửi hai bộ quần áo, gọi hai đứa a hoàn xinh xắn vào giúp chúng tôi thay đồ, sau đó tự mình chuẩn bị tiệc rượu thết chúng tôi.
      Đợi bà ấy khuất, tôi mới xua hai đứa đầy tớ ra ngoài, tự thay bộ quần áo ướt sượt người, âu cũng vì sợ lòi cái đuôi mình là con . Lý Thừa Ngân khẽ hỏi:
      - Nàng định làm thế nào?
      Tôi cười ngô nghê nhìn :
      - Làm thế nào cái gì cơ?
      - Nàng đừng giả ngốc! Ta biết chắc chắn nàng có cách để xem mặt gã khách kia!
      - Đương nhiên rồi! Nguyệt Nương là tỷ muội kết nghĩa với thiếp, nếu bị gã đàn ông xấu xa kia lừa sao? Thiếp phải xem mặt ta mới được!
      Lý Thừa Ngân “hừ” tiếng, bảo:
      - Nàng hiểu gì về đàn ông mà tốt với chẳng xấu?
      Sao lại hiểu? Tôi thừa hiểu nhé!
      Tôi trỏ vào mũi :
      - Chàng đừng khinh thường thiếp! Loại người như chàng, đích thị là hư hỏng!
      Sắc mặt Lý Thừa Ngân tối sầm:
      - Thế ai mới là người đàn ông tốt?
      Đàn ông đích thực đương nhiên là cha tôi rồi, nhưng bây giờ, tôi mà lấy cha tôi ra , thế nào cũng cãi cho bằng được. Tôi nhanh trí :
      - Như Phụ hoàng ấy, người mới là đàn ông chân chính.
      Y như rằng, sắc mặt Lý Thừa Ngân càng khó coi hơn, tím tái như bị ngạt thở, nhưng thể bảo cha mình phải người đàn ông tuyệt vời được, thế là câm như hến, dám tranh cãi với tôi nữa.

      Tôi dẫn ra ngoài, băng qua dãy hành lang, thấy bốn bề bóng người tôi mới lôi tuột vào gian phòng.
      Phòng ánh đèn, tối như bưng, giơ bàn tay còn nhìn thấy đủ năm ngón. Tôi mau chóng lần mò khóa trái cửa lại, rồi lại sờ soạng đai lưng người Lý Thừa Ngân.
      Thấy tôi vừa trở gót ôm chầm lấy mình, Lý Thừa Ngân bất giác cũng gồng mình, nhưng vẫn đẩy tôi ra, trái lại, còn để tôi thỏa sức lần mò. Khổ nỗi tôi mò mãi chưa xong, tò mò hỏi:
      - Nàng định làm gì thế?
      - Suỵt! Chàng mang theo ngòi châm lửa đúng ? Đưa đây xem nào.
      Lý Thừa Ngân hậm hực móc ngòi châm lửa, dúi vào tay tôi, xem chừng có vẻ giận dỗi, nhưng ngày nào chẳng chơi bài hờn dỗi với tôi, thôi chẳng thèm bận tâm. Châm nến bàn xong, tôi :
      - Bây giờ thiếp phải cải trang , rồi lát nữa xem mặt gã khách quý của Nguyệt Nương.
      Lý Thừa Ngân :
      - Ta cũng muốn !
      Tôi mở hòm xiểng, vừa lấy đồ vừa với , buồn ngẩng lên:
      - Chàng được !
      - Sao nàng được mà ta lại ?
      Tôi xếp phấn hồng, bột nước ra bàn, cười tít mắt hỏi:
      - Thiếp định trang điểm thành con , chàng được ?
      Quả nhiên Lý Thừa Ngân cứng họng. Lúc tôi hí hửng ngồi xuống, soi gương dặm phấn Lý Thừa Ngân chợt buông thõng câu:
      - Ta cũng cải trang thành con !
      Tôi ngã khỏi ghế, mông đánh phịch xuống nền.
      Ôi, cái mông của tôi! Đau quá… Đến khi Lý Thừa Ngân kéo tôi dậy, mông vẫn còn ê ẩm.
      Lý Thừa Ngân :
      - Kiểu gì cũng được, ta quyết phải cùng nàng.
      Tôi bất lực ngước hỏi trời cao:
      - Thiếp xem mặt gã kia, liên quan gì đến chàng mà chàng đòi theo?
      - Nàng chẳng bảo Nguyệt Nương kia đẹp đến mức chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn còn gì…
      Tôi tức đến chết mất thôi, vẫn biết Lý Thừa Ngân là gã lưu manh, nhưng ngờ còn trắng trợn đến nỗi sẵn sàng hạ mình, ngại hy sinh thể diện, hóa thân thành con chỉ để ngắm hoa khôi Nguyệt Nương.
      Tôi nguýt :
      - Thôi được, chàng qua đây!
      - Làm gì?
      Tôi soi gương, nở nụ cười nham hiểm:
      - Đương nhiên là thiếp… trát phấn tô son cho chàng, chứ còn sao nữa!
      Lý Thừa Ngân vẫn sẵn nét khôi ngô, trang điểm lên ắt hẳn kiều diễm chẳng kém mỹ nhân nào.
      Tôi chải đầu, dặm phấn, cài trâm, đeo bông tai, điểm hoa văn lên trán … Chưa hết, còn phải lục đáy hòm, tìm trong tủ bộ váy cỡ lớn cho mặc, quả là… Phớt tay áo, tha thướt như nàng tiên, rồi nhành hoa gì mà trĩu hạt mưa xuân đầm ấy nhỉ…
      Điều khiến tôi thất vọng nhất là, lúc chúng tôi soi gương, nom còn đẹp hơn cả tôi chứ!
      Ai bảo da mịn sẵn rồi, lại thêm lớp phấn khiến khí khái hùng biến đằng nào, chỉ còn thấy bóng hồng xinh đẹp.
      Điểm trở ngại duy nhất chính là vóc người cao lênh khênh của , mặc đồ nữ vào trông hơi thô. Lúc xuống gác, ít gã vẫy tay đong đưa với chúng tôi vì tưởng chúng tôi là những nương ở phường Minh Ngọc. Tôi cười giả lả, lách bên này, tránh bên nọ, chật vật lắm mới tới được cửa sau, bất thình lình bị gã say chặn đường. Gã cười hềnh hệch, chụp lấy bả vai tôi:
      - Tiểu nương tử ơi, qua đây ngồi với ta nào!
      Miệng gã phả đầy hơi rượu làm tôi choáng váng. Tôi chưa kịp xoay xở, Lý Thừa Ngân vung tay giáng cho gã cái tát.
      “Bốp!”
      Gã nọ bị đánh cho đờ người, tôi bèn nặn ra nụ cười:
      - Có… có con muỗi…
      Rồi kéo Lý Thừa Ngân chạy biến.
      Chạy mạch ra tới lầu sau mới nghe tiếng gào như lợn bị chọc tiết vẳng lại từ lầu trước.
      - Ối! Nó dám đánh người…
      Phía lầu trước thoáng xôn xao, gã khách nọ la hét om sòm, nhưng thế nào cũng có người đến giải quyết ngay ấy mà. Bước ra đằng sau yên tĩnh hơn nhiều, tuy có cầu mái hiên nối liền, nhưng gian nhà phía sau chỉ dành để thết đãi thượng khách. Tiếng đàn ca thỉnh thoảng chen lẫn vài câu cười lọt qua ô cửa sổ. Bên ngoài, tơ trời rả rích tuôn rơi, dường như phụ họa theo tiếng đàn thánh thót văng vẳng trong căn phòng. Khoảnh sân tĩnh lặng như tờ, vốn trồng lưa thưa vài loại cây chưa đến mùa nảy lộc, trông chỉ màu tối đen. Tôi tò mò bèn kéo Lý Thừa Ngân chạy băng qua cầu mái hiên. Tai nghe xiêm y sột soạt, quét lê dưới đất, rồi tiếng bội ngọc va vào nhau thánh thót. Đèn lồng phía xa, từng chiếc nối đuôi nhau tỏa ánh đỏ mông lung, tưởng là xa nhưng hóa ra gần. Nhận ra mình nắm tay người nào đó, tôi sực nhớ ra, hình như đây là lần đầu tiên chúng tôi tay trong tay, chẳng hiểu vì sao vành tai tôi bỗng nóng bừng. Những ngòn tay tôi nằm gọn trong bàn tay mềm mại, ấm áp của . Tôi dám ngoái nhìn, cũng mình sợ hãi điều gì. May sao cây cầu rất ngắn, chẳng mấy chốc tôi kéo Lý Thừa Ngân vào gian phòng.
      Căn phòng được bài trí vô cùng tinh tế, lửa nhảy nhót bấc nến đỏ, khắp phòng thơm nức mùi trầm, đạp chân lên tấm thảm đỏ trải sàn mềm mại như đạp lên đám tuyết. Tôi biết Nguyệt Nương thường tiếp thượng khách ở đây, tôi nín thở, rón rén tiến lên phía trước. Ghé mắt nhìn qua lớp bình phong, loáng thoáng thấy bóng dáng ngồi giữa, Nguyệt Nương ngồi cạnh, vừa gảy đàn tỳ bà, vừa hát Vĩnh ngộ lạc. Đáng ghét nhất là tấm mành rủ hờ sau tấm bình phong, che lấp gần hết thân hình gã khách kia, khiến tôi chẳng nhìn gì cả.
      Tiếng bước chân bất thình lình vang lên khiến tôi chết đứng, cứ tưởng gã nát rượu ban nãy đuổi tới nơi, hóa ra là Du Nương với mấy ca nhi. Thấy tôi và Lý Thừa Ngân, Du Nương giật mình hoảng hốt, tôi níu tay áo muội ấy thào:
      - Du Nương, ta đây mà!
      Du Nương bụm miệng giật lùi nửa bước, mãi sau mới cười :
      - Sao Lương công tử lại ăn vận như thế này, làm em suýt nữa nhận ra.
      Rồi ấy đảo mắt sang Lý Thừa Ngân đứng sau lưng tôi:
      - Đây là vị tiểu thư nào, nhìn lạ quá!
      Tôi cười giả lả, :
      - Nghe chỗ Nguyệt Nương có thượng khách đến chơi, ta ghé qua xem cho biết thôi.
      Du Nương cười, bảo:
      - Ra thế!
      Tôi ghé tai Du Nương với ấy mấy câu, sắc mặt Du Nương có phần đăm chiêu, song tôi vẫn cố năm nỉ:
      - Tôi chỉ liếc cái rồi luôn, đảm bảo gây chuyện gì đâu.
      Ở phương Minh Ngọc này, ngoài Nguyệt Nương ra Du Nương với tôi cũng là chỗ thân tình. Con người Du Nương vốn hiền lành, dễ bị lung lay trước màn chèo kéo của tôi, cuối cùng, ấy đành gật đầu đồng ý. Tôi sung sướng, quay sang hỏi Lý Thừa Ngân:
      - Chàng biết múa ?
      Cứ đinh ninh Lý Thừa Ngân sắp hộc máu, ngờ hỏi tôi tỉnh bơ:
      - Múa điệu gì?
      - Đạp ca[2]
      [2] Đạp ca là hình thức nghệ thuật vừa múa vừa hát, mang tính truyền thống của dân tộc Hán.
      Chỉ chờ câu “ biết” của là tôi cắt đuôi ngay lập tức, ngờ thẳng thừng buông hai từ:
      - Ta biết!
      Mình ngốc quá! là thái tử, cứ độ tháng Ba hằng năm, trong cung làm lễ Kỳ yên[3], năm nào cũng do thái tử đạp ca, mình ngốc quá mất!
      [3] Theo tục lệ cũ, mùa xuân, mùa thu hằng năm làm lễ trừ tà ở bến nước. Vào mùa xuân, lễ Kỷ yên thường được tổ chức vào ngày Tị, thượng tuần tháng Ba lịch.
      Tôi cố níu kéo chút hy vọng:
      - Nhưng đây là điệu múa của con mà.
      - Ta xem biết bao nhiêu lần rồi, giống nhau cả thôi.
      Thôi đến nước này rồi, đâm lao đành phải theo lao vậy.
      Trong phòng, tiếng đàn tỳ bà của Nguyệt Nương ngừng, tiếng sáo dìu dặt vang lên, trong đó ắt hẳn còn đội chuyên đàn sáo nữa. Làn điệu thúc dục đám ca nhi ra sân khấu, nhịp phách lững lờ chậm rãi, uyển chuyển mà tao nhã.
      Tôi hít hơi sâu. Nhận quạt lụa từ tay Du Nương, Lý Thừa Ngân và tôi nối đuôi mấy ca nhi tiến vào.
      Lúc ấy, Nguyệt Nương se cất giọng ca: “Chàng là trăng cao…”
      Giọng Nguyệt Nương hay quá, mượt mà như châu như ngọc, mới hát câu khiến người ta mê đắm… Tôi nghe tim mình đập rộn rã, cuối cùng cũng được thấy mặt mũi gã khách nọ ngang dọc ra sao, vừa háo hức, vừa phấn khởi lại vừa tò mò… Đám ca nhi chúm chím mỉm cười, chuyển mình xoay người lại, tôi và Lý Thừa Ngân cũng quay theo. Mọi người đồng loạt hạ tay quạt, chỉ có tôi vừa hạ quạt xuống cứng đờ người.
      Chết trân tại chỗ…
      chỉ mình tôi…
      Lý Thừa Ngân ắt cũng thảng thốt như tôi. Những ca nhi khác bắt đầu hòa mình vào điệu múa, chỉ có tôi và chững lại, đờ người.
      bởi vì, tôi có quen vị khách kia, chỉ tôi, ngay cả Lý Thừa Ngân cũng biết.
      Mà đâu chỉ quen biết bình thường…
      Trời cao ơi…
      Xin người cho chúng con cái lỗ để chui xuống…
      Hoàng thượng ơi…
      Người có nhớ cánh sen trong cơn mưa mùa hạ bên bờ hồ Đại Minh ?
      Bên cạnh tôi, những ống tay áo muôn màu bồng bềnh phiêu diêu theo điệu hát, tà váy tựa như có làn gió chao nghiêng, như băng tuyết tan chảy, lay động và vào lòng người. Tôi và Lý Thừa Ngân đứng ngây ra như khúc gỗ. Du Nương liên tục nháy mắt ra hiệu, tôi phải nhéo mình cái, rồi lại cấu Lý Thừa Ngân… Phải chăng mình mơ? Nhất định là mơ rồi?
      Bệ hạ… Phụ hoàng… Trời ơi tại sao lại là người? Người… người… người… bảo nhi thần và Thái tử Điện hạ nên trốn vào đâu đây… Nhi thần chỉ muốn đào cái lỗ…
      May thay, Bệ hạ hổ là Bệ hạ, dù chúng tôi đứng chết trân vì quá đỗi kinh ngạc người vẫn rất điềm tĩnh quét mắt nhìn qua chúng tôi rồi thản nhiên nhấc chén trà, nhấp môi.
      Lý Thừa Ngân là người lấy lại tinh thần trước, kéo tay áo tôi, lả lướt nhún nhảy từng bước theo đám ca nhi. Vừa múa vừa quay đầu lại, thấy Nguyệt Nương trợn mắt nhìn mình, chắc tỷ ấy nhận ra tôi rồi. Tôi bèn nháy mắt, đáp lại tôi là cái lườm của Nguyệt Nương. Chắc tỷ ấy sợ tôi quấy quả làm thượng khách mất hứng, nhưng có đánh chết tôi cũng dám làm trò xằng bậy trước mặt vị khách này.
      Chẳng dễ gì qua được khúc đầu tiên, Nguyệt Nương mỉm cười đứng dậy toan lên tiếng vị khách liền :
      - Điệu ca này quả tệ!
      Nguyệt Nương khéo léo :
      - Vẫn còn chưa hay, may đại nhân chê. Chi bằng tạm cho họ lui xuống, Nguyệt Nương đàn mấy bài hầu hạ đại nhân nghe.
      Thượng khách gật đầu:
      - Cũng được.
      Nguyệt Nương vừa buông tiếng thở phào nhõm, vị khách lại giơ tay chỉ:
      - Bảo hai ca nhi này nán lại.
      Ngón tay của vị khách trỏ vào Lý Thừa Ngân, kế đó chuyển sang tôi, sai lệch chút nào. Nguyệt Nương như sắp ngất, nụ cười môi cứng đờ:
      - Thưa đại nhân… giữ lại… giữ lại bọn họ là sao ạ?
      - Kỹ thuật múa của hai ca nhi này rất khá, giữ lại để hầu rượu ta.
      Lời thượng khách , ai dám khước từ! Thế là Nguyệt Nương ái ngại liếc tôi, tôi ái ngại ngó sang Lý Thừa Ngân, Lý Thừa Ngân ái ngại nhìn Bệ hạ, mà Bệ hạ ái ngại… khụ khụ, người nhìn xoáy vào chúng tôi.
      Tóm lại, tất cả lui ra ngoài, bao gồm cả những nghệ nhân chơi nhạc, trong phòng chỉ còn bốn người ngơ ngác nhìn nhau, người nào người nấy đều có suy tính riêng.
      Sau cùng, vị thượng khách lên tiếng:
      - Nguyệt Nương, xem có món gì !
      Bấy giờ Nguyệt Nương luýnh quýnh nhìn tôi lúc, rồi lại đưa mắt nhìn sang vị khách quý nọ. Trông vị đại nhân kia vẫn bình thản như , dù tôi nháy mắt ra hiệu, song quả thực Nguyệt Nương chẳng hiểu ý tôi. Về sau lại sợ vị khách kia sinh nghi, Nguyệt Nương đành vái chào rồi lui ra ngoài.
      Đầu gối bủn rủn, tôi quỳ sụp xuống, sợ sợ, mà do là người. Vừa nhảy múa mệt phờ, đám ca nhi dưới trướng Du Nương đều là những ca kỹ có tiếng ở kinh thành, bở hơi tai mới bắt kịp bọn họ.
      Lý Thừa Ngân cũng bắt chước tôi quỳ xuống, cảm giác trong phòng có điều gì đó khác thường, bầu khí cũng lạ lùng.
      Đừng có phạt tôi chép sách nữa nhé! Tôi rầu rĩ nghĩ, phen này mình gây họa lớn rồi, dám dẫn Thái tử Điện hạ đến kỹ viện, lại còn bị Hoàng đế Bệ hạ bắt tại trận nữa chứ! Bây giờ phạt mình chép ba mươi lần Nữ giới, chết chứ làm sao sống nổi!
      Nhưng tôi sực nhớ ra chuyện, Bệ hạ cũng đến thanh lâu kia mà. Chẳng hóa ra, cả nhà rủ nhau đến kỹ viện rồi còn gì, chắc người nỡ phạt tôi chép sách đâu.
      Tôi mải suy nghĩ bỗng nghe Bệ hạ hỏi:
      - Ngân Nhi, sao con lại ở đây?
      May mà Lý Thừa Ngân dõng dạc đáp:
      - Do con hiếu kỳ, muốn đến xem cho biết ạ!
      Bệ hạ chỉ vào tôi, hỏi:
      - Thế Thái tử phi sao?
      Lý Thừa Ngân vẫn hùng hồn đáp:
      - Do Thái tử phi cũng thấy hiếu kì nên con mới dẫn theo.
      Có tình có nghĩa đấy! Bấy giờ, tôi chỉ muốn vỗ vai Lý Thừa Ngân : “ ngờ chàng lại trượng nghĩa đến thế! Nể tình chàng ra tay nghĩa hiệp, lần sau thiếp nhất định báo đáp.”
      Bệ hạ cất tiếng “ờ” nhàn tản, sau đó :
      - ngờ phu thê hai con lại sắt son như vậy.
      Vẻ mặt Lý Thừa Ngân tỉnh bơ:
      - Con xin mạo muội hỏi phụ hoàng, sao người cũng có mặt ở đây?
      ngờ Lý Thừa Ngân lại to gan đến thế, cả nhà ngao du kỹ viện chứ có gì đâu, hà tất phải trắng ra như thế, chỉ làm khó xử hơn. Nhưng Bệ hạ vẫn cười, :
      - Chấp chính khó, miễn là đắc tội với các danh gia thế tộc[4], thân là Thái tử, lẽ nào con hiểu đạo lý đó?
      [4] Trích Mạnh Tử.
      - Những gì phụ hoàng chỉ bảo, nhi thần luôn ghi lòng tạc dạ, song phụ hoàng cũng từng , tiền triều diệt vong, căn nguyên bởi kết bè kết cánh, đảng phái trong triều mọc lên như nấm, lệnh vua như , lại thêm dịch châu chấu triền miên, giang sơn xã tắc vì lẽ đó mà tuột khỏi tầm tay, đại nghiệp từ đó mà mất.
      Họ gì mà tôi chẳng nghe lọt câu nào. ràng hai người họ bàn chuyện triều chính, chứ ngao du kỹ viện gì chứ!
      Tôi thấy chán ngán, bỗng Bệ hạ cười phớt, :
      - Trước mắt con định xử trí ra sao?
      - Lật lại bản án ạ!
      Bệ hạ lắc đầu:
      - Án cũ từ mười năm trước, đâu dễ lật được. Vả chăng nhân chứng, vật chứng giờ đây thất lạc hết rồi, phải lật lại từ đâu đây?
      Lý Thừa Ngân cũng cười, :
      - Cần bao nhiêu vật chứng, ắt có bấy nhiêu. Về phần nhân chứng… Phụ hoàng thân chinh vi hành tới đây, tất phải biết nhân chứng ở đây rồi.
      Bệ hạ bật cười, thở dài, bảo:
      - Con là…
      Tôi nhớ mỗi lần nghịch ngợm đòi cưỡi con ngựa bất kham, cha luôn mắng tôi bằng câu vẻ bất lực ấy. Nỗi nhớ cha gợi lên trong lòng tôi cảm giác ấm áp, thân thương, dù tôi hiểu hai cha con họ gì. Lát sau, chợt vang lên tiếng bước chân hớt hải, liền đó, ca nhi vốn quen biết đứng ngoài gõ cửa, cuống quýt gọi tôi:
      - Lương công tử! Lương công tử!
      Cả Bệ hạ và Lý Thừa Ngân đều đổ dồn ánh nhìn về phía tôi, tôi luýnh quýnh bật dậy:
      - Có chuyện gì thế?
      - Có kẻ tự nhiên xông vào, bảo Dư Nương nợ tiền rồi trói Dư Nương lại, bây giờ đòi bắt Dư Nương !
      Tôi vừa nghe thấy nóng gáy:
      - Mau dẫn ta xem!
      Lý Thừa Ngân kéo tay tôi :
      - Ta cùng nàng!
      Tôi ngoái đầu nhìn Bệ hạ, khẽ giọng :
      - Chàng ở lại với Phụ hoàng !
      Bệ hạ gật đầu với chúng tôi:
      - Các con cứ , ta có người bảo vệ rồi.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 7

      Tôi và Lý Thừa Ngân băng qua cầu, rảo bước về phía lầu trước, chưa tới nơi nghe văng vẳng lời qua tiếng lại om sòm. Vương đại nương quát tháo:
      - Muốn bắt người phường này á, đừng hòng!
      - Có nợ phải trả, lẽ đó là bất di bất dịch rồi!
      Cầm đầu bọn du côn là gã phốp pháp, béo trắng, để bộ ria mép cá trê, vẻ gian xảo, trông tướng tá biết ngay là loại chẳng ra gì. Nhác thấy , tôi nổi giận, quát:
      - Tôn Nhị, sao lại là ngươi?
      Nhắc đến gã Tôn Nhị này, tôi và gã nếu đánh nhau quen biết. Cả chuyện cho vay nặng lãi ở quán rượu và sòng bạc. Có lần tình cờ bắt gặp gã đòi nợ đôi nhi, quả phụ, tôi thấy chướng mắt liền nện cho trận. Từ đó trở , Tôn Nhị nể tôi ra mặt, dám nhâng nháo trước mặt tôi nữa. Tôn Nhị hấp háy mắt nhìn tôi, hồi lâu mới nhận ra:
      - Lương công Tử… Cậu mặc… Ha ha ha…
      Quên mất là mình vận đồ nữ, tôi gác chân lên ghế đẩu chẳng kiêng nể gì, gài mép váy vào thắt lưng, :
      - Sao nào, thích đánh nhau hả? Tuy mặc váy nhưng ta vẫn thừa sức cho ngươi trận tơi bời!
      Tôn Nhị sợ sệt, bèn gượng cười, :
      - dám, dám ạ! Thực ra tại hạ chỉ đến đòi nợ thôi. Lương công tử à, có nợ tất phải trả đấy là lẽ thường ở đời mà. Con bé Du Nương này phải nhi, cũng phải quả phụ, lại chẳng bệnh tật gì, công tử thử xem, nó nợ tiền tại hạ, lẽ nào định quỵt?
      Tôi hỏi Du Nương:
      - Nàng nợ tiền à?
      Du Nương vốn là người thà, bèn thưa:
      - Em nợ gì đâu cơ chứ? Chẳng qua, có đôi vợ chồng là chỗ đồng hương với em, họ lên kinh thành làm ăn, ngờ người vợ ngã bệnh qua khỏi, nào tiền mời đại phu, tiền thuốc thang, sau cùng thêm tang nên mới đến tìm Tôn Nhị vay mấy chục xâu tiền. Tôn Nhị bảo đồng hương của em có tài sản gì, muốn cho vay, trừ phi có người bảo lãnh, mà họ vốn có ai thân thích ở chốn kinh thành, còn cách nào khác, em đành giúp lão. Bây giờ người chồng làm ăn thua lỗ nên cuốn gói về quê, gã Tôn Nhị này mới tới tìm em đòi tiền.
      Tôi nghe mà phát bực:
      - Cái loại đồng hương gì thế? Quỵt nợ còn để nàng mang vạ…
      Tôn Nhị giơ tay móc biên lai vay nợ ra:
      - Đấy nhé Lương công tử, giả sử đây là nhi, quả phụ tại hạ cũng làm ơn làm phước phen. Nợ nhà người ta kiểu gì chẳng phải trả. Giết người, phóng hỏa vinh hoa phú quý, xây cầu, sửa đường hóa ra chết toàn thây…
      vừa ngâm nga, tôi choáng váng mặt mày. Lý Thừa Ngân đứng đằng sau phì cười khiến Tôn Nhị nhảy dựng lên:
      - Thằng ôn nào hỗn láo đấy?
      - Ngươi gì hả?
      Lý Thừa Ngân sa sầm mặt mày, tôi muốn can cũng khó.
      Điện hạ ơi là Điện hạ, chớ có kích động, chớ có kích động!
      Tôn Nhị nhìn lướt qua Lý Thừa Ngân rồi chắp tay với tôi:
      - Bẩm Lương công tử, nếu hôm nay đòi được tiền, bọn tại hạ đành đắc tội vậy.
      - nương này chỉ là người bảo lãnh, ngươi muốn đòi nợ mà tìm lão đồng hương kia. – Lý Thừa Ngân cười khẩy, rồi tiếp. – Trong “Đại luật” có quy định về việc vay nợ, văn tự ghi , nếu con nợ qua đời, hoặc bỏ chạy, hoặc có khả năng chi trả bên chủ nợ mới có quyền thu hồi khoản vay từ người bảo lãnh.
      Tôn Nhị ngờ Lý Thừa Ngân lại lôi “Đại luật” ra chuyện phải trái với gã, gã chớp mắt, :
      - Bây giờ lão đồng hương kia trốn rồi, lẽ nào gọi là bỏ chạy à?
      - Bỏ trốn bao giờ? Người ta về quê kia mà. Ngươi thừa biết con nợ ở đâu, sao về đó mà đòi, lại gây khó dễ với người bảo lãnh là sao hả?
      - Lão đồng hương kia chạy đằng nào, làm sao ta biết được…
      Lý Thừa Ngân đẩy Du Nương cái:
      - Đồng hương của , nhà ở đâu hả?
      Du Nương đờ người, lắp bắp:
      - Thôn Tiểu Vương, huyện Thanh, phủ Vĩnh Hà, Định Châu…
      Lý Thừa Ngân :
      - Được rồi, giờ con nợ ở đâu , ngươi muốn đòi nợ mà tìm lão, đừng ở đây phá rối nữa.
      Vương đại nương nhân cơ hội chen vào:
      - nương này chí phải, ngươi muốn đòi nợ mà tìm con nợ ấy, sao lại đến gây chuyện với con phường này? Mau biến ! Mau lên!
      Bà ấy vừa vừa xô đẩy, chẳng mấy chốc, Tôn Nhị cùng mấy kẻ vô lại bị đuổi ra khỏi cửa. Tôn Nhị đứng ngoài giậm chân chửi bới om sòm, Vương đại nương vỗ lưng Lý Thừa Ngân, phấn khởi :
      - Con ngoan giúp mẹ giành lại lẽ phải, con là ca nhi dưới trướng Du Nương hả? Tiền khách tháng này của con, mẹ cho con gấp đôi!
      Tôi đứng ở bên mà cười như nắc nẻ. Gã Tôn Nhị kia vẫn lồng lộn văng tục ngoài cửa, song chẳng ăn thua gì. Đột nhiên tôi thấy gã vẫy tay với đám thuộc hạ, mấy kẻ đó tụ lại, thầm hồi rồi chia nhau ra, tản mất hút. Tôi thốt lên:
      - Ôi trời ơi, xong rồi, chỉ e gã Tôn Nhị này sắp giở trò.
      Vương đại nương vội sai thằng bé con đóng cửa:
      - Đóng cửa mau! Đóng cửa mau! được để bọn chúng xông vào làm loạn. Còn hai cái đèn lưu ly Ba Tư của ta nữa chứ, mau gỡ xuống rồi đóng cửa, mai là tết Nguyên tiêu rồi, đèn này quý lắm, nhỡ hỏng
      Gian bên này còn tất tả hạ đèn, đóng cửa. Gian bên kia, Tôn Nhị dẫn người phăm phăm quay lại, kẻ nào kẻ nấy tay lăm lăm ống trúc, chẳng bên trong đựng gì. Vương đại nương thoạt đông hốt hoảng, liền giục đám tiểu nhị mau đóng cửa. Đám du côn kia nhanh tay vẩy ống trúc trước khi cánh cửa kịp khép kín, từ ống trúc văng ra thứ gì đó đen sì. Chỗ nước ấy hắt lên cửa, đám tiểu nhị phụ trách đóng cửa kịp né, vài tên dính nước đen ngòm từ đầu tới chân, thậm chí váy của Vương đại nương cũng dính. Bà ấy giận bầm gan tím ruột, chửi toáng lên;
      - Chiếc váy hoa bằng lụa này bà mới may, mặc chưa được hai ngày, lũ khốn nạt mạt hạng kia… bà lột da chúng mày…
      Vương đại nương mực sai đám thuộc hạ mở cửa, nhưng bọn Tôn Nhị nhanh chóng bỏ chạy đến tận góc đường, lúc chạy còn quay đầu lè lưỡi trêu ngươi Vương đại nương. Điên tiết sôi gan, Vương đại nương vừa gào thét vừa giậm chân, ngớt lời chửi rủa chúng.
      Du Nương ra nhấc váy của bà ấy lên, cẩn thận xem xét rồi :
      - Khoan mẹ ơi, đây hình như là mực tàu, lấy giấm chà qua, rồi giặt bằng nước lã là sạch. Mẹ thay váy , con giặt cho…
      Vương đại nương khoác tay Du Nương, miệng vẫn lẩm bẩm chửi bới:
      - Cái bọn khốn nạn kia, lần sau gặp phải bà, đừng trách bà băm vằm chúng mày…
      Chửi rủa hồi, Vương đại nương liền sai người lau sạch cửa. Chẳng hiểu tại sao, chà mãi cánh cửa gỗ sồi mới toanh tróc cả sơn mà vẫn tài nào sạch được. Vương đại nương trông bọn người hầu lau mãi sạch, lại càng bực bội. Tôi thấy vết mực thấm vào tận lõi gỗ trong, đột nhiên nảy ra ý, liền sai đứa hầu đứng cạnh mình:
      - Lấy phấn hồng và than kẻ mày lại đây.
      Du Nương ngắm nghĩa khuôn mặt tôi, cười, :
      - Lương công tử sắm vai nữ nhi, nom thanh tú mười phân vẹn mười, dù trang điểm nhưng cũng hơn khối đứa trong phường chúng em rồi.
      Tôi cười toét miệng, đưa tay kéo Lý Thừa Ngân:
      - Tên này còn đẹp hơn ta. Mau lấy , ta bảo vẽ!
      Lý Thừa Ngân tức giận, gạt phăng tay tôi ra. Đứa hầu mang phấn hồng và than kẻ mày ra, tôi dúi cả khay vào tay , :
      - Vẽ !
      Lý Thừa Ngân trượn mắt với tôi:
      - Vẽ cái gì?
      Tôi hằm hè :
      - Lần trước Sắt Sắt của chàng dùng quạt trắng đập chết con muỗi, chàng chẳng vẽ cánh bướm từ vết máu quạt cho ả còn gì? Chàng có đủ tài vẽ lên quạt bữa nay chắc chắn có bản lĩnh vẽ lên tấm cửa này.
      Lý Thừa Ngân buông tiếng “hừ”, tôi trông có vẻ đồng tình, liền nhón chân nắm chặt cổ áo , :
      - vẽ chứ gì, để thiếp réo tên vị khách ngồi ở lầu sau nhé!
      Lý Thừa Ngân trợn trừng mắt:
      - Nàng dám!
      Tôi ngoác miệng hô:
      - Mọi người mau qua lầu sau xem Hoàng…
      Lý Thừa Ngân
      Nhanh tay bịt miệng tôi, để tiếng cuối kịp thốt ra ngoài. dùng bút mà vốc nắm phấn hồng, khoanh vòng tròn rất lớn cánh cửa, rồi trát đầy phấn vào giữa, tiếp đó lại dùng than chì, chấm chấm vẽ vẽ lên vết mực. Hiếm khi tôi lấy Lý Thừa Ngân vẽ tranh, chứ đừng tới việc vẽ bằng đầu ngón tay, đám người xung quanh bắt đầu xì xào bàn tán, tôi cũng thấy tò mò. Đầu ngón tay mải miết tô tô vẽ vẽ, dùng bút, cứ bôi trát cho đến khi vừa ý, dần dà cũng hình dáng tổng thể. Sau cùng, cẩn thận thêm thắt chi tiết, đám người xung quanh khỏi nín thở, lặng người ngắm nhìn dáng vẻ thong dong vẽ vời của .
      Đợi bức tranh hoàn tất, mọi người cùng xem. Ôi! Vết mực bị hắt vào giờ biến thành cảnh núi non trùng điệp, thoắt thoắt giữa khói trời mênh mông, chóp núi mờ xa, dặm biếc trầm mình trong sương mù, mặt trời đỏ ối mới ló rạng… quả là bức tranh sơn thủy đẹp vô cùng.
      Vương đại nương vỗ tay cười, :
      - Vẽ đẹp quá! Mẹ toan bỏ tiền mời thợ cả An của Tây phường qua Tết này đến vẽ cửa, thoạt đầu định vẽ bức ca vũ, nhưng công nhận tranh do An sư phụ vẽ thua xa bức này!
      lẽ đương nhiên, Thái tử đương triều cơ mà, từ theo học toàn thầy nổi tiếng, thơ từ ca phú, cầm kỳ thi họa cái gì chẳng biết, cái gì chẳng hay, đương nhiên phải hơn hẳn đám thợ kia rồi.
      Lý Thừa Ngân cũng lấy làm hài lòng, phủi tay ngắm nghía hồi, rồi lại nhấc than chì đề ba chữ “Cửa vẩy mực” rất lớn bên cạnh bức họa. Mặc dù tôi am hiểu thư pháp, song cũng cảm nhận được đôi phần khí thế siêu phàm thoát tục toát ra từ nét bút như rồng bay phượng múa mà Lý Thừa Ngân đề cửa. hả hê của nào chịu nguôi, lại viết thêm dòng lạc khoản nho bên dưới “Lý Ngũ Lang, Thượng Kinh”, xong xuôi mới hài lòng quẳng miếng than , ra lệnh:
      - Múc nước rửa tay!
      Vương đại nương hăm hở tự mình bưng nước cho rửa tay. Tôi cũng lấy làm tự hào. Tuy năm xưa cha đành lòng gả tôi đến Trung Nguyên để tôi lấy gã như làm chồng, nhưng xem ra tài cưỡi ngựa và võ nghệ yếu kém chút thôi, chứ cũng tài hoa ra trò!
      rửa tay sạch , Vương đại nương sai người nấu ít đồ ăn thết đãi chúng tôi. Đột nhiên bà ấy trở nên ngờ vực, mắt láo liên săm soi Lý Thừa Ngân. Tôi sợ bà ấy sinh nghi, định mở miệng lấp liếm hộ , bỗng nghe tiếng “vèo” vọng ra từ hậu viên. dải pháo bông bắn vào trung, nom cụm pháo ấy khác hẳn với những loại pháo hoa thông thường khác, những vươn cao hơn, mà còn vọt lên thẳng tắp, kéo theo vệt khói ánh bạc sáng lóa giữa màn trời đen kịt, cộng thêm tiếng huýt sáo chói tai khiến ai ai cũng phải chú ý. Pháo vươn cao tít, rồi nổ “bang” tiếng đanh gọn, vệt pháo ấy nở rộ thành chùm khói màu vàng, sợi khói vương vãi khắp nơi, như xẻ vụn sắc đêm đen tuyền tựa như nhung tơ, những vết khói đan vào nhau, vẽ lên bầu trời rất bắt mắt. Bụi vàng li ti lất phất sau tiếng nổ ấy bảng lảng cao mãi tan, phía bên kia chân trời lờ mờ phản chiếu ánh xanh.
      Lý Thừa Ngân hốt hoảng, quay ngoắt chạy thục mạng về phía lầu sau. Tôi kịp hỏi han gì, chỉ lo rảo bước đuổi theo . sải những bước chân rất dài, tôi tài nào bắt kịp. Đặt chân lên cầu, tôi mới sực nhận ra bất thường. Sân vườn im lìm đến đáng sợ. Dưới chân cầu có bóng đen nằm sõng soài, dưới thân có dòng máu chậm rãi chảy quanh, uốn lượn như con rắn kỳ dị. Sao lại có người chết ở đây? kịp nghĩ ngợi, tôi sốt ruột gọi ầm lên:
      - A Độ!
      có tiếng A Độ đáp lại, tôi liến thoắng gọi liền mấy câu, bình thường chỉ cần hô câu là A Độ nhảy ra ngay tức khắc, lẽ nào xảy ra chuyện gì với A Độ rồi? Tim tôi đập như trống dồn. Lý Thừa Ngân vung chân đạp bung cánh cửa. Chúng tôi rời căn phòng này chỉ khoảng chừng hai tuần trà, lẽ ra trong phòng phải ngát hương trầm thơm, vậy mà giờ đây xộc vào mũi chỉ có mùi máu tanh, xác người mặc đồ đen nằm la liệt dưới sàn nhà. Lý Thừa Ngân vội vã vòng qua tấm bình phong, rèm mành tơi tả, chứng tỏ nơi đây vừa xảy ra trận giằng co ác liệt. Bàn sập bị hất văng xuống đất, vết kiếm vằn vện cột trụ, khắp nơi loang lổ máu, xác người như ngả rạ. Có gã vận đồ đen dựa người bên cột trụ thoi thóp thở. Lý Thừa Ngân lao đến đỡ gã dậy, khuôn mặt gã nhuốm máu, mắt trợn trừng, bả vai lộ ra xương quai xanh trắng ởn, thậm chí cánh tay và bả vai cũng bị chặt đứt lìa, còn hấp hối là kỳ tích, Lý Thừa Ngân gằn giọng hỏi:
      - Bệ hạ đâu?
      Gã nọ cụt nguyên bả vai phải, túm chặt ngực áo Lý Thừa Ngân bằng bàn tay trái, thở hổn hển, giọng thều thào, khản đặc:
      - Bệ hạ… Bệ hạ…
      - Là kẻ nào? Bệ hạ ở đâu?
      - bịt mặt… Thích khách bịt mặt… Võ công quỷ dị… Thần bất tài…
      Dường như gã vận đến chút sức lực cuối cùng để trỏ ra phía cửa sổ mở toang, ánh mắt dần đục mờ:
      - Cứu Bệ hạ… Bệ hạ…
      Lý Thừa Ngân định hỏi thêm nhưng ngón tay gã dần buông lơi, sau cùng rơi thõng vũng máu, bất động.
      Lý Thừa Ngân ngước mắt nhìn tôi. Tôi thấy trong đôi mắt ấy vằn lên tia máu, người nhuốm đỏ, nơi nào nơi nấy la liệt người chết, tôi cảm thấy sợ. Chúng tôi chỉ bỏ chốc lát mà thích khách giết từng này con người. Hơn nữa, những người ngã xuống đều là cao thủ của Cấm vệ quân, Bệ hạ cải trang vi hành tất phải dắt theo những hộ vệ võ công cao cường, thế mà họ vẫn bị giết. Võ nghệ của gã thích khách này thực khó lường khiến tôi dám tưởng tượng nữa. Lý Thừa Ngân nhặt thanh kiếm rồi đứng bật dậy, lao phắt qua cửa sổ.
      Tôi gào lên thất thanh:
      - A Độ !
      Chẳng A Độ chạy đằng nào, sực nhớ chuyện lần trước, tôi lo ngay ngáy, biết A Độ an nguy thế nào. Lại thêm nỗi hoang mang vì Lý Thừa Ngân, với võ công cái thế của gã thích khách kia, muốn giết tôi và Lý Thừa Ngân quả thực dễ như trở bàn tay. Tôi cũng lượm thanh kiếm giữa vũng máu, lao ra khỏi cửa sổ theo , tự nhủ muốn giết cứ giết, cùng lắm là chết.
      Phía sau là khoảng sân , chính giữa có đắp núi đá được chuyển về từ phương Nam xa xôi, xếp giữa vườn để đỡ mấy cây hoa, thời tiết vẫn lạnh, cây cối chưa đâm chồi lộc mới. qua núi đá, Lý Thừa Ngân chợt đứng sững lại, vòng tay ra sau đẩy tôi lùi lại, nấp sau người . Sỏi đá dưới chân tôi gồ ghề, tôi ngây người dán mắt lên gáy , bỗng nhớ lại lần gặp thích khách trước đây, cũng đẩy tôi ra như thế này. Cảm xúc chua chát quyện lẫn ngọt bùi thể gọi tên dấy lên trong tôi. Tôi kiếng chân phóng tầm mắt nhìn quanh, qua bờ vai , tôi thấy đằng xa có vài gã mặc đồ đen giằng co vây hãm kẻ bịt mặt. Võ công của người đứng đầu phe vận đồ đen có vẻ cao cường, thế nhưng ràng phải là đối thủ xứng tầm với thích khách. Phe mặc đồ đen đều là những cao thủ đứng đầu Cấm vệ quân, tuy bị trọng thương, song họ vẫn chiến đấu ngoan cường. Gã thích khách kia tay lăm lăm thanh kiếm, tay kia khống chế người khác, chính là Bệ hạ. Mặc dù tên thích khách tay kẹp chặt cổ tay Bệ hạ, tay còn lại cầm kiếm, nhưng kiếm pháp tung ra vẫn nhanh như chớp, mỗi đường kiếm đều vạch lên thân thể những người phe mặc đồ đen vết thương chí mạng. Nhờ có ánh trăng tôi mới nhận ra núi đá loang lổ những vệt máu. Bấy giờ, ở nơi xa văng vẳng vọng lại tiếng rền vang như sấm. Gã thích khách bỗng đưa kiếm kề ngang cổ Bệ hạ, tất thảy những kẻ đứng đó ai dám nhúc nhích, đành bất lực mở trừng mắt nhìn .
      Lý Thừa Ngân hét:
      - Bỏ người đó ra!
      Giọng ấy vang lên ràng như tiếng sấm.
      Tôi có phải bầu trời dậy sấm . Tiếng động trầm vang phía xa kia vừa rền rĩ vừa vang dội, rất giống tiếng sấm đầu xuân. Chưa bao giờ tôi thấy sợ như hôm nay, phải nỗi sợ khi chứng kiến căn phòng đầy những xác người, cũng hề thấy kinh hãi trước gã thích khách xuất quỷ nhập thần, mà chỉ là canh cánh yên về điều gì đó ràng.
      Tiếng sấm mỗi lúc , gần. Qua lúc, tôi mới nhận ra đó phải tiếng sấm, mà là tiếng vó ngựa. Tiếng vó ngựa văng vẳng từ bốn phương, tám hướng, tiến đến phường Minh Ngọc bé này. Trước kia, chưa bao giờ tôi được nghe tiếng ngựa nện móng dồn dập đến thế. Cho dù thảo nguyên tôi từng chứng kiến cha mình dàn binh tập trận, điều quân xung phong… nhưng thanh ấy vang dội như thế này. Thoạt đầu tôi còn nghe loáng thoáng tiếng người kêu gào hoảng sợ trong phường Minh Ngọc, rồi tiếng ồn ào từ lầu trước, cuối cùng, tôi chỉ còn cảm nhận được rằng, nhà cửa bốn phía cũng như lắc lư, bụi đầu cũng rơi lả tả. Gian nhà phía trước giờ đây tịnh tiếng người, chỉ nghe tiếng vó ngựa cuồn cuộn như cơn thủy triều đáng sợ lao đến, giáng xuống như những trận cuồng phong, bão cát kinh hoàng nhất sa mạc, cuốn theo cát bụi bay mù mịt. Vạn vật giữa đất trời chìm nghỉm trong thanh đáng sợ kia.
      Gã thích khách im lặng, tay lăm lăm thanh kiếm khống chế Bệ hạ, lùi từng bước.
      ai dám manh động, bỗng Bệ hạ quát:
      - Tằng Hiến! Giết thích khách !
      ra thủ lĩnh phe áo đen tên là Tằng Hiến. Tôi từng nghe thấy cái tên này, biết ông ấy là tướng chỉ huy có tiếng trong Thần vũ quân[1], võ công cái thế, nghe đồn trăm người địch nổi mình ông ấy. Bả vai Tằng Hiến rỉ máu, ông ấy bước từng bước . Mũi kiếm của gã thích khách kia sắc lạnh, ngời ánh thép, kề ngay cổ Bệ hạ. Giằng co mãi cũng phân thắng bại, tôi bức bách đến nỗi mồ hôi nơi sống lưng rịn ra buốt lạnh. Lý Thừa Ngân bỗng phá lên cười, với thích khách:
      [1] Thần vũ quân: Tên gọi của Cấm vệ quân đời nhà Đường.
      - Ngươi biết ta là ai chứ?
      Gã thích khách bịt kín mít, chỉ lộ ra đôi mắt, ánh mắt ráo hoảnh, vô tình có bất cứ biểu cảm nào, ánh nhìn lạnh lẽo quét người Lý Thừa Ngân.
      - Bây giờ cánh quân tiếp viện của Thần vũ quân hẳn bao vây kín chỗ này, ngươi mà phản kháng, ắt trở thành tấm bia cho ngàn vạn mũi tên. Chỉ cần ngươi buông kiếm hàng, ta đảm bảo giữ lại mạng sống cho ngươi.
      Ánh mắt tên thích khách sáng quắc, thoáng tia do dự. Lý Thừa Ngân tiếp lời.
      - Nếu ngươi yên tâm, ngươi cứ bắt ta làm con tin, đợi ngươi bình an rút lui rồi phóng thích ta sau.
      Lòng bàn tay tôi túa mồ hôi, thậm chí chuôi kiếm cầm trơn tuột. Lòng hạ quyết tâm, từ phía sau Lý Thừa Ngân tôi nhảy vọt ra:
      - Hãy bắt ta làm con tin, dẫu sao ta cũng chỉ là phận nữ nhi yếu đuối, ngươi phải lo ta giở trò. Đợi ngươi rút lui an toàn rồi thả ta về sau.
      Lý Thừa Ngân quắc mắt nhìn tôi, tôi chẳng buồn quẳng cho cái lườm. Tôi thừa hiểu ý , mà cũng biết đây phải là trò đùa, nhưng với tình thế trước mắt, bảo tôi trơ mắt nhìn thích khách bắt làm con tin, tôi đành lòng.
      Tên thích khách vẫn lặng thinh, chỉ có thanh kiếm lạnh lùng chĩa ra. Tằng Hiến đợi tiếp viện nên cũng dám làm căng, đôi bên cố cầm cự.
      Lý Thừa Ngân đứng chôn chân. Những tiếng rầm rầm bên ngoài đột nhiên im bặt, hồi lâu hành lang mới văng vẳng tiếng bước chân, có người tiến đến gần. Sống lưng tôi lạnh toát, mồ hôi túa ra đầm đìa, thầm nghĩ hay thích khách có đồng bọn? Tiếng bước chân mỗi lúc gần, mỗi lúc sát, Lý Thừa Ngân chợt đưa tay nắm chặt tay tôi, lòng bàn tay ấy nóng ran, nhưng kỳ lạ làm sao tôi lại thấy bình tĩnh hơn hẳn. Chắc bởi tôi biết, ở ngay bên cạnh, dù có nguy hiểm sao? Cùng lắm là chết chứ gì! Hào khí ngay tức khắc sống dậy trong tôi. Thế rồi rất nhiều người xộc vào, dẫn đầu là người vận giáp bạc, thấy tình hình hai bên giằng co quyết liệt, tránh khỏi thảng thốt, song lập tức lấy lại bình tĩnh, quỳ lạy. Lớp giáp mai cọ vào nhau sột soạt, thưa:
      - Thần Doãn Ngụy cứu giá chậm trễ, xin Bệ hạ thứ tội!
      - Đứng lên !
      Tuy lưỡi kiếm của thích khách kề sát cổ Bệ hạ, vậy mà giọng người vẫn thản nhiên như .
      - Truyền lệnh giới nghiêm toàn thành, đóng cửa chín cổng thành.
      - Tuân lệnh!
      - Thần vũ quân và Vũ lâm quân của Đông cung lập tức tiến hành lục soát trong thành, truy tìm đồng đảng của thích khách!
      - !
      - được để lọt tin tức, kẻo làm rối loạn lòng dân.
      - Tuân lệnh!
      - Mau !
      - Vâng!
      Doãn Ngụy lập tức rảo bước thoái lui, kịp hành lễ. Tôi nghe tiếng dặn dò ai đó ở hành lang, rồi tiếng bước chân gấp rút cứ thế xa dần, thêm vài kẻ lục tục chạy ra ngoài. Qua lúc mới tiến vào, bẩm:
      - Xin Điện hạ trở về Đông cung trấn an hoàng thất, chỗ này có thần xử trí.
      Lý Thừa Ngân lắc đầu, ánh mắt sáng quắc nhìn chằm chằm tên thích khách:
      - Ngươi thả Bệ hạ ra, ta làm con tin của ngươi.
      vẫn nắm chặt tay tôi, tôi hét lên:
      - ! Để thiếp làm con tin!
      Lý Thừa Ngân quay ngoắt sang, hằn học trừng mắt với tôi:
      - Im !
      Trước kia chúng tôi thường xuyên cãi vã, nhưng chưa khi nào tỏ thái độ gắt gỏng, cộc cằn như thế này. Tuy sợ, nhưng tôi vẫn lấy hết can đảm, lên giọng với thích khách:
      - Luận đến cao quý, ta cao quý hơn hai người bọn họ nhiều, đừng tưởng người là Thiên tử, người là Thái tử mà lầm. Luận đến quan trọng, ai đọ nổi ta đâu. Ngươi là thích khách, ắt biết ta chỉ là Thái tử phi đương triều, mà còn là Công chúa của Tây Lương, ta lấy Lý Thừa Ngân vì mong muốn mối bang giao giữa hai nước đời đời vững bền. Tuy ngươi khống chế Bệ hạ, nhưng Bệ hạ vốn cương nghị, người quyết ngã lòng trước uy hiếp của ngươi đâu, Bệ hạ cưỡng chế sai Thái tử Điện hạ cùng Thần vũ quân lập tức bắn tên, khiến ngươi thịt nát xương tan, chết toàn thây. Dù ngươi đại nghịch bất đạo, cố công giết Bệ hạ, nhưng tiếc thay cho ngươi, sau này Thái tử Điện hạ đăng cơ, ngươi chỉ còn con đường chết. Giả sử ngươi bắt Điện hạ làm con tin, Bệ hạ còn những mười mấy hoàng tử khác cơ mà, nếu Điện hạ chịu được uy hiếp của ngươi, chắc chắn lúc đó Bệ hạ ra lệnh cho Thần vũ quân hạ thủ ngươi ngay lập tức, cùng lắm Bệ hạ lập người khác làm thái tử. Thế nên, chọn cách nào ngươi cũng chỉ có con đường chết toàn thây. Song ta khác, ta chỉ là Thái tử phi, ta còn là Công chúa của Tây Lương, giả dụ ta chết, Tây Lương tất dấy binh, dẫn đến hai nước giao tranh, trăm họ lầm than, vì lẽ đó nên Bệ hạ và Điện hạ tuyệt đối để ta chết, nếu ngươi bắt ta làm con tin, đảm bảo ngươi bình an thoát thân.
      Lý Thừa Ngân nổi giận đùng đùng:
      - xằng! Kẻ địch ở trước mặt, nàng nhúng tay vào làm gì? Người đâu! Đưa Thái tử phi về Đông cung!
      Tôi chỉ còn nước ngọt nhạt, đăm đăm nhìn gã thích khách:
      - Những gì ta , ngươi cứ nghĩ kỹ , xem có đúng ?
      biết câu nào của tôi lay động được gã, lúc lâu sau, gã thoáng băn khoăn rồi gật gù.
      Tôi cả mừng, là điều ngoài mong đợi, vội :
      -Hãy thả Bệ hạ ra, ta theo ngươi!
      Gã lạnh lùng nhìn tôi, cuối cùng :
      - Ngươi qua đây!
      Giọng gã nghe rất lạ, gần giống giọng tôi hồi mới học tiếng Trung Nguyên, phát chuẩn. Nhưng giữa lúc nước sôi lửa bỏng, tâm trí nào mà nghĩ ngợi được nhiều thế, tôi cố mặc cả với gã:
      - Ngươi thả Bệ hạ trước !
      lời nào, thanh kiếm tay kề sát vào cổ Bệ hạ, như thế sắp xé toạc lớp da mỏng manh ngay yết hầu người. Tôi hét lên:
      - Đừng động thủ, ta qua là được chứ gì!
      Lý Thừa Ngân tiến lên định ngăn tôi lại. Tôi vung kiếm chĩa về phía . Bất đắc dĩ phải lách người tránh đường kiếm, tôi liền rảo chân lao về phía tên thích khách. Gã vươn tay chụp gọn tôi, tay kia tự nhiên cũng nới lỏng. Chính lúc ấy, hàng trăm mũi tên đồng loạt lao tới. Thân thủ của tên thích khách quả nhiên đáng kinh ngạc, gã nghiêng người xoay mình theo những góc độ mà tôi chưa từng được thấy, thanh kiếm trong tay vung lên loang loáng, chặt đứt làn mưa tên. Bệ hạ thừa cơ vùng thoát khỏi khống chế của gã, tôi chĩa kiếm lao về phía thích khách, nhưng gã ra tay xuất quỷ nhập thần, nhanh như cát hạ gục thanh kiếm tay tôi. Chỉ chờ có vậy, tôi liền sải rộng cánh tay nhào đến, trong chớp mắt, tôi húc vào người Bệ hạ, đẩy mạnh người văng sang bên.
      Bệ hạ bật lùi về phía sau mấy bước, Tằng Hiến kịp thời chụp lấy cánh tay Bệ hạ, kéo người thoát khỏi mũi kiếm của thích khách. Giờ đây, những ngón tay lạnh băng của gã bóp chặt cuống họng tôi, nhưng lạnh lẽo ấy thể bằng lưỡi kiếm kề ngay cổ.
      - Tiểu Phong!
      Nghe Lý Thừa Ngân gọi tên mình, tôi liền ngoảnh lại, chỉ thoáng thấy gương mặt và ánh mắt đầy day dứt của .
      Tôi thầm nhủ, nếu mai này mình ra vĩnh viễn, mình khắc ghi nét mặt này. Tôi biết, đời nào Bệ hạ và thả thích khách, tôi nào quan trọng đến vậy, Tây Lương cũng chẳng là gì. Những câu suông vừa rồi, trong lòng tôi hiểu hơn ai hết, tất thảy đều là dối trá.
      Thần vũ quân lập tức vây quanh bảo vệ Bệ hạ và Lý Thừa Ngân. Tôi nhoẻn miệng cười với Lý Thừa Ngân, dù biết hẳn nụ cười ấy méo xệch, tôi vẫn cố cười tươi. Giả sử đây là lần cuối, vậy tôi thể khóc, tôi mong mãi ghi nhớ gương mặt với nụ cười tươi của mình.
      Tôi hé miệng, mấp máy môi tiếng:
      - Bắn tên !
      Tôi biết chắc chắn Thần vũ quân bố trí cung thủ mai phục khắp nơi, lúc này đây, chỉ cần hiệu lệnh được phát là đủ để hô biến gã thích khách thành con nhím. Võ công của gã cao cường, hạ sát vô số người, mới rồi còn uy hiếp Hoàng đế, nếu trừ khử ngay, ắt để lại hậu họa khôn lường.
      Vậy mà dường như Lý Thừa Ngân hề để ý môi tôi mấp máy, Bệ hạ thấp giọng ra lệnh:
      - Chớ làm bừa!
      ngờ Bệ hạ hạ lệnh như vậy. Lưỡi kiếm lạnh toát vẫn kề sát cổ họng tôi, Lý Thừa Ngân giật phắt mũi tên tay Tằng Hiến, cất giọng đanh thép:
      - Nếu ngươi dám động đến thê tử của ta, dù chỉ là chút, Lý Thừa Ngân này thề băm vằm ngươi thành trăm mảnh, khiến ngươi chết toàn thây! Ngươi hãy thả nàng ra, ta hứa để ngươi rút lui an toàn. Ta được tất làm được, giống như mũi tên này!
      đoạn, Lý Thừa Ngân liền bẻ đôi mũi tên, ném hai khúc tên gẫy xuống chân thích khách, xẵng giọng quát:
      - Mau thả người!
      Gã thích khách dường như vừa buông tiếng cười khẩy, ngay sau đó, gã quay ngoắt chuôi kiếm, gõ mạnh vào đầu tôi. Mọi thứ trước mắt tôi bỗng tối sầm, tôi lả ngay tức khắc.
      Lúc tỉnh dậy tôi vừa lạnh vừa đói, chưa kể tay chân bị trói chặt, thể nào cử động được. Bần thần mãi, tôi mới nhớ ra mình bị gã thích khách bắt làm con tin, Lý Thừa Ngân bẻ mũi tên thề, đòi thả người. Giờ tôi ở đâu đây? Lúc này là ban ngày, tôi hé mắt nhìn cành thông che rợp góc trời xanh, chẳng biết mình hôn mê bao lâu, cũng tên thích khách đằng nào, mà điều khó hiểu nhất vẫn là tôi ở đâu.
      Có tiếng nước róc rách chảy bên tai, gió thổi thêm lạnh khiến tôi run rẩy. Tuy thể cử động, song mắt tôi vẫn láo liên nhìn, bên trái tôi có khóm cỏ khô, bên phải là đống đất đá, chỗ xa hơn nhìn lắm… Bụng tôi lép kẹp, sao mà tránh được hoa mắt, chóng mặt. Tôi thầm nghĩ, Thượng Kinh lớn thế này, cho dù Thần vũ quân có giới nghiêm, lục soát khắp thành, nhưng đợi bọn họ xới tung từng tấc đất lên, chỉ e mình cầm cự nổi mấy ngày. Nếu Thần vũ quân đến kịp, mình chết vì đói mới đáng thương!
      Tôi mải nghĩ ngợi vu vơ, bỗng góc áo ló ra phía bên tay trái. Tôi liếc mắt soi xét hồi, nhận ra đó là chiếc áo mà gã thích khách vận tối qua, chẳng ngờ để tôi lại mình rồi cao chạy xa bay. Chắc bởi chín cổng thành giới nghiêm, Thần vũ quân và Vũ lâm quân ráo riết truy nã, đành lấy tôi ra làm bùa hộ mệnh. Gã này võ công cao siêu, coi mạng người như cỏ rác, thậm chí còn có cả gan uy hiếp đức vua, gã ràng là kẻ gian tặc, phản nghịch. Giờ tôi rơi vào tay gã, gã định làm gì tôi đây, mới nghĩ đến đó thôi tôi thấy ớn lạnh. Thế nhưng sợ cứ sợ, tôi thừa hiểu có sợ cũng chẳng ích gì, đành nhắm mắt vào , thầm nghĩ muốn chém muốn giết gì mặc bay.
      Hồi lâu thấy động tĩnh gì, bỗng tôi ngửi thấy mùi thơm phức. Tôi định tiếp tục nhắm nghiền mắt, ngặt nỗi, lòng tôi sao cưỡng lại được sức hút của mùi hương chỉ ngửi thôi thấy hấp dẫn vô cùng ấy, đành hé mắt nhìn. ra ngay trước mặt tôi là bọc thịt dê hoàng kỳ[2], loại thịt này, đừng ở Đông cung, ngay cả phố cũng chỉ được xếp vào thức ăn bình thường mà thôi. Có điều tối qua tôi ngủ lay lắt, cơm tối cũng chưa ăn, hôm nay chẳng hôn mê bao lâu, bụng dạ sôi réo từ bao giờ… Bọc thịt dê này đặt ngay bên cạnh, dậy mùi thơm nức mũi, trách chăng khó cầm lòng.
      [2] Hoàng kỳ: Tên vị thuốc đông y.
      Nhất là khi cái bụng đấu tranh mãi thôi, nó kêu gào nãy giờ.
      Nhưng tôi bị trói, bảo tôi van nài gã thích khách ấy à… Hừm! Con Tây Lương chúng tôi xưa nay bao giờ hạ mình trước mặt địch dễ dàng như vậy.
      Chẳng ngờ đợi tôi phải năn nỉ, cầu xin, gã bất ngờ chém đứt dây trói cổ tay tôi. Tôi vùng vẫy bật dậy, lúc này mới quan sát gã kĩ. Gã thích khách vẫn bịt kín mặt, ngồi vắt vẻo cành cây, ôm kiếm lạnh lùng nhìn tôi.
      Nơi đây hình như là ven sông, tôi nghe có tiếng nước chảy. Bốn bề san sát những lau già sậy úa, vẳng nghe đâu đó có tiếng vịt kêu khắc khoải, gió thốc qua rừng cây mang theo cơn lạnh cắt da cắt thịt. Tôi dán mắt vào bọc thịt dê ấy, thầm nuốt nước bọt, song vẫn chậm rãi xoay cổ tay, thầm cân nhắc xem nên bỏ trốn thế nào. Gã cho mình đồ ăn, vậy chưa chắc giết mình ngay. Nhưng làm sao mới thoát khỏi tay gã đây, võ công gã cao siêu là thế, chỉ e ngay cả A Độ cũng phải đối thủ của gã…
      Hình như tay thích khách đọc được ý nghĩ của tôi, gã :
      - Trốn? Rút gân chân.
      Gã chỉ câu ngắn gọn, vẫn giọng điệu đều đều ấy, nghe sao mà kỳ quái, song tôi vẫn hiểu được. Gã vừa , tôi cứ thử chạy xem, gã cắt đứt gân chân tôi. Tôi sợ nhé, liền liếc xéo gã, còn thè lưỡi trêu ngươi gã. Có câu thế này, sống chết có số, phú quý do trời, tôi nghĩ lâm vào bước đường này rồi, chi bằng cứ chén thịt dê cái , kẻo trước khi có người đến cứu tôi sớm tạ thế vì đói.
      Nghĩ vậy, tôi liền cầm thịt dê lên, ngoạm miếng to rồi nhai ngấu nghiến. Chẳng có phải do đói quá hay mà tôi cảm thấy mùi vị món thịt dê này sao giống món thịt dê mà đầu bếp nội cung thường làm, ăn rất ngon. Con người ta khi đói, ăn cái gì cũng cảm thấy ngon, huống chi là thịt dê hoàng kỳ. Tôi ăn thỏa thuê cách ngon lành, khiến gã thích khách kìm được tiếng cười khẩy.
      Tôi vừa nhai nhồm nhoàm vừa :
      - Ta biết ngươi cười gì rồi… Chắc ngươi cười ta đường đường là Thái tử phi mà tướng ăn lại bỗ bã thế này chứ gì? Ôi dào, ta ăn uống đẹp mắt hay , liên quan gì đến loại thảo khấu[3] như ngươi? Vả lại, con Tây Lương xưa nay câu nệ tiểu tiết. Ngươi bắt cóc ta đến đây, đừng tưởng có miếng thịt dê là ta tha cho ngươi. để ngươi hay, lần này ngươi gây họa lớn rồi. Ngươi biết cha ta là ai ? Đàn ông Tây Lương mà biết ngươi dám trói ta thế này, thế nào cũng cho ngựa giày xéo ngươi thành trăm mảnh. Nếu ngươi muốn giữ cái mạng của mình cứ trốn cả đời trong Ngọc Môn Quan , kẻo khi lạc bước đến địa giới Tây Lương, ắt bị ngựa quần chết. Mà kể cả ngươi có ở lỳ trong Ngọc Môn Quan nữa, e cũng khó bảo toàn tính mạng. Còn phụ hoàng của ta nữa chứ, ngươi cũng biết người là Thiên tử, Thiên tử nổi giận, máu chảy thành sông, xương chất thành núi. Chọc ai chọc, lại dây với vua. Chưa kể Lý Thừa Ngân, phu quân ta tức đương kim Thái tử ấy, ngươi biết Thái tử là ai hả? Là hoàng đế tương lai đấy! Tuy thể sánh bằng Bệ hạ, nhưng ngươi cứ thử chọc đến xem, đảm bảo ngươi thành nước xốt thịt, chẳng khó gì…
      [3] Thảo khấu: Chỉ những tên cướp ở những nơi rừng núi hẻo lánh thời xưa.
      Tôi hí hửng ăn thịt dê, nửa huênh hoang dọa dẫm, nửa ba hoa khoác lác, thao thao bất tuyệt hồi nhưng gã thèm đáp lại. Tôi chén xong bữa thịt dê, vẫn im lặng, chán. Quan sát bộ trang phục mặc và thanh bảo kiếm ôm khư khư trong lòng, tôi hoàn toàn tìm ra manh mối nào, xem ra khó mà đoán được lai lịch và thân phận của gã. hiểu gã uy hiếp Bệ hạ vì cớ gì? Mới ngẫm đến đó, tôi sực nhớ đến chuyện.
      Thoạt đầu, Tôn Nhị tới gây , kế đó thích khách khống chế Bệ hạ, nếu hai việc này có bất kỳ mối liên quan nào, đánh chết tôi cũng tin. Ngặt nỗi, loại người vô lại như Tôn Nhị làm sao có thể quen biết tên thích khách võ công cao cường này? Mắt đảo liên hồi, tôi vắt óc tìm kiếm mối liên quan giữa hai việc. Tên thích khách nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lùng, có nhìn tôi cũng chẳng sợ. Chỗ Bệ hạ thiếu gì nhân tài, hơn nữa, Lý Thừa Ngân có phải loại ngốc đâu, chắc chắn nghĩ tới việc Tôn Nhị vấy mực gây , rồi từ vụ Tôn Nhị bắt đầu truy tìm tên thích khách.
      Gã này võ công cao cường, hành tung lại bí , chắc khó điều tra đây. Tôn Nhị thuộc loại côn đồ khét tiếng nhưng gốc gác của ở ngoại ô, họ hàng thân thích mấy đời đều ở Thượng Kinh, có chạy đằng trời cũng thoát. Chỉ cần nắm chắc trong tay tên Tôn Nhị kia, lo gì lần ra đầu mối, khi có manh mối, trước sau gì cũng cứu được tôi.
      thân mình gã thích khách mà có thể đấu lại với những cao thủ của Thần vũ quân, thiết nghĩ đằng sau tài hô phong hoán vũ gần như bất khả chiến bại của , lai lịch ắt hẳn phải loại vừa. Trước khi ra tay, hòng tránh tai mắt của đàm người trong phường, sai Tôn Nhị đến gây nhằm đánh lạc hướng nhưng cũng cần làm căng, cốt để kéo tôi và Lý Thừa Ngân ra lầu trước. Giả sử lúc đó chúng tôi bị lừa, chưa biết chừng cũng bị gã giết rồi cũng nên… Nghĩ lại vẫn thấy ớn lạnh cả người, tôi nghĩ, bao năm qua, mình sống bình an đến ngày hôm nay quả thực dễ dàng gì, nếu có A Độ bảo vệ… Mà A Độ … Tôi nhảy dựng lên, trợn trừng mắt nhìn gã thích khách:
      - Ngươi giết A Độ rồi à?
      đáp, chỉ lừ lừ nhìn tôi.
      Ngẫm ra, trước mặt gã, tôi chỉ là kẻ trói gà chặt nhưng nếu gã giết A Độ, tôi quyết liều mạng với gã. Tôi gườm gườm nhìn gã, tự nhủ, võ nghệ của A Độ cũng thuộc hàng cao siêu, tên thích khách này tuy có phần hơn, song nếu muốn giết A Độ, làm gì có chuyện trầy vi tróc vẩy thế này. A Độ giống tôi, dù chết cũng quyết sống mái phen với địch, gì gì cũng phải để lại người gã mấy vết thương mới được. Bây giờ nom còn lành lặn thế này, nhất định A Độ vẫn còn sống. Tôi nghĩ mãi, cảm thấy cớ ấy võ đoán quá, bèn quay sang đánh giá con người tên thích khách, ngặt vì gã chỉ nhả mấy câu gọn lỏn nên tôi đoán ra. Lòng tôi nóng như lửa đốt, chỉ lo cho A Độ .
      Đúng lúc ấy, gã tuốt kiếm chỉ vào tôi, lạnh lùng bảo:
      - Ăn xong lên đường!
      ra bữa thịt dê ấy là bữa cuối cùng, giống tử tù trước khi hành hình bao giờ cũng được thết bữa no nê. Tôi chẳng thấy sợ hãi, vì biết bây giờ có van xin cũng vô ích. Tôi ưỡn ngực, :
      - Muốn giết cứ giết , thế nào cha ta cũng tìm ngươi báo thù. Còn phụ hoàng, còn cả Lý Thừa Ngân… và A Độ nữa. A Độ mà còn sống, nhất định chặt đứt đầu ngươi, xương sọ của ngươi được phụ vương ta dùng làm bát uống rượu.
      Gã lạnh lùng nhìn tôi, đột nhiên tôi nhớ tới người, vênh vang bảo gã.
      - Chưa hết! Tình cũ của ta là cao thủ võ lâm, ngươi mà giết ta, chắc chắn kiếp này tha cho ngươi. Kiếm pháp của ngươi kém nhiều lắm, ra tay nhanh như cắt, còn lâu ngươi mới bằng . có thể lấy đầu ngươi bất cứ lúc nào, ngươi cứ đợi đấy!
      Tôi vậy mà gã vẫn hề nao núng, thanh trường kiếm tay khẽ nhích hai phân. Tôi thở dài thườn thượt, ăn no rồi chết, tôi chết cũng chẳng đáng tiếc, chỉ thương trước khi chết tôi vẫn biết A Độ sống chết thế nào thôi.
      Nghe tôi thở dài, gã thích khách lạnh lùng bảo:
      - Ngươi còn muốn trăng trối gì nữa ?
      - Trăng trối có. – Tôi cố nén tiếng thở dài. – Ngươi giết sao cho dứt khoát, gọn gàng là được.
      Đôi mắt lạnh lùng của gã dường như chút mảy may thương tiếc, gã :
      - Ngươi tình nguyện chết thay phu quân à, cũng tình nghĩa quá nhỉ? Ngươi yên tâm, ta làm nhát gọn ghẽ.
      Tôi buột miệng kêu lên:
      - Ai bảo ta chết thay phu quân! Ngươi đừng có hiểu lầm! Ngươi uy hiếp là Bệ hạ cơ mà, Bệ hạ có phải phu quân ta đâu! Còn phu quân ta… Ta nợ chàng kiếm giờ trả lại cũng đúng thôi.
      Gã khẽ cử động cổ tay, định vung kiếm, tôi bỗng gào lên:
      - Khoan !
      Thấy gã vẫn lạnh lùng nhìn mình, tôi :
      - Đằng nào ta cũng chết, ngươi tháo khăn bịt mặt xuống, để ta nhìn mặt mũi ngươi ngang dọc thế nào , kẻo sau khi chết, ta biến thành oan hồn vất vưởng, muốn hóa thành ma ám người cũng có cớ.
      Câu này vớ vẩn, đời nào gã chịu nhân nhượng, thanh kiếm cứ thế nhích gần thêm mấy phân. Tôi lại thét:
      - Khoan, khoan! Trước khi chết, để ta thổi điệu kèn cái . Người Tây Lương chúng ta có tục, trước khi chết phải thổi điệu kèn, sau này được đầu thai.
      Tôi vốn chẳng hi vọng gã tin mấy lời hươu vượn của mình, ngờ đâu gã lại gật đầu.
      Đầu tôi rối bời, nhưng nghĩ ra cách tháo chạy, cứ lần lữa lúc lâu. Tôi mò mẫm trong tay áo, giả vờ tìm kèn nhưng lại tìm thấy thứ khác, liền rút ra, vung tay về phía gã.
      Tôi vừa mò thấy phấn má hồng, loại bột vừa lại mảnh ấy theo chiều gió thốc, bám vào mặt gã. Loại phấn này rất thơm khiến gã lầm tưởng là thuốc mê hay phấn độc gì đó. Nhưng kẻ này cũng chẳng phải vừa, chỉ bằng cái phất tay, đám bột bị thổi dạt quá trượng, dù là có độc cũng làm gì được gã. Song tôi chỉ cần vậy, lựa lúc phất tay, tôi tranh thủ bắn ra thứ khác, mũi tên reo bay thẳng lên trời, kèm theo tiếng rít đinh tai nhức óc.
      Tôi chẳng thèm lừa gã. Tôi có tình cũ mà, tuy tôi nhớ tình cảm trước kia giữa chúng tôi thế nào, song nay tay tình cũ ấy đích thực là cao thủ võ lâm. Chính gã đưa tôi tên reo, tôi chỉ dùng lần để cứu A Độ, giờ tôi gặp nguy hiểm, đương nhiên phải bắn tín hiệu gọi gã tới cứu mình chứ!
      Lâu lắm rồi thấy mặt Cố Kiếm, chẳng biết gã có đến kịp . Tôi sốt ruột đến nỗi mồ hôi túa ra ướt đẫm cả lưng, thế mà gã thích khách kia hoàn toàn thờ ơ với mũi tên tôi vừa bắn ra, vươn tay cắp eo, nhấc tôi chổng ngược lên. Tuy tôi béo song cũng là người lớn, vậy mà gã nhấc tôi như nhấc đứa bé sơ sinh. Tay trái gã dùng lực ném tôi bay vút ra xa.
      Tôi như con diều đứt dây vẽ đường vòng cung vào trung, rồi cả người tôi lao xuống sao dừng lại được, tay tôi khua khua giữa hư toan chụp nắm thứ gì đó, song chỉ toàn là gió. Chưa kịp định thần tiếng “tõm” vang lên, làn nước giá lạnh bủa vây lấy tôi. ra gã vừa ném tôi xuống sông.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :