1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Chiến Dịch Trái Tim

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

                  Chương 14


      “CÓ LÝ DO khiến nghệ thuật nhiếp ảnh lâu nay vẫn được biết đến như là trong những loại hình nghệ thuật hắc ám.” Venetia buông mình xuống chiếc ghế trước lò sưởi và chậm rãi tuột găng tay ra. “Đúng ra là những hai lý do.”

      “Sử dụng xyanua là trong hai lý do đó chăng?” Gabriel quẳng áo choàng qua góc bàn. Chàng cởi bỏ áo khoác dạ tiệc mà chỉ nới lỏng nơ cổ và kéo cổ áo sơ mi hở ra.

      Venetia trông rất bình tĩnh, nếu đem so với vụ việc gay go mà nàng vừa phải trải qua, nhưng chàng có thể nhìn thấy nỗi lo âu căng thẳng làm hai vai nàng cứng lại.

      “Đúng vậy,” nàng đáp. “Bao nhiêu năm nay các tập san về nhiếp ảnh liên tục đả kích việc sử dụng kali xyanua làm chất điều chế.” Nàng đặt đôi găng tay da dê mềm màu đen, gọn gàng, chính xác xuống chiếc bàn . “Mà có phải là có sẵn phương pháp thay thế an toàn và chấp nhận được đâu cơ chứ.”

      “Còn loại hóa chất nàng sử dụng tại trụ sở Hội Arcane sao? Ta tin rằng nàng gọi tên hóa chất ấy là hypo.”

      “Natri hyposunfit. Chất này có mặt ngay từ những ngày đầu của ngành nhiếp ảnh nhưng lại luôn có những kẻ cứ khăng khăng cho rằng xyanua thích hợp với việc này hơn. Với lại, trước khi có mặt các loại tấm kính ảnh khô vài năm trước đây xyanua rất hữu dụng trong việc tẩy những vết đen dính thảm, tay hay bất cứ thứ gì khác do bạc nitratt nhểu xuống.”

      “Vấn đề dính bẩn là lý do còn lại khiến nhiếp ảnh được biết đến như là nghệ thuật ám à?”

      Venetia buồn rầu gật đầu. “Mãi cho đến gần đây người ta vẫn còn bảo rằng ta có thể nhận biết người là nhiếp ảnh gia chỉ bằng cách nhìn vào các ngón tay của người ấy. Các ngón tay thường xuyên bị ám đen do sử dụng bạc nitrat để chuẩn bị tấm kính ảnh ướt colodion. Cho đến khi các loại tấm kính ảnh khô được tung ra thị trường tôi mới bắt đầu nghiệp, nên tôi phải đương đầu với vấn đề ám bẩn do bạc nitrat.”

      “Còn có những người thường xuyên sử dụng xyanua đấy chứ?”

      may là vẫn còn. Chất này vẫn còn là nguyên liệu chủ yếu trong các phòng tối. Chắc chắn ai lấy làm lạ nếu thấy chất này có sẵn trong cơ sở của ông Farley tối hôm nay.”

      Gabriel ngồi xổm xuống trước lò sưởi khơi lên ngọn lửa . “Ta từng để ý thấy thỉnh thoảng có những bài báo đưa tin về cái chết của các nhiếp ảnh gia do xyanua.”

      chỉ có nhiếp ảnh gia thôi đâu. Có rất nhiều nạn nhân là người sống trong nhà. Ví dụ như, đứa bé tò mò uống phải, hay hầu trẻ thối chí vì tình tàn. Đôi khi lại là con chó trong gia đình bị giết chết. có cách nào biết hết được có bao nhiêu người do vô tình hay cố ý phải bỏ mạng vì chất độc này.”

      Gabriel đứng lên đến chiếc bàn đặt bình brandy. “Người ta nghĩ rằng nếu Burton muốn tìm lối thoát nhanh gọn hẳn uống thẳng xyanua. Đằng này lại uống thứ ấy pha với rượu mạnh.”

      Venetia ngập ngừng. “Có lẽ người ta đoán rằng chắc nghĩ pha vào như thế dễ nuốt hơn.”

      “Đúng .” Gabriel thoáng nhớ lại vẻ dữ tợn đến ghê người của luồng sát khí vẫn còn bám vào tay nắm cửa bằng thủy tinh cánh cửa phòng tối của ông Farley. “Nhưng như lúc nãy, ta hoàn toàn đồng ý với kết luận của nàng về những kiện tối nay. Burton bị sát hại.”

      chỉ cần nuốt mỗi ngụm thôi,” nàng lặng lẽ . “ liều xyanua đậm đặc là xong ngay ấy mà.”

      Gabriel cầm bình brandy lên rót ra hai ly. Rót xong, chàng trầm ngâm nhìn ly rượu trong giây lát.

      “Suy nghĩ ấy đúng là làm ta phải chùn bước và thận trọng hơn, nhỉ?” chàng vừa hỏi vừa cầm hai ly rượu lên.

      Nàng nhìn ly brandy mà chàng chìa ra cho mình. “Phải, đúng thế .”

      Nàng mở tay ra đón nhận ly brandy từ chàng. Chàng có thể thấy những ngón tay nàng run rẩy rất khẽ.

      Gabriel ngồi xuống chiếc ghế bành khác và uống ít rượu trong ly. Venetia hít hơi sâu, chun mũi nuốt chút rượu, vẻ hơi kiểu cách.

      Chàng thấy vui vui. “ cần phải sinh ra chứng ám ảnh sợ rượu ngon đấy chứ.”

      “Trời ạ, hề.”

      “Đôi khi lại là thần dược đấy.”

      “Hẳn là thế rồi.”

      Hai người họ ngồi cùng nhau lúc, trầm ngâm nhìn lò sưởi. Gabriel lắng nghe im lặng của ngôi nhà. Lúc này quá nửa đêm. Vừa nãy về đến nhà, chàng và Venetia thấy mọi người ngủ hết, kể cả bác Trench. Như thế lại càng hay. Đến sáng có đủ thời gian mà giải thích.

      Chàng ngả đầu ra lưng ghế để nghĩ đến cuộc chuyện với cảnh sát.

      “Ta có cảm giác rằng tay thanh tra cảnh sát có khuynh hướng tin vào giả thuyết Burton tự sát,” chàng lên tiếng.

      “Chắc chắn đấy là lời lý giải đơn giản nhất rồi. Nhưng như thế giải thích được ai là kẻ tôi trông thấy ra khỏi căn phòng ngay trước khi tôi phát ra xác chết.”

      ,” chàng bảo. “ giải thích được .”

      Viên thanh tra thẩm vấn Venetia rất cặn kẽ về bóng người mà nàng nhìn thấy nơi cầu thang, nhưng chỉ dựa vào mô tả thuần túy nàng chẳng thể cung cấp cho ông ta được điều gì hữu ích.

      Còn về phần mình, Gabriel tự nhủ, làm sao chàng có thể bảo rằng mình cảm nhận được sát khí toát ra từ tay nắm cửa. Viên thanh tra hẳn cho rằng chàng bị điên. Vả lại, sử dụng cảm giác để nhận diện là vô ích. Những cảm giác ấy mãnh liệt đấy nhưng chúng có thể thuộc về bất kỳ ai từng vào trong căn phòng ấy với chủ ý sát nhân.

      Chàng nhìn sang Venetia. “Nàng bảo tối nay nàng theo Burton ra khỏi phòng triển lãm và vì muốn đối mặt với hỏi cho chuyện những bức ảnh ghê gớm mà nàng tin là gửi cho nàng ư?”

      “Phải.”

      “Có biết vì sao lại làm chuyện như thế ?”

      Venetia thở dài. “Tôi cho là vì ghen tức thôi.”

      đố kỵ với thành công của nàng à?”

      “Đấy là động cơ duy nhất mà tôi có thể nghĩ đến.” Nàng nhấp thêm chút brandy. “Burton là tay bất mãn với đời. Tài năng nhiếp ảnh của chưa khi nào được thừa nhận hay đánh giá cao. Đây là ngành kinh doanh có tính cạnh tranh rất cao, ngài hiểu mà.”

      “Tối nay đúng là ta có cảm tưởng như thế.”

      “Khả năng chụp ảnh đẹp chỉ là phần đòi hỏi để tạo dựng nên tên tuổi thu hút khách hàng thời thượng. Giới thượng lưu thường thay đổi như chong chóng. nhiếp ảnh gia thành công phải tạo ra phong cách nhất định và cảm giác độc nhất vô nhị. Người ấy phải đem đến ấn tượng rằng mình thực phải mua bán, dù thực ra là thế, mà cung cấp cho khách hàng của mình những ích lợi từ tư chất nghệ thuật của mình.”

      “Ta mạnh dạn đoán thử nhé,” Gabriel bảo. “Burton tạo được hình ảnh như thế.”

      “Đúng vậy.”

      “Hẳn phải có rất nhiều nhiếp ảnh gia thành công khác hành nghề tốt hơn chứ. Tại sao chỉ chăm chăm đố kỵ với mỗi mình nàng?”

      “Tôi nghĩ vì tôi là phụ nữ,” nàng lẳng lặng đáp. “Trong tư tưởng việc bị đàn ông qua mặt khổ sở rồi. phụ nữ mới chân ướt chân ráo vào nghề gặt hái được thành công ngay lập tức khiến phẫn nộ. đối mặt với tôi hai lần để tuyên bố thẳng thừng rằng nghề này dành cho đàn bà.”

      “Những bức ảnh khó chịu kia gửi tới đây khi nào thế?”

      “Bức ảnh đầu tiên được bỏ lại trước cửa nhà tôi đầu tuần này. Bức thứ hai được gửi đến hai ngày sau đấy. Tôi nghi ngờ Burton ngay lập tức. Tôi biết có mặt trong buổi triển lãm tối nay. Tôi định kiên quyết đòi giải thích.” Nàng nhắm mắt lại xoa xoa thái dương. “Giờ , tôi chẳng còn biết phải nghĩ gì nữa. ràng có dính dáng đến những phi vụ xấu xa nào đó với kẻ sát hại .”

      Gabriel duỗi chân về phía lò sưởi. “Nàng có ý niệm nào về kẻ muốn giết ?”

      Venetia mở bừng mắt ra nhăn nhó. “Ý ngài là, ngoài tôi ra chứ gì? . Tôi chỉ có thể được cho ngài rằng Burton phải là người được quý mến cho lắm. tên thâm hiểm, vô đạo đức, thường giao du với tầng lớp thấp kém hơn trong giới nhiếp ảnh. hiệu ảnh ở khu vực xập xệ trong thành phố nhưng tôi kiếm sống bằng cách nào, thú là thế.”

      Gabriel đan tay bưng ly rượu. “Ta rất muốn được xem những tấm ảnh mà gửi cho nàng.”

      “Ở ngăn kéo dưới cùng bàn viết của tôi đấy. Để tôi lấy cho.”

      Nàng đặt ly brandy qua bên, đứng dậy qua tấm thảm để đến bên bàn viết.

      Gabriel quan sát nàng lấy chiếc chìa khóa be bé từ chiếc xà tích xinh xắn đong đưa bên eo váy. Nàng dùng chìa này mở ngăn tủ lấy ra hai bức ảnh.

      Lẳng lặng lời, nàng quay ngược trở lại, ngồi xuống đoạn trao cho chàng bức ảnh.

      Trong vài giây chàng giữ bức ảnh úp ngược xuống, cảm lấy bức ảnh bằng cái phần trong mình có thể nhận thấu điều mà những giác quan khác cảm được. Có loáng tháng hơi hớm tức giận và căm phẫn nhưng chàng hầu như biết chắc đấy là từ phía Venetia. Trong hơi hớm ấy toát ra cảm thức tự chủ.

      Bên dưới những hơi hớm ấy là các vết tích thậm chí còn mờ nhạt hơn của loại cảm xúc hung tợn khác, loại chỉ có thể được mô tả là cuồng nộ ám ảnh. Chàng hầu như biết chắc loại cảm xúc này được vương lại từ kẻ thu xếp cho bức ảnh được bỏ lại trước cửa nhà Venetia.

      Chàng lật bức ảnh lên xem xét dưới ánh lửa.




      “Đây là bức gửi đến đầu tiên à?” chàng hỏi.

      “Vâng.”

      Bức ảnh thoạt nhìn nhợt nhạt, nếu muốn là hết sức bệnh hoạn. Quang cảnh ảm đạm, đám tang đầu là chiếc xe tang màu đen được buộc vào đàn ngựa đen. Cỗ xe đứng trước cánh cổng sắt của nghĩa trang. dãy những đền đài, lăng mộ, bia đá u ám lẩn khuất bên kia những song sắt cao cao của hàng rào bao quanh bãi tha ma.

      Chỉ đến khi nhìn kỹ vào bức ảnh người ta mới để ý thấy vận chiếc váy đen hợp thời và đội chiếc mũ đen rộng vành đứng nép bên khung cảnh.

      cảm giác ớn lạnh quặn lên trong bụng Gabriel.

      “Là nàng đấy ư?” chàng lặng lẽ hỏi.

      “Phải. Nghĩa trang trong ảnh nằm cách con phố này quãng ngắn. Ngày nào tôi chẳng ngang qua đấy để tới hiệu ảnh.” Nàng chìa tấm ảnh thứ hai ra.

      Chàng đón lấy, lần nữa thoáng ngưng lại để xem mình có thể phát giác được cảm xúc mãnh liệt nào . Những tàn dư từ cơn tức giận và căm phẫn của Venetia lăn tăn gợn qua các giác quan của chàng, nhưng lần này còn có thêm điều gì đó khác nữa. Sợ.

      Bên dưới tầng cảm xúc đó lại là cùng nỗi ám ảnh bệnh hoạn bám lấy bức ảnh thứ nhất kia.

      Chàng lật tấm ảnh lên. Lần này chàng trông thấy bức ảnh chụp lăng mộ trang hoàng cầu kỳ. Trong vài giây chàng chẳng thể hiểu được ý nghĩa của cảnh này. Nhưng rồi chàng nhìn thấy tên người khắc bia mộ. Cơn ớn lạnh trong lòng chàng biến thành băng giá.

      “Để tưởng nhớ Venetia Jones,” chàng đọc lớn.

      Venetia nhăn mặt. “ minh chứng tuyệt hảo cho thấy nó chỉ có thể được phóng tác bởi kẻ cao tay trong nghệ thuật chỉnh sửa hình ảnh. Sau khi bức ảnh gửi đến đây, tôi và Amelia đến nghĩa trang xem thử lăng mộ ấy có nằm đó .”

      “Nàng tìm thấy chứ?”

      “Có.” Nàng siết chặt các ngón tay vào nhau. “Tuy nhiên, tên được khắc vào bia là Robert Adamson.”

      “Dù là gì nữa, tên Harold Burton này vẫn là thằng con hoang khốn nạn.”

      Venetia uống thêm chút brandy. “Đấy hẳn nhiên cũng là ý của tôi.”

      Chàng nhìn qua bức ảnh thứ nhất lần nữa. “Bức này cũng được chỉnh sửa à?”

      . Hôm đấy tôi đứng trước nghĩa trang, đường về sau chuyến tản bộ đến công viên như thường lệ. Tình cờ tôi qua cổng nghĩa trang đúng lúc đoàn xe tang trờ tới.” Nàng ngập ngừng. “Tôi biết, nghe có vẻ như tôi quá hoang tưởng nhưng tôi luôn có cảm giác dạo gần đây Burton bám gót tôi khắp nơi.”

      Gabriel đặt tấm ảnh xuống bàn cạnh ghế ngồi. “Nàng đoán chắc rằng mấy tấm ảnh này là do chụp à?”

      Venetia liếc qua ảnh. “Chắc chắn hết mức dù có chứng cứ rệt. Có điều gì đó trong phong cách lẫn bố cục ảnh. Burton thực ra là thợ ảnh rất khéo tay. Tôi từng nhìn thấy vài tác phẩm của . có tài năng nhất định về chụp ảnh kiến trúc. Bức ảnh thứ nhất, về đoàn xe tang ấy, ràng là được chụp ngẫu hứng. Lẽ ra tôi thể nhận ra là người chụp nếu chỉ căn cứ vào mỗi bức ấy. Nhưng tấm ảnh thứ hai lại được chăm sóc kỹ lưỡng.”

      Gabriel săm soi bức ảnh chụp hình bia mộ. “Ta hiểu ý nàng rồi. Góc chụp của mới khéo làm sao.”

      “Cả ánh sáng cũng rất ấn tượng và rất giống phong cách của . Còn về dòng chữ khắc, à, Burton là người chỉnh sửa ảnh rất nghề.” Venetia lắc đầu. “Tôi nghĩ rằng với tấm ảnh thứ hai ấy, cố khiến tôi vừa khâm phục vừa sợ hãi. muốn chứng tỏ cho tôi thấy sử dụng máy ảnh điêu luyện hơn tôi nhiều.”

      “Nàng bảo Burton lúc ấy theo dõi nàng à?”

      “Vào ngày chụp bức ảnh về đoàn xe tang tôi nhìn thấy , nhưng tôi có để ý thấy vài lần trong nhiều ngày liên tiếp. Dường như lẩn khuất đâu đó quanh quẩn gần tôi.”

      “Hãy tả lại những lần nàng trông thấy xem nào.”

      “Tôi có thấy ít nhất là hai lần trong công viên xa đây lắm. luôn giữ khoảng cách và vờ như thấy tôi. Rồi, buổi sáng nọ, Amelia và tôi mua sắm phố Oxford. Tôi ràng là nhác thấy Burton cũng ở đó nữa. thơ thẩn ngay lối vào của cửa hiệu. Khi tôi cố tiến đến gần để hỏi xem làm gì lẩn mất vào đám đông. Thoạt tiên tôi cứ nghĩ bao lần như thế đều là tình cờ thôi. Nhưng mấy ngày vừa qua tôi thề là mình bắt đầu cảm thấy như con nai bị tay thợ săn rình rập.” Miệng nàng mím lại. “Mọi chuyện bắt đầu trở nên đáng lo, phải thú là thế.”

      Và có lẽ lại thêm động cơ giết người nữa dưới con mắt của Sở cảnh sát Scotland Yard đây, Gabriel thầm nghĩ.

      “Nếu cảnh sát lại hỏi han về cái chết của Burton, chúng ta nhắc đến chuyện có thể theo dõi nàng đâu nhé,” chàng lớn. “ chưa nào?”

      Nàng trầm ngâm nhìn chàng. “Tôi hỏi câu khí phải nhé, ngài Jones?”

      “Tất nhiên, còn tùy câu hỏi là gì.”

      “Đúng là dường như có vài bằng chứng” – nàng ngưng lời giơ ngón tay lên – “mà này, cũng nhiều nhặn lắm đâu, chỉ là đôi ba điều nhặt hình như chỉ ra rằng tôi là nghi phạm tiềm năng trong tình huống này.”

      “Ta có thấy thế.”

      “Ngài biết là tôi biến nhiều phút trước khi ngài tìm thấy tôi bên xác Burton tối nay, quá đủ thời gian để rót ly brandy rồi pha xyanua vào đó. Điều gì khiến ngài quả quyết rằng tôi hạ sát ?”

      Chàng suy nghĩ xem nên cho nàng biết đến chừng nào. hỗn hợp u gồm các dấu vết tâm linh mãnh liệt ám lên cánh cửa của phòng tối lẫn khoảng gian bên trong. Chàng cảm nhận thấy ám ảnh, niềm phấn khích bệnh hoạn lẫn nỗi sợ hãi, tất cả quyện vào nhau trong món hầm sôi sùng sục khó có thể tách rời từng thứ . Chắc chắn Burton chạm ít nhất là lần vào tay nắm cửa. Kẻ sát nhân cũng chạm vào. Venetia cũng thế. Cùng nhau, cả ba người họ để lại món xúp cảm xúc ngổn ngang, hỗn độn.

      Nhưng chàng biết chắc điều: Venetia phải là kẻ sát nhân. Chàng từng quá gần gũi nàng trong khoảng thời gian họ bên nhau tại trụ sở Hội, quá thân mật. Hẳn chàng biết được ngay nếu nàng có khả năng xuống tay độc ác, nhẫn tâm như thế.

      “Nàng bảo với ta là có kẻ khác rời khỏi phòng trước khi nàng đến,” chàng đáp. “Ta tin nàng.”

      “Cảm ơn. Tôi cảm kích lòng tín nhiệm của ngài. Nhưng cho phép tôi hỏi vì sao ngài đoan chắc là tôi ra thực cơ chứ?”

      “Thôi hãy cứ rằng sau khoảng thời gian chúng ta bên nhau tại trụ sở Hội Arcane, ta nghĩ là ta biết nàng quá để đặt niềm tin lớn lao vào lòng chính trực của nàng vậy.” Đây là lời hoàn toàn thực tâm.

      “Tôi lấy làm vui mừng khi biết được mình gieo vào lòng ngài ấn tượng đẹp đẽ về phẩm cách của mình như thế,” nàng đáp lại ráo hoảnh.

      Nàng tin mình, Gabriel ngộ ra. Được thôi, chàng biết nàng cũng che giấu bí mật mà.

      vậy đấy, thưa phu nhân,” chàng bảo. “Trong khi đó ta chẳng khó khăn gì mà bám lấy lời khai chúng ta cung cấp cho cảnh sát về những việc tối nay, chắc chắn những lời ấy xuất các tờ tin tức buổi sáng...”

      “Các tờ tin tức. Tôi thậm chí còn chưa tính đến khía cạnh này của vấn đề đấy. Tay Otford của tờ Người đưa tin bay tối nay cũng có mặt tại buổi triển lãm. biết vụ này được khai thác thế nào mặt báo đây.”

      “Để sau chúng ta hẵng tính đến chuyện ấy. Còn lúc này, ta lại quan tâm hơn nhiều đến việc tìm hiểu lý do vì sao tối nay nàng lại dối ta và cảnh sát rằng nàng nhận ra người đàn ông mình nhìn thấy cầu thang ấy.”

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 15


      CÂU HỎI KHIẾN NÀNG KINH NGẠC TỘT CÙNG, như chàng trù tính trước. Nàng quay ngoắt đầu sang nhìn chàng, mắt ánh lên vừa thảng thốt vừa cảnh giác. Cứ như thể chàng vừa làm nàng giật bắn mình rơi khỏi miền cất giấu đôi điều bí mật.

      “Nhưng tôi đâu có nhận ra ,” nàng đáp hơi cuống. “Tôi bảo với ngài rồi, tôi thậm chí còn nhìn kỹ được nữa kia mà. Dứt khoát là tôi quen biết .”

      Gabriel đứng dậy, nhặt que cời bằng sắt lên chọc chọc đống lửa.

      “Nàng nhìn thấy gì đấy,” chàng thong thả bảo.

      người đàn ông mặc áo choàng dài và đội mũ cao. Tôi bấy nhiêu đó rồi.” Nàng ngừng lời rồi ra chiều nghĩ ngợi, thêm, “Ít ra tôi nghĩ đó là người đàn ông.”

      Lời nhận xét này khiến chàng chú ý. “Nàng chắc ư?”

      “Tôi chỉ có thể chắc được rằng người mà tôi nhìn thấy ăn vận theo kiểu nam. Như tôi kể với thanh tra cảnh sát, tôi có thể nhìn ra người kia thân hình mảnh dẻ và chiều cao trung bình. Nhưng ánh sáng lúc ấy quá yếu nên tôi thể để ý thêm nhiều chi tiết khác nữa.”

      thú vị khi nàng thừa nhận khả năng kẻ sát nhân là phụ nữ” chàng vừa bảo vừa đặt que cời sang bên. “Căn cứ vào phục trang nam giới của , chẳng mấy người nghi ngờ với kết luận rằng kẻ nàng nhìn thấy là đàn ông đâu.”

      “Ngài cứ suy nghĩ cho cặn kẽ vấn đề thấy, ràng trong những cách ngụy trang dễ dàng nhất là mặc quần áo khác giới.”

      Chàng ngẫm ngợi về điều này. “Và còn có giả thuyết xa xưa cho rằng thuốc độc là vũ khí giết người của đàn bà.”

      “Trong tình huống này, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể quá tin tưởng vào quan điểm ấy. Trong vụ này, nạn nhân là nhiếp ảnh gia, và nhé, hẳn nhiên là kẻ sát nhân phải chọn xyanua rồi.”

      “Ta đồng ý với điểm này của nàng.” Chàng tựa tay lên bệ lò sưởi. “Nàng cầm chắc là bóng người bỏ ấy chú ý đến nàng chứ?”

      “Hoàn toàn chắc chắn,” nàng đáp. “ hề liếc lại khi tôi quan sát . Mà thậm chí có liếc lại cũng chẳng thể nào nhìn thấy tôi được.”

      “Sao lại ?”

      “Bởi vì tôi đứng chỗ tối nhất hành lang, ghé mắt nhìn quanh qua góc. Sau lưng tôi dường như có chút ánh sáng nào. Kẻ sát nhân được ánh sáng hắt vào nhưng cũng chỉ rất ít thôi.”

      “Nàng nghe ra rất là chắc chắn nhỉ.”

      Khóe miệng nàng nhếch lên giễu cợt. “Tôi phải nhắc ngài nhớ rằng tôi là nhiếp ảnh gia đấy, thưa ngài. Xin cam đoan với ngài, tôi từng nghiên cứu sâu xa về các tác động của ánh sáng và bóng tối.”

      “Ta nào dám nghi ngờ gì khả năng chuyên môn của nàng, hỡi phu nhân.” Chàng nhìn vào mắt nàng. “Nhưng ta phải hỏi lại nàng lần nữa, có điều gì nàng trông thấy tối nay mà thuật lại cho cảnh sát thế?”

      Nàng đan mấy ngón tay siết vào nhau. “Ngài kiên trì nhỉ. Điều gì khiến ngài nghĩ rằng tôi trông thấy nhiều hơn là những gì tôi thuật lại cho ngài và cảnh sát vậy?”

      “Cứ gọi đấy là trực giác đàn ông . Trong khoảng thời gian quá ư ngắn ngủi chúng ta được ở bên nhau tại trụ sở Hội Arcane ta biết được vài điều về nàng rồi đấy, phu nhân Jones à. Có điều là mỗi khi chụp ảnh, nàng thường nắm bắt được những điều mà người khác lĩnh hội được. Và ta vẫn còn thắc mắc làm thế nào nàng lại có thể thấy hai tên đàn ông trong khu rừng vào đêm nọ.”

      “Tôi phát ra họ khi họ xuyên qua vùng sáng trăng.”

      “Chẳng có ánh trăng nào lọt qua được những tán cây ấy cả, nhưng thôi chuyện đó để sau. Tuy vậy, căn cứ vào tính nghiêm trọng trong tình huống của chúng ta, ta thể dễ dàng bỏ qua vấn đề kia được. Ta rất mong được biết , nên hỏi lại lần nữa, tối nay nàng nhìn thấy gì vậy?”

      Nàng mãi trả lời khiến chàng bắt đầu nghĩ là nàng từ chối cho chàng biết. Mình cũng thể trách nàng được, Gabriel thầm nghĩ. Nàng chẳng nợ gì chàng cả. Nhưng vì duyên cớ gì chàng lại thấy khó chịu trong lòng vì nàng coi chàng là bạn tâm giao đáng tin cậy. Chàng nhận ra chàng muốn nàng lại tin tưởng mình, như nàng dường như từng tin tưởng chàng tại trụ sở Hội.

      “Chẳng có điều gì tôi nhận thấy được từ kẻ bỏ trốn kia lại hữu ích cho cảnh sát đâu,” nàng lặng lẽ đáp.

      Gabriel vẫn trầm tư. “Nhưng đúng là nàng thấy được điều gì đó về tên sát nhân kia phải ?”

      “Phải.” Venetia nhìn vào mắt chàng. “Chắc hẳn rồi ngài cho rằng tôi hoặc là quá giàu trí tưởng tượng hoặc quá hoang tưởng nếu tôi cho ngài biết thực. May mắn lắm ngài kết luận tôi là tay bịp bợm có cỡ.”

      Gabriel tiến hai bước về phía Venetia, đặt hai tay lên vai nâng nàng đứng dậy. “Ta xin cam đoan rằng nàng có bất kỳ điều gì cũng thể khiến ta đưa ra kết luận nào như .”

      ?” Vẻ hoài nghi giễu cợt thoảng qua mặt nàng. “Điều gì khiến ngài quả quyết đến vậy?”

      Gabriel siết chặt hai cánh tay nàng. “Hình như nàng quên rằng khoảng ba tháng trước chúng ta từng ở bên nhau nhiều ngày.”

      đâu, thưa ngài Jones, tôi chưa quên gì cả. Đến khắc cũng .”

      “Cả ta cũng thế. Ta rằng ta hề nghi ngờ gì về phẩm cách của nàng. Ta cũng nghĩ thế về trí sáng suốt của nàng.”

      “Xin đa tạ.”

      “Nhưng còn có lý do khác khiến ta luôn sẵn lòng tin vào bất cứ điều gì nàng muốn cho ta biết,” chàng .

      “Và đấy là lý do gì vậy, thưa ngài?”

      “Ta muốn có nàng nhiều đến nỗi thể cho phép mình được nghi ngờ bất cứ chuyện gì có can hệ đến nàng.”

      Đôi môi Venetia hé mở. “Jones.”

      Chuyện tra hỏi chắc phải để đến sau hẵng tính thôi. Xa cách quá lâu rồi. Chàng thể nào cưỡng lại cám dỗ được nữa.

      Gabriel cúi đầu xuống khóa chặt môi nàng.

                  Chương 16


      CƠN CHẤN ĐỘNG TỪ VÒNG TAY ÔM khiến các giác quan của nàng bừng cháy. Sau bao ngày tháng băn khoăn mơ hồ về số phận của Gabriel rồi tuyệt vọng khi nghĩ rằng nếu còn sống chàng cũng đến tìm nàng, giờ đây chàng lại hôn nàng.

      Vòng tay của chàng thậm chí còn kích thích hơn cả những gì nàng hằng nhớ. Hơi ấm từ cơ thể chàng, hương vị nhục cảm từ đôi môi chàng, sức mạnh phấn chấn từ vòng tay chàng, tất cả đều khuấy lên niềm hứng khởi đê mê tận sâu trong nàng.

      “Nàng có biết,” Gabriel thầm, “ bao nhiêu đêm ta nằm thao thức, tơ tưởng đến cảm giác được hôn nàng lần nữa ?”

      “Vậy chàng nghĩ với em sao? Em tan nát khi nghe tin về vụ được-gọi-là tai nạn của chàng. Em thể nào tin vào điều ấy. Em luôn tin tưởng rằng chàng vẫn còn sống. Em tự nhủ rằng nếu chàng chết , bằng cách nào đấy em biết ngay. Ấy vậy mà lại có được chữ nào từ chàng.”

      “Ta xin lỗi nàng, nàng dấu.” Chàng dùng tay ngã đầu nàng ra sau để có thể trườn tới cổ nàng. “Ta thề đấy, ta hề có ý để cho nàng biết tin về cái chết của ta. Làm sao ta biết được rằng nàng có thể đọc thấy mẩu chuyện bé teo đến thế những trang tin tức thành Luân Đôn cơ chứ? Ta cứ nghĩ là nàng được an toàn mình tại Bath cơ.”

      “Lẽ ra chàng phải liên lạc với em,” Venetia khăng khăng.

      “Thứ lỗi cho ta.” Gabriel thầm vào tai nàng. “Ta cứ nghĩ cái vụ việc chết tiệt này chấm dứt được từ mấy tuần trước rồi kia, và rằng ta lại có thể tìm đến với nàng mà phải dẫn theo bao hiểm nguy nối gót.”

      Chàng luồn mấy ngón tay vào tóc nàng. Những chiếc ghim tóc khẽ khàng rơi xuống thảm. Tình cảnh gần gũi quyến luyến này làm Venetia rùng mình. Nàng bấu chặt lấy vai chàng, cảm nhận lần vải lanh trắng toát áo sơ mi của chàng lẫn những cơ bắp cuồn cuộn lên bên dưới nền vải ấy.

      Tóc nàng xõa bung xuống hai vai. Thoắt cái nàng thấy những đầu ngón tay chàng chờn vờn nơi hàng nút trước ngực áo mình. Ý thức được rằng chàng sắp sửa cởi bỏ xiêm y nàng khiến nàng chợt giật mình hoảng hốt.

      Mọi chuyện diễn ra quá nhanh rồi đấy, Venetia thầm nhủ. Gabriel hành động như thể chàng rất muốn có nàng, nhưng nàng được phép quên rằng chàng tìm đến nàng vì những lý do phải là đam mê. Hơn nữa, đây phải là trụ sở Hội Arcane xa xôi, biệt lập, nơi chẳng có ai biết được chuyện gì xảy ra giữa nàng và Gabriel. Bản thân Gabriel giờ còn là mộng tưởng an toàn để nàng có thể tận hưởng mà gây ra thảm họa.

      Họ ở trong thư phòng của nàng, trời ạ. Amelia và dì Beatrice lẫn Edward ở lầu . Bác Trench ngủ trong căn phòng đằng sau bếp. Nếu có ai thức giấc, họ có thể nghe thấy tiếng động và xuống tìm hiểu ngay.

      Họ ở trong thế giới thực tại, Venetia tự nhắc nhở mình. Ở đây mọi chuyện đều khác.

      Nhưng Gabriel lại cởi bỏ thân váy của nàng. Môi chàng đè nghiến môi nàng, khiến nàng phân tâm và lạc lối. Venetia run rẩy, nhắm mắt lại đeo cứng lấy chàng để giữ thăng bằng.

      “Ta hiểu sai, phải ?” giọng chàng khàn khàn. Câu hỏi ấy bị ham muốn làm cho khản đặc.

      “Về điều gì cơ?” nàng cố lắm mới thốt được.

      “Về đêm cuối cùng ở trụ sở Hội ấy. Nàng muốn được ở trong vòng tay ta. Nàng muốn ta.”

      hồ nghi cuộn dâng trong nàng. Đêm ấy hoàn hảo, hay gần như thế. Nhưng tối nay . Bối cảnh hoàn toàn sai và Gabriel còn là người tình bí có thể dễ dàng giấu nhẹm . Chàng cư ngụ ngay rầm thượng kia, Chúa ạ. Đến bữa điểm tâm sáng mai nàng lại phải đối mặt với chàng. Trước mặt toàn thể gia đình chứ ít gì.

      “Phải,” nàng khe khẽ. “Nhưng khi ấy khác tại khác.”

      Gabriel cứng người. “Có người khác rồi sao? Ta vẫn đinh ninh nàng thôi quan tâm đến ta trong quãng thời gian ngắn đến thế. Mặc dù phải thú nhận là tối nay khi nàng biến mất khỏi sảnh triển lãm, ta cũng băn khoăn phải chăng mình tính toán sai lầm.”

      Tính toán sai lầm dường như là lựa chọn từ ngữ bất thường, Venetia thầm nghĩ. Tính toán sai lầm cụm từ được người ta sử dụng khi họ vạch ra chiến lược nhưng rồi chiến lược ấy lại thất bại. Tính toán sai lầm phải cách được kẻ dùng đến. Ít ra nàng nghĩ đấy phải cách nên dùng.

      Venetia rời tay khỏi cổ Gabriel và đặt hai bàn tay chặn lên ngực chàng.

      “Phải có người khác ?” chàng lại hỏi, giọng hề thay đổi. Dưới ánh lửa hai mắt chàng trông bí đến đáng sợ.

      ,” nàng thú nhận. “Vì Chúa, suốt ba tháng qua em quá bận rộn với việc chuyển đến Luân Đôn và gây dựng cơ sở kinh doanh ở đây. Em làm gì có thời gian mà kiếm ai khác. Vấn đề nằm ở đấy.”

      Gabriel mỉm cười. Nàng có thể cảm nhận được những thớ cơ của chàng thôi căng lên nữa.

      “Ta hiểu,” Gabriel vừa vừa ve vuốt cổ nàng bằng ngón tay. “ ràng những chuyện xảy ra trong ngày làm thần kinh nàng hỗn loạn.”

      Cái cớ này nghe cũng được, Venetia quyết định thế.

      “Vâng, đúng thế .” Nàng thong thả lùi bước. “Xin thứ lỗi, thưa ngài. Quả , ngày hôm nay xảy ra lắm chuyện động trời. Đấy, người ta có thể là các biến động cứ thay nhau trút xuống đầu em như dòng thác lũ. Nào là choáng váng trước trở về của ngài. Nào là điều bí lạ kỳ liên quan đến phương thuốc của nhà giả kim. Rồi còn vụ phát ra xác chết của Burton tối nay nữa chứ. Mọi chuyện quá sức chịu đựng. Em tin là trong tình hình này mình còn suy nghĩ được sáng suốt như bình thường.”

      Khóe môi chàng cong lên vẻ thích thú. “Ngược lại đấy, thưa phu nhân Jones, đây là trong những tình huống hiếm hoi mà người ta nên phụ thuộc hoàn toàn vào lý lẽ và suy nghĩ sáng suốt.” Chàng nhàng khép mép áo của nàng lại. “Nhưng thôi, ta thúc ép gì nàng trong chuyện này đâu. Nàng cần có thời gian trấn tĩnh trước chuỗi kiện ràng rất chấn động này.”

      “Chính xác đấy, thưa ngài.” Nàng lấy tay túm chặt hai mép áo lại, lòng biết nên thấy nhõm hay tổn thương trước quan tâm thấu đáo này của chàng nữa. Nếu ham muốn của chàng thực dấy lên dữ dội như mới đây thôi, sao chàng lại cố tỏ ra có sức thuyết phục hơn chút nữa chứ? “Tôi rất cảm kích thông cảm của ngài.”

      Chàng khẽ rướn người tới trước thoáng chạm môi mình qua môi nàng. “Ta thực tế nhiều hơn là thông cảm đấy, nàng dấu ạ,” chàng , như thể đọc được suy nghĩ của nàng. “Sau khi chúng ta lại ân ái với nhau, ta muốn nàng phải nuôi giữ bất cứ nghi ngờ hay hối tiếc gì đâu.”




      Venetia cũng nên hiểu câu này như thế nào. Đêm nay mọi chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa hai người họ dường như bỗng nhiên trở nên mờ mịt vô cùng. Mọi thứ thực đơn giản hơn rất nhiều khi chàng vẫn chỉ là cơn mộng tưởng.

      “Tôi xin phép chúc ngài ngủ ngon, thưa ngài.” tay giữ chặt phần thân váy, Venetia vội vã ra cửa. “Ngoài việc thần kinh hỗn loạn, tôi cũng còn rất mệt nữa.”

      Câu sau cùng hoàn toàn là nhé, nàng tự nhủ. Đúng là nàng có cảm thấy mỏi mệt đến lạ kỳ. Nhưng nàng cũng có cảm giác rằng đêm nay giấc ngủ dễ gì mà đến được.

      điều này nữa thôi trước khi nàng bỏ , phu nhân Jones à.”

      Mệnh lệnh được thốt ra lạnh lùng nhưng lôi cuốn ấy làm tay nàng dừng phắt lại nắm cửa. Nàng quay lại nhìn chàng, vẻ mệt mỏi vô cùng. Hình bóng chàng nổi bật nền ánh lửa, trông hấp dẫn và tuôn trào nhục cảm trong chiếc áo sơ mi hở cúc và nơ cổ buông lơi. làn sóng nhộn nhạo khác lại quét qua nàng.

      “Sao cơ?” nàng lịch đáp lại.

      “Nàng chưa trả lời câu hỏi của ta.” Chàng bước đến chiếc bàn đặt bình brandy, cầm bình rượu lên châm đầy ly. “Nàng nhìn thấy điều gì tối nay khi kẻ sát nhân bỏ xuống cầu thang?”

      Chàng nhân nhượng đâu. Venetia ngộ ra. Nàng có cảm giác rằng khi nhất định theo đuổi mục tiêu, Gabriel Jones hiếm khi từ bỏ bất cứ công cuộc săn đuổi nào. Như tay thợ săn vừa nhác thấy con mồi, nàng thầm nghĩ. Hình ảnh đó mới đáng ngại làm sao. Mà lại cũng kích thích, đến là thể lý giải nổi. Như thể chàng vừa đưa ra kiểu thách thức mạnh mẽ nào đấy.

      Venetia suy xét câu trả lời, cố ý né tránh lời đáp trực tiếp. Chắc chắn chàng cũng chẳng buồn tin nếu nàng có giải thích về tài năng dị thường của mình, nàng thầm nhủ. Nhưng nàng cũng khá tò mò khi thấy chàng tinh tường đến mức có thể nhận ra là nàng nhìn thấy điều gì đó bình thường. Rất ít những người quen nàng, dù là nam hay nữ, lại có thể đoán ra được đến mức ấy.

      phần trong nàng cũng bỗng nhiên thấy hiếu kỳ muốn biết chàng phản ứng thế nào trước thực.

      “Tôi nghĩ rằng ngài tin điều này,” nàng đáp, chuẩn bị tinh thần đón nhận thái độ nghi hoặc đến ngay sau đấy, “nhưng tôi nhìn thấy năng lượng tâm linh bao quanh kẻ bỏ .”

      Ly rượu trong tay chàng nửa đường đưa lên miệng bỗng ngừng ngay lại.

      “Trời đất quỷ thần ôi,” rốt cuộc chàng cũng thốt lên, khẽ. “Ta nghi là thế rồi, nhưng lại thể đoan chắc.”

      “Ngài vừa gì cơ?”

      có gì đâu. Kể cho ta nghe về năng lượng tâm linh mà nàng nhìn thấy nào.”

      Venetia chuẩn bị tinh thần đón nhận hồ nghi, chứ phải là câu hỏi hợp lý. Nàng phải mất chốc mới định thần được.

      “Chúng mang hình dáng loại sóng năng lượng lan tỏa xung quanh chủ thể,” nàng đáp.

      “Nàng nhìn thấy những thần khí này quanh từng người mà nàng gặp ư? Hẳn điều này phải rối lắm đây.”

      “Tôi nhìn thấy trừ khi tôi tập trung cố gắng nhận biết chúng. Khi đó lại giống như nhìn vào tấm phim bản của thế giới vậy. Trong trạng thái ấy, tôi mới có thể nhìn ra các thần khí.”

      “Thú vị .”

      “Tôi kỳ vọng là ngài hiểu được những gì tôi cố , nhưng tôi cam đoan với ngài rằng nếu tôi lại phải chạm trán với kẻ sát nhân lần nữa và biết cách sử dụng linh lực của mình để nhìn vào , rất có khả năng tôi nhận ra .”

      “Còn giờ nàng có làm được như vậy ?” chàng nhàng hỏi.

      Venetia biết phải trả lời thế nào, nàng bèn tiếp, nóng lòng muốn giải thích cho xong.

      “Ngài hiểu vì sao tôi lại kể bất cứ điều gì về chuyện này cho nhân viên cảnh sát ở Scotland Yard rồi đấy,” nàng bảo. “Tôi chẳng nghĩ là ông ta tin tôi đâu. Ngài thấy cách ông ta đối xử với tôi rồi đấy. Ông ta cho rằng tôi là nạn nhân bị choáng và rằng tôi sắp điên đến nơi rồi.”

      “Đúng .” Gabriel ngồi ghé lên mép bàn giấy của nàng. “Đúng là ông ta chỉ hướng mọi câu hỏi vào ta thôi, phải nào?”

      “Bởi vì ngài là đàn ông.”

      “Và bởi vì ông ta tin rằng ta là chồng của nàng.”

      “Cả điều ấy nữa.” Venetia bĩu môi. “Thậm chí nếu tôi có tự nguyện ra thông tin về thần khí của cái gã bỏ ấy, cũng chẳng giúp được gì cho tay thanh tra. Mô tả hình dạng năng lượng tâm linh của con người cho người thể nhìn thấy nó vô ích.”

      Gabriel trầm ngâm nhìn nàng lúc. “Nàng bảo rằng các thần khí khác nhau rệt à?”

      “Vâng. Dứt khoát là thần khí mỗi người mỗi khác. Màu sắc cũng khác nữa, nhưng tôi lại thể kể cho ngài nghe các loại hình bóng và sắc màu tôi nhìn thấy được vì chúng tương thích với những sắc màu hay hình bóng mà tôi nhìn thấy bằng mắt thường. Tôi phát minh ra kho từ vựng riêng để mô tả chúng nhưng với ngài chúng lại vô nghĩa. Lại còn độ đậm nhạt của các hình dạng năng lượng tâm linh riêng biệt cho từng người nữa.”

      “Nàng có thể xác định được giới tính của người thông qua thần khí của người ấy ?”

      . Bởi vậy tôi mới thể chắc chắn người bỏ kia là nam hay nữ.”

      “Thế còn về tính cách hay thiên hướng của người ấy sao?”

      Câu hỏi này, nàng nghĩ, quả rất sâu sắc. “Vâng, đôi khi những khía cạnh ấy, nếu chúng đủ dữ dội, sinh động đến khó tin.”

      “Vậy nàng biết được gì về bản chất của kẻ nàng nhìn thấy trong sảnh đường tối nay?” Gabriel hỏi.

      Venetia hít sâu. “Giả như người ấy là con vật, chắc tôi bảo rằng loài dã thú săn mồi, sinh vật sẵn sàng giết chóc khi cái chết phục vụ cho mục tiêu của nó. Trong thế giới loài vật, những loại ác thú như thế luôn có vị thế thích đáng. Chúng giết chóc chỉ để sinh tồn. Nhưng giữa con người với nhau, chúng ta gắn mác cho kẻ như thế là quái vật.”

      Gabriel trơ người bất động. Mọi biểu cảm mặt chàng tan biến đâu mất.

      “Hiểu rồi,” chàng bảo. “Quái vật.”

      “Đấy là kiểu tôi nhìn thấy ở hình dáng người bỏ kia. Máu lạnh và rất đáng sợ. là, tôi hy vọng mình bao giờ có dịp phải nhìn thấy gã ấy hay ả ấy lần nữa.”

      Gabriel lời.

      Có điều gì đấy từ ngưng lặng thâm u tỏa ra từ chàng khiến cho tóc gáy nàng dựng đứng, hệt như ban nãy khi nàng nhìn thấy kẻ sát nhân bỏ khỏi trường tội ác của vậy.

      “Chúc ngài ngủ ngon, ngài Jones,” nàng lên tiếng.

      “Chúc nàng ngủ ngon, Venetia.”

      Nàng bước ra sảnh ngoài, khép cửa lại rồi vội vã đến cầu thang. Nàng phóng vội lên lầu như thể bị thứ dã thú mình vừa mô tả cho Gabriel nghe rượt đuổi theo sau.

      Khi đến được phòng ngủ an toàn Venetia hụt hết cả hơi. Hình ảnh phản chiếu trong gương tủ quần áo khiến nàng choáng váng. Tóc tai rũ rượi, xống áo toang hoang và hai mắt nàng là hai vũng bóng tối đen thẳm.

      Vẻ gợi dục đầy ám ảnh của hình ảnh ấy khiến nàng rúng động tận tâm can. Đây là hình ảnh mà Gabriel trông thấy đây, nàng thầm nghĩ.

      Nàng quay ngoắt khỏi gương và hối hả thay quần áo.

      Vài phút sau, cuộn mình trong tấm áo ngủ, Venetia chui vào chăn và vặn đèn. Nàng chờ đợi, căng thẳng lắng nghe vang tĩnh lặng của căn nhà.

      Nàng nghe thấy tiếng Gabriel leo lên cầu thang vào rầm thượng. Nhưng cuối cùng nàng cũng nghe được vài thanh mơ hồ bên và biết rằng chàng nằm.

      Mãi đến khi trôi mình vào trong giấc mơ bồn chồn, tăm tối Venetia mới tự hỏi câu hỏi khiến mình bận tâm kể từ lúc Gabriel đến trước cửa nhà nàng.

      Chàng thể thẳng thừng rằng chàng cần hợp tác của nàng trong công cuộc mạo hiểm của mình. Liệu có phải chàng định sử dụng vẻ quyến rũ để đạt cho được mục đích của mình chăng?

      Vào khoảnh khắc ấy bao cảm xúc lẫn lộn rối bời mà Venetia phải chịu đựng bấy lâu hòa tan vào nhau, trở thành thứ tinh chất trong vắt.

      Chuyện giữa nàng và Gabriel Jones thành ra hỏng bét và hỗn loạn chính là vì nàng còn toàn quyền kiểm soát được nó nữa.

      Tại trụ sở Hội Arcane nàng thiết lập mọi luật lệ bất thành văn để điều tiết quan hệ giữa họ. Nàng quyết tâm quyến rũ Gabriel để hoàn thành giấc mơ thầm kín về quãng lặng lãng mạn hoàn hảo của mình.

      Nhưng giờ đây Gabriel mới là người đặt ra các quy tắc. Quả , nàng phải cẩn trọng mới được.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 17


      CÓ TIẾNG BƯỚC CHÂN từ đầu cầu thang lên rầm thượng vọng vào. Gabriel chùi lớp bọt kem cạo râu cuối cùng, quẳng khăn tắm sang bên và băng qua khoảng chật hẹp để mở cửa.

      Edward đứng trước mặt chàng. Tay cậu bé giơ lên lưng chừng chuẩn bị gõ cửa cho phải phép.

      “Chào em,” Gabriel .

      “Chào .” Edward ngước nhìn chàng, vẻ hiếu kỳ ra mặt. “ còn chưa thay quần áo xong kìa.”

      “Chưa xong hẳn.”

      “Bác Trench sai em lên đây báo với rằng bữa điểm tâm sẵn sàng trong mười phút nữa ạ.”

      “Cảm ơn nhé. rất mong được ăn bữa ngon lành do nhà nấu đây. xuống ngay thôi.”

      Chàng quay vào phòng với lấy chiếc áo sạch treo ở móc tường.

      “Em chờ nhé,” Edward tự nguyện đề xuất, lách mình vào phòng. “Em có thể dẫn đường cho xuống phòng ăn sáng mà.”

      “Quý hóa quá,” Gabriel đáp. “Như thế đỡ mất thời gian lòng vòng khắp nhà.”

      Chàng vừa quan sát Edward qua gương vừa cài cúc áo.

      Cậu bé nhìn quanh quất, ngắm nghía mọi thứ mà Gabriel dỡ khỏi hành lý. Dường như cậu rất chú ý đến bộ đồ cạo râu sắp chậu rửa mặt.

      “Bố từng cất đồ cạo râu trong cái túi da rất giống túi của ,” Edward bảo.

      “Thế à?” Gabriel cài xong cúc và phân vân biết có cần phải thắt cà vạt . Lúc ở nhà chàng thường ăn bận sơ mi thoải mái xuống dùng điểm tâm. Nhưng nhà chàng là nhà của thanh niên độc thân mà.

      “Vâng ạ,” Edward đáp.

      “Hẳn là em nhớ bố lắm.”

      Edward gật đầu. Cậu bé im bặt lúc. Gabriel vắt chiếc cà vạt lụa qua cổ và thắt thành gút đơn giản.

      Edward chăm chú quan sát quy trình thắt cà vạt.

      “Bố em là nhà đầu tư đấy,” cậu bé buột miệng.

      “Vậy sao?”

      “Bố sang Mỹ nhiều lắm. Nhưng mỗi khi ở nhà bố thường dẫn em câu cá và chỉ cho em biết nhiều thứ nữa.”

      “Ông bố nào cũng thế nhỉ,” Gabriel bảo.

      rể cũng có thể làm những chuyện như thế, phải ạ?”

      Gabriel nhìn cậu bé. “Đúng,” chàng đáp. “ rể cũng có thể làm thế.”

      Edward rạng rỡ hẳn lên. “Em biết đáng ra chuyện này là bí mật, chuyện phải là rể của em ấy. Nhưng miễn là chúng ta còn phải giả vờ, em nghĩ chắc có thể chỉ cho em những thứ mà bố chưa có dịp chỉ cho em biết.”

      thấy có lý gì lại được cả,” Gabriel đáp.

      “Hay quá.” Edward cười toe. “ cần phải lo đâu. Như em giải thích rồi đấy, em giỏi giữ bí mật lắm.”

      “Ừ, biết rồi.”

      “Em có đầy kinh nghiệm kể từ khi bố mẹ lên thiên đàng rồi.” Edward , giọng có chút tự hào. “Theo cách nào đấy, việc giả vờ như rể của em cũng giống hệt các bí mật về bố mà em phải giữa ấy.”

      hiểu.”

      “Bố em là đống mù lớn.”

      Gabriel ngớ ra. “ đống mù lớn à?”

      “Đấy là từ người ta gọi người đàn ông có nhiều hơn vợ đấy ạ.”

      “Người hai vợ,” [1] Gabriel khẽ . Chàng nghĩ đến bức ảnh người đàn ông phương phi treo tường thư phòng của Venetia.

      [1] Bigamist: người hai vợ; Edward nhầm thành a big mist ( đống mù lớn).

      Thông tin ấy giải thích nhiều điều, chàng thầm nghĩ.

      “Bố còn người vợ khác với vài người con ở New York, bố thường công tác sang đấy năm hai lần. Chúng em biết chuyện này mãi cho đến khi bố mẹ mất vì tai nạn tàu hỏa. Bởi vì bố là người hai vợ, nghĩa là chị Venetia, chị Amelia và em phải là con chính thức của bố.”

      “Em sai rồi Edward à. Dù cho tính chất mối quan hệ giữa bố mẹ em có là gì nữa, em vẫn chắc chắn là con chính thức của bố em chứ.”

      “Dì Beatrice bảo rằng chúng em là con ngoài...” Edward lóng ngóng nghĩ cho ra chữ. “Ngoài cái gì ấy.”

      “Ngoài giá thú chăng?”

      “Vâng, phải đấy ạ. Nhưng mà thôi, sau khi bố mẹ mất chúng em mới phát ra rằng ông Cleeton biến cùng với số tiền đáng lý ra phải đến tay chúng em. Dì Beatrice bảo rằng đấy là thảm họa khủng vì nếu có được nguồn thu nhập dư dật đáng nể có thể che giấu được đống tội lỗi trước con mắt thiên hạ. Dì bảo rằng nếu nhờ kỹ năng chụp ảnh của chị Venetia có khả năng là chúng em ngủ bờ ngủ bụi rồi.”

      Trước đây Gabriel cầm chắc rằng Venetia là trụ cột kinh tế của cả gia đình, nhưng chuyện này giải thích vì sao nàng buộc phải gánh vác trách nhiệm khổng lồ đến vậy.

      “Ông Cleeton là ai thế?” chàng hỏi.

      “Là người làm ăn chung với bố. Ông đấy cuỗm mất tiền thừa kế của chúng em. Bố em luôn bảo rằng nếu chẳng may có chuyện gì tệ hại xảy đến cho bố, tình trạng tài chính của chúng em vẫn được dư dả. Chúng em được như thế chỉ vì lão Cleeton lấy hết tiền của chúng em và bỏ xa.”

      “Đúng là đồ con hoang,” Gabriel thốt lên.

      “Vâng, em biết em là đồ con hoang.” Môi dưới cậu bé run run. “Đấy là từ khác để chỉ con ngoài giá thú phải ạ? Dì Beatrice, chị Venetia lẫn Amelia nghĩ là em biết từ này nhưng em nghe lõm được dì Beatrice bảo với chị Venetia và Amelia rằng người ta gọi em như thế nếu họ biết được bố mẹ cưới xin chính thức.”

      Gabriel ngồi xổm xuống trước mặt cậu bé. “ đến ông Cleeton, chứ phải là em đâu, Edward à.”

      Hai mày Edward chau lại. “Lão Cleeton cũng là con ngoài giá thú hả ?”

      chẳng biết. mà cũng chẳng quan trọng gì đâu, vừa dùng sai từ để mô tả lão ta rồi. Là con hoang cũng phải là chuyện gì sai quấy, đấy đơn giản chỉ là thực tế mà thôi. Giống như là có tóc đỏ hay mắt xanh vậy. Chuyện ấy thể cho ta biết tính cách của người được đề cập. Em có hiểu nào?

      “Em nghĩ là có.”

      “Giờ chú ý nhé, cho em điều mà bố với khi bằng tuổi em đấy. Em phải luôn ghi nhớ điều này vì nó cực kỳ quan trọng ấy nhé.”

      “Vâng ạ.”

      “Chuyện bố em có từng cưới mẹ em đúng thủ tục pháp lý hay chẳng quan trọng. Em phải chịu trách nhiệm cho những gì bố em làm. Nhưng em phải chịu trách nhiệm cho việc em làm. Mỗi người đàn ông phải biết tự lo cho danh dự của mình, và em phải tự lo lấy cho danh dự của chính em. Đấy mới là chuyện quan trọng.”

      “Vâng ạ.”

      Gabriel đứng lên đặt tay lên vai Edward. Chàng đẩy cậu bé ra phía cửa. “Giờ chúng ta làm chuyện này rồi, xuống dùng điểm tâm thôi.”

      “Vâng, em mình xuống thôi ạ.” Edward cười toe, bỗng nhiên trông cậu chàng vui vẻ hơn lúc nãy nhiều. “Thường thứ Tư chúng em chỉ có trứng rán bơ và bánh mì nướng thôi, nhưng bác Trench bảo vì giờ trong nhà có thêm người đàn ông, nên hôm nay chúng ta có cả món cá hồi hun khói nữa. Bác ấy bảo đàn ông cần dùng bữa đủ chất.”

      “Bác Trench quả là người phụ nữ thông thái.”

      Cả hai ra khỏi cửa và bước xuống cầu thang rầm thượng chật hẹp.

      Ngay đầu cầu thang Edward ngước lên nhìn Gabriel. “ chưa bao giờ cho em biết từ chính xác đấy ạ.”

      “Từ chính xác về cái gì cơ?”

      “Về lão Cleeton ấy. bảo con hoang phải là từ chuẩn để mô tả lão ta mà.”

      “Đúng vậy.”

      “Thế từ thích hợp là gì ạ?”

      Gabriel suy nghĩ đến bổn phận rể của mình. “ bảo cho em biết từ thích hợp nhưng em phải luôn nhớ rằng đàn ông tử tế bao giờ sử dụng từ này khi có mặt phụ nữ đấy nhé. chưa nào?”

      Edward mắt sáng lên hăm hở trước viễn cảnh được thu nhận kiến thức bí mật của nam giới. “Vâng ạ. Em hứa lặp lại từ này trước mặt dì Beatrice hay các chị của em đâu.”

      “Em cũng được sử dụng từ ấy trước cả bác Trench nữa. Bác ấy là người phụ nữ đáng kính và phải được đối xử tử tế như là đối xử với dì và các chị của em đấy.”

      “Được thôi. Em hứa sử dụng từ ấy khi có mặt bác Trench.”

      “Từ thích hợp để gọi lão Cleeton là thằng chó đẻ.

      “Thằng chó đẻ,” Edward cẩn thận lặp lại, là muốn hiểu cho đúng. “Vậy có phải nghĩa là mẹ của lão ấy là chó cái ạ?”

      ,”, Gabriel đáp. “Thế chẳng hóa ra sỉ nhục tất cả các loài chó cái khắp nơi mất.”

                  Chương 18


      “HAI NGƯỜI phát ra xác của Burton tại sảnh triển lãm tối qua ư?” Dì Beatrice đặt tay lên ngực rồi xoay mình ghế. “Cháu bảo có khả năng là bị giết à? Trời đất quỷ thần ôi. Mấy dì cháu mình tiêu rồi.”

      Sắc thái hoảng hốt kinh hoàng trong giọng bà dì làm Gabriel phải cất mắt khỏi đĩa cá hồi muối mà nhìn lên.

      Chàng quan sát dì Beatrice, ngồi đối diện mình ở đầu kia chiếc bàn dài. Ngồi ngay đầu bàn phải là ý của chàng nhưng bác Trench thẳng ra là rằng theo quan niệm của bác chàng phải ngồi vào chỗ mà xã hội thượng lưu quy định là vị trí thích hợp cho người chủ gia đình. Lúc, Venetia vừa bước qua cửa, mặc tuyền màu đen, ngay lập tức chàng nhận ra vẻ mặt của nàng rằng chàng ngồi ở chính chỗ bình thường nàng vẫn ngồi.

      “Tôi nghĩ như thế đâu,” Gabriel bảo. Chàng nhìn qua Edward. “Em lấy hộ lọ mứt dâu nhé?”

      “Vâng ạ.” Edward đáp, miệng vẫn còn lúng búng đầy trứng rán bơ. Cậu bé chuyển ngay lọ mứt cho Gabriel. “ này, người bị giết trông ra làm sao vậy ạ?”

      “Này Edward,” dì Beatrice qua kẽ răng. “Đủ rồi đấy nhé. ai những chuyện như thế này bên bàn điểm tâm cả.”

      “Nhưng mà, dì Beatrice, dì chính là người khơi ra chuyện này cơ mà.”

      Dì Beatrice thở dài. “Ăn hết món trứng của cháu và đừng có leo khi người lớn chuyện nghe chưa.”

      Edward cắm cúi quay lại với món trứng nhưng Gabriel biết thừa cậu bé nuốt lấy từng lời trò chuyện. Cái chủ đề ghê tởm về người bị sát hại được cho qua đơn giản vậy đâu.

      “Dì Beatrice ạ,” Venetia kiên quyết, “xin đừng bấn loạn lên như thế. Mọi chuyện vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát cơ mà.”

      “Cháu thế mà được à?” dì Beatrice quay sang nàng “Chúng ta đến vụ tai tiếng lớn đấy. Sao ấy à, nếu cái tin cháu chính là người phát ra xác chết tại buổi triển lãm tối qua mà lọt ra ngoài bia miệng cứ gọi là trăm năm chẳng mòn nhé.”

      “Tin tức lọt ra rồi này, cháu e là thế.” Amelia vào phòng, vẫy vẫy tờ Người đưa tin bay. “Và mọi người bao giờ đoán ra ai là kẻ viết mẩu tin ấy đâu nhé.”

      Venetia nhăn mặt với tay lấy bình cà phê. “Gã Otford à?”

      “Chính .” Amelia ngồi xuống cạnh Edward. “Kể ra bài phê bình cũng khá thú vị. Em đồ là sáng nay tất cả mọi người đọc được bài này. Mấy khi tìm thấy xác chết tại buổi triển lãm ảnh đâu nào.”

      “Thôi xong,” dì Beatrice rên lên. “Chúng ta rồi bị buộc phải rời khỏi ngôi nhà đáng này và đóng cửa hiệu ảnh mất thôi. Chúng ta mất trắng.”

      Gabriel nhìn qua Amelia. “Sao em đọc to bài báo cho mọi người nghe nhỉ?”

      “Được thôi.” Amelia hắng giọng.

                  CHUYỆN CHẤN ĐỘNG TRIỂN LÃM ẢNH


                  Gilbert Otford ghi


      Thi thể của nhiếp ảnh gia được phát tại triển lãm ảnh vào tối thứ Ba. Người quá cố được xác định là ông Harold Burton, ngụ tại ngõ Greenstone.

      Được biết do đạt được thành công trong lĩnh vực mình chọn, cộng với những thiệt hại tài chính gần đây lẫn tình trạng nợ nần chồng chất, ông Burton đến quyết định đau lòng uống kali xyanua.

      Thi thể tình cờ được phát bởi phu nhân Jones, nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Phu quân của bà, ngài Jones, ở cùng bà khi họ va phải xác chết. Quý vị độc giả của tờ báo này hẳn nhớ rằng ngài Jones chỉ vừa mới trở lại với Luân Đôn và với vòng tay dấu của vị hôn thê sau khi được cho là chết suốt năm.

      cần phải bàn cải, việc phát ra thi thể của ông Burton phủ bức màn u ám lên toàn cuộc triển lãm. Phu nhân Jones, người có những bức ảnh ấn tượng chiếm được lòng ngưỡng mộ của tất cả những người diện, trông có phần hoảng loạn. Nhiều người lo là bà ngất xỉu. Người ta trông thấy phu nhân được đức lang quân tận tâm dịu dàng dìu ra khỏi sảnh đường.

      “Ôi trời đất ôi,” Venetia nổi đóa. “Tôi suýt ngất bao giờ hở trời.”

      “Em nghĩ việc chị trông có phần hoảng loạn và được dịu dàng dìu ra khỏi sảnh đường lại là nét chấm phá khá dễ thương ấy chứ,” Amelia vừa nhận xét vừa đặt tờ báo sang bên. “Em đồng ý với Jones. Em nghĩ tin này gây ra vấn đề gì nghiêm trọng. , em ngạc nhiên nếu tin ấy còn thu hút thêm vài khách hàng. Người ta còn tò mò hơn bao giờ hết về nàng góa phụ nhiếp ảnh gia bí .”

      “Từng là góa phụ thôi,” Gabriel nhàng đính chính.

      “À vâng, hẳn rồi.” Amelia vừa đáp vừa xúc trứng vào đĩa. “Thứ lỗi cho em nhé, đáng lẽ em được quên chuyến quay về ngoạn mục của . Dẫu sao , đấy cũng là phần đóng góp mới nhất cho huyền thoại về phu nhân Jones huyền bí.”

      “Rất vui được phục vụ,” Gabriel bảo.

      Hai chân mày của dì Beatrice châu lại bối rối. “Ta hiểu.” Bà quay sang Gabriel. “Ta nghĩ cậu bảo là gã Burton bị sát hại cơ mà.”

      “Chắc chắn đấy là kết luận mà tôi và Venetia rút ra,” Gabriel đáp.

      “Nhưng bài báo ràng ám chỉ gã Burton đấy tự kết liễu đời mình.”

      “Vâng, phải thế rồi, đúng nào?” Gabriel nghiền ngẫm về thông tin này trong khi ăn thêm miếng cá hồi. “Và cũng thấy đề cập đến bóng dáng của kẻ lẩn mà Venetia nhìn thấy ngoài hành lang. Tôi có phải phía cảnh sát muốn giữ bí mật vài chi tiết với hy vọng kẻ sát nhân nghĩ rằng tội ác của bị phát giác, hay bọn họ thực lòng tin cái chết của Burton là vụ tự sát nữa.”

      “Có lẽ còn lời lý giải khác đấy,” Venetia . “Ngài Jones này, tối qua tôi và ngài chủ yếu chỉ quan tâm đến tình hình của chúng ta mà thôi. Chúng ta quên rằng trong tòa nhà còn có người có đủ lý do để cố đảm bảo rằng cuộc triển lãm bị vấy bẩn bởi vụ bê bối giết người.”

      “Tất nhiên rồi,” dì Beatrice lập tức thốt lên. “Christopher Farley, người tài trợ cho cuộc triển lãm. Ngài Farley là người có tầm ảnh hưởng lớn cả trong giới nghệ thuật lẫn xã hội thượng lưu. Ta ngạc nhiên chút nào nếu ông ấy có thể tạo chút sức ép với phía cảnh sát để buộc họ phải thông báo rằng có khả năng đấy là vụ tự sát chứ phải vụ giết người.”

      Ngả nào nữa, Gabriel thầm nghĩ, hôm nay chàng lại bớt rắc rối. Việc tay phóng viên biết rằng Venetia nhìn thấy ai đó rời khỏi trường tội ác nghĩa là có khả năng kẻ sát nhân cũng biết nốt.

      Venetia nhìn chàng với vẻ cân nhắc. “Kế hoạch ngày hôm nay của ngài là gì vậy, ngài Jones.”

      Chàng tự hỏi biết nàng còn định xưng hô với chàng theo lối trịnh trọng cứng nhắc ấy đến chừng nào đây.

      “Tình cờ là ta có lập danh sách rồi.” Chàng lấy từ trong túi ra tập giấy và đặt xuống bàn. “Trước hết, ta phải đưa cho nàng phim bản của chiếc hòm sắt mà nàng chụp khi còn ở trụ sở Hội. Ta rất biết ơn nếu nàng rửa ảnh càng sớm càng tốt.”




      Nàng nghiêng đầu. “Được thôi. Ngài làm gì với bức ảnh vậy?”

      “Ta giải mã được đoạn văn viết bằng mật mã khắc nắp hòm rồi. Đấy chỉ là danh sách các loại dược thảo chẳng có nghĩa lý gì với ta hay với em họ ta cả. Ta thể hiểu được danh sách ấy có thể quan trọng đến mức nào. Nhưng ở Luân Đôn này có thành viên Hội Arcane từng nghiên cứu rất kỹ tài liệu của các nhà giả kim. Có lẽ ông ấy tìm được điều gì đấy xung quanh mấy cái tên của các loài thảo dược.”

      định đưa ảnh chiếc hòm cho ông ta xem à?” Edward hỏi.

      “Phải,” Gabriel đáp. “Nhưng để cho chắc ăn, phòng trường hợp ông Montrose, vốn luống tuổi, làm mất bức ảnh hay để nó lọt vào tay kẻ xấu, ta muốn bức ảnh được chỉnh sửa tí chút. Ta muốn đổi tên của hai loài thảo dược. Liệu có được ?”

      “Ta có thể làm được cho cậu đấy,” dì Beatrice đề xuất.

      “Cảm ơn,” Gabriel bảo. “Tôi với ông Montrose món nào khuyết , tất nhiên, để ông ấy có được thông tin chính xác còn làm việc.”

      Edward mặt ngời lên ngưỡng mộ. “Thông minh quá ơi.”

      “Cứ cố vậy thôi,” Gabriel bảo. “Nhưng phải thú nhận là hy vọng ông Montrose có thể cho biết được điều gì mà cùng em họ chưa luận ra được. Tuy nhiên, biết đâu ông ấy lại giúp làm sáng tỏ được khía cạnh khác trong cuộc tìm kiếm của mình.”

      “Là khía cạnh gì vậy?” Venetia hỏi.

      Chàng nhìn qua nàng. “Ông Montrose có nhiệm vụ lưu giữ hồ sơ các thành viên của Hội Arcane từ nhiều năm nay. Các ghi chép ấy chỉ bao gồm tên của những người được đưa vào Hội mà còn có cả tên thân nhân của họ.”

      Venetia thoáng cau mày. “Ngài nới rộng diện điều tra đến cả người nhà của các hội viên sao?”

      “Phải.” Chàng ngả người ra sau, tay cầm tách cà phê. “Ta mở rộng phạm vi nghi phạm để gộp vào cả người thân của những hội viên có khả năng biết đến cuộc khai quật phòng luyện kim của nhà giả kim. Hơn nữa, ta ghi lại tên của vài người có mặt tại triển lãm tối qua. Ta tò mò muốn biết liệu có ai trong số ấy có bất cứ liên hệ nào đến Hội Arcane hay .”

      Vẻ mặt dì Beatrice sa sầm vì lo lắng. “Cậu tin chắc rằng tên trộm mà cậu tìm kiếm kia lâu nay theo dõi Venetia à?”

      “Đúng vậy,” chàng đáp. “Rất tiếc khi phải thế, nhưng e là khả năng này rất cao. Đấy là lý do khiến tôi cảm thấy cần phải đội mồ sống dậy.”

      “Có điều quá ràng,” dì Beatrice nhận xét với vẻ trầm ngâm. “Nếu kẻ thủ ác quanh quẩn gần Venetia, chắc chắn giờ đây cậu thu hút hết mọi chú ý của rồi. phải biết cậu là ai.”

      “Vâng,” Gabriel đáp. “Rất có thể vậy.”

      Venetia đặt nĩa xuống. Nỗi thấu hiểu ưu sầu sáng lên trong mắt nàng. “Ngài nghĩ rằng ngài ở đây rồi kẻ thủ ác tập trung chú ý trở lại vào ngài sao. Ngài hy vọng có thể làm cho chú ý đến tôi nữa.”

      Gabriel nhún vai, với tay lấy thêm lát bánh mì nướng.

      Đột nhiên dì Beatrice tươi tỉnh hẳn lên. “Phải, tất nhiên rồi. Như thế mới hoàn toàn hợp lý. mưu kế xuất sắc đấy cậu Jones. Kẻ thủ ác tại sao lại phải chú ý đến Venetia nữa khi mà giờ đây cậu lại xuất kia chứ? Lẽ tự nhiên tên trộm nghĩ rằng nếu có ai biết được điều gì về mật mã chiếc hòm, người đó phải là cậu. Dầu sao Venetia chỉ là nhiếp ảnh gia thôi mà.”

      “Đây là kế hoạch đơn giản,” Gabriel thừa nhận. “Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, kế hoạch đơn giản thường là hiệu quả nhất.”

      Venetia quay lại chú ý vào thức ăn của mình. Chàng để ý thấy nàng trông hẳn là thoải mái khi nghe kết luận của dì Beatrice. Chàng băn khoăn biết có nên hy vọng rằng thế tức là nàng lo cho an nguy của chính chàng hay .

      Tối qua nhìn theo nàng bước ra khỏi thư phòng dễ chịu chút nào. Cõi lòng chàng chỉ ao ước muốn được giữ nàng lại bên mình. Nàng hiểu rằng họ thuộc về nhau rồi ư? Nàng quên lời thề nàng thốt ra trong cơn đam mê giày xéo vào đêm cuối cùng tại trụ sở Hội Arcane ấy rồi ư?

      Em thuộc về chàng.

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 19


      HIỆU ẢNH BÉ, tồi tàn của Harold Burton chìm trong bóng thê lương. Như thể bằng cách nào đó linh cảm được rằng ông chủ quay trở lại nữa, cơ sở kinh doanh này bèn tự mình đóng cửa.

      Sương mù dày đặc thế này bầu khí chẳng sáng sủa hơn được rồi, Venetia thầm nghĩ. Nàng đứng ngay đầu ngõ hẻm chật chội, đối diện hiệu ảnh Burton. Trời vừa chớm trưa, nhưng màn hơi nước dày đến nỗi nàng khó có thể nhìn căn hiệu . Nàng ngước mắt nhìn lên khung cửa sổ các căn phòng bên hiệu ảnh. ấy cũng có dấu hiệu nào cho thấy có người ở. Những căn phòng này là căn cứ riêng biệt của Burton.

      Hôm nay nàng ngẫu hứng quyết định đến đây, để Amelia ở lại với Maud – đứng bán hàng và phụ trách hiệu ảnh, để lại luôn cả nhiệm vụ chọn người mẫu cho lần chụp chân dung tới trong loạt ảnh Những người đàn ông trong kịch Shakespeare thành công mỹ mãn.

      Ngay khi thức giấc, nàng lo lắng nghĩ đến khả năng Burton còn chụp những tấm ảnh khác của nàng, những bức ảnh gã chưa có thời gian đem đến trước cửa nhà nàng trước khi chết. Ai mà biết được Burton làm trò tai ác gì với các dụng cụ chỉnh sửa ảnh trước khi mất mạng đúng lúc. Nàng thể để bức ảnh đáng xấu hổ rơi vào tay trong những đối thủ cạnh tranh của mình, hay tệ hơn, lại đáp đến nhà của khách hàng.

      Ngõ hẽm lúc này mấy nhộn nhịp. Các cửa hiệu cả hai bên hiệu ảnh Burton đều mở cửa nhưng lại có khách hàng. Vài ba con người năng nổ chịu thò chân ra đường dưới trời mù sương lại vẩn vơ như những bóng ma lạc lối, chỉ mực chú ý để khỏi va vào tường vách hay vấp ngã vào những phiến đá lát đường nên chú ý đến Venetia lảng vảng nơi lối cửa. Nàng nhận ra rằng, vì ăn vận màu đen từ đầu tới chân, mặt lại được tấm mạng đen che phủ nên nàng hầu như trở thành vô hình.

      Chờ cho đến khi cỗ xe ngựa hai bánh có khách lọc cọc chạy qua, di chuyển chậm chạp lăn vào màn sương, nàng mới sang đường để vào hiệu ảnh.

      có gì đáng ngạc nhiên khi thấy cửa ra vào hiệu ảnh được khóa cẩn thận. Các màn cửa đều được hạ xuống. Hẳn Burton đóng cửa hiệu trước khi đến buổi triển lãm và chạm trán với kẻ sát hại mình tối qua.

      Venetia đến góc đường, quành vào đấy để bước xuống lối hẹp dẫn ra con hẻm xíu. Màn sương mù vẫn ngập tràn trong lối chật hẹp này dường như còn dày đặc hơn.

      Nàng tìm thấy cửa hậu vào hiệu và phát ra cánh cửa này cũng bị khóa nốt. Nàng tháo chiếc ghim kẹp tóc xuống bắt tay vào việc. Con người ta trở nên thành thục hẳn với các loại dụng cụ và máy móc khi họ chọn nghiệp nhiếp ảnh, nàng thầm nghĩ. Dường như những người như thế phải luôn biết ứng biến.

      Cửa mở ra. Nàng dừng lại, nhìn quanh lần cuối để bảo đảm ai chung quanh nhìn thấy nàng bước vào cửa hiệu. Mọi vật im lặng như tờ trong biển mù nhấn chìm con hẻm .

      Im lặng di chuyển, Venetia lách mình vào trong căn phòng phía sau cửa hiệu và khép cửa lại. Nàng đứng im đỗi, đưa mắt dò xét quanh khoảng ngổn ngang, u ám.

      Căn phòng chứa đầy những vật lỉnh kỉnh thường hay gia tăng nhanh chóng trong hiệu ảnh. Các thùng các tông đựng phim cũ được chồng cao lên đến tận trần nhà. Những tấm phông nền nhiều màu sắc giờ bạc thếch bị đẩy dồn vào vách. chiếc ghế ngồi làm mẫu cũ kỹ, mòn vẹt, gẫy chân, được tấn vào góc phòng. đôi giày phụ nữ cỡ nhét bên dưới ghế. Đôi giày này là kiểu lỗi mốt ít nhất từ hai năm trước.

      nỗi cảm thương nhói lòng đột ngột dấy lên trong nàng. Gã Burton tội nghiệp. ta hoặc ý thức được việc nắm bắt những trào lưu thời thượng quan trọng đến dường nào hoặc đủ tiền trang trải để đổi mẫu giày khi mốt đổi.

      Trong hiệu ảnh của nàng có đến ba đôi giày nữ. Đấy là những đôi giày kiểu dáng mới nhất và so với đôi trong hiệu của Burton đây trang nhã hơn hẳn. Nhưng những đôi giày ấy có chung điểm với đôi giày này của Burton. Chúng đều mang kích cỡ của những bàn chân phụ nữ nhắn và kiều nhất.

      Venetia biết chắc rằng Burton đầu tư vào đôi giày này với cùng lý do thực dụng khiến nàng mua lấy đôi giày quá chẳng vừa chân bất cứ ai trong nhà. Những đôi giày thanh nhã, duyên dáng tỏ ra cực kỳ hữu ích khi ta gặp phải nữ khách hàng chụp ảnh chân dung toàn thân mà lại muốn phô ra đôi bàn chân to bè của mình.

      Khi ấy ta chỉ việc đặt đôi giày cỡ hơn phía trước bàn chân của người ngồi làm mẫu và sắp xếp xống váy bà ta sao cho chỉ phần mũi nhọn của đôi giày thanh nhã kia ló ra dưới gấu váy của bà khách. Làm thế đỡ tốn công chỉnh sửa rất nhiều.

      chiếc bàn gần bên là hai tấm ảnh lồng khung. Phần khung kính bị rạn nứt hết cả. Thấy tò mò, Venetia tiếng đến gần hơn để nhìn cho .

      Chỉ lần liếc qua cũng đủ để tô đậm mức thâm sâu của lòng oán hận mà Burton dành cho nàng.

      Hai bức ảnh chụp cảnh sông Thames. Nàng nhận ra cả hai bức này. Burton mang chúng đến dự buổi triển lãm của ông Farley. Bức Bình minh sóng của nàng giành giải nhất trong cuộc triển lãm ấy. Tối hôm đó khi rời khỏi phòng triển lãm, Burton vô cùng phẫn nộ. Nàng có thể tưởng tượng ra cảnh quay về hiệu ảnh, hai bức tranh thua giải cắp dưới nách. Rất có khả năng bước sầm sập vào trong này mà nện hai bức ảnh xuống bàn làm việc mạnh đến mức khiến mặt kính rạn nứt. chẳng buồn bận tâm đến việc thu dọn các mảnh kính vỡ. Có lẽ nuôi dưỡng lòng thích thú bệnh hoạn nào đó khi nhìn hai bức ảnh này mỗi ngày, để nhắc cho nhớ rằng căm ghét con mụ Jones nào đấy đến dường nào.

      Nàng dời ánh mắt khỏi cái bàn làm việc khiến lòng bất an ấy. Mũi giày nàng vấp vào vật nằm dưới sàn nhà. thanh kim loại va loảng xoảng vào sàn nhà bằng gỗ dưới chân nàng. Tiếng động ấy nghe lớn đến bất thường nền thanh tĩnh lặng còn bất thường gấp bội.

      Venetia cứng người, tim nện thình thịch. Bình tĩnh lại nào, nàng tự nhủ. Người ngoài cửa hiệu đời nào nghe thấy tiếng động khẽ khàng đến thế được.

      Sau vài giây, mạch nàng đập chậm lại. Nàng nhìn xuống thấy thanh sắt khóa đầu dài kèm giá đỡ. Vào thời còn sử dụng kỹ thuật chụp ảnh theo phương pháp Daguerre cùng các tấm ảnh kim loại, những dụng cụ như thế này được dùng phổ biến nhằm giữ yên người mẫu tại chỗ để họ nhúc nhích khi ảnh được chụp. Bằng việc phát minh ra các môi trường chế phim nhanh hơn, mới hơn cùng các máy ảnh tiên tiến khiến những thanh khóa đầu còn cần thiết xét về khía cạnh kỹ thuật, nhưng nhiều nhiếp ảnh gia vẫn còn sử dụng chúng để giữ cho người mẫu ngồi bất động hoàn toàn. Khi phải chụp ảnh chân dung cho cậu bé con hiếu động cám dỗ được dùng đến thanh khóa đầu luôn thôi thúc vô cùng.

      Nàng băng qua phòng đến mở cánh cửa. Mùi hóa chất mạnh bị cất giữ lâu ngày ở nơi kém thoáng khí thốc lên suýt nữa khiến nàng ngã ngửa.

      Chắc hẳn là Burton bỏ ngoài tai những lời khuyên bổ ích trong các tập san chuyên đề nhiếp ảnh về việc cất giữ an toàn các hóa chất dùng trong phòng tối rồi, Venetia nhủ thầm. Chả trách sao cứ ho mãi. Chắc hẳn khóa mình trong này hàng giờ mỗi lần, hít lấy những hơi khí đậm đặc trong khoảng bé bít kín cung cấp đâu ra được vòng luân chuyển khí trong lành khỏe mạnh. Nàng thở dài. Đây là vấn đề thường gặp trong ngành nghề chứa đủ thứ độc hại.

      Nàng giữ cánh cửa mở toang chốc, để cho những hơi khí độc hại nhất được tiêu tan, rồi nàng bước vào phòng tối. Ánh đèn yếu ớt rọi vào khoảng bé, soi tỏ chiếc khay điều chế và những chai hóa chất.

      Những dụng cụ của Burton trông sáng loáng và khá mới, nàng nhận thấy thế, và lại còn là loại tốt nhất nữa. Nhiều chai hóa chất kệ vẫn còn nguyên xi.

      Căn phòng tối đến nỗi nàng suýt chút nữa nhìn thấy chiếc rương gỗ đặt dưới bàn thao tác. Nàng khom người xuống mở rương ra. Bên trong là rất nhiều bản bằng kính khô.

      Nàng chỉ cần nhìn kỹ bản phim là hiểu được mình vừa tìm thấy gì.

      Nàng hề nghe thấy tiếng bước chân lộ liễu sau lưng mình. Cho đến khi bàn tay nam giới mạnh mẽ bịt lấy miệng nàng, quá muộn thể thét lên được nữa.

      Vừa bị kéo đứng lên, nàng bèn chộp lấy thứ duy nhất sẵn đấy có khả năng làm vũ khí – cặp gắp được dùng để lấy ảnh ra khỏi bồn hóa chất.

                  Chương 20


      ĐƯỢC gây ra tiếng động lớn đấy,” Gabriel thầm vào tai nàng.

      Venetia thấy nhõm đến nhũn cả người, nàng gật lấy gật để và thả tay khỏi chiếc gắp.

      Chàng nới tay ra khỏi miệng nàng và xoay người nàng lại. Trong bóng đen của căn phòng tối chàng trông to lớn và cũng rất bực bội.

      “Nàng nghĩ mình làm cái quỷ gì ở đây thế?” chàng hỏi bằng giọng quá đỗi dịu dàng. “Ta tưởng cả ngày nay nàng ở hiệu ảnh cơ đấy.”

      Nàng cố hết sức trấn tĩnh lại. “Tôi phải hỏi ngài câu này mới đúng. Tôi nhớ là hình như sáng nay ngài định hỏi han thành viên lão thành của Hội Arcane cơ mà.”

      “Ta chuyện với ông Montrose rồi. đường quay về ngõ Sutton ta quyết định tạt vào đây cái .”

      “Ngài trông chờ phát ra thứ gì ở đây kia?” nàng cảnh giác hỏi.

      “Ta chỉ tò mò muốn biết thêm về gã Burton thôi.”

      “Vì Chúa, tại sao cơ chứ? ràng cái chết của đâu có liên hệ gì đến phương thuốc bị đánh cắp kia đâu.”

      Gabriel chẳng gì.

      Da nàng chợt nhộn nhạo. “Đúng ?”

      “Lời đáp cho câu hỏi ấy có lẽ là ,” chàng thừa nhận.

      Venetia hắng giọng. “Tôi thể để ý thấy rằng cụm có lẽ ấy có chừa chỗ cho đôi chút lập lờ.”

      “Phu nhân này, nàng vô cùng sâu sắc, như mọi khi.” Chàng liếc về phía chiếc rương gỗ. “Ta thấy là nàng tìm ra phim bản các bức ảnh chụp nàng.”

      “Vâng.”

      “Ta xem qua cả rồi. Ngoại trừ tấm bia có khắc tên nàng, còn lại tất thảy đều có vẻ vô hại. Toàn những bức chụp nàng bước ra khỏi hiệu bánh mì hay đường đến hiệu ảnh hay tán chuyện cùng khách hàng, đại loại thế.”

      Venetia rùng mình. “Lòng đố kỵ của Burton hẳn khiến nảy sinh kiểu ám ảnh quái gỡ về tôi.”

      “Còn ta lại bắt đầu thắc mắc liệu có bị ám ảnh về nàng đến thế hay ,” Gabriel bảo.

      “Ý ngài là sao?”

      “Ta thấy chuyện bấy lâu nay Burton cứ theo dõi nàng suốt rồi cuối cùng lại khiến mình bị sát hại ở nơi gần nàng tối qua đúng là có vấn đề, ít nhất là thế.”

      “Gì chứ?” Ngụ ý trong lời chàng đổ sập lên đầu nàng. “Gượm nào, thưa ngài. Có phải ngài là cái chết của gã Burton có thể có liên quan đến tôi chăng?”

      “Đấy là khả năng mà ta thể loại trừ nếu có thêm bằng chứng xác thực khác.”

      “Tôi muốn phải nhắc cho ngài nhớ, thưa ngài, nhưng đến lúc này tôi là người duy nhất mà hai ta biết lại có động cơ sát hại gã Burton khốn khổ. Căn cứ vào rằng tôi làm chuyện này, chúng ta phải kết luận rằng có kẻ khác giết hại vì lý do nào đấy hoàn toàn liên đới.”

      “Có lẽ.”

      “Lại dùng từ ấy nữa,” nàng kêu lên. “Xin vui lòng xem, đâu là sơ hở trong luận điểm của tôi chứ?”

      “Lý giải của nàng xuất sắc lắm, nàng dấu, nhưng lời ấy lại dựa vào trùng hợp đáng ngại. Ta chẳng khi nào thích những kiểu lý giải như thế cả.”

      Nghe chàng nhơn nhơn gọi mình là nàng dấu như vậy, Venetia đâm ra cáu tiết. Cứ như thể mối quan hệ giữa họ tiến triển đến mức suồng sã ấy là đương nhiên vậy.

      Chàng đưa mắt nhìn nàng. “Nàng vẫn chưa cho ta biết sáng nay vì sao nàng lại muốn ghé qua chỗ này và còn phạm tội đột nhập trái phép nữa chứ.”

      Nàng nghiến chặt răng. “ ra tôi phạm cái gì cả. Tôi vừa mới táy máy chút với cái ghim tóc cánh cửa bỗng mở ra đấy chứ.” Nàng chợt ngưng lời. “Ngài vào bằng cách nào thế?”

      “Ta cũng táy máy chút ấy mà.” Chàng hất hàm về phía cánh cửa kia. “Nhưng ta cẩn thận đặt lại khóa sau khi vào đây để ngăn chặn khả năng có ai đó bất ngờ bước vào bắt gặp ta.”

      “Lo xa đấy,” nàng bảo, chợt sáng ra với chân lý ấy. “Sau này tôi phải khắc cốt ghi tâm mới được.”

      “Sau này,” Gabriel thong thả bảo, “ nàng phải thảo luận về bất cứ kế hoạch nào liên quan đến những hành động kiểu này với ta trước khi ra tay.”

      “Sao tôi lại phải làm thế chứ?” nàng hỏi lại. “Chắc chắn ngài ra sức ngăn tôi chứ gì.”

      “Phòng trường hợp nàng chưa nhận thấy nhé, phu nhân Jones này, đây là cách hay hớm nhất để khiến nàng bị bắt đấy. Tay thanh tra thẩm vấn chúng ta đêm qua có khuynh hướng xem nàng là nghi phạm trong cái chết của Burton, nhưng quan điểm của ông ta có thể đổi hướng nếu nàng bị phát trong hoàn cảnh này.”

      “Tôi rất cẩn thận để bị ai nhìn thấy rồi. Để giải đáp cho câu hỏi của ngài, tôi đến đây" bởi vì tôi sợ là có khả năng Burton chụp nhiều hình khác của tôi và chỉnh sửa , nếu chúng lọt vào tay các đối thủ của tôi tôi còn mặt mũi nào đây.”

      “Ta cũng từng nghĩ đến điều ấy,” chàng . “Ngoài những phim bản là vô hại trong chiếc rương gỗ kia, ta tìm được bức hình nào khác của nàng cả.”

      “Tạ ơn Chúa.” Nàng liếc mắt lên trần nhà. “Thế còn chỗ ở của sao?”

      ấy cũng có gì đáng quan tâm cả.” Chàng bê chiếc rương gỗ lên và bước ra khỏi phòng tối. “ nào, chúng ta đem chỗ ảnh này và xem xét kỹ càng hơn khi cả hai an toàn tránh xa nơi này.”

      Nàng lẽo đẽo theo sau chàng, định theo ra đến cửa hậu. Nàng ngừng bước khi nhận ra hộp kính ảnh khô đặt chiếc bàn gần đấy. Tên nhà sản xuất nghe quen quen. Nàng cũng đặt hàng kính từ hãng đó.

      “A, chuyện này thú vị đây,” nàng lào bào.

      tay đặt lên nắm cửa, Gabriel quay lại quan sát nàng từ đầu kia căn phòng. “Gì thế?”

      “Theo mọi nhẽ, Burton chật vật lắm mới kiếm sống được từ việc chụp ảnh, ấy thế mà các dụng cụ trong phòng tối lại mới và đắt tiền. Còn nữa, hộp kính ảnh khô kia là cỡ lớn nhất mà hãng sản xuất có được. Loại ấy đáng bộn tiền đấy.”

      là Burton rất nghiêm túc với công việc. Chắc hẳn đầu tư số tiền còm kiếm được vào dụng cụ và nguyên vật liệu.”

      “Từ những lời đồn thổi mà tôi nghe được kiếm được nguồn thu đủ để chi trả cho loại hàng đắt đỏ này đâu.” Nàng nhịp nhịp mũi giày xuống sàn nhà và nhìn quanh căn phòng. “Tôi tự hỏi biết có mua máy ảnh mới nhỉ?”

      “Có cái gắn chân máy trong căn phòng kia kìa,” Gabriel đáp. “Ta nhìn kỹ lắm.”

      Venetia qua căn phòng trước trong cửa hiệu. Burton có sắp xếp chiếc ghế cùng bức phông nền đơn giản để tranh thủ chút ánh sáng ít ỏi rọi vào từ những khung cửa sổ bám bụi. Chỉ cần liếc lần qua chiếc máy ảnh cồng kềnh là quá đủ.

      “Đây nhất định là mấy loại cũ,” nàng vừa bảo vừa vòng ra sau quầy. “Hẳn là kiếm đủ tiền để sắm máy mới.”

      Nàng đứng sững lại khi nhìn thấy chiếc mũ đặt kệ sau quầy.

      “Venetia này, đừng chần chừ ở đây thêm nữa,” Gabriel giục. “Đáng lẽ hai chúng ta phải rời khỏi nơi này lâu rồi đấy.”

      phút nữa thôi, tôi chỉ cần có thế.” Nàng cầm chiếc mũ lên. Nó nặng hơn bất kỳ loại mũ bình thường nào khác.

      “Nàng làm cái quái gì với nó thế?” Gabriel hỏi, nghe chừng cũng nén nổi tò mò.

      “Thi thoảng tôi bắt gặp Burton theo dõi mình, có mang theo chiếc mũ này. Nhưng luôn cắp dưới tay. Tôi chưa bao giờ thấy đội lên đầu cả.” Nàng lật ngược chiếc mũ và mỉm cười mãn nguyện. “Và đây là lý do vì sao.”

      “Nàng tìm thấy gì trong ấy thế?”

      cái máy ảnh được giấu kín.” Nàng giơ cao chiếc mũ cho chàng nhìn thấu vật bên trong. “Khá mới. Hãng Crowder sản xuất. dùng loại ống kính tuyệt hảo. Cái này đắt lắm đây.”

      “Quỷ .” Gabriel đặt lại chiếc rương gỗ xuống đón lấy chiếc mũ có giấu máy ảnh từ tay nàng. Chàng cẩn thận săm soi. “Ta chưa từng trông thấy món nào như thế này.”

      “Trong nghề chúng tôi gọi những thứ này là camera thám tử. Chúng được lắp đặt theo nhiều cách bí mật khác nhau. Tôi từng trông thấy những camera được giấu bên trong bình hoa và va li hành lý hay nhiều vật khác nữa.”

      “Vậy ra đây là cách chụp ảnh nàng mà nàng hề hay biết đấy ư?”

      “Phải.”

      Gabriel đặt chiếc mũ có gắn camera xuống kệ, bê rương gỗ lên tiếp ra phía cửa sau. “Việc bí mật chụp ảnh mang lại nhiều tiền lắm phải ?”

      “Vâng,” nàng vừa đáp vừa theo chàng. “Mà, dùng camera thám tử tuy vẫn còn là chuyện hiếm, nhưng tôi tin rằng, theo thời gian, việc này phát triển thành phần quan trọng trong ngành đấy.”

      “Ai trả tiền để chụp những bức ảnh bí mật ấy kia chứ?”

      “Hãy cứ nghĩ đến những khả năng thôi nào, ngài Jones à. Hãy tưởng tượng các bà vợ trả tiền nhiều đến mức nào để có được ảnh ông chồng trăng hoa của mình khi ông ta ở bên mấy ả nhân tình. Rồi lại nghĩ xem, nếu ngài muốn, đến mọi đức ông chồng đa nghi luôn sợ là vợ mình biết đâu lại cặp kè với những người đàn ông khác. Tiềm năng tài chính ở đây gần như là vô hạn.”

      “Phu nhân Jones này, có ai bảo với nàng rằng quả là nàng sở hữu quan điểm chua chát về hôn nhân chưa thế?”

      “Tôi thích nghĩ rằng mình sở hữu quan điểm thực tế hơn.” Nàng ngưng lại. “Nhưng ít ra tôi giải đáp được điều vẫn khiến tôi thắc mắc về gã Burton này.”

      “Giờ nàng biết làm cách nào lại có thể sắm được những dụng cụ và vật liệu đắt tiền.”

      “Phải. dấn thân vào ngành camera thám tử.”

      TRỞ VỀ căn nhà tại ngõ Sutton, Venetia đặt tấm phim bản cuối cùng vào lại chiếc rương gỗ. Nàng ngồi tựa ra ghế sau bàn giấy và ngước nhìn Gabriel.

      “Ngài đúng,” nàng bảo. “Ngoại trừ bản về bức được chỉnh sửa, còn số ảnh còn lại chẳng có gì đáng quan tâm.”

      “Ngoại trừ việc chúng ghi lại chính xác thời điểm nàng ra vào và những người nàng từng gặp trong nhiều ngày qua,” Gabriel lặng lẽ . “Hoặc là tay Burton quả nảy sinh kiểu ám ảnh quái gở về nàng, hoặc có kẻ nào đó thuê theo dõi nàng.”

                  Chương 21


      AMELIA NGỒI cùng Maud Hawkins – trông coi cửa hiệu – trong căn phòng ngay sát bên phòng trưng bày chính. Hai cùng ngắm nghía cậu thanh niên trong tấm áo choàng kiểu La Mã đứng trước mặt họ.

      Maud chỉ lớn hơn Amelia tuổi. Là con của bà quản gia và người hầu, quyết tâm nối nghiệp bố mẹ mình làm nghề phục vụ. nộp đơn xin vào làm trong hiệu ảnh Jones ngay sau khi cửa hiệu khai trương và được nhận ngay lập tức. Maud là thông minh năng nổ, luôn có cung cách chiều chuộng được khách hàng.

      Cậu thanh niên trong chiếc áo choàng kia tên là Jeremy Kingsley. Cậu ta là người cuối cùng trong ba ứng viên nộp đơn cho mục quảng cáo báo. Hai người đầu tiên tỏ ra thích hợp nhưng chàng Jeremy này có vẻ hứa hẹn đây, Amelia ngầm xét. bé có thể thấy là Maud cũng cảm nhận tương tự.

      Jeremy cao ráo, tóc vàng nhạt với cặp mắt xanh da trời biêng biếc và khung hàm mạnh mẽ, vuông vức. Cậu trông cực kỳ điển trai trong tấm áo choàng, dù có phần ngượng ngập. Mảnh áo choàng để lộ hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp của cậu cũng như mảng vai rộng rắn rỏi. Jeremy kiếm sống trong chuồng giữ ngựa. Bao nhiêu năm trữ cỏ khô, giữ cương những con ngựa to lớn và đánh kéo xe tạo nên kỳ tích, Amelia thầm nghĩ.

      bé rê mắt khỏi Jeremy và ghi chú vào mảnh giấy. Đôi vai đầy nam tính. Venetia thích các chi tiết kiểu như thế lắm.

      Khi ngước nhìn lên, để ý thấy Maud vẫn còn nhìn chăm chăm vào Jeremy như thể cậu chàng là chiếc bánh kem to lớn thơm ngon.

      “Xin cảm ơn, Kingsley,” Amelia bảo. “Từng ấy là được rồi. có thể quay vào phòng thay đồ để thay trang phục bình thường của rồi đấy.”

      “Xin quý thứ lỗi cho ạ.” Hàng chân mày thanh tao của Jeremy nhăn lại lo lắng. “Nhưng tôi có được , thưa ?”

      Amelia liếc sang Maud.

      “Tôi nghĩ ấy hợp lắm đấy,” Maud bảo. “Mặc áo choàng vào rất đẹp, phải nào?”

      Jeremy mỉm cười với đầy hàm ơn. Maud mỉm cười đáp lại.

      “Tôi đồng ý.” Amelia đặt bút chì xuống nhìn Jeremy. “Tôi thấy có lý do gì để phu nhân Jones nghĩ thích hợp với hình ảnh Caesar cả, Kingsley à. Nhưng cũng hiểu cho là phu nhân tự mình quyết định, khi ấy gặp mặt .”

      “Tôi hiểu mà, thưa . Cảm ơn nhé.” Trông Jeremy là phấn khích hẳn lên. “Tôi nỗ lực hết sức để đưa ra kết quả như mong muốn, tôi hứa đấy.”

      “Tốt lắm,” Amelia bảo. “Phu nhân Jones gặp lúc ba giờ ngày hai mươi ba. Nếu vừa ý với , phu nhân chụp ảnh ngay lúc ấy. Quy trình mất ít nhất là hai tiếng đồng hồ, có khả năng còn lâu hơn nữa. Phu nhân Jones rất kỹ tính với những bức ảnh của mình mà.”

      “Tôi hiểu, thưa .”

      phải đến đúng giờ đấy,” Maud thêm vào. “Phu nhân Jones là người cực kỳ bận rộn. ấy buồn chờ đợi người mẫu của mình đâu.”

      cần phải lo đến chuyện này đâu, thưa ,” Jeremy vừa vừa dợm bước về phía phòng thay trang phục. “Tôi đến đây đúng giờ.”

      Cậu ta biến mất vào sau tấm màn trướng hai màu đỏ - vàng kim che chắn phòng thay trang phục dành cho quý ông. Vài phút sau khi xuất trở ra, cậu quay về với bộ quần áo tầm thường xộc xệch mua ngoài chợ. Amelia thầm nhủ rằng chiếc áo choàng kia trông hợp với chàng này hơn. có thể thấy Maud cũng cảm nhận như thế.

      Jeremy luống cuống thêm vài câu cảm kích rồi vội vã chạy ra ngoài phố.

      Amelia và Maud quay trở vào phòng trưng bày.

      “Tôi thực lòng tin rằng Kingsley tạo được hình ảnh Caesar rất đẹp,” Amelia bảo.

      “Phải đấy, thưa , ấy chắc chắn làm được và là thế.” Maud xoa xoa hai tay vào nhau. “Tôi mong là doanh thu còn cao hơn ảnh về Hamlet mấy tuần trước. Có gì đấy hấp dẫn từ người đàn ông khoác áo choàng La Mã, có thấy thế ?”

      “Vâng, nhưng tôi phải là, khó qua mặt được bức Hamlet của chúng ta đấy.”

      Amelia dừng lại trước trong những bức ảnh lồng khung trưng tường. Bức ảnh ưu sầu, tối sầm đến ma mị này là chân dung cận cảnh của chàng cực kỳ điển trai nhìn khán giả bằng cặp mắt quyến rũ của thi nhân lãng mạn. Mái tóc đen loăn xoăn của chàng rối bù cách đáng .

      Chàng Hamlet vận chiếc áo sơ mi trắng hờ hững hở nút đến giữa ngực; quần dài đen bó sát; và đôi ủng cao bằng da, bóng loáng. Chàng trông giống tay thám hiểm bảnh bao hơn là hoàng tử u sầu. Trong ảnh chàng ngồi uể oải chiếc ghế mạ vàng, chân ủng duỗi dài theo tư thế dường như vẫn khiến các nữ khách hàng cảm thấy vô cùng ấn tượng. bàn tay với các ngón thon dài tao nhã vắt lên bên tay vịn của ghế. Trong tay kia chàng cầm cái sọ của Yorick. Kiếm ra cái sọ người quả là đơn giản chút nào, Amelia hồi tưởng lại. Rốt cuộc Maud xoay xở mua lại được cái dùng đến từ nhà hát .

      “Ý tưởng để Hamlet mặc chiếc áo nửa cài nút nửa ấy của là xuất sắc,” Amelia .

      Maud khiêm tốn mỉm cười, đứng chiêm ngưỡng bức ảnh. “Bỗng nhiên ý tưởng ấy từ đâu nảy đến trong tôi thôi ạ.”

      Amelia nhìn sang tấm chân dung ngay bên cạnh. Bức ảnh chàng thanh niên khác vô cùng điển trai vận trang phục theo phong cách Ý cổ điển. Tìm được cái đầu lâu là khó khăn rồi, Amelia nghĩ lại, nhưng kiếm cho ra miếng chắn đùm cũng là thử thách cam go kém. Tuy nhiên, uổng công. Ai mà ngờ các khách hàng nữ lại thấy người đàn ông mang miếng chắn đùm lôi cuốn đến vậy cơ chứ?




      “Ta chỉ có thể hy vọng là Caesar của chúng ta làm ăn tốt đẹp như chàng Hamlet này thôi,” Amelia . “Nhưng tôi nghĩ chúng ta bao giờ đạt được mức độ thành công mà ta từng có với Romeo đâu.”

      “Tính đến nay Romeo vẫn là ảnh bán chạy nhất của chúng ta mà,” Maud đồng tình, mắt vẫn ngắm nghía miếng chắn đùm. “Chỉ riêng tuần trước tôi bán được hai mươi bức ảnh ấy đấy. Chúng ta phải sớm rửa thêm thôi.”

      “À, dầu gì , đấy cũng là Romeo mà.”

      “Với lại này,” Maud vừa vừa ra sau quầy. “Tôi nhận được lời nhắn từ quý ông muốn hỏi rằng liệu phu nhân Jones có thu xếp thời gian chụp hình cho người bạn của mình được . Tôi trả lời để lên lịch cho buổi chụp vào ngày mai. Mọi chi tiết đều ở trong cuốn sổ hẹn rồi đấy.”

      “Cảm ơn nhé Maud. Khách hàng là ai thế?”

      “Đức ngài Ackland,” Maud đáp. “Ông ấy muốn phu nhân Jones chụp ảnh cho quý bà tên là Rosalind Fleming.”

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 22


      “HẲN PHẢI CHOÁNG VÁNG LẮM khi phát ra phu quân của mình vẫn còn sống ấy, phu nhân Jones nhỉ.” Nụ cười của Rosalind Fleming bình thản và hiểu biết. “Người ta chỉ có thể tưởng tượng ra những tác động lên hệ thần kinh khi lại có người chết xuất ngay trước cửa nhà mình.”

      “Tất nhiên rồi, choáng vàng hết sức.” Venetia đẩy bức tượng nho sang vị trí hơi khác bên cạnh chiếc ghế Rosalind ngồi và quày quả trở lại chỗ máy ảnh. “Nhưng người ta phải biết điều chỉnh thích ứng với chút chuyện bất tiện cỏn con của cuộc đời để mà tiếp tục sống nốt chứ, phải ạ?”

      Mọi thứ xung quanh như bỗng ngưng đọng lại.

      “Chuyện bất tiện ư?” Rosalind lẩm bẩm, giọng mơ hồ, chất vấn.

      Amelia, đứng ngay sau lưng Rosalind để giữ chiếc lọng phủ vải trắng toát, liền rối rít lấy tay ra hiệu cảnh báo.

      Venetia hiểu ra. Nhận định rằng việc trở về của người phối ngẫu từng được cho là mất vĩnh viễn là bất tiện chắc hẳn được thích hợp cho lắm. Nàng thầm ghi nhớ sau này phải biết thận trọng hơn.

      Khi giao thiệp với khách hàng, gặp phải rắc rối này cũng là rắc rối khác. Việc tập trung hàn huyên với người ngồi mẫu khi ta cố xếp đặt buổi chụp khó khăn biết bao. Dù gì nữa, đấy vẫn là khâu thiết yếu trong toàn bộ quy trình. Nếu người chụp ảnh trò chuyện với người ngồi mẫu, người mẫu có khuynh hướng trở nên căng thẳng lúng túng.

      Làm như nàng chưa có đủ chuyện rắc rối bằng, khi phải tác nghiệp bên ngoài căn phòng kính của mình như hôm nay ấy.

      Rosalind tỏ thái độ thẳng toẹt rằng ta mặn mà lắm với việc được chụp ảnh. ta giải thích rằng đấy là ý của đức ngài Ackland và ta đồng thuận chỉ để vui lòng ông ta mà thôi.

      Dầu sao nữa, cũng giống như bất cứ người ngồi mẫu năm tuổi nào mà Venetia từng gặp, Rosalind vẫn ngạo mạn đến mức muốn có được bức chân dung tôn nét đẹp. Để đạt được điều này, ta khăng khăng chỉ muốn được chụp ảnh trong chính ngôi nhà của mình, bao quanh là những của nả quý giá mắc mỏ nhất.

      Bộ váy màu xanh thẫm mà ta chọn mặc cho dịp này là kiểu dáng thời thượng nhất: trông đặc chất Pháp và cổ áo trễ nải vô cùng. ta đeo vào người cả gia tài trang sức. Kim cương lấp lóa quanh cổ, lòng thòng từ hai tai và tỏa ra hào quang từ món tóc búi tết cầu kỳ của ta.

      Thậm chí Rosalind còn chọn chiếc ghế để ngồi tạo dáng. Chiếc ghế được mạ vàng và trông giống ngai vàng đến khó chịu.

      Căn phòng có trần cao vời vợi trông cũng trang nhã và lắm tiền như chính Rosalind. Nào bình nào tượng cổ đặt các bệ đá cẩm thạch. Những màn nhung đỏ thẫm được buộc vén sang bên bằng những dây đai vàng óng rũ thành đống xuống tấm thảm dày.

      Hai tiếng trước Gabriel và Edward giúp chất những dụng cụ cần thiết, bao gồm máy ảnh, đĩa kính, chân máy, dù lọng, tấm phản quang, lên cỗ xe thuê. Khi cỗ xe lăn bánh xuống phố, Venetia mới thừa dịp quay nhìn lại. Nàng trông thấy Gabriel đứng bậc cửa, trông thầm mãn nguyện.

      Khi ấy nàng ngộ ra rằng chàng hài lòng đến vậy vì nàng phải bận rộn với chuyện chụp ảnh suốt buổi sáng. Chắc chắn chàng ta tự nhủ rằng như thế chàng có thể theo đuổi cuộc điều tra của mình mà phải lo lắng xem nàng làm gì. Nàng biết chàng vẫn còn bực dọc với chuyến ghé thăm của nàng đến hiệu ảnh của Burton hôm qua.

      Chụp ảnh tại nhà khách hàng bao giờ cũng lằng nhằng. May thay thư phòng nhà Rosalind được soi tỏ bằng ánh sáng tự nhiên. Nhưng dù là thế, vẫn phải mất cả buổi mới bố trí được ánh sáng cho đúng cách, và ràng là Rosalind mất dần kiên nhẫn. Cuộc trò chuyện ngày càng chuyển sang hướng riêng tư.

      Venetia bắt đầu thắc mắc liệu có phải Rosalind chủ ý châm chính mình , có lẽ đó là cách để giải tỏa chán chường của ta chăng.

      cần thiết phải chơi chữ với tôi đâu, phu nhân Jones ạ.” Rosalind cười khùng khục. “Tôi từng có chồng. Tôi ngại cho biết rằng tôi hài lòng tận hưởng tình trạng góa bụa hơn là cuộc hôn nhân của tôi rất nhiều.”

      Venetia thể nghĩ ra lời phù hợp đáp lại câu bình luận ấy, nàng bèn bám vào chủ đề an toàn hơn. “ vui lòng nhích bàn tay phải của mình sang trái hai độ được ạ? Phải rồi, như vậy rât đẹp. Amelia này, chuyển chiếc lọng hứng sáng lại gần phu nhân Fleming đây thêm chút nữa . Chị cần thêm ánh sáng phía bên trái mặt phu nhân ấy. Chị muốn tôn lên nét thanh tao gương mặt nhìn nghiêng của phu nhân.”

      Nịnh nọt người ngồi mẫu chút cũng có mất gì đâu, Venetia nhủ thầm.

      “Như vậy được chưa ạ?” Amelia vừa hỏi vừa chỉnh lại góc lọng.

      “Tốt hơn nhiều rồi đấy, cảm ơn em,” Venetia đáp.

      Nàng lại nhìn vào ống ngắm. Đoạn nàng thoắt tập trung, như nàng vẫn thường làm ngay trước khi chụp ảnh.

      Ánh sáng và bóng tối đảo ngược. Thần khí của Rosalind Fleming lóa ra, vần vũ xung quanh với cảm xúc mãnh liệt.

      Rosalind phải sục sôi vì thiếu kiên nhẫn, Venetia chợt nhận ra. ta sục sôi vì phẫn nộ.

      Tốt nhất là làm cho xong việc này càng sớm càng tốt.

      “Vui lòng giữ yên nhé, phu nhân Fleming,” Venetia bảo.

      Nàng chụp ảnh. Hết thảy trực giác trong nàng hối thúc nàng rời khỏi nhà Rosalind càng nhanh càng tốt nhưng đạo đức nghề nghiệp lại giữ chân nàng lại.

      “Tốt nhất là ta nên chụp thêm bức thứ hai, nếu phiền giữ nguyên tư thế ấy nhé, phu nhân Fleming.”

      “Được thôi, nếu muốn thế.”

      Venetia lấy tấm kính ảnh sử dụng ra khỏi máy ảnh, bỏ vào tấm kính mới và chụp thêm bức ảnh khác.

      “Tuyệt vời,” nàng thốt lên, cả người thấy xong việc. “Tôi nghĩ rất hài lòng với kết quả đấy.”

      “Ảnh bao giờ mới rửa xong vậy?” Rosalind hỏi, để lộ đôi chút hăm hở.

      giờ tôi khá bận. Nhưng tôi có thể làm xong cho phu nhân vào đầu tuần tới.”

      “Tôi sai người hầu đến lấy,” Rosalind bảo.

      Venetia gật đầu ra hiệu cho Amelia, lúc này ràng cảm nhận được căng thẳng leo thang trong khí, nên bắt đầu thu dọn lọng hứng sáng, các tấm gương lẫn tấm phản quang.

      “Tôi cho đầy tớ đến giúp thu dọn các dụng cụ của ,” Rosalind bảo. ta lướt qua tấm thảm đến chiếc bàn giấy diêm dúa để kéo sợi dây chuông bằng nhung.

      “Cảm ơn nhé,” Venetia vừa làu bàu vừa tháo dỡ máy ảnh khỏi chân máy.

      “Vấn đề của mấy ông chồng là họ đòi hỏi quá nhiều thời gian lẫn tận tâm,” Rosalind lên tiếng, quay lại chủ đề trò chuyện ban nãy. “Dù giàu có đến thế nào, bọn họ luôn có khuynh hướng khó chịu là than phiền về tiền bạc mà người ta phải chi cho những món đến là thiết yếu như xống áo hay giày dép. Này nhé, bọn họ chẳng chớp mắt đến hai lần khi nghĩ về việc phải mua nữ trang đắt tiền cho bọn nhân tình của họ đâu, trong khi đấy chỉ cho vợ mình mấy thứ rẻ tiền vớ vẩn mà cứ ra công chì chiết.”

      Venetia dở tay xếp chân máy ngưng lại. “Xin thứ lỗi, thưa phu nhân, nhưng tôi nghĩ tốt nhất chúng ta nên thay đổi chủ đề. Chắc là phu nhân để ý đấy thôi, nhưng Amelia, em tôi đây, chỉ mới có mười sáu tuổi. Người ta thảo luận những kiểu chuyện như thế này trước mặt thiếu nữ tuổi đến thế đâu.”

      Amelia thốt lên thanh kỳ quặc, nửa như mắt nghẹn, và giả vờ như bận rộn với mấy tấm phản quang. Venetia biết là con bé cố nén cười.

      “Tôi xin lỗi,” Rosalind đáp. ta nở nụ cười lạnh lùng và quan sát Amelia như thể mãi đến lúc ấy mới để ý thấy bé. “Tôi nhận ra là con bé này còn trẻ đến thế. Phải là, con bé dường như trong khá già dặn so với tuổi và thuần thục trong công việc.” ta lại quay sang Venetia. “ dạy bảo con bé kỹ càng. cho tôi biết xem nào, phu nhân Jones, học nghề này từ đâu thế?”

      Rosalind này vừa mới buông lời tuyên chiến đây.

      Venetia cố hết sức kiềm chế.

      “Nhiếp ảnh vừa là môn nghệ thuật và cũng là nghề nữa, biết mà nhỉ, phu nhân Fleming,” nàng nhàng đáp. “Bố tôi tặng tôi chiếc máy ảnh đầu tiên và chỉ dẫn cho tôi những kỹ thuật cơ bản chẳng bao lâu trước khi ông qua đời. Tôi may mắn có được người dì là nghệ sĩ tài hoa. Tôi học hỏi được rất nhiều từ dì tôi về cách bài trí bố cục lẫn cách sử dụng ánh sáng và bóng tối.”

      “Tôi nghĩ ngài Jones hẳn phải là ngạc nhiên lắm khi phát ra vợ mình tự thân gầy dựng nên cơ nghiệp nhiếp ảnh gia trong khi ông ấy mãi lang thang quanh vùng Viễn Tây vì chứng mất trí ấy nhỉ.”

      “Ngài Jones,” Venetia đáp bằng giọng bình thản, “là đức lang quân thuộc kiểu tân thời, tư tưởng rất cấp tiến.”

      vậy sao? Tôi biết rằng đời còn có thứ sinh vật gọi là đức lang quân thuộc kiểu tân thời cơ đấy.”

      Cánh cửa dẫn vào thư phòng bật mở. gia nhân mặc chế phục xuất .

      “Vâng, thư bà?”

      Rosalind khoa tay về chồng dụng cụ chụp ảnh lỉnh kỉnh. “Này Henry, có thể chuyển mớ thiết bị kia ra ngoài rồi đấy. Rồi hãy gọi cỗ xe cho phu nhân Jones và phụ tá đây.”

      “Vâng, thưa bà.”

      Henry cúi xuống nhặt chân máy. Venetia giơ tay che chiếc máy ảnh quý hóa của mình lại.

      “Tôi mang máy ảnh,” nàng bảo.

      “Vâng, thưa .”

      Khi chất đủ thứ lên mình, tay người hầu dợm bước ra cửa.

      “Còn điều này nữa Henry,” Rosalind chợt lên tiếng.

      Henry ngừng bước. “Vâng ạ, thưa bà?”

      “Ta biết là phu nhân Jones cùng em được đưa vào nhà qua cửa trước, nhưng phải đưa hai người họ ra ngoài bằng cửa sau, theo lối thường được đám giao hàng sử dụng ấy. chưa nào?”

      Mặt Henry sầm suống. “À, vâng, thưa bà.”

      Miệng Amelia há hốc vì kinh ngạc sững sờ. nhìn sang Venetia tìm chỉ thị.

      Venetia chịu đựng quá đủ rồi. “ thôi nào, Amelia.”

      Nàng cầm máy ảnh lên và ra phía cửa rời khỏi thư phòng. Amelia vơ lấy lọng hứng sáng và rối rít theo chân chị. Henry sau cùng.

      Gần đến cửa Venetia ngừng bước để cho Henry và Amelia qua nàng ra ngoài sảnh. Khi cả hai ra ngoài, nàng quay lại nhìn Rosalind.

      “Xin tạm biệt , phu nhân Fleming,” nàng . “ biết bức ảnh của như thế nào đây nhỉ. Những nhà phê bình ảnh của tôi bảo rằng tôi có khiếu nắm bắt được bản chất của người làm mẫu, như biết đấy.”

      Rosalind nhìn vào nàng theo cách con rắn độc ngắm nghía chú chuột con mà nó định vồ lấy nuốt chửng.

      “Tôi chỉ trông chờ điều toàn mỹ từ thôi đấy, phu nhân Jones ạ,” ta bảo.

      Venetia bình thản mỉm cười. “Tất nhiên rồi. Dẫu sao , tôi cũng là nghệ sĩ mà.”

      Nàng quay gót bước ra hành lang được chiếu sáng mờ mờ. Henry và Amelia đứng chờ, căng thẳng và nên làm thế nào.

      Venetia quả quyết rẽ sang phải tiến ra phía cửa trước. “Lối này này, Amelia. thôi nào, Henry.”

      “Xin lỗi ,” Henry khó nhọc thào. “Tôi xin lỗi, thưa , nhưng lối vào của người giao hàng ở đầu kia căn nhà cơ.”

      “Cảm ơn nhé, Henry, nhưng chúng tôi vội, mà theo lối cửa trước nhanh hơn nhiều,” Venetia bảo. “Chúng tôi quen đường rồi, thấy đấy.”

      Chẳng biết phải làm gì khác, Henry vô vọng lẽo đẽo theo sau nàng, lôi theo đống thiết bị.

      đến cuối hành lang dài, Venetia dừng lại quay nhìn dọc theo chiều dài u của hành lang. Rosalind, ràng nhận biết mệnh lệnh của mình được tuân thủ, từ trong thư phòng tiến ra. ta đứng trong bóng tối thâm u của lối được thắp sáng.

      nghĩ mình làm gì thế hử?” ta lên tiếng, môi mím chặt vì phẫn nộ.

      “Tất nhiên là ra về qua lối cửa trước rồi,” Venetia đáp. “Dẫu sao , chúng tôi cũng là những kẻ chuyện nghiệp mà.”

      Bất chợt nổi hứng, nàng tập trung nhìn hung đỗi, để cho nhãn lực mình lại trượt vào dải quang phổ kia. Thần khí của Rosalind ra trước mắt, nóng rực và liên tục di chuyển vì cường độ cơn phẫn nộ của ta.

      Ả ta chỉ giận dữ, Venetia thầm nghĩ. Ả ta căm ghét mình.

      “Có chuyện này nên biết đấy, phu nhân Fleming,” Venetia vừa vừa trở lại nhìn như bình thường. “Hiệu ảnh Jones chúng tôi rất tự hào về kỹ năng chỉnh sửa ảnh của mình. Này nhé, cả những người giản dị chất phác nhất cũng có thể được làm cho trở nên hấp dẫn cực kỳ trong ảnh đấy.” Nàng dừng lời để nhấn mạnh. “Quy trình ấy, dĩ nhiên, cũng có thể dễ dàng đảo ngược.”

      Đây là lời đe dọa ngạo mạn và cũng rất liều lĩnh. Nhưng nàng chưa bao giờ gặp người mẫu nào lại muốn được trở nên đẹp trong ảnh cả. Căn cứ vào sắc đẹp căng tràn và tính kiêu căng ra mặt của Rosalind, có vẻ là ngoa khi kết luận rằng ả ta rất căm ghét cái ý tưởng có bức ảnh xấu xí về mình, bất luận cảm xúc của ả ta đối với nhiếp ảnh gia có là thế nào nữa.

      Rosalind đanh người lại. “Nếu muốn cứ ra bằng cửa trước , phu nhân Jones. Làm thế cũng chẳng thay đổi được gì. chẳng qua chỉ là ả bán hàng nhanh trí, mưu mô, biết sử sụng những chiêu trò và ảo giác của thuật nhiếp ảnh để nắm bắt thú vui nhất thời của giai cấp cao quý hơn mà thôi. Nhưng rồi xã hội thượng lưu chóng chán ngấy và quay tìm thú vui ở nơi khác cho xem. Ai mà biết chứ? Có lẽ ngày nào đó, cả nữa, cũng buộc phải uống ly brandy pha xyanua sao?”

      đoạn quay ngoắt người quày quả bỏ vào trong thư phòng, sập cửa đánh sầm sau lưng mình.

      Venetia thở dốc, ý thức được rằng mình run lẩy bẩy. Nàng có thể cảm nhận được mồ hôi lạnh ngắt vã ra dưới lớp thân váy bó chẽn của mình. Nàng phải vận hết sức bình sinh để giữ vẻ mặt bình thản mà bước nốt quãng đường ra sảnh trước.

      Amelia và Henry đứng đấy chờ. hầu đứng bất động ngay cửa. ta trông bồn chồn hoang mang. Venetia nhoẻn miệng cười tươi với hầu khi này khuỵu gối chào mình.




      “Mở cửa giùm nhé, làm ơn,” nàng hoạt bát bảo.

      “Vâng ạ.” hầu phóng tới trước giật mở cánh cửa.

      Tay ôm khư khư chiếc máy ảnh, Venetia lướt qua cánh cửa mở bước ra ngoài mấy bậc cấp mặt tiền. Amelia theo sát sau lưng nàng.

      Henry ì ạch theo sau, chật vật mang vác bao dụng cụ chụp ảnh.

      cỗ xe cho thuê đứng phía cuối đường, cả người và ngựa đều thiu thiu gà gật. Henry huýt sáo ầm ĩ. Bác xà ích nghe thế liền ngồi bật thẳng dậy giật dây cương.

      Cỗ xe lóc cóc tạm dừng trước căn nhà phố. Henry chất dụng cụ lên xe, dìu cho Venetia và Amelia bước vào trong xe đoạn đóng cửa xe lại.

      Ô cửa sập trần xe mở ra. Bác xà ích nhìn xuống dò hỏi.

      “Làm ơn đến hiệu ảnh Jones phố Bracebridge,” Venetia bảo.

      ngay đây, thưa .”

      Ô cửa sập đóng lại.

      thoáng im lìm mong manh bên trong cỗ xe.

      Rồi Amelia phá lên cười khúc khích. bé cười hăng đến nỗi cuối cùng cũng phải chặn bàn tay đeo găng ngang miệng.

      “Em thể tin nổi những gì chị vừa làm ở chỗ đấy đâu,” rốt cuộc bé cũng thốt được nên lời.

      “Chị còn lựa chọn nào cả,” Venetia đáp. “Nếu chúng ta cho phép mình bị đuổi ra ngoài theo lối của những người giao hàng, những tổn thất cho việc kinh doanh của chúng ta thể nào khắc phục được. chỉ còn là vấn đề thời gian để tin tức truyền ra ngoài rằng chúng ta bị coi như đủ tư cách để cửa trước.”

      “Em biết chứ. Nhưng phải là, cái cách chị đe dọa nhờ dì Beatrice chỉnh sửa lại ảnh của phu nhân Fleming để khiến mụ ta mất xinh đòn thông minh tuyệt đỉnh đấy.”

      “Ta chỉ có thể hy vọng là dọa được thôi.”

      “Sao mà được chứ?” Amelia xòe rộng hai tay. “Kể cả nếu mụ ta từ chối nhận bức ảnh, mụ ta cũng biết rằng chúng ta vẫn giữ phim. Chúng ta muốn làm gì với nó cũng được, kể cả việc tạo ra bức chân dung chẳng ra gì để trưng tại cửa hiệu chúng ta cho mọi người cùng chiêm ngưỡng. Việc này gây ra tin động trời cho xem.”

      “Tiếc là chúng ta thể làm thế được. Chị chỉ dọa chơi thôi.”

      “Nghĩa là sao chứ? Sau cái cách mụ Fleming ấy chuyện với chị như thế là đáng kiếp mụ ta mà.”

      “Việc trả thù có lẽ làm ta hả dạ trong chốc lát,” Venetia bảo, “nhưng nó luôn quay lại ám lấy ta. Mà trong trường hợp này, việc trả thù đặc biệt rất nguy hại. Nếu chúng ta cho trưng tấm ảnh xấu xí về người ràng đương rất xinh đẹp như phu nhân Fleming kia, những khách hàng khác đắn đo trước khi mời chị chụp chân dung cho họ đấy.”

      “Vì họ sợ bị biến thành xấu đau xấu đớn chứ gì.” Amelia xụ mặt. “Vâng, em hiểu ý chị rồi. Vậy là thôi chẳng trả thù được nữa. Nhưng mà vẫn tiếc . Mụ Fleming ấy đáng bị đối xử thô lỗ như cái cách mụ ấy đối xử với chị.”

      Venetia nhìn ra ngoài đường phố. “Câu hỏi là, tại sao lại thế?”

      “Tại sao mụ ấy lại đối xử thô lỗ với chúng ta ấy à?”

      . Tại sao ả ta lại căm ghét chị? Chị nhìn thấy ả ta trong đám đông tại buổi triển lãm tối hôm trước nhưng mãi đến hôm nay chị và ả mới được giới thiệu với nhau. Chị làm gì để khiến ả phải ghét cay ghét đắng cơ chứ?”

                  Chương 23


      GABRIEL NGỒI CÙNG Venetia và dì Beatrice trong phòng khách nhìn xuống ngõ Sutton.

      bình cà phê to tướng được bác Trench dọn ra khiến chiếc bàn cạnh trường kỷ thêm lịch . Dì Beatrice, gọng kính trễ sống mũi, thoăn thoắt đưa những đường kim ngay ngắn thêu bông hồng màu vàng mảnh vải hình bầu dục căng phẳng phiu khung thêu.

      Venetia lơ đễnh nhấm nháp cà phê. ràng việc vừa kinh qua tại nhà Rosalind Fleming khiến nàng thấy run rẩy khó chịu. Nghề nhiếp ảnh chứa đựng số mối nguy hại đấy chứ nhỉ, Gabriel thầm nghĩ. Hiển nhiên trong những mối nguy ấy là việc những khách hàng quảng giao có thể hủy hoại danh tiếng của người ta chỉ bằng những lời buôn chuyện đầy ác ý.

      “Điều cháu tài nào hiểu được,” Venetia vừa hạ tách xuống vừa bảo, “là vì sao lúc đầu phu nhân Fleming lại đồng ý để cháu chụp ảnh cho chứ?”

      “Ta nghĩ chuyện ấy ràng quá rồi mà,” dì Beatrice đáp. Bà ngắm nghía bông hồng. “Ta nghĩ ta dùng chỉ vàng sậm để thêu phần trong của bông hoa vậy.”

      Gabriel nhướng mày nhìn Venetia. Nàng lắc đầu, khẽ, tỏ ý rằng cả nàng cũng bà dì mình có ý gì.

      Chàng hắng giọng. “Dì Sawyer này, ý dì muốn rằng phu nhân Fleming đồng ý để cho Venetia chụp ảnh cho mình vì đây là mốt thời thượng à?”

      , dĩ nhiên là phải thế rồi.” Dì Beatrice sục sạo trong túi kim chỉ, tìm kiếm chỉ màu vàng sậm. “Ở Luân Đôn này có kha khá nhiếp ảnh gia thời thượng khác đấy chứ. ràng Rosalind Fleming phải nhờ Venetia chụp chân dung vì ta còn lựa chọn nào khác.”

      “Dì thế là sao?” Gabriel hỏi lại ngay.

      Beatrice nhìn chàng qua vành kính. “Nhân tình nhân ngãi của ta, đức ngài Ackland ấy, mới là người muốn có bức ảnh, nếu cậu còn nhớ. Ông ta mới là người đặt chỗ cho buổi chụp và cũng là người thanh toán cho bức ảnh thành phẩm.”

      Cái tách tay Venetia sững lại giữa trung. Vẻ thấu hiểu đột ngột thoáng mặt nàng. “Vâng, chính thế rồi. Dì đúng , dì Beatrice ạ. Lẽ ra cháu phải nghĩ ra ngay từ đầu chứ nhỉ.”

      Gabriel nhìn nàng đoạn hướng chú ý vào dì Beatrice. “Dì Sawyer này, dì là phu nhân Fleming chịu ngồi chụp chân dung chỉ để làm vừa lòng người tình thôi ư?”

      “Ta ta chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm nhân tình mình hài lòng, cậu Jones à.” Dì Beatrice tìm thấy loại chỉ mình cần. “Có lẽ, là đàn ông, cậu hiểu được bản chất của mối quan hệ mà Rosalind Fleming vướng vào đâu.”

      “Mối liên hệ ấy có gì bí phức tạp cả.” Chàng nhún vai. “ ta là nhân tình của Ackland, theo như lời Harrow .”

      “Quả đúng vậy.” Bà Beatrice thở dài. “ người phụ nữ ở vị thế của phu nhân Fleming có thể vờ tỏ ra cho cả thế giới thấy rằng mình tự do ở mức nhất định mà phụ nữ kết hôn thể mơ được tận hưởng, nhưng thực phải như vậy. thực là, xét theo nhiều khía cạnh, ta cũng bị bó buộc tương tự và chắc chắn là còn dễ bị sở thích của quý ông móc hầu bao làm tổn thương hơn nhiều.”




      Venetia nhìn sang dì Beatrice với vẻ mặt bất chợt ngộ ra nhiều điều. “Hay cách khác, nếu đức ông Ackland cứ khăng khăng trả tiền chụp chân dung cho ta, ta chẳng còn lựa chọn nào khác là phải ngồi làm mẫu mà thôi.”

      “Muốn làm nhân tình thành công, người phụ nữ phải thông minh, duyên dáng và quyến rũ mọi lúc mọi nơi,” dì Beatrice . “Có thể ta tự phỉnh phờ rằng mình là người kiểm soát mối quan hệ, nhưng tận trong sâu thẳm luôn lẩn khuất nhận thức rằng nếu làm người tình của mình thỏa mãn bằng mọi cách, ta bị thay thế.”

      Gabriel nhướng mày. “Dì đưa ra quan điểm xuất sắc đấy, dì Sawyer ạ.”

      “Nhưng điều này giải thích cặn kẽ được vì sao phu nhân Fleming lại căm ghét cháu như xúc đất đổ thế,” Venetia bảo, hai mày chau lại. “Cứ cho là, có thể ta thấy khó chịu với việc phải bỏ thời gian đàn đúm của mình để mà ngồi làm mẫu . Cho dù là thế, phản ứng của ta hình như vẫn thái quá.”

      “Chẳng phải thái quá gì đâu nếu cháu suy xét đến khác biệt trong vị thế giữa ta và cháu,” dì Beatrice đáp. “ đúng ra, việc ta căm ghét cháu theo ta thấy là rất có cơ sở.”

      “Sao dì lại có thể như vậy được chứ?” Venetia chất vấn. “Cháu nào làm gì động chạm đến ta đâu.”

      Nụ cười mặt dì Beatrice là pha trộn kỳ lạ giữa vẻ thích thú giễu cợt lẫn coi thường. “Cháu thấy sao, cháu ? Cháu xúc phạm đến ta đơn giản chỉ bằng việc cháu là cháu, là người phụ nữ tự mình gây dựng nghiệp thành đạt, người cần phải phụ thuộc vào trợ cấp của đàn ông.”

      “Hứ.” Venetia vênh mặt. “Căn cứ vào quần áo lẫn trang sức và bài trí trong căn nhà phố ta, xét về mặt tài chính, bằng việc làm nhân tình cho Ackland ta kiếm chác hơn mức cháu có thể hy vọng kiếm được bằng nghề nhiếp ảnh của mình nhiều.”

      “Phải, nhưng ta cũng đối mặt với chuyện ngay ngày mai trắng tay nếu Ackland tính đến việc gạt ta sang bên để chiều nhân tình khác, phải nào?” dì Beatrice lặng lẽ . “Ngoài việc mất nguồn thu, ta mất cả thứ chắc chắn được ta coi trọng nhất.”

      Gabriel khoanh hai tay trước ngực. “Địa vị của ta trong xã hội thượng lưu.”

      Dì Beatrice gật gù. “Chính xác. Có vẻ là bản thân phu nhân Fleming sở hữu được bất cứ mối liên hệ huyết thống hay quan hệ xã hội quan trọng nào, và cũng chẳng có được nguồn thu nhập độc lập. Xã hội thượng lưu thấy ta đẹp đẽ và thú vị vì đức ngài Ackland thấy thế mà thôi. Nhưng nếu ông ta thích thú gì ta nữa, hay nếu ông ta cứ vô tư mà lăn ra chết ngay ngày mai, xã hội thượng lưu hắt hủi ta ngay lập tức. Hy vọng duy nhất của ta trong tình cảnh ấy là kiếm được quý ông khác có thể giữ lại địa vị cũ cho ta. Vả lại, thời gian luôn trôi nhanh đối với người phụ nữ theo nghiệp như phu nhân Fleming. Thanh xuân của ta đâu có quay trở lại, phải nào?”

      “Cháu nghĩ là thế.” Venetia trao cho Gabriel tia nhìn đăm chiêu. “Tuy nhiên, còn có điều khác khiến cháu thấy kỳ quặc. Phu nhân Fleming tốn khá nhiều thời gian để chế nhạo cháu về việc may khi chồng của cháu đội mồ sống lại quay về. Lại còn ít lời nhận xét khá thẳng thừng về chuyện làm góa phụ sung sướng hơn hẳn làm vợ nữa.”

      Gabriel nhướng mày. “Ta lòng hy vọng nàng định hạ sát ta thêm lần nữa, phu nhân Jones ạ. Theo lời cu cậu Edward ta hiểu là mình chỉ tránh được trong đường tơ kẽ tóc khỏi bị bọn giang hồ bắn chết hay bị đám ngựa hoang xéo giày trong phút cuối đời. May sao, ta còn sống sót được qua cú ngã xuống hẻm núi, nhưng nếu nàng dựng lên kế hoạch còn tàn nhẫn hơn, có thể ta gặp chút khó khăn để sống lại đấy.”

      Venetia đỏ mặt. Hàng chân mày thanh tú của nàng châu hẳn vào nhau. “ thế chẳng vui chút nào đâu, thưa ngài. Tiện thể luôn, tôi thông báo cho phu nhân Fleming biết rằng ngài là đức lang quân có suy nghĩ cấp tiến mang quan niệm khai sáng về hôn nhân đấy.”

      Gabriel Venetia phản ứng ra sao nếu nàng biết được chàng nghĩ nàng hoang dại nguyên thủy đến mức nào.

      Nàng nhăn mặt. “Tiếc là thông tin ấy chỉ làm cho ta thêm phẫn nộ mà thôi.”

      “Bởi vì cháu tỏ ra là tận hưởng những điều tốt đẹp nhất từ cả hai thế giới ấy mà, cháu ,” dì Beatrice lên tiếng. “Cháu được tự do và có nghiệp lẫn người chồng hề thấy khó chịu với cả hai điều kiện ấy.” Dì đột ngột đóng túi kim chỉ lại và đứng dậy. “Thôi, chuyện cũng rồi. may làm sao khi phu nhân Fleming lại căm ghét cháu đến thế đấy, Venetia à. Chúng ta chỉ có thể hy vọng là có hậu quả hay nào thôi.”

      Venetia cẩn thận đặt tách đĩa xuống. “Dì có nghĩ rằng cháu làm sai khi khăng khăng đòi qua cửa trước tại nhà phu nhân Fleming hôm nay vậy, dì Beatrice?”

      “Tuyệt đối .” Giọng dì Beatrice vương chút nghi ngờ. “Dì từng bảo cháu ngay ngày đầu khi cháu chọn nghiệp nhiếp ảnh gia rằng, nếu chỉ cần lần cháu để cho khách hàng đối xử với mình như phận hèn mọn, hiệu ảnh Jones đánh mất bản sắc ngay lập tức. Mà thôi, giờ ta phải trao đổi với bác Trench đây. Ta e là vì giờ đây chúng ta có thêm người đàn ông trong nhà, bác ấy cứ rối cả lên và quên béng việc chúng ta có ngân sách giới hạn cho thực phẩm.”

      “Là lỗi của tôi, dì Sawyer ạ.” Gabriel áy náy, mở cửa ra cho dì Beatrice. “Lẽ ra tôi phải nghĩ đến việc diện của mình tại đây gây phát sinh chi phí trong nhà. Lâu nay tôi cứ mải nghĩ đến những chuyện khác thôi. Xin dì yên tâm là tôi đóng góp vào ngân quỹ của nhà ngay trong chiều hôm nay thôi.”

      “Cậu được làm thế đâu nhé,” dì Beatrice bảo. “Cậu là khách và như thế có nghĩa cậu phải trả tiền phòng tiền ăn gì cả.”

      “Ồ, nhưng tôi nào phải là khách đâu chứ, thưa dì. Tôi biết chính mình buộc dì nhận tôi vào nhà. Tôi thanh toán toàn bộ chi phí ăn ở của mình.”

      “Nếu cậu cứ muốn như thế thôi vậy,” dì Beatrice đáp với vẻ phu nhân lưỡng lự ban ra đặc ân.

      “Tôi lòng muốn vậy mà, thưa dì.”

      Dì Beatrice đôn hậu mỉm cười với chàng và lướt ra khỏi phòng.

      Chỉ đến lúc ấy Gabriel mới nhận ra lời đề cập vô tình đến những gánh nặng mà chàng mang tới cho ngân sách gia đình hẳn chỉ là được vô tình nhắc đến như vẻ bề ngoài.

      Chàng khép cửa và quay mình lại bắt gặp nụ cười thấu hiểu nơi khóe miệng của Venetia.

      “Lẽ ra dì ấy chỉ cần hỏi thẳng ta về tiền là được rồi,” chàng lãnh đạm .

      Venetia lắc đầu. “ đời nào. Dì Beatrice kiêu hãnh lắm. Nhưng tôi có linh tính rằng sớm muộn rồi dì đề cập đến đề tài ngân quỹ gia đình thôi mà. Dì tôi làm quản gia biết bao nhiêu năm rồi. Đấy là nghề có tiếng là được trả lương bèo bọt, khiến cho người ta phải có ý thức cao độ về tình trạng tài chính.”

      Chàng đến cửa sổ đứng nhìn ra làn đường rợp bóng cây. “Việc phát ra ông Cleeton, kẻ làm ăn chung với bố nàng, cao chạy xa bay cùng món tiền đáng lý ra phải đến tay chị em nàng khi bố mẹ nàng qua đời chắc chắn gợi lại cho dì ấy những mối lo xưa cũ về tình trạng tài chính.”

      quãng lặng im ngay sau lưng chàng.

      “Edward kể cho ngài nghe về ông Cleeton ư?” cuối cùng nàng cất tiếng hỏi.

      “Phải. Cậu bé cũng cho ta hay bố nàng có hai vợ.”

      “Thế à.” Lại quãng lặng kéo dài. “Có vẻ như ngài và Edward trở nên khá thân thiết chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi dường ấy.”

      Chàng quay lại nhìn nàng. “Nàng được trách Edward vì thổ lộ hết với ta đâu đấy, Venetia. Edward cố ý tiết lộ thông tin bí mật nào cả. Chẳng qua theo cách hiểu của cậu bé với cương vị phu quân của nàng, ta giờ đây cũng là phần trong những bí mật của gia đình nàng thôi. Cậu bé nghĩ rằng ta là thành viên khác trong đoàn diễn viên của vở kịch mà mọi người trong nhà nàng trình diễn cách xuất sắc.”

      “Làm sao mà tôi có thể trách thằng bé được chứ?” Nàng thở dài. “Edward tội nghiệp. Chúng tôi đặt gánh nặng to lớn lên đôi vai nhoi của thằng bé. Tôi biết là có đôi lúc gánh nặng ấy đè thằng bé oằn mình.”

      “Nàng cũng như ta phải biết là những bí mật mà nàng bắt Edward giữ kín ấy cũng đến nỗi đáng sợ lắm đâu.”

      “Tôi cho là thế .” Miệng nàng mím lại. “Dì Beatrice kể cho tôi nghe vài câu chuyện từ thời dì còn làm quản gia mà nghe như ác mộng vậy. Dì ấy bảo trong vài gia đình được cho là danh giá từng thuê dì lại xảy ra những chuyện ghê gớm đến nỗi có đôi lần dì buộc phải bỏ việc.”

      “Ta có thể tin lắm chứ. cần thiết phải lo lắng đến Edward đâu. Thằng bé qua được gánh nặng ấy thôi mà. Nhưng còn trong lúc này, là khôn ngoan nếu ta để cho cậu bé có thêm chút tự do đấy. Edward có tỏ ý muốn được ra công viên thả diều và chơi cùng những đứa trẻ khác.”

      “Tôi biết chứ. Chúng tôi cũng cố gắng đưa thằng bé ra công viên chơi thường xuyên nhưng dì Beatrice lo rằng nếu Edward làm bạn với những thằng bé cùng tuổi vô tình tiết lộ về bố mất.”

      “Ta nghĩ gia đình nàng cần phải lo về điều này đâu. Mỗi gia đình đều có những bí mật mà đám trẻ con biết giữ kín đến khó tin đấy.”

      Venetia chớp chớp mắt như thể chàng vừa điều gì khiến nàng ngạc nhiên. Đôi mắt nàng thoáng nheo lại khiến Gabriel bắt đầu để ý.

      Chàng mỉm cười. “Nàng cố nhìn ra thần khí của ta đấy à?”

      Nàng đỏ mặt. “Ngài có thể biết được sao?”

      “Được. Nàng thắc mắc liệu có phải chính ta cũng có đôi ba bí mật gia đình chứ gì?”

      “Ý nghĩ ấy đúng là có loáng qua trí tôi .”

      “Câu trả lời là, tất nhiên, ta có chứ. Chẳng phải ai cũng có sao? Nhưng vì những bí mật của ta đưa ra mối đe dọa nào cho nàng hay cho gia đình nàng, ta tin là nàng cho phép ta giữ kín chúng.”

      Mặt Venetia còn ửng hồng hơn nữa. “Trời ạ, tôi nào có ý tọc mạch đâu.”

      , nàng có ý đấy, nhưng lúc này chúng ta cứ cho qua chuyện đó . Chúng ta còn có những rắc rối khác, cấp bách hơn nhiều.”

      “Mà trong những rắc rối ấy,” nàng vừa vừa trấn tĩnh lại, “có lẽ là phu nhân Fleming này đây.”

      Gabriel tựa bên vai vào tường và khoanh tay lại. “Ta nghĩ ả ta dám gây nhiều rắc rối cho nàng đâu. Chừng nào Ackland còn là kẻ ngưỡng mộ tài năng nghệ thuật của nàng ả ta dám. Có thể Ackland là lão già gàn dở đứng vững nhưng ông ta là nguồn tài chính của ả. Như dì nàng vừa mới chỉ ra kia, ai hiểu điều này hơn bản thân phu nhân Fleming.”

      “Ngài nhìn thấy những gì tôi thấy khi tôi nhìn ả ta qua ống kính máy ảnh chiều hôm nay đâu.”

      “Nàng nhìn ra thần khí của ả ta ư?”

      “Phải. Tôi kể cho dì Beatrice vì tôi biết như thế dì ấy chỉ thêm lo mà thôi, nhưng là, tôi nghĩ rằng cảm giác của phu nhân Fleming đối với tôi chỉ đơn thuần là ganh tị hay thậm chí là thích. Ả ta căm thù tôi. Cứ như thể ả ta tin rằng tôi chen vào giữa ả ta và thứ gì đó mà ả ta hết lòng ham muốn, như thể ả ta xem tôi như là mối đe dọa trực tiếp vậy. Chỉ có thể là hết sức vớ vẩn.”

      Gabriel cảm thấy ruột gan thít chặt lại. “Nàng càng giải thích phản ứng của ả cho ta nghe bao nhiêu, ta càng có khuynh hướng đồng ý với nàng bấy nhiêu. Có lẽ chúng ta nên thử tìm hiểu thêm chút ít về Rosalind Fleming. Dường như Harrow có vẻ rành rẽ quá khứ của ả ta lắm.”

      “Harrow biết nhiều chuyện về hầu như tất cả mọi người trong giới thượng lưu,” Venetia đáp với vẻ mặt bừng sáng. “Và với những thông tin mà ấy chưa biết, ấy biết cách tìm ra được chúng. Tôi gửi tin nhắn ngay cho ấy đây. Tôi chắc chắn ấy hỗ trợ tôi thôi.”

      “Tốt rồi.” Mình chỉ cần có thế thôi, Gabriel thầm nghĩ. Thêm nếp xoắn nữa trong cái mối bí vốn rối tinh lên rồi.

      Venetia nhìn chàng. “Ngài được tin gì từ ông Montrose chưa vậy?”

      “Ta đến gặp ông ấy khi nàng chụp ảnh cho phu nhân Fleming. Cũng giống như ta, ông ấy thể nhìn ra bất cứ điều gì hoặc bất thường hoặc có ý nghĩa ở danh sách các loài thảo dược nắp chiếc hòm sắt, hay trong kiểu dáng của chiếc lá cả. Vả lại, những cái tên mà ta thấy đáng quan tâm trong buổi triển lãm của ông Farley, bao gồm cả người tên Willows, đều tỏ ra là có khả năng làm nghi phạm vì lý do này hay lý do khác.”

      “Thế tiếp theo ngài làm gì?”

      “Ta cầu ông Montrose tập trung vào tên của những thành viên Hội Arcane qua đời trong những năm qua.”

      “Tại sao ngài lại quan tâm đến những hội viên qua đời làm gì?” nàng hỏi.

      “Hôm nay ta chợt ngộ ra rằng có lẽ kẻ ta săn đuổi còn là thành viên của hội nữa vì còn tồn tại giữa những người sống.”

      Venetia lặng . “Ý ngài là sao vậy?”

      “Ta giả mạo cái chết của chính mình vì ta muốn tạo ra nỗi hoang mang trong tâm trí đối thủ. Ngộ nhỡ cũng từng làm như ta sao?”

      “Tôi cảm nhận được thêm nhiều điều bí mật nữa rồi đấy, ngài Jones.”

      Gabriel mỉm cười. “Nhất định là nàng sở hữu sức mạnh tâm linh rồi, phu nhân Jones ạ.”

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :