1. QUY ĐỊNH BOX XUẤT BẢN :

       

    Đặt Title theo mẫu [Tên truyện] [dấu cách] - [dấu cách] [Tác giả] [Số chương]

    ----•Nội dung cần:

    - Hình minh họa (bìa truyện, hình ảnh,etc,...)

    - Tác giả

    - Dịch giả

    - Đơn vị phát hành

    - Số trang ( nên có)

    - Giá bìa (nên có)

    - Ngày xuất bản (nên có)

    --- Quy định

    1 . Thành viên post có thể tự type hoặc copy từ nơi khác (để nguồn)

    2 . Trình bày topic truyện khoa học, bôi đen số chương để dễ nhìn

    3. Cần có trách nhiệm post đến hết truyện. Nếu không thể tiếp tục post liên hệ

    Ad và Mod

  2. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Đức Phật và nàng - Chương Xuân Di(tập 2 - full)

Thảo luận trong 'Sách XB Hoàn'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. vulinh

      vulinh Well-Known Member

      Bài viết:
      20,019
      Được thích:
      24,206
      Chương 72: Lần đầu tranh cãi

      Tôi khoác tải gạo lên vai, rời khỏi nhà Mông Tốn. Ngày mùng tám Tết, tuyết thôi rơi, tuyết đóng băng tan ra, men theo mái ngói tí tách rơi xuống mặt đất. Tôi nhìn nên trời sáng sủa hiếm hoi ấy, lòng thầm hỏi: mùa đông nghiệt ngã sắp kết thúc rồi ư? Hô Diên Bình chờ tôi ngoài cổng chính như thường lệ, tạm thời xua những phiền muộn trong lòng, tôi rảo bước về phía ta.

      Bỗng từ góc phố xuất bóng dáng cao gầy, vẻ đĩnh đạc, nghiêm nghị của người ấy khiến tôi đứng tim, toàn thân đông cứng. Tôi nhìn sang Hô Diên Bình, ta lắc đầu ảo não:

      - Phu nhân, pháp sư nghi ngờ từ lâu…

      Tôi cười buồn, cũng phải thôi. Hô Diên Bình ứng phó sao nổi với những câu truy vấn của Rajiva. Tôi trao tải gạo cho Hô Diên Bình và bảo ta về trước, còn bản thân bội phần bối rối khi phải đối diện với Rajiva. Chàng dắt tôi đến cuối ngõ vắng, nhìn sâu vào mắt tôi, ánh mắt thánh khiết như nhìn thấu tâm gan người khác ấy khiến tôi rùng mình.

      - Vì sao Thư Cừ Mông Tốn lại cho nàng lương thực?

      Vẻ mặt chàng hơi biến sắc, giọng nghiêm nghị.

      Tôi biết trả lời ra sao, ấp úng đáp:

      - Dạ… … ông ta mời em làm gia sư…

      - Làm gia sư cho ai? Ông ta mới chỉ có cậu con trai chưa đầy tuổi kia mà.

      Ánh mắt dò xét sắc lạnh, câu hỏi chất vấn dồn dập:

      - Nàng dạy Mông Tốn những gì?

      - Dạy… lịch sử…

      - Ông ta làu thông kinh sử, còn cần nàng dạy ư?

      Chàng ngắt lời tôi, giọng đầy bức xúc:

      - Ngải Tình, có phải nàng tiết lộ tương lai của Mông Tốn, để đổi lấy lương thực?

      - Em…

      Chàng vừa bực bội, vừa lo lắng, chau mày giận dữ, cao giọng:

      - Nàng quên lời ta căn dặn rồi ư? Những kẻ ác bá đó khi biết nàng có khả năng dự đoán tương lai, tìm mọi cách khống chế và lợi dụng nàng, đến lúc đó, nàng rất nguy hiểm.

      Tôi thầm than thở, tôi quên rằng trước mặt chàng, tôi chẳng bao dối được, chi bằng cứ ra cho lòng được nhõm đôi chút. Tôi thở dài:

      - Em tiết lộ tương lai của ông ta, em chỉ dạy ông ta về thuật trị dân, những tri thức mà ông ta đam mê nhất.

      - Thuật trị dân?

      Đôi mày thanh tú nhíu lại sâu hơn, ánh mắt sắc lẹm chiếu về phía tôi:

      - Thư Cừ Mông Tốn chắc chắn có hứng với những triết lý về nhân nghĩa và đạo đức.

      - Đúng, ông ta hề thích những thứ đó.

      Tôi ngước lên nhìn chàng, thấy mình bình tĩnh hơn nhiều, cay đắng kể tiếp:

      - Vì vậy, cuốn sách mà em giảng cho ông ta là cuốn “Quân vương” của người tên gọi Machiavelli viết vào khoảng nghìn năm sau. Tư tưởng chính của ông ấy là: đặt quyền lực cao hơn đạo đức; có thể bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích; thông thạo các mánh khóe, chiêu bài; xem trọng hiệu quả, và luôn tin rằng kết quả giúp biện hộ cho thủ đoạn.

      - Ngải Tình!

      Chàng hốt hoảng kêu lên, cảnh giác quan sát xung quanh, hạ thấp giọng, trách móc:

      - Sao nàng lại truyền giảng cho ông ta những thứ đó? Ông ta vốn là kẻ đầy dã tâm, nghe theo lời nàng, ngày càng táo tợn và tồi tệ hơn.

      - Em biết, em góp tay vào việc hun đúc nên kẻ ác bá, bạo ngược.

      Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt trong suốt, thánh thiện của Rajiva, cười xót xa:

      - Chàng có muốn biết, hàng ngày em giảng những gì cho ông ta ?

      Ngửa mặt nhìn trời, quầng sáng khi nãy tắt, bầu trời chuyển sang màu u ám. Tôi ngao ngán cúi đầu, chưa bao giờ tôi căm ghét mùa đông đằng đẵng này như bây giờ.

      - Để đạt được mục đích, đôi lúc đấng quân vương có thể sử dụng thủ đoạn bỉ ổi, tàn độc, nhưng sau đó tuyệt được tái phạm. Cần đánh giá chính xách những tổn hại tất yếu do việc sử dụng thủ đoạn xấu kia mang lại, đồng thời, thực thủ đoạn cách triệt để, dứt điểm để bản thân còn phải gây tội thêm nhiều lần nữa. Như thế, quân vương có thể giữ yên lòng dân, nếu sau đó biết ban bố ân huệ, quân vương được lòng dân.

      Tôi chậm rãi thuật lại nội dung bài giảng hôm nay với tiêu đề: Đấng quân vương sử dụng thủ đoạn như thế nào? Còn nhớ, lúc tôi giảng những lý luận này, cặp mắt chim ưng của Mông Tốn sáng lên bất ngờ, vẻ hào hứng chẳng thể che giấu, tràn ra ngoài mặt. Chương sách này quá ư hợp khẩu vị của ta.

      Mười năm sau, Thốc Phát Ô , người Tiên Tì ở Hà Tây cát cứ, xưng vương, Lữ Quang cử ông bác La Cừu của Mông Tốn dẹp loạn, nhưng ông ta thua trận. Lữ Quang nổi giận lôi đình, ra lệnh chém đầu La Cừu. Mông Tốn đưa linh cữu của người bác trở về quê nhà ở Lô Thủy, kết tội Lữ Quang là kẻ bạo ngược, vô đạo. ta viện cớ đó, dựng cờ khởi nghĩa, chỉ trong mười ngày tập hợp được hàng vạn người, nhưng lực lượng vẫn chưa đủ mạnh. Người họ Nam Thành của Mông Tốn vây thành Kiến Khang, thái thú Kiến Khang khi ấy là Đoàn Nghiệp. Hai bên phân thắng bại. Nam Thành lập mưu đưa Đoàn Nghiệp lên làm vua. Đoàn Nghiệp quyết định mở cổng thành chính thức trở thành vị vua đầu tiên của nhà Bắc Lương.

      Vào thời điểm đó, so với người họ Nam Thành đức cao vọng trọng, uy danh lẫy lừng trong bộ tộc, xét về mọi phương diện Mông Tốn đều thua kém. Bởi vậy, nếu muốn chiến lấy ngai vàng, địch thủ cần trừ bỏ số của Mông Tốn phải là Đoàn Nghiệp mà chính là ông họ Nam Thành, nên Mông Tốn liều lĩnh thực kế li gián thâm độc. ta hẹn Nam Thành cùng đến núi Lan Môn cùng tế tổ tiên, sau đó tố cáo với Đoàn Nghiệp rằng Nam Thành muốn làm phản. Nếu Nam Thành đến núi Lan Môn cúng tế, đó chính là bằng chứng của kế hoạch làm phản ấy. Đoàn Nghiệp quả nhiên mắc mưu, giết chết Nam Thành. Trước khi chết bởi tay Mông Tốn, Đoàn Nghiệp mới nhận ra bộ mặt xảo quyệt của ta.

      Phải nghe đoạn sử đầy mưu mô xảo trá và tàn độc ấy, Rajiva nhắm nghiền mắt, lắc đầu. Lúc chàng mở mắt ra, đôi mày chau lại, vẻ đau khổ hằn :

      - Ngải Tình, đó là cuốn sách chứa đầy tội nghiệt, sao nàng có thể truyền dạy cho loại người như Mông Tốn? Nàng từng rằng, ngày sau ông ta hãm hại em của mình để tranh đoạt vương vị, nhưng rất có thể, chính vì những bài giảng của nàng mà về sau ông ta hành động như vậy. Tội ác tày trời ấy, có phần trách nhiện từ phía nàng, như thế là gây nên nghiệp chướng đó!

      Tôi cắn chặt môi, nhìn thẳng vào đôi đồng tử màu xám nhạt hốt hoảng, buồn bã đáp:

      - Em biết, nhưng em biện hộ cho bản thân, em rằng, lịch sử tất phải diễn ra như vậy. Em cũng viện cớ rằng sở dĩ em làm vậy là vì sống của chàng và mọi người. Chàng cần phải cảm thấy ân hận vì ăn số lương thực đó, cũng cần phải học theo Bá Di và Thúc Tề “quyết ăn thóc nhà Chu”, hãy để em gánh chịu mọi hậu quả và trừng phạt…

      - Ngải Tình!

      Chàng ôm tôi vào lòng, đặt tay lên môi tôi. Bàn tay chàng giá lạnh, ngón tay thon dài lỗ chỗ những vết nứt nẻ do giá rét, trong gió rét căm căm, chúng se lại thành những vệt sần sùi màu xám.

      Chàng thở dài ảo não, tiếp tục trách móc tôi nữa, ánh mắt đầy thương, khẽ thầm bên tai tôi:

      - Từ ngày mai, đừng đến đó nữa…

      Tay chàng vẫn chặn môi tôi, tôi nhìn sâu vào mắt chàng, khẽ lắc đầu. Chàng buông tay ra, nhìn tôi kinh ngạc.

      - Rajiva, ngày mai, ngày kia, ngày kìa, em vẫn đến đó. Bởi vì, đó là cách duy nhất em giúp được chàng. Nhà mình còn gì để bán nữa…

      Tôi hít hơi sâu, mặc nước mắt tràn mi, nhìn chàng, khóe môi run run vì tôi sắp ra những lời kìm nén bấy lâu:

      - Rajiva, có khi nào chàng tự hỏi, vì sao chúng ta được ăn no mỗi ngày? Vì sao em phải truyền giảng thuật trị dân, thứ lý thuyết mà chàng hoàn toàn tán đồng ấy cho Mông Tốn?

      Tôi thở ra khó khăn, cổ họng đau rát, nghẹn ngào:

      - Bởi vì chúng ta cưu mang những hơn hai trăm con người, chúng ta phải chia khẩu phần của mình thành hai trăm phần. Nếu có họ, chúng ta hoàn toàn có thể ung dung cơm no áo ấm vượt qua mùa đông này.

      Những giọt lệ dồn đọng trong khóe mắt chàng, từ trong đáy mắt ấy, những tia sáng lấp lánh vẫn chiếu ra như muốn thiêu đốt người đối diện. Hai tay chàng đỡ lấy vai tôi, giọng run rẩy, từng chữ từng chữ thốt lên đầy khó khăn:

      - Ngải Tình, nàng hối hận ư?

      giọt tuyết tan len theo mái ngói, xuống cổ tôi, lạnh thấu xương, lạnh vào tận tâm can. Giọng đột ngột vút cao vì mất tự chủ và còn vì muốn trút bỏ mọi nỗi niềm:

      - Nếu em phải vợ chàng, chắc chắn em có đủ dũng khí để bao bọc họ. Rajiva, em ích kỷ hơn chàng rất nhiều. Thời đại của em dạy em rằng, con người ta sống trước hết phải vì mình. Em vĩ đại như chàng. Khi mà bản thân cơm ăn đủ no, áo mặc đủ ấm, em thể nghĩ tới việc cứu giúp những người hoàn toàn xa lạ. Em giúp đỡ những người này, phải xuất phát từ lòng nhân từ gì cả. Có thể lúc bình thường em vui lòng làm vậy, nhưng khi lâm vào hoàn cảnh đói khát, em vẫn phải nghĩ đến bản thân mình nhiều hơn.

      Tôi cắn chặt môi, để cơn đau giữ cho tôi được tỉnh táo đôi chút. Tôi thoát ra khỏi đôi tay chàng, tạo khoảng cách nhất định, cười mỉa mai, chua xót:

      - Chàng rất kinh ngạc phải ? Kinh ngạc vì ngờ, người vợ mà chàng khổ sở vượt qua mọi gian khó để được chung sống cùng lại là kẻ ích kỷ, hẹp hòi, đáng sợ đến vậy, phải ?

      Tôi gạt sang bên cánh tay chàng muốn đưa về phía tôi, lùi lại phía sau bước, tôi gần như gào lên:

      - Vào cái ngày bụng dạ cồn cào tưởng chừng chịu nổi vì đói, em từng oán trách chàng, trách chàng giữ họ lại. Nhưng trách cứ hoàn trách cứ, em thể nhẫn tâm đẩy hơn hai trăm con người ấy ra ngoài đường. Vì bước qua cánh cổng nhà mình, họ chết chắc. Nhưng nếu để họ , lẽ nào chúng ta chết đói cùng họ?

      Cơn gió mang theo cái lạnh buốt sắc của mùa đông thổi bay đám rác rưởi bên lề đường, cuốn lên trung, quét qua hai chúng tôi. Vệt sáng hiếm hoi phía chân trời bị mây đen che khuất, nên trời lại trở về với sắc màu u ám đến ngột ngạt. Trong con ngõ thanh vắng, chỉ có tiếng tôi gào thét, trút giận, thanh ấy dội lên bức tường gạch màu nâu những cung bậc thê lương.

      - Em luôn lòng muốn giúp chàng, chưa bao giờ oán thán nửa lời, bởi vì em chàng, chàng tới mức, em sẵn sàng cùng chàng đối mặt với đói khát, nhất quyết trở về thời đại của mình. Chàng muốn họ ở lại, chàng muốn họ được sống. Được thôi, vậy em giúp chàng đạt được mục tiêu đó bằng mọi cách. Em cũng là tín đồ của Machiavelli, bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích, mục đích của em ở đây là: tiếp tục sống. Thay đổi lịch sử sao? Chàng có chấp nhận hay sao? Những điều này chẳng thể ngăn trở mong muốn của em, rằng bản thân tiếp tục sống và chàng tiếp tục sống…

      - Ngải Tình, nàng…

      chịu nỗi phải chứng kiến nỗi đớn đau tột cùng và chấn động mãnh liệt dâng lên trong mắt chàng, tôi lạnh lùng quay gót, bước về nhà. được đoạn nghe có tiếng bước chân lạo xạo phía sau, tôi biết đó là chàng, liền cắn môi, sải bước nhanh hơn. Chàng vẫn theo sát phía sau tôi, chỉ yên lặng . Tiếng bước chân chầm chậm, nặng nề, tựa như chiếc búa sắt gõ động tâm can tôi. Nước mắt lã chã, tôi lấy tay gạt , lồng ngực căng ra và hít vào sâu, đầy luồng khí buốt lạnh. Lúc này, hãy cho tôi được giải tỏa căng thẳng lần. Nếu , tôi chịu nổi nữa. biết tôi còn có thể chịu đựng được bao lâu nữa…

      Hai chúng tôi cứ thế lặng lẽ trở về nhà. Buổi tối, khi ngủ, chàng vẫn ôm tôi như mọi ngày, nhưng hoàn toàn im lặng. Ngày hôm sau, chàng sắp xếp để các đệ tử ra phố khất thực, còn mình ở nhà, lặng lẽ quan sát tôi. Bước ra khỏi cổng chính, tôi cảm nhận được ánh mắt bi thương ấy ở phía sau mình, cảm giác đó, tựa như thanh kiếm sắc cắt trái tim tôi. Tôi hít hơi sâu, cắn chặt môi, kiên quyết quay đầu lại.

      Hôm đó, Hô Diên Bình đến đón tôi và cõng gạo về. Rajiva cả ngày ở nhà, trầm ngâm năng, ánh mắt buồn bã ngừng dõi theo tôi. Hôm đó, chúng tôi ai với ai lời nào, mọi người trong nhà nhận ra bất thường đó, ai cũng kiệm lời và ngủ sớm.

      Trước khi ngủ, tôi quên bôi thuốc vào vết thương tay chàng. Tận dụng ánh sáng bàng bạc của vầng trăng treo ngoài cửa sổ, tôi đưa mắt sát vào vết thương của chàng, kiểm tra. Sắp lành rồi, chỉ cần chịu khó bôi thêm vài ngày là ổn. Ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt thương của chàng, chàng hé môi chừng như định gì, nhưng tôi quay mặt , đặt tay chàng xuống, đứng lên, bước về phía chiếc giường. Vùi mình trong chăn, nghiêng người về phía tường, thu mình vào góc.

      Chàng lên giường, nằm xuống cạnh tôi, vẫn đưa tay ra ôm lấy tôi như thường lệ. Tôi xoay lưng về phía chàng, mặc chàng vòng tay qua ôm lấy mình. Dù năng gì, nhưng chúng tôi đều biết người kia sao ngủ được. gần ba tiếng chúng tôi với nhau câu nào, đây là lần cãi vã lớn đầu tiên của chúng tôi vì những bất đồng trong quan niệm về giá trị.

      Tôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi, ai đúng ai sai có nghĩa lý gì đâu! nhau ngần ấy thời gian, tôi cứ nghĩ, cái ngăn cách giữa hai chúng tôi là thân phận nhà sư và tín ngưỡng Phật giáo của chàng. Nhưng bây giờ xem ra, vượt qua mọi trở ngại để đến với nhau khó bằng thương, sát cánh bên nhau giữa lúc khốn cùng trong thời buổi li loạn, đói khổ. Có là vợ chồng nghèo, làm việc gì cũng khó ? Lẽ nào, tình sâu đậm của chúng tôi cũng thể vượt qua nổi rào cản này?

      Chợt trong chăn có tiếng gãi sồn sột, tôi biết, hai chân chàng cọ vào nhau. Chợt nhớ đến vết nứt nẻ chân chàng, chắc rằng hơi nóng trong chăn khiến chàng ngứa ngáy khó chịu. Tôi khoác áo, ngồi dậy, lần đến cuối giường, đưa tay tìm kiếm hai bàn chân chàng, đặt lên lòng, xoa bóp cho chàng dễ chịu. Bỗng chàng bật dậy, rút chân về, ôm chầm lấy tôi. Áp má vào lồng ngực chàng, tôi nhận thấy chàng khẽ run rẩy. Trong bóng đêm, bờ môi mềm mượt của chàng lướt má tôi, tìm kiếm môi tôi, run rẩy, hít hà. Tôi đáp lại chàng, hôn lên mắt chàng, vị mặn mòi thấm vào đầu lưỡi, ra chàng khóc. Trái tim tôi như vỡ òa, tôi áp môi mình vào môi chàng, chúng tôi cuốn vào nhau. Chàng vươn lên, hôn vào mắt tôi, khi làn môi mềm mại ấy lướt qua, tôi mới chợt nhận ra, chỉ mình chàng khóc.

      - Rajiva, em xin lỗi, em là con người của thế kỷ XXI, em ích kỷ hơn chàng rất nhiều. Chàng hề sai, dù cho con người thời đại tán đồng quan điểm về giá trị của chàng, còn cho rằng kiên trì, đức độ, bao dung và thanh cao như chàng là cổ hủ nữa. Còn em sao? Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quan điểm đại trong tư tưởng của Machiavelli chắc gì là đúng! Thực ra rằng, em muốn mọi người được sống tiếp, chẳng qua chỉ là cách biện hộ cho việc em sử dụng thủ đoạn mấy vẻ vang để đạt được mục đích của mình mà thôi…

      - Nàng sai…

      Chàng ngẹn ngào thào bên tai tôi:

      - Sinh ra trong gia đình vương giả, từ ta quen với cuộc sống được cung phụng, no đủ, người hầu kẻ hạ, chưa từng nếm trải nỗi cực khổ của người đời. Bản thân ta lại chỉ biết tụng kinh giảng đạo, mà những tri thức đó hoàn toàn có tác dụng gì trong lúc thiên tai dịch họa này, chẳng giúp ta có được gạo ăn, đừng đến cứu giúp người khác. Ta có lòng muốn giúp đỡ người khác lúc hoạn nạn, nhưng biết lượng sức mình, càng chẳng thể ngờ, trận đói này lại kéo dài như vậy, khiến ngay cả chúng ta cũng phải chịu cảnh đói khát. Ta làm chồng mà để vợ mình phải chịu khổ cực…

      Tôi cắn chặt môi mới kìm chế được mình bật khóc. Mười mấy con người nằm đằng sau tấm rèm này. Tôi ghì chặt lấy chàng, hôn lên bờ môi chàng, thầm vào tai chàng:

      - , người phải xin lỗi là em. Rajiva, đừng tự trách mình. ai có đủ khả năng thay đổi tình trạng này, kể cả người đến từ tương lai như em. Chúng ta phải nhà cầm quyền, chàng bị họ Lữ kia tước đoạt quyền lực tôn giáo, nên khi đối mặt với nạn đói, chàng cũng giống em, chúng ta chỉ là những thường dân tội nghiệp. Chàng làm tất cả những gì có thể: ngày ngày khất thực, đến nhà các bá quan văn võ trong triều thuyết giảng kinh Phật để đổi lấy lương thực. Bây giờ, xin hãy để em giúp chàng. Dù có thế nào, mình em gánh chịu hậu quả, để chàng bị liên lụy…

      Môi chàng áp lên môi tôi, ngăn tôi tiếp, chúng tôi cuốn lấy nhau say mê. Chàng dịu dàng kéo tôi vào lòng, giọng chàng êm ái mà rành rọt:

      - Ta suy nghĩ rất nhiều và hiểu ra rằng, tuy Mông Tốn là kẻ xảo quyệt, nhưng dù sao cũng hơn nhiều tên họ Lữ kia, nên nàng làm vậy là đúng. Nàng gây ra nghiệp chướng, vì nàng là vợ ta, vì nàng muốn giúp ta cứu người. Nên bất luận bị đầy xuống tầng đại ngục nào, dù phải lên núi đao, xuống chảo dầu, ta đều bằng lòng gánh chịu thay nàng.

      Nước mắt tuôn rơi, tôi ngả mình vai chàng, nghẹn ngào:

      - Em muốn như vậy…

      Chàng khẽ cười, ôm lấy hai vai tôi, bàn tay chắc nịch truyền sức mạnh cho tôi:

      - Vậy, chúng ta cùng nhau đối diện.

      - Vâng!

      Tôi hôn lên gò má gầy guộc của chàng, ghé sát vào tai chàng, thầm:

      - Rajiva, chỉ cần vượt qua giai đoạn khó khăn này, em tiếp tục giảng bài cho Mông Tốn nữa. Hãy cho em thêm chút thời gian…

      Chàng trả lời tôi bằng nụ hôn nồng nàn, những sợi râu lún phún cằm chàng cọ vào da mặt tôi ran rát, giọng chàng như gió thoảng bên tai:

      - Ta muốn nàng đến đó, phần cũng vì ích kỷ. Tuy biết nàng là người đến từ tương lai, nhưng những tri thức của nàng chắc chắn cuốn hút Mông Tốn. Ngải Tình, trí tuệ uyên bác của nàng là kho báu mà người con nào ở thời đại này có được. Nếu Mông Tốn sinh lòng muốn chiếm hữu nàng…

      - Chàng đừng lo, em biết cách tự bảo vệ. Nếu em tự nguyện, đời này, người đàn ông nào có thể ép buộc em cả.

      Tôi níu sát hơn nữa vào khuôn ngực chàng, đan tay vào tay chàng:

      - Huống hồ, chàng đâu phải kẻ vô danh tiểu tốt, vả lại giờ đây ông ta cũng chưa phải là vua nước. Tranh thê đoạt thiếp của người khác gây bất lợi cho ông ta, con người khôn ngoan, gian xảo ấy, chắc chắn hiểu điều này.

      - Ta biết này có đủ khả năng tự bảo vệ, nhưng để vợ mình ngày ngày đến nhà người đàn ông khác, ta thấy…

      Tôi sững sờ! Chàng ghen ư? Cõi lòng ngập đầy buồn tủi của tôi bỗng trào dâng niềm hạnh phúc ngọt ngào, tôi bật cười khi nước mắt vẫn chưa khô. tiếc là trong bóng đêm mịt mùng, tôi chẳng thể quan sát biểu cảm của gương mặt chàng khi ghen. Đặt tay lên môi chàng, tôi ghé sát tai chàng, rủ rỉ:

      - Rajiva, chàng tin tưởng tình em dành cho chàng gì có thể lay chuyển được chứ?

      Chàng gật đầu cả quyết.

      Tôi trải rộng bàn tay chàng ra, nắm chặt tay mình lại, đập khẽ vào lòng tay chàng:

      - Em xin thề bao giờ làm điều gì có lỗi với chàng, như vậy, chàng yên tâm chưa?

      - Nàng sát cánh cùng ta vượt qua bao gian nan khổ ải, làm sao ta có thể tin nàng được! Có điều, Mông Tốn chẳng phải chính nhân quân tử…

      Chàng thở dài khe khẽ, hôn lên trán tôi:

      - Nàng phải hết sức cẩn trọng…

      Chúng tôi ôm nhau chặt, quấn quyện trong nụ hôn dài bất tận, bàn tay đan kết trong nhau. Tôi bỗng thấy mình được tiếp thêm rất nhiều sức mạnh, sức mạnh để tiếp tục sống…

      Ngày hôm sau, như thường lệ, sau khi kết thúc giờ học, tôi cõng tải gạo, bước ra khỏi cổng chính nhà Mông Tốn. Điều khiến tôi vô cùng kinh ngạc là Rajiva và Hô Diên Bình đứng chờ tôi. Thấy tôi, chàng khẽ mỉm cười, nụ cười lâu lắm rồi tôi mới được nhìn ngắm. Lúc chàng cười, cả con người chàng như sáng bừng lên, rạng rỡ. Ánh mặt trời hiếm hoi giữa ngày đông giá lạnh đổ xuống tà áo cà sa màu nâu sòng của chàng những chùm sáng lung linh, sưởi ấm cả khoảng trời u. Tuyết tan ra ngày nhiều, tí tách giọt từ những mái hiên, tựa như thanh của trân mua .

      Hô Diên Bình đón lấy tải gạo từ tay tôi, nháy mắt đầy ý. Vẫn chưa hết ngỡ ngàng, Rajiva nắm tay tôi, kéo tôi về hướng khác. Quay đầu lại, thấy bóng dáng Hô Diên Bình đâu cả.

      - Rajiva, chúng ta đâu vậy?

      Chàng thận trọng đỡ tôi bước qua vũng nước, quay lại nhìn tôi tủm tỉm cười, nụ cười rạng rỡ tựa ánh mặt trời:

      - Đến nơi nàng biết.

    2. vulinh

      vulinh Well-Known Member

      Bài viết:
      20,019
      Được thích:
      24,206
      Chương 73: đỉnh núi phía Đông

      Tôi tròn xoe mắt ngắm nhìn căn phòng hoa lệ trước mặt, rồi quay sang Rajiva dò hỏi, nhưng chỉ thấy gương mặt gầy guộc của chàng là nụ cười hạnh phúc và mãn nguyện, đôi đồng tử màu xám nhạt ngừng dõi theo từng biểu cảm của tôi. Thấy tôi quá đỗi ngạc nhiên, niềm vui nở bừng gương mặt chàng, kéo dãn đôi mày thường ngày vẫn nhíu lại, và quét sạch những u sầu đè nặng nhiều tháng qua.

      - Đây là nhà trọ lớn nhất trong thành Guzang của Lý Cảo. Gặp phải nạn đói, nên tạm thời đóng cửa. Hôm nay, ông ấy cho chúng ta thuê trọ miễn phí căn phòng thượng hạng nhất ở đây.

      Chàng ôm lấy vai tôi dịu dàng :

      - Việc trong nhà nàng cần bận tâm, ta căn dặn Hô Diên Bình. Hôm nay, nàng hãy vui vẻ đón sinh nhật lần thứ hai mươi bảy của mình ở đây nhé!

      Tôi nhìn lại căn phòng thoáng đãng, sạch , bao lâu rồi mới lại được nhìn thấy nơi đẹp đẽ thế này? Sống mũi cay cay, chưa kịp cất lời nghe thấy có tiếng gõ cửa. Chàng tủm tỉm cười, đỡ tôi ngồi xuống ghế, tự mình ra mở cửa.

      Cửa vừa mở, tôi liền ngửi thấy hương thơm ngào ngạt, là mùi thơm của thịt! Khứu giác của kẻ luôn luôn trong trạng thái nửa ngày chịu đói, lâu dần trở nên vô cùng nhạy bén. Chàng lời cảm ơn, bưng vào bát mì nóng bốc hơi nghi ngút, đặt trước mặt tôi. Tôi tròn xoe mắt, thèm thuồng, miệng nuốt nước bọt ừng ực.

      Bát mì rất to và rất đầy, bên là những lát thịt mỏng. mình tôi thể ăn hết, thầm nghĩ, đây hẳn là “thâm ý” của Lý Cảo.

      Chàng đưa đũa cho tôi, dịu dàng cười bảo:

      - Đây là mì trường thọ, dành cho ngày sinh nhật. Nàng từng , ở thời đại của nàng, nếu có bánh ngọt, người ta ăn mì vào ngày sinh nhật, với mong muốn được trường thọ…

      Tôi xúc động, sụt sịt, ngước nhìn chàng, tươi cười:

      - Chúng ta cùng ăn nhé!

      Chàng lắc đầu, khẽ đáp:

      - Nàng ăn . Nàng quên là ta được phép dùng bữa sau giờ ngọ rồi ư?

      - Đó là trong điều kiện bình thường, còn bây giờ nạn đói hoành hành, Phật tổ chắc chắn thấu hiểu.

      Tôi gắp miếng thịt, đưa tới miệng chàng, nũng nịu:

      -Chàng ăn, em cũng ăn.

      Chàng nhìn tôi chăm chú, nở nụ cười tươi tắn, khẽ gật đầu, ngoan ngoãn đón lấy miếng thịt và nhai ngon lành. bát mì mà hai chúng tôi ăn mãi hết. Bởi vì, tôi phải chờ chàng ăn hết miếng mới chịu ăn miếng tiếp theo. Lúc đầu chàng chỉ ăn chút ít cho tôi vui lòng. Nhưng chàng ăn bao nhiêu, tôi ăn bấy nhiêu, chàng bảo no rồi, tôi cũng gác đũa bảo no rồi. Chàng đành đầu hàng, cùng tôi ăn cho bằng hết bát mì, húp cạn cả nước dùng.

      Hôm nay tôi được bữa no đời! Tôi chường bụng trống ra trước mặt chàng, rằng đây là bát mì ngon nhất mà tôi từng ăn. Và chắc chắn đời này có món gì ngon hơn thế nữa.

      Chàng mỉm cười nhìn tôi tíu tít cười, dịu dàng gạt sang bên những sợi tóc mai lòa xòa trước trán tôi, bảo tôi ngồi chờ lát. Rồi chàng lẳng lặng ra ngoài, lát sau chàng quay lại, tủm tỉm cười.

      Chàng đưa tôi ra khỏi căn phòng khi nãy, để đến căn phòng khác sau vườn. Đó là phòng , kín đáo, chỉ có cửa sổ nóc nhà, hai bên trái phải đều có chậu than hồng, bức bình phong đặt giữa nhà, phía sau, hơi nước bốc lên nghi ngút, khiến cho căn phòng trở nên ấm áp. Mấy chú xách nước nóng bước vào, đổ xong, liền bước ra và đóng cửa lại.

      Chàng vẫn mỉm cười , dắt tôi vòng ra phía sau tấm bình phong, tôi thấy thùng gỗ cỡ lớn nghi ngút hơi nước. Tôi nuốt nước bọt thèm thuồng, kể từ khi nhà tôi biến thành trại tị nạn, đến nay hơn tháng chúng tôi hề tắm rửa, để tiết kiệm củi lửa. Thường ngày, tôi phải cắn răng chịu đựng mùi hôi bốc ra từ cơ thể và đầu tóc ngứa ngáy, vô cùng khó chịu. Khi đến nhà Mông Tốn giảng bài, ta nhiều lần bịt mũi, nhăn mặt, đề nghị tôi tắm gội, nhưng tôi yên tâm về con người này và lo lắng gây chuyện đàm tiếu hay. Thà cứ để bản thân bốc mùi như vậy, khơi dậy hứng thú với ta. Nhưng xin ông trời chứng giám, tôi thèm được tắm nhường nào!

      - Vợ muốn chồng ra ngoài, hay là…

      Chàng cởi dây buộc tóc cho tôi, mái tóc rối bù, bết gàu xổ tung ra, chàng ghé sát tai tôi thào:

      - Hay là ở lại phục vụ nàng?

      Hai má tôi nóng bừng bừng. Chỉ khi thân mật, chàng mới xưng hô với tôi như vậy. Hơi ấm trong căn phòng thẩm thấu vào từng tế bào da, toàn thân được thư giãn, mồ hôi tuôn ra đầm đìa. Chúng tôi kết hôn được hơn năm, quen thuộc với cơ thể của nhau, nhưng chưa bao giờ tắm chung. Chỉ nghĩ như vậy thôi mà mồ hôi chảy ròng ròng, toàn thân tôi đỏ ửng như tôm luộc.

      Thấy tôi bối rối, gương mặt chàng cũng đỏ rực lên. Chàng hắng giọng, chuẩn bị bước ra. Tôi kéo tay áo chàng lại, mặt cúi gằm xuống nền nhà với những viên gạch lát màu xanh dương.

      - Chàng cũng nhiều ngày tắm còn gì, em muốn phải ngửi mùi hôi người chàng nữa đâu.

      Tôi ngước lên nhìn chàng, cười tinh nghịch để che đậy nỗi thẹn thùng:

      - Hôm nay là sinh nhật em, chàng phải chiều theo ý em…

      Chàng cúi người, khẽ đáp:

      - Vợ sao chồng biết vợ muốn gì chứ!

      - Chàng…

      Tôi ngắc ngứ, chàng biết trêu chọc người khác từ bao giờ thế nhỉ! Sao cứ ép người ta phải ra những lời này kia chứ!

      , sao nào! Tôi đón lấy ánh mắt chờ đợi của chàng, dõng dạc đáp:

      - Hầu vợ tắm rửa…

      Nụ cười âu yếm lan gương mặt chàng tựa như những làn sóng dập dìu, êm ái, hơi nóng nghi ngút phủ lên đôi mắt chàng lớp sương mỏng mờ ảo. Mồ hôi lấm tấm cánh mũi tôi khi toàn thân chìm trong ánh mắt đắm đuối như sóng trào của chàng.

      - Ừ…

      Giọng chàng thả dài miên man, tôi nghe mà như mê , đầu óc bất trị bắt đầu liên tưởng tới những cảnh tượng ngọt ngào tiếp theo.

      Chàng lồng tay vào tóc tôi bóp , bọt xà bông xào xạo. Động tác của chàng mấy lành nghề, chốc chốc lại giật mạnh chân tóc tôi. Tôi nén đau, vì muốn phá hỏng khung cảnh lãng mạn như trong mơ này mà tôi hằng khao khát và tưởng tượng. Chàng múc gàu nước ấm, chậm rãi dội từ đỉnh đầu cho nước thấm vào tóc, chảy xuôi xuống dưới, tôi uốn cong người vặn tóc, mỉm cười kín đáo. Tôi chợt nhớ tới đoạn quảng cáo dầu gội đầu với diễn xuất của Châu Nhuận Phát hơn mười năm trước. Người đàn ông ở vào độ tuổi hấp dẫn nhất ấy cũng gội đầu cho thiếu nữ tóc dài giống như thế này. Những dòng nước chảy xuôi, dài miên man và long lanh như những hạt trân châu, lăn mái tóc bóng mượt của . Khung cảnh ấy đọng lại vĩnh viễn trong tim tôi.

      - Chàng cũng vào

      Sau khi tôi gội đầu xong, áo cà sa của Rajiva cũng ướt sũng, tôi ấp úng:

      - Nếu , nước nguội mất…

      may là hơi nước nghi ngút che gương mặt như gấc chín của tôi, nhưng tôi tin, mặt chàng còn đỏ dữ dội hơn. Bởi vậy, khi chàng vừa bước vào và chưa kịp ngồi vững, bị tôi tinh nghịch té nước đầy mặt. Tôi bật cười sảng khoải khi thấy chàng tá hỏa lấy tay lau mặt. Chàng đưa tay ra bắt lấy vai tôi, cứ nghĩ bị chàng “trả thù”, tôi đưa hai khuỷu tay lên chắn trước mặt. Nhưng giọng chàng dịu dàng vang lên:

      - Ngoan nào…

      Những giọt nước long lanh đậu trán, má chàng, chầm chậm chảy xuôi theo gò má, tụ lại nơi chiếc cằm nhọn, thấm vào từng sợi râu lún phún, xuống khuôn ngực chàng theo nhịp thở đều đặn. Nước dâng lên nửa ngực chàng, va chạm tạo thành những lớp sóng , lăn tăn. Dưới làn nước làn da màu bánh mật lấp loáng…

      Tôi gắng sức lấy giọng, ánh mắt bị cơ thể chàng thôi miên, sao dứt ra được:

      - Tay chàng thấm nước có sao ?

      - sao.

      Chàng nhấc cánh tay lên, quan sát vết thương lành, hàng mi khép hờ, giọng lý nhí:

      - Quay lưng lại đây, để ta kỳ cọ cho nàng.

      Tôi nghe lời, xoay người lại, nhưng vô tình chạm phải “vật đó” của chàng, hai má tôi nóng bừng như bị ánh mặt trời mùa hạ thiêu đốt. Chàng sững người, sau đó áp sát thân thể nóng bỏng của mình vào lưng tôi, hơi thở nóng hổi phả vào tai tôi, thầm, âu yếm:

      - Ta muốn nàng…

      Toàn thân tê dại, cảm giác như có ngọn lửa đột ngột bùng lên từ phần bụng dưới, bản năng kích thích tôi phát ra những tiếng rên rỉ khe khẽ. Tôi quay đầu lại, đắm đuối ngắm nhìn đôi mắt sâu hun hút của chàng, môi hé mở, mắt khép lại.

      - Nhưng phải ở đây, nước lạnh khiến nàng bị cóng mất.

      Chàng bất ngờ bật cười, khẽ tách ra khỏi tôi, vỗ vào trán tôi, bắt đầu công việc kỳ lưng cho tôi bằng mảnh khăn tắm.

      - Nên là… nàng đừng tưởng tượng lung tung, tập trung tắm rửa .

      Tôi ngượng chín mặt.

      Chúng tôi dắt tay nhau ra khỏi buồng tắm, gương mặt cả hai đều đỏ như gấc chín, biết có phải vì hơi nước quá nóng hay ? Vừa bước vào căn phòng khác và chốt cửa lại, chàng lùa tay xuống dưới gáy, nâng đầu tôi lên và hôn tôi. Tôi tựa lưng vào tường, để mặc môi chàng tìm và cuốn lấy môi mình, để mặc lưỡi chàng thám hiểm trong miệng mình. Hơi thở của chúng tôi hòa quyện vào nhau, phả lên má lên mắt lên trán, nóng ran, ngọn lửa khao khát bị kìm nén bấy lâu, nay được dịp cháy bùng.

      bao lâu rồi chúng tôi chưa được dành cho nhau? Kể từ khi nạn đói ập tới, trong đầu chúng tôi chỉ toàn những vấn đề sinh tồn. Trại tị nạn trong gian gia đình quá ư chật chội, dạ dày gõ trống mỗi đêm, trong tình cảnh ấy, ai còn có thể nghĩ tới thứ gì khác ngoài miếng cơm manh áo? Hôm nay, được ăn bát mì to kèm thịt, được tắm rửa sạch sau tháng trời nhịn tắm, lại có căn phòng sáng sủa, thoáng đãng dành riêng cho hai chúng tôi thế này, ngọn lửa khát khao ấy bùng lên mới lạ.

      Miệng chàng vẫn vương vất hương vị của món mì khi nãy, toàn thân chàng vẫn tỏa ra mùi đàn hương quyến rũ thân thuộc. Đó là mùi vị đặc trưng của cơ thể chàng, mùi hương ấy hớp hồn tôi từ khi chàng còn là thiếu niên. Bao năm qua, tôi như con nghiện, chìm đắm trong mùi hương ấy, sao “cai” nổi. Tôi tham lam liếm đầu lưỡi chàng, mời gọi chàng “giao lưu”. Tôi khẽ cắn vào lưỡi chàng, như để thưởng thức lại hương vị thơm ngon của bát mì khi nãy, “động thái” đó khiến chàng rên lên khe khẽ.

      Hơi thở ngày gấp gáp, hừng hực, ngọn lửa trong mắt chàng bùng lên mãnh liệt. tay đỡ lấy vai tôi, tay kia luồn xuống dưới eo tôi, nụ hôn nồng nàn chưa dứt, chàng nhấc bổng tôi lên.

      - Ngải Tình, nàng gầy nhiều quá…

      Tôi ngả đầu vào ngực chàng mỉm cười, bàn tay mân mê gương mặt thanh tú với hàng lông mày dài, cao vút của chàng, dịu dàng :

      - Chàng cũng vậy…

      Đặt tôi lên chiếc giường được trải chiếc ga sạch , chàng trùm người lên cơ thể tôi, bàn tay với những ngón thon dài, gầy guộc âu yếm vuốt ve gương mặt tôi, ánh mắt chứa chan thương:

      - Chờ khi nạn đói này qua , ta nhất định vỗ béo cho nàng trắng mập ra mới được.

      Tôi gật gầu, khẳng khái đáp:

      - Vâng, em đồng ý, béo ục ịch còn hơn là gầy trơ xương, thèm đua đòi thân hình siêu mỏng!

      Chàng nhìn tôi băn khoăn, hiểu “siêu mỏng” có nghĩa là gì. Lúc này tôi làm gì còn tâm trạng giải thích nữa. Tôi níu lấy cổ chàng, cùng chàng tiếp tục cuộc hân hoan, giao quyện, quấn quít. Hơi thở ngày gấp gáp, nặng nhọc hơn, ánh mắt như mê , ngón tay chàng tựa như những ngọn đuốc, chạm đến đâu là đốt cháy cơ thể tôi đến đấy. Chiếc nhẫn cưới treo chiếc cổ thiên nga thon dài của chàng lúc lắc qua lại ngực tôi, như muốn kết hợp với nhiệt độ cơ thể chàng khêu gợi những khát khao cháy bỏng, thầm kín trong tôi.

      - Vợ ơi…

      Giọng chiều chộn rộn bên tai, trái tim tôi đập loạn, chờ đợi, khao khát.

      Như con thuyền giữa biển động sóng xô, hết lớp này đến lớp khác cuồn cuộn, trào dâng, sóng thuyền lên đỉnh cao bồng bềnh.

      - Ta nàng…

      Mồ hôi chàng chảy xuôi theo gò má, xuống ngực tôi. Chiếc nhẫn cưới đung đưa trước ngực tôi, đón lấy giọt mồ hôi, rồi lại đung đưa trở về khuôn ngực chàng. Những dao động qua lại ấy tạo nên trước mắt tôi ảo giác về chùm sáng rực rỡ, kỳ ảo như bông hoa trong sương sớm.

      - Ngày mai hãy về, được ?

      Tôi hỏi chàng khi sóng triều của cuộc đam mê thôi dâng, hơi thở lấy lại nhịp đều đặn. Tôi biếng nhác tựa người vào bờ vai gầy guộc của chàng, vòng tay qua chiếc cổ thiên nga quyến rũ của chàng. Thực lòng, tôi muốn dứt ra khỏi khoảnh khắc ngọt ngào, say mê này chút nào!

      - Được chứ!

      Chàng kéo chăn cho tôi, dịu dàng :

      - Lý Cảo bảo rằng chúng ta có thể ở đây bao lâu cũng được, nhưng như thế ổn, ta chỉ đề nghị ông ấy cho mượn phòng ngày thôi.

      - ngày là đủ rồi.

      Tôi cọ người vào vai chàng, lòng đầy mãn nguyện.

      - Chúng ta phải chăm lo cho hơn hai trăm con người trong nhà. Nhưng hôm nay, hãy tạm quên trách nhiệm đó. Bất luận gánh nặng đó nhọc nhằn bao nhiêu, em mong rằng, chúng ta chỉ phải nghĩ về nó khi ngày mới bắt đầu. Còn bây giờ, em muốn chúng ta dành trọn tâm tư cho thế giới của riêng chàng và em…

      Nụ cười rạng rỡ đậu mãi khóe môi chàng muốn tắt, chàng nhàng gạt sang bên những sợi tóc lòa xòa, ướt đẫm mồ hôi trán tôi, ghé sát vào tai tôi, thào:

      - Ừ…

      Chàng âu yếm ôm tôi vào lòng, mới nằm được lúc, như chợt nhớ ra điều gì, chàng bật dậy, với lấy y phục dưới chân giường, lôi ra vật gì đó. Tôi nhận ra vật dụng thiết thân của chàng - chiếc vòng mã não tôi tặng chàng năm xưa.

      - Năm nay ta có tiền để mua quà sinh nhật tặng nàng, đành phải tự làm lấy.

      Chàng đẩy chuỗi hạt ra trước mặt tôi, lúc này tôi mới nhìn kỹ và phát , chiếc vòng mã não rất dài mà trước đây tôi phải quấn hai vòng mới vừa cổ tay, nay được làm thành hai chiếc vòng . Chàng chọn ra chiếc vòng hơn, đeo vào tay tôi, chiếc lớn hơn, chàng đeo vào tay mình. Chợt nhớ trước ngày thành hôn, khi mà tôi đóng giả Hiểu Huyên, chàng lồng chiếc vòng mã não vào tay tôi khi chúng tôi gặp nhau trong lán trại của Pusyseda. Khi ấy, thấy chiếc vòng quá cỡ so với cổ tay tôi, chàng từng , sau này cắt ra làm thành hai chuỗi, ngờ, chàng thực lời hứa đó.

      - Em món quà sinh nhật này.

      Sống mũi cay cay, tôi mân mê, lật giở, ngắm nghía chuỗi hạt lóng lánh. Hình như còn có chữ gì đó, nhìn kỹ mới biết, ra mỗi hạt mã não màu đỏ đều có khắc các chữ Hán. Đó là bảy chữ tượng hình được khắc rất điêu luyện: “ phụ Như Lai, phụ nàng”.

      Tôi kinh ngạc ngẩng đầu, bắt gặp ánh mắt êm dịu như nhung lụa của chàng bao phủ mình.

      - Chuỗi hạt của ta cũng khắc “ phụ Như Lai, phụ nàng”.

      Chàng đưa tay lên cao, lắc lắc chuỗi hạt trước mắt tôi. Như chợt nhớ đến điều gì, chàng lắc đầu than thở:

      - Nhiều lần ta định đem cầm cố, nhưng rốt cuộc vẫn nỡ.

      - Chàng…

      Tôi ngắm nghía mấy chữ Hán thanh thanh, mềm mại ấy bằng cặp mắt tò mò:

      - Mã não vốn rất cứng, chàng khắc chữ lên đây bằng cách nào?

      Chàng mỉm cười:

      - Ta định tự mình khắc lấy, nhưng mất bao công sức mà vẫn thành, lại còn bị cắt vào tay nữa.

      ra vết thương tay chàng là do khắc chữ. kìm nổi nỗi xúc động, nước mắt tôi trào ra, tôi nâng bàn tay chàng lên, áp vào trái tim mình:

      - Chàng… sao chàng lại bất cẩn như vậy!

      - Ta sao!

      Chàng cười dịu dàng:

      - Hết cách, ta đành nhờ Lý Cảo tìm giúp thợ thủ công lành nghề. Ông ấy khắc những chữ này bằng mũi khoan kim cương đó.

      Thấy tôi chực khóc, chàng vội vàng sáp lại, thơm vào má tôi:

      - Hôm nay là sinh nhật nàng, được khóc.

      Chàng kéo tôi vào lòng, cảm thán mà mãn nguyện:

      - Nàng từng , câu thơ của nhà sư ấy gói trọn ước nguyện của ta trong kiếp này, đúng ? So với ngài, Rajiva may mắn hơn rất nhiều. Nàng còn , vị sư đó viết rất nhiều thơ tặng cho kia, nàng còn nhớ bài nào ?

      Tôi biết chàng muốn thay đổi đề tài để tôi khóc nữa. Ngẫm ngợi lát, tôi ngồi thẳng dậy, đáp:

      - Thay vì ngâm thơ, em hát cho chàng nghe nhé! Lời bài hát cũng được chuyển thể từ thơ của vị đại sư đó. Chàng có thể phá giới “tránh xa ca múa hội hè” ?

      - Nàng hát kia mà, tất nhiên là ta bằng lòng.

      Chàng ngồi dậy, quấn chăn bông kín người tôi, nhè vuốt tóc tôi, ánh mắt long lanh như cười trong niềm hạnh phúc ngọt ngào.

      Tôi lấy giọng, cất tiếng hát đằm thắm:

      - Vầng trăng vằng vặc đỉnh núi phía Đông, gương mặt thiếu nữ rạng rỡ trong tim ta… Nếu ta gặp gỡ, ta chẳng nhau. Nếu ta thấu hiểu, ta chẳng thương nhau…

      Ánh mắt đắm đuối của chàng ngừng dõi theo tôi, ánh mắt tán thưởng ấy cổ vũ giọng hát của tôi truyền cảm hơn. Tôi thể hát những đoạn mà vực lên cao vút như danh ca Đàm Tinh, chỉ có thể cố gắng hát cho ra giai điệu mượt mà, uyển chuyển của ca khúc, và bản thân cũng tự cảm thấy hài lòng với phần biểu diễn của mình. Bây giờ tôi mới biết, được hát cho người mình nghe, hạnh phúc và lãng mạn nhường nào.

      Hát xong, tôi mỉm cười nhìn chàng. Chàng kéo tôi sát vào vai chàng, còn chàng tựa lưng vào thành giường, tấm tắc khen:

      - Nếu ta gặp gỡ, ta chẳng nhau. Nếu ta thấu hiểu, ta chẳng thương nhau. Tình cảm của ta dành cho nàng, đúng là như vậy đó!

      Tôi tựa vào vai chàng, lồng tay vào bàn tay chàng, nhớ lại những bài thơ tình của vị Đạt Lai đời thứ sáu - Tsangyang Gyatso. Nhiều bài thơ tình của ngài được chuyển dịch sang tiếng Hán đại, nên Rajiva chưa hẳn hiểu được ngay. Bởi vậy tôi chọn bài thơ mà nhà sư viết theo lối thơ cổ:

      - đời ngắn ngủi có bao nhiêu.

      Mơ được cùng em kết thương .

      Ước chi trong kiếp lai sinh ấy.

      Tựa cửa chờ em dưới ráng chiều.

      Hồi tưởng về cuộc đời ngắn ngủi mà bi kịch của Tsangyang Gyatso, tôi bất giác thở dài:

      - Kiếp này được ở bên cạnh người thương, nên nhà sư đành gửi gắm niềm hy vọng vào kiếp sau.

      Mắt chàng long lanh, nhìn tôi chăm chú:

      - Ta phạm nhiều tội nghiệt, có lẽ bị đày xuống tầng địa ngục sâu nhất, chẳng thể tái sinh. Nhưng nếu Phật tổ xót thương, ban cho ta kiếp sau, ta vẫn nguyện được cùng nàng kết duyên chồng vợ, nàng có bằng lòng ?

      Tôi ngồi thẳng dậy, nghiêm nghị nhìn chàng:

      - Em tham lam hơn chàng, em muốn được làm vợ chàng đời đời kiếp kiếp. Dù phải trải qua bao nhiêu cửa ải sinh tử, dù phải trầm luân đến bất cứ nơi đâu trong vòng quay của lục đạo luân hồi, em vẫn muốn được ở bên chàng, được nắm lấy tay chàng, ngả đầu vào vai chàng, cười trông nhân thế. Nếu như chàng bị đày xuống tầng địa ngục sâu nhất, em nguyện được theo chàng. Chàng có đồng ý ?

      Đôi đồng tử màu xám nhạt ấy long lanh tựa châu ngọc, nụ cười quyến rũ ấy khiến gian xung quanh bừng sáng rạng rỡ. Những ngón tay đan chặt vào nhau, chàng truyền sang tôi sức mạnh:

      - Nàng biết câu trả lời mà…

      Ráng chiều len qua ô cửa sổ, nhuộm cả căn phòng thành màu hoa hồng tuyệt đẹp. Chúng tôi chìm trong mắt nhau giữa gian huyền hoặc ấy, hạnh phúc như hoa. Hôm nay là ngày nắng đẹp nhất của mùa đông dằng dặc này. Phải chăng, nó báo hiệu những ngày giá rét sắp kết thúc…

    3. vulinh

      vulinh Well-Known Member

      Bài viết:
      20,019
      Được thích:
      24,206
      Chương 74: Tiếng kêu thương dậy trời

      Đầu tháng hai lịch, tức khoảng trung tuần tháng ba dương lịch, sau hơn tháng phong tỏa, cổng thành Guzang, cuối cùng cũng được mở. Cư dân trong thành, ai nấy mặt mũi xanh xao, héo hắt, bị dồn đứng ở hai bên đường để nghênh đón đoàn quân chống phản loạn của Lữ Quang trở về. Sau gần ba tháng trời ngừng rơi, băng tuyết tan chảy hoàn toàn trong tiết xuân ấm áp, để lộ ra vô số rác rưởi la liệt khắp phố phường. Hôm qua, Lữ Thiệu đốc thúc quân lính thu dọn, nhưng bằng cách nào xóa sạch được dấu vết của nạn đói trầm trọng vừa qua.

      Đoàn quân của Lữ Quang được đón rước trong tiếng kèn trống inh ỏi, nhưng phía sau thanh náo nhiệt ấy là những gương mặt thẫn thờ, buồn thảm. Cờ bay phấp phới, dọn đường cho Lữ Quang chầm chậm tiến vào. Bên cạnh ông ta là đám con cháu Lữ Soạn, Lữ Hoằng, Lữ Long và Lữ Siêu, tên nào tên ấy vẻ mặt vênh vang, đắc ý. Sau đoàn tướng lĩnh là đến đội binh sĩ, ai nấy mặt mày lem luốc, mỏi mệt rã rời, áo quần rách nát, để lộ những sợi bông két bẩn, người họ, chỉ có chữ “lính” in sau lưng áo là vẫn nhìn thấy dù đứng từ rất xa. Lữ Quang xuất chinh dẫn theo năm vạn quân, viện binh của Lữ Hoằng khoảng hơn ba vạn. Nhưng giờ đây, theo tính toán sơ bộ của tôi, chỉ còn khỏang hơn ba vạn người. Tim tôi đập mạnh, vậy là chỉ còn hơn nửa số người sống sót trở về.

      Sau đội binh lính là đội xe bò chở hàng, những cỗ xe cỡ lớn chất ngất thứ gì đó rất giống lương thực. Đám cư dân Guzang, sau nhiều ngày đói khát, khi nhìn thấy hàng dài xe chở lương thực như vậy, bỗng nhiên náo động, ầm ĩ. Dân chúng vỗ tay rầm trời, ùn ùn kéo về giữa phố, nhưng bị đám lính dẹp đường cản lại. Từng cánh tay gầy guộc giơ ra, chới với trong trung, kiếm tìm trong vô vọng.

      Số lương thực lớn như vậy, chắc chắn thể là lương thực còn dư sau trận đánh. Trong cảnh đói kém này, đào đâu ra ngần ấy lương thực? Tôi đứng ở đầu phố, nhìn đám người nhà họ Lữ đầy ngạo mạn mà cười buồn.

      Thời kỳ Thập lục quốc kéo dài hơn trăm ba mươi năm, lật mở sách sử, thấy xuất thường xuyên của những dòng chữ ngắn ngủi thế này:

      “Mất mùa lớn, nạn đói nghiêm trọng”.

      “Quan Trung xảy ra nạn đói, dịch bệnh hoành hành”.

      “Hạn hán, bệnh dịch, giá lương thực tăng đột ngột”.

      “Nước lũ ngập năm châu: Kinh Châu, Dự Châu, Từ Châu, Dương Châu, Ký Châu”.

      Chúng ta vẫn thường tự mãn rằng: Trung Quốc đất đai rộng lớn, sản vật phong phú, nhưng thực tế là đất tuy rộng mà sản vật lấy gì làm phong phú. Do khác biệt sâu sắc về địa lý giữa các vùng Đông – Tây – Nam – Bắc, nên hàng năm thiên tai đều xảy ra cục bộ tại nhiều khu vực. Khi đất nước thống nhất, chúng ta có thể thực chính sách phân phối nguồn tài nguyên. Nhưng trong giai đoạn cát cứ phân tranh, hoặc dưới thống trị của nhà cầm quyền quan liêu, hủ bại, người dân tại những khu vực xảy ra thiên tai mà được cứu trợ ra sao? Họ chỉ có thể cướp bóc. Bởi vậy, “thiên tai” thường liền với “nhân họa”. Trong giai đoạn chiến tranh xảy ra liên miên, hoặc khi nhà nước đứng bên bờ vực diệt vong, trong sách sử thường xuất rất nhiều những ghi chép về thiên tai. Những người mê tín cho rằng đó là do ý trời. Nhưng nguyên nhân chính là do nhà nước biết cách phân phối nguồn tài nguyên, thế nên, nạn đói và chiến tranh thường bao giờ tách rời nhau.

      Như vậy có thể thấy, Lữ Quang xuất chinh nhằm hai mục đích, chống phản loạn và cướp lương thực. Hãy nhìn lại cách tổng quát lịch sử của Dương Châu trong giai đoạn này. Nhà Tiền Lương của họ Trương bị diệt vong từ lâu nên tạm thời xét đến, còn lại bốn nhà Lương cát cứ bốn vùng, cộng thêm nước Tây Tần chiếm vùng Thanh Hải và Cam Nam, năm tiểu quốc này tuy thế nước yếu ớt nhưng thường xuyên xảy ra xung đột. Từ góc độ kinh tế có thể thấy, diện tích lãnh thổ bé như vậy, lại thể khôi phục sản xuất, người dân sống nổi, họ phải làm sao? Họ dựng cờ khởi nghĩa, vậy cách khôn ngoan nhất của nhà cầm quyền trong bối cảnh này là chuyển dịch mâu thuẫn nội tại ra bên ngoài. Tiến hành chiến tranh với ngoại bang, nếu thắng lợi, có thể tha hồ cướp bóc. Nhưng những nước lớn như nhà Hậu Tần của họ Diêu thể đánh bại được. Bởi vậy, phải chọn đánh các nước vừa tầm. Chiến tranh xung đột, kéo dài suốt mấy mươi năm, chờ đến khi người hùng có khả năng thống nhất lãnh thổ xuất , những tiểu quốc này cũng từng bước tan rã.

      Và trong số những vị quân chủ này, có mấy người biết chăm lo cho dân chúng khi nạn đói ập tới. Vị hùng tài ba Thốc Phát Khuê, người lập nên vương triều Bắc Ngụy, trong thời gian chiến tranh với nhà Hậu Yên, khi ông đích thân kiểm tra tình hình ôn dịch hoành hành và nghe tướng lĩnh báo cáo rằng cứ mười người có bốn đến năm người chết vì bệnh dịch, ông thản nhiên đáp: “Đó là ý trời, chẳng thể cứu vãn. Cũng may vẫn còn rất nhiều người sống sót để xung quân”. Khi binh lính thiệt mạng quá nửa, dân thường thế nào? Sử sách ghi chép, nhưng chắc chắn nhiều hơn rất nhiều.

      Bài thơ “Bảy nỗi buồn đau” của Vương Xán có đoạn:

      “Ra cửa nào trông thấy?

      Xương trắng ngập đồng sâu.

      Bên đường có chị

      Đói, quẳng con đống lau

      xa còn tiếng khóc

      Gạt lệ ngoái đầu.

      thân còn chưa chắc

      Cả hai sống được sao?[1]”

      [1] Bài thơ “Bảy nỗi buồn đau” của Vương Xán, Nhượng Tống dịch.

      Tấn bi kịch thảm khốc ấy diễn ra ở khắp mọi nơi mảnh đất Trung Nguyên rộng lớn này. Nhìn vẻ dương dương tự đắc của bọn người nhà họ Lữ, nỗi căm phẫn trào dâng trong tôi. Vì sao chính quyền lại rơi vào tay những kẻ ác bá này? Vì sao thứ rẻ rúng nhất trong thời đại này lại là mạng sống của con người?

      Lữ Quang lớn tiếng tuyên bố trước đám đông tập trung phía trước lầu trống, rằng: Cuộc chiến chống quân phản loạn giành thắng lợi, tạ ơn ông trời phù hộ Lương Châu. Cư dân thành Guzang được phép mang theo hộ tịch đến nhận lương thực. Dân tị nạn chỉ được phát hạt giống phải lập tức trở về quê hương, tiếp tục trồng cấy. Mọi người được chia lại ruộng đất bị bỏ hoang vì thiên tai. Dĩ nhiên rồi, Lữ Quang thể chấp nhận tình trạng thiếu lương thực cho quân đội vào mùa thu tới.

      Đây vốn là tin tốt lành, nhưng Lữ Quang có vẻ rất thất vọng, vì sau tuyên bố ấy, ông ta hề nhận được những tiếng hoan hô vạn tuế dậy sóng mà ông ta hằng trông đợi. Lữ Thiệu vội giải thích rằng, nạn dân đều tập trung bên ngoài thành, đến đó thông báo tin tốt lành của vua Lương.

      Cổng thành cuối cùng cũng được mở rộng cho thường dân. Hơn hai trăm người trong nhà chúng tôi, cùng cư dân Guzang ùn ùn kéo nhau qua cầu treo, tiến về phía ngọn núi bên ngoài thành, nơi tập trung đông dân vùng thiên tai nhất.

      Ngọn núi ở phía Nam thành Guzang ấy cao, nhưng diện tích đất rất rộng. Mặt núi hướng về cổng thành, phía Nam có rất nhiều hang động, những người nghèo, nơi nương tựa thường trú ngụ ở đó. Đây là nơi mà cư dân Guzang thường xuyên đến kiếm củi, cũng là nơi tập trung nhiều mộ địa nhất. Thời kì đầu xảy ra nạn đói, ngày nào chúng tôi cũng có mặt ở đây, nên rất rành rẽ địa hình địa thế. Nhưng lần này, vừa đặt chân tới nơi, chúng tôi vô cùng kinh ngạc: ngọn núi lúc trước cây cối um tùm tươi tốt là thế, giờ đây còn sót gốc cây ngọn cỏ nào, chỉ còn là ngọn núi trọc.

      Bước lên mấy bậc đá để vào khu vực hang động đầu tiên. Dọc lối là những đống đất , những đống đất ấy thấp có cao có, trồi lên la liệt khắp ngọn núi.

      Mấy chục hang động như há những cái miệng rộng đen sì, lạnh lẽo, thâm u, chợt nhớ tới những ghi chép trong sách “Tấn thư” mà vừa lại gần tôi vừa run sợ. Tôi dừng lại phía sau Rajiva, túm lấy tay áo chàng, khổ sở van nài:

      - Rajiva, đừng đến gần nữa.

      - Sao vậy? Nàng khỏe ư?

      Chàng dìu tôi, gọi Đoàn Sính Đình đến và giao tôi cho ấy chăm sóc.

      - Nàng ở đây nghỉ ngơi, lát nữa ta quay lại.

      Sính Đình đỡ tôi ngồi xuống tảng đá bên lối , Rajiva tiếp tục lên cao, hơn hai trăm nạn dân mà chúng tôi cưu mang cũng vội vã lên theo. Trong số họ, có rất nhiều người bị lạc mất người thân từ khi có lệnh cấm và đến nay hơn tháng được gặp mặt. Tôi dõi theo bóng đám người già trẻ lớn bé ấy, đột nhiên cảm thấy vô cùng sợ hãi, ngậm ngùi quay mặt .

      - Chị Ngải Tình làm sao vậy?

      Sính Đình hốt hoảng kêu lên, rút khăn tay, đặt lên môi tôi.

      - Sao chị lại chảy máu cam?

      Tôi giật mình, kéo chiếc khăn tay xuống nhìn, rặt màu sẫm đỏ, tay chân tôi bỗng dưng lạnh toát. Điều tôi lo sợ nhất, xảy ra rồi ư?

      - Chị Ngải Tình…

      Toàn thân run rẩy, tôi lấy tay bịt chặt mũi lại, ngẩng lên nhìn Sính Đình:

      - Tôi sao, đừng với ai cả, nhất là pháp sư…

      Nhác thấy Mộ Dung Siêu và Hô Diên Tĩnh đứng bên cạnh, tôi vội vàng lấy lại vẻ an nhiên, giữ giọng bình tĩnh:

      - Sính Đình, hãy đưa mấy đứa trẻ về nhà, đừng để chúng nhìn thấy…

      - Nhìn thấy gì?

      Tôi trừng mắt nhìn ấy, nắm chặt tay, lồng ngực nôn nao cuộn trào, hít hơi sâu, cố nén cơn buồn nôn dâng lên đến cổ họng, ngước nhìn đôi mắt thanh tú của ấy, thốt ra từng chữ đầy khó khăn:

      -Người… ăn… thịt… người…

      ấy suýt hét lên, nhưng kịp đưa khăn tay lên bịt miệng, rồi trông ra bốn phía, bỗng ấy gào lên kinh hãi. Theo hướng ánh mắt của ấy, tôi thấy Sính Đình giẫm lên mô đất , lớp đất phủ tạm bợ bị mũi chân ấy vô tình hất tung ra, để lộ đoạn xương người, hình như là đoạn chân người.

      Mặt mũi trắng bệch, ấy kéo mạnh tay tôi:

      - Chị Ngải Tình, chúng… chúng ta cùng về thôi.

      Tôi lắc đầu:

      - Pháp sư vẫn còn ở đây, tôi phải chờ chàng.

      Tôi gắng nở nụ cười an ủi:

      - đưa bọn trẻ về , chúng tôi về ngay thôi.

      ấy nhìn tôi lưỡng lự, rồi gật đầu, gọi hai đứa trẻ, căn dặn tôi đôi câu và ra về. Tôi hít hơi sâu, dặn lòng được sợ hãi, đứng lên, tìm Rajiva.

      Chưa đến hang động đầu tiên, nghe thấy tiếng kêu thất thanh, sau đó, có người lao ra khỏi động đá. Quan sát kỹ, tôi nhận ra người phụ nữ đó chính là chị Lưu, từng trú ngụ tại nhà tôi. Theo sau chị là người đàn ông mà khắp người chỉ còn da bọc xương, chìa tay, chới với kéo chị lại.

      - Sao có thể đối xử với Tiểu Tam như vậy…

      tay chị túm áo người đàn ông, tay kia ra sức đập lên thân thể người đàn ông ấy, miệng thôi gào thét thảm thương:

      - là đồ súc vật, đem con mình… đổi con mình…

      - Vì tôi còn cách nào khác!

      Người đàn ông để mặc chị Lưu trút giận dữ lên thân thể mình, tấm thân gầy gò, ốm o ấy dường như đủ sức để đứng vững nữa.

      ta ngẩn ngơ nhìn miếng thịt sống tay, môi hé mở, răng cửa rụng sạch, để lộ phần lợi đen sì.

      - Nếu vì đói đến phát điên, ai nỡ, ai có thể ăn thứ này…

      Cơn buồn nôn xông lên mũi, lên cổ, tôi ra sức kìm nén, dám nhìn thứ tay ta thêm phút giây nào nữa, tôi vội vàng bước tiếp. Tôi ngó vào cửa động khác đường để tìm Rajiva, chỉ có vài bóng người ngồi vật vờ ngoài cửa động sưởi nắng. Vào khoảng thời gian chúng tôi tiến hành việc cứu trợ, mỗi động đá như thế này phải có đến hàng hai, ba chục người chen chúc nhau náu thân. Giờ đây, trừ những người xung quân, ra trận, những người chết đói, mỗi động đá chỉ còn lại chừng bốn, năm mạng người.

      Thấy tôi, mấy người đó đồng loạt ngẩng đầu nhìn, khóe môi họ vẫn còn vệt máu đỏ tươi. Ông lão ở cách tôi gần nhất, mắt đờ đẫn, chỉ ngước nhìn tôi cái rồi lại tiếp tục cúi đầu gặm thứ gì đó cầm trong tay. Khi tôi nhìn ông ấy gặm thứ gì, chịu nổi nữa, tôi nôn ra cả mật xanh mật vàng. Đó là cánh tay, ông ấy gặm cánh tay.

      - Cháu , đói ?

      Ông lão vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, chìa cánh tay về phía tôi, lúc lắc bàn tay xám ngoét của người chết trước mắt tôi.

      - Quanh đây còn gì để đốt cả, đừng sợ bẩn, ăn thịt sống cũng có thể giữ mạng…

      Tôi quay đầu, chạy thục mạng, thoát khỏi động đá ấy, ngửa mặt nhìn vầng dương thờ ơ chiếu rọi. Vì sao trời nắng mà tôi hề cảm thấy ấm áp. Tôi nhắm mắt lại, nắm chặt tay, hét lên với vầng dương vô cảm ấy. Vì sao tôi phải chứng kiến thảm cảnh này? Nước mắt xóa nhòa khung cảnh trước mắt, tôi chao đảo, bỗng cánh tay ai đó đỡ lấy vai tôi. Tôi mệt mỏi quay đầu lại, bắt gặp gương mặt đầm đìa nước mắt của Rajiva.

      - Ngải Tình, nàng về trước .

      Chàng nức nở, toàn thân run rẩy, giọng nghẹn ngào:

      - Đừng nhìn nữa…

      Tôi nhìn thấy gương mặt từ tâm của chàng chút hơi ấm. Rốt cuộc lấy lại được bình tĩnh, tôi nắm chặt cánh tay chàng, khóc lóc van nài:

      - Em đáng trách, em phải biết thể diễn ra như thế này từ lâu rồi mới phải! Chàng hãy theo em về, đừng ở đây thêm nữa…

      - Ngải Tình, nàng sớm biết kết cục này, phải ?

      Tôi khóc nấc lên, lẩm nhẩm đọc cho chàng nghe những ghi chép giày vò tôi suốt hơn ba tháng qua:

      - “Khi ấy, giá lương thực tăng cao, năm trăm quan tiền đấu gạo, người ăn thịt người, quá nửa số dân chết sau nạn đói”.

      Tôi gắng gượng lấy hơi, tay nắm chặt, móng tay cắm thẳng vào da thịt, cơn đau thể xác ấy giúp tôi tỉnh táo hơn và có đủ dũng khí để tiếp tục:

      - Rajiva, đối với chúng ta nạn đói này tựa như cơn ác mộng khủng khiếp và phải trải qua bao cực nhọc, khổ ải chúng ta mới có thể tồn tại, nhưng nó chỉ được ghi lại bằng vài con chữ ít ỏi trong sử sách. Nguyên nhân của nạn đói là gì, nó bắt đầu và kết thúc khi nào, nơi nào hứng chịu hậu quả nặng nề nhất, tình hình thiên tai ra sao, bao nhiêu người thiệt mạng, tất cả những thông tin này đều được nhắc đến. Bởi vì sao chàng biết ? Bởi vì những trận thiên tai như thế này diễn ra ở khắp mọi nơi mảnh đất Trung Nguyên rộng lớn.

      Tôi ra sức hít hơi sâu, toàn thân như lên cơn sốt rét, khí lạnh lan khắp cơ thể, giọng tôi run rẩy:

      - Nhưng em dám với chàng vì em muốn chàng phải chịu đựng kết cục tàn nhẫn này. “Người ăn thịt người, quá nửa số dân thiệt mạng”, đây phải là nạn đói duy nhất. Thảm kịch tương tự còn tiếp diễn đất Lương Châu này và thậm chí nó còn bi thương hơn thế. Dù là con người của tương lai, nhưng ngoài việc biết trước những kết cục này ra, em chẳng thể làm gì để thay đổi lịch sử. Em gắng hết sức, thực gắng hết sức rồi…

      - Ngải Tình…

      Chàng xiết chặt tôi trong lòng, vùi đầu vào gáy tôi, nước mắt chàng chảy xuôi xuống cổ tôi.

      - Nàng khổ tâm biết chừng nào… Từ nay đừng giữ trong lòng, đừng ép mình chịu đựng tất cả. Chúng ta là vợ chồng, nàng nên chia sẻ cùng ta, bất luận khó khăn, gian khổ lớn đến đâu, hai ta cùng gánh đỡ.

      Nước mắt tôi lã chã rơi vai chàng, thấm đẫm lớp áo nâu sòng bạc màu của chàng. Chưa kịp gì, bỗng tôi trông thấy cánh tay gầy rộc như cành cây khô với lên, nắm chặt lấy vạt áo Rajiva. Rajiva thất kinh, vội kéo tôi ra phía sau. Đó là người đàn ông toàn thân chỉ còn da bọc xương, sao đoán biết được tuổi tác, trong cơn hấp hối, từng bước lê lết đến chân chúng tôi, gắng gượng ngẩng đầu, giọng yếu ớt:

      - Pháp sư, con sắp chết rồi… ngài có thể tụng kinh siêu độ cho con được ? Ngài tụng kinh cho con, tích đức giúp con, để kiếp sau con được đầu thai đến nơi có thể ăn no mặc ấm, ngày nào cũng có màn thầu để ăn, cầu xin ngài…

      Cánh tay túm chặt vạt áo Rajiva từ từ buông xuống, Rajiva vội vàng lật người đó lại, đưa ngón tay vào sát mũi, nhưng người đó tắt thở. Rajiva quay mặt , hai hàng lông mày chau lại, đầy thương tâm. Chàng nhắm mắt lại, hít hơi sâu, ngồi xuống xếp bằng trông tư thế thiền, lầm rầm tụng niệm, thành tâm cầu phúc cho con người vô danh ấy. thanh tụng niệm vang trong gió xuân lành lạnh, trong nắng xuân bàng bạc, trôi đến từng hang đá khắp ngọn núi này.

      Từ hang đá sâu nhất có người bước ra, họ dìu nhau lại gần Rajiva. Nạn dân trong các động đá cao cũng ùn ùn kéo xuống. Dưới ánh nắng mùa xuân chiếu rọi, thân thể gầy guộc, thanh thoát của Rajiva tựa như hình hài của vị Bồ Tát. Chàng như vị thánh chuyên tâm tụng kinh, từ con người chàng, toát ra vầng hào quang thánh khiết, và như có sức mạnh của lực hướng tâm, thu hút những con người vừa thoát khỏi kiếp nạn, lay động tâm can họ, khiến họ thành tâm quy y.

      - Pháp sư! Xin hãy tụng kinh rửa tội cho con.

      người trong số họ bỗng gào lên thảm thiết, quỳ rạp xuống, vừa khấu đầu vừa lê thân về phía Rajiva, đến trước mặt chúng tôi, người đó cứ dập đầu mãi thôi.

      - Con ăn thịt ba người, con đem con trai con, vợ con và mẹ con để trao đổi. Phật tổ có thể xá tội cho con ? Con phải xuống địa ngục, đúng ?

      Người đó vừa dứt lời, những người khác đồng loạt quỳ xuống, tiếng khóc dậy trời, hết lớp này đến lớp khác, như sóng dội cuộn trào.

      - Pháp sư con cũng đem con trai đổi. Con đáng tội chết, con xuống địa ngục. Chỉ cầu xin ngài tụng kinh siêu độ cho đứa con tội nghiệp của con…

      - Pháp sư, cả con nữa! Xin hãy tụng kinh cho mẹ con. Lúc sống bà phải chịu bao nhọc nhằn, đến lúc chết còn bị ăn thịt. Cầu mong kiếp sau bà gặp phải đứa con bất hiếu, bất nhân như con nữa…

      - Pháp sư, những người sống sót ở đây, ai mà từng ăn thịt người, ai mà từng mặc quần áo của người chết, ai mà mất cả gia đình người thân, chỉ còn lại mình cõi đời này. Những người bỏ mạng ngọn núi này nhiều hơn rất nhiều so với những người còn sống sót…

      Rajiva lảo đảo đứng lên, bước đến bên cạnh những người quỳ trước chàng, muốn đỡ họ dậy, nhưng ai chịu.

      - Xin lỗi, xin lỗi! Ta hứa để ai chết đói, nhưng thể bảo vệ chúng sinh, đó là bởi vì ta bất tài vô dụng!

      Nước mắt chàng tuôn trào, chàng cúi gập người xuống, tự đấm vào ngực mình. Tôi gạt lệ, vội chạy đến kéo chàng lại.

      - Pháp sư, xin ngài đừng tự trách mình, ngài gắng hết sức rồi!

      Hô Diên Bình cũng đến đây, ta kêu lớn, nước mắt lưng tròng. Theo sau ta là hai trăm con người được chúng tôi cứu giúp. Hô Diên Bình quỳ xuống, những người phía sau nhất loạt đổ rạp người xuống theo, họ trịnh trọng vái lạy chúng tôi.

      Nước mắt chảy tràn mặt, Hô Diên Bình chống hai tay, ngẩng lên nhìn Rajiva:

      - Nếu có ngài, hơn hai trăm con người thoát khỏi số kiếp ăn thịt người hoặc bị người khác ăn thịt. Chính ngài cứu sống chúng tôi, pháp sư, ngài là cha mẹ tái sinh ra chúng tôi. Ân đức này, chúng tôi bao giờ quên.

      Rajiva kéo Hô Diên Bình đứng lên, nhưng ăn thua, chàng tiếp tục kéo những người phía sau, nhưng ai chịu nhúc nhích. Chúng tôi khóc thương đến tan nát cả cõi lòng, đứt từng khúc ruột. Ngọn núi trơ trụi bóng cây ngọn cỏ ấy, bỗng chốc như bị rung chuyển bởi những tiếng ai oán dữ dội ấy.

      nhóm người lên từ phía lối mòn. Dẫn đầu là Lữ Thiệu và Lữ Hoằng. Phía sau bọn họ là Mông Tốn, Đỗ Tấn và Đoàn Nghiệp. Họ đứng đó giữa những thanh vang động núi đồi của tiếng kêu thương chất ngất, ai nấy đều kinh khiếp khi đưa mắt quan sát số nạn dân còn sống sót và cả người đứng giữa đám đông nạn dân ấy: Rajiva.

    4. vulinh

      vulinh Well-Known Member

      Bài viết:
      20,019
      Được thích:
      24,206
      Chương 75: Chờ đợi trước bình minh

      Lữ Thiệu cho người khiêng tới mấy chục sọt bánh màn thầu, đám đông nạn dân lao tới như hổ đói. đủ sức để chạy nữa, họ bò lê dưới đất nhận đồ ăn. Những tiếng nhai nuốt nhồm nhoàm, rào rào vang khắp gian, như ngấu nghiến vào thần kinh của mỗi người có mặt ở đó. Có người ăn nhanh quá, màn thầu tắc nghẹn trong cổ họng, thở được, ai giúp. Khi chúng tôi phát ra tắt thở. Lữ Thiệu lạnh lùng thông báo lệnh chia ruộng phát hạt giống, cầu dân vùng thiên tai nhanh chóng đăng ký và lập tức trở về quê hương tiếp tục trồng cấy.

      có lời cảm ơn, mảy may xúc động, tất cả các nạn dân đều khóc khi nhận hạt giống. Tôi bế Cẩu Nhi đứng ở điểm đăng ký, chờ đợi cả ngày vẫn thấy bóng dáng người phụ nữ có tên Tần Tố Nga đâu. Tôi dò hỏi nhưng ai hay biết. Tôi liền đến tìm Đoàn Nghiệp, vì ông ấy có danh sách các binh sĩ. Tìm mãi mới thấy dòng tên bị gạch ngang đỏ chói: Ngụy Trường Hỷ, người Liễu Viên, Đôn Hoàng.

      Tôi ôm bé Cẩu Nhi về nhà, đường gặp toàn những người dân vùng thiên tai nhận được hạt giống, chuẩn bị trở về quê cũ. Tôi đứng bên lề đường, chăm chú quan sát từng người phụ nữ qua lại, mong gặp được mẹ của Cẩu Nhi. Em mất người cha, tôi cầu mong em phải trở thành trẻ mồ côi. Trời bắt đầu tối dần, gió lớn cuốn tung những đám bụi, quất vào tấm thân còm cõi của những con người may mắn sống sót. Họ là những bóng hình lẻ loi, độc, trong vô định với nỗi hoang mang, buồn thảm. Tôi chợt nhớ đến bài dân ca Bắc Triều “Bài ca Lũng Sơn” mà lòng nhói đau:

      “Nước nguồn Lũng Sơn chia về muôn ngả

      Nào khác phận mình, biền biệt quê xa

      Sáng rời Hân Thành, tối ngủ Lũng Sơn

      Rét run cầm cập, lầm lũi, tủi hờn.

      Dưới băng nước chảy, rặt tiếng kêu thương

      Trông về quê cũ, lòng đau dạ sờn”.

      Nhẩm đọc bài thơ não nùng kia, tôi lại hình dung ra hình ảnh những con người hồi hương này độc lê những chặng đường núi non cheo leo, hiểm trở, tiết xuân se lạnh làm dịu nỗi ám ảnh kinh hoàng, làm vơi nỗi đớn đau và hoang mang tột cùng trong lòng họ. Có lẽ họ chẳng thể ngon giấc trong suốt phần đời còn lại.

      Về đến nhà thấy hơn nửa số nạn dân được chúng tôi cưu mang ra , vì dường như ai nấy đều muốn nhanh chóng rời khỏi vùng đất ác mộng này. Thời gian còn lại trong ngày, tôi dành để nựng Cẩu Nhi thôi khóc và cùng Rajiva tiếp nhận những lời từ biệt. Đến tối, tôi thấy căn phòng của mình hoàn toàn trống trải. Đây là đêm đầu tiên sau nhiều tháng, chỉ có hai chúng tôi trong gian của riêng mình.

      Tôi bưng nước ấm vào cho Rajiva rửa ráy. Chậu nước ấm này là công sức suốt buổi chiều kiếm củi ở ngoại thành của Hô Diên Bình. Rajiva trầm ngâm bên cửa sổ, tôi gọi mãi mới quay lại, lẳng lặng rửa ráy. Xong xuôi, chàng lại trở về vị trí cũ.

      - nghĩ gì vậy?

      Tôi định quét dọn phòng ngủ, nhưng yên lòng khi thấy chàng cứ mãi im lặng.

      Chàng quay lại nhìn tôi mà chăm chú ngắm nhìn vầng trăng lạnh lẽo chênh chếch ngoài cửa sổ, giọng chàng rì rầm như tiếng suối ngày đông giá buốt:

      - Ngải Tình, nàng còn nhớ, vào cái ngày bắt đầu xảy ra nạn đói, ta hứa để ai phải chết đói ?

      Tôi thở dài, vậy là chàng vẫn còn canh cánh trong lòng chuyện đó.

      - Rajiva, đừng tự trách nữa…

      - phải ta tự trách.

      Chàng nhàng cắt lời tôi, ánh mắt như muốn trải bày:

      - Chúng ta dốc toàn bộ sức lực để cứu người. Ta cứ nghĩ làm vậy để ai phải chết đói, nhưng kết quả, chúng ta chỉ giúp được hai trăm người. Ta đem bán toàn bộ tài sản của mình cũng chỉ cứu được hai trăm mạng người trong số hơn mười vạn nạn dân. Tháng cuối cùng của trận đói, phải nhờ vào cuộc trao đổi của nàng với Mông Tốn, cả nhà ta mới có thể tiếp tục sinh tồn.

      Chàng chìa hai bàn tay với những đốt dài, gầy guộc ra trước mặt, lật qua lật lại quan sát kỹ, rồi bật cười chua chát:

      - ra khả năng của ta lại bé nhường vậy!

      Chàng buông thõng tay xuống, tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ:

      - Nếu lúc xưa ta thuận theo ý Lữ Quang, bày ra vài quẻ bói để gạt ông ta, nếu ta chịu đặt sang bên lòng tự tôn cá nhân để cầu xin ông ta ban chỗ ở và lương thực cho những nạn dân đó, có thể cứu sống thêm bao nhiêu người nữa?

      Tôi ngẩng lên nhìn chàng. Dưới ánh trăng bàng bạc, con người ấy tựa như thân cây lẻ, ánh sáng chiếu nghiêng, hắt lên những đường nét sáng của gương mặt chàng. Chàng cười buồn, vẻ bất lực thấm trong hưởng thê thiết của giọng :

      - Ít nhất chỉ hai trăm con người đó.

      Đầu óc tôi rối bời, sao chắt ra được câu chữ hoàn chỉnh, lời chàng chua chát vang bên tai:

      - Và nếu như, ta có thể thuyết phục Lữ Thiệu hủy lệnh đóng cửa thành, còn có thể cứu sống thêm bao nhiêu người nữa?

      Chàng quay lại nhìn tôi, nụ cười khổ sở đè nặng khóe môi:

      - Ngải Tình, xưa nay ta luôn tin tưởng và ra sức bảo vệ những giá trị mà ta cho là cao quý, tránh xa những xô bồ trần tục, cứ ngỡ làm vậy là đúng. Nhưng sau thảm kịch này, ta nhận thấy mình là kẻ biết cân nhắc thiệt hơn.

      Chàng ngửa đầu lên, để vầng trăng chiếu rọi vào đôi đồng tử màu xám nhạt, tỏa ra thứ ánh sáng lung linh, giọng chàng đượm buồn:

      - Thuật trị dân mà nàng truyền dạy cho Mông Tốn nhấn mạnh: để đạt được mục đích có thể bất chấp thủ đoạn. Phật pháp Đại Thừa cũng có thuyết: tùy cơ hành , miễn sao đạt được thuận tiện. Nhưng ta quá ư kiêu ngạo, chịu kết giao với họ Lữ kia. Ta quên rằng, dù bọn họ có hung ác, tàn bạo đến đâu, họ vẫn là vua nước, số phận của muôn dân nằm trong tay họ. Lẽ ra ta có thể cứu giúp nhiều người hơn nữa, nhưng lại bảo thủ, sức mình hèn mọn mà đòi tay chống đỡ cả bầu trời, đáng chê cười!

      - Rajiva…

      Như nghe thấy tiếng gọi khe khẽ của tôi, chàng vẫn lặng lẽ đắm chìm trong thế giới của riêng mình.:

      - Hồi đến Kabul học đạo, ta được kể cho nghe câu chuyện này. Ngày đó Vua Kabul bắt được chú chim , Vua muốn nghe chim hót, nhưng suốt ba năm, chim hề cất lên tiếng nào. Hoàng hậu gợi ý rằng: nghe đồn, loài chim cất tiếng hót khi trông thấy đồng loại, hãy đặt vào lồng tấm gương, để chú chim tưởng rằng được gặp đồng loại. Vua làm theo cách đó, quả nhiên chú chim cất tiếng khi nhìn thấy bóng mình trong gương, nhưng đó là tiếng kêu ai oán thấu tận trời xanh, chú chim hót vang cho đến khi đứt hơi mà chết.

      Chàng ngước lên vầng trăng lạnh lẽo ngoài kia, vẻ quạnh, lẻ loi như thứ định mệnh dai dẳng, vây khốn lấy chàng. Trầm tư giây lát, giọng phiêu linh lại vang lên trong đêm tịch mịch:

      - Ngải Tình, kể từ khi đến Guzang, ta cứu được người cũng thể thuyết pháp, nhìn ra xung quanh, thấy mình như vật thể đơn, lẻ loi và rất đỗi hoang mang. Ta giống như chú chim trong câu chuyện kia, cất tiếng kêu đơn độc, vô vọng cành cây khô héo. Lẽ nào, ta phải dựa dẫm vào kẻ là vua nước nhưng giết người nương tay, coi mạng người như cỏ rác ấy, mới có thể cứu nhân độ thế, mới có thể truyền bá Phật pháp ư?

      Nước mắt chứa chan, sống mũi tôi cay xè. con người phẩm cách cao thượng, mảy may vương chút bụi trần như chàng, nếu tận mắt chứng kiến và tự thân trải nghiệm những khổ nạn vừa qua, sao có thể gạt sang bên lòng tự tôn để suy sét những vấn đề vô cùng khó khăn đối với tư tưởng truyền thống và khí khái cao ngạo của chàng kia chứ!

      Tựa vào bờ vai luôn khiến tôi được vững dạ của chàng, tôi thở dài, :

      - Danh sư Thích Đạo An, người từng cầu đến giúp đỡ của Phù Kiên rằng: “ dựa vào nhà cầm quyền, khó lòng phát triển Phật pháp”. Ngày trước ở Tây vực chàng được mọi người tôn vinh, chủ yếu là bởi xuất thân của chàng, hoàng thất Khâu Từ hậu thuẫn cho chàng, là chỗ dựa vững chắc của chàng. Phật giáo là quốc giáo ở Tây vực, chàng xuất thân từ gia đình quý tộc, nên dĩ nhiên cần suy nghĩ đến vấn đề phải dựa vào quyền lực của Vua chúa để truyền bá đạo Phật. Nhưng Trung Nguyên khác. Những ưu thế chàng có được ở Tây vực trở nên vô nghĩa khi đến Trung Nguyên. Nơi đây, Phật pháp mấy phát triển, ai quan tâm đến xuất thân của chàng, quý tộc vương tôn nào ủng hộ tư tưởng của chàng.

      Chàng hướng sang tôi, nỗi buồn trong đáy mắt đậm sâu. Tôi đưa tay vuốt ve hàng lông mày nhíu lại của chàng xót xa khi thấy những nếp nhăn cứ ngày sâu hơn khóe mắt chàng:

      - Rajiva, chàng nên học theo Phật tổ. Ngài có xuất thân tương tự chàng, cũng là thành viên trong hoàng thất của tiểu quốc. Ngài ra sức truyền bá đạo Phật ở Thiên Trúc, nơi mà toàn dân đều tin theo đạo Bà La Môn. So với nhiệm vụ truyền bá đạo Phật ở vùng đất Trung Nguyên này của chàng, công việc của Phật tổ gian nan hơn rất nhiều. Dù sao chàng cũng có hai mươi tư đệ tử trợ giúp chàng truyền đạo, Phật tổ khi ấy mới chỉ có năm đệ tử. Để hoàn thành sứ mệnh, Ngài phải khổ công nhường nào!

      Tôi ngừng lại lát, xâu chuỗi những tư liệu đọc được:

      - Đối với tầng lớp quý tộc, Ngài kết giao với Vua chúa. Con trai vua Bình Sa (Bimbisara) là thế tử A Xà Thế (Ajatasatru) giết hại vua cha để cướp ngôi, sau đó tìm đến Phật Thích Ca xưng tội, Đức Phật rộng lòng an ủi A Xà Thế. Đối với tầng lớp trung lưu, ngài liên lạc với các nhà buôn, thuyết phục những cười giàu có làm cư sĩ (đệ tử tu tại gia), tiếp nhận món quà là khu vườn tịnh xá của trưởng giả Cấp Độc (Anathapindika). Đối với dân thường, Ngài kết giao với cả kỹ nữ, ví như việc Ngài nhận lời mời dùng bữa với nàng kỹ nữ Ambapali và còn vui vẻ nhận vườn hoa mà kỹ nữ này có nhã ý tặng Phật. Em tin rằng chàng làu thuộc những điển tích này hơn em.

      Tôi lồng tay vào tay chàng, mỉm cười:

      - Phật tổ đắc đạo năm ba mươi lăm tuổi, cuộc đời truyền pháp của Ngài kéo dài bốn, năm mươi năm, Ngài viên tịch năm tám mươi tuổi, tính đến khi ấy Ngài cũng mới chỉ có khoảng năm trăm đệ tử. Nhưng chàng xem, ngay tại thời điểm này, số lượng nhà sư ở Trung Nguyên chắc chắn chỉ năm trăm người. Mười sáu năm sau, tại Trường An, chàng thu nhận ba nghìn đệ tử. Năm mươi năm sau, Bắc Ngụy tiêu diệt nhà Bắc Lương của Mông Tốn, đưa hơn ba nghìn tăng sĩ đến kinh đô của Bắc Ngụy. Như vậy có thể thấy, chỉ trong vòng năm mươi năm, Phật giáo phát triển rộng rãi đến nhường nào mảnh đất Trung Nguyên này… Bởi vậy, chàng phải chú chim độc, chàng còn có em, còn có các đệ tử lòng theo chàng, còn có cả vùng đất khổ nạn thiếu thốn trầm trọng những nâng đỡ về tư tưởng và tinh thần. đến Trung Nguyên, chàng chỉ là cao tăng được người ta kính trọng ở tiểu quốc ốc đảo xa xôi, theo đà quay ngừng nghỉ của bánh xe thời gian, chàng chỉ là hạt cát bé vô danh lẫn giữa dòng sông lịch sử bao la. Mảnh đất Trung Nguyên, nơi mà Phật pháp còn trong giai đoạn phát triển yếu ớt này chính là miền đất hứa để chàng phát huy tài năng, trí tuệ và hoàn thành sứ mệnh. Nơi này cần có chàng, chỉ cần chàng có đủ lòng kiên nhẫn để bắt đầu lại từ đầu.

      - Ngải Tình…

      Chàng thở dài, nỗi đơn trong mắt trôi xa, ánh mắt chàng ấm lại, chàng kéo tôi vào lòng, giọng hết bi lụy:

      - Nàng luôn biết cách kéo ta ra khỏi nỗi u mê. Bắt đầu lại từ đầu ư, ta đồng ý, ta gắng sức, ta than thở, oán trách nữa, tự cao tự đại nữa.

      Nụ cười tỏa rạng gương mặt xanh xao của chàng:

      - Cưới được người vợ như nàng, đó là ơn huệ mà Phật tổ ban tặng cho ta.

      Chàng ghé sát vào tai tôi, thầm:

      - Cảm ơn nàng, vợ

      Hơi nóng từ hơi thở của chàng phả vào tai tôi, khiến hai má tôi nóng bừng, tôi gắng trấn tĩnh lại, suy nghĩ lát, nhắc nhở chàng:

      - Nhưng cha con họ Lữ nhiều lần xung đột với chàng, bọn họ cũng phải là thế lực chàng có thể nhờ cậy. Những ghi chép về chàng trong suốt mười bảy năm ở Lương Châu này rất ít ỏi, điều đó chứng tỏ chàng và họ Lữ kia thể hòa hợp.

      Chàng ngẩng đầu, vòng tay qua eo tôi, cánh tay truyền đến sức mạnh của kiên định:

      - Vậy ta chờ, chờ cho đến khi vị minh quân xuất , sẵn lòng lắng nghe lời khuyên của ta, chăm lo cho muôn dân và có thể trợ giúp ta hoàn thành sứ mệnh truyền bá Phật pháp.

      - Nhưng phải mất mười sáu năm nữa Diêu Hưng mới phong chàng làm quốc sư.

      Nụ cười bi lụy ban nãy chuyển thành nụ cười tươi tắn của lòng tin và của kiên tâm bền bỉ thường thấy ở chàng. Chàng tựa cằm lên đỉnh đầu tôi, giọng chàng trầm ấm truyền đến tai tôi:

      - Mười sáu năm có là bao. Chờ đợi phải việc gì khó đối với ta. Ta gắng sống đời dật, chờ đến ngày ấy.

      Cảm động nên lời, tôi chỉ biết vòng tay ôm chặt lấy chàng và ước mong sao hai chúng tôi có thể hợp nhất.

      - Em ở bên chàng, chúng ta cùng đợi…

      - Ừ…

      Chàng dịu dàng vuốt tóc tôi, khẽ đặt nụ hôn lên trán tôi:

      - Ngải Tình, trong thành Guzang này có ngôi chùa nào khang trang cả, từ lâu ta có ý định kêu gọi quyên góp, cúng dường để xây chùa. Hôm nay, khi đứng ngọn núi phía Nam, nơi tập trung dân chúng vùng thiên tai ấy, ta chợt nảy ra ý tưởng này.

      Chàng suy nghĩ lát, lại tiếp tục:

      - Ta muốn xây chùa hang đá ngọn núi ấy, để siêu độ cho những chúng sinh thiếu may mắn thoát khỏi bể khổ, sớm được đầu thai ở kiếp khác.

      - Vâng.

      Tôi ngước nhìn chàng, vui mừng, phấn chấn. Vậy là chàng mục tiêu, chàng có thể từng bước thực mục tiêu này để vượt qua mười sáu năm trời đằng đẵng.

      - Chi bằng, ngày mai chúng ta hãy đến gặp Lý Cảo. Nếu ông ta có thể học theo trưởng giả Cấp Độc, quyên tặng vườn hoa, lại dùng vô số tiền vàng trải khắp vườn hoa ấy, còn gì bằng, ha ha.

      Buồn cười vì những suy nghĩ hài hước của mình, tôi bật cười ha hả.

      Chàng cốc vào đầu tôi, cũng bật cười theo:

      - thể đâu! Ông ấy chịu quyên góp quý lắm rồi.

      Tôi hớn hở, lúc lắc tay chàng, hào hứng tưởng tượng:

      -Chúng ta còn có thể đến gặp Đỗ Tấn và Đoàn Nghiệp, thuyết phục họ quyên góp.

      Tôi vô cùng hoan hỉ khi thấy chàng lấy lại được tự tin. Hôm nay, lúc ở núi, tôi tin rằng việc tôi chảy máu cam phải là dấu hiệu hay nguy cơ gì cả, mà chỉ vì tôi quá ư mệt mỏi và sợ hãi mà thôi…

      Chúng tôi được tiếp đón rất chu đáo ở dinh cơ của Lý Cảo. Ông ta tỏ ra cung kính và tôi có thể nhận thấy gương mặt Lý Cảo áy náy về chuyện cứu trợ lúc trước. Sau khi Rajiva trình bày lý do của cuộc gặp gỡ, ông ta lập tức tán đồng:

      - Suy nghĩ của pháp sư là hoàn toàn đúng đắn, ngọn núi Bậc Thang ấy…

      Tôi “A” lên tiếng, ngắt lời Lý Cảo:

      - Lý công tử vừa ngọn núi đó tên là gì?

      Lý Cảo ngạc nhiên đáp:

      - Núi Bậc Thang.

      - phải tên là núi Màn Thầu sao?

      - Đó là tên gọi thông tục, tên chính xác của ngọn núi ấy là Bậc Thang, tên gọi này do vua Trương Quỹ nhà Tiền Lương đặt. Nhưng bà con quen gọi là núi Màn Thầu, ai chịu đổi cách gọi.

      Rồi ông ta nhìn tôi ngạc nhiên:

      - Vì sao phu nhân lại tỏ ra hào hứng với tên gọi của ngọn núi đó vậy?

      - À… có gì, chỉ vì tôi hơi tò mò thôi.

      Tôi cười gượng gạo, nhấp ngụm trà, im lặng, để Rajiva tiếp tục bàn bạc chi tiết với Lý Cảo.

      Bây giờ tôi mới biết, núi Màn Thầu mà người dân Guzang thường gọi chính là núi Bậc Thang được ghi chép trong sách sử. Do chiến tranh xảy ra liên miên, lại trải qua nhiều trận động đất, nên những bức bích họa trong chùa hang đá núi Bậc Thang ở Vũ Uy còn giữ được nguyên vẹn, vào thời đại, chùa mấy nổi tiếng. Nhưng đó là ngôi chùa hang đá đầu tiên ở Trung Nguyên, điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Sau khi tiêu diệt Bắc Lương, vua Bắc Ngụy đưa hàng loạt nhà sư đến kinh đô Bình Thành (nay là Đại Đồng, Sơn Tây, Trung Quốc), bên cạnh đó là hàng loạt các nhà điêu khắc, thợ thủ công lành nghề, họa sĩ, những người chuyên khai mở động đá và sáng tạo nên những bức bích họa. Họ trở thành lực lượng nghệ nhân hùng hậu, là những người xây dựng nên thạch động Vân Cương vĩ đại ở Đại Đồng. Sau đó, Vua Hiếu Văn Đế nhà Bắc Ngụy dời đô đến Lạc Dương, tiếp tục xây dựng thạch động Long Môn, thạch động này thừa kế mô hình thạch động ở Lương Châu ngày trước…

      Phần lớn các nhà sư ở Lương Châu đều được đưa đến Bình Thành, nhưng vẫn có số ít di chuyển tới Đôn Hoàng ở phía Tây. Kiến trúc của thạch động Mạc Cao ở Đôn Hoàng cũng chịu ảnh hưởng từ thạch động núi Bậc Thang. Bởi vậy, có thể khẳng định cách chắc chắn rằng, thạch động núi Bậc Thang chính là nơi khởi thủy của nghệ thuật xây dựng thạch động ở Trung Nguyên. Nhưng câu hỏi cứ quẩn quanh trong đầu tôi. Tôi nhớ là thạch động Bậc Thang được xây dựng vào năm 412 kia mà, và chính Mông Tốn, sau khi dời đô từ Trương Dịch đến Guzang hạ lệnh xây dựng thạch động này. Chuyện kể rằng, mẹ Mông Tốn lâm bệnh nặng, Mông Tốn cho điêu khắc trong thạch động bức tượng cao năm mét, hình những giọt nước mắt, để cầu phúc cho mẹ mình, cũng là để biểu thị lòng ăn năn, sám hối.

      Rất nhiều ghi chép cho thấy, Rajiva thành công trong việc thực kế hoạch xây chùa, mà chính Mông Tốn hoàn thành tâm nguyện này của chàng. Rốt cuộc, chuyện gì xảy ra? Vì sao suốt mười sáu năm Rajiva thể xây được chùa ở Guzang? có trong tay tư liệu lịch sử để có thể suy đoán, nên tôi cũng chỉ đành chống mắt chờ xem việc gì diễn ra. Nhìn chàng hào hứng mô tả cấu trúc của ngôi chùa hang đá cho Lý Cảo nghe, tôi suy nghĩ lát và quyết định với chàng chuyện kia. Khó khăn lắm chàng mới tìm được cho mình mục tiêu, tôi nỡ phá hỏng niềm vui của chàng.

      Nhớ đến Mông Tốn, bất giác thở phào. Ngay ngày Lữ Quang trở về Guzang, Đỗ Tấn và Đoàn Nghiệp mang đến cho chúng tôi lương thực và vật dụng sinh hoạt cần thiết. Bởi vậy tôi cần đến nhà Mông Tốn giảng bài nữa. Tôi đến đó chỉ để đổi lấy lương thực, nay lương thực có đủ, tôi muốn phải ngày ngày đối diện với con người xảo quyệt, gian hùng ấy trong nỗi thấp thỏm lo âu nữa. Nhưng tôi biết chắc chắn ta dễ dàng từ bỏ như vậy. Có thể, chỉ vài ngày nữa, tôi chạm mặt ta cũng nên!

      Chúng tôi rời khỏi nhà Lý Cảo, qua lầu trống vẫn thấy hàng dài những người dân vùng thiên tai, mặt mày ủ rũ đứng xếp hàng nhận hạt giống. Hôm nay là hạn đăng ký cuối cùng, có các cậu ấm nhà họ Lữ, chỉ thấy con trai thứ của Lữ Bảo (em trai Lữ Quang) là Lữ Siêu giám sát việc đăng ký. Lữ Siêu mới hai mươi tuổi, nhưng tâm địa nham hiểm hơn mấy người em họ của rất nhiều. Lữ Soạn soán ngôi chưa đầy ba năm, bị Lữ Siêu giết chết, sau đó đưa người ruột Lữ Long của mình lên ngôi vua. Nhớ đến những ghi chép về việc Rajiva dự báo Lữ Siêu giết Lữ Soạn trong sách “Tấn thư” mà tôi nhịn nổi cười.

      Rajiva cúi đầu hỏi:

      - Cười gì vậy?

      Tôi ghé sát vào tai chàng, thầm:

      - Sử sách viết rằng, chàng chơi cờ với Lữ Soạn. ăn quân của chàng và bảo rằng: “Lấy đầu Hồ nô”[1]. Chàng đáp lại: “Hồ nô lấy đầu ngài có”.

      [1] Hồ nô: Nghĩa là tên nô lệ người Hồ, vốn là cách gọi miệt thị của người Hán đối với dân tộc thiểu số, du mục ở phía Bắc và phía Tây Trung Quốc, trong trường hợp này, cụm từ “lấy đầu Hồ nô” biểu thị tính hiếu chiến, ác bá của Lữ Siêu.

      Tôi đưa mắt về phía Lữ Siêu đứng giữa đám đông, chu mỏ lém lĩnh:

      - Tên chữ của Lữ Siêu là Hồ Nô, nên đoạn sử này là căn cứ để chứng minh cho tài năng tiên đoán của chàng.

      Rajiva hết ngơ ngác nhìn Lữ Siêu, lại ngạc nhiên quay sang nhìn tôi, sau đó lắc đầu cười trừ.

      Tôi nhận ra Hô Diên Bình giữa đám đông. Mấy ngày trước, tôi đều bế Cẩu Nhi đứng chờ ở điểm đăng ký, nhưng có kết quả. Hôm nay phải đến gặp Lý Cảo, nên tôi nhờ Hô Diên Bình thay tôi đến đây chờ. Nhìn thấy chúng tôi, ta vội bước lại.

      - Pháp sư, phu nhân!

      ta cúi chào chúng tôi với vẻ buồn bã.

      - Phu nhân, tôi vừa gặp đồng hương của Tần Tố Nga, tôi có thông tin về mẹ Cẩu Nhi…

      - Tình hình thế nào?

      Tôi sốt ruột.

      Gương mặt đôn hậu ấy nhuốm vẻ buồn bã, giọng đầy bi lụy:

      - ấy… … chết…

      Tôi nhắm mắt lại, quay đầu , vẫn là kết cục đó, mới hai tuổi, Cẩu Nhi trở thành trẻ mồ côi.

      Rajiva nắm lấy tay tôi, an ủi:

      - Ngải Tình, chúng ta hãy nhận nuôi Cẩu Nhi, đó cũng là di nguyện của mẹ chú bé.

      Tôi gật đầu. Cẩu Nhi là nạn dân tuổi nhất trong số các nạn dân được chúng tôi cưu mang. Hơn tháng qua, tôi dành rất nhiều quan tâm, chăm sóc cho đứa bé tội nghiệp này. Tôi dạy em , dạy em , em ngày càng quấn tôi. Nếu tôi thể mang thai, vậy hãy để Cẩu Nhi làm con cái của chúng tôi.

      Hô Diên Bình đón lấy tải gạo mà Lý Cảo tặng cho chúng tôi từ tay Rajiva, đặt lên vai. định ra về, Hô Diên Bình bỗng ấp a ấp úng:

      - Pháp sư, phu nhân, cả nhà Nghiêm Bình…

      ta ngừng lại, vẻ mặt áy náy.

      - cần phải lo lắng chuyện đó, gia đình cần phải đâu cả.

      Rajiva thấu hiểu tâm tư của ta, nên lựa lời trước.

      Tôi cười, bổ sung:

      - đừng lo vấn đề hộ tịch, tôi nhờ ngài Đoàn Nghiệp thu xếp việc đó.

      Hô Diên Bình như mở cờ trong bụng, vẻ mặt đầy xúc động và cảm kích:

      - Công ơn to lớn của hai vị, Nghiêm Bình biết lấy gì báo đáp. Hai vị có bất cứ việc gì cần đến Nghiêm Bình, dù phải chết cũng từ nan. Tôi gắng sức tìm chỗ ở mới để làm phiền hai vị thêm nữa.

      Rajiva hiền hòa đáp:

      - đừng khách khí, vợ chồng ta coi gia đình như người trong nhà, đừng nghĩ ngợi nhiều. Gia đình phiêu bạt nhiều năm, cũng cần có chỗ để dừng chân nghỉ ngơi chứ.

      Vừa , Hô Diên Bình vừa thôi lời cảm ơn, cho đến khi có ai đó đột nhiên hét lên từ phía sau chúng tôi:

      - Hô Diên Bình!

      Chúng tôi giật mình quay đầu lại, nhìn thấy trong đám đông nạn dân người chỉ tay về phía Hô Diên Bình, lớn tiếng:

      - Ngươi chính là Hô Diên Bình! ra ngươi vẫn còn sống!

      Mặt mày Hô Diên Bình đột nhiên trắng bệch…

    5. vulinh

      vulinh Well-Known Member

      Bài viết:
      20,019
      Được thích:
      24,206
      Chương 76: Buổi học cuối cùng

      Có tiếng gõ cửa, Hô Diên Bình cùng cả gia đình Mộ Dung, vai đeo hành lý, vừa bước vào phòng quỳ sụp xuống trước mặt chúng tôi. Rajiva và tôi vội vã đỡ họ dậy. Hô Diên Bình chắp tay thưa:

      - Pháp sư và phu nhân là những người đại trí đại lượng, chưa từng gạn hỏi về lai lịch của chúng tôi. Nhưng chuyện đến nước này, chúng tôi thể tiếp tục giấu giếm hai vị được nữa.

      ta kéo Mộ Dung Siêu đến bên cạnh, vẻ mặt nghiêm trọng:

      - Cậu chủ đây vốn là con trai của Bắc Hải Vương nước Đại Yên. Sau khi Đại Yên phục quốc, toàn thể gia quyến của Bắc Hải Vương và Phạm Dương Vương ở Trương Dịch đều gặp nạn, duy chỉ có Công Tôn nương nương và Vương phi Bắc Hải thoát thân[1]. Hô Diên Bình tài hèn sức mọn, mấy năm qua dắt díu họ nay đây mai đó khắp Lương Châu, gắng hết sức cũng chỉ lo cho họ được no cơm mỗi ngày.

      [1] Bắc Hải Vương là tước hiệu của Mộ Dung Nạp, cha ruột Mộ Dung Siêu. Phạm Dương Vương là tước hiệu của Mộ Dung Đức, chú ruột Mộ Dung Siêu. Năm 384 Mộ Dung Thùy phục quốc, vẫn giữ tên nước là “Yên”.

      ta lắc đầu ảo não:

      - Nếu được pháp sư cưu mang, chúng tôi chắc chẳng thể thoát khỏi cảnh chết đói.

      Tôi với Rajiva về thân thế của họ từ lâu, nay nghe họ thành giãi bày, tôi lấy làm cảm động. Hô Diên Bình thở dài nặng nề:

      - Chúng tôi muốn tới Đại Yên, nhưng bị Diên Tần và Thốc Phát cản trở, lại gặp cảnh chiến tranh loạn lạc, mẹ già con dại, muôn nỗi khó khăn. Chúng tôi vốn định nương nhờ pháp sư, mai danh tích ở Guzang, chờ dịp tới Đại Yên. Nhưng ngờ hôm nay bị người ta phát ra, nếu tố cáo với Lữ Quang, e rằng họ Lữ kia bắt Công Tôn nương nương và cậu chủ Mộ Dung làm con tin để uy hiếp vua Yên và Phạm Dương Vương. Thêm nữa, chúng tôi ăn nhờ ở đậu trong tư gia của pháp sư mấy tháng trời, pháp sư chắc chắn bị liên lụy. Pháp sư khổ công bảo vệ huyết mạch nhà Mộ Dung, bởi vậy…

      Hô Diên Bình quỳ chân xuống, chắp tay qua đầu mà rằng:

      - Hô Diên Bình thể gây phiền phức cho pháp sư thêm nữa, hôm nay tôi đưa cả nhà tiếp tục trốn chạy. Nếu có duyên gặp lại, Hô Diên Bình cùng cậu chủ Mộ Dung nguyện báo đáp công đức cao dày của pháp sư và phu nhân.

      Rajiva muốn đỡ Hô Diên Bình đứng lên, nhưng ta kiên quyết chịu. Đoàn Sính Đình kéo Mộ Dung Siêu cùng quỳ sụp xuống. Lòng buồn vô hạn, tôi cứ nghĩ có thể cho họ chỗ náu thân yên ổn ở thành Guzang, nhưng thể đến nước này, thể để họ ra .

      Rajiva hiểu rằng lo lắng của Hô Diên Bình là hoàn toàn có lý. Nếu có trong tay người thân của Mộ Dung Đức, Lữ Quang chắc chắn nghĩ cách lợi dụng. Rajiva đưa mắt về phía tôi, tôi gật đầu, lấy những đồng tiền cuối cùng còn lại trong tủ, chưa được nghìn quan. Suy nghĩ lát, tôi rút thêm ít giấy tốc ký, bút chì và cục tẩy trong ba lô của mình ra.

      Tôi trao tiền cho Hô Diên Bình, thuyết phục mãi ta mới chịu nhận. Bút chì, cục tẩy và giấy ghi tốc ký, tôi đặt vào tay Mộ Dung Siêu:

      - Siêu ơi, Ngải Tình có gì để tặng cho cháu, đây chỉ là vài dụng cụ học tập. Dù cuộc sống có vất vả đến đâu cũng phải siêng năng học hành và phải ngoan ngoãn nghe lời mẹ cháu cũng như chú Diên Bình, biết ?

      Mộ Dung Siêu chớp chớp đôi mắt to tròn, đen láy, nước mắt lưng tròng, lao vào lòng tôi nức nở:

      - ơi, sau này nhất định cháu quay về tìm , cháu còn muốn nghe kể chuyện Lưu Bang, Hạng Vũ, còn muốn chơi trò oẳn tù tì với nữa.

      Trong vòng tay tôi là người hùng bi kịch cuối cùng của nhà Mộ Dung. Trong hai mươi bảy năm ngắn ngủi của cuộc đời, những tháng ngày lưu lạc, đói khổ của cậu dài hơn rất nhiều khoảng thời gian yên ổn, an nhàn. Cứ nghĩ thế, tôi lại cầm được nước mắt:

      - Ừ, Ngải Tình ở đây chờ cháu quay lại. Lớn lên cháu phải trở thành nam tử hán đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất nhé!

      Tôi bước đến, ôm lấy Sính Đình, ghé sát vào tai , thầm:

      - Sính Đình, niềm hạnh phúc lớn nhất của đời người con là “mong gặp người lòng, bạc đầu xa cách”[2], đừng để đến lúc mất mới nuối tiếc khôn nguôi.

      [2] Câu thơ trong bài “Khúc ngâm bạc đầu” của Trác Văn Quân.

      Sính Đình đỏ mặt, liếc trộm bà Công Tôn, lo lắng biết bà có nghe thấy những gì tôi . Rồi ấy quay lại nhìn tôi, mắt ngấn lệ. Sính Đình dắt tay Mộ Dung Siêu chào từ biệt chúng tôi:

      - “Xin người hãy bảo trọng, lòng này hoài nhớ mong”[3].

      [3] Hai câu thơ trong bài hành “Cho ngựa uống nước trong hào Trường Thành” trích trong tập “Văn tuyển” viết vào đời Hán ở Trung Quốc.

      Chiến tranh ly loạn, khói lửa binh đao, chia tay hôm nay, chỉ e cách biệt phương trời, khôn nguôi nỗi nhớ. Cầu chúc pháp sư và chị Ngải Tình thương bền chặt, gắn bó keo sơn. Dù thân này trôi dạt nơi đâu, Sính Đình cũng chúc phúc cho hai vị.

      “Cây cao đầu núi

      Gió thổi lá rơi

      Người ngoài dặm thẳng

      Đợi trông đến rã rời”[4].

      [4] bài thơ trích trong “Nhạc phủ thi tập” viết vào đời Hán của Trung Quốc.

      Cả gia đình họ hòa vào dòng người rời khỏi thành Guzang, từ nay lại bắt đầu cuộc sống phiêu bạt, biết đến khi nào mới được gặp lại?

      Ngày thứ hai sau khi họ ra , Lữ Thiệu đem quân đến nhà tôi lục soát, theo sau là Mông Tốn với vẻ mặt lạnh lùng, khó hiểu và kẻ nhận ra Hô Diên Bình ở lầu trống hôm đó. Lữ Thiệu ra lệnh cho cả nhà tôi tập trung ngoài sân, để thuộc hạ của vào từng phòng lục soát. Kết quả cuối cùng khiến Lữ Thiệu vô cùng tức tối, trừng mắt nhìn chúng tôi, vẻ nghi ngờ, dò xét hiển khuôn mặt ác bá.

      - Thưa Thế tử, người dân thành Guzang ai biết gia đình pháp sư cho phép dân vùng thiên tai đến nhà nương náu, nếu gia đình Mộ Dung cố tình trà trộn vào đây, pháp sư cũng khó lòng phân biệt.

      Mông Tốn bước tới khuyên giải Lữ Soạn, cố ý liếc xéo tôi cái:

      - Bọn họ chắc bỏ trốn lâu rồi, Thế tử nên truy tìm phí công vô ích nữa!

      Lữ Thiệu hình như rất tín nhiệm Mông Tốn, nghe thấy có lý, hậm hực khoát tay, thu quân ra về.

      Tôi thở phào, xách làn ra chợ mua rau. Mấy ngày gần đây, Đỗ Tấn có ghé qua nhà tôi lần, Rajiva bàn với ông ấy về ý tưởng xây dựng chùa hang đá của mình và được ông ấy hết lòng ủng hộ. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Đỗ Tấn mang đến cho chúng tôi khá nhiều thực phẩm và tiền bạc, nên chúng tôi cần phải bóp mồm bóp miệng, tằn tiện như trước nữa. Tôi định bụng mua cho Rajiva miếng thịt dê để chàng bồi bổ sức khỏe.

      - Chào giáo, lâu gặp!

      Tôi chạm mặt Mông Tốn ở lối rẽ vào ngõ , chắc chắn ta đứng đợi tôi ở đây lâu rồi.

      ta bước về phía tôi, hai tay vắt chéo trước ngực, mặt mày tươi cười, giọng kẻ cả:

      - Nạn dân và cả nhà Mộ Dung đều rồi, giáo bận rộn nữa, vì sao tiếp tục giảng bài?

      Chuyện này trước sau gì cũng phải đối diện. Tôi thở dài, lịch đáp:

      - Thưa tướng quân, vô cùng cảm ơn ngài vì nhiều ngày qua cung cấp lương thực cho chúng tôi. Nhưng cuốn sách đó, tôi giảng xong rồi…

      ta tỏ vẻ cười cợt, chế giễu, cúi xuống nhìn tôi:

      - Ngải Tình, nếu hơn hai trăm con người đó vẫn còn nương náu ở nhà , bài giảng kết thúc sớm như vậy, phải ?

      ta đảo qua đảo lại quanh người tôi, cười khểnh:

      - Nhưng điều này cũng khó trách, nếu vì lương thực đời nào chịu bước chân vào nhà ta! Có điều, hai ta qua lại với nhau cả tháng trời, vậy mà vẫn chịu gọi tên ta. Mỗi lần đến nhà đều cố tỏ ra lạnh lùng, xa cách và đề phòng, cười cũng buồn cười với ta, vì muốn dây dưa với ta phải ? Điều này khiến ta vô cùng bực bội.

      Tôi lập tức vươn lưng đứng thẳng, ta sai, tôi cũng cần giả bộ làm gì nữa:

      - Tôi chỉ là dân nữ, sao dám gọi thẳng tên của tướng quân! Trong nhà còn nhiều việc, xin phép tướng quân tôi trước!

      Tôi kiên quyết dạy đấy, ta làm gì được tôi nào! Bắt cóc tôi ư, chỉ e ta dám. định bước , chợt tôi trông thấy ta lôi từ trong áo ra hai thứ, miệng xuýt xoa:

      - Tiếc quá, muốn tặng quà cho

      - Ngài!

      Tôi trừng mắt nhìn ta khi biết đồ vật ta cầm tay là gì.

      - Tôi cầm cố ba tháng kia mà.

      - Ta muốn gì là có được thứ đó bằng mọi giá!

      ta cười nham hiểm, cất món đồ .

      - Chỉ cần giảng hết kiến thức trong cuốn sách quý đó, ta tặng hai món ngọc này, xem như thù lao dạy học được chứ?

      Tôi cắn chặt môi, nhìn thẳng vào đôi mắt chim ưng thâm hiểm của ta, đáp:

      - Thôi được, ngày mai tôi đến.

      Người học trò ngồi trước mặt tôi nghiêm túc, tập trung lắng nghe tôi giảng chương cuối cùng của cuốn “Quân vương” với tiêu đề “Kêu gọi hùng cứu nước”. Cùng là công việc giảng dạy, nhưng tôi dành trọn tâm huyết khi giảng bài cho Rajiva, tôi vui mừng, hoan hỉ khi được cùng chàng trao đổi những kiến thức xoay quanh bài học. Còn khi đối diện với Mông Tốn, tôi cảm thấy lo sợ và cảnh giác. Chỉ khi nào giảng bài xong và rời khỏi nhà ta, tôi mới có thể thở phào nhõm.

      - Sau khi cân nhắc, xét đoán tất cả các việc kể và suy luận mọi lẽ, tôi tự hỏi ngày nay ở Trung Nguyên, đến lúc để vị vua mới lập nên danh vọng được chăng? Nếu vị vua mới cho đây là cơ hội để người có trí óc khôn ngoan, có tài năng lỗi lạc nắm lấy vinh dự cho mình và mang lại quyền lợi cho nhân dân, Ngài thấy ngay trước mắt biết bao nhiêu việc thuận tiện. dịp may hiếm có.

      Nguyên văn cuốn sách về nước Ý, nhưng tôi thay bằng địa danh Trung Nguyên. Tôi ngừng lại, suy nghĩ về đoạn tiếp theo. Machiavelli viết rằng: “Phải có dân Do Thái bị làm nô lệ ở Ai Cập, giá trị của thủ lãnh Moise mới được minh xác. Dân Ba Tư có bị dân Mèdes đè nén, mới biết khí tiết hùng của Cyrus. Dân Athéniens có ly tán, mới biết tài khôn khéo của Thèsée[5].

      [5] Trích đoạn trong cuốn “Quân vương” của Machiavelli, Phan Huy Chiêm dịch, Nhà xuất bản Quán Văn, Sài Gòn, 1971.

      Những lý lẽ đây của Machiavelli hoàn toàn đứng ở góc độ của bậc quân chủ để đánh giá mà đứng lập trường của người dân cùng khổ. Bởi vậy, tôi vẫn thích lý thuyết “thời thế tạo hùng” của người Trung Quốc hơn. Nhưng tôi thể tiết lộ những điều này cho “nhà dã tâm” ngồi trước mặt tôi đây. phải vì khó có thể giảng giải cho ta hiểu cặn kẽ lý thuyết , mà vì ta phải vị minh quân vĩ đại được định mệnh lựa chọn để kết thúc thời kỳ chiến loạn dằng dặc này.

      - Thưa tướng quân, vậy là tôi giảng xong toàn bộ nội dung của cuốn sách “Quân vương”. Cảm ơn trợ giúp của tướng quân suốt hơn tháng qua. Ngày mai, tôi cần đến đây nữa.

      Tôi đứng lên, khẽ cúi chào, rồi chìa tay ra trước mặt ta.

      ta nhếch môi nở nụ cười khinh bạc, hàng lông mày rậm nhướn cao:

      - Đừng vội vàng như thế!

      ta hướng ra ngoài cửa, vỗ tay, người hầu bưng lên khay bát đũa. Mông Tốn dịu dàng dỗ dành tôi:

      - Ta căn dặn nhà bếp nấu riêng cho bát canh táo đỏ mộc nhĩ. Sắc mặt vàng vọt xanh xao, khó coi lắm, đàn bà con , phải hồng hào, tươi tắn mới đẹp.

      - Cảm ơn ý tốt của tướng quân, tôi dám!

      buồn nhìn khay đồ ăn bốc khói nghi ngút bàn, tôi nhã nhặn thưa:

      - Tôi chỉ muốn lấy lại đồ ngọc kia thôi…

      - tưởng ta biết ư?

      ta ngắt lời tôi, áp sát vào người tôi, ánh mắt đột nhiên trở nên lạnh sắt:

      - Hơn tháng qua, thèm ăn uống bất cứ thứ gì ở nhà ta, kể cả nước trắng, bởi vì sợ ta bỏ thuốc mê vào đó, đúng ?

      Tôi bình tĩnh lùi lại phía sau, giữ khoảng cách an toàn với ta. ta tiếp tục lấn tới nữa, ngó vào khay đồ ăn, gật gù tán thưởng:

      - đoán đúng. Ta bỏ thuốc mê vào bát canh này. Nếu chịu ăn nó, ta thả về, nhưng chịu…

      ta ngừng lại, ánh mắt mang hình mũi tên:

      - Điều đó chứng tỏ ta nhìn lầm người. Ngải Tình, lúc trước, ta chỉ suy nghĩ đơn giản rằng rất có ích cho ta, nhưng sau tháng nghe thuyết giảng về thuật trị dân, thử xem, liệu ta có thể thả về, để tiếp tục đem những kiến thức đó truyền giảng cho kẻ khác ?

      Tôi lạnh cả người, vậy là những lo lắng của Rajiva trở thành thực. Hôm nay tôi giấu Rajiva để đến đây, vì tôi rất muốn lấy lại vật kỷ niệm của Pusyseda. Nhưng tôi đâu biết rằng việc này là thể.

      Thấy tôi im lặng, ta tiếp tục lại gần và gắng sức thuyết phục tôi bằng thứ giọng điệu ôn hòa, ngọt ngào mà trước đây tôi chưa từng nghe thấy:

      - Nàng là thông minh, giữa thời buổi hỗn loạn này, nàng nên tận dụng trí tuệ của mình làm nên nghiệp lớn. Chứ sao lại cam chịu cuộc sống đói rét, kham khổ cùng với nhà sư hơn nàng chừng ấy tuổi, lại phải hứng chịu những lời đàm tiếu, chỉ trích chẳng lấy gì làm hay ho?

      ta định cầm tay tôi, tôi vội vàng đẩy ra. ta liền từ bỏ ý định sàm sỡ, tiếp tục cao giọng:

      - Ta biết nàng là người hiền lành nhân hậu, nàng yên tâm, dù ta chẳng phải người đức độ, từ bi gì, nhưng ta hứa giết người bừa bãi. Chí ít, ta chăm lo và xem trọng dân chúng hơn cha con họ Lữ kia. Ngải Tình, ta nhất định đối xử tốt với nàng, ngày sau, khi đại nghiệp thành công, nàng là Hoàng hậu của ta, con trai nàng là Thái tử của ta. Hãy theo ta, ở bên ta, cùng ta giành lấy thiên hạ, chúng ta cùng đồng tâm hiệp lực kết thúc cuộc chiến tranh này, được ?

      - Mông Tốn…

      Tôi ngẩng lên, đối diện với ta. ta như mở cờ trong bụng, đổ người về phía tôi.

      Tôi thở dài, ra sức dùng lý lẽ khuyên giải:

      - Cảm ơn tình cảm của ngài dành cho tôi. Tôi chỉ là phụ nữ bình thường, tham vọng, ham vinh hoa phú quý. Những kiến thức truyền giảng cho ngài, tôi hứa truyền lại cho bất cứ ai dù chỉ chữ…

      - Nàng muốn vinh hoa phú quý ư?

      ta ngắt lời tôi cách thô bạo, hậm hực vài tiếng, hai mắt đảo khắp người tôi:

      - Vậy, muốn gì?

      Tôi cúi người, khiêm cung và thành khẩn:

      - Tôi chỉ mong được ở bên pháp sư cho đến cuối đời. Chúng tôi trải bao hoạn nạn mới kết thành vợ chồng, người đời gì, tôi bận tâm. Tâm nguyện duy nhất của pháp sư là truyền bá rộng rãi Phật pháp, nên chắc chắn gây bất cứ trở ngại nào cho tiền đồ to lớn của ngài, xin ngài đừng lo lắng:

      ta bật cười ngắt lời tôi, lắc đầu mỉa mai:

      - Đàn bà các người chỉ biết có tình . Nhưng tiếc thay, thứ đó giúp đổi được lương thực, giúp đoạt được giang sơn. Đó là thứ mà Mông Tốn ta khinh rẻ nhất!

      ta nhìn tôi chằm chặp, ánh mắt lạnh lùng, thâm hiểm, từng bước tiến lại gần tôi:

      - Ngải Tình, ta hết sức mềm mỏng với nàng. Kể từ sau khi nàng bị tấn công, ngày nào ta cũng cho người thầm theo sát, bảo vệ nàng. Nàng đến chỗ ta, ta những muốn nàng được no bụng, nhưng nàng kiên quyết chịu. Ta nghĩ đủ mọi cách để lấy lòng nàng, nhưng nàng ngày càng xa cách với ta. Lẽ ra ta muốn dùng vũ lực với nàng, nhưng mọi biện pháp mềm dẻo đều vô tác dụng.

      ta đột nhiên bóp mạnh cằm tôi, giãy giụa cũng vô dụng, bàn tay thô bạo của ta vờn khuôn mặt tôi, khiến tôi bị đau.

      - Chính nàng với ta rằng, để đạt được mục đích phải bất chấp thủ đoạn. Hôm nay, nếu nàng bằng lòng sao, bằng

      ta ngừng lại, gầm gừ, vẻ tức giận trùm lên gương mặt to bè.

      - Nàng biết đấy, ta phải chính nhân quân tử gì cả, xử trí phụ nữ yếu đuối như nàng, chẳng phải việc gì khó khăn đối với ta.

      Tôi thầm thở dài, lý lẽ xong đành phải sử dụng “kế hoạch B” vậy. Chưa kịp luồn tay vào ống tay áo rộng, tôi bị ta sáp đến và nhấc bổng lên. Mặt ta kề sát mặt tôi, ánh mắt lóe lên khát khao chinh phục con mồi của kẻ săn mà trước đây tôi từng thấy. Đúng vào khoảnh khắc đó, cơn buồn nôn ập đến, dồn lên cuống họng, ruột gan tôi như lộn tùng phèo. Tôi phải ra sức kìm chế để nôn ra ngoài, vì nếu chuyện đó xảy ra, Mông Tốn chắc chắn vô cùng tức giận.

      ta ôm tôi đến bên chiếc giường lớn, đổ cả thân hình vạm vỡ, săn chắc lên mình tôi. Hơi thở nóng ran, vẫn còn vương mùi thịt dê ấy phả lên mặt tôi, khiến tôi suýt nữa nôn ọe.

      - Sao thế, khi nãy tránh né ta dữ dằn lắm mà, sao bây giờ lại ngoan ngoãn như vậy?

      Tôi gắng hít hơi sâu, ra sức kìm chế cơn buồn nôn, giữ giọng bình thản, đáp:

      - Trốn tránh có tác dụng gì đâu, chi bằng dưỡng sức là hơn.

      ta bật cười ha hả, tiếng cười lớn làm rung cả thân giường:

      -Ngải Tình ơi Ngải Tình, nàng luôn khiến ta phải bất ngờ. Bình tĩnh trong mọi trường hợp, màng danh vị, tiền tài, quyền lực, trong khi bản thân nàng lại có trí tuệ hơn người.

      ta chuốt lọn tóc của tôi trong các kẽ tay, đặt lên mũi hít hà, miệng cười hỉ hả. Ánh mắt nhìn tôi đắm đuối, giọng ngọt ngào:

      - Và điều quan trọng nhất là, nàng luôn lòng chung thủy, sẵn sàng kề vai sát cánh bên người mình để cùng vượt qua hoạn nạn. người con hiếm có như thế, làm sao ta có thể bỏ qua. Cứ tiếp tục thế này, chưa biết chừng ngày nào đó, ta phải lòng nàng mất…

      ta sáp lại gần tôi, ánh mắt rực lửa khao khát. Tuy điển trai, tuấn tú nhưng ta rất mạnh mẽ, và nguy hiểm như con cọp vậy! Đúng vào khoảnh khắc chuẩn bị hôn tôi ta bỗng nhiên run bắn lên, chưa kịp ngạc nhiên, hai mắt lờ đờ, sau đó toàn thân đổ vật xuống.

      Đúng như tôi dự liệu, ta nhìn thấy vũ khí của tôi. Tôi cố nhẫn nại để chờ đợi khoảnh khắc ta lơ là ấy, tôi thể để ta nhìn thấy súng gây mê của mình được, nếu , lần tiếp theo, tôi làm sao có thể dễ dàng áp dụng chiêu thức này được nữa.

      Tôi đẩy thân thể nặng trình trịch của ta sang bên, chưa kịp ra khỏi giường cơn buồn nôn dữ dội ập đến. Tôi gập mình xuống cạnh giường, nôn thốc nôn tháo. Sau khi gần như toàn bộ bữa trưa của tôi ra ngoài cả, cơn buồn nôn mới tạm buông tha cho tôi, ruột gan tôi vô cùng khó chịu.

      Tôi tựa lưng vào thành giường, nghỉ ngơi chốc lát, chỉ lát thôi, rồi tôi vội vã đưa tay áo lên lau miệng, thở dốc, lục tìm hai miếng ngọc trong ngực áo ta. Sau đó, kéo ta nằm ngay ngắn, trùm chăn lên.

      Tôi lấy lại nhịp thở đều đặn, ra ngoài gọi người hầu vào quét dọn sạch những thứ tôi vừa nôn ra, căn dặn họ rằng: Mông Tốn uống say, phải ngủ ngày đêm, trước giờ này ngày mai ai được làm phiền. Bước ra khỏi phủ đệ của Mông Tốn, quay đầu nhìn cánh cổng quét sơn đen bề thế, trong lòng tôi cảm thấy vô cùng nặng nề. Rajiva từng nhắc nhở tôi nhiều lần, rằng nên gây với Mông Tốn, nhưng tôi để tâm.

      ta tỉnh lại phản ứng thế nào? ta sợ thần thánh, tin bói toán, lại hiểu biết và khôn ngoan hơn đám người nhà họ Lữ kia rất nhiều. Chính tôi gây ra chuyện này, tôi tự làm phải tự chịu. Bây giờ muốn thoát khỏi nanh vuốt của ta, lẽ nào chỉ bằng vài lần hôn mê là xong? Sử dụng súng gây mê nhiều lần, chắc chắn bị ta phát ra, đến lúc đó phải làm sao?

      Tôi thở dài buồn bã, chầm chậm bước về nhà, chân như đeo đá. Hơi ấm len trong làn gió cuối tháng ba, tơ liễu lả lướt vai áo. Cây cối ven đường vào độ đâm chồi nảy lộc, cỏ non tươi xanh mơn mởn. Phố xá hân hoan, nô nức, niềm vui của những con người vừa trải qua kiếp nạn. Nhiều người trong số họ trồng cây, cất tiếng chào tôi, nụ cười trong gió xuân phơi phới. Tôi gượng cười đáp lễ, nhưng trong lòng nguội lạnh. Hơi ấm của mùa xuân mang đến cho người dân Guzang sức sống mới, nhưng chẳng thể xua tan nỗi niềm chất chứa trong tôi. Vì với tôi, Mông Tốn giống như cơn ác mộng vẫn còn dai dẳng, đeo bám…

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :