1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

EM LÀM ƠN IM ĐI ĐƯỢC KHÔNG?

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      EM LÀM ƠN IM ĐƯỢC ?

      (Truyện ngắn)

      Tác giả: Raymond Carver

      Dịch giả: Lâm Vũ Thảo

      NXB: Văn Học

      Công ty phát hành: Nhã Nam

      Ngày xuất bản : 31/08/2012

      Nguồn: Hội ebook free

      BÉO
      Tôi ngồi uống cà phê hút thuốc ở nhà Rita bạn tôi và kể ấy nghe về chuyện đó.
      Chuyện tôi kể cho ấy như thế này.
      Hôm đó là chiều tối ngày thứ Tư đông khách, Herb dẫn lão béo ấy vào ngồi ở chỗ mấy bàn mình phục vụ.
      Lão béo này là người béo nhất mình từng nhìn thấy, mặc dù lão ăn mặc gọn gàng và khá chỉnh tề. Mọi thứ của lão đều to. Nhưng mình nhớ nhất các ngón tay. Khi dừng lại phục vụ cái cặp đứng tuổi cạnh bàn lão ngồi, mình để ý các ngón tay trước tiên. Trông chúng phải gấp ba lần cỡ ngón tay người bình thường - dài, mập, núc ních.
      Mình phục vụ mấy bàn khác nữa, nhóm bốn doanh nhân, đòi hỏi lắm, nhóm bốn khách khác, ba nam nữ, và cặp đứng tuổi đó. Leander đã rót nước cho lão béo, và mình để cho lão suy nghĩ chọn lựa lúc trước khi bước lại.
      Xin chào ông, mình nói. Ông chọn món chưa ạ? Mình nói.
      Rita này, lão ta to đùng. To lắm ấy.

      Xin chào, lão . Chào, ừ, lão . Mình nghĩ là bọn mình sẵn sàng gọi món rồi, lão .

      Lão ta có cái kiểu năng thế đấy - lạ lắm, cậu biết . Và lão còn thường xuyên phát ra những tiếng ợ nữa.

      Mình nghĩ bọn mình ăn món salad Caesar đầu tiên, lão . Rồi tô xúp, vui lòng cho thêm ít bánh mì và bơ nhé. Sườn cừu, mình nghĩ thế, lão . Và khoai tây nướng với kem chua. Bọn mình gọi tráng miệng sau. Cám ơn nhiều, lão , rồi đưa thực đơn cho mình.

      Chúa ôi, Rita, mấy ngón tay ấy là!

      Mình vội chạy vào bếp đưa tên món cho Rudy, ấy cầm lấy và nhăn mặt. Cậu biết Rudy đấy. ấy hay như thế khi làm việc.

      Lúc ra khỏi bếp Margo - mình với cậu về Margo chưa nhỉ? Cái con bé đeo Rudy ấy? Margo với mình, cái béo bạn cậu là ai thế? Lão thực béo chảy mỡ.

      Giờ đó là phần câu chuyện. Mình nghĩ đó thực phần câu chuyện.

      Mình trộn món salad ngay bàn lão, lão vừa quan sát từng động tác của mình vừa phết bơ lên những mẩu bánh mì rồi đặt sang bên, trong suốt thời gian đó lão ngừng phát ra những tiếng ợ. Và rồi, mình lúng túng quá hay sao ấy, mình làm đổ cốc nước của lão.

      Tôi xin lỗi, mình . Khi người ta vội chuyện này hay xảy ra. Tôi rất xin lỗi, mình . Ông có sao ? Tôi bảo cậu kia lau dọn ngay, mình .

      có gì, lão ấy bảo. sao đâu, lão , rồi lão ợ. Đừng lo, sao đâu, lão . Lão mỉm cười và vẫy tay khi mình kiếm Leander, khi mình quay lại phục vụ món salad, mình thấy lão ta chén sạch bánh mì và bơ.

      lát sau, lúc mình mang thêm bánh mì cho lão, lão xơi xong món salad. Cậu biết cái phần salad Caesar nhiều thế nào chứ?

      tốt lắm, lão . Bánh mì ngon tuyệt, lão bảo.

      Cám ơn ạ, mình .

      Ừm, ngon lắm, lão , bọn mình khen lòng. Bọn mình thường khoái bánh mì như thế này, lão bảo.

      Ông là người ở đâu ạ? mình hỏi lão. Tôi nghĩ là trước đây tôi chưa từng thấy ông, mình .

      Lão thuộc loại người cậu quên, Rita khúc khích chen vào.

      Denver, lão bảo. Mặc dù tò mò, mình gì thêm về đề tài ấy.

      Thưa ông, vài phút nữa món súp của ông sẽ xong, mình nói, và mình sang lo cho bàn bốn doanh nhân lắm đòi hỏi kia.

      Khi mang xúp đến, mình thấy bánh mì lại biến mất. Lão vừa cho miếng bánh mì cuối cùng vào mồm.

      Tin mình , lão bảo, phải lúc nào bọn mình cũng ăn khỏe thế này, lão bảo. Và ợ. Bỏ qua cho bọn mình, lão bảo.

      Xin đừng nghĩ gì về chuyện ấy, mình bảo. Tôi thích thấy người ta tận hưởng thú vui ăn uống, mình .

      Mình biết, lão bảo. Mình nghĩ thế. Và ợ. Lão gấp khăn ăn. Rồi lão cầm thìa lên.

      Chúa ơi, lão ta béo ú! Leander .

      Lão thể béo, mình , vậy nên im mồm .

      Mình đặt thêm rổ bánh mì và bơ xuống. Ông thấy món xúp thế nào ạ? Mình .

      Cám ơn. Ngon, lão . Rất ngon, lão nói. Lão lau môi và chắm cằm. thấy trong này có nóng , hay là tại mình thấy nóng thôi? lão hỏi.

      , trong đây nóng đấy ạ, mình nói.

      Có lẽ bọn mình bỏ bớt áo khoác, lão nói.

      Xin cứ tự nhiên, mình nói. Người ta phải thoải mái chứ, mình nói.

      Đúng thế, lão nói, rất, rất đúng, lão nói.

      Nhưng lúc sau mình thấy lão vẫn mặc áo khoác.

      Mấy bàn tiệc lớn của mình về hết và cặp đứng tuổi cũng vậy. Quán thưa dần. Đến lúc mình mang món sườn cừu và khoai tây nướng cùng bánh mì và bơ thêm, lão là người khách duy nhất còn lại.

      Mình bóp nhiều kem chua vào khoai tây của lão. Mình rắc thịt muối và rau thơm lên kem chua. Mình mang thêm bánh mì và bơ cho lão.

      Mọi thứ ổn ạ? mình hỏi.

      Tốt, lão , và ợ. Tuyệt vời, cảm ơn, lão , và lại ợ.

      Chúc ông ngon miệng, mình . Mình nhấc nắp lọ đường của lão nhìn vào. Lão gật đầu, cứ nhìn mình cho đến lúc mình khỏi.

      Giờ mình biết mình theo dõi cái gì đó. Nhưng mình biết là cái gì.
      Lão béo ị ăn uống thế nào rồi? Lão ấy làm cậu gãy giò mất, Harriet . Cậu biết Harriet đấy.

      Còn món tráng miệng, mình với lão béo, có món Green Lantern Đặc biệt, tức là bánh pudding và xốt hoặc bánh cheesecake, kem va ni, hoặc táo xay đông lạnh.

      Bọn mình làm các bạn muộn, phải ? lão , ợ, trông có vẻ ngần ngại.

      đâu ạ, mình . Dĩ nhiên là , mình . Ông cứ từ tốn, mình . Tôi mang thêm cà phê cho ông trong lúc ông chọn tráng miệng.

      Bọn mình với , lão . Và lão nhúc nhích ghế. Bọn mình muốn gọi món Đặc biệt, mà mình cũng có thể gọi đĩa kem va ni nữa. Vui lòng cho thêm vài giọt xi rô sô la. Bọn mình vói là bọn mình đói, lão bảo.

      Mình vào bếp tự tay làm món tráng miệng cho lão, và Rudy , Harriet em phục vụ lão béo ở gánh xiếc ngoài đó. Đúng ?

      Rudy cởi mũ và tạp dề, cậu hiểu ý mình đấy.

      Rudy, lão ấy béo, nhưng đó phải là tất cả.

      Rudy chỉ cười.

      Có vẻ nàng ưa chiều chuộng những phường béo ị, ấy .

      năng cẩn thận, Rudy, Joanne lúc đó vừa bước vào bếp liền .

      Mình ghen đấy, Rudy với Joanne.

      Mình đặt món Đặc biệt trước mặt lão béo và một tô kem va ni to có xi rô sô la bên.
      Cám ơn, lão .

      có gì ạ, mình - và cảm giác dâng lên trong mình.

      Tin hay tùy, lão , phải lúc nào bọn mình cũng ăn thế này.

      Còn tôi, tôi ăn luôn mồm nhung chẳng tăng cân, mình . Tôi muốn tăng cân, mình .

      Đừng, lão . Nếu ta có lựa chọn, đừng. Nhưng chẳng có lựa chọn nào.

      Rồi lão cầm thìa lên ăn.

      Gì nữa? Rita , đốt điếu thuốc của tôi và kéo ghế sát lại bàn. Chuyện này trở nên thú vị đây, Rita .

      Chỉ vậy thôi. có gì nữa. Lão chén món tráng miệng, xong về, rồi bọn mình, Rudy và mình, về nhà.

      Quả là lão béo, Rudy , rướn người như vẫn làm những khi mệt. Rồi ấy chỉ cười và tiếp tục xem ti vi.

      Mình nấu nước để pha trà và tắm. Mình đặt tay lên bụng, băn khoăn tự hỏi điều gì xảy ra nếu mình có con và trong những đứa con của mình thành ra như thế, béo.

      Mình rót nước ra bình, sắp cốc, lọ đường, sữa ít béo, mang khay ra cho Rudy. Như thể nghĩ ngợi về chuyện ấy, Rudy , khi còn , từng biết gã béo, vài gã béo, béo béo. Bọn họ là những thùng tô nô, Chúa ạ. nhớ tên họ. Béo, đó là cái tên duy nhất của thằng bé ấy. Bọn gọi nó là Béo, thằng bé cạnh nhà . Nó là hàng xóm. Sau đó thằng bé khác dọn đến. Tên nó là Sậy. Ai cũng gọi nó là Sậy trừ các giáo viên. Sậy và Béo. Ước gì có hình chúng, Rudy .

      Mình chả nghĩ ra gì để , nên bọn mình uống trà rồi chốc sau mình đứng dậy ngủ. Rudy cũng đứng dậy, tắt ti vi, khóa cửa trước, và bắt đầu cởi quần áo.

      Mình vào giường, lăn hẳn sang mép và nằm sấp ở đó. Nhưng lập tức, ngay khi tắt đèn xong và lên giường, Rudy bắt đầu. Mình nằm ngửa ra thư giãn chút, cho dù mình muốn lắm. Nhưng chuyện là thế này. Khi ấy trèo lên người mình, đột nhiên mình cảm thấy mình béo ra. Mình cảm thấy mình béo kinh khủng, béo đến nỗi Rudy chỉ là vật bé tí và gần như có gì cả ở đó.

      Chuyện buồn cười nhỉ, Rita , nhưng tôi có thể thấy là ấy chẳng biết bình luận gì.
      Tôi thấy chán chường. Nhưng tôi sẽ chia sẻ với ấy. Tôi kể ấy nghe quá nhiều.

      ngồi đó đợi, những ngón tay nuột nà nghịch tóc.

      Đợi gì? Tôi muốn biết.

      là tháng Tám.

      Đời tôi bắt đầu thay đổi. Tôi cảm thấy điều đó.
      HÀNG XÓM
      Bill và Arlene Miller là một cặp hạnh phúc. Nhưng đôi khi họ cảm thấy so với bạn bè họ chẳng hưởng thụ cuộc sống mấy, Bill cứ chuyên chú công việc kế toán còn Arlene bận rộn với những việc thư ký thường nhật. Có lúc họ bàn về chuyện này, chủ yếu là so sánh với cuộc sống nhà hàng xóm, vợ chồng Harriet và Jim Stone. Đối với vợ chồng Miller, nhà Stone có vẻ có cuộc sống đủ đầy và tươi sáng hơn. Vợ chồng Stone luôn luôn ăn tối ở tiệm, hoặc giải trí tại nhà, hoặc du lịch đó đây nhân những dịp Jim công tác.
      Vợ chồng Stone ở căn hộ đối diện với nhà Miller. Jim là nhân viên bán hàng cho công ty linh kiện máy móc và thường xoay xở kết hợp những chuyến công tác với du lịch, và dịp này vợ chồng Stone xa mười ngày, đầu tiên Cheyenne, rồi tới St Louis thăm viếng họ hàng. Khi họ vắng, vợ chồng Miller trông nhà hộ họ, cho con Kitty ăn, và tưới cây cảnh.
      Bill và Jim bắt tay nhau phía sau xe. Harriet và Arlene khoác tay nhau và hôn phớt môi.
      " chơi vui nhé," Bill với Harriet.
      "Vâng," Hairiet . "Các cậu cũng vui vẻ nhé."
      Arlene gật đầu.
      Jim nháy mắt với chị. "Chào, Arlene. Nhớ chăm sóc bạn già chu đáo."
      "Dĩ nhiên," Arlene .
      " chơi vui nhé," Bill .
      "Tất nhiên rồi," Jim , huých cánh tay Bill. "Và cám ơn các cậu lần nữa nhé."
      Vợ chồng Stone vẫy tay chào khi họ lái xe , nhà Miller cũng vẫy chào lại.
      "Hừm, ước gì đó là mình," Bill .
      "Biết đâu đấy, mình có thể nghỉ phép mà," Arlene . Chị cầm cánh tay đặt vòng quanh eo mình khi họ leo những bậc thang về lại căn hộ.
      Ăn tối xong Arlene bảo, "Đừng quên. Đêm đầu tiên Kitty ăn đồ có vị gan." Chị đứng ở lối vào nhà bếp gấp cái khăn trải bàn may tay Harriet mua ở Santa Fe về cho chị hồi năm ngoái.

      Bill hít hơi dài khi bước vào căn hộ nhà Stone. khí đặc quánh và nhang nhác ngọt. Cái đồng hồ hình mặt trời tỏa sáng phía ti vi chỉ , tám giờ rưỡi. nhớ hôm Harriett mang cái đồng hồ này vê, băng qua hành lang để khoe nó với Arlene, nâng niu cái vỏ bằng đồng thau tay và chuyện với nó qua lớp khăn giấy như thể nó là em bé sơ sinh.
      Kitty cọ mặt vào dép rồi nằm kềnh ra nhưng lại vội nhảy lên khi Bill vào bếp chọn trong những cái hộp xếp cái kệ gác đĩa sáng bóng. Để mặc con mèo nhẻ ăn, vào nhà tắm. nhìn mình trong gương, nhắm mắt, rồi lại nhìn. mở tủ thuốc. thấy hộp thuốc nhãn có ghi - Harriet Stone. Mỗi ngày viên theo chỉ dẫn - liền luồn nó vào túi. quay lại bếp, lấy bình nước, trở lại phòng khách. tưới cây xong, đặt bình thảm, mở tủ rượu. thò tay vào lôi chai Chivas Regal từ phía sau ra. uống hai ngụm thẳng từ chai, chùi mép vào tay áo, rồi để cái chai lại vào tủ.
      Kitty nằm ngủ sofa. tắt đèn, chậm rãi đóng và kiểm tra cửa. có cảm giác như để quên cái gi,
      làm gì lâu thế?” Arlene . Chị ngồi xếp hình, xem ti vi.
      “Đâu làm gì. Chơi với con Kitty thôi,” , bước lại thò tay lên ngực chị.
      “Vào giường nào, em,” .
      Ngày hôm sau Bill chỉ nghỉ trưa mười phút thay vì hai mươi phút và về lúc năm giờ kém mười lăm. đậu xe vão bãi ngay khi Arlene vừa xuống xe buýt. đợi chị bước vào tòa nhà rồi liền chạy lên thang để đón khi chị vừa ra khỏi thang máy.
      “Bill! Chúa ơi, làm em hết hồn. về sớm thế,” chị .
      nhún vai. “Ở sở chẳng có việc gì,” .
      Chị để mở cửa bằng chìa khóa của chị. nhìn cánh cửa bên kia hành lang trước khi theo chị vào nhà.
      “Mình vào giường ,” .
      “Bây giờ á?” Chị bật cười. “ ăn phải cái gì đấy?”
      gì hết. Em cởi váy ra.” tóm lấy chị, điệu bộ kỳ cục, và chị , “Chúa ơi, Bill.”
      cởi thắt lưng.
      Chốc sau họ gọi đồ ăn Tàu, và khi đồ ăn được giao họ ăn ngấu nghiến, chẳng chẳng rằng, chỉ nghe nhạc.
      “Đừng quên cho con Kitty ăn,” chị .
      cũng vừa nghĩ đến,” . “ qua bên đó ngay.”

      chọn hộp thức ăn vị cá cho con mèo, rồi lấy đầy bình nước tưới cây. Khi quay lại bếp, con mèo cào cào cái vỏ thùng dùng làm ổ cho nó. Nó nhìn chăm chú trước khi quay lại nằm vào ổ. mở tủ chén ngó nghiêng chỗ đồ hộp, ngũ cốc, thức ăn đóng gói, ly uống rượu, ly uống cocktail đồ sứ, bình và chảo. mở tủ lạnh. ngửi nhánh cần tây, cắn hai miếng pho mát cheddar, vừa nhai quả táo vừa vào phòng ngủ. Cái giường trông vĩ đại, có khăn trải giường trắng bồng bềnh phủ xuống tận sàn. kéo ngăn tủ đầu giường, thấy nửa gói thuốc lá bèn nhét nó vào túi. Rồi bước lại tủ quần áo và khi mở tủ nghe tiếng gõ cửa phía trước.
      tạt qua buồng tắm giật nước.
      làm gì lâu thế?” Arlene . “ ở đây hơn tiếng đồng hồ.”
      thế à?” .
      ,” chị .
      phải toa lét.”
      “Ở nhà mình cũng có toa lét,” chị .
      nín được,” .
      Đêm đó họ lại làm tình.

      Sáng hôm sau bảo Arlene gọi đến sở báo ốm. tắm, mặc quần áo, chuẩn bị bữa sáng . cố bắt đầu cuốn sách. ra ngoài bộ lúc và thấy dễ chịu hơn. Nhưng được lúc, hai tay vẫn đút túi, quay về căn hộ. dừng lại trước cửa nhà Stone thử nghe có tiếng con mèo lại trong nhà . Rồi vào nhà mình, vô bếp tìm chìa khóa.
      Bên trong căn hộ nhà Stone có vẻ mát hơn căn hộ nhà , và cũng tối hơn. mấy chậu cây cảnh có liên quan gì đến nhiệt độ khí . nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi chậm rãi rảo qua từng căn phòng, ngắm nghía mọi thứ rơi vào tầm mắt, cách cẩn thận, từng cái . thấy nhũng cái gạt tàn, đồ gỗ, đồ làm bếp, cái đồng hồ. thấy mọi thứ. Cuối cùng vào phòng ngủ, con mèo xuất dưới chân . vuốt nó cái, mang nó vào phòng tắm, rồi đóng cửa.
      ngả ra giường ngó trần nhà chằm chằm. nằm nhắm mắt lúc, rồi thò tay xuống dưới thắt lung. cố nhớ hôm đó là thứ mấy. cố nhớ khi nào gia đình nhà Stone trở về, và rồi băn khoăn liệu họ có bao giờ trở về. thể nhớ ra gương mặt họ hay cách họ năng ăn mặc. thở dài, gượng lăn khỏi giường để nhoài người qua bàn trang điểm nhìn mình trong gương.
      mở tủ quần áo chọn cái sơ mi kiểu Hawaii. tìm cho đến khi thấy cái quần lửng ủi gọn gàng mắc bên ngoài cái quần tây vải chéo màu nâu. cởi tung quần áo của mình rồi xỏ cái quần soóc và cái sơ mi vào. lại nhìn mình trong gương. vào phòng khách rót cho mình ly và uống ngụm đường quay lại phòng ngủ. xỏ vào người cái sơ mi xanh dương, vest sẫm màu, cái cà vạt xanh trắng, và đôi giày đen mũi nhọn. Ly rượu cạn nên rót ly nữa.
      Quay lại trong phòng ngủ, ngồi tréo chân ghế, mỉm cười, quan sát mình trong gương. Điện thoại đổ chuông hai lần rồi chìm vào im lặng. uống cạn ly rồi cởi bộ vest. lục lọi những ngăn kéo phía cao cho đến khi tìm thấy cái quần lót và cái áo ngực. mặc cái quần lót vào và gài khóa áo ngực, rồi lục trong tủ tìm bộ mặc ngoài. xỏ cái váy ca rô trắng đen và có kéo dây kéo lên. xỏ cái áo màu huyết dụ cài nút phía trước. ngắm nghía những đôi giày của Harriet, nhưng biết chúng vừa. Từ sau màn cửa sổ phòng khách đứng nhìn ra lúc lâu. Rồi quay lại phòng ngủ và cất mọi thứ .

      đói. Chị cũng chẳng ăn nhiều. Họ nhìn nhau ngượng ngùng mỉm cười. Chị đứng lên, ngó xem cái chìa khóa có ở kệ rồi nhanh chóng dọn đĩa.
      đứng ở cửa bếp, hút điếu thuốc ngắm chị cầm chìa khóa lên.
      “Em sang bên kia, nghỉ ngơi nhé,” chị . “Đọc báo hay gì đấy.” Chị nắm lấy chìa khóa. Chị trông có vẻ mệt.
      cố tập trung vào tin tức. đọc báo và mở ti vi. Cuối cùng băng sang bên kia hành lang. Cửa đóng.
      đây. Em vẫn còn đấy chứ, em?” gọi.
      Mãi lúc sau cửa mới mở, Arlene bước ra và đóng cửa. “Em có lâu ?” chị .
      “Ừm, lâu,” .
      “Thế à?” chị . “Chắc là do em mải chơi với Kitty.”
      ngắm chị, chị nhìn lảng , tay vẫn còn để nắm đấm cửa.
      “Buồn cười ,” chị . “ biết đấy – vào chỗ của người khác như thế.”
      gật, nhấc tay chị khỏi nắm đấm cửa, đưa chị về phía cửa nhà mình. đưa chị vào căn hộ của họ.
      là buồn cười,” .
      để ý xơ vải trắng còn bám phía sau áo vợ và má chị hơi đậm màu. bắt đầu hôn cổ và tóc vợ và chị cũng xoay sang hôn đáp chồng.
      “Ôi, trời ơi,” chị . “Trời ơi, trời ơi,” chị reo lên, vỗ tay như con . “Em mới nhớ ra. Em quên bẵng làm cái việc em định làm ở bên ấy. Em cho con Kitty ăn mà cũng chẳng tưới cây.” Chị nhìn . “Thế có ngớ ngẩn ?”
      nghĩ là ,” . “Đợi phút. lấy thuốc lá và quay lại bên đó cùng với em.”
      Chị đợi đóng và khóa cửa căn hộ của họ, rồi chị nắm bắp tay , “Chắc em nên kể với . Em tìm thấy mấy tấm ảnh.”
      dừng lại giữa hành lang. “Ảnh gì?”
      có thể tự xem lấy,” chị , và chị ngắm .
      đùa đấy chứ.” cười toét. “Ở đâu?”
      “Trong ngăn kéo,” chị .
      đùa đấy,” .
      Và rồi chị , “Có thể họ trở về,” và ngay lập tức kinh ngạc về lời của mình.
      “Chuyện đó có thể xảy ra,” . “Chuyện gì cũng có thể xảy ra.”
      “Hoặc có thể họ trở về và...” nhưng chị hết câu.
      Họ nắm tay nhau khi qua hành lang, và khi chị hầu như nghe giọng của .
      “Cái chìa khóa,” . “Đưa cho .”
      “Cái gì?” chị . Chị nhìn cánh cửa chằm chằm.
      “Cái chìa khóa,” . “Em giữ chìa khóa.”
      “Chúa ơi,” chị . “Em để quên chìa khóa bên trong rồi.”
      thử vặn tay nắm cửa. Nó bị khóa. Rồi chị thử vặn tay nắm cửa. Nó xoay. Môi chị hé ra, hơi thở chị nặng nề, chờ đợi. dang tay và chị ngã người vào.
      “Đừng lo,” vào tai vợ. “Vì Chúa, đừng lo.”
      Họ đứng đó. Họ ôm nhau. Họ tì vào cánh cửa như thể chống chọi luồng gió, căng mình ra.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      HỌ ĐÂU PHẢI CHỒNG EM


      Earl Ober là nhân viên bán hàng còn tìm việc mới. Nhưng Doreen, vợ , làm hầu bàn ca đêm tại quán cà phê mở cửa hai mươi bốn giờ ven thị trấn. tối uống rượu về, Earl quyết định ghé ngang quán cà phê kiếm chút gì bỏ bụng. muốn xem chỗ làm của Doreen, và cũng muốn xem thử có xơi chùa được món gì .

      ngồi ở quầy ngắm nghía thực đơn.

      đến đây làm gì?” Doreen khi thấy ngồi đó.

      Chị đưa phiếu gọi món cho đầu bếp. “ định gọi gì đấy, Earl?” Chị hỏi. “Con ổn chứ?”

      “Con bình thường.” Earl . “Cho cà phê và cái sandwich số 2.”

      Chị ghi lại.

      “Này, em, liệu có gì ?” với chị và nháy mắt.

      ,” chị . “Đừng chuyện với em bây giờ. Em bận.”

      Earl uống cà phê và ngồi đợi sandwich. Có hai người mặc đồ làm, cà vạt nới ra, cổ áo để mở, ngồi xuống kế và gọi cà phê. Khi Doreen mang bình cà phê rồi, người với người kia: “Trông cái mông kia. Tớ thể tin nổi.”

      Người kia bật cười: “Tớ từng thấy những cái oách hơn.”

      ý tớ là thế,” người thứ nhất . “Nhưng có những thằng hề lại thích béo.”

      phải tớ.” Người kia .

      “Cũng phải tớ.” Người thứ nhất . “Là tớ thế.”

      Doreen đặt cái sandwich trước mặt Earl. Xung quanh cái sandwich là khoai tây chiên, xà lách và dưa chuột muối với thìa là.

      “Thêm gì nữa ?” Chị hỏi. “ ly sữa?”

      gì. lắc đầu khi chị cứ đứng đó.

      “Để em lấy thêm cà phê cho .” Chị .

      Chị mang bình cà phê lại, rót cho và hai người kia. Rồi chị lấy cái đĩa và xoay người lấy kem. Chị cúi xuống tủ kem dùng cái gắp để nạo kem. Cái váy trắng bó chặt hông chị , trượt lên phía chân. Để lộ ra là cái quần lót bó đùi màu hồng, cặp đùi nhăn nheo, xám, lưa thưa lông và những mạch máu chạy tán loạn.

      Hai người ngồi cạnh Earl nhìn nhau. người nhướng mày. Người kia cười nhăn nhở nhìn Doreen qua tách cà phê trong lúc chị rưới sô la lỏng lên kem. Khi chị bắt đầu lắc lắc cái bình kem tươi, Earl đứng dậy, bỏ đồ ăn lại và bước thẳng ra cửa. nghe  chị gọi tên, nhưng vẫn bỏ .

      liếc mắt qua lũ trẻ rồi sang phòng bên kia cởi quần áo. kéo chăn, nhắm mắt và thả mình nghĩ ngợi. Cái cảm giác kia khởi đầu từ mặt, lần xuống bụng rồi chân. mở mắt lăn đầu qua lại gối. Rồi nằm nghiêng và thiếp .

      Sáng hôm sau, khi tiễn bọn trẻ tới trường, Doreen vào phòng ngủ kéo màn cửa lên. Earl thức dậy.

      “Nhìn mình trong gương .” .

      “Gì cơ?” Chị . “ cái gì?”

      “Cứ nhìn mình trong gương ,”

      “Em phải thấy cái gì?” Chị hỏi. Nhưng rồi chị nhìn vào gương qua cái bàn trang điểm và hất tóc khỏi vai.

      “Ừm?” .

      “Ừm, cái gì?” Chị hỏi.

      ghét phải điều này,” Earl ,  “Nhưng nghĩ tốt hơn là em nên suy nghĩ về chuyện ăn kiêng. . Nghiêm túc đấy. nghĩ em có khả năng giảm được vài cân. Đừng cáu.”

      cái gì đấy?” Chị hỏi.

      “Cái vừa . nghĩ em có khả năng giảm được vài cân. Ít ra cũng vài cân.”

      “Trước đây chưa bao giờ gì.” Chị . Chị nâng áo ngủ lên quá hông à xoay lại nhìn bụng mình trong gương.

      “Trước đây thấy đó là vấn đề.” . cố lựa lời.

      Cái váy ngủ vẫn nằm lửng quanh hông, Doreen xoay lưng lại gương và nhìn qua vai. Chị lấy tay nâng bên mông lên rồi thả ra.

      nhắm mắt. “Có lẽ nghĩ vớ vẩn.” .

      “Chắc em có thể giảm cân được. Nhưng khó đấy.” Chị .

      “Em đúng, dễ dàng.” . “Chắc chắn là dễ. Nhưng giúp em.”

      “Có lẽ đúng.” Chị . Chị buông váy ngủ xuống, nhìn rồi cởi váy ra.

      Họ bàn về chuyện ăn kiêng. Họ bàn việc ăn kiêng chất đạm, ăn kiêng chỉ dùng rau và ăn kiêng bằng nho vắt. Nhưng họ quyết định họ có đủ tiền để mua loại bít tết cần cho việc ăn kiêng chất đạm. Và Doreen chị thích ăn rau nhiều như thế. Và vì chị cũng thích nho vắt cho lắm, chị cũng thể tưởng tượng nổi làm thế nào có thể ăn kiêng theo kiểu ấy.

      “Thôi, quên chuyện đó .” .

      , đúng,” chị . “Em làm cái gì đó.”

      “Thế còn tập thể dục sao?” .

      “Em tập thể dục ở chỗ làm là đủ lắm rồi,” Chị .

      nhịn ăn vậy,” . “Thử vài ngày xem sao.”

      “Cũng được,” Chị . “Em cố. Em cố trong vài ngày. thuyết phục được em.”

      làm người giám sát,” Earl .

      kiểm tra họ còn bao nhiêu tiền trong tài khoản, rồi phóng xe đến cửa hàng bán đồ giảm giá mua cái cân sức khỏe. theo dõi bán hàng lúc tính tiền.

      Về nhà bắt Doreen cởi hết quần áo ra trèo lên cân. cau mày khi nhìn thấy những mạch máu. lấy ngón tay lần theo đường chạy lên phía đùi.

      làm cái gì vậy?” Chị hỏi.

      có gì,” .

      nhìn vào cân và ghi con số lại tờ giấy.

      “Được rồi,” Earl bảo. “Được rồi.”

      Gần hết cả buổi chiều hôm sau phỏng vấn. Ông chủ, người to kềnh càng khập khiễng dẫn Earl xem hệ thống ống nước trong nhà kho, hỏi Earl có rảnh để công tác .

      “Tất nhiên tôi rảnh,” Earl .

      Ông ta gật đầu.

      Earl mỉm cười.

      nghe tiếng ti vi trước khi mở cửa bước vào nhà. Bọn trẻ ngẩng đầu lên khi ngang phòng khách. Trong bếp, Doreen mặc đồ làm, ăn trứng tráng và thịt muối.

      “Em làm cái gì đấy?” Earl .

      Chị tiếp tục nhai đồ ăn, hai má căng phồng. Nhưng rồi chị nhè mọi thứ vào cái khăn ăn.

      “Em thể chịu được.” Chị .

      “Dở hơi,”   . “Tiếp tục ăn . Ăn tiếp .”

      vào phòng, đóng cửa, nằm vật lên đống chăn. vẫn nghe tiếng tivi. gối đầu lên tay chằm chằm nhìn trần nhà.

      Chị mở cửa. “Em cố lần nữa,” chị .

      “OK,” .

      Hai hôm sau chị gọi vào phòng tắm. “Xem này,” chị bảo.

      nhìn con số cân. mở ngăn kéo lấy tờ giấy ra, nhìn con số cân lần nữa trong lúc chị ngoác miệng cười.

      “Gần nửa cân,” chị .

      “Giảm được chút rồi đó,” và vỗ hông vợ.

      đọc rao vặt báo. đến văn phòng tìm việc của nhà nước. Ba hay bốn ngày lần lái xe đến chỗ nào đó để dự phỏng vấn, và buổi tối ngồi đếm tiền boa của chị. vuốt những tờ đô la lại cho phẳng phiu và xếp những đồng năm xu, mười xu và đồng hai lăm xu thành từng chồng đô la. cân chị mỗi buổi sáng.

      Trong vòng hai tuần chị sụt cân rưỡi.

      “Em có ăn chút,” chị bảo. “Em nhịn cả ngày, rồi tối ăn chút ở chỗ làm. Để bù.”

      Nhưng tuần sau chị giảm hơn hai cân. Tuần sau nữa, giảm bốn cân. Quần áo chị thùng thình. Chị phải lấy phần tiền thuê nhà để mua đồng phục mới.

      “Mọi người xôn xao ở chỗ làm,” chị bảo .

      “Xôn xao cái gì?” .

      “Rằng là em xanh xao quá,” chị . “Là em còn giống chính mình. Mọi người lo em giảm cân nhiều quá.”

      “Giảm cân sao?” . “Đừng để ý đến họ. Bảo họ lo chuyện của mình . Họ đâu phải chồng em. Em đâu có ở với mấy người đó.”

      “Nhưng em phải làm việc với người ta,” chị .

      “Đúng vậy,” . “Nhưng họ phải là chồng em.”

      Mỗi buổi sáng theo vợ vào buồng tắm và chờ chị bước lên cân. lồm cồm với cây bút chì và tờ giấy. Tờ giấy ghi đầy những thứ, ngày và con số. đọc con số cân, đối chiếu với tờ giấy, rồi gật đầu hoặc bặm môi.

      Dạo này Doreen ngủ nhiều hơn. Chị ngủ sau khi bọn trẻ học, chị ngủ thêm vào buổi chiều trước khi làm. Earl làm việc nhà, xem ti vi, để yên cho chị ngủ. chợ, thỉnh thoảng lại phỏng vấn.

      đêm cho bọn trẻ ngủ, tắt ti vi rồi quyết định làm tý rượu. Khi bar đóng cửa, lái xe sang quán cà phê.

      ngồi ở quầy đợi. Khi trông thấy , chị hỏi: “Con ổn chứ?”

      Earl gật đầu.

      nhẩn nha chọn món. dõi theo vợ tới lui sau quầy. Cuối cùng gọi cái burger pho mát. Chị đưa phiếu gọi món cho đầu bếp và quay ra phục vụ người khác.

      phục vụ khác mang bình cà phê đến rót vào cốc của Earl.

      “Bạn tên gì ấy nhỉ?” hỏi phục vụ và hất đầu về phía vợ mình.

      “Chị ấy tên là Doreen,” phục vụ .

      “Trông ấy khác nhiều  so với lần cuối cùng tôi ghé qua đây,” .

      “Em để ý,” phục vụ .

      ăn cái burger pho mát và uống cà phê. Hết người này đến người khác thay phiên nhau ngồi xuống đứng lên ở quầy. Vợ phục vụ cho hầu hết mọi người ở quầy, thỉnh thoảng phục vụ kia cũng đến ghi món khách gọi. quan sát vợ và chăm chú lắng nghe. Hai lần phải rời chỗ ngồi để vào nhà vệ sinh. Mỗi lần lại lo biết có nghe sót gì . Khi quay lại lần thứ hai, thấy cốc của mình bị dọn có người khác ngồi chỗ . ngồi lên cái ghế cao phía cuối quầy cạnh ông lớn tuổi mặc áo sơ mi sọc.

      định làm gì?” Doreen hỏi khi trông thấy Earl lần nữa. “Đáng lý phải về nhà rồi chứ?”

      “Cho ít cà phê nữa,” .

      Người ngồi cạnh đọc báo. Ông ngẩng lên nhìn Doreen rót cà phê cho Earl. Ông liếc nhìn chị khi chị bước . Rồi ông cúi xuống đọc báo tiếp.

      Earl nhấp ngụm cà phê và đợi xem ông này có . liếc nhìn ông. Ông ăn xong và đẩy đĩa sang bên. Ông đốt thuốc, gấp tờ báo trước mặt, rồi đọc tiếp.

      Doreen đến lấy cái đĩa bẩn và rót thêm cà phê cho ông.

      thấy ấy thế nào?” Earl với ông ta, hất đầu về phía Doreen khi chị về đầu kia quầy. “ nghĩ ấy có gì đặc biệt à?”

      Người ngồi cạnh ngẩng đầu lên, ngạc nhiên. Ông nhìn Doreen rồi nhìn Earl, rồi cúi xuống đọc báo tiếp.

      “Này, ông nghĩ sao chứ?” Earl tiếp tục. “Tôi hỏi ông đấy. nàng trông đẹp hay xấu? .”

      Ông ta lật tờ báo sột soạt.

      Khi Doreen bắt đầu xuống quầy lần nữa, Earl huých tay ông ta và : “Tôi với ông đấy. Nghe này. Nhìn cái mông ta. Bây giờ ông xem cái này này. Cho tôi đĩa kem sô la nhé?” Earl gọi Doreen.

      Chị dừng lại trước mặt , thở hắt ra. Rồi chị quay lại, lấy đĩa và cái gắp kem. Chị chồm qua tủ kem, cúi xuống và bắt đầu bóp cái gắp để lấy kem. Earl nhìn ông kia, nháy mắt khi thấy váy của Doreen trượt lên đùi. Nhưng ánh mắt của người đàn ông lại gặp ánh mắt của phục vụ kia. Và rồi ông ta kẹp tờ báo dưới cánh tay và thò tay vào túi.

      phục vụ kia thẳng đến chỗ Doreen. “Nhân vật này là ai vậy?” hỏi.

      “Ai?” Doreen hỏi và nhìn quanh, đĩa kem tay.

      kia,” phục vụ trả lời và hất đầu về phía Earl. “Rốt cuộc cái thằng hề này là ai?”

      Earl cố nở nụ cười tươi nhất. giữ nụ cười mặt. giữ nụ cười đó cho đến khi cảm thấy khuôn mặt biến dạng.

      Nhưng phục vụ kia chỉ nhìn soi mói, và Doreen bắt đầu lắc đầu chầm chầm. Người ngồi cạnh Earl đặt ít tiền lẻ bên cạnh cốc của mình và đứng dậy, nhưng ông ta cũng đợi nghe câu trả lời. Tất cả dồn mắt vào Earl.

      ấy là nhân viên bán hàng. ấy là chồng mình,” cuối cùng Doreen lên tiếng, nhún vai. Đoạn chị đặt đĩa kem sô la chưa làm xong trước mặt rồi tính tiền phần của .

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
        CÓ PHẢI LÀ BÁC SỸ


      Mang dép lê, vận pyjama và áo choàng ngủ người, lao vội khỏi phòng làm việc khi điện thoại bắt đầu reng. Vì lúc đó hơn mười giờ, hẳn là vợ gọi. Đêm nào xa nhà, cũng điện thoại tầm này, sau khi uống vài ly. là người phụ trách mua hàng, và cả tuần nay công tác.

      “A lô, em à,” . “A lô,” lặp lại.

      “Đây là ai?” phụ nữ hỏi.

      “Hừm, đây là ai?” . “Chị muốn gọi số nào?”

      “Đợi phút,” người phụ nữ . “Số 2738063.”

      “Đó là số của tôi,” . “Sao chị có số này?”

      “Tôi biết. Tôi làm về và thấy nó ghi mẩu giấy ,” người phụ nữ .

      “Ai ghi?”

      “Tôi biết,” người phụ nữ . “Chắc là trông trẻ. Hẳn là ấy.”

      “Hừm, tôi biết làm thế nào mà có số của tôi,” , “nhưng đây là số của tôi, và tôi đăng ký danh bạ. Chị có thể vứt nó giùm tôi được ? A lô? Chị có nghe ?”

      “Có, tôi có nghe,” người phụ nữ .

      “Còn gì nữa ?” . “ khuya và tôi bận.” có ý chuyện cộc lốc, nhưng ai mà biết đâu được. ngồi xuống cái ghế bên cạnh điện thoại và , “Tôi có ý chuyện cộc lốc. Ý tôi chỉ là khuya và tôi hơi lo ngại làm thế nào tình cờ chị có số tôi.” thả dép ra và bắt đầu xoa xoa bàn chân, đợi câu trả lời.

      “Tôi cũng biết,” , “Tôi bảo tôi chỉ thấy số điện thoại được ghi lại, có thêm dòng nào cả. Mai gặp Annette – tức là giữ trẻ - tôi hỏi. Tôi có ý quấy rầy . Tôi chỉ thấy mảnh giấy thôi. Từ lúc làm về đến giờ lúc nào tôi cũng ở trong bếp.”

      sao,” . “Quên nó . Chỉ cần vứt và quên nó . có chuyện gì đâu. Chị phải lo.” chuyển ống nghe từ tai này sang tai kia.

      có vẻ là người dễ mến.” Người phụ nữ .

      “Thế à? Ừm, chị quá lời.” biết giờ nên gác máy, nhưng nghe giọng , kể cả giọng chính mình, trong căn phòng yên ắng khiến thấy hay hay.

      “Ồ, vâng,” . “Tôi dám chắc.”

      buông bàn chân ra.

      “Nếu phiền, liệu tôi có thể biết tên ?” .

      “Tôi tên Arnold,” .

      “Còn tên gọi thường của là gì?” .

      “Tên gọi thường của tôi là Arnold,” .

      “Ôi, xin lỗi,” . “Arnold là tên gọi thường của . Còn họ, Arnold? họ gì?”

      “Thực tình là tôi phải gác máy đây,” .

      “Arnold, thôi mà, tôi là Clara Holt. tên là ông Arnold gì nào?”

      “Arnold Breit,” và vội thêm, “Clara Holt. Hay đấy. Nhưng tôi thực nghĩ là tôi phải gác máy, Holt ạ. Tôi đợi điện thoại.”

      “Xin lỗi, Arnold. Tôi định làm mất thời gian của ,” .

      sao,” . “Rất vui chuyện với chị.”

      “Cám ơn .”

      “Chị giữ điện thoại phút được ?” . “Tôi kiểm tra cái này chút.” vào phòng làm việc lấy điếu xì gà, mồi bằng hộp quẹt để bàn, rồi bỏ kính ra ngắm mình trong gương phía lò sưởi. Khi quay lại chỗ để điện thoại, ngỡ rằng gác máy.

      “A lô?”

      “A lô, Arnold,” .

      “Tôi tưởng chị gác máy.”

      “Ồ, ,” .

      “Về việc chị có số tôi đấy,” . “ phải lo gì, chỉ vứt nó thôi.”

      “Tôi vứt, Arnold,” .

      “Rồi, bye nhé.”

      “Vâng, tất nhiên,” . “Chúc ngủ ngon.”

      nghe tiếng thở hắt.

      “Tôi biết là tôi đường đột, Arnold, nhưng nghĩ liệu ta có thể gặp nhau đâu đó chuyện chút chăng? Chỉ vài phút thôi.”

      “Tôi e thể,” .

      “Chỉ phút, Arnold. Việc tôi tìm thấy số của và tất cả mọi . Tôi có cảm giác mãnh liệt về chuyện này, Arnold ạ.”

      “Tôi già rồi,” .

      “Ồ, làm gì,” .

      đấy, tôi già mà,” .

      “Liệu ta có thể gặp nhau đâu đó , Arnold. biết , tôi chưa kể hết với . Còn chuyện khác nữa,” người phụ nữ .

      “Ý chị là gì?” . “Chính xác việc này là gì? A lô?”

      gác máy.

      Khi sửa soạn ngủ, vợ gọi, đoán chị có vẻ hơi say, họ tán chuyện hồi, nhưng đả động gì đến cuộc gọi kia. Lúc sau, khi kéo chăn xuống, điện thoại lại đổ chuông.

      bắt máy. “A lô, Arnold Breit nghe đây.”

      “Arnold, xin lỗi điện thoại bi ngắt. Như tôi lúc nãy, tôi nghĩ việc chúng ta gặp nhau quan trọng đấy.”

      Chiều hôm sau khi tra chìa vào ổ khóa, nghe tiếng điện thoại reng. bỏ cặp xuống, và vẫn nguyên mũ, áo khoác và găng, vội vàng đến bên bàn nhấc ống nghe.

      “Arnold, xin lỗi lại quấy rầy ,” người phụ nữ . “Nhưng phải đến nhà tôi đêm nay tầm chín giờ rưỡi. có thể làm thế vì tôi , Arnold?”

      Tim xáo động khi nghe gọi tên mình. “Tôi thể làm thế,” .

      nào, Arnold,” . “ quan trọng nếu tôi nài nỉ. Tôi thể ra khỏi nhà tối nay vì Cheryl bị cảm lạnh và giờ tôi lo nó lây cho thằng bé.”

      “Còn chồng chị đâu?” đợi câu trả lời.

      “Tôi có chồng,” chị . “ đến chứ, phải ?”

      “Tôi hứa,” .

      “Tôi xin hãy đến,” rồi vội đọc cho ̣a chỉ nhà và gác máy.

      Tôi xin hãy đến,” nhắc lại, vẫn còn cầm điện thoai. chậm rãi tháo găng tay và áo khoác. cảm thấy phải thận trọng. rửa tay. Khi nhìn vào gương nhà tắm, nhận ra mình vẫn đội mũ. Chính lúc đó quyết định gặp , và bỏ mũ và kính ra rồi xát xà phòng lên mặt. xem lại móng tay mình.

      chắc đúng đường này?” hỏi người tài xế.

      “Đúng con đường này và tòa nhà kia kìa,” người tài xế .

      tiếp,” . “Cho tôi xuống cuối block nhà.”

      trả tiền cho người tài xế. Đèn từ những khung cửa sổ phía rọi sáng các ban công. nhìn thấy những chậu cây mắc các thanh chắn ban công và đây đó vài bộ bàn ghế ngoài trời. Ở ban công nọ người đàn ông cao to mặc áo gió tì lan can dõi theo khi về phía cửa.

      nhấn cái nút bên dưới dòng chữ C. HOLT. Chuông reo, quay lại cửa và bước vào. thong thả leo cầu thang, ngừng để nghỉ chút tại mỗi chiếu nghỉ. nhớ cái khách sạn ở Luxembuorg, năm cái tầng lầu mà và vợ từng leo cách đây nhiều năm. Đột nhiên thấy đau bên hông, mường tượng thấy tim , mường tượng thấy chân khuỵu lại, mường tượng cú ngã nặng nề xuống chân cầu thang. rút khăn tay ra lau trán. Rồi tháo kính lau tròng, đợi tim mình ổn định trở lại.

      ngó xuống sảnh. Khu chung cư rất im ắng. dừng trước cửa nhà , bỏ mũ ra, gõ . Cửa hé mở, bé tròn trĩnh mặc pyjama ra.

      “Bác là Arnold Breit?” bé hỏi.

      “Đúng rồi” . “Mẹ cháu có nhà ?”

      “Mẹ cháu cho bác vào nhà. Mẹ cháu bảo với bác rằng mẹ cháu ra hiệu thuốc mua xi rô ho và aspirin.”

      khép cánh cửa sau lưng. “Cháu tên gì? Mẹ cháu có với bác, nhưng bác quên khuấy mất.”

      gì nên thử lại lần nữa.

      “Cháu tên gì? Có phải là Shirley?”

      “Cheryl,” . “C-h-e-r-y-l.”

      “À, giờ bác nhớ ra rồi. Mà bác nhớ cũng gần đúng, cháu có thấy thế ?”

      bé ngồi chiếc đôn bên kia phòng nhìn .

      “Vậy ra là cháu ốm, phải ?” hỏi.

      bé lắc đầu.

      ốm à?”

      ,” bé đáp.

      nhìn quanh. Căn phòng được chiếu sáng bằng cây đèn đứng có màu giống như bằng vàng, thân gắn cái gạt tàn lớn và giá để tạp chí. cái ti vi để áp bức tường phía xa, mở, volume nhở. hành lang hẹp dẫn ra phần phía sau căn hộ. Lò sưởi được mở, khí quẩn mùi thuốc men. Kẹp tóc và lô cuốn tóc lăn lóc bàn trà, cái áo choàng tắm màu hồng vắt ghế sofa.

      nhìn đứa bé lần nữa, rồi hướng mắt về phía bếp và những cánh cửa kính từ bếp ra ban công. Những cánh cửa chỉ khép hờ, và luồng ớn lạnh thoáng qua người khi nhớ lại người đàn ông to cao mặc áo gió.

      “Mẹ chỉ ra ngoài chút,” đứa bé , như thể vừa đột ngột tỉnh giấc.

      nghiêng người về trước dồn lên mấy ngón chân, mũ cầm tay, nhìn bé. “Bác nghĩ là bác nên .”

      Có tiếng chìa xoay trong ổ khóa, cánh cửa bật ra, phụ nữ người, xanh tái, nhiều tàn nhang bước vào, tay cầm túi giấy.

      “Arnold! Rất mừng được gặp !” liếc nhìn , vẻ hơi lo lắng, lúc lắc đầu cách lạ lùng trong lúc cầm túi vào bếp. nghe tiếng cửa tủ bếp đóng sập lại. Đứa bé ngồi chiếc đôn nhìn chăm chú. khuỵu chân, dồn trọng lượng lên chân này xong lại đổi sang chân kia, đặt mũ lên đầu và lại bỏ mũ ra khi người phụ nữ quay lại.

      “Có phải là bác sĩ?” hỏi.

      ,” đáp, ngỡ ngàng. “, phải.”

      “Cheryl ốm, thấy đấy. Em ra ngoài mua mấy thứ. Sao con cất áo khoác của ông đây?” quay sang bảo đứa bé. “Bỏ qua cho nó. Bọn em quen có khách.”

      “Tôi phải đây,” . “Thực tôi nên đến đây.”

      ngồi xuống ,” . “Chúng ta thể đứng chuyện thế này. Để em cho con bé uống thuốc trước. Rồi chúng ta chuyện.”

      “Thực tôi phải ,” . “Nghe giọng chị tôi tưởng có việc gấp. Nhưng thực tôi phải .” nhìn xuống tay và nhận thức rằng lóng ngóng.

      “Em đặt nước pha trà,” nghe , như thể chẳng hề lắng nghe . “Rồi em cho Cheryl uống thuốc, và rồi chúng ta có thể chuyện.”

      tóm vai đứa bé và lùa nó vào bếp. thấy người phụ nữ cầm cái thìa lên, mở chai gì đấy sau khi ngó qua nhãn, rồi rót hai thìa.

      “Nào, giờ con chúc ông Breit ngủ ngon rồi vào phòng nhé, ngoan nào.”

      gật đầu chào đứa bé và sau đó theo người phụ nữ vào bếp. ngồi xuống cái ghế mà chỉ, thay vào đó ngồi xuống cái ghế trông ra ban công, hành lang và phòng khách . “Tôi hút xì gà được chứ,” hỏi.

      cứ hút,” . “Em nghĩ nó làm phiền em, Arnold. Hút .”

      quyết định hút. đặt hai tay lên gối và làm ra vẻ mặt nghiêm túc.

      “Chuyện này với tôi vẫn còn rất bí ,” . “Nó khá bình thường, tôi bảo đảm với chị.”

      “Tôi hiểu, Arnold,” . “Chắc muốn nghe em kể chuyện làm thế nào em có số của .”

      “Đúng là tôi muốn nghe,” .

      Họ ngồi đối diện nhau chờ nước sôi. nghe tiếng ti vi. ngó quanh bếp rồi lại nhìn ra ban công. Nước bắt đầu sủi tăm.

      “Chị định kể về chuyện số điện thoại,” .

      “Gì, Arnold? Xin lỗi,” .

      hắng giọng. “Kể tôi nghe chuyện làm thế nào chị có số của tôi.” .

      “Em hỏi Annette. trông trẻ ấy – nhưng dĩ nhiên là biết rồi. Dù sao, ấy kể điện thoại reng lúc ấy ở đây và có ai đó tìm em. Họ để số cho em gọi lại, và số ấy ghi lại hóa ra là số của . Em chỉ biết đến thế.” di cái cốc vòng quanh trước mặt. “Xin lỗi em có gì hơn để kể.”

      “Nước sôi rồi kìa,” .

      lấy thìa, sữa, đường và rót nước sôi lên mấy túi trà.

      thêm đường và khuấy trà. “Chị có chuyện gấp nên tôi phải đến.”

      “Ồ, chuyện đó, Arnold,” , quay mặt . “Em biết cái gì khiến em vậy. Em tưởng ra được em nghĩ gì.”

      “Vậy có gì à?” .

      . Ý em là .” lắc đầu. “Điều mà , ý em thế. có gì.”

      “Tôi hiểu,” . tiếp tục khuấy trà. “Bất thường,” lúc sau , gần như với chính mình. “Khá bất thường.” mỉm cười yếu ớt, rồi đẩy cốc trà sang bên và lấy khăn giấy chậm môi.

      định đấy chứ?” hỏi?

      “Tôi phải ,” . “Tôi đợi cú điện thoại ở nhà.”

      “Gượm , Arnold.”

      đẩy ghế ra sau và đứng dậy. Đôi mắt màu xanh nhạt, nằm sâu gương mặt xanh tái và có những viền tối bao quanh mà thoạt tiên tưởng là do trang điểm đậm. Kinh sợ chính mình, biết là tự ghét mình về việc này, đứng dậy vụng về vòng tay quanh eo . buông người để được hôn, chớp chớp mắt rồi thoáng khép mi lại.

      “Muộn rồi,” , buông ra, loạng choạng xoay . “Chị tử tế. Nhưng tôi phải , bà Holt ạ. Cám ơn vì mời trà.”

      đến đây nữa chứ, phải , Arnold?” hỏi.

      lắc đầu.

      theo ra cửa, tại đó chìa tay ra. nghe tiếng ti vi. chắc volume được chỉnh tăng. chợt nhớ đến đứa trẻ kia – thằng bé. Nó ở đâu?

      cầm tay , vội nâng lên môi. “ được quên em đấy, Arnold.”

      “Tôi quên,” . “Clara, Clara Holt,” .

      “Chúng ta chuyện trò vui vẻ,” . gẩy thứ gì đó, sợi tóc, hay sợi chỉ, cổ áo . “Em rất mừng vì đến đây, và em cảm thấy chắc chắn quay lại.” nhìn kỹ, nhưng bây giờ ngó mông lung như thể gắng nhớ việc gì. “Giờ – chúc ngủ ngon, Arnold,” , cùng lúc đóng sập cửa, suýt kẹt cả áo khoác .

      “Lạ lùng,” khi bắt đầu bước xuống cầu thang. hít hơi dài lúc xuống tới lề đường và ngừng trong chốc lát để nhìn lại tòa nhà. Nhưng thể xác định được đâu là ban công nhà . Người đàn ông cao lớn mặc áo gió tì người ban công hơi nhúc nhích và tiếp tục nhìn xuống .

      bắt đầu cuốc bộ, hai tay thọc sâu trong túi áo khoác. Khi về đến nhà, chuông điện thoại đổ chuông. đứng im lìm giữa phòng, mân mê chìa khóa giữa các ngón tay cho đến khi chuông ngừng reo. Ròi, khẽ khàng, đặt tay lên ngực và cảm thấy tim thình thịch sau những lớp áo. lát sau vào phòng ngủ.

      Gần như ngay sau đó điện thoại lại réo vang, và lần này bắt máy. “Arnold. Arnold Breit nghe đây,” .

      “Arnold? Ối trời, tối nay ta khách khí thé!” Vợ , giọng sang sảng, vẻ đùa cợt. “Em gọi liên tục từ chín giờ. Chơi bời tận hưởng tự do hả Arnold?”

      cứ im lặng nghĩ ngợi về giọng của vợ.

      “Arnold, còn đó chứ?” . “Nghe có vẻ giống tí nào.”

                    

        NGƯỜI BỐ


      Đứa bé nằm trong cái giỏ bên cạnh giường, được mặc bộ áo liền quần và cái mũ màu trắng. Cái giỏ sơn mới, đính dải ruy băng màu xanh mát và lót những tấm chăn màu xanh. Ba chị bé và người mẹ, vừa ra khỏi giường và chưa hoàn toàn hồi phục, cùng bà nội, tất cả đứng quanh đứa bé, xem nó mở mắt đăm đăm, thỉnh thoảng lại đưa nắm tay lên miệng. Nó cười mỉm và cũng cười thành tiếng, nhưng thỉnh thoảng nó chớp mắt và đẩy lưỡi qua lại môi khi trong mấy đứa chị gãi cằm nó.

      Người bố ở trong bếp và có thể nghe tiếng chúng chơi với đứa bé.

      “Bé ai, hả bé?” Phyllis hỏi và khều cằm nó.

      “Nó tất cả chúng ta,” Phyllis , “nhưng nó Bố nhất vì Bố cũng là con trai!”

      Bà nội ngồi xuống mép giường và , “Nhìn cánh tay bé xíu của nó kìa! Tròn xoe. Và những ngón tay bé xíu kia! Y như là của mẹ nó.”

      “Nó kháu quá nhỉ?”  người mẹ . “ là khỏe mạnh, con bé bỏng của mẹ.” Rồi chị cúi xuống hôn lên trán nó và sờ tấm chăn phủ tay nó. “Nhà mình ai cũng nó.”

      “Nhưng trông nó giống ai, trông nó giống ai?” Alice kêu lên, và họ cùng xích lại gần hơn cái giỏ để xem đứa bé giống ai.

      “Nó có đôi mắt đẹp,” Carol .

      “Đứa bé nào mắt chả đẹp,” Phyllis .

      “Nó có đôi môi của ông nội,” bà nội . “Nhìn đôi môi nó kìa.”

      “Con biết…” người mẹ . “Con có ý kiến.”

      “Cái mũi! Cái mũi!” Alice kêu lên.

      “Cái mũi nó sao?” người mẹ hỏi.

      “Nó giống mũi ai đó,” bé đáp.

      , mẹ biết,” người mẹ . “Mẹ nghĩ vậy.”

      “Đôi môi đó…” bà nội thào, “Những ngón tay nhắn đó…” bà vừa vừa mở nắm tay nó và kéo xòe các ngón ra.

      “Em bé giống ai?:

      “Nó chẳng giống ai hết,” Phyllis . Rồi họ xúm lại gần hơn nữa.

      Em biết! Em biết!” Carol . “Nó giống Bố!”

      Rồi họ nhìn đứa bé kỹ hơn nữa.

      “Nhưng bố giống ai?” Phyllis hỏi.

      “Bố giống ai?” Alice lặp lại, và tất cả cũng nhìn ngay vào bếp nơi người bố ngồi bên bàn ăn, xoay lưng về phía họ.

      “Tại sao, ai hết!” Phyllis và bắt đầu thút thít.

      “Suỵt,” bà nội và nhìn ra chỗ khác rồi quay lại nhìn đứa bé.

      “Bố giống bất cứ ai cả!” Alice .

      “Nhưng bố phải giống người nào đó chứ,”Phyllis , lau mặt bằng dải ruy băng. Và tất cả mọi người trừ bà nội nhìn người bố ngồi bên bàn ăn.

      xoay ghế lại, khuôn mặt trắng bợt, biểu lộ điều gì.




        AI


      Tôi có thể nghe tiếng họ ngoài bếp. nghe họ gì, nhưng tôi biết họ cãi nhau. Rồi đột nhiên im lặng và mẹ bắt đầu khóc. Tôi thúc tay vào người George. Tôi tưởng nó thức dậy gì đó với họ để họ cảm thấy tội lỗi mà thôi . Nhưng George con lừa. Nó đạp chân và càu nhàu.

      “Mày có thôi chọt tao , thằng chó,” nó . “Tao nói cho mày biết!”

      “Thằng ngu,” tôi . “Mày có khôn lên lần được ? Họ cãi nhau và mẹ khóc kìa. Nghe .”

      Nó lắng nghe, đầu trượt khỏi gối. “Tao đếch quan tâm,” nó và quay vào tường ngủ tiếp. George là con lừa thượng hạng.

      Lúc sao tôi nghe tiếng bố ra khỏi nhà bắt xe buýt. Ông đóng sầm cửa trước. Mẹ từng bảo tôi ông muốn làm tan nát cái gia đình này. Tôi muốn nghe.

      lúc sau mẹ vào phòng gọi chúng tôi dậy học. Giọng mẹ nghe buồn cười – tôi biết nữa. Tôi tôi thấy đau bụng. Đó là tuần đầu tiền của tháng Mười và tôi chưa nghỉ học ngày nào, vậy mẹ có thể gì? Mẹ nhìn tôi, nhưng cứ như bà nghĩ ngợi chuyện gì khác. George thức giấc và lắng nghe. Tôi biết nó thức, bằng cái kiểu nó ngọ nguậy trong giường. Nó chờ xem kết quả thế nào để còn tính kế.

      “Thôi được.” Mẹ lắc đầu. “Mẹ chẳng biết thế nào. Vậy ở nhà. Nhưng được bật ti vi, nhớ đấy.”

      George nhổm dậy. “Con cũng ốm,” nó với mẹ. “Con nhức đầu. Nó chọt, đạp con cả đêm. Con ngủ được tý nào.”

      “Đủ rồi!” mẹ . “Con phải học, George! Con được ở đây cãi nhau với em con cả ngày. Bây giờ dậy mặc quần áo. Dậy ngay. Sáng nay mẹ muốn có thêm trận chiến nữa đâu.”

      George đợi đến khi mẹ ra khỏi phòng. Rồi nó trèo ra phía chân giường. “Thằng chó,” nó và giật chăn khỏi người tôi. Nó lỉnh vào phòng tắm.

      “Tao giết mày,” tôi , quá to để mẹ khỏi nghe.

      Tôi nằm trong giường cho đến lúc George học. Khi mẹ chuẩn bị làm, tôi xin mẹ trải chỗ nằm cho tôi sofa. Tôi tôi muốn học bài. bàn uống trà tôi để mấy cuốn sách của Edgar Rice Burroughs. Nhưng tôi chả có hứng đọc sách. Tôi muốn mẹ làm để tôi còn coi ti vi.

      Mẹ giật nước toa lét.

      Tôi thể chờ thêm được nữa. Tôi bật ti vi lên mà mở tiếng. Tôi ra bếp chỗ mẹ để gói thuốc rút ba điếu. Tôi giấu chúng trong tủ ly, quay lại sofa và bắt đầu đọc cuốn Công chúa sao Hỏa. Mẹ ra liếc qua ti vi nhưng gì. Tôi để mở cuốn sách. Mẹ chải tóc trước gương rồi vào bếp. Khi mẹ ra tôi nhìn xuống sách.

      “Mẹ muộn rồi. Bye con.” Mẹ nhắc nhở gì đến chuyện ti vi. Đêm qua mẹ bảo mẹ còn hình dung được làm mà bị “quậy” là như thế nào nữa.

      “Đừng nấu nướng gì nhé. Con cần phải bật bếp lên làm gì. Nếu con đói có cá ngừ trong tủ lạnh.” Mẹ nhìn tôi, “Nhưng con đau bụng, mẹ nghĩ con nên ăn. Dù gì con cần phải bật bếp. Nghe chưa? Con uống viên thuốc đỏ , con trai, mẹ hy vọng đến tối bụng con ổn hơn. Có khi đến tối cả nhà đều thấy ổn hơn.”

      Mẹ đúng ở lối ra vào vặn quả đấm. Trông mẹ như thể định gì khác. Mẹ mặc áo trắng, thắt lưng đen rộng bản, váy đen. Khi mẹ bảo đó là đồ chơi, khi mẹ bảo đó là đồng phục. Trong chừng mực tôi còn nhớ được, nó luôn luôn được treo trong tủ hoặc dây phơi, hoặc được giặt tay vào ban đêm hoặc được ủi trong bếp.

      Mẹ làm từ thứ Tư đến Chủ nhật.

      “Bye mẹ.”

      Tôi chờ mẹ khởi động xe và làm nóng máy. Tôi nghe tiếng mẹ đánh xe khỏi lề đường. Rồi tôi ngồi dậy vặn ti vi to lên và lấy thuốc. Tôi hút điếu và vừa xóc lọ vừa xem show về bác sĩ và y tá. Rồi tôi bật sang kênh khác. Rồi tôi tắt ti vi. Tôi chả có hứng xem ti vi.

      Tôi đọc xong chương trong đó Tars Tarkas đổ vì ả da xanh, chỉ để rồi sáng hôm sau thấy ta bị gã rể ghen tuông ấy chặt đầu. Đây phải là lần thứ năm tôi đọc cuốn này. Rồi tôi vào phòng ngủ bố mẹ ngó nghiêng. Tôi định tìm kiếm thứ gì cụ thể trừ khi đó lại là bao cao su và mặc dù nhìn khắp song tôi chưa bao giờ thấy cái nào. Có lần tôi thấy lọ Vaseline nằm sâu trong ngăn kéo. Tôi biết chắc nó phải liên quan gì đến chuyện đó, nhưng tôi biết là gì. Tôi ngắm nghía cái nhãn, hy vọng nó tiết lộ điều gì đó, chẳng hạn mô tả người ta làm gì, hay là cách dùng nó như thế nào, đại khái vậy. Nhưng chẳng có gì hết. Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết, nhãn đằng trước chỉ có vậy. Nhưng chỉ đọc nhiêu đó cũng đủ để cậu của tôi ngóc đầu dậy. Trợ Thủ Xuất Sắc Ở Nhà Trẻ - nhãn phía sau ghi như vậy. Tôi cố hình dung ra mối liên hệ giữa Nhà Trẻ - xích đu và cầu tuột, bãi cát và vòng treo – và cái diễn ra giữa họ giường. Tôi mở cái lọ này nhiều lần, ngửi bên trong và nhìn xem nó vơi bao nhiêu kể từ lần trước. Lần này tôi bỏ qua lọ Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết. Ý tôi là, tôi chỉ ngó qua để xem cái lọ còn ở đó . Tôi lục vài ngăn kéo khác, mong đợi tìm thấy gì. Tôi ngó dưới gầm giường. có cái gì ở chỗ nào hết. Tôi nhìn vào cái hộp trong tủ quần áo chỗ họ để tiền chợ. có tiền lẻ, chỉ có tờ năm đồng và tờ đồng. Họ để ý mấy đồng đó. Rồi tôi nghĩ thay đồ và bộ ra suối Birch. Mùa cá hồi bắt đầu từ cách đây hai tuần, nhưng hầu như mọi người còn câu cá nữa. Mọi người bây giờ chỉ ngồi chờ đến mùa săn hoẵng và gà lôi.

      Tôi lấy bộ quần áo cũ ra. Tôi mang vớ len ra bên ngoài vớ thường và hí hoáy buộc dây đôi bốt. Tôi làm mấy cái bánh mỳ kẹp cá ngừ và mấy cái bánh quy bơ đậu phộng hai lớp. tôi lấy nước đầy bình rồi giắt con dao săn và bình nước vào thắt lưng. Khi chuẩn bị ra cửa, tôi quyết định để lại vài dòng. Thế là tôi viết: “ cảm thấy khỏe hơn nên ra suối Birch. về sớm. Kh. 3:15.” Tức là khoảng bốn tiếng kể từ bây giờ. Và khoảng mười lăm phút trước khi George học về. Trước khi , tôi ăn cái bánh mì kẹp, chiêu bằng ly sữa.

      Bên ngoài trời đẹp. Bây giờ là mùa thu. Nhưng trừ buổi tối trời lạnh. Buổi tối người ta hun khói trong những vườn cây ăn quả và sáng dậy mũi bạn đen thui. Nhưng ai gì hết. Người ta hun khói giúp được những trái lên non khỏi bị cóng, cho nên vậy cũng được.

      Để tới suối Birch, bạn phải hết đường nhà chúng tôi, tới đó bạn gặp đường số 16. Bạn rẽ trái ở đường số 16, lên đồi, băng qua nghĩa trang xuống khu Lennox nơi có tiệm ăn Tàu. Từ ngã tư bạn có thể nhìn thấy sân bay, suối Birch nằm ngay kế sân bay. Và từ ngã tư, đường số 16 đổi thành đường View. Bạn đoạn dọc đường View cho đến khi gặp cây cầu. Hai bên đường có các vườn quả. Đôi khi ngang những vườn quả bạn có thể thấy vài con gà lôi chạy dưới các hàng cây, nhưng bạn được săn chúng vì bạn có thể bị gã Hy Lạp tên Matsos bắn. Tôi áng chừng mất bốn chục phút bộ cả thảy.

      Tôi được nửa đường 16 phụ nữ chạy chiếc xe màu đỏ ghé lại trước mặt tôi. hạ kính phía bên khách xuống hỏi tôi có muốn nhờ . gầy, quanh miệng có mụn . Tóc xoăn phồng lên. Nhưng trông khá ngon. mặc áo thu màu nâu, ngực đẹp.

      “Trốn học à?”

      “Chắc vậy.”

      ?”

      Tôi gật.

      “Vào . Chị vội.” Tôi bỏ cần và giỏ đựng cá lên ghế sau. sàn xe và ghế sau có đầy những túi đựng hàng của tiệm Mel. Tôi cố nghĩ ra gì đó để .

      “Em câu cá,” tôi . Tôi bỏ mũ ra, hất bình nước sang bên để ngồi xuống, ngồi sát cửa kính.

      “À, chị chẳng bao giờ đoán ra”. cười. lái xe tiếp. :Em đâu? Suối Birch hả?”

      Tôi lại gật. Tôi nhìn cái mũ của tôi. Chú tôi mua nó cho tôi khi chú xem 1 trận hokey ở Seattle. Tôi nghĩ ra gì thêm để  . Tôi hóp má lại, ngó ra cửa sổ. Bạn luôn luôn hình dung ra bạn được này tán tỉnh. Bạn biết hai người khoái nhau và nàng đưa bạn về nhà và mặc cho bạn đè ấy khắp nhà. Nghĩ về chuyện đó là cậu của tôi bắt đầu ngóc dậy. Tôi nhích mũ che đùi lại, nhắm mắt và cố nghĩ về bóng chày.

      “Chị cứ ngày nào đó chị câu,” . “Nghe câu thư giãn lắm. Chị là người hay căng thẳng.”

      Tôi mở mắt. Chúng tôi dừng ở ngã tư. Tôi muốn , Chị có bận lắm ? Chị có muốn bắt đầu từ sáng nay? Nhưng tôi dám nhìn .

      “Có đỡ cho em quãng ? Chị phải rẽ ở đây. Tiếc là sáng nay chị có việc vội,” .

      “OK ạ. Tốt rồi.” Tôi lấy đồ ra. Rồi tôi đội mũ lên và lại bỏ mũ ra khi . “Bye. Cám ơn. Có thể mùa hè tới,” nhưng tôi thể hết câu.

      “Ý em là câu cá? Dĩ nhiên.” vẫy bằng mấy ngón tay cái kiểu mà phụ nữ hay vẫy.

      Tôi bắt đầu cuốc bộ, nhẩm lại những điều lẽ ra tôi phải . Tôi có thể nghĩ ra rất nhiều thứ. Tôi bị làm sao thế? Tôi vụt cái cần vào khí và huýt sáo hai hay ba lần. Điều mà lẽ ra tôi phải làm để mào đầu là mời ấy ăn trưa. Ở nhà tôi có ai. Đột nhiên tôi thấy chúng tôi nằm dưới chăn trong phòng của tôi. ấy hỏi liệu cởi áo có được và tôi bảo tôi OK. ấy cũng cởi quần. Vậy cũng được, tôi . Tôi thấy phiền gì.

      chiếc Piper Cup sà thấp qua đầu tôi để chuẩn bị hạ cánh. Tôi chỉ cách cây cầu vài mét. Tôi nghe tiếng nước chảy. Tôi phóng xuống bờ suối, mở khóa quần, và câu vổng mét rưỡi qua suối. Đó hẳn là kỷ lục. Tôi thong thả chén cái sand-wich còn lại mà mấy cái bánh quy phết bơ đậu phộng. Tôi uống nửa chỗ nước trong bình. Tôi sẵn sàng câu cá.

      Tôi cố nghĩ xem nên bắt đầu từ chỗ nào. Tôi câu ở đây được ba năm, kể từ khi chúng tôi chuyển đến. Bố từng mang George và tôi theo xe, đợi bọn tôi, hút thuốc, mắc mồi vào lưỡi câu, sắp xếp bộ cần mới cho chúng tôi nếu chúng tôi câu được cá. Chúng tôi luôn luôn bắt đầu từ cây cầu này và di chuyển dần xuống, và chúng tôi luôn luôn câu được cá. Có khi, ngay ngày đầu tiên của mùa câu, chúng tôi câu được hết hạn mức cho phép. Tôi bày đồ nghề ra rồi thử quăng câu vài lần dưới gầm cầu trước.

      Có mấy lúc tôi quăng câu ngay dưới bờ hoặc cũng rơi vào sau tảng đá to. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Ở chỗ nước đọng dưới đáy đầy lá vàng, tôi nhìn kỹ thấy mấy con tôm bò, giương những cái càng to tướng xấu xí lên. Mấy con chim cuốc lủi ra khỏi bụi cây. Khi tôi ném cái que, con gà lôi trống nhảy lên kêu oang oác cách chừng ba mét khiến tôi suýt đánh rơi cần.

      Con suối nông và rộng lắm. Tôi có thể lội qua bất cứ đoạn nào mà nước tràn vào bốt. Tôi băng qua bãi cỏ đầy phân bò, đến chỗ nơi nước chảy ra từ cái cống to. Tôi biết có cái hốc bên dưới cống nên rất thận trọng. Tôi quỳ xuống, cúi gần để thả dây câu. Chỉ vừa chạm nước cần giật, nhưng tôi để sảy con cá. Tôi có cảm giác nó kéo dây theo. Rồi nó thoát và dây trôi trở lại. Tôi mắc trứng cá hồi khác và thử thả câu vài lần nữa. Nhưng tôi biết mình xúi quẩy.

      Tôi lên bờ và chui qua hàng rào có bảng đề TRÁNH XA cột. trong những đường băng của sân bay bắt đầu từ đây. Tôi dừng lại ngắm đám hoa mọc những khe nứt của vỉa hè. Có thể nhìn thấy những vệt bánh xe cán lên vỉa hè để lại những vết nhơm nhớp xung quanh đám hoa. Tôi gặp lại con suối từ bờ bên kia và thả câu dọc theo suối cho đến tới chỗ cái hốc. Tôi đồ chừng chỉ có thể đến đây là xa nhất. Cách đây ba năm khi lần đầu tiên lên đến chỗ này, dòng nước gầm gào lên tận mép bờ. Nó chảy quá xiết nên tôi thể câu được. Bây giờ mực nước suối thấp hơn bờ những gần hai mét. Nước sủi bọt nhảy nhót trong khúc suối hẹp sát mép vực này, nơi hầu như thấy đáy. Xa hơn chút, lòng suối dốc lên rồi lại phẳng như thể chẳng có gì xảy ra. Lần cuối cùng tới đây tôi câu được hai con dài chừng phần tư mét và sảy mất con phải to gấp đôi – con cá hồi đầu thép [1] , bố bảo thế khi nghe tôi kể về nó. Bố chúng bơi ngược dòng những khi nước dâng cao vào đầu mùa xuân nhưng hầu hết quay về sông trước mùa cạn.

      [1]:Nguyên văn: “summer steelhead”, loại cá thuộc họ cá hồi, nhưng rất to.

      Tôi nối thêm hai đoạn nữa vào dây câu và dùng răng cột chúng. Rồi tôi móc cái trứng cá hồi tươi vào và quăng ra chỗ bậc nước đổ vào vực. Tôi mặc cho dòng chảy cuốn nó . Tôi cảm thấy cục chì giật giật khi va vào đá, kiểu giật khác với kiểu giật khi cá cắn câu. Rồi sợi dây căng ra và dòng chảy cuốn cái trứng mất hút xuống cuối vực.

      Tôi cảm thấy chán đời khi xa đến thế này mà chẳng được gì. Lần này tôi lôi ra mọi loại dây ra và quăng lần nữa. Tôi gác cần lên nhánh cây và đốt điếu thuốc thứ hai. Tôi nhìn lên phía thung lũng và bắt đầu hình dung về . Chúng tôi đến nhà nhờ tôi mang hộ mấy túi đồ ăn. Chồng ở nước ngoài. Tôi chạm vào người khiến bắt đầu run rẩy. Chúng tôi mút lưỡi nhau sofa xin phép vào buồng tắm. Tôi theo . Tôi nhìn tụt quần xuống ngồi lên toa lét. Cậu của tôi ngóc đầu lên cứng ngắc khi vẫy tôi lại. Ngay khi tôi bắt đầu kéo khóa quần xuống, tôi nghe tiếng phựt trong dòng suối. Tôi ngó ra và thấy đầu cần câu rung nhè .

      Cu câu to lắm và cũng chống cự nhiều. Nhưng tôi vờn nó lâu. Nó lật nghiêng ra nằm trong dòng chảy phía dưới. Tôi biết nó là cá gì. Trông nó lạ. Tôi thu dây lại nhấc nó lên bờ cho nằm đám cỏ, nó bắt đầu giãy đành đạch. Nó là con cá hồi. Nhưng nó màu xanh lá cây. Tôi chưa từng thấy con cá nào giống như vậy. Hai bên lườn nó xanh có những chấm đen của cá hồi, cái đầu xanh nhạt, và cái bụng cũng hơi xanh. Nó có màu của rêu. Như thể nó được gói trong rêu thời gian dài khiến rêu dính khắp người nó. Nó khá to khiến tôi băn khoăn sao nó chống cự nhiều hơn. Tôi biết nó có ổn . Tôi nhìn nó lúc nữa, rồi giúp cho nó thoát khỏi đau đớn.

      Tôi bứt mấy cọng cỏ cho vào trong giỏ đựng cá và đặt nó vào, nắm cỏ.

      Tôi quăng câu vài lần nữa, rồi tôi áng chừng lúc đó phải hai hay ba giờ chiều. Tôi nghĩ tốt hơn là phải di chuyển lại về phía cây cầu. Tôi nghĩ bụng câu dưới gầm cầu lúc nữa trước khi về nhà. Và tôi quyết định chờ đến đêm rồi mới nghĩ về kia nữa. Nhưng ngay lập tức cậu tôi lại ngóc đầu dậy khi tôi nghĩ về cú ngóc đầu mà đêm đó tôi có được. Rồi tôi nghĩ tốt hơn là đừng làm cái trò này quá nhiều. Cách đây chừng tháng, ngày thứ Bảy khi mọi người đều vắng, tôi vớ lấy cuốn Kinh Thánh ngay sau khi làm xong, hứa và thề thốt rằng tôi làm trò đó nữa. Nhưng tôi làm vấy sữa đục vào cuốn Kinh Thánh, và những hứa hẹn thề thốt chỉ kéo dài hai ngày, cho đến lúc tôi lại ở mình.

      đường về tôi thả câu. Khi tới cây cầu, tôi nhìn thấy chiếc xe đạp đám cỏ. Tôi thấy thằng nhóc vóc người cỡ bằng George chạy dọc theo bờ suối. Tôi chạy theo nó. Rồi nó quay lại và vừa chạy về hướng tôi vừa nhìn xuống nước.

      “Ê, cái gì đó!” tôi réo. “Làm sao đấy?” tôi đồ chừng nó chẳng nghe tôi. Tôi thấy cái cần và túi câu của nó bỏ bờ, bèn vứt đồ của tôi xuống. Tôi chạy lại chỗ nó. Trông nó giống như con chuột hay đại loại vậy. Răng nó vẩu, cẳng tay khẳng khiu, còn cái áo sơ mi tay dài tả tơi quá bé so với nó.

      “Chúa ơi, tao thề có con cá bự nhất ở đây mà tao từng thấy!” nó kêu. “Nhanh! Nhìn! Nhìn đây này! Đây nó đây!”

      Tôi nhìn chỗ nó chỉ và tim tôi đập thình thích.

      Nó phải dài bằng cả cánh tay tôi.

      “Chúa, ôi Chúa, mày nhìn nó !” thằng nhóc .

      Tôi nhìn chăm chú. Nó nằm nghỉ trong bóng mát dưới nhánh cây sà mặt nước. “Chúa toàn năng,” tôi với con cá, “mày từ đâu ra thế hả?”

      “Mình làm gì đây?” thằng nhóc . “Ước gì tao mang theo súng.”

      “Mình bắt nó,” tôi . “Chúa ơi, nhìn nó kìa. Lùa nó ra chỗ nước cạn .”

      “Vậy mày giúp tao nhé? Tụi mình hợp tác!” thằng nhóc .

      Con cá to bơi xuôi dòng thêm vài mét và nằm đó lờ lững ở đoạn nước trong.

      “OK, mình làm gì bây giờ?” thằng nhóc .

      “Tao lên đầu kia rồi lội xuống suối lùa nó ,” tôi . “Mày đứng ở chỗ bãi cạn, khi nào nó bơi ngang mày đá cho nó phọt cứt ra. Làm thế nào để đưa nó được lên bờ làm, kiểu gì cũng được. Rồi ôm chặt lấy nó và đợi ở đó.”

      “OK. Ồ, cứt , nhìn nó kìa. Nhìn kìa, nó bơi . Nó bơi đâu?” thằng nhóc gào lên.

      Tôi dõi theo con cá bơi ngược dòng rồi dừng lại gần bờ. “Nó đâu được hết. Chẳng có chỗ nào cho nó . Thấy nó ? Nó sợ vãi tè rồi. Nó biết mình ở đây. Bây giờ nó chỉ bơi lòng vòng tìm xem có chỗ thoát thôi. Thấy chưa, nó lại dừng rồi. Nó đâu được hết. Nó biết vậy. Nó biết mình sắp sửa tóm nó. Nó biết là nó sắp toi rồi. Tao lên đằng kia dọa cho nó xuống. Mày vớ lấy nó khi nó bơi ngang nhé.”

      “Ước gì tao có súng,” thằng nhóc . “Có súng tao cho nó biết mùi,” thằng nhóc .

      Tôi lên đoạn, rồi bắt đầu lội xuôi dòng. Tôi ngó chừng đằng trước trong khi lội. Đột nhiên con cá vụt ra khỏi bờ, quay ngoắt ngay trước mũi tôi làm tung xoáy nước bạc, rồi vút xuôi theo dòng.

      “Nó tới đó!” tôi hú. “Ê, ê, nó tới đó.” Nhưng con cá lượn vòng trước khi tới bãi cạn và quay đầu lại. Tôi vừa đập nước tung tóe vừa hú hét khiến nó lại quay đầu. “Nó tới đó! Tóm lấy nó, tóm lấy nó! Nó tới đó!”

      Nhưng thằng ngu đó kiếm được cây gậy, thằng con lừa, và khi con cá tới chỗ bãi cạn, thay vì cố đá văng con quỷ đó lên bờ như lẽ ra nó phải làm, nó lại vụt gậy vào con cá. Con cá vuột khỏi, nổi khùng, lướt bên lườn qua bãi cạn. Nó thoát. Thằng nhóc ngu dốt cố chộp nó và ngã sóng soài.

      Nó lóp ngóp lội lên bờ, người ướt sũng. “Tao đập trúng nó!” thằng nhóc reo lên. “Chắc là nó cũng dính đòn. Tao chộp trúng nó rồi, nhưng giữ được.”

      “Mày chẳng làm được gì hết!” tôi hổn hển. Tôi mừng vì thằng nhóc ngã xuống nước. “Thậm chí mày còn lại gần được nó, con lừa ạ. Mày cầm cái gậy đó làm gì? Lẽ ra mày phải đá nó. Bây giờ bơi cả cây số rồi.” Tôi cố phun nước bọt. Tôi lắc đầu. “Tao biết. Mình chưa tóm được nó. Chắc mình tóm được nó,” tôi .

      “Mẹ kiếp, tao đập trúng nó!” thằng nhóc gào lên. “Mày có thấy ? Tao đập trúng nó, tay tao còn chạm vào người nó. Mày đến gần nó được chừng nào chưa? Chưa kể, đây là con cá của ai?” Nó nhìn tôi. Nước chảy từ quần xuống giày nó.

      Tôi gì thêm, nhưng tự tôi cũng nghĩ về chuyện đó. Tôi nhún vai. “Hừ, thôi được. Tao nghĩ nó của cả hai. Lần này ráng tóm được nó. được phạm sai lầm nữa, cả mày cả tao,” tôi .

      Chúng tôi lội xuôi dòng. Nước tràn vào bốt tôi, nhưng thằng nhóc ướt tận cổ. Nó cắn chặt hàm răng vẩu để khỏi phải đánh đàn răng.

      thấy con cá trong dòng chảy phía dưới bãi cạn, cũng thấy nó ở dải nước kế tiếp. Chúng tôi nhìn nhau, bắt đầu lo rằng con cá bơi xuôi dòng đủ xa để đến trong những cái vũng sâu. Nhưng rồi con quỷ đó quẫy ngay gần bờ, khuấy đuôi văng cả cát xuống nước, rồi lại lủi . Nó vượt qua bãi cạn khác, cái đuôi to thò mặt nước. Tôi thấy nó bơi qua gần bờ và dừng lại, nửa cái đuôi chìa ra khỏi nước, bơi phe phẩy chỉ đủ để khỏi bị nước cuốn .

      “Mày thấy nó ?” tôi . Thằng nhóc nhìn. Tôi cầm cánh tay nó và chỉ bằng ngón tay nó. “Kia kìa. Bây giờ OK rồi, nghe đây. Tao lội xuống cái dòng chảy giữa hai bờ kìa. Mày hiểu ý tao ? Mày đợi ở đây tới khi tao ra dấu. Rồi mày bắt đầu xuống. OK? Lần này đừng để nó thoát nếu như nó quay đầu lại.”

      “Ừ,” thằng nhóc , cà hàm răng vẩu vào môi. “Lần này phải tóm được nó,” thằng nhóc , trông mặt nó lạnh cóng.

      Tôi leo lên bờ và dọc xuống, cố gắng di chuyển nhàng. Tôi trượt khỏi bờ suối và lội tiếp. Nhưng tôi thấy cái con quỷ to đùng đó đâu hết và tim tôi nhộn nhạo. Tôi nghĩ chắc chắn nó chuồn mất rồi. Chỉ xuôi dòng chút nữa thôi nó lẩn vào trong những cái vũng. Lúc đó chúng tôi cách nào tóm nó được.

      “Nó còn đó ?” tôi hú. Tôi nín thở.

      Thằng nhóc vẫy tay.

      “Sẵn sàng rồi!” tôi lại hú.

      “Bắt đầu đây!” thằng nhóc hú đáp lại.

      Tay tôi run run. Con suối chỉ rộng chưa tới mét chảy giữa hai bờ đất. Nước cạn nhưng chảy xiết. Thằng nhóc di chuyển xuôi dòng, nước lên tới đầu gối, ném về phía trước, đập nước và la hét.

      “Nó tới đó!” Thằng nhóc vẫy cánh tay. Tôi thấy con cá rồi; nó bơi thằng về phía tôi. Nó định quay lại khi thấy tôi nhưng quá muộn. Tôi quỳ xuống, chộp vào nước lạnh. Tôi tóm nó bằng cả hai cánh tay, lên, lên, tôi nhấc nó lên, quẳng nó ra khỏi nước, cả hai văng lên bờ. Tôi giữ nó trước ngực, nó vùng vẫy giãy giụa, cho tới lúc tôi lùa tay khỏi cái lườn trơn mà tóm vào mang nó. Tôi thọc tay ra tới mồm nó và khóa hàm nó lại. Tôi biết tóm được nó. Nó vẫn vùng vẫy, rất khó giữ, nhưng tôi tóm được nó và để tuột.

      “Mình tóm được nó rồi!” thằng nhóc vừa reo vừa bì bõm lội lên. “Nhờ Chúa, mình tóm được nó! phải nó ghê gớm lắm sao! Nhìn nó kìa! Ôi Chúa, để tao ôm nó với,” thằng nhóc reo.

      “Mình phải giết nó ,” tôi . Tôi thọc tay kia xuống họng nó. Tôi giật ngược lên phía đầu mạnh hết sức có thể, cố tránh bộ răng của nó, và cảm thấy tiếng rắc nặng nề. Nó giãy lúc lâu rồi nằm đơ ra. Tôi đặt nó nằm bờ và chúng tôi nhìn nó. Nó dài ít nhất sáu tấc, ốm cách kỳ cục, nhưng to hơn bất cứ con nào tôi từng bắt được. Tôi lại nắm lấy hàm nó.

      “Ê,” thằng nhóc định mở mồm nhưng lại im khi thấy tôi định làm gì. Tôi rửa sạch máu và vứt con cá nằm bờ.

      “Tao muốn cho bố tao xem con này ghê lắm,” thằng nhóc .

      Chúng tôi đều ướt sũng và run lập cập. Chúng tôi nhìn nó, sờ mó nó. Chúng tôi banh mồm nó ra và sờ hàm răng nó. Hai bên lườn nó có những vết sẹo, những vết trắng sần sùi to bằng đồng xu và sưng tấy. đầu nó, quanh mắt và mũi có những vết rách mà tôi ngờ là do nó va vào và do đánh nhau. Nhưng nó gầy tong, quá gầy nếu so với chiều dài của nó, gần như thể thấy những sọc hồng hai bên lườn, còn bụng xám và nhão thay vì trắng và chắc như lẽ ra phải thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ nó vẫn là quái kiệt.

      “Chắc là tao phải về ngay rồi,” tôi . Tôi nhìn những đám mây đồi nơi mặt trời dần lặn xuống. “Tao phải về nhà.”

      “Chắc thế. Tao cũng vậy. Tao lạnh cóng,” thằng nhóc . “Ê, tao muốn cầm nó,” thằng nhóc .

      “Kiếm cái que. Mình xỏ qua mồm nó để khiêng,” tôi .

      Thằng nhóc tìm được cái que. Chúng tôi xâu qua mang nó và đẩy con cá xuống giữa que. Rồi mỗi đứa cầm đầu que và bắt đầu về, ngắm con cá đong đưa que.

      “Mình làm gì với nó?” thằng nhóc .

      “Tao biết,” tôi . “Tao nghĩ là tao bắt được nó,” tôi .

      “Cả hai cùng bắt. Ngoài ra, tao thấy nó trước.”

      “Đúng vậy,” tôi . “À, mày muốn tung đồng xu hay sao?” tôi thò tay kia vào túi, nhưng tôi chả có đồng nào. Vả lại tôi làm gì nếu thua?

      Dù sao nữa, thằng nhóc , “, tao muốn tung xu.”

      Tôi , “Cũng được. Tao OK.” Tôi nhìn thằng nhóc, tóc nó dựng đứng, môi xám ngoét. Nếu phải đánh nhau tôi có thể thắng nó. Nhưng tôi muốn đánh nhau.

      Chúng tôi tới nơi để đồ đạc và nhặt đồ lên bằng tay, đứa nào buông đầu que ra. Rồi chúng tôi cuốc bộ tới chỗ nó để xe đạp. Tôi nắm chặt đầu que đề phòng thằng nhóc giở trò gì.

      Rồi tôi nảy ra ý. “Mình có thể chia đôi,” tôi .

      “Ý mày là sao?” thằng nhóc , răng nó lại đánh cầm cập. Tôi cảm thấy nó siết chặt đầu que.

      “Chia đôi con cá. Tao có dao. Mình cắt làm đôi mỗi đứa lấy nửa. Tao biết, nhưng tao nghĩ mình có thể làm được.”

      Nó giật cọng tóc và nhìn con cá. “Mày định dùng con dao đó?”

      “Mày có con nào ?” tôi .

      Thằng nhóc lắc đầu.

      “OK,” tôi .

      Tôi rút cái que ra, đặt con cá bãi cỏ bên cạnh xe đạp của thằng nhóc. Tôi lấy dao ra. chiếc may bay chạy lấy đà đường băng lúc tôi ướm vạch. “Ngay đây nhé?” tôi . Thằng nhóc gật. Chiếc máy bay ầm ầm chạy đường băng và cất cánh ngay đầu chúng tôi. Tôi bắt đầu cắt con cá ra làm đôi. Tôi đụng tới ruột nó, liền lật nó lại và trút mọi thứ ra. Tôi hì hục cắt tiếp cho đến lúc chỉ còn mảnh da bụng gắn nó lại với nhau. Tôi cầm cả hai phần của nó lên và giật cho đứt hẳn làm hai.

      Tôi đưa thằng nhóc phần đuôi.

      ,” nó , lắc đầu. “Tao muốn nửa kia.”

      Tôi , “Nó như nhau hết. Mẹ kiếp, xem này, tao nổi khùng bây giờ.”

      “Kệ mày,” thằng nhóc . “Nếu nó như nhau hết tao lấy nửa kia. Nó như nhau hết mà, đúng ?”

      “Nó như nhau,” tôi . “Nhưng tao nghĩ tao giữ nửa này. Tại vì tao có công bắt cá.”

      “Tao muốn nửa đó,” thằng nhóc . “Tao thấy nó trước mà.”

      “Mình dùng dao của ai?” tôi .

      “Tao muốn lấy khúc đuôi,” thằng nhóc .

      Tôi nhìn quanh. có chiếc xe nào đường và có ai khác câu. Có tiếng chiếc máy bay ầm ì, và mặt trời lặn dần. Tôi lạnh run cả người. Thằng nhóc run cầm cập, vẫn đợi.

      “Tao có ý này,” tôi . Tôi mở giỏ cá và chỉ nó con cá hồi. “Thấy ? Nó màu xanh lá cây. Nó là con cá xanh lá cây duy nhất tao từng thấy. Vậy ai lấy khúc đầu đứa kia được con cá hồi xanh này và khúc đuôi. Công bằng chưa?”

      Thằng nhóc nhìn con cái hồi xanh rồi lấy nó ra khỏi giỏ mà cầm. Nó ngắm nghía hai nửa con cá.

      “Chắc được,” nó . “OK, chắc được. Mày lấy nửa đó. Tao có nhiều thịt hơn.”

      “Tao quan tâm,” tôi . “Tao rửa sạch nó. Nhà mày ở đâu?” tôi .

      “Dưới đường Arthur.” Nó nhét con cá hồi màu xanh và khúc cá của nó vô trong cái túi vải bẩn. “Tại sao mày hỏi?”

      “Chỗ đó là chỗ nào? Có phải gần sân bóng?” tôi .

      “Ừ, nhưng tao hỏi là tại sao.” Thằng nhóc có vẻ sợ.

      “Tao ở gần đó,” tôi . “Nên tao nghĩ tao có thể ngồi sườn xe. Mình thay phiên nhau đạp. Tao còn điều này, mình có thể chia, nếu nó chưa bị ướt.”

      Nhưng thằng nhóc chỉ , “Tao lạnh cóng.”

      Tôi rửa khúc của tôi dưới suối. Tôi nhúng đầu nó xuống nước và vạch miệng nó ra. Dòng nước tràn vào miệng nó và chảy ra đầu kia phần thân còn lại của nó.

      “Tao lạnh cóng,” thằng nhóc .

                  ***


      Tôi thấy George đạp xe đầu kia đường. Nó thấy tôi. Tôi vòng ra sau nhà để tháo bốt. Tôi cởi cái giỏ cá ra để có thể mở nắp và sẵn sàng tiến vào nhà, miệng cười toe toét.

      Tôi nghe tiếng họ liền nhìn qua cửa sổ. Tôi thấy họ ngồi bên bàn. Khói mịt mù nhà bếp. Tôi thấy nó bốc lên từ cái chảo bếp. Nhưng cả hai để ý.

      “Cái tôi bảo với thể chối cãi,” bố . “Bọn trẻ biết gì? thấy.”

      Mẹ , “Tôi thấy gì hết. Nếu tôi nghĩ vậy, chẳng thà tôi thấy chúng chết trước.”

      Bố , “ bị làm sao đấy? nên cẩn thận mồm mép.”

      Mẹ bắt đầu khóc. Bố dúi điếu thuốc vào gạt tàn rồi đứng dậy.

      “Edna, có biết là cái chảo cháy ?” bố .

      Mẹ nhìn cái chảo. Mẹ đẩy ghế ra sau, nắm lấy cán chảo rồi ném chảo vào tường chỗ bồn rửa bát.

      Bố , “ mất trí rồi hả? Nhìn xem làm gì này!” Bố lấy cái khăn lau bát ra và bắt tay chùi chảo.

      Tôi mở cửa sau. Tôi bắt đầu ngoác miệng. Tôi , “Bố mẹ tin được con bắt được gì ở suối Birch đâu. Hãy nhìn. Nhìn đây. Nhìn đây này. Nhìn xem con bắt được gì.”

      Chân tôi run. Gần như tôi thể đứng được. Tôi chìa cái giỏ về phía mẹ, và rốt cuộc mẹ cũng nhìn vào. “Ối, ối, lạy Chúa tôi. Cái gì đây? Rắn hả? Cái gì đây? Làm ơn, làm ơn mang nó ra ngoài tao nôn bây giờ.”

      “Mang ra ngoài !” bố quát. “Mày nghe bà ấy gì à? Mang nó ra khỏi đây!” bố quát.

      Tôi , “Nhưng mà bố nhìn xem cái gì đây .”

      Bố , “Tao muốn nhìn.”

      Tôi , “Đó là con cá hồi đầu thép khổng lồ ở suối Birch. Nhìn xem! Đáng nể ? Nó là quái kiệt. Con chạy xuôi chạy ngược suối đuổi theo nó như thằng điên!” Giọng tôi run run. Nhưng tôi hề dừng lại. “Còn con khác nữa,” tôi vội. “ con màu xanh. Con thề! Nó màu xanh! Bố bao giờ thấy con cá màu xanh chưa?”

      Bố nhìn vào giỏ rồi há hốc mồm.

      Ông gào, “Mang cái đồ chết tiệt này ra khỏi đây ngay! Mày bị sao vậy hả? Mang nó ra khỏi nhà bếp và vứt vô cái thùng rác chết tiệt !”

      Tôi ra ngoài. Tôi nhìn vào giỏ. Cái thứ trong đó trông lấp lánh bạc dưới ánh đèn cổng. Cái thứ trong đó làm đầy cái giỏ.

      Tôi nhấc nó ra. Tôi cầm nó tay. Tôi cầm nửa đó của nó.




        AI


      Tôi có thể nghe tiếng họ ngoài bếp. nghe họ gì, nhưng tôi biết họ cãi nhau. Rồi đột nhiên im lặng và mẹ bắt đầu khóc. Tôi thúc tay vào người George. Tôi tưởng nó thức dậy gì đó với họ để họ cảm thấy tội lỗi mà thôi . Nhưng George con lừa. Nó đạp chân và càu nhàu.

      “Mày có thôi chọt tao , thằng chó,” nó . “Tao nói cho mày biết!”

      “Thằng ngu,” tôi . “Mày có khôn lên lần được ? Họ cãi nhau và mẹ khóc kìa. Nghe .”

      Nó lắng nghe, đầu trượt khỏi gối. “Tao đếch quan tâm,” nó và quay vào tường ngủ tiếp. George là con lừa thượng hạng.

      Lúc sao tôi nghe tiếng bố ra khỏi nhà bắt xe buýt. Ông đóng sầm cửa trước. Mẹ từng bảo tôi ông muốn làm tan nát cái gia đình này. Tôi muốn nghe.

      lúc sau mẹ vào phòng gọi chúng tôi dậy học. Giọng mẹ nghe buồn cười – tôi biết nữa. Tôi tôi thấy đau bụng. Đó là tuần đầu tiền của tháng Mười và tôi chưa nghỉ học ngày nào, vậy mẹ có thể gì? Mẹ nhìn tôi, nhưng cứ như bà nghĩ ngợi chuyện gì khác. George thức giấc và lắng nghe. Tôi biết nó thức, bằng cái kiểu nó ngọ nguậy trong giường. Nó chờ xem kết quả thế nào để còn tính kế.

      “Thôi được.” Mẹ lắc đầu. “Mẹ chẳng biết thế nào. Vậy ở nhà. Nhưng được bật ti vi, nhớ đấy.”

      George nhổm dậy. “Con cũng ốm,” nó với mẹ. “Con nhức đầu. Nó chọt, đạp con cả đêm. Con ngủ được tý nào.”

      “Đủ rồi!” mẹ . “Con phải học, George! Con được ở đây cãi nhau với em con cả ngày. Bây giờ dậy mặc quần áo. Dậy ngay. Sáng nay mẹ muốn có thêm trận chiến nữa đâu.”

      George đợi đến khi mẹ ra khỏi phòng. Rồi nó trèo ra phía chân giường. “Thằng chó,” nó và giật chăn khỏi người tôi. Nó lỉnh vào phòng tắm.

      “Tao giết mày,” tôi , quá to để mẹ khỏi nghe.

      Tôi nằm trong giường cho đến lúc George học. Khi mẹ chuẩn bị làm, tôi xin mẹ trải chỗ nằm cho tôi sofa. Tôi tôi muốn học bài. bàn uống trà tôi để mấy cuốn sách của Edgar Rice Burroughs. Nhưng tôi chả có hứng đọc sách. Tôi muốn mẹ làm để tôi còn coi ti vi.

      Mẹ giật nước toa lét.

      Tôi thể chờ thêm được nữa. Tôi bật ti vi lên mà mở tiếng. Tôi ra bếp chỗ mẹ để gói thuốc rút ba điếu. Tôi giấu chúng trong tủ ly, quay lại sofa và bắt đầu đọc cuốn Công chúa sao Hỏa. Mẹ ra liếc qua ti vi nhưng gì. Tôi để mở cuốn sách. Mẹ chải tóc trước gương rồi vào bếp. Khi mẹ ra tôi nhìn xuống sách.

      “Mẹ muộn rồi. Bye con.” Mẹ nhắc nhở gì đến chuyện ti vi. Đêm qua mẹ bảo mẹ còn hình dung được làm mà bị “quậy” là như thế nào nữa.

      “Đừng nấu nướng gì nhé. Con cần phải bật bếp lên làm gì. Nếu con đói có cá ngừ trong tủ lạnh.” Mẹ nhìn tôi, “Nhưng con đau bụng, mẹ nghĩ con nên ăn. Dù gì con cần phải bật bếp. Nghe chưa? Con uống viên thuốc đỏ , con trai, mẹ hy vọng đến tối bụng con ổn hơn. Có khi đến tối cả nhà đều thấy ổn hơn.”

      Mẹ đúng ở lối ra vào vặn quả đấm. Trông mẹ như thể định gì khác. Mẹ mặc áo trắng, thắt lưng đen rộng bản, váy đen. Khi mẹ bảo đó là đồ chơi, khi mẹ bảo đó là đồng phục. Trong chừng mực tôi còn nhớ được, nó luôn luôn được treo trong tủ hoặc dây phơi, hoặc được giặt tay vào ban đêm hoặc được ủi trong bếp.

      Mẹ làm từ thứ Tư đến Chủ nhật.

      “Bye mẹ.”

      Tôi chờ mẹ khởi động xe và làm nóng máy. Tôi nghe tiếng mẹ đánh xe khỏi lề đường. Rồi tôi ngồi dậy vặn ti vi to lên và lấy thuốc. Tôi hút điếu và vừa xóc lọ vừa xem show về bác sĩ và y tá. Rồi tôi bật sang kênh khác. Rồi tôi tắt ti vi. Tôi chả có hứng xem ti vi.

      Tôi đọc xong chương trong đó Tars Tarkas đổ vì ả da xanh, chỉ để rồi sáng hôm sau thấy ta bị gã rể ghen tuông ấy chặt đầu. Đây phải là lần thứ năm tôi đọc cuốn này. Rồi tôi vào phòng ngủ bố mẹ ngó nghiêng. Tôi định tìm kiếm thứ gì cụ thể trừ khi đó lại là bao cao su và mặc dù nhìn khắp song tôi chưa bao giờ thấy cái nào. Có lần tôi thấy lọ Vaseline nằm sâu trong ngăn kéo. Tôi biết chắc nó phải liên quan gì đến chuyện đó, nhưng tôi biết là gì. Tôi ngắm nghía cái nhãn, hy vọng nó tiết lộ điều gì đó, chẳng hạn mô tả người ta làm gì, hay là cách dùng nó như thế nào, đại khái vậy. Nhưng chẳng có gì hết. Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết, nhãn đằng trước chỉ có vậy. Nhưng chỉ đọc nhiêu đó cũng đủ để cậu của tôi ngóc đầu dậy. Trợ Thủ Xuất Sắc Ở Nhà Trẻ - nhãn phía sau ghi như vậy. Tôi cố hình dung ra mối liên hệ giữa Nhà Trẻ - xích đu và cầu tuột, bãi cát và vòng treo – và cái diễn ra giữa họ giường. Tôi mở cái lọ này nhiều lần, ngửi bên trong và nhìn xem nó vơi bao nhiêu kể từ lần trước. Lần này tôi bỏ qua lọ Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết. Ý tôi là, tôi chỉ ngó qua để xem cái lọ còn ở đó . Tôi lục vài ngăn kéo khác, mong đợi tìm thấy gì. Tôi ngó dưới gầm giường. có cái gì ở chỗ nào hết. Tôi nhìn vào cái hộp trong tủ quần áo chỗ họ để tiền chợ. có tiền lẻ, chỉ có tờ năm đồng và tờ đồng. Họ để ý mấy đồng đó. Rồi tôi nghĩ thay đồ và bộ ra suối Birch. Mùa cá hồi bắt đầu từ cách đây hai tuần, nhưng hầu như mọi người còn câu cá nữa. Mọi người bây giờ chỉ ngồi chờ đến mùa săn hoẵng và gà lôi.

      Tôi lấy bộ quần áo cũ ra. Tôi mang vớ len ra bên ngoài vớ thường và hí hoáy buộc dây đôi bốt. Tôi làm mấy cái bánh mỳ kẹp cá ngừ và mấy cái bánh quy bơ đậu phộng hai lớp. tôi lấy nước đầy bình rồi giắt con dao săn và bình nước vào thắt lưng. Khi chuẩn bị ra cửa, tôi quyết định để lại vài dòng. Thế là tôi viết: “ cảm thấy khỏe hơn nên ra suối Birch. về sớm. Kh. 3:15.” Tức là khoảng bốn tiếng kể từ bây giờ. Và khoảng mười lăm phút trước khi George học về. Trước khi , tôi ăn cái bánh mì kẹp, chiêu bằng ly sữa.

      Bên ngoài trời đẹp. Bây giờ là mùa thu. Nhưng trừ buổi tối trời lạnh. Buổi tối người ta hun khói trong những vườn cây ăn quả và sáng dậy mũi bạn đen thui. Nhưng ai gì hết. Người ta hun khói giúp được những trái lên non khỏi bị cóng, cho nên vậy cũng được.

      Để tới suối Birch, bạn phải hết đường nhà chúng tôi, tới đó bạn gặp đường số 16. Bạn rẽ trái ở đường số 16, lên đồi, băng qua nghĩa trang xuống khu Lennox nơi có tiệm ăn Tàu. Từ ngã tư bạn có thể nhìn thấy sân bay, suối Birch nằm ngay kế sân bay. Và từ ngã tư, đường số 16 đổi thành đường View. Bạn đoạn dọc đường View cho đến khi gặp cây cầu. Hai bên đường có các vườn quả. Đôi khi ngang những vườn quả bạn có thể thấy vài con gà lôi chạy dưới các hàng cây, nhưng bạn được săn chúng vì bạn có thể bị gã Hy Lạp tên Matsos bắn. Tôi áng chừng mất bốn chục phút bộ cả thảy.

      Tôi được nửa đường 16 phụ nữ chạy chiếc xe màu đỏ ghé lại trước mặt tôi. hạ kính phía bên khách xuống hỏi tôi có muốn nhờ . gầy, quanh miệng có mụn . Tóc xoăn phồng lên. Nhưng trông khá ngon. mặc áo thu màu nâu, ngực đẹp.

      “Trốn học à?”

      “Chắc vậy.”

      ?”

      Tôi gật.

      “Vào . Chị vội.” Tôi bỏ cần và giỏ đựng cá lên ghế sau. sàn xe và ghế sau có đầy những túi đựng hàng của tiệm Mel. Tôi cố nghĩ ra gì đó để .

      “Em câu cá,” tôi . Tôi bỏ mũ ra, hất bình nước sang bên để ngồi xuống, ngồi sát cửa kính.

      “À, chị chẳng bao giờ đoán ra”. cười. lái xe tiếp. :Em đâu? Suối Birch hả?”

      Tôi lại gật. Tôi nhìn cái mũ của tôi. Chú tôi mua nó cho tôi khi chú xem 1 trận hokey ở Seattle. Tôi nghĩ ra gì thêm để  . Tôi hóp má lại, ngó ra cửa sổ. Bạn luôn luôn hình dung ra bạn được này tán tỉnh. Bạn biết hai người khoái nhau và nàng đưa bạn về nhà và mặc cho bạn đè ấy khắp nhà. Nghĩ về chuyện đó là cậu của tôi bắt đầu ngóc dậy. Tôi nhích mũ che đùi lại, nhắm mắt và cố nghĩ về bóng chày.

      “Chị cứ ngày nào đó chị câu,” . “Nghe câu thư giãn lắm. Chị là người hay căng thẳng.”

      Tôi mở mắt. Chúng tôi dừng ở ngã tư. Tôi muốn , Chị có bận lắm ? Chị có muốn bắt đầu từ sáng nay? Nhưng tôi dám nhìn .

      “Có đỡ cho em quãng ? Chị phải rẽ ở đây. Tiếc là sáng nay chị có việc vội,” .

      “OK ạ. Tốt rồi.” Tôi lấy đồ ra. Rồi tôi đội mũ lên và lại bỏ mũ ra khi . “Bye. Cám ơn. Có thể mùa hè tới,” nhưng tôi thể hết câu.

      “Ý em là câu cá? Dĩ nhiên.” vẫy bằng mấy ngón tay cái kiểu mà phụ nữ hay vẫy.

      Tôi bắt đầu cuốc bộ, nhẩm lại những điều lẽ ra tôi phải . Tôi có thể nghĩ ra rất nhiều thứ. Tôi bị làm sao thế? Tôi vụt cái cần vào khí và huýt sáo hai hay ba lần. Điều mà lẽ ra tôi phải làm để mào đầu là mời ấy ăn trưa. Ở nhà tôi có ai. Đột nhiên tôi thấy chúng tôi nằm dưới chăn trong phòng của tôi. ấy hỏi liệu cởi áo có được và tôi bảo tôi OK. ấy cũng cởi quần. Vậy cũng được, tôi . Tôi thấy phiền gì.

      chiếc Piper Cup sà thấp qua đầu tôi để chuẩn bị hạ cánh. Tôi chỉ cách cây cầu vài mét. Tôi nghe tiếng nước chảy. Tôi phóng xuống bờ suối, mở khóa quần, và câu vổng mét rưỡi qua suối. Đó hẳn là kỷ lục. Tôi thong thả chén cái sand-wich còn lại mà mấy cái bánh quy phết bơ đậu phộng. Tôi uống nửa chỗ nước trong bình. Tôi sẵn sàng câu cá.

      Tôi cố nghĩ xem nên bắt đầu từ chỗ nào. Tôi câu ở đây được ba năm, kể từ khi chúng tôi chuyển đến. Bố từng mang George và tôi theo xe, đợi bọn tôi, hút thuốc, mắc mồi vào lưỡi câu, sắp xếp bộ cần mới cho chúng tôi nếu chúng tôi câu được cá. Chúng tôi luôn luôn bắt đầu từ cây cầu này và di chuyển dần xuống, và chúng tôi luôn luôn câu được cá. Có khi, ngay ngày đầu tiên của mùa câu, chúng tôi câu được hết hạn mức cho phép. Tôi bày đồ nghề ra rồi thử quăng câu vài lần dưới gầm cầu trước.

      Có mấy lúc tôi quăng câu ngay dưới bờ hoặc cũng rơi vào sau tảng đá to. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Ở chỗ nước đọng dưới đáy đầy lá vàng, tôi nhìn kỹ thấy mấy con tôm bò, giương những cái càng to tướng xấu xí lên. Mấy con chim cuốc lủi ra khỏi bụi cây. Khi tôi ném cái que, con gà lôi trống nhảy lên kêu oang oác cách chừng ba mét khiến tôi suýt đánh rơi cần.

      Con suối nông và rộng lắm. Tôi có thể lội qua bất cứ đoạn nào mà nước tràn vào bốt. Tôi băng qua bãi cỏ đầy phân bò, đến chỗ nơi nước chảy ra từ cái cống to. Tôi biết có cái hốc bên dưới cống nên rất thận trọng. Tôi quỳ xuống, cúi gần để thả dây câu. Chỉ vừa chạm nước cần giật, nhưng tôi để sảy con cá. Tôi có cảm giác nó kéo dây theo. Rồi nó thoát và dây trôi trở lại. Tôi mắc trứng cá hồi khác và thử thả câu vài lần nữa. Nhưng tôi biết mình xúi quẩy.

      Tôi lên bờ và chui qua hàng rào có bảng đề TRÁNH XA cột. trong những đường băng của sân bay bắt đầu từ đây. Tôi dừng lại ngắm đám hoa mọc những khe nứt của vỉa hè. Có thể nhìn thấy những vệt bánh xe cán lên vỉa hè để lại những vết nhơm nhớp xung quanh đám hoa. Tôi gặp lại con suối từ bờ bên kia và thả câu dọc theo suối cho đến tới chỗ cái hốc. Tôi đồ chừng chỉ có thể đến đây là xa nhất. Cách đây ba năm khi lần đầu tiên lên đến chỗ này, dòng nước gầm gào lên tận mép bờ. Nó chảy quá xiết nên tôi thể câu được. Bây giờ mực nước suối thấp hơn bờ những gần hai mét. Nước sủi bọt nhảy nhót trong khúc suối hẹp sát mép vực này, nơi hầu như thấy đáy. Xa hơn chút, lòng suối dốc lên rồi lại phẳng như thể chẳng có gì xảy ra. Lần cuối cùng tới đây tôi câu được hai con dài chừng phần tư mét và sảy mất con phải to gấp đôi – con cá hồi đầu thép [1] , bố bảo thế khi nghe tôi kể về nó. Bố chúng bơi ngược dòng những khi nước dâng cao vào đầu mùa xuân nhưng hầu hết quay về sông trước mùa cạn.

      [1]:Nguyên văn: “summer steelhead”, loại cá thuộc họ cá hồi, nhưng rất to.

      Tôi nối thêm hai đoạn nữa vào dây câu và dùng răng cột chúng. Rồi tôi móc cái trứng cá hồi tươi vào và quăng ra chỗ bậc nước đổ vào vực. Tôi mặc cho dòng chảy cuốn nó . Tôi cảm thấy cục chì giật giật khi va vào đá, kiểu giật khác với kiểu giật khi cá cắn câu. Rồi sợi dây căng ra và dòng chảy cuốn cái trứng mất hút xuống cuối vực.

      Tôi cảm thấy chán đời khi xa đến thế này mà chẳng được gì. Lần này tôi lôi ra mọi loại dây ra và quăng lần nữa. Tôi gác cần lên nhánh cây và đốt điếu thuốc thứ hai. Tôi nhìn lên phía thung lũng và bắt đầu hình dung về . Chúng tôi đến nhà nhờ tôi mang hộ mấy túi đồ ăn. Chồng ở nước ngoài. Tôi chạm vào người khiến bắt đầu run rẩy. Chúng tôi mút lưỡi nhau sofa xin phép vào buồng tắm. Tôi theo . Tôi nhìn tụt quần xuống ngồi lên toa lét. Cậu của tôi ngóc đầu lên cứng ngắc khi vẫy tôi lại. Ngay khi tôi bắt đầu kéo khóa quần xuống, tôi nghe tiếng phựt trong dòng suối. Tôi ngó ra và thấy đầu cần câu rung nhè .

      Cu câu to lắm và cũng chống cự nhiều. Nhưng tôi vờn nó lâu. Nó lật nghiêng ra nằm trong dòng chảy phía dưới. Tôi biết nó là cá gì. Trông nó lạ. Tôi thu dây lại nhấc nó lên bờ cho nằm đám cỏ, nó bắt đầu giãy đành đạch. Nó là con cá hồi. Nhưng nó màu xanh lá cây. Tôi chưa từng thấy con cá nào giống như vậy. Hai bên lườn nó xanh có những chấm đen của cá hồi, cái đầu xanh nhạt, và cái bụng cũng hơi xanh. Nó có màu của rêu. Như thể nó được gói trong rêu thời gian dài khiến rêu dính khắp người nó. Nó khá to khiến tôi băn khoăn sao nó chống cự nhiều hơn. Tôi biết nó có ổn . Tôi nhìn nó lúc nữa, rồi giúp cho nó thoát khỏi đau đớn.

      Tôi bứt mấy cọng cỏ cho vào trong giỏ đựng cá và đặt nó vào, nắm cỏ.

      Tôi quăng câu vài lần nữa, rồi tôi áng chừng lúc đó phải hai hay ba giờ chiều. Tôi nghĩ tốt hơn là phải di chuyển lại về phía cây cầu. Tôi nghĩ bụng câu dưới gầm cầu lúc nữa trước khi về nhà. Và tôi quyết định chờ đến đêm rồi mới nghĩ về kia nữa. Nhưng ngay lập tức cậu tôi lại ngóc đầu dậy khi tôi nghĩ về cú ngóc đầu mà đêm đó tôi có được. Rồi tôi nghĩ tốt hơn là đừng làm cái trò này quá nhiều. Cách đây chừng tháng, ngày thứ Bảy khi mọi người đều vắng, tôi vớ lấy cuốn Kinh Thánh ngay sau khi làm xong, hứa và thề thốt rằng tôi làm trò đó nữa. Nhưng tôi làm vấy sữa đục vào cuốn Kinh Thánh, và những hứa hẹn thề thốt chỉ kéo dài hai ngày, cho đến lúc tôi lại ở mình.

      đường về tôi thả câu. Khi tới cây cầu, tôi nhìn thấy chiếc xe đạp đám cỏ. Tôi thấy thằng nhóc vóc người cỡ bằng George chạy dọc theo bờ suối. Tôi chạy theo nó. Rồi nó quay lại và vừa chạy về hướng tôi vừa nhìn xuống nước.

      “Ê, cái gì đó!” tôi réo. “Làm sao đấy?” tôi đồ chừng nó chẳng nghe tôi. Tôi thấy cái cần và túi câu của nó bỏ bờ, bèn vứt đồ của tôi xuống. Tôi chạy lại chỗ nó. Trông nó giống như con chuột hay đại loại vậy. Răng nó vẩu, cẳng tay khẳng khiu, còn cái áo sơ mi tay dài tả tơi quá bé so với nó.

      “Chúa ơi, tao thề có con cá bự nhất ở đây mà tao từng thấy!” nó kêu. “Nhanh! Nhìn! Nhìn đây này! Đây nó đây!”

      Tôi nhìn chỗ nó chỉ và tim tôi đập thình thích.

      Nó phải dài bằng cả cánh tay tôi.

      “Chúa, ôi Chúa, mày nhìn nó !” thằng nhóc .

      Tôi nhìn chăm chú. Nó nằm nghỉ trong bóng mát dưới nhánh cây sà mặt nước. “Chúa toàn năng,” tôi với con cá, “mày từ đâu ra thế hả?”

      “Mình làm gì đây?” thằng nhóc . “Ước gì tao mang theo súng.”

      “Mình bắt nó,” tôi . “Chúa ơi, nhìn nó kìa. Lùa nó ra chỗ nước cạn .”

      “Vậy mày giúp tao nhé? Tụi mình hợp tác!” thằng nhóc .

      Con cá to bơi xuôi dòng thêm vài mét và nằm đó lờ lững ở đoạn nước trong.

      “OK, mình làm gì bây giờ?” thằng nhóc .

      “Tao lên đầu kia rồi lội xuống suối lùa nó ,” tôi . “Mày đứng ở chỗ bãi cạn, khi nào nó bơi ngang mày đá cho nó phọt cứt ra. Làm thế nào để đưa nó được lên bờ làm, kiểu gì cũng được. Rồi ôm chặt lấy nó và đợi ở đó.”

      “OK. Ồ, cứt , nhìn nó kìa. Nhìn kìa, nó bơi . Nó bơi đâu?” thằng nhóc gào lên.

      Tôi dõi theo con cá bơi ngược dòng rồi dừng lại gần bờ. “Nó đâu được hết. Chẳng có chỗ nào cho nó . Thấy nó ? Nó sợ vãi tè rồi. Nó biết mình ở đây. Bây giờ nó chỉ bơi lòng vòng tìm xem có chỗ thoát thôi. Thấy chưa, nó lại dừng rồi. Nó đâu được hết. Nó biết vậy. Nó biết mình sắp sửa tóm nó. Nó biết là nó sắp toi rồi. Tao lên đằng kia dọa cho nó xuống. Mày vớ lấy nó khi nó bơi ngang nhé.”

      “Ước gì tao có súng,” thằng nhóc . “Có súng tao cho nó biết mùi,” thằng nhóc .

      Tôi lên đoạn, rồi bắt đầu lội xuôi dòng. Tôi ngó chừng đằng trước trong khi lội. Đột nhiên con cá vụt ra khỏi bờ, quay ngoắt ngay trước mũi tôi làm tung xoáy nước bạc, rồi vút xuôi theo dòng.

      “Nó tới đó!” tôi hú. “Ê, ê, nó tới đó.” Nhưng con cá lượn vòng trước khi tới bãi cạn và quay đầu lại. Tôi vừa đập nước tung tóe vừa hú hét khiến nó lại quay đầu. “Nó tới đó! Tóm lấy nó, tóm lấy nó! Nó tới đó!”

      Nhưng thằng ngu đó kiếm được cây gậy, thằng con lừa, và khi con cá tới chỗ bãi cạn, thay vì cố đá văng con quỷ đó lên bờ như lẽ ra nó phải làm, nó lại vụt gậy vào con cá. Con cá vuột khỏi, nổi khùng, lướt bên lườn qua bãi cạn. Nó thoát. Thằng nhóc ngu dốt cố chộp nó và ngã sóng soài.

      Nó lóp ngóp lội lên bờ, người ướt sũng. “Tao đập trúng nó!” thằng nhóc reo lên. “Chắc là nó cũng dính đòn. Tao chộp trúng nó rồi, nhưng giữ được.”

      “Mày chẳng làm được gì hết!” tôi hổn hển. Tôi mừng vì thằng nhóc ngã xuống nước. “Thậm chí mày còn lại gần được nó, con lừa ạ. Mày cầm cái gậy đó làm gì? Lẽ ra mày phải đá nó. Bây giờ bơi cả cây số rồi.” Tôi cố phun nước bọt. Tôi lắc đầu. “Tao biết. Mình chưa tóm được nó. Chắc mình tóm được nó,” tôi .

      “Mẹ kiếp, tao đập trúng nó!” thằng nhóc gào lên. “Mày có thấy ? Tao đập trúng nó, tay tao còn chạm vào người nó. Mày đến gần nó được chừng nào chưa? Chưa kể, đây là con cá của ai?” Nó nhìn tôi. Nước chảy từ quần xuống giày nó.

      Tôi gì thêm, nhưng tự tôi cũng nghĩ về chuyện đó. Tôi nhún vai. “Hừ, thôi được. Tao nghĩ nó của cả hai. Lần này ráng tóm được nó. được phạm sai lầm nữa, cả mày cả tao,” tôi .

      Chúng tôi lội xuôi dòng. Nước tràn vào bốt tôi, nhưng thằng nhóc ướt tận cổ. Nó cắn chặt hàm răng vẩu để khỏi phải đánh đàn răng.

      thấy con cá trong dòng chảy phía dưới bãi cạn, cũng thấy nó ở dải nước kế tiếp. Chúng tôi nhìn nhau, bắt đầu lo rằng con cá bơi xuôi dòng đủ xa để đến trong những cái vũng sâu. Nhưng rồi con quỷ đó quẫy ngay gần bờ, khuấy đuôi văng cả cát xuống nước, rồi lại lủi . Nó vượt qua bãi cạn khác, cái đuôi to thò mặt nước. Tôi thấy nó bơi qua gần bờ và dừng lại, nửa cái đuôi chìa ra khỏi nước, bơi phe phẩy chỉ đủ để khỏi bị nước cuốn .

      “Mày thấy nó ?” tôi . Thằng nhóc nhìn. Tôi cầm cánh tay nó và chỉ bằng ngón tay nó. “Kia kìa. Bây giờ OK rồi, nghe đây. Tao lội xuống cái dòng chảy giữa hai bờ kìa. Mày hiểu ý tao ? Mày đợi ở đây tới khi tao ra dấu. Rồi mày bắt đầu xuống. OK? Lần này đừng để nó thoát nếu như nó quay đầu lại.”

      “Ừ,” thằng nhóc , cà hàm răng vẩu vào môi. “Lần này phải tóm được nó,” thằng nhóc , trông mặt nó lạnh cóng.

      Tôi leo lên bờ và dọc xuống, cố gắng di chuyển nhàng. Tôi trượt khỏi bờ suối và lội tiếp. Nhưng tôi thấy cái con quỷ to đùng đó đâu hết và tim tôi nhộn nhạo. Tôi nghĩ chắc chắn nó chuồn mất rồi. Chỉ xuôi dòng chút nữa thôi nó lẩn vào trong những cái vũng. Lúc đó chúng tôi cách nào tóm nó được.

      “Nó còn đó ?” tôi hú. Tôi nín thở.

      Thằng nhóc vẫy tay.

      “Sẵn sàng rồi!” tôi lại hú.

      “Bắt đầu đây!” thằng nhóc hú đáp lại.

      Tay tôi run run. Con suối chỉ rộng chưa tới mét chảy giữa hai bờ đất. Nước cạn nhưng chảy xiết. Thằng nhóc di chuyển xuôi dòng, nước lên tới đầu gối, ném về phía trước, đập nước và la hét.

      “Nó tới đó!” Thằng nhóc vẫy cánh tay. Tôi thấy con cá rồi; nó bơi thằng về phía tôi. Nó định quay lại khi thấy tôi nhưng quá muộn. Tôi quỳ xuống, chộp vào nước lạnh. Tôi tóm nó bằng cả hai cánh tay, lên, lên, tôi nhấc nó lên, quẳng nó ra khỏi nước, cả hai văng lên bờ. Tôi giữ nó trước ngực, nó vùng vẫy giãy giụa, cho tới lúc tôi lùa tay khỏi cái lườn trơn mà tóm vào mang nó. Tôi thọc tay ra tới mồm nó và khóa hàm nó lại. Tôi biết tóm được nó. Nó vẫn vùng vẫy, rất khó giữ, nhưng tôi tóm được nó và để tuột.

      “Mình tóm được nó rồi!” thằng nhóc vừa reo vừa bì bõm lội lên. “Nhờ Chúa, mình tóm được nó! phải nó ghê gớm lắm sao! Nhìn nó kìa! Ôi Chúa, để tao ôm nó với,” thằng nhóc reo.

      “Mình phải giết nó ,” tôi . Tôi thọc tay kia xuống họng nó. Tôi giật ngược lên phía đầu mạnh hết sức có thể, cố tránh bộ răng của nó, và cảm thấy tiếng rắc nặng nề. Nó giãy lúc lâu rồi nằm đơ ra. Tôi đặt nó nằm bờ và chúng tôi nhìn nó. Nó dài ít nhất sáu tấc, ốm cách kỳ cục, nhưng to hơn bất cứ con nào tôi từng bắt được. Tôi lại nắm lấy hàm nó.

      “Ê,” thằng nhóc định mở mồm nhưng lại im khi thấy tôi định làm gì. Tôi rửa sạch máu và vứt con cá nằm bờ.

      “Tao muốn cho bố tao xem con này ghê lắm,” thằng nhóc .

      Chúng tôi đều ướt sũng và run lập cập. Chúng tôi nhìn nó, sờ mó nó. Chúng tôi banh mồm nó ra và sờ hàm răng nó. Hai bên lườn nó có những vết sẹo, những vết trắng sần sùi to bằng đồng xu và sưng tấy. đầu nó, quanh mắt và mũi có những vết rách mà tôi ngờ là do nó va vào và do đánh nhau. Nhưng nó gầy tong, quá gầy nếu so với chiều dài của nó, gần như thể thấy những sọc hồng hai bên lườn, còn bụng xám và nhão thay vì trắng và chắc như lẽ ra phải thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ nó vẫn là quái kiệt.

      “Chắc là tao phải về ngay rồi,” tôi . Tôi nhìn những đám mây đồi nơi mặt trời dần lặn xuống. “Tao phải về nhà.”

      “Chắc thế. Tao cũng vậy. Tao lạnh cóng,” thằng nhóc . “Ê, tao muốn cầm nó,” thằng nhóc .

      “Kiếm cái que. Mình xỏ qua mồm nó để khiêng,” tôi .

      Thằng nhóc tìm được cái que. Chúng tôi xâu qua mang nó và đẩy con cá xuống giữa que. Rồi mỗi đứa cầm đầu que và bắt đầu về, ngắm con cá đong đưa que.

      “Mình làm gì với nó?” thằng nhóc .

      “Tao biết,” tôi . “Tao nghĩ là tao bắt được nó,” tôi .

      “Cả hai cùng bắt. Ngoài ra, tao thấy nó trước.”

      “Đúng vậy,” tôi . “À, mày muốn tung đồng xu hay sao?” tôi thò tay kia vào túi, nhưng tôi chả có đồng nào. Vả lại tôi làm gì nếu thua?

      Dù sao nữa, thằng nhóc , “, tao muốn tung xu.”

      Tôi , “Cũng được. Tao OK.” Tôi nhìn thằng nhóc, tóc nó dựng đứng, môi xám ngoét. Nếu phải đánh nhau tôi có thể thắng nó. Nhưng tôi muốn đánh nhau.

      Chúng tôi tới nơi để đồ đạc và nhặt đồ lên bằng tay, đứa nào buông đầu que ra. Rồi chúng tôi cuốc bộ tới chỗ nó để xe đạp. Tôi nắm chặt đầu que đề phòng thằng nhóc giở trò gì.

      Rồi tôi nảy ra ý. “Mình có thể chia đôi,” tôi .

      “Ý mày là sao?” thằng nhóc , răng nó lại đánh cầm cập. Tôi cảm thấy nó siết chặt đầu que.

      “Chia đôi con cá. Tao có dao. Mình cắt làm đôi mỗi đứa lấy nửa. Tao biết, nhưng tao nghĩ mình có thể làm được.”

      Nó giật cọng tóc và nhìn con cá. “Mày định dùng con dao đó?”

      “Mày có con nào ?” tôi .

      Thằng nhóc lắc đầu.

      “OK,” tôi .

      Tôi rút cái que ra, đặt con cá bãi cỏ bên cạnh xe đạp của thằng nhóc. Tôi lấy dao ra. chiếc may bay chạy lấy đà đường băng lúc tôi ướm vạch. “Ngay đây nhé?” tôi . Thằng nhóc gật. Chiếc máy bay ầm ầm chạy đường băng và cất cánh ngay đầu chúng tôi. Tôi bắt đầu cắt con cá ra làm đôi. Tôi đụng tới ruột nó, liền lật nó lại và trút mọi thứ ra. Tôi hì hục cắt tiếp cho đến lúc chỉ còn mảnh da bụng gắn nó lại với nhau. Tôi cầm cả hai phần của nó lên và giật cho đứt hẳn làm hai.

      Tôi đưa thằng nhóc phần đuôi.

      ,” nó , lắc đầu. “Tao muốn nửa kia.”

      Tôi , “Nó như nhau hết. Mẹ kiếp, xem này, tao nổi khùng bây giờ.”

      “Kệ mày,” thằng nhóc . “Nếu nó như nhau hết tao lấy nửa kia. Nó như nhau hết mà, đúng ?”

      “Nó như nhau,” tôi . “Nhưng tao nghĩ tao giữ nửa này. Tại vì tao có công bắt cá.”

      “Tao muốn nửa đó,” thằng nhóc . “Tao thấy nó trước mà.”

      “Mình dùng dao của ai?” tôi .

      “Tao muốn lấy khúc đuôi,” thằng nhóc .

      Tôi nhìn quanh. có chiếc xe nào đường và có ai khác câu. Có tiếng chiếc máy bay ầm ì, và mặt trời lặn dần. Tôi lạnh run cả người. Thằng nhóc run cầm cập, vẫn đợi.

      “Tao có ý này,” tôi . Tôi mở giỏ cá và chỉ nó con cá hồi. “Thấy ? Nó màu xanh lá cây. Nó là con cá xanh lá cây duy nhất tao từng thấy. Vậy ai lấy khúc đầu đứa kia được con cá hồi xanh này và khúc đuôi. Công bằng chưa?”

      Thằng nhóc nhìn con cái hồi xanh rồi lấy nó ra khỏi giỏ mà cầm. Nó ngắm nghía hai nửa con cá.

      “Chắc được,” nó . “OK, chắc được. Mày lấy nửa đó. Tao có nhiều thịt hơn.”

      “Tao quan tâm,” tôi . “Tao rửa sạch nó. Nhà mày ở đâu?” tôi .

      “Dưới đường Arthur.” Nó nhét con cá hồi màu xanh và khúc cá của nó vô trong cái túi vải bẩn. “Tại sao mày hỏi?”

      “Chỗ đó là chỗ nào? Có phải gần sân bóng?” tôi .

      “Ừ, nhưng tao hỏi là tại sao.” Thằng nhóc có vẻ sợ.

      “Tao ở gần đó,” tôi . “Nên tao nghĩ tao có thể ngồi sườn xe. Mình thay phiên nhau đạp. Tao còn điều này, mình có thể chia, nếu nó chưa bị ướt.”

      Nhưng thằng nhóc chỉ , “Tao lạnh cóng.”

      Tôi rửa khúc của tôi dưới suối. Tôi nhúng đầu nó xuống nước và vạch miệng nó ra. Dòng nước tràn vào miệng nó và chảy ra đầu kia phần thân còn lại của nó.

      “Tao lạnh cóng,” thằng nhóc .

                  ***


      Tôi thấy George đạp xe đầu kia đường. Nó thấy tôi. Tôi vòng ra sau nhà để tháo bốt. Tôi cởi cái giỏ cá ra để có thể mở nắp và sẵn sàng tiến vào nhà, miệng cười toe toét.

      Tôi nghe tiếng họ liền nhìn qua cửa sổ. Tôi thấy họ ngồi bên bàn. Khói mịt mù nhà bếp. Tôi thấy nó bốc lên từ cái chảo bếp. Nhưng cả hai để ý.

      “Cái tôi bảo với thể chối cãi,” bố . “Bọn trẻ biết gì? thấy.”

      Mẹ , “Tôi thấy gì hết. Nếu tôi nghĩ vậy, chẳng thà tôi thấy chúng chết trước.”

      Bố , “ bị làm sao đấy? nên cẩn thận mồm mép.”

      Mẹ bắt đầu khóc. Bố dúi điếu thuốc vào gạt tàn rồi đứng dậy.

      “Edna, có biết là cái chảo cháy ?” bố .

      Mẹ nhìn cái chảo. Mẹ đẩy ghế ra sau, nắm lấy cán chảo rồi ném chảo vào tường chỗ bồn rửa bát.

      Bố , “ mất trí rồi hả? Nhìn xem làm gì này!” Bố lấy cái khăn lau bát ra và bắt tay chùi chảo.

      Tôi mở cửa sau. Tôi bắt đầu ngoác miệng. Tôi , “Bố mẹ tin được con bắt được gì ở suối Birch đâu. Hãy nhìn. Nhìn đây. Nhìn đây này. Nhìn xem con bắt được gì.”

      Chân tôi run. Gần như tôi thể đứng được. Tôi chìa cái giỏ về phía mẹ, và rốt cuộc mẹ cũng nhìn vào. “Ối, ối, lạy Chúa tôi. Cái gì đây? Rắn hả? Cái gì đây? Làm ơn, làm ơn mang nó ra ngoài tao nôn bây giờ.”

      “Mang ra ngoài !” bố quát. “Mày nghe bà ấy gì à? Mang nó ra khỏi đây!” bố quát.

      Tôi , “Nhưng mà bố nhìn xem cái gì đây .”

      Bố , “Tao muốn nhìn.”

      Tôi , “Đó là con cá hồi đầu thép khổng lồ ở suối Birch. Nhìn xem! Đáng nể ? Nó là quái kiệt. Con chạy xuôi chạy ngược suối đuổi theo nó như thằng điên!” Giọng tôi run run. Nhưng tôi hề dừng lại. “Còn con khác nữa,” tôi vội. “ con màu xanh. Con thề! Nó màu xanh! Bố bao giờ thấy con cá màu xanh chưa?”

      Bố nhìn vào giỏ rồi há hốc mồm.

      Ông gào, “Mang cái đồ chết tiệt này ra khỏi đây ngay! Mày bị sao vậy hả? Mang nó ra khỏi nhà bếp và vứt vô cái thùng rác chết tiệt !”

      Tôi ra ngoài. Tôi nhìn vào giỏ. Cái thứ trong đó trông lấp lánh bạc dưới ánh đèn cổng. Cái thứ trong đó làm đầy cái giỏ.

      Tôi nhấc nó ra. Tôi cầm nó tay. Tôi cầm nửa đó của nó.




        AI


      Tôi có thể nghe tiếng họ ngoài bếp. nghe họ gì, nhưng tôi biết họ cãi nhau. Rồi đột nhiên im lặng và mẹ bắt đầu khóc. Tôi thúc tay vào người George. Tôi tưởng nó thức dậy gì đó với họ để họ cảm thấy tội lỗi mà thôi . Nhưng George con lừa. Nó đạp chân và càu nhàu.

      “Mày có thôi chọt tao , thằng chó,” nó . “Tao nói cho mày biết!”

      “Thằng ngu,” tôi . “Mày có khôn lên lần được ? Họ cãi nhau và mẹ khóc kìa. Nghe .”

      Nó lắng nghe, đầu trượt khỏi gối. “Tao đếch quan tâm,” nó và quay vào tường ngủ tiếp. George là con lừa thượng hạng.

      Lúc sao tôi nghe tiếng bố ra khỏi nhà bắt xe buýt. Ông đóng sầm cửa trước. Mẹ từng bảo tôi ông muốn làm tan nát cái gia đình này. Tôi muốn nghe.

      lúc sau mẹ vào phòng gọi chúng tôi dậy học. Giọng mẹ nghe buồn cười – tôi biết nữa. Tôi tôi thấy đau bụng. Đó là tuần đầu tiền của tháng Mười và tôi chưa nghỉ học ngày nào, vậy mẹ có thể gì? Mẹ nhìn tôi, nhưng cứ như bà nghĩ ngợi chuyện gì khác. George thức giấc và lắng nghe. Tôi biết nó thức, bằng cái kiểu nó ngọ nguậy trong giường. Nó chờ xem kết quả thế nào để còn tính kế.

      “Thôi được.” Mẹ lắc đầu. “Mẹ chẳng biết thế nào. Vậy ở nhà. Nhưng được bật ti vi, nhớ đấy.”

      George nhổm dậy. “Con cũng ốm,” nó với mẹ. “Con nhức đầu. Nó chọt, đạp con cả đêm. Con ngủ được tý nào.”

      “Đủ rồi!” mẹ . “Con phải học, George! Con được ở đây cãi nhau với em con cả ngày. Bây giờ dậy mặc quần áo. Dậy ngay. Sáng nay mẹ muốn có thêm trận chiến nữa đâu.”

      George đợi đến khi mẹ ra khỏi phòng. Rồi nó trèo ra phía chân giường. “Thằng chó,” nó và giật chăn khỏi người tôi. Nó lỉnh vào phòng tắm.

      “Tao giết mày,” tôi , quá to để mẹ khỏi nghe.

      Tôi nằm trong giường cho đến lúc George học. Khi mẹ chuẩn bị làm, tôi xin mẹ trải chỗ nằm cho tôi sofa. Tôi tôi muốn học bài. bàn uống trà tôi để mấy cuốn sách của Edgar Rice Burroughs. Nhưng tôi chả có hứng đọc sách. Tôi muốn mẹ làm để tôi còn coi ti vi.

      Mẹ giật nước toa lét.

      Tôi thể chờ thêm được nữa. Tôi bật ti vi lên mà mở tiếng. Tôi ra bếp chỗ mẹ để gói thuốc rút ba điếu. Tôi giấu chúng trong tủ ly, quay lại sofa và bắt đầu đọc cuốn Công chúa sao Hỏa. Mẹ ra liếc qua ti vi nhưng gì. Tôi để mở cuốn sách. Mẹ chải tóc trước gương rồi vào bếp. Khi mẹ ra tôi nhìn xuống sách.

      “Mẹ muộn rồi. Bye con.” Mẹ nhắc nhở gì đến chuyện ti vi. Đêm qua mẹ bảo mẹ còn hình dung được làm mà bị “quậy” là như thế nào nữa.

      “Đừng nấu nướng gì nhé. Con cần phải bật bếp lên làm gì. Nếu con đói có cá ngừ trong tủ lạnh.” Mẹ nhìn tôi, “Nhưng con đau bụng, mẹ nghĩ con nên ăn. Dù gì con cần phải bật bếp. Nghe chưa? Con uống viên thuốc đỏ , con trai, mẹ hy vọng đến tối bụng con ổn hơn. Có khi đến tối cả nhà đều thấy ổn hơn.”

      Mẹ đúng ở lối ra vào vặn quả đấm. Trông mẹ như thể định gì khác. Mẹ mặc áo trắng, thắt lưng đen rộng bản, váy đen. Khi mẹ bảo đó là đồ chơi, khi mẹ bảo đó là đồng phục. Trong chừng mực tôi còn nhớ được, nó luôn luôn được treo trong tủ hoặc dây phơi, hoặc được giặt tay vào ban đêm hoặc được ủi trong bếp.

      Mẹ làm từ thứ Tư đến Chủ nhật.

      “Bye mẹ.”

      Tôi chờ mẹ khởi động xe và làm nóng máy. Tôi nghe tiếng mẹ đánh xe khỏi lề đường. Rồi tôi ngồi dậy vặn ti vi to lên và lấy thuốc. Tôi hút điếu và vừa xóc lọ vừa xem show về bác sĩ và y tá. Rồi tôi bật sang kênh khác. Rồi tôi tắt ti vi. Tôi chả có hứng xem ti vi.

      Tôi đọc xong chương trong đó Tars Tarkas đổ vì ả da xanh, chỉ để rồi sáng hôm sau thấy ta bị gã rể ghen tuông ấy chặt đầu. Đây phải là lần thứ năm tôi đọc cuốn này. Rồi tôi vào phòng ngủ bố mẹ ngó nghiêng. Tôi định tìm kiếm thứ gì cụ thể trừ khi đó lại là bao cao su và mặc dù nhìn khắp song tôi chưa bao giờ thấy cái nào. Có lần tôi thấy lọ Vaseline nằm sâu trong ngăn kéo. Tôi biết chắc nó phải liên quan gì đến chuyện đó, nhưng tôi biết là gì. Tôi ngắm nghía cái nhãn, hy vọng nó tiết lộ điều gì đó, chẳng hạn mô tả người ta làm gì, hay là cách dùng nó như thế nào, đại khái vậy. Nhưng chẳng có gì hết. Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết, nhãn đằng trước chỉ có vậy. Nhưng chỉ đọc nhiêu đó cũng đủ để cậu của tôi ngóc đầu dậy. Trợ Thủ Xuất Sắc Ở Nhà Trẻ - nhãn phía sau ghi như vậy. Tôi cố hình dung ra mối liên hệ giữa Nhà Trẻ - xích đu và cầu tuột, bãi cát và vòng treo – và cái diễn ra giữa họ giường. Tôi mở cái lọ này nhiều lần, ngửi bên trong và nhìn xem nó vơi bao nhiêu kể từ lần trước. Lần này tôi bỏ qua lọ Gel Dầu Mỏ Tinh Khiết. Ý tôi là, tôi chỉ ngó qua để xem cái lọ còn ở đó . Tôi lục vài ngăn kéo khác, mong đợi tìm thấy gì. Tôi ngó dưới gầm giường. có cái gì ở chỗ nào hết. Tôi nhìn vào cái hộp trong tủ quần áo chỗ họ để tiền chợ. có tiền lẻ, chỉ có tờ năm đồng và tờ đồng. Họ để ý mấy đồng đó. Rồi tôi nghĩ thay đồ và bộ ra suối Birch. Mùa cá hồi bắt đầu từ cách đây hai tuần, nhưng hầu như mọi người còn câu cá nữa. Mọi người bây giờ chỉ ngồi chờ đến mùa săn hoẵng và gà lôi.

      Tôi lấy bộ quần áo cũ ra. Tôi mang vớ len ra bên ngoài vớ thường và hí hoáy buộc dây đôi bốt. Tôi làm mấy cái bánh mỳ kẹp cá ngừ và mấy cái bánh quy bơ đậu phộng hai lớp. tôi lấy nước đầy bình rồi giắt con dao săn và bình nước vào thắt lưng. Khi chuẩn bị ra cửa, tôi quyết định để lại vài dòng. Thế là tôi viết: “ cảm thấy khỏe hơn nên ra suối Birch. về sớm. Kh. 3:15.” Tức là khoảng bốn tiếng kể từ bây giờ. Và khoảng mười lăm phút trước khi George học về. Trước khi , tôi ăn cái bánh mì kẹp, chiêu bằng ly sữa.

      Bên ngoài trời đẹp. Bây giờ là mùa thu. Nhưng trừ buổi tối trời lạnh. Buổi tối người ta hun khói trong những vườn cây ăn quả và sáng dậy mũi bạn đen thui. Nhưng ai gì hết. Người ta hun khói giúp được những trái lên non khỏi bị cóng, cho nên vậy cũng được.

      Để tới suối Birch, bạn phải hết đường nhà chúng tôi, tới đó bạn gặp đường số 16. Bạn rẽ trái ở đường số 16, lên đồi, băng qua nghĩa trang xuống khu Lennox nơi có tiệm ăn Tàu. Từ ngã tư bạn có thể nhìn thấy sân bay, suối Birch nằm ngay kế sân bay. Và từ ngã tư, đường số 16 đổi thành đường View. Bạn đoạn dọc đường View cho đến khi gặp cây cầu. Hai bên đường có các vườn quả. Đôi khi ngang những vườn quả bạn có thể thấy vài con gà lôi chạy dưới các hàng cây, nhưng bạn được săn chúng vì bạn có thể bị gã Hy Lạp tên Matsos bắn. Tôi áng chừng mất bốn chục phút bộ cả thảy.

      Tôi được nửa đường 16 phụ nữ chạy chiếc xe màu đỏ ghé lại trước mặt tôi. hạ kính phía bên khách xuống hỏi tôi có muốn nhờ . gầy, quanh miệng có mụn . Tóc xoăn phồng lên. Nhưng trông khá ngon. mặc áo thu màu nâu, ngực đẹp.

      “Trốn học à?”

      “Chắc vậy.”

      ?”

      Tôi gật.

      “Vào . Chị vội.” Tôi bỏ cần và giỏ đựng cá lên ghế sau. sàn xe và ghế sau có đầy những túi đựng hàng của tiệm Mel. Tôi cố nghĩ ra gì đó để .

      “Em câu cá,” tôi . Tôi bỏ mũ ra, hất bình nước sang bên để ngồi xuống, ngồi sát cửa kính.

      “À, chị chẳng bao giờ đoán ra”. cười. lái xe tiếp. :Em đâu? Suối Birch hả?”

      Tôi lại gật. Tôi nhìn cái mũ của tôi. Chú tôi mua nó cho tôi khi chú xem 1 trận hokey ở Seattle. Tôi nghĩ ra gì thêm để  . Tôi hóp má lại, ngó ra cửa sổ. Bạn luôn luôn hình dung ra bạn được này tán tỉnh. Bạn biết hai người khoái nhau và nàng đưa bạn về nhà và mặc cho bạn đè ấy khắp nhà. Nghĩ về chuyện đó là cậu của tôi bắt đầu ngóc dậy. Tôi nhích mũ che đùi lại, nhắm mắt và cố nghĩ về bóng chày.

      “Chị cứ ngày nào đó chị câu,” . “Nghe câu thư giãn lắm. Chị là người hay căng thẳng.”

      Tôi mở mắt. Chúng tôi dừng ở ngã tư. Tôi muốn , Chị có bận lắm ? Chị có muốn bắt đầu từ sáng nay? Nhưng tôi dám nhìn .

      “Có đỡ cho em quãng ? Chị phải rẽ ở đây. Tiếc là sáng nay chị có việc vội,” .

      “OK ạ. Tốt rồi.” Tôi lấy đồ ra. Rồi tôi đội mũ lên và lại bỏ mũ ra khi . “Bye. Cám ơn. Có thể mùa hè tới,” nhưng tôi thể hết câu.

      “Ý em là câu cá? Dĩ nhiên.” vẫy bằng mấy ngón tay cái kiểu mà phụ nữ hay vẫy.

      Tôi bắt đầu cuốc bộ, nhẩm lại những điều lẽ ra tôi phải . Tôi có thể nghĩ ra rất nhiều thứ. Tôi bị làm sao thế? Tôi vụt cái cần vào khí và huýt sáo hai hay ba lần. Điều mà lẽ ra tôi phải làm để mào đầu là mời ấy ăn trưa. Ở nhà tôi có ai. Đột nhiên tôi thấy chúng tôi nằm dưới chăn trong phòng của tôi. ấy hỏi liệu cởi áo có được và tôi bảo tôi OK. ấy cũng cởi quần. Vậy cũng được, tôi . Tôi thấy phiền gì.

      chiếc Piper Cup sà thấp qua đầu tôi để chuẩn bị hạ cánh. Tôi chỉ cách cây cầu vài mét. Tôi nghe tiếng nước chảy. Tôi phóng xuống bờ suối, mở khóa quần, và câu vổng mét rưỡi qua suối. Đó hẳn là kỷ lục. Tôi thong thả chén cái sand-wich còn lại mà mấy cái bánh quy phết bơ đậu phộng. Tôi uống nửa chỗ nước trong bình. Tôi sẵn sàng câu cá.

      Tôi cố nghĩ xem nên bắt đầu từ chỗ nào. Tôi câu ở đây được ba năm, kể từ khi chúng tôi chuyển đến. Bố từng mang George và tôi theo xe, đợi bọn tôi, hút thuốc, mắc mồi vào lưỡi câu, sắp xếp bộ cần mới cho chúng tôi nếu chúng tôi câu được cá. Chúng tôi luôn luôn bắt đầu từ cây cầu này và di chuyển dần xuống, và chúng tôi luôn luôn câu được cá. Có khi, ngay ngày đầu tiên của mùa câu, chúng tôi câu được hết hạn mức cho phép. Tôi bày đồ nghề ra rồi thử quăng câu vài lần dưới gầm cầu trước.

      Có mấy lúc tôi quăng câu ngay dưới bờ hoặc cũng rơi vào sau tảng đá to. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Ở chỗ nước đọng dưới đáy đầy lá vàng, tôi nhìn kỹ thấy mấy con tôm bò, giương những cái càng to tướng xấu xí lên. Mấy con chim cuốc lủi ra khỏi bụi cây. Khi tôi ném cái que, con gà lôi trống nhảy lên kêu oang oác cách chừng ba mét khiến tôi suýt đánh rơi cần.

      Con suối nông và rộng lắm. Tôi có thể lội qua bất cứ đoạn nào mà nước tràn vào bốt. Tôi băng qua bãi cỏ đầy phân bò, đến chỗ nơi nước chảy ra từ cái cống to. Tôi biết có cái hốc bên dưới cống nên rất thận trọng. Tôi quỳ xuống, cúi gần để thả dây câu. Chỉ vừa chạm nước cần giật, nhưng tôi để sảy con cá. Tôi có cảm giác nó kéo dây theo. Rồi nó thoát và dây trôi trở lại. Tôi mắc trứng cá hồi khác và thử thả câu vài lần nữa. Nhưng tôi biết mình xúi quẩy.

      Tôi lên bờ và chui qua hàng rào có bảng đề TRÁNH XA cột. trong những đường băng của sân bay bắt đầu từ đây. Tôi dừng lại ngắm đám hoa mọc những khe nứt của vỉa hè. Có thể nhìn thấy những vệt bánh xe cán lên vỉa hè để lại những vết nhơm nhớp xung quanh đám hoa. Tôi gặp lại con suối từ bờ bên kia và thả câu dọc theo suối cho đến tới chỗ cái hốc. Tôi đồ chừng chỉ có thể đến đây là xa nhất. Cách đây ba năm khi lần đầu tiên lên đến chỗ này, dòng nước gầm gào lên tận mép bờ. Nó chảy quá xiết nên tôi thể câu được. Bây giờ mực nước suối thấp hơn bờ những gần hai mét. Nước sủi bọt nhảy nhót trong khúc suối hẹp sát mép vực này, nơi hầu như thấy đáy. Xa hơn chút, lòng suối dốc lên rồi lại phẳng như thể chẳng có gì xảy ra. Lần cuối cùng tới đây tôi câu được hai con dài chừng phần tư mét và sảy mất con phải to gấp đôi – con cá hồi đầu thép [1] , bố bảo thế khi nghe tôi kể về nó. Bố chúng bơi ngược dòng những khi nước dâng cao vào đầu mùa xuân nhưng hầu hết quay về sông trước mùa cạn.

      [1]:Nguyên văn: “summer steelhead”, loại cá thuộc họ cá hồi, nhưng rất to.

      Tôi nối thêm hai đoạn nữa vào dây câu và dùng răng cột chúng. Rồi tôi móc cái trứng cá hồi tươi vào và quăng ra chỗ bậc nước đổ vào vực. Tôi mặc cho dòng chảy cuốn nó . Tôi cảm thấy cục chì giật giật khi va vào đá, kiểu giật khác với kiểu giật khi cá cắn câu. Rồi sợi dây căng ra và dòng chảy cuốn cái trứng mất hút xuống cuối vực.

      Tôi cảm thấy chán đời khi xa đến thế này mà chẳng được gì. Lần này tôi lôi ra mọi loại dây ra và quăng lần nữa. Tôi gác cần lên nhánh cây và đốt điếu thuốc thứ hai. Tôi nhìn lên phía thung lũng và bắt đầu hình dung về . Chúng tôi đến nhà nhờ tôi mang hộ mấy túi đồ ăn. Chồng ở nước ngoài. Tôi chạm vào người khiến bắt đầu run rẩy. Chúng tôi mút lưỡi nhau sofa xin phép vào buồng tắm. Tôi theo . Tôi nhìn tụt quần xuống ngồi lên toa lét. Cậu của tôi ngóc đầu lên cứng ngắc khi vẫy tôi lại. Ngay khi tôi bắt đầu kéo khóa quần xuống, tôi nghe tiếng phựt trong dòng suối. Tôi ngó ra và thấy đầu cần câu rung nhè .

      Cu câu to lắm và cũng chống cự nhiều. Nhưng tôi vờn nó lâu. Nó lật nghiêng ra nằm trong dòng chảy phía dưới. Tôi biết nó là cá gì. Trông nó lạ. Tôi thu dây lại nhấc nó lên bờ cho nằm đám cỏ, nó bắt đầu giãy đành đạch. Nó là con cá hồi. Nhưng nó màu xanh lá cây. Tôi chưa từng thấy con cá nào giống như vậy. Hai bên lườn nó xanh có những chấm đen của cá hồi, cái đầu xanh nhạt, và cái bụng cũng hơi xanh. Nó có màu của rêu. Như thể nó được gói trong rêu thời gian dài khiến rêu dính khắp người nó. Nó khá to khiến tôi băn khoăn sao nó chống cự nhiều hơn. Tôi biết nó có ổn . Tôi nhìn nó lúc nữa, rồi giúp cho nó thoát khỏi đau đớn.

      Tôi bứt mấy cọng cỏ cho vào trong giỏ đựng cá và đặt nó vào, nắm cỏ.

      Tôi quăng câu vài lần nữa, rồi tôi áng chừng lúc đó phải hai hay ba giờ chiều. Tôi nghĩ tốt hơn là phải di chuyển lại về phía cây cầu. Tôi nghĩ bụng câu dưới gầm cầu lúc nữa trước khi về nhà. Và tôi quyết định chờ đến đêm rồi mới nghĩ về kia nữa. Nhưng ngay lập tức cậu tôi lại ngóc đầu dậy khi tôi nghĩ về cú ngóc đầu mà đêm đó tôi có được. Rồi tôi nghĩ tốt hơn là đừng làm cái trò này quá nhiều. Cách đây chừng tháng, ngày thứ Bảy khi mọi người đều vắng, tôi vớ lấy cuốn Kinh Thánh ngay sau khi làm xong, hứa và thề thốt rằng tôi làm trò đó nữa. Nhưng tôi làm vấy sữa đục vào cuốn Kinh Thánh, và những hứa hẹn thề thốt chỉ kéo dài hai ngày, cho đến lúc tôi lại ở mình.

      đường về tôi thả câu. Khi tới cây cầu, tôi nhìn thấy chiếc xe đạp đám cỏ. Tôi thấy thằng nhóc vóc người cỡ bằng George chạy dọc theo bờ suối. Tôi chạy theo nó. Rồi nó quay lại và vừa chạy về hướng tôi vừa nhìn xuống nước.

      “Ê, cái gì đó!” tôi réo. “Làm sao đấy?” tôi đồ chừng nó chẳng nghe tôi. Tôi thấy cái cần và túi câu của nó bỏ bờ, bèn vứt đồ của tôi xuống. Tôi chạy lại chỗ nó. Trông nó giống như con chuột hay đại loại vậy. Răng nó vẩu, cẳng tay khẳng khiu, còn cái áo sơ mi tay dài tả tơi quá bé so với nó.

      “Chúa ơi, tao thề có con cá bự nhất ở đây mà tao từng thấy!” nó kêu. “Nhanh! Nhìn! Nhìn đây này! Đây nó đây!”

      Tôi nhìn chỗ nó chỉ và tim tôi đập thình thích.

      Nó phải dài bằng cả cánh tay tôi.

      “Chúa, ôi Chúa, mày nhìn nó !” thằng nhóc .

      Tôi nhìn chăm chú. Nó nằm nghỉ trong bóng mát dưới nhánh cây sà mặt nước. “Chúa toàn năng,” tôi với con cá, “mày từ đâu ra thế hả?”

      “Mình làm gì đây?” thằng nhóc . “Ước gì tao mang theo súng.”

      “Mình bắt nó,” tôi . “Chúa ơi, nhìn nó kìa. Lùa nó ra chỗ nước cạn .”

      “Vậy mày giúp tao nhé? Tụi mình hợp tác!” thằng nhóc .

      Con cá to bơi xuôi dòng thêm vài mét và nằm đó lờ lững ở đoạn nước trong.

      “OK, mình làm gì bây giờ?” thằng nhóc .

      “Tao lên đầu kia rồi lội xuống suối lùa nó ,” tôi . “Mày đứng ở chỗ bãi cạn, khi nào nó bơi ngang mày đá cho nó phọt cứt ra. Làm thế nào để đưa nó được lên bờ làm, kiểu gì cũng được. Rồi ôm chặt lấy nó và đợi ở đó.”

      “OK. Ồ, cứt , nhìn nó kìa. Nhìn kìa, nó bơi . Nó bơi đâu?” thằng nhóc gào lên.

      Tôi dõi theo con cá bơi ngược dòng rồi dừng lại gần bờ. “Nó đâu được hết. Chẳng có chỗ nào cho nó . Thấy nó ? Nó sợ vãi tè rồi. Nó biết mình ở đây. Bây giờ nó chỉ bơi lòng vòng tìm xem có chỗ thoát thôi. Thấy chưa, nó lại dừng rồi. Nó đâu được hết. Nó biết vậy. Nó biết mình sắp sửa tóm nó. Nó biết là nó sắp toi rồi. Tao lên đằng kia dọa cho nó xuống. Mày vớ lấy nó khi nó bơi ngang nhé.”

      “Ước gì tao có súng,” thằng nhóc . “Có súng tao cho nó biết mùi,” thằng nhóc .

      Tôi lên đoạn, rồi bắt đầu lội xuôi dòng. Tôi ngó chừng đằng trước trong khi lội. Đột nhiên con cá vụt ra khỏi bờ, quay ngoắt ngay trước mũi tôi làm tung xoáy nước bạc, rồi vút xuôi theo dòng.

      “Nó tới đó!” tôi hú. “Ê, ê, nó tới đó.” Nhưng con cá lượn vòng trước khi tới bãi cạn và quay đầu lại. Tôi vừa đập nước tung tóe vừa hú hét khiến nó lại quay đầu. “Nó tới đó! Tóm lấy nó, tóm lấy nó! Nó tới đó!”

      Nhưng thằng ngu đó kiếm được cây gậy, thằng con lừa, và khi con cá tới chỗ bãi cạn, thay vì cố đá văng con quỷ đó lên bờ như lẽ ra nó phải làm, nó lại vụt gậy vào con cá. Con cá vuột khỏi, nổi khùng, lướt bên lườn qua bãi cạn. Nó thoát. Thằng nhóc ngu dốt cố chộp nó và ngã sóng soài.

      Nó lóp ngóp lội lên bờ, người ướt sũng. “Tao đập trúng nó!” thằng nhóc reo lên. “Chắc là nó cũng dính đòn. Tao chộp trúng nó rồi, nhưng giữ được.”

      “Mày chẳng làm được gì hết!” tôi hổn hển. Tôi mừng vì thằng nhóc ngã xuống nước. “Thậm chí mày còn lại gần được nó, con lừa ạ. Mày cầm cái gậy đó làm gì? Lẽ ra mày phải đá nó. Bây giờ bơi cả cây số rồi.” Tôi cố phun nước bọt. Tôi lắc đầu. “Tao biết. Mình chưa tóm được nó. Chắc mình tóm được nó,” tôi .

      “Mẹ kiếp, tao đập trúng nó!” thằng nhóc gào lên. “Mày có thấy ? Tao đập trúng nó, tay tao còn chạm vào người nó. Mày đến gần nó được chừng nào chưa? Chưa kể, đây là con cá của ai?” Nó nhìn tôi. Nước chảy từ quần xuống giày nó.

      Tôi gì thêm, nhưng tự tôi cũng nghĩ về chuyện đó. Tôi nhún vai. “Hừ, thôi được. Tao nghĩ nó của cả hai. Lần này ráng tóm được nó. được phạm sai lầm nữa, cả mày cả tao,” tôi .

      Chúng tôi lội xuôi dòng. Nước tràn vào bốt tôi, nhưng thằng nhóc ướt tận cổ. Nó cắn chặt hàm răng vẩu để khỏi phải đánh đàn răng.

      thấy con cá trong dòng chảy phía dưới bãi cạn, cũng thấy nó ở dải nước kế tiếp. Chúng tôi nhìn nhau, bắt đầu lo rằng con cá bơi xuôi dòng đủ xa để đến trong những cái vũng sâu. Nhưng rồi con quỷ đó quẫy ngay gần bờ, khuấy đuôi văng cả cát xuống nước, rồi lại lủi . Nó vượt qua bãi cạn khác, cái đuôi to thò mặt nước. Tôi thấy nó bơi qua gần bờ và dừng lại, nửa cái đuôi chìa ra khỏi nước, bơi phe phẩy chỉ đủ để khỏi bị nước cuốn .

      “Mày thấy nó ?” tôi . Thằng nhóc nhìn. Tôi cầm cánh tay nó và chỉ bằng ngón tay nó. “Kia kìa. Bây giờ OK rồi, nghe đây. Tao lội xuống cái dòng chảy giữa hai bờ kìa. Mày hiểu ý tao ? Mày đợi ở đây tới khi tao ra dấu. Rồi mày bắt đầu xuống. OK? Lần này đừng để nó thoát nếu như nó quay đầu lại.”

      “Ừ,” thằng nhóc , cà hàm răng vẩu vào môi. “Lần này phải tóm được nó,” thằng nhóc , trông mặt nó lạnh cóng.

      Tôi leo lên bờ và dọc xuống, cố gắng di chuyển nhàng. Tôi trượt khỏi bờ suối và lội tiếp. Nhưng tôi thấy cái con quỷ to đùng đó đâu hết và tim tôi nhộn nhạo. Tôi nghĩ chắc chắn nó chuồn mất rồi. Chỉ xuôi dòng chút nữa thôi nó lẩn vào trong những cái vũng. Lúc đó chúng tôi cách nào tóm nó được.

      “Nó còn đó ?” tôi hú. Tôi nín thở.

      Thằng nhóc vẫy tay.

      “Sẵn sàng rồi!” tôi lại hú.

      “Bắt đầu đây!” thằng nhóc hú đáp lại.

      Tay tôi run run. Con suối chỉ rộng chưa tới mét chảy giữa hai bờ đất. Nước cạn nhưng chảy xiết. Thằng nhóc di chuyển xuôi dòng, nước lên tới đầu gối, ném về phía trước, đập nước và la hét.

      “Nó tới đó!” Thằng nhóc vẫy cánh tay. Tôi thấy con cá rồi; nó bơi thằng về phía tôi. Nó định quay lại khi thấy tôi nhưng quá muộn. Tôi quỳ xuống, chộp vào nước lạnh. Tôi tóm nó bằng cả hai cánh tay, lên, lên, tôi nhấc nó lên, quẳng nó ra khỏi nước, cả hai văng lên bờ. Tôi giữ nó trước ngực, nó vùng vẫy giãy giụa, cho tới lúc tôi lùa tay khỏi cái lườn trơn mà tóm vào mang nó. Tôi thọc tay ra tới mồm nó và khóa hàm nó lại. Tôi biết tóm được nó. Nó vẫn vùng vẫy, rất khó giữ, nhưng tôi tóm được nó và để tuột.

      “Mình tóm được nó rồi!” thằng nhóc vừa reo vừa bì bõm lội lên. “Nhờ Chúa, mình tóm được nó! phải nó ghê gớm lắm sao! Nhìn nó kìa! Ôi Chúa, để tao ôm nó với,” thằng nhóc reo.

      “Mình phải giết nó ,” tôi . Tôi thọc tay kia xuống họng nó. Tôi giật ngược lên phía đầu mạnh hết sức có thể, cố tránh bộ răng của nó, và cảm thấy tiếng rắc nặng nề. Nó giãy lúc lâu rồi nằm đơ ra. Tôi đặt nó nằm bờ và chúng tôi nhìn nó. Nó dài ít nhất sáu tấc, ốm cách kỳ cục, nhưng to hơn bất cứ con nào tôi từng bắt được. Tôi lại nắm lấy hàm nó.

      “Ê,” thằng nhóc định mở mồm nhưng lại im khi thấy tôi định làm gì. Tôi rửa sạch máu và vứt con cá nằm bờ.

      “Tao muốn cho bố tao xem con này ghê lắm,” thằng nhóc .

      Chúng tôi đều ướt sũng và run lập cập. Chúng tôi nhìn nó, sờ mó nó. Chúng tôi banh mồm nó ra và sờ hàm răng nó. Hai bên lườn nó có những vết sẹo, những vết trắng sần sùi to bằng đồng xu và sưng tấy. đầu nó, quanh mắt và mũi có những vết rách mà tôi ngờ là do nó va vào và do đánh nhau. Nhưng nó gầy tong, quá gầy nếu so với chiều dài của nó, gần như thể thấy những sọc hồng hai bên lườn, còn bụng xám và nhão thay vì trắng và chắc như lẽ ra phải thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ nó vẫn là quái kiệt.

      “Chắc là tao phải về ngay rồi,” tôi . Tôi nhìn những đám mây đồi nơi mặt trời dần lặn xuống. “Tao phải về nhà.”

      “Chắc thế. Tao cũng vậy. Tao lạnh cóng,” thằng nhóc . “Ê, tao muốn cầm nó,” thằng nhóc .

      “Kiếm cái que. Mình xỏ qua mồm nó để khiêng,” tôi .

      Thằng nhóc tìm được cái que. Chúng tôi xâu qua mang nó và đẩy con cá xuống giữa que. Rồi mỗi đứa cầm đầu que và bắt đầu về, ngắm con cá đong đưa que.

      “Mình làm gì với nó?” thằng nhóc .

      “Tao biết,” tôi . “Tao nghĩ là tao bắt được nó,” tôi .

      “Cả hai cùng bắt. Ngoài ra, tao thấy nó trước.”

      “Đúng vậy,” tôi . “À, mày muốn tung đồng xu hay sao?” tôi thò tay kia vào túi, nhưng tôi chả có đồng nào. Vả lại tôi làm gì nếu thua?

      Dù sao nữa, thằng nhóc , “, tao muốn tung xu.”

      Tôi , “Cũng được. Tao OK.” Tôi nhìn thằng nhóc, tóc nó dựng đứng, môi xám ngoét. Nếu phải đánh nhau tôi có thể thắng nó. Nhưng tôi muốn đánh nhau.

      Chúng tôi tới nơi để đồ đạc và nhặt đồ lên bằng tay, đứa nào buông đầu que ra. Rồi chúng tôi cuốc bộ tới chỗ nó để xe đạp. Tôi nắm chặt đầu que đề phòng thằng nhóc giở trò gì.

      Rồi tôi nảy ra ý. “Mình có thể chia đôi,” tôi .

      “Ý mày là sao?” thằng nhóc , răng nó lại đánh cầm cập. Tôi cảm thấy nó siết chặt đầu que.

      “Chia đôi con cá. Tao có dao. Mình cắt làm đôi mỗi đứa lấy nửa. Tao biết, nhưng tao nghĩ mình có thể làm được.”

      Nó giật cọng tóc và nhìn con cá. “Mày định dùng con dao đó?”

      “Mày có con nào ?” tôi .

      Thằng nhóc lắc đầu.

      “OK,” tôi .

      Tôi rút cái que ra, đặt con cá bãi cỏ bên cạnh xe đạp của thằng nhóc. Tôi lấy dao ra. chiếc may bay chạy lấy đà đường băng lúc tôi ướm vạch. “Ngay đây nhé?” tôi . Thằng nhóc gật. Chiếc máy bay ầm ầm chạy đường băng và cất cánh ngay đầu chúng tôi. Tôi bắt đầu cắt con cá ra làm đôi. Tôi đụng tới ruột nó, liền lật nó lại và trút mọi thứ ra. Tôi hì hục cắt tiếp cho đến lúc chỉ còn mảnh da bụng gắn nó lại với nhau. Tôi cầm cả hai phần của nó lên và giật cho đứt hẳn làm hai.

      Tôi đưa thằng nhóc phần đuôi.

      ,” nó , lắc đầu. “Tao muốn nửa kia.”

      Tôi , “Nó như nhau hết. Mẹ kiếp, xem này, tao nổi khùng bây giờ.”

      “Kệ mày,” thằng nhóc . “Nếu nó như nhau hết tao lấy nửa kia. Nó như nhau hết mà, đúng ?”

      “Nó như nhau,” tôi . “Nhưng tao nghĩ tao giữ nửa này. Tại vì tao có công bắt cá.”

      “Tao muốn nửa đó,” thằng nhóc . “Tao thấy nó trước mà.”

      “Mình dùng dao của ai?” tôi .

      “Tao muốn lấy khúc đuôi,” thằng nhóc .

      Tôi nhìn quanh. có chiếc xe nào đường và có ai khác câu. Có tiếng chiếc máy bay ầm ì, và mặt trời lặn dần. Tôi lạnh run cả người. Thằng nhóc run cầm cập, vẫn đợi.

      “Tao có ý này,” tôi . Tôi mở giỏ cá và chỉ nó con cá hồi. “Thấy ? Nó màu xanh lá cây. Nó là con cá xanh lá cây duy nhất tao từng thấy. Vậy ai lấy khúc đầu đứa kia được con cá hồi xanh này và khúc đuôi. Công bằng chưa?”

      Thằng nhóc nhìn con cái hồi xanh rồi lấy nó ra khỏi giỏ mà cầm. Nó ngắm nghía hai nửa con cá.

      “Chắc được,” nó . “OK, chắc được. Mày lấy nửa đó. Tao có nhiều thịt hơn.”

      “Tao quan tâm,” tôi . “Tao rửa sạch nó. Nhà mày ở đâu?” tôi .

      “Dưới đường Arthur.” Nó nhét con cá hồi màu xanh và khúc cá của nó vô trong cái túi vải bẩn. “Tại sao mày hỏi?”

      “Chỗ đó là chỗ nào? Có phải gần sân bóng?” tôi .

      “Ừ, nhưng tao hỏi là tại sao.” Thằng nhóc có vẻ sợ.

      “Tao ở gần đó,” tôi . “Nên tao nghĩ tao có thể ngồi sườn xe. Mình thay phiên nhau đạp. Tao còn điều này, mình có thể chia, nếu nó chưa bị ướt.”

      Nhưng thằng nhóc chỉ , “Tao lạnh cóng.”

      Tôi rửa khúc của tôi dưới suối. Tôi nhúng đầu nó xuống nước và vạch miệng nó ra. Dòng nước tràn vào miệng nó và chảy ra đầu kia phần thân còn lại của nó.

      “Tao lạnh cóng,” thằng nhóc .

                  ***


      Tôi thấy George đạp xe đầu kia đường. Nó thấy tôi. Tôi vòng ra sau nhà để tháo bốt. Tôi cởi cái giỏ cá ra để có thể mở nắp và sẵn sàng tiến vào nhà, miệng cười toe toét.

      Tôi nghe tiếng họ liền nhìn qua cửa sổ. Tôi thấy họ ngồi bên bàn. Khói mịt mù nhà bếp. Tôi thấy nó bốc lên từ cái chảo bếp. Nhưng cả hai để ý.

      “Cái tôi bảo với thể chối cãi,” bố . “Bọn trẻ biết gì? thấy.”

      Mẹ , “Tôi thấy gì hết. Nếu tôi nghĩ vậy, chẳng thà tôi thấy chúng chết trước.”

      Bố , “ bị làm sao đấy? nên cẩn thận mồm mép.”

      Mẹ bắt đầu khóc. Bố dúi điếu thuốc vào gạt tàn rồi đứng dậy.

      “Edna, có biết là cái chảo cháy ?” bố .

      Mẹ nhìn cái chảo. Mẹ đẩy ghế ra sau, nắm lấy cán chảo rồi ném chảo vào tường chỗ bồn rửa bát.

      Bố , “ mất trí rồi hả? Nhìn xem làm gì này!” Bố lấy cái khăn lau bát ra và bắt tay chùi chảo.

      Tôi mở cửa sau. Tôi bắt đầu ngoác miệng. Tôi , “Bố mẹ tin được con bắt được gì ở suối Birch đâu. Hãy nhìn. Nhìn đây. Nhìn đây này. Nhìn xem con bắt được gì.”

      Chân tôi run. Gần như tôi thể đứng được. Tôi chìa cái giỏ về phía mẹ, và rốt cuộc mẹ cũng nhìn vào. “Ối, ối, lạy Chúa tôi. Cái gì đây? Rắn hả? Cái gì đây? Làm ơn, làm ơn mang nó ra ngoài tao nôn bây giờ.”

      “Mang ra ngoài !” bố quát. “Mày nghe bà ấy gì à? Mang nó ra khỏi đây!” bố quát.

      Tôi , “Nhưng mà bố nhìn xem cái gì đây .”

      Bố , “Tao muốn nhìn.”

      Tôi , “Đó là con cá hồi đầu thép khổng lồ ở suối Birch. Nhìn xem! Đáng nể ? Nó là quái kiệt. Con chạy xuôi chạy ngược suối đuổi theo nó như thằng điên!” Giọng tôi run run. Nhưng tôi hề dừng lại. “Còn con khác nữa,” tôi vội. “ con màu xanh. Con thề! Nó màu xanh! Bố bao giờ thấy con cá màu xanh chưa?”

      Bố nhìn vào giỏ rồi há hốc mồm.

      Ông gào, “Mang cái đồ chết tiệt này ra khỏi đây ngay! Mày bị sao vậy hả? Mang nó ra khỏi nhà bếp và vứt vô cái thùng rác chết tiệt !”

      Tôi ra ngoài. Tôi nhìn vào giỏ. Cái thứ trong đó trông lấp lánh bạc dưới ánh đèn cổng. Cái thứ trong đó làm đầy cái giỏ.

      Tôi nhấc nó ra. Tôi cầm nó tay. Tôi cầm nửa đó của nó.


    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      SÁU MƯƠI MẪU


      Cách đây tiếng, lúc họ ăn có điện thoại. Có hai người săn khu đất của Lee Waite ở Toppenish Creek, mạn dưới cây cầu đường Cowiche. Joseph Eagle nhắc Lee Waite rằng đây là lần thứ ba hay thứ tư trong mùa đông này có người săn trộm ở đó. Joseph Eagle là ông già da đỏ sống trong khu đất nhà nước cấp cách đường Cowiche quãng, ông có cái radio mà ông nghe cả ngày lẫn đêm và cái điện thoại phòng khi đau ốm. Lee Waite ước gì cái ông già da đỏ này để cho yên về khu đất đó, ước rằng Joseph Eagle muốn làm gì cứ làm, trừ việc gọi .

      Ra ngoài cổng, Lee Waite đứng nghỉ chân và khươi cọng thịt dính trong răng. ốm, thó, có gương mặt ốm và mái tóc đen dài. Nếu phải vì cú điện thoại chiều nay đánh giấc. nhíu mày, thong thả mặc áo khoác vào; đằng nào khi tới đó chúng cũng biến. Thường thường là thế. Những người săn từ Toppenish hay Yakima đến cũng được phép lái xe đường trong khu dành riêng cho người da đỏ như bất kỳ ai, chỉ có điều họ được phép săn bắn. Nhưng họ cứ diễu qua sáu mươi mẫu đất người trông coi và đầy cám dỗ của hai, có khi ba lần, rồi nếu thấy ngứa ngáy tay chân đỗ xe bên mé đường khuất trong đám cây và băng vội qua những đám lúa mạch hoang cao ngang đầu gối, xuống ven suối – có thể bắn vài con vịt, có thể , nhưng luôn luôn bắn tứ tung lúc trước khi chuồn . Joseph Eagle ngồi liệt trong căn nhà của mình theo dõi họ nhiều lần. Hay ít ra ông bảo Lee Waite vậy.

      dùng lưỡi quét sạch răng và nheo mắt trong ánh sáng nhờ nhờ của buổi chiều muộn mùa đông. sợ; phải thế, tự nhủ. chỉ muốn chuốc lấy rắc rối.

      Cái vòm cổng , được xây ngay trước chiến tranh, gần như tối. Ô kính cửa sổ duy nhất bị đập vỡ từ nhiều năm trước, và Waite đóng cái bao vải lên chỗ hở. Nó được treo ở đó bên cạnh cái tủ, bết cứng lại, khẽ đu đưa mỗi khi khí lạnh bên ngoài lùa vào quanh mép. Những bức tường treo đầy những bộ ách và yên cương cũ kỹ, và ở mảng tường phía cửa sổ là hàng dụng cụ cầm tay han gỉ. đẩy lưỡi lần chót, vặn chặt bóng đèn  vào cái đui đầu, rồi mở tủ. lấy khẩu súng hai nòng trong tủ ra và với cái hộp ngăn kệ cao nhất để lấy vốc đạn. Chuôi đồng của những viên đạn lạnh ngắt, lăn chúng trong tay trước khi thả vào túi áo khoác cũ mặc.

      “Bố nạp đạn à, bố ơi?” thằng bé Benny hỏi từ phía sau.

      Waite ngoảnh lại, thấy Benny và thằng cu Jack đứng ngay cửa bếp. Kể từ lúc có điện thoại, chúng tôi lẽo đẽo bám theo – muốn biết xem hôm nay có định bắn ai . Cái kiểu trẻ con chuyện như vậy làm bực mình, và bây giờ chúng còn đứng ngay cửa khiến cho khí lạnh ùa vào nhà và nhìn vào khẩu súng lớn dưới cánh tay nữa.

      “Cút vào chỗ chúng mày trong nhà ,” .

      Chúng để cửa mở mà chạy vào lại chỗ mẹ và Nina ngồi tuốt trong phòng ngủ. có thể nhìn thấy Nina ngồi ở bàn cố dỗ em bé ăn miếng bí, nhưng đứa bé cứ ẩy lại, lắc đầu nguầy nguậy. Nina nhìn lên, gượng cười.

      Waite bước vào nhà bếp, đóng cửa lại, rồi đứng dựa vào đó. có thể nhận thấy nàng rất mệt. Phía môi nàng hàng mồ hôi lấm tấm, và, khi ngắm, nàng ngừng lại vén mớ tóc trước trán. Nàng lại ngẩng nhìn , rồi lại nhìn đứa bé. Những lần mang thai trước chưa bao giờ nàng mệt mỏi như thế này. Những lần khác nàng hầu như thể ngồi yên mà luôn bật dậy lòng vòng, ngay cả khi chẳng có việc gì nhiều để làm ngoại trừ nấu nướng hay may vá. mân mê chỗ da chùng quanh cổ, lén liếc nhìn mẹ lơ mơ từ lúc ăn xong cái ghế bên lò sưởi. Bà nheo mắt nhìn và gật đầu. Bà bảy mươi, nhăn nheo, nhưng tóc còn đen nhánh tết thành hai bím buông xuống trước vai. Lee Waite đoan chắc bà bị sao đấy vì có những lúc hai ngày liền bà năng gì, chỉ ngồi trong căn phòng kia bên cửa sổ nhìn trừng trừng ra thung lũng. Khi bà làm như vậy thấy run sợ, còn biết những dấu hiệu của bà cũng như im lặng của bà có ý nghĩa gì.

      “Sao mẹ gì?” hỏi, lắc đầu. “Mẹ, làm sao con biết được mẹ muốn gì nếu mẹ lên tiếng?” Waite nhìn bà lúc, ngắm bà giật đuôi bím tóc mình, đợi bà gì đó. Rồi hắng giọng và băng qua mặt bà, vớ lấy cái mũ cây đinh, rồi ra.

      Trời lạnh. lớp tuyết hạt dày bốn năm phân từ ba ngày qua bao phủ mọi vật, khiến mặt đất vồng lên và làm cho hàng cột trồng đậu trơ trụi trước nhà trông ngớ ngẩn. Con chó từ dưới gầm nhà chạy ra sục sạo khi nó nghe tiếng cửa, rồi chạy thẳng ra chiếc xe tải mà quay đầu lại. “Lại đây!” Waite đanh giọng gọi, tiếng dội lại trong bầu khí loãng.

      chồm ra, nắm lấy cái mõm khô lạnh của con chó. “Lần này mày ở nhà hơn. Ừ, ừ.” phẩy phẩy cái tai con chó và nhìn quanh. thấy đồi Satus bên kia thung lũng vì màn sương dày đặc, chỉ thấy được cánh đồng củ dền dợn sóng – màu trắng, trừ những chỗ đây đó còn đen vì tuyết chưa chạm tới. chỗ trong tầm nhìn – nhà cửa của Charley Treadwel, cách quãng khá xa – nhưng có thể chắc là sáng đèn. thanh nào ở đâu, chỉ có bầu trời thấp nặng mây đè xuống vạn vật. ngỡ là có gió, nhưng vẫn tĩnh.

      “Mày ở lại đây. Nghe chưa?”

      nổ máy chiếc xe tải, lại ước rằng mình chẳng phải . Đêm qua nằm mơ, về cái gì đó mà nhớ - như mọi lần, nhưng cảm giác bất an từ lúc thức dậy. để số thấp lái ra cổng, xuống xe mở cổng, lái qua, rồi lại xuống xe, gài cổng lại. còn nuôi ngựa – nhưng thói quen luôn luôn đóng cổng ngấm vào người.

      đường, chiếc xe dọn tuyết bò về phía , lưỡi kêu xoen xoét chát chúa mỗi khi phần kim loại chạm vào mặt đất đông cứng. vội, nên đứng lại chờ chiếc xe dọn tuyết chậm chạp nhích đến. người trong buồng lái nghiêng người ra, điếu thuốc tay, vẫy chào khi ngang. Nhưng Waite giả lơ. đánh xe lên đường trở lại sau khi họ vượt qua. nhìn vào nhà Charley Treadwell khi lái ngang qua, nhưng ở đó vẫn có ánh đèn, có cả xe. nhớ chuyện Charley kể nghe cách đây mấy ngày, về vụ đánh nhau giữa Charley và thằng nhóc nào đó hôm Chủ nhật vừa rồi, nó tới hàng rào nhà ta buổi chiều mà bắn vào ao vịt, ngay bên cạnh trang trại. Charley chiều nào lũ vịt cũng tới đó. Chúng tin tưởng ta, ta , như thể điều đó quan trọng. ta từ phía trang trại nơi ta vắt sữa chạy tới, vung vẩy tay và la hét, còn thằng nhóc kia chĩa súng vào . Phải mà tôi có thể lột súng thằng oắt đó, Charley thế, trừng trừng nhìn Waite bằng con mắt lành lặn và gật đầu chầm chậm. Waite vặn người ghế. muốn gặp bất cứ phiền phức nào như vậy. hy vọng dù cho đó là ai khi tới họ rồi, như những lần trước.

      vượt qua Pháo đài Simcoe bên tay trái, phần chóp sơn trắng của mấy tòa nhà cũ kỹ này nhô lên đằng sau hàng rào sắt nhọn vốn được dựng lại. Những cánh cổng của pháo đài để mở, và Lee Waite thấy xe đỗ quanh bên trong, có mấy người mặc áo khoác lại lại. chẳng bao giờ thèm dừng lại. Có lần giáo dắt tất cả lũ trẻ con đến đó – thực địa, gọi là như thế - nhưng hôm ấy Waite học. hạ kính xe xuống, hắng giọng và phun toẹt vào cánh cổng khi lái xe ngang qua.

      rẽ vào Đường B tới chỗ của Joseph Eagle – tất cả đèn đều sáng, kể cả đèn cổng. Waite vượt qua, đến chỗ cắt với đường Cowiche ra khỏi xe nghe ngóng. bắt đầu nghĩ họ có lẽ có thể quay về nghe loạt súng xa xa đùng đục vẳng qua cánh đồng. đợi lúc, rồi lấy cái khăn ra, vòng quanh xe để lau tuyết và băng đọng rìa kính xe. đá cho tuyết văng khỏi giày trước khi ngồi vào xe, lái đoạn cho tới khi thấy cây cầu, rồi để ý tìm vệt bánh xe nào dẫn vào những lùm cây, biết tìm thấy xe của họ ở đó. dừng xe lại sau chiếc sedan màu xám và tắt máy.

      ngồi chờ trong xe, di chân qua lại phanh và thỉnh thoảng nghe tiếng súng của họ. Sau vài phút chịu thể ngồi yên nữa bèn leo ra, thả bộ quành ra trước xe. bốn, năm năm rồi chẳng xuống khu đó làm gì. đứng tựa vào cái chắn bùn ngó lung ra khu đất. chẳng hiểu bao thời gian trôi đâu.

      nhớ khi còn muốn lớn lên. Hồi ấy từng xuống khu này để bẫy chuột xạ ở phần này của con suối và đặt cần câu đêm để câu cá hồi nâu. Waite ngó quanh, bàn chân nhúc nhích trong giày. Những chuyện đó lâu lắm rồi. Khi lớn lên, nghe bố bảo ông định dành khu đất này cho ba người con trai. Nhưng cả hai người đều chết. Tất cả khu đất này chỉ còn để cho Lee Waite.

      nhớ những cái chết. Đầu tiên là Jimmy. nhớ lần thức dậy vì tiếng đập cửa ầm ầm – trời tối, mùi nhựa cây trong bếp lò, chiếc ô tô đậu bên ngoài để đèn sáng và tắt máy, và giọng khê khê phát ra từ cái loa bên trong. Bố đẩy cửa, và hình dáng to đùng của người đội nón cao bồi, đeo súng – viên cảnh sát phó – lấp cả lối ra vào. Waite à. Thằng Jimmy nhà ông bị đâm trong tiệc khiêu vũ ở Wapato. Mọi người lên xe tải hết còn Lee ở lại mình. co ro trước lò sưởi suốt đêm, nhìn những cái bóng nhảy múa tường. Sau này, khi mười hai tuổi, người khác đến, viên cảnh sát khác, chỉ rằng họ nên theo cùng.

      rời khỏi chiếc xe tải, thả bộ vài bước về phía rìa cánh đồng. Bây giờ khác xưa, đơn giản vậy thôi. ba mươi hai, Benny và cu Jack lớn lên. Rồi cả đứa bé nữa. Waite lắc đầu. nắm cái thân cao của cây cỏ bông tai. bứt cổ nó rồi ngẩng lên khi nghe tiếng vịt kêu xáo xác đầu. chùi tay vào quần, dõi theo chúng lát, ngắm chúng xòe cánh lượn vòng suối. Rồi chúng vụt sáng. thấy ba con rơi xuống trước khi nghe tiếng súng. vụt quay lại về xe tải.

      lấy súng ra, cẩn thận để cửa sập mạnh. di chuyển vào lùm cây. Trời gần tối. ho tiếng rồi đứng đó môi bặm lại

      Chúng vạch bụi cây tới, hai đứa. Chúng lắc hàng rào làm nó kêu cót két, rồi trèo qua, vào trong đồng và nện chân tuyết. Đến lúc tiến lại gần xe chúng thở phì phò.

      “Ôi Chúa, có cái xe tải ở đây!” trong hai đứa và làm rớt mấy con vịt xách tay.

      Đó là giọng thằng con trai. Nó mặc cái áo săn nặng nề, và Waite lờ mờ đoán ra số vịt khổng lồ trong cái túi chiến lợi phẩm.

      “Thoải mái , được mày?” Thằng kia vươn cổ ngó quanh, cố xem thử có gì. “Nhanh lên. có ai bên trong hết. Mày vác cái xác mày vào xe !”

      Vẫn nhúc nhích, cố gẵng giữ giọng bình thản, Waite , “Đứng yên đó. Bỏ súng xuống.” ló ra khỏi lùm cây đứng đối diện chúng, vung vẩy nòng súng. “Cởi áo khoác và trút sạch mọi thứ ra”

      “Ôi Chúa, Chúa toàn năng!” đứa .

      Đứa kia năng gì chỉ cởi áo khoác và bắt đầu trút vịt ra, mắt vẫn nhìn quanh.

      Waite mở cửa xe chúng, thò tay vào trong lần tìm công tắc đèn trước. Hai thằng kia giơ tay lên che mắt, rồi quay lưng lại ánh đèn.

      “Các cậu nghĩ đây là đất của ai?” Waite . “Ý các cậu là sao khi săn vịt đất của tôi?”

      đứa thận trọng ngoái lại, tay vẫn che mắt. “ định làm gì bọn em?”

      “Các cậu nghĩ tôi định làm gì?” Waite . nghe giọng mình là lạ, nhàng, mỏng manh. nghe tiếng mấy con vịt đáp xuống suối, xáo xác kêu với những con khác . “Các cậu nghĩ tôi định làm gì?” . “Các cậu làm gì nếu bắt gặp người khác xâm nhập trái phép vào đất của mình?”

      “Nếu họ xin lỗi và đó là lần đầu tiên em cho họ ,” nó trả lời.

      “Em cũng vậy, thưa , nếu họ họ xin lỗi,” thằng kia .

      vậy sao? Các cậu thực nghĩ các cậu làm như vậy sao?” Waite biết câu giờ.

      Chúng trả lời. Chúng đứng trong luồng ánh sắng chói phát ra từ đèn xe rồi quay lưng lại.

      “Làm sao tôi biết được các cậu chưa tới đây lần nào?” Waite . “Mấy lần trước tôi cũng phải xuống đây?”

      “Hứa danh dự, thưa , bọn em chưa tới đây bao giờ. Bọn em chỉ lái xe ngang đây. Em thề đấy,” thằng bé thút thít.

      “Đó là toàn bộ ạ,” đứa kia . “Ai trong đời cũng có lần lỗi lầm mà.”

      Bấy giờ tối, làn sương mỏng hạ xuống trước ánh đèn xe. Waite dựng thẳng cổ áo lên chằm chằm nhìn hai thằng kia. Từ phía dưới suối tiếng quang quác ầm ĩ của con vịt đực vang đến tận chỗ . liếc quanh những cái bóng kỳ dị của đám cây, rồi lại nhìn hai đứa.

      “Có lẽ vậy,” , chân nhúc nhích. biết phút nữa là thả chúng . thể làm gì khác mấy. đuổi chúng ra khỏi vùng đất của mình; đó mới là điều quan trọng. “Thế, các cậu tên gì? Cậu tên gì. Cậu đấy. Đây có phải xe của cậu hay ? Cậu tên gì?”

      “Bob Roberts,” thằng bé thứ nhất đáp nhanh và ngó qua đứa bên kia.

      “Williams, thưa ,” đứa kia . “Bill William, thưa .”

      Waite sẵn lòng hiểu rằng chúng là trẻ con, và chúng dối vì chúng sợ. Chúng đứng quay lưng lại , và Waite đứng nhìn chúng.

      “Các cậu dối!” , kinh ngạc với chính mình. “Tại sao các cậu dối tôi? Các cậu đến vùng đất của tôi, bắn  vịt của tôi và rồi lại dối như cuội!” kê khẩu súng lên cánh cửa xe để nòng súng được đỡ chắc. nghe tiếng cành khua những ngọn cây. nghĩ tới Joshep Eagle ngồi đó trong căn nhà sáng đèn, chân gác lên cái thùng, nghe radio.

      “Được rồi, được rồi,” Waite . “Đồ dối. Cứ đứng đó, lũ dối.” khó nhọc vòng qua chiếc xe tải của mình lấy ra cái bao bố cũ, lắc cho nó mở ra, rồi bảo chúng bỏ tất cả vịt vào. Khi đứng yên, đợi chúng làm, đầu gối bỗng dưng run rẩy.

      “Tiếp tục nào. Tiếp !”

      lùi lại khi chúng đến gần xe. “Tôi lui xe ra đường. Các cậu cũng lui xe cùng với tôi.”

      “Vâng, thưa ,” thằng bé thứ nhất vừa luồn người vào sau tay lái vừa . “Nhưng nếu bây giờ em nổ máy được sao? Bình có thể cạn, biết . Ngay từ đầu nó mạnh lắm.”

      “Tôi biết,” Waite . nhìn quanh. “Chắc là tôi phải đẩy các cậu ra.”

      Thằng bé tắt hết các đèn, đạp ga và đề máy. Máy rồ chậm chậm nhưng bén được, thằng bé giữ chân ga và rồ máy rồi mới mở đèn lên lại. Waite ngắm nghía gương mặt tái nhợt của chúng nhìn vào , tìm kiếm từ dấu hiệu.

      quẳng bao vịt lên xe tải rồi gác khẩu súng hai nòng ngang ghế. ngồi vào và thận trọng lùi xe ra đường. đợi chúng lùi xe ra, rồi lái theo chúng đến Đường B và ngưng lại, vẫn để máy nổ, nhìn theo ánh đèn đuôi xe chúng khuất về phía Toppenish. đuổi chúng khỏi vùng đất của . Đó là tất cả những gì đáng kể. Tuy nhiên hiểu sao cảm thấy điều gì đó hệ trọng xảy ra, thất bại.

      Nhưng xảy ra điều gì.

      Những đám sương mù từ phía thung lũng thổi vào. Khi dừng lại để mở cổng vẫn thấy điều gì nhiều bên phía nhà Charley, chỉ ngọn đèn yếu ớt sáng cổng mà Waite nhớ có nhìn thấy lúc chiều hay . Con chó nằm đợi nhà kho nhảy chồm lên và bắt đầu ngửi lũ vịt Waite vác chúng lên vai lên nhà. dừng lại ở cổng lúc để cất súng . Còn lũ vịt để sàn bên cạnh tủ. Ngày mai hay ngày kia dọn chúng.

      “Lee à?” Nina gọi.

      Waite bỏ mũ, nới lỏng bóng đèn, dừng lại lúc trong bóng đêm tĩnh mịch trước khi mở cửa.

      Nina ngồi bàn bếp, cái hộp đựng đồ may vá để cạnh nàng ghế khác. Nàng cầm chiếc quần jean tay. bàn có hai hay ba chiếc sơ mi của cái kéo. lấy cốc nước và nhặt từ cái kệ bồn rửa bát mấy viên đá màu mà bọn trẻ hay mang về nhà. Ở đó còn có quả thông khô và mấy cái lá phong khô to tướng từ mùa hè vừa rồi. liếc vào tủ bếp. Nhưng đói. Rồi bước ra phía lối ra vào và tựa vào khung cửa.

      Đó là căn nhà . Chẳng có chỗ nào để .

      Ở phía sau, trong phòng, cả ba con ngủ ở đó, và trong phòng kia, Waite, Nina và mẹ ngủ, dù thỉnh thoảng vào mùa hè Waite và Nina ngủ bên ngoài. Chẳng bao giờ có chỗ nào để cả. Mẹ vẫn ngồi bên lò sưởi, giờ tấm chăn phủ chân, đôi mắt bé tí của bà mở, dõi theo .

      “Các con muốn thức đến khi về,” Nina , “nhưng em bảo chúng phải ngủ.”

      “Ừ, đúng rồi,” . “Chúng phải ngủ, đúng rồi.”

      “Em sợ.”

      “Sợ?” có tỏ ra như thể điều này làm ngạc nhiên. “Mẹ cũng sợ à, mẹ?”

      Bà già đáp. Mấy ngón tay bà vân vê mép chăn, gấp lại rồi kéo lên, che gió lùa.

      “Nina, em cảm thấy thế nào? Tối nay có thấy đỡ hơn ?” kéo cái ghế ra và ngồi xuống bên bàn.

      Vợ gật đầu. gì thêm, chỉ nhìn xuống và bắt đầu di di móng tay lên bàn.

      có bắt được ai ở đó ?”

      “Đó là hai thằng nhóc,” . “ tha cho chúng rồi.”

      đứng dậy, bước qua phía bên kia lò sưởi, nhổ vào cái thùng gỗ, và đứng thọc mấy ngón tay trong túi quần sau. Gỗ phía sau lò sưởi màu đen và bong ra, và thấy, thòi ra từ cái kệ đầu, cái lưới mang cá màu nâu bọc quanh ngạnh của cây chĩa săn cá. Nhưng đó là cái gì? nheo mắt nhìn nó.

      tha cho chúng ,” . “Có thể dễ dãi với chúng quá.”

      làm đúng,” Nina .

      liếc nhìn mẹ qua lò sưởi. Nhưng có dấu hiệu gì từ bà, chỉ có đôi mắt đen nhìn chằm chặp.

      biết nữa,” . gắng nghĩ về việc đó, nhưng có vẻ như thể chuyện đó, bất kể là chuyện gì, diễn ra từ rất lâu rồi. “Lẽ ra phải làm chúng sợ hơn nữa, nghĩ thế.” nhìn Nina. “Đất của mà,” thêm, “lẽ ra có thể giết chúng.

      “Giết ai?” mẹ .

      “Mấy đứa nhóc ở khu đất đường Cowiche. Cái vụ mà Joseph Eagle gọi điện báo.”

      Từ chỗ đứng có thể nhìn thấy những ngón tay của mẹ cử động đùi, lần tìm các hoa văn cộm lên trong chăn. tì người qua lò sưởi, muốn gì đó khác. Nhưng biết gì.

      vẩn vơ ra bàn và lại ngồi xuống. Rồi nhận ra mình vẫn chưa cởi áo khoác, liền đứng dậy, loay hoay cởi ra, vắt bàn. kéo ghế gần lại đầu gối vợ, khoanh tay hờ, lấy lấy ngón tay mân mê ống tay áo sơ mi.

      nghĩ có khi cho mấy câu lạc bộ săn bắn thuê khu đất dưới đó. xuống đó như thế tốt cho ta lắm. Đúng ? Nhà ở dưới đó hay đất ở ngay phía trước đây là chuyện khác nhau, đúng ?

      Trong tĩnh mịch chỉ nghe thấy tiếng củi tí tách trong lò sưởi. duỗi hai bàn tay lên bàn và có thể cảm thấy mạch đập cánh tay. “ có thể cho trong những câu lạc bộ săn vịt ở Toppenish thuê khu đó. Hoặc Yakima. Ai cũng thích có khu như thế, ngay đường chúng bay. Đó là trong những khu săn tốt nhất trong thung lũng… Nếu có thể khai thác khu đất theo cách nào đó, việc khác.” Giọng dần.

      Nàng cựa người trong ghế. Nàng , “Nếu nghĩ vậy mình nên làm thế. Tùy nghĩ thế nào thôi. Em biết.”

      cũng biết,” . Ánh mắt lướt qua sàn nhà, qua khỏi mẹ , và rồi lần nữa dừng lại cây chĩa săn cá. đứng dậy, lắc đầu. Khi ngang qua căn phòng , bà già ngọe đầu, kê má lên thành ghế, nheo mắt nhìn theo . với lên, lấy cây chĩa và đống lưới từ cái kệ nát, rồi quay lại đứng lên ghế mẹ ngồi. nhìn cái đầu màu đen bé teo, chiếc khăn choàng len màu nâu phủ gọn cái vai gù. xoay cây chĩa tay và bắt đầu mở cái lưới.

      “Mình được bao nhiêu?” Nina .

      biết là biết. Thậm chí nó còn làm lúng túng lúc. khẩy cái lưới, rồi đặt cây chĩa lại kệ. Bên ngoài, cành cây gãy đập mạnh vào nhà.

      “Kìa Lee?”

      chắc. phải hỏi thăm lòng vòng. Mùa thu năm ngoái Mike Chuck cho thuê ba mươi mẫu giá năm trăm đô la. Jerome Shinpa năm nào cũng cho thuê khoảng đất, nhưng Waite chưa bao giờ hỏi được bao nhiêu.

      “Chắc ngàn đô,” .

      ngàn đô?” nàng .

      gật, cảm thấy nhõm khi nàng ngạc nhiên. “Chắc thế. Có thể hơn. Để xem thử. phải hỏi thăm người nào đó về giá cả.” Ngần ấy là rất nhiều. nghĩ về việc có trong tay ngàn đô. nhắm mắt cố nghĩ.

      “Đó có nghĩa là bán đất, phải ?” Nina hỏi. “Nếu cho người ta thuê đất, nghĩa là đất vẫn của ?”

      “Ừ, ừ, vẫn là đất của !” bước tới chỗ vợ và tì người qua bàn. “Em biết chỗ khác nhau sao, Nina? Họ thể mua  đất trong khu dành riêng cho người da đỏ. Em biết điều đó à? cho họ thuê đất sử dụng thôi.”

      “Em hiểu rồi,” chị . Nàng nhìn xuống và nhấc ống tay chiếc sơ mi của lên. “Họ phải trả lại? Đất vẫn thuộc về ?”

      “Em hiểu à?” . nắm lấy cạnh bàn. “Đó là cho thuê mà!”

      “Mẹ gì?” Nina hỏi. “Làm thế có ổn ?

      Cả hai nhìn qua bà già. Nhưng mắt bà nhắm và dường như bà ngủ.

      nghìn đô,” Nina và lắc đầu.

      nghìn đô. Có thể nhiều hơn. biết. Nhưng thậm chí nghìn đô! phân vân biết bắt đầu như thế nào, cho mọi người biết rằng có đất để cho thuê. Năm nay quá muộn – nhưng vào mùa xuân có thể bắt đầu hỏi quanh. khoanh tay cố nghĩ ngợi. Chân bắt đầu run, phải đứng dựa tường. đứng đó nghĩ rồi buông người trượt theo tường để ngồi xổm xuống.

      “Chỉ là cho thuê mà,” .

      ngó sàn nhà trân trân. Dường như nó ngả nghiêng theo hướng ; dường như nó di chuyển. nhắm mắt, đưa hai tay ôm tai để giữ thăng bằng. Và rồi nghĩ phải khum lòng bàn tay lại, để tiếng gầm ấy vang đến, như tiếng gió rít từ vỏ sò.

                    

        CÓ GÌ Ở ALASKA?


      Jack ra khỏi chỗ làm lúc ba giờ. rời trạm xăng và lái xe tới tiệm giày gần nhà.  gác chân lên cái ghế cao để người bán hàng tháo dây chiếc bốt làm.

      “Kiếm cái gì thoải mái ấy,” Jack . “Để thường ngày.”

      “Chúng tôi có đấy,” người bán hàng .

      Người bán hàng đem ba đôi giày ra, Jack lấy đôi màu be dịu mà mang thấy êm và thoải mái. trả tiền, kẹp cái hộp đựng đôi bốt dưới nách. nhìn xuống chân ngắm đôi giày mới trong khi bước. Trong lúc lái xe về nhà, cảm thấy chân di chuyển thoải mái giữa chân ga và chân thắng.

      mua giày mới à,” Mary . “Cho em xem với.”

      “Em thích ?” Jack .

      “Màu em thích, nhưng chắc là thoải mái. cũng cần đôi giày mới mà.”

      ngó đôi giày lần nữa. “ tắm đây,” .

      “Mình ăn tối sớm,” chị . “Tối nay vợ chồng Helen và Carl mời mình qua nhà. Helen mua cho Carl cái ống điếu mới nhân sinh nhật Carl và họ nóng lòng muốn thử.” Mary nhìn . “ được ?”

      “Mấy giờ?”

      “Tầm bảy giờ.”

      “Được,” .

      Chị ngó đôi giày lần nữa và chúm chím. “ tắm ,” chị .

                  ***


      Jack  mở nước rồi cởi giày và quần áo. nằm trong bồn tắm lúc rồi lấy bàn chải chà những vết dầu mỡ bám dưới móng tay. duỗi bai bàn tay ra rồi nhấc chúng ngang tầm mắt.

      Chị mở cửa phòng tắm. “Em mang cho chai bia,” chị . Hơi nước vây quanh và lan vào phòng khách.

      “Tí nữa ra,” . uống mấy ngụm bia.

      Chị ngồi thành bồn tắm, tay đặt lên đùi . “Từ chiến trường trở về,” chị .

      “Từ chiến trường trở về,” .

      Chị lùa tay qua lớp lông ướt đùi . Rồi chị vỗ tay. “À, em muốn bảo với cái này! Hôm nay em phỏng vấn, chắc là người ta nhận em - ở Fairbanks.”

      “Alaska?” .

      Chị gật. “ nghĩ sao?”

      “Lúc nào mà chẳng muốn Alaska. Em thấy có chắc lắm ?”

      Chị lại gật. “Họ thích em. Họ tuần tới báo lại.”

      “Tuyệt. Đưa cái khăn, được ? ra đây.”

      “Em dọn bàn,” chị .

      Mấy đầu ngón tay ngón chân sun lại, nhợt nhạt. chậm rãi lau người rồi mặc quần áo sạch và mang đôi giày mới. chải tóc rồi ra bếp. uống chai bia nữa trong khi dọn đồ ăn ra bàn.

      “Mình phải mang theo soda kem và món gì đó ăn vặt,” chị . “Ghé cửa hàng chút.”

      “Soda kem và đồ ăn vặt. OK,” .

      Khi ăn xong, giúp chị dọn bàn. Rồi họ ghé chợ mua soda kem, khoai tây chiên, bánh ngô chiên và bánh quy vị hành tây. Tại quầy tính tiền bốc thêm nắm thanh sô la U-No.

      “À, đúng rồi,” chị khi thấy chúng.

      Họ lái xe về nhà, đỗ xe, rồi bộ dọc theo dãy nhà để sang chỗ Helen và Carl.

      Helen mở cửa. Jack đặt túi đồ lên bàn ăn. Mary ngồi xuống cái ghế bập bên, khụt khịt mũi.

      “Mình muộn rồi,” chị . “Họ bắt đầu mà đợi mình, Jack ơi.”

      Helen bật cười. “Bọn mình thử điếu lúc Carl về. Bọn mình chưa đốt cái điếu cày đâu. Bọn mình chờ các cậu đến mà.” Chị đứng giữa phòng, nhìn họ cười toe toét. “Để xem trong túi có gì nào,” chị . “Ồ! Này, mình nghĩ mình xơi ít ngô chiên bây giờ. Các cậu ăn ?”

      “Bọn mới ăn tối,” Jack . “Tí nữa bọn ăn sau.” Nước ngưng chảy, Jack nghe tiếng Carl huýt sáo trong buồng tắm.

      “Bọn mình có kem que Popsicle và sô la M&M,” Helen . Chị đứng bên cạnh bàn mà khoắng cái túi khoai tây chiên. “Nếu Carl mà có bao giờ tắm xong ấy chuẩn bị điếu.” Chị mở hộp bánh quy và đút cái vào miệng. “Ôi, cái này ngon ,” chị .

      “Mình biết Emily Post về cậu như thế nào,” Mary .

      Helen cười phá lên. Chị lắc đầu.

      Carl từ buồng tắm bước ra. “Chào mọi người. Chào Jack. Có gì buồn cười thế?” , cười ngoác. “Mình có thể nghe tiếng mọi người cười.”

      “Bọn em cười Helen,” Mary .

      “Tự nhiên Helen cười thôi,” Jack .

      ấy buồn cười mà,” Carl . “Nhìn bao nhiêu thứ ngon lành kìa. Này, mọi người làm cốc soda kem nhé? Mình chuẩn bị điếu.”

      “Cho em cốc,” Mary . “Còn sao, Jack?”

      “Cho ít,” Jack .

      “Tối nay Jack hơi khó chịu trong người,” Mary .

      “Sao em lại vậy?” Jack hỏi. nhìn vợ. “ vậy dễ khiến khó chịu lắm đấy.”

      “Em đùa thôi,” Mary . Chị bước lại ngồi cạnh sofa. “Em đùa thôi, cưng.”

      “Ê, Jack, đừng khó chịu nhé,” Carl . “Để mình cho cậu xem mình được tặng gì vào sinh nhật. Helen, em mở chai soda kem trong khi chuẩn bị điếu nhé. khát khô rồi.”

      Helen mang khoai chiên, ngô chiên và bánh quy ra bàn. Rồi chị lấy chai soda kem và bốn cái ly.

      “Nhìn như bọn mình sắp có tiệc ấy,” Mary .

      “Nếu nhịn ăn cả ngày mỗi tuần mình phải tăng đến gần năm cân,” Helen .

      “Mình hiểu ý cậu,” Mary .

      Carl từ phòng ngủ bước ra mang theo cái điếu. với Jack, “Cậu thấy sao?” đặt ống hút lên bàn.

      “Nhìn rất oách,” Jack . cầm nó lên, nhìn.

      “Người ta gọi nó là se điếu,” Helen . “Ở chỗ mình mua người ta gọi như thế. Chỉ là cái thôi, nhưng dùng được.” Chị cười.

      “Cậu mua nó ở chỗ nào?”

      “Gì? Cái tiệm đường số 4. Cậu biết mà,” Helen .

      “Chắc rồi. Mình biết,” Mary . “Hôm nào mình phải ghé lại,” Mary . Chị xếp tay lại dõi theo Carl.

      “Nó dùng thế nào?” Jack .

      “Cậu bỏ thuốc vô đây,” Carl . “Rồi cậu đốt đằng này. Rồi cậu hít bằng ống này, khói được lọc qua nước. Vị khá ngon và rất phê.”

      “Giáng sinh tới mình mua cho Jack cái,” Mary . Chị nhìn Jack cười, và sờ cánh tay .

      muốn có cái,” Jack . duỗi chân, nhìn đôi giày dưới ánh đèn.

      “Này, thử ,” Cark , thở ra luồng khói mỏng và đưa Jack cái ống. “Xem thử ra thế nào.”

      Jack cầm ống hút hơi, giữ khói trong miệng, rồi đưa ống cho Helen.

      “Đưa Mary trước,” Helen . “Em hút sau Mary. Các phải chạy theo thôi.”

      “Tớ phản đối,” Mary . Chị kê ống hút vào mồm hút hai hơi nhanh trong khi Jack ngắm đám bong bóng chị thổi ra.

      “Được lắm,” Mary . Chị chuyền ống hút cho Helen.

      “Đêm qua bọn tớ thử rồi,” Helen , cười váng.

      “Sáng nay thức dậy cùng mấy đứa Helen vẫn còn say đấy,” Carl , cười phá. ngắm Helen kéo ống hút lên.

      “Tụi thế nào?” Mary hỏi.

      “Tụi nó bình thường,” Carl , kề ống vào miệng. Jack nhấp chút soda kem, ngắm nhìn đám bong bóng trong ống. Chúng khiến nhớ tới những cái bong bóng nổi lên từ cái mũ thợ lặn. tưởng tượng ra cái hồ và những đàn cá sặc sỡ.

      Carl chuyền ống.

      Jack đứng dậy, vươn người.

      đâu đó, cưng?” Mary hỏi.

      “Đâu có đâu,” Jack . ngồi xuống, lắc đầu và nhe miệng cười. “Jesus!”

      Helen cười phá.

      “Có gì buồn cười à?” lúc lâu sau Jack .

      “Chúa ơi, em biết nữa,” Helen . Chị lau mắt rồi cười tiếp, Mary và Carl cũng cười theo.

      lúc sau Carl vặn nắp cái điếu ra rồi thổi vào ống. “Thỉnh thoảng nó lại tắc,” .

      “Em có ý gì khi bảo khó chịu?” Jack với Mary.

      “Gì?” Mary .

      Jack nhìn vợ chằm chằm rồi chớp mắt. “Em cái gì đó rằng là khó chịu. Tại sao em vậy?”

      “Bây giờ em chả nhớ nữa, nhưng em có thể nhận ra khi nào như thế,” chị . “Nhưng đừng lôi chuyện gì bực bội ra nhé, OK?”

      “OK,” Jack . “ chỉ muốn biết tại sao em như thế. Nếu trước khi em chưa khó chịu, khi em thế là cũng đủ khiến lên cơn.”

      “Nếu giày mà vừa chân,” Mary . Chị ngả người lên thành ghế sofa cười đến nỗi chảy nước mắt.

      “Chuyện gì đó?” Carl . nhìn Jack rồi nhìn Mary. “Mình nghe được chuyện gì.” Carl .

      “Lẽ ra mình phải làm xốt chấm cho mấy món chiên này,” Helen .

      “Chẳng phải là còn chai soda kem nữa à?” Carl .

      “Bọn mình mua hai chai,” Jack .

      “Mình uống hết hai chai chưa?” Carl .

      “Mình có uống chút nào ?” Helen vừa vừa cười. “, em chỉ mới mở chai thôi. Em nghĩ là em mới mở chai. Em nhớ mở nhiều hơn chai.” Helen vừa vừa cười.

      Jack chuyền cái ống cho Mary. Chị cầm tay và hướng ống vào miệng mình. nhìn khói tràn qua môi chị lúc lâu sau.

      ít soda kem sao?” Carl .

      Mary và Helen cùng cười.

      sao?” Mary .

      “À, nghĩ bọn mình sắp uống thêm,” Carl . nhìn Mary và cười ngoác.

      Mary và Helen cùng cười.

      “Có gì buồn cười?” Carl . nhìn Helen rồi Mary. lắc đầu. “ chả hiểu bọn em nữa,” .

      “Có thể bọn mình Alaska,” Jack .

      “Alaska?” Carl . “Có gì ở Alaska? Các cậu định làm gì ở đó?”

      “Ước gì bọn mình có thể đâu đó,” Helen .

      “Ở đây có chuyện gì?” Carl . “Các cậu làm gì ở Alaska? Nghiêm túc đấy. Mình muốn biết.”

      Jack bỏ miếng khoai tây chiên vào miệng rồi nhấp ngụm soda kem. “Mình biết. Cậu gì?”

      lúc sau Cark , “Có gì ở Alaska?”

      “Mình biết,” Jack . “Hỏi Mary ấy. Mary biết. Mary, làm gì ở đó? Có lẽ trồng đám bắp khổng lồ mà em đọc trong sách.”

      “Hay bí đỏ,” Hele . “Trồng bí đỏ .”

      “Cậu phất,” Carl . “Chở bí đỏ xuống đây để bán dịp lễ Halloween. Mình làm nhà phân phối cho cậu.”

      “Carl là nhà phân phối cho ,” Helen .

      “Đúng rồi,” Carl . “Bọn mình phất.”

      “Giàu to,” Mary .

      lát sau Carl đứng dậy. “Mình biết thứ gì ngon, đó là soda kem,” Carl .

      Mary và Helen cùng cười.

      “Cứ cười ,” Carl , cười ngoác mồm. “Ai muốn ít nào?”

      ít gì?”

      tí soda kem.”

      đứng như thể sắp đọc diễn văn ấy,” Mary .

      “Mình chưa nghĩ tới chuyện đó,” Carl . lắc đầu và cười. ngồi xuống. “Cái đồ đó ngon,” .

      “Lẽ ra mình phải lấy thêm,” Helen .

      “Thêm gì?” Mary .

      “Thêm tiền,” Carl .

      có tiền,” Jack .

      “Hình như có mấy thanh sô la U-No trong cái túi kia?” Helen .

      có mua ít,” Jack . “ phát ra nó vào phút chót.”

      “Sô la U-No ngon,” Carl .

      “Béo ngậy,” Mary . “Và tan trong miệng.”

      “Bọn mình có sô sô la M&M và kem que Posicle, ai muốn ăn nhé,” Carl .

      Mary , “Em muốn ăn Popsicle. có xuống bếp ?”

      “Có, và cũng lấy cả soda kem nữa,” Carl . “Mình vừa sực nhớ ra. Các cậu uống ly?”

      “Cứ mang cả vào rồi tính sau,” Helen . “Mang cả sô la M&M.”

      “Mang cả bếp vào đây có khi còn dễ hơn,” Carl .

      “Hồi bọn mình còn sống ở thành phố,” Mary , “người ta muốn biết đêm hôm trước nhà nào nổi hứng chỉ cần nhìn bếp của họ sáng hôm sau. Hồi bọn mình sống ở thành phố, bọn mình chỉ có cái bếp bé tí.”

      “Bếp nhà mình cũng bé tí,” Jack .

      “Mình cũng ra xem thử tìm được gì,” Carl .

      “Em với ,” Mary .

      Jack nhìn theo họ vào nhà bếp. ngả người ra gối tựa lưng và nhìn họ . Rồi từ từ nhổm tới trước. nheo mắt. thấy Mary cà người vào Carl từ phía sau và vòng tay quanh eo Carl.

      “Vợ chồng có nghiêm túc ?” Helen .

      “Rất nghiêm túc,” Jack .

      “Về chuyện Alaska,” Helen .

      Jack nhìn Helen chằm chằm.

      “Em tưởng gì đó,” Helen .

      Carl và Mary quay lại. Carl mang cái túi to toàn M&M và chai soda kem. Mary mút cây Popsicle vị cam.

      “Có ai muốn ăn sandwich ?” Helen .

      “Bọn mình có món để kẹp sandwich.”

      phải buồn cười sao,” Mary . “Các cậu ăn món tráng miệng trước, xong rồi mới ăn vào món chính.”

      buồn cười,” Jack .

      châm chích hả, cưng?” Mary .

      “Ai muốn soda kem?” Carl . “ lượt soda kem tới.”

      Jack chìa ly ra, Carl rót đầy ly. Jack để ly bàn nhưng khi với lấy ly làm đổ khiến soda chảy xuống giày.

      “Con bà nó,” Jack . “Cái quái gì thế này! Mình làm đổ ra giày rồi.”

      “Helen, mình có cái khăn nào ? Lấy cho Jack cái khăn,” Carl .

      “Giày mới keng đấy,” Mary . “ ấy mới mua.”

      “Trông có vẻ thoải mái,” lúc sau Helen và đưa cho Jack cái khăn.

      “Mình cũng bảo ấy thế,” Mary .

      Jack cởi giày, lấy khăn đánh.

      “Thôi xong,” , “Cái soda kem này chẳng bao giờ ra.”

      Mary, Carl và Helen cùng cười.

      “Chuyện này khiến mình nhớ tới chuyện mình đọc báo,” Helen . Chị lấy ngón tay ấn ấn chóp mũi và nheo mắt lại. “Bây giờ mình nhớ ra chuyện gì,” chị .

      Jack xỏ lại giày. đặt cả hai chân dưới đèn và nhìn đôi giày.

                  ***


      “Em đọc gì?” Carl .

      “Gì?” Helen .

      “Em em đọc thấy chuyện gì đó báo,” Carl .

      Helen cười. “Em chỉ nghĩ về Alaska, và em nhớ ra người ta tìm thấy người tiền sử trong khối băng. Cái gì đó khiến em nhớ lại.”

      “Chuyện đó phải ở Alaska,” Carl .

      “Có thể phải, nhưng nó gợi nhớ em nhớ về chuyện đó,” Helen .

      “Còn về Alaska sao, các cậu?” Carl .

      có cái gì ở Alaska hết,” Jack .

      ấy khó chịu trong người,” Mary .

      “Các cậu làm gì ở Alaska?” Carl .

      có gì để làm ở Alaska hết,” Jack . gác chân dưới bàn. Rồi rút chân ra đặt dưới ánh đèn lần nữa. “Ai muốn có đôi giày mới?” Jack .

      “Tiếng ồn gì đó nhỉ?” Helen .

      Họ lắng nghe. Có tiếng cào cửa.

      “Nghe như tiếng con Cindy,” Carl . “Tốt hơn là mình cho nó vào nhà.”

      “Nhân tiện đứng dậy, lấy cho em que Popsicle,” Helen cười. Chị ngả đầu ra và cười.

      “Em cũng ăn que nữa, cưng,” Mary . “Mình gì nhỉ? Ý mình là Carl,” Mary . “Xin lỗi, mình tưởng mình chuyện với Jack.”

      “Popsicle cho tất cả,” Carl . “Cậu muốn que Popsicle Jack?”

      “Gì?”

      “Cậu muốn que Popsicle vị cam?”

      que vị cam,” Jack .

      “Bốn que Popsicle được mang đến,” Carl .

      lúc sau quay lại phân phát Popsicle cho mọi người. ngồi xuống, mọi người lại nghe tiếng cào cửa.

      “Mình biết là mình quên cái gì đó mà,” Carl . đứng dậy, mở cửa trước.

      “Ôi Chúa,” , “Cái gì thế này. Mình đồ chừng tối nay Cindy ra ngoài ăn tối. Này, mọi người, nhìn cái này.”

      Con mèo tha con chuột vào phòng khách, dừng lại nhìn họ, rồi tha con chuột xuống dưới hành lang.

      “Mọi người có thấy cái mình mới nhìn thấy ? Mary . “ là khó chịu.”

      Carl mở đèn hành lang. Con mèo tha con chuột khỏi hành lang vào phòng tắm.

      “Nó ăn con chuột,” Carl .

      “Em nghĩ là em muốn nó ăn chuột trong phòng tắm,” Helen . “Đuổi nó ra ngoài . Đồ đạc của con trong đó.”

      “Nó ra đâu,” Carl .

      “Con chuột sao?” Mary .

      “Điên quá,” Carl . “Con Cindy phải học cách săn mồi nếu mình chuyển tới Alaska.”

      “Alaska?” Helen . “Chuyện này liên qua gì đến Alaska?”

      “Đừng hỏi ,” Carl . đứng cạnh cửa phòng tắm xem con chuột. “Mary và Jack họ chuyển đến Alaska. Cindy phải học cách săn mồi.”

      Mary gác cằm lên hai bàn tay rồi nhìn chằm chằm vào hành lang.

      “Nó ăn con chuột,” Carl .

      Helen chén xong miếng ngô chiên cuối cùng. “Mình bảo ấy mình muốn thấy con Cindy ăn chuột trong nhà tắm. Carl này,” Helen .

      “Gì?”

      “Đuổi nó ra khỏi nhà tắm , em bảo mà,” Helen .

      “Lạy Chúa,” Carl .

      “Nhìn này,” Mary . “Ui. Con mèo chết tiệt vào trong này,” Mary .

      “Nó làm gì?” Jack .

      Con mèo lôi con chuột vào gầm bàn. Nó nằm dưới gầm bàn và liếm con chuột. Nó giữ con chuột bằng vuốt và nhẩn nha liếm, từ đầu tới đuôi.

                  ***


      “Con mèo phê rồi,” Carl .

      “Nó làm mình lạnh lưng,” Mary .

      “Quy luật tự nhiên thôi mà,” Carl .

      “Nhìn mắt nó kìa,” Mary . “Nhìn cái cách nó nhìn mình. Nó đúng phê.”

      Carl lại ghế sofa ngồi cạnh Mary. Mary nhích về phía Jack để tránh chỗ cho Carl. Chị gác tay lên đầu gối Jack.

      Họ chăm chú nhìn con mèo ăn con chuột.

      “Cậu bao giờ cho con mèo đó ăn hả?” Mary với Helen.

      Helen cười ha ha.

      “Các cậu hút lượt nữa nhé?” Carl .

      “Bọn mình phải về,” Jack .

      “Có gì mà vội?” Carl .

      “Ngồi lại tí nữa,” Helen . “Các cậu chưa việc gì phải về.”

      Jack đăm đăm nhìn Mary, trong khi Mary đăm đăm nhìn Carl. Carl đăm đăm nhìn cái gì đó tấm thảm gần chân .

      Helen lựa mấy viên M&M trong tay.

      “Mình thích màu xanh nhất,” Helen .

      “Sáng mai mình phải làm,” Jack .

      “Trông ấy khó chịu làm sao kìa,” Mary . “Các cậu có muốn nghe chuyện về người khó chịu ? Đấy người khó chịu đấy.”

      “Em có về ?” Jack .

      “Có ai muốn ly sữa ?” Carl . “Bọn mình có sữa ngoài kia.”

      “Em uống soda kem no căng rồi,” Mary .

      “Hết soda kem rồi,” Carl .

      Helen cười. Chị nhắm tịt mắt, rồi mở mắt ra và lại cười.

      “Bọn mình phải về nhà,” Jack . chốc sau đứng dậy, , “Bọn mình có áo khoác nhỉ? Hình như là bọn mình mang theo áo khoác.”

      “Gì? Hình như mình mang áo khoác,” Mary . Chị vẫn ngồi.

      “Mình phải thôi,” Jack .

      “Họ phải về rồi,” Helen .

      Jack đặt hai tay xuống vai Mary kéo chị lên.

      “Tạm biệt các cậu,” Mary . Chị ôm Jack. “Em no quá nổi,” Mary .

      Helen cười.

      “Helen lúc nào cũng tìm cớ gì đó để cười,” Carl , cười toét miệng. “Em cười cái gì, Helen?”

      “Em biết nữa. Tại vì Mary cái gì đó.”

      “Mình gì?” Mary .

      “Mình nhớ,” Helen .

      “Mình phải về,” Jack .

      “Tạm biệt,” Carl . “Nghỉ ngơi nhé.”

      Mary gượng cười.

      “Về thôi,” Jack .

      “Chúc mọi người ngủ ngon,” Carl . “Chúc ngủ ngon, Jack,” Jack nghe Carl rất, rất chậm.

                  ***


      Bên ngoài, Mary khoác tay Jack bước , đầu cúi xuống. Họ chậm rãi lề đường. lắng nghe tiếng giày chị lê. nghe tiếng chó sủa gắt và , nghe tiếng xe cộ rì rầm đằng xa.

      Chị ngẩng đầu lên. “Khi về nhà, Jack, em muốn làm tình với em, chuyện với em, giải khuây cho em. Giải khuây cho em, Jack. Đêm nay em cần được giải khuây.” Chị ôm cánh tay chặt hơn.

      cảm thấy giày mình ẩm ướt. mở cửa và bật đèn.

      “Lên giường ,” chị .

      “Đợi tí,” .

      vào bếp uống hai ly nước. tắt đèn phòng khách rồi sờ soạng dọc tường để về phòng.

      “Jack!” chị rú lên. “Jack”

      “Chúa ơi, đây mà!” . “ bật đèn lên.”

      tìm thấy đèn, thấy chị ngồi thẳng đứng giường. Mắt chị sáng rực. kéo cái cần đồng hồ báo thức và bắt đầu cởi quần áo. Đầu gối run run.

      “Còn gì để hút ?” chị .

      “Mình chẳng có gì,” .

      “Vậy lấy cho em đồ uống. Mình có đồ uống. Đừng với em rằng mình có gì để uống.”

      “Chỉ có bia.”

      Họ chằm chằm nhìn nhau.

      “Cho em lon,” chị .

      “Em muốn uống bia?”

      Chị chậm chạp gật đầu, cắn môi.

      mang bia quay lại phòng. Chị ngồi đó, cái gối của đùi. đưa lon bia cho chị, bò vào giường và kéo chăn lên.

      “Em quên uống thuốc,” chị .

      “Gì?”

      “Em quên uống thuốc.”

      leo xuống giường lấy thuốc cho vợ. Chị mở mắt và thả viên thuốc lên cái lưỡi thè ra. Chị nuốt viên thuốc bằng mấy ngụm bia, leo lên giường lại.

      “Cầm cái này. Em mở mắt nổi nữa,” chị .

      để vỏ lon bia sàn rồi nằm nghiêng nhìn chằm chằm vào cái hành lang tối. Chị vòng tay quanh sườn và xoa mấy ngón tay ngực .

      “Có gì ở Alaska?” chị .

      xoay người nằm sấp lại, trườn qua phần giường của mình. Chốc lát chị ngáy.

      Ngay khi định tắt đèn ngủ, nghĩ mình thấy gì trong hành lang. cứ nhìn chằm chằm và nghĩ lại nhìn thấy nó, cặp mắt . Tim thình thịch. chớp mắt rồi lại nhìn chằm chằm. chồm người qua tìm cái gì đó để ném. nhặt chiếc giày lên. ngồi thẳng dậy và nắm chiếc giày bằng cả hai tay. nghe vợ ngáy và nghiến răng. đợi. đợi nó nhúc nhích lần nữa, gây ra tiếng động khẽ khàng nhất.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953

        LỚP ĐÊM


      Hôn nhân của tôi vừa tan vỡ. Tôi tìm được việc làm. Tôi có khác. Nhưng vắng. Thành thử tôi ngồi ở quầy bar nhấm nháp bia, có hai người đàn bà ngồi cách tôi vài ghế và trong hai người bắt chuyện với tôi.

      có xe ?”

      “Có, nhưng ở đây,” tôi .

      Vợ tôi lấy cái xe. Tôi ở nhờ bố mẹ. Thỉnh thoảng tôi chạy xe của họ. Nhưng đêm nay tôi bộ.

      Người kia nhìn tôi. Cả hai chừng bốn mươi, hoặc hơn.

      “Cậu hỏi gì ta?” Người kia hỏi người đầu tiên.

      “Mình hỏi ta có xe .”

      “Vậy có xe ?” Người thứ hai hỏi tôi.

      “Tôi vừa với kia. Tôi có xe. Nhưng nó có ở đây,” tôi .

      “Vậy chẳng giúp được gì cho bọn tôi rồi, phải ?” .

      Người thứ nhất cười. “Chúng tôi có kế hoạch và chúng tôi cần cái xe để kế hoạch thành công. Tệ quá.” quay sang người bartender gọi thêm hai ly bia.

      Nãy giờ tôi uống cầm chừng, nhưng giờ tôi uống cạn ly bia, nghĩ rằng họ có thể bao tôi ly. Nhưng .

      làm gì?” Người thứ nhất hỏi tôi.

      giờ làm gì,” tôi . “Thỉnh thoảng, khi có thể, tôi học.”

      ta học,” với người kia. “ ta là sinh viên. học ở đâu?”

      “Quanh đây,” tôi .

      “Mình bảo với cậu mà,” người thứ nhất . “Trông ta giống sinh viên à?”

      học cái gì?” Người thứ hai .

      “Gì cũng học,” tôi .

      “Ý tôi là,” , “ dự định làm gì? Mục tiêu lớn của đời là gì? Ai cũng có mục tiêu lớn trong đời.”

      Tôi chìa cái ly rỗng về phía bartender. ta cầm và lấy cho tôi ly bia nữa. Sau khi đưa mấy xu lẻ, tôi chỉ còn ba mươi xen trong chỗ hai đô la tôi có lúc bắt đầu uống cách đây mấy tiếng đồng hồ. ta đợi tôi trả lời.

      “Dạy. Dạy học,” tôi .

      ta muốn trở thành giáo viên.”

      Tôi nhấp bia. Ai đó nhét đồng xu vào máy nghe nhạc, bài hát vợ tôi thích trỗi lên. Tôi ngó quanh. Hai người đàn ông phía đằng trước ngồi chơi trò tạt đĩa. Cửa mở, bên ngoài tối.

      “Bọn tôi cũng là sinh viên, biết ?” Người thứ nhất . “Bọn tôi học.”

      “Bọn tôi học lớp đêm,” người kia . “Bọn tôi học lớp kỹ năng đọc vào các tối thứ Hai.”

      Người thứ nhất , “Sao ngồi lại gần đây, thầy giáo, để bọn tôi khỏi phải gào lên?”

      Tôi cầm ly bia và thuốc lá lên rồi nhích tới hai ghế.

      “Tốt hơn rồi,” . “Nào, có phải là sinh viên?”

      “Thỉnh thoảng, phải, nhưng phải lúc này,” tôi .

      “Ở đâu?”

      “State College.”

      “Đúng rồi,” . “Giờ tôi nhớ ra. nhìn người kia. có bao giờ nghe giáo viên ở đó tên là Patterson ? Ông ấy dạy lớp kỹ năng dành cho người lớn. Ông dạy cái lớp bọn tôi học vào các tối thứ Hai. làm tôi nhớ tới Patterson.”

      Họ nhìn nhau cười ha hả.

      “Đừng bận tâm về bọn tôi,” người thứ nhất . “Đây là trò đùa riêng giữa tôi và ấy. Mình có nên với ta mình định làm gì , Edith? Nên ?”

      Edith trả lời. uống hơi bia, rồi nheo mắt lại nhìn chính , ba chúng tôi, trong tấm gương phía sau quầy bar.

      “Bọn tôi tính,” người thứ nhất tiếp tục, “nếu tối nay bọn tôi có xe ghé thăm ông ấy, Patterson. Phải , Edith?”

      Edith cười mình. uống hết bia và gọi lượt nữa cho cả tôi. trả tiền bia bằng tờ năm đô.

      “Patterson thích uống,” Edith .

      “Cậu cứ thế nữa ,” người kia . quay qua tôi. “Có lần bọn tôi về chuyện đó trong lớp. Patterson ông ấy luôn uống vang trong bữa ăn và hai ly cocktail trước bữa tối.”

      “Lớp gì vậy?” tôi .

      “Lớp kỹ năng đọc của Patterson. Ông ấy thích tán hươu tán vượn.”

      “Bọn tôi học cách đọc sách,” Edith . “ có tin được ?”

      “Tôi thích đọc Hemingway và các sách tương tự, người kia . Nhưng Patterson bắt bọn tôi đọc những truyện như trong tạp chí Reader’s Digest.”

      “Thứ Hai nào bọn tôi cũng có bài kiểm tra,” Edith . “Nhưng Patterson được lắm. Nếu mình ghét nhà ông ấy uống cocktail ông ấy có ý kiến gì đâu. Dù sao ông ấy cũng đâu biết làm gì khác. Bọn tôi nắm thóp ông ấy mà. Nắm thóp Patterson,” .

      “Tối nay bọn tôi rỗi việc,” người kia . “Nhưng xe của Edith để ở ga ra.”

      “Nếu giờ có xe, mình thăm ông ấy,” Edith . nhìn tôi. “ có thể bảo Patterson rằng muốn làm giáo viên. Các có điểm chung.”

      Tôi cạn ly bia. Cả ngày tôi chưa ăn gì ngoài vài ba hạt lạc. Cứ ngồi chuyện suông hoài khó chịu.

      “Jerry, cho ba ly nữa nhé,” người thứ nhất với bartender.

      “Cám ơn,” tôi .

      hợp với Patterson,” Edith .

      “Vậy gọi ông ấy ,” tôi . Tôi nghĩ chỉ chơi thôi.

      “Tôi làm thế,” . “Ông ấy có thể bịa ra lý do nào đó. Ta cứ thò mặt ra ngay trước cổng nhà ông ấy, ông ấy phải cho ta vào thôi.” nhấp ngụm bia.

      “Vậy ta thôi,” người thứ nhất . “Ta còn chờ gì nữa? là xe ở đâu?”

      “Có chiếc xe cách đây vài dãy nhà,” tôi . “Nhưng tôi chắc.”

      muốn hay ?” Edith .

      ta ta muốn mà,” người thứ nhất . “Mình hãy mua hộp sáu lon mang theo.”

      “Tôi chỉ còn ba mươi xen,” tôi .

      “Ai cần mấy đồng tiền chết tiệt của ,” Edith . “Bọn tôi cần cái xe chết tiệt của . Jerry, ba ly nữa. Và hộp sáu lon mang .”

      “Chúc mừng Patterson,” người thứ nhất khi bia được mang ra. “Chúc mừng Patterson và những ly cocktail của ông ta.”

      “Ông ta làm rơi bát mất,” Edith .

      “Cạn ly nhé,” người thứ nhất .

                  ***


      Chúng tôi cuốc bộ vỉa hè về phía Nam, hướng ra khỏi thành phố. Tôi giữa hai người đàn bà. Lúc đó chừng mười giờ.

      “Tôi có thể uống lon bia ngay bây giờ,” tôi .

      “Cứ tự nhiên,” Edith .

      mở túi và tôi thò vào xé hộp lấy lon.

      “Bọn tôi đoán ông ấy ở nhà.”

      “Patterson,” người kia . “Bọn tôi chắc. Nhưng bọn tôi nghĩ thế.”

      “Còn xa ?” Edith hỏi.

      Tôi ngừng lại, nâng lon bia lên, uống nửa lon. “Dãy kế tiếp, tôi . Tôi ở với bố mẹ. Đây là nhà của họ.”

      “Tôi cho thế cũng có gì sai,” Edith . “Nhưng trông khá già mà còn sống với bố mẹ.”

      “Như thế là lịch , Edith.” Người kia .

      “Ừ, tính tôi như vậy,” Edith . “ ta phải làm quen vậy thôi. Tính tôi là như vậy.”

      “Tính ấy như vậy,” người kia .

      Tôi uống nốt chỗ bia rồi vứt vỏ lon vào đám cỏ.

      “Giờ còn bao xa?” Edith .

      “Đây. Ngay đây. Tôi cố lấy chìa khoá xe,” tôi .

      “Ừm, nhanh lên.” Edith .

      “Bọn tôi đợi bên ngoài,” người kia .

      “Lạy chúa,” Edith .

      ***

      Tôi mở cửa rồi xuống cầu thang. Bố xem ti vi trong bộ pyjama. Trong nhà ấm áp, tôi đứng dựa khung cửa lúc rồi đưa tay xoa mắt.

      “Con mới uống vài ly bia,” tôi . “Bố xem gì đấy?”

      “John Wayne,” ông . “Hay phết. Ngồi xuống đây mà xem. Mẹ mày chưa về.”

      Mẹ tôi làm ca đêm ở tiệm Paul, nhà hàng bia Đức. Bố tôi làm. Ông từng làm việc trong rừng, nhưng rồi ông bị thương. Ông được bồi thường, nhưng khoản đó bị tiêu gần hết. Khi vợ tôi chia tay, tôi hỏi vay ông hai trăm đô nhưng ông từ chối. Mắt ông rơm rớm khi và thêm rằng ông hy vọng tôi hờn trách. Tôi sao, tôi hờn trách gì ông cả.

      Tôi biết lần này ông cũng . Nhưng tôi vẫn ngồi xuống đầu kia ghế sofa mà , “Con gặp mấy , họ nhờ con lái xe đưa về nhà.”

      “Mày bảo họ sao?” ông .

      “Họ đợi con ở ,” tôi .

      “Cứ để họ đợi,” ông . “ có ai đó tới thôi. Mày nên sa vào cái đám lộn xộn đó.” Ông lắc đầu. “Mày thực chỉ cho họ xem chỗ mình ở đấy chứ? Họ thực kia chứ?” Ông ngọ ngoạy ghế sofa và lại nhìn ti vi. “Dù sao nữa mẹ mày cầm chìa khoá rồi.” Ông chậm rãi gật đầu, mắt vẫn nhìn ti vi.

      “Vậy cũng OK,” tôi . “Con cần xe. Con cũng định đâu.”

      Tôi đứng dậy nhìn vào hành lang, chỗ tôi ngủ cái giường xếp. Có cái gạt tàn, cái đồng hồ Lux, vài cuốn truyện bìa mềm cũ kỹ chiếc bàn bên cạnh giường. Tôi thường vào giường lúc nửa đêm rồi đọc đến khi chữ nhập nhoạng mới ngủ thiếp mặc cho đèn sáng còn sách tay. Trong trong những cuốn bìa mềm tôi đọc tôi nhớ có chuyện tôi kể lại cho vợ tôi. Tôi có ấn tượng rất tuyệt về truyện đó. Có chàng nọ gặp ác mộng và trong cơn ác mộng ta mơ thấy ta mơ rồi thức giấc thấy người đàn ông đứng bên cửa sổ phòng ngủ. chàng nằm mơ hoảng sợ đến nỗi nhúc nhích được hầu như thở được. Người đàn ông bên cửa sổ nhìn chằm chằm vào phòng rồi bắt đầu nạy cửa. chàng nằm mơ nhúc nhích được. muốn gào, nhưng thở được. Rồi trăng ra sau đám mây, và chàng nằm mơ trong cơn ác mộng nhận ra người đàn ông bên ngoài. Đó là bạn thân nhất của , bạn thân nhất của chàng nằm mơ nhưng phải là người gặp ác mộng biết.

      Kể lại chuyện đó cho vợ tôi, tôi cảm thấy máu dồn lên mặt và dựng tóc gáy. Nhưng nàng chẳng để ý.

      “Đó chỉ là truyện thôi,” nàng . “Bị ai đó trong gia đình phản bội, đó mới là ác mộng thực thụ.”

      Tôi nghe tiếng họ lắc cánh cửa bên ngoài. Tôi nghe tiếng chân họ lề đường phía cửa sổ nhà tôi.

      “Cái thằng chó đẻ chết tiệt!” tôi nghe tiếng Edith .

      Tôi vào nhà tắm lúc lâu rồi lên cầu thang và chui ra. Trời lạnh hơn nên tôi kéo áo khoác lên. Tôi cuốc bộ tới tiệm Paul. Nếu tới đó trước khi mẹ hết ca, tôi có thể kiếm được cái sandwich kẹp gà tây. Sau đó tôi có thể tới sạp báo Kirby lướt qua mấy cuốn tạp chí. Rồi tôi có thể về nhà, lên giường đọc sách cho đến khi mỏi mắt ngủ.

      Mấy người đàn bà, họ còn ở đó khi tôi ra khỏi nhà, và họ cũng chẳng ở đó khi tôi quay lại.

                    

        NHỮNG NGƯỜI THU TIỀN


      Tôi thất nghiệp. Nhưng ngày nào tôi cũng chờ tin từ mạn Bắc. Tôi nằm sofa lắng nghe tiếng mưa. Thỉnh thoảng tôi nhổm dậy ngó qua màn cửa xem bác đưa thư có đến .

      Ngoài đường bóng người, có gì cả.

      Tôi lại nằm xuống chưa được năm phút nghe có tiếng người bước vào cổng, đứng đợi, rồi gõ cửa. Tôi nằm yên. Tôi biết đó phải bác đưa thư. Tôi thuộc lòng tiếng chân bác ấy. Thận trọng là thừa khi bạn thất nghiệp và nhận các giấy báo trong thùng thư hoặc nhét dưới cửa. Người ta cũng có thể đến tận nhà chuyện với bạn, nhất là nếu bạn có điện thoại.

      Tiếng gõ cửa lại vang lên, to hơn, dấu hiệu xấu. Tôi ngồi dậy cố nhìn ra cổng. Nhưng người nào đó giờ đứng ngay cửa, dấu hiệu xấu khác. Tôi biết sàn nhà kêu cót két, nên có cách nào lẻn qua phòng bên kia mà nhìn ra cửa sổ.

      Lại tiếng gõ cửa nữa, và tôi , Ai đấy?

      Đây là Aubrey Bell, người đàn ông . Ông là ông Slater phải ?

      cần gì? Tôi vọng ra từ sofa.

      Tôi mang cái này cho bà Slater. Bà ấy trúng giải. Đây là nhà bà Slater phải ?

      Bà Slater sống ở đây, tôi .

      Thế à, vậy ông có phải là ông Slater? người đàn ông . Ông Slater... và người đàn ông hắt xì.

      Tôi leo xuống sofa. Tôi mở khóa và hé cửa. Đó là người đứng tuổi, béo, kềnh càng dưới lớp áo mưa. Nước chảy từ áo mưa, nhểu vào cái va li to đùng đựng cái máy gì đó xách.

      toét miệng cười đặt cái va li to xuống. chìa tay ra.

      Aubrey Bell, .

      Tôi biết ông, tôi .

      Bà Slater, bắt đầu . Bà Slater điền vào cái phiếu. lôi mớ phiếu từ túi áo trong ra mà xáo hồi. Bà Slater, đọc. Số nhà hai trăm bốn mươi lăm đường South Sixth East? Bà Slater là người trúng giải.

      bỏ mũ và gật đầu long trọng, đập mũ vàoáo khoác như thể là thế đây, mọi việc xong xuôi, trọn cung đường, về đến đích.

      đợi.

      Bà Slater sống ở đây, tôi . Bà ấy trúng cái gì?

      Tôi phải cho ông xem, . Tôi vào nhà được ?

      Tôi biết. Nếu quá mất thời giờ, tôi . Tôi khá bận rộn.

      Tốt, . Để tôi cởi áo mưa ra trước. Rồi đôi ủng. muốn làm trầy thảm nhà ông đâu. Tôi thấy là nhà ông có trải thảm, ông...

      Khi nhìn thấy tấm thảm mắt sáng lên rồi dịu lại. lắc lắc người. Rồi cởi áo mưa. giũ rồi móc cổ áo lên nắm đấm cửa. Đó là chỗ thích hợp để treo áo mưa, . Đằng nào thời tiết cũng chết tiệt. cúi xuống cởi ủng. để va li vào bên trong phòng. rút chân ra khỏi ủng và mang dép lê vào phòng.

      Tôi đóng cửa. thấy tôi ngó đôi dép lê chằm chằm nên là , W. H. Auden thi sĩ mang dép lê khắp Trung Hoa trong chuyến viếng thăm đầu tiên đến đó. Chẳng bao giờ bỏ ra. Vì mấy cái mụt cóc.

      Tôi nhún vai. Tôi nhìn xuống đường lần nữa xem bác đưa thư có đến rồi đóng cửa lại.

      Aubrey Bell nhìn tấm thảm chằm chằm. bặm môi. Rồi cười. cười và lắc đầu.

      Có gì buồn cười lắm hả?

      có gì. Chúa ơi, . lại cười.Tôi nghĩ là tôi mất trí rồi. Tôi nghĩ là tôi bị sốt. lấy tay sờ trán. Tóc bết lại, quanh đầu có vết ngấn do đội mũ.

      Ông có cảm thấy người tôi nóng ? . Tôi chẳng biết, tôi nghĩ có khi tôi bị sốt rồi. vẫn ngó tấm thảm trân trân. Ông có aspirin ?

      Ông bị sao thế? tôi . Hy vọng ông đổ bệnh ở đây. Tôi còn khối việc phải làm.

      lắc đầu. ngồi xuống sofa. khoắng bàn chân mang dép lê tấm thảm.

      Tôi vào bếp, hứng cốc nước từ vòi, lắc chai để lấy hai viên aspirin.

      Đây, tôi . Xong rồi tôi nghĩ ông nên .

      Ông nhân danh bà Slater à? xì miệng. , , hãy quên là tôi vậy, hãy quên là tôi vậy. lau mặt. nuốt hai viên aspirin. đảo mắt quanh căn phòng trống lốc. Rồi gắng nhổm người tới mở khóa va li. Cái va li bật ra, để lộ các ngăn xếp đầy những là vòi, bàn chải, mấy cái ống sáng loáng và vật màu xanh dương trông nặng nề gắn mấy bánh xenhỏ. chằm chằm nhìn những vật này như thể ngạc nhiên. thào bằng giọng ngân nga như đọc kinh, , Ông biết cái này là cái gì ?

      Tôi nhích lại gần hơn. Tôi nghĩ đây là cáimáy hút bụi. Tôi có ý định mua máy hút bụi, tôi . Hẳn nhiên tôi hoàn toàn có ý định mua máy hút bụi.

      Tôi muốn cho ông xem cái này, . lấy trong túi áo khoác ra cái phiếu. Nhìn cái này, . đưa tôi cái phiếu. ai là ông định mua máy hút bụi. Nhưng nhìn chữ ký xem. Đó có phải là chữ ký của bà Slater hay ?

      Tôi nhìn cái phiếu. Tôi giơ nó ra ánh sáng. Tôi lật nó lại, nhưng mặt bên kia để trống. Vậy sao? tôi .

      Phiếu của bà Slater được bốc ngẫu nhiên từ thùng phiếu. Có hàng trăm phiếu như cái phiếu này. Bà ấy trúng được cái máy hút bụi và chai dầu giặt thảm. Bà Slater là người trúng giải. có điều kiện gì. Tôi tới đây thậm chí còn để hút bụi đệm cho ông, thưa ông... Ông ngạc nhiên khi thấy người ta có thể thu được những gì từ tấm đệm sau bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm. Hằng ngày, hàng đêm trong đời chúng ta, chúng ta để lại những mảnh của mình, những mảng tróc chỗ này chỗ nọ. Chúng đâu, những phần tử của chúng ta? Xuyên ngay qua khăn trải giường và lẩn vào trong đệm, chúng chui vào đó! Cả gối nữa. Đều như vậy cả.

      bắt đầu lấy mấy đoạn ống dài sáng loáng ra và nối các phần lại với nhau. Bây giờ nhét mấy cái ống khớp nhau vào cái vòi. quỳ,lẩm bẩm gì đó. gắn cái gì như cái muỗng vào vòi và nhấc vật màu xanh dương có bánh xe ra.

      cho tôi xem xét cái bộ lọc định dùng

      Ông có ô tô ? .

      có ô tô, tôi . Tôi có ô tô. Nếu có ô tô tôi chở ông đâu đó.

      Chán nhỉ, . Cái máy hút bụi bé này được trang bị cuộn dây nối dài hơn mười tám mét. Nếu có ô tô, ông có thể đẩy cái máy nho này đến tận cửa xe đặng hút bụi bộ thảm nhung và cả bộ ghế sang trọng bật ra sau được. Ông ngạc nhiên khi thấy sau nhiều năm tháng bao nhiêu phần của ta mất , bao nhiêu phần của ta tụ tập lại trong mấy cái ghế đẹp đẽ đó.

      Ông Bell này, tôi , tôi nghĩ tốt hơn là ông nên gói ghém lại và ra khỏi đây. Tôi thế nhưng có bất kỳ ác ý nào đâu.

      Nhưng ngó quanh phòng tìm chỗ cắm. tìm thấy chỗ ở đầu ghế sofa. Cái máy kêu lục cục như có đá bên trong, hoặc bên trong có gìbị lỏng, rồi chuyển sang đều nhịp chạy ì ì.

      Cả phần đời trưởng thành Rilke sống trong hết lâu đài này đến lâu đài khác. Của các nhà tài trợ, to để át tiếng ì ì của máy hút bụi. Ông ấy ít khi nào chịu xe hơi, ông thích tàu hơn. Rồi hãy xem Voltaire ở Cirey với Madame Châtelet. Khuôn mặt thạch cao của ông ấy. Thanh thản làm sao. giơ bàn tay phải lên như thể tôi sắp sửa đồng ý. , , đúng, phải ? Đừng ra. Nhưng ai mà biết? Tới đó bắt đầu quay và kéo máy hút bụi vào căn phòng bên kia.

      cái giường, khung cửa sổ. Chăn nằm đống sàn. cái gối, cái ga giường tấm đệm. lột vỏ gối ra rồi nhanh chóng kéo ga giường khỏi đệm. ngó tấm đệm chằm chằm rồi đưa mắt nhìn tôi. Tôi vào bếp lấy cái ghế. Tôi ngồi ở lối ra vào theo dõi. Đầu tiên kiểm tra sức hút bằng cách gí đầu hút vào lòng bàn tay. cúi xuống vặn cái nút máy. Để làm việc như thế này mình phải mở máy ở chế độ mạnh nhất, . kiểm tra lực hút lần nữa rồi kéo vòi đến tận đầu giường và bắt đầu rà đầu hút dưới đệm. Đầu hút vướng vào đệm. Cái máy rồ to hơn. rà tấm đệm ba lượt, rồi tắt máy. ấn cái cần khiến nắp bật ra. lấy túi lọc ra. Cái túi lọc này chỉ dùng để biểu diễn thôi. Khi thườngdùng, tất cả những thứnày, những thứ vật chất này, chui hết vào cái túi này, ở đây, . nhón mấy thứ bụi bặm giữa các ngón tay. Hẳn phải được cốc bụi.

      Mặt trông rất lạ.

      phải đệm của tôi, tôi . Tôi nhổm người tới ghế, ra chiều quan tâm.

      Giờ đến lượt cái gối. đặt cái túi lọc dùng lên bệ cửa sổ và nhìn ra ngoài lúc. xoay sang tôi. Tôi muốn ông giữ đầu này của gối, .

      Tôi đứng dậy giữ hai góc của cái gối. Tôi cảm thấy như mình nắm lấy tai thứ gì đó.

      Như thế này hả? tôi .

      gật đầu. sang phòng bên kia rồi quay lại với túi lọc khác.

      Mấy thứ này có đắt tiền ? tôi .

      Rẻ ấy mà, . Làm bằng giấy pha nhựa. thể đắt được.

      bật máy lại và tôi giữ chặt trong lúc đầu hút ngập vào gối và rà dọc theo gối - , hai, ba lần. tắt máy, lấy túi lọc ra, nhấc lên lời. đặt nó lên bệ cửa sổ cạnh cái túi lọc kia. Rồihắn mở cửa tủ. nhìn vào trong, nhưng trong đó chỉ có hộp thuốc đuổi chuột.

      Tôi nghe có tiếng chân ngoài cổng, tiếng nắp lỗ nhét thư mở ra và tiếng sập lại. Chúng tôi nhìn nhau.

      kéo cái máy hút bụi và tôi theo chân vào phòng bên kia. Chúng tôi nhìn phong thư nằm úp thảm gần cửa trước.

      Tôi tiến về phía phong thư, ngoảnh lại , Còn gì nữa ? Muộn rồi. Tấm thảm này đáng để vọc đâu. Nó chỉ là tấm thảm bông mười hai nhân mười lăm chưa trầy trụa gì được mang từ cửa hàng thảm Rug City về. đáng để vọc đâu.

      Ông có cái gạt tàn đầy ? . Hoặc chậu cây hay cái gì tương tự. nắm đất cũng tốt.

      Tôi tìm thấy cái gạt tàn. cầm lấy, đổ toẹt lên tấm thảm, lấy dép giẫm lên tàn và vụn thuốc. lại quỳ xuống lắp túi lọc mói. cởi áo khoác quẳng lên sofa. Dưới nách mồ hôi ướt đẫm. Bụng phệ. vặn đầu hút ra rồi lắp thiết bị khác vào vòi. điều chỉnh nút vặn. mở máy lại và bắt đầu di chuyển tới lui, lui tới tấm thảm sờn. Hai lần tôi định tiến về phía phong thư. Nhưng dường như đoán được ý, chặn đầu tôi, đại để vậy, bằng vòi, ống, và bằng cách quét, quét...

      Tôi mang ghế ra chỗ bếp, ngồi đó theo dõi làm việc. lát sau tắt máy, mở nắp, và lặng lẽ mang cái túi lọc lại cho tôi, đầy những bụi, tóc,những thứ li ti. Tôi nhìn cái túi lọc, đứng dậy bỏnó vào thùng rác.

      Bây giờ làm việc chăm chú. giải thích gì thêm. mang cái chai có ít chất lỏng màu xanh vào nhà bếp. để cái chai dưới vòi vặn đầy nước vào.

      Ông phải biết là tôi trả ông đồng nào đâu, tôi . Có giết tôi tôi cũng trả ông được đô. Đầu tư vào tôi chỉ có lỗ sặc gạch, vậy thôi.Ông phí thời gian với tôi, tôi .

      Tôi muốn trắng ra, để khỏi hiểu nhầm.

      cứ tiếp tục làm việc. gắn thứ khác vào vòi, và bằng cách thức phức tạp gắn cái chai vào thứ kia. di chuyển chầm chậm tấm thảm, thi thoảng làm xì ra những làn hơi màu ngọc lục, đẩy bàn chải tói lui tấm thảm, dồn lên những đống bọt.

      Tôi hết những điều trong đầu. Tôi ngồi ghế trong bếp, giờ thư giãn, theo dõi làm việc. Thỉnh thoảng tôi ngó ra ngoài cửa sổ nhìn mưa. Trời bắt đầu tối. tắt máy. đứng ở góc nhà gần cửa trước.

      Ông uống cà phê? tôi .

      Hấn thở khó nhọc. chùi mặt.

      Tôi đặt nước lên bếp, đến khi nước sôi và tôi pha xong hai cốc cà phê tháo rời mọi thứ xong xuôi cất lại vào trong va li. Rồi nhặt lá thư lên. đọc tên phong bì và nhìn kỹ địa chỉ người gửi. gấp lá thư làm đôi, nhét vào trong túi hông. Tôi cứ nhìn theo . Tôi chỉ làm có vậy. Cà phê bắt đầu nguội.

      Thư gửi cho ông Slater nào đó, . Tôi lo chuyện này. , có lẽ tôi bỏ qua cà phê. Tốt hơn là tôi nên ngang tấm thảm này. Tôi vừa mới giặt nó mà.

      Đúng thế, tôi .Rồi tôi , Ông có chắc là thư gửi cho người đó ?

      với lấy cái áo khoác sofa, mặc vào, rồi mở cửa trước. Trời vẫn mưa. xỏ ủng, cột dây, rồi mặc áo mưa và nhìn lại vào trong nhà.

      Ông muốn xem nó à? . Ông tin tôi sao?

      Chỉ có vẻ lạ, tôi .

      Thôi, tôi phải , . Nhưng cứ đứng đó. Ông muốn mua cái máy hút bụi này hay ?

      Tôi nhìn cái va li to lúc giờ đóng lại và sẵn sàng xách .

      , tôi , chắc là . Tôi sắp sửa khỏi đây. Nó chỉ tổ vướng chân.

      Được thôi, , và sập cửa.





                    

        LÀM GÌ Ở SAN FRANCISCO?


      Chuyện này liên quan gì đến tôi. Đây là chuyện về cặp vợ chồng trẻ có ba đứa con dọn đến căn nhà lộ trình của tôi đầu mùa hè qua. Tôi lại phải nghĩ tới họ khi tôi nhặt tờ báo Chủ nhật vừa rồi lên và thấy ảnh thanh niên bị bắt ở San Francisco vì giết vợ và bạn trai ta bằng gậy bóng chày. Dĩ nhiên, đó phải cùng người, mặc dù hai người trông giông giống vì cùng để râu. Nhưng tình cảnh khá gần nhau khiến tôi phải nghĩ ngợi.

      Henry Robinson là tên tôi. Tôi là bưu tá, viên chức liên bang kể từ năm 1947. Cả đời tôi sống ở bờ Tây trừ ba năm phục vụ trong quân đội thời kỳ chiến tranh. Tôi ly dị hai mươi năm, có hai đứa con mà tôi gặp gần như suốt ngần ấy thời gian. Tôi phải là người hời hợt, và theo tôi tự đánh giá, cũng phải là người nghiêm túc. Tôi tin rằng thời bây giờ đàn ông phải vừa hơi thế này vừa hơi thế kia. Tôi cũng tin vào giá trị của công việc - càng vất vả càng tốt. người làm có quá nhiều thời gian rảnh; quá nhiều thời gian nên hay dằn dọc bản thân và những rắc rối của mình.

      Tôi tin chắc rằng đó phần nào là rắc rối của người thanh niên sống ở đây - làm. Nhưng tôi nghĩ cũng là lỗi của ta. Người đàn bà đó. ta khuyến khích điều ấy.

      Dân Beat, tôi đồ chừng bạn gọi họ như vậy nếu bạn thấy họ. Người thanh niên để bộ râu nâu có chỏm nhọn và trông có vẻ cần được ngồi xuống ăn bữa tối ngon lành rồi sau đó hút điếu xì gà. Người đàn bà có mái tóc sẫm dài và nước da sáng trông hấp dẫn, nghi ngờ gì. Nhưng tin tôi , ta phải là người vợ và người mẹ tốt. ta là họa sĩ. Người thanh niên, tôi biết làm gì - có thể nghề gì đó tương tự. Cả hai ai làm. Nhưng bằng cách nào đó họ trả được tiền thuê nhà và sống được - ít nhất trong mùa hè này.

      Lần đầu tôi thấy họ là khoảng mười giờ, mười giờ mười lăm sáng thứ Bảy. Tôi được khoảng hai phần ba lộ trình rẽ vào dãy nhà của họ và để ý thấy chiếc Ford bốn chỗ đời 56 ghé vào sân kéo theo chiếc moóc U-Haul mui khá to. Chỉ có ba căn nhà đường Pine, nhà họ là căn cuối cùng, hai căn kia là của nhàMurchison ở Arcata gần năm nay và nhà Grant dọn đến đây chừng hai năm. Murchison làm việc ở Simpson Redwood, còn Gene Grant là đầu bếp ca sáng ở tiệm Denny. Hai căn đó, rồi khu đất trống, rồi tới căn nhà cuối đường từng thuộc về nhà Cole.

      Người thanh niên xuống sân, ra phía sau chiếc moóc còn vợ vừa mới ló khỏi cửa trước miệng phì phèo thuốc lá, mặc quần jean trắng bó và cái áo lót trắng của đàn ông. dừng lại khi thấy tôi và ở đó dõi theo tôi lại gần. Tôi chậm lại khi tới ngang thùng thư nhà họ và gật đầu chào .

      "Sắp xếp mọi thứ ổn thỏa chứ?""  Tôi .

      " mất ít lâu," ta và hất mớ tóc khỏi trán trong khi vẫn tiếp tục hút thuốc.

      "Tốt," tôi . "Chào mừng tới Arcata."

      Tôi cảm thấy hơi kỳ cục sau khi câu đó. biết tại sao, nhưng tôi luôn thấy mình có cảm giác kỳ cục những lần ít ỏi lại gần người phụ nữ này.

      Đó là trong những lý do khiến tôi khó chịu với ta ngay từ đầu.

      ta mỉm cười gượng gạo với tôi và khi tôi bắt đầu tiếp tục lộ trình người thanh niên - Marston là tên - từ phía sau chiếc moóc khênh thùng ca tông đồ chơi tới. tại, Arcata phảimộtchỗ mà cũng chẳng là chỗ lớn, mặc dù tôi đồ chừng phải rằng nó có vẻ nghiêng về phía hơn. Chắc chắn Acrata phải là nơi tận cùng thế giới, nhưng hầu hết người ở đây hoặc làm việc tại các trại gỗ hoặc liên quan ít nhiều đến ngành đánh cá, hoặc cũng làm việc trong mấy cửa hàng dưới phố. Dân ở đây quen nhìn thấy đàn ông để râu - hoặc đàn ông làm, ý là thế.

      "Xin chào," tôi . Tôi chìa tay ra khi để thùng các tông lên cản trước ô tô. "Tôi là Henry Robinson. Các bạn vừa mới đến?"

      "Chiều hôm qua," .

      " chuyến ra trò! Chúng tôi mất đến mười bốn tiếng từ San Francisco," người đàn bà lên tiếng từ phía cổng. "Kéo theo cái moóc chết tiệt kia."

      "Ồ," tôi và lắc đầu. "San Francisco? Tôi vừa mới xuống San Francisco, để xem nào, tháng Tư hay tháng Ba vừa rồi."

      "Thế à?" ta . " làm gì ở San Franciso?"

      "Ồ, ra là làm gì. Mỗi năm tôi xuống đó hai lần. Ra Fisherman's Wharf xem đội Giants chơi. Chỉ vậy thôi."

      Câu chuyện ngưng lúc và Marston lấy ngón chân khưi khưi cái gì đó trong đám cỏ. Tôi tiếp tụcđi. Vừa lúc đó lũ trẻ ùa ra cửa trước, la hét và cắmđầu chạy tuốt đến cổng. Khi cánh cửa lưới bật mở, tôi tưởng Marston sắp sửa nhảy dựng lên. Nhưng ta chỉ đứng đó khoanh tay, tỉnh như , chẳng lộ xúc cảm gì. Trông Marston ổn chút nào. Những cử động , giần giật, nhanh mỗi khi phải làm gì đó. Và ánh mắt của - chúng hướng vào bạn rồi lảng chỗ khác rồi lại hướng vào bạn.

      Có ba đứa trẻ, hai bé tóc xoăn chừng bốn hay năm tuổi, và bé trai hơn chút.

      "Mấy đứa dễ thương," tôi . "À, tôi phải tiếp đây. Có lẽ các bạn nên đổi tên thùng thư."

      "Chắc chắn," . "Chắc chắn. hai ngày nữa tôi thu xếp. Nhưng dù sao nữa trong thời gian trước mắt chắc chúng tôi chẳng có thư nào."

      " biết trước được đâu," tôi . " chẳng biết được cái gì xuất trong cái túi thư cũ kỹ này đâu. Chuẩn bị sẵn đâu có ảnh huởng gì." Tôi dợm chân . "Nhân đây, nếu cần tìm việc trong mấy trại gỗ tôi có thể giới thiệu cần gặp ai ở Simpson Redwood. người bạn của tôi làm đốc công ở đó. Chắc ta cần ai đó..." Tôi giọng dần, thử xem họ có quan tâm chút nào .

      ", cám ơn," .

      " ấy tìm việc," ta thêm.

      "Thế à, tạm biệt vậy."

      "Tạm biệt," Marston .

      ta câu nào.

      Như , hôm đó là thứ Bảy, ngày trước Lễ Tưởng niệm. Chúng tôi nghỉ bù vào thứ Hai và đến thứ Ba tôi mới quay lại đó. Có thể là tôi hề ngạc nhiên khi thấy chiếc U-Haul vẫn còn trong sân trước. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là vẫn chưa dỡ đồ xuống. Tôi áng chừng độ phần tư số đồ đạc được chuyển tới cổng trước - cái ghế bọc, cái ghế nhà bếp mạ crôm và thùng các tông quần áo nắp bị giật ra. phần tư hẳn được đưa vào nhà, phần còn lại vẫn còn trong chiếc moóc. Mấy đứa trẻ cầm que quất vào hai bên chiếc moóc trong lúc chui ra chui vào cửa sau xe. thấy bố mẹ chúng đâu.

      Thứ Năm tôi lại thấy ngoài sân và nhắc về chuyện đổi tên thùng thư.

      "Tôi thu xếp làm việc đó," .

      "Cứ thong thả," tôi . "Dọn đến chỗ mới có bao nhiêu việc phải làm mà. Mấy người sống ở đây, gia đình nhà Cole, mới dọn ra trước khi đến haingày. ta làm ở Eureka. Phòng Câu Cá Trò Chơi."

      Marston xoa râu và nhìn tránh như vẻ nghĩ về vấn đề gì khác.

      "Hẹn gặp lại ," tôi .

      "Chào ."

      Thôi, vòng vo nhưng tóm lại chả bao giờ đổi tên thùng thư cả. Vài hôm sau tôi mang thư đến địa chỉ đó đại khái, "Marston? Vâng, đó là của chúng tôi, Marston... Bữa nào tôi phải đổi tên cái thùng thư. Tôi kiếm thùng sơn và chỉ cần sơn đè lên cái tên kia... Cole," trong lúc mắt cứ đảo qua đảo lại. Rồi liếc nhìn tôi và hất cằm hai lần. Nhưng chả bao giờ đổi tên thùng thư, nên sau thời gian tôi thây kệ và quên chuyện đó .

      Thỉnh thoảng có những lời đồn đại. Vào những thời điểm khác nhau tôi nghe người ta là tù được giảm án nhưng phải chịu quản thúc, đến Arcata để tránh cái môi trường lành mạnh của San Francisco. Theo câu chuyện này, người đàn bà là vợ , nhưng cả ba đứa trẻ đều phải con . Theo câu chuyện khác phạm tội ác và náu ở đây. Nhưngkhông nhiều người tin câu chuyện đó. Trông hắnkhông giống loại người thực phạm tội ác nào đó. Câu chuyện nhiều người có vẻ tin nhất, ít nhất là câu chuyện được đồn đại nhiều nhất, cũng là chuyện kinh khủng nhất. Chuyện như thế này,người đàn bà nghiện ma túy, và người chồng mang ta lên vùng này để cai nghiện. Để làm bằng chứng, kiện về chuyến thăm của Sallie Wilsonluôn được dẫn ra - Sallie Wilson làm cho công tyWelcome Wagon [1] . ghé thăm họ chiều nọ vàsau đó kể rằng, dối đâu, họ khá buồn cười - đặc biệt người đàn bà. Vừa mới thấy tangồi đó dường như chăm chú lắng nghe Sallie nóichuyện, thế rồi trong khi Sallie vẫn còn thìđã thấy ta đứng dậy, bắt đầu vẽ tranh như thể Sallie có mặt ở đó. Cả cái lối ta âu yếm hôn hít mấy đứa trẻ rồi đột nhiên lên giọng quát tháo chúng mà chẳng vì lý do gì ràng. À, cái kiểu cặpmắt ta nhìn nếu bạn lại gần ta cũng lạ, Sallie . Nhưng Sallie Wilson tò mò soi mói vàochuyện người khác hàng bao năm nay dưới bề ngoài làm việc cho Welcome Wagon.

      [1] : công ty chuyên liên hệ với những người vừa mới dọn nhà vào chỗ mới, cung cấp cho họ các coupon và quảng cáo về hàng hóa và dịch vụ ở địa phương.

      "Ai biết được," tôi khi ai cố lôi chuyện đó ra. "Ai dám chắc? Có khi giờ làm rồi thìsao"

      Dù sao nữa, theo tôi thấy có vẻ họ có kha khá rắc rối ở San Francisco, bất kể bản chất rắc rối đó là gì, và họ quyết rũ sạch nó. Mặc dù lý do tại sao họ lại chọn Arcata để làm chốn dừng chân khó , vì chắc chắn họ đến để tìm việc.

      Vài tuần đầu tiên có thư từ gì, dù có vài tờ rơi của hãng Sears và Western Auto và những thứ tương tự. Rồi bắt đầu có vài lá thư, hai lá tuần. Những lúc ngang, đôi khi tôi thấy trong hai người bên ngoài nhà, đôi khi . Nhưng bọn trẻ luôn ở đó chạy vào chạy ra hoặc chơi đùa khu đất trống cạnh nhà. Dĩ nhiên, ngay từ đầu đó phải là căn nhà kiểu mẫu, nhưng sau thời gian họ ở cỏ dại mọc đầy và cái bãi cỏ ở đó úa vàng rồi chết. Người ta ghét nhìn thấy những thứ như thế. Tôi biết quản trị viên Jessup có đến đó vài lần cầu họ bật nước lên, nhưng họ nại rằng họ mua được vòi nước. Nên ông để lại cho họ cái vòi. Rồi tôi để ý thấy bọn trẻ mang nó ra nghịch trong khu đất, và thế là nó toi. Có hai lần tôi thấy chiếc xe thể thao màu trắng trước sân, chiếc xe phải ở vùng này.

      lần duy nhất tôi có việc phải gặp trực tiếp người phụ nữ. Có lá thư người nhận trả cước nên tôi mang nó vào tận cửa. đứa bé cho tôi vào nhà rồi chạy gọi mẹ. Căn nhà ngổn ngang đồ đạc cũ linh tinh còn quần áo vứt tứ tung. Nhưng đến nỗi bẩn. Có thể là gọn gàng, nhưng cũng bẩn. cái sofa cũ kỹ và ghế kê dọc tường phòng khách. Phía dưới bệ cửa sổ là kệ sách làm bằng gạch và ván, lèn chặt sách bìa mềm khổ . Trong góc có đống tranh úp mặt và bức khác phủ khăn đặt giá.

      Tôi xốc bao đựng thư sang bên và giữ nguyên tư thế đó, nhưng bắt đầu ước rằng giá tôi tự trả lấy phần chênh lệch. Trong khi đứng đợi, tôi ngắm cái giá, sắp sửa lén lại gần nhấc tấm khăn lên nghe có tiếng chân.

      "'Ông cần gì?" ta , xuất ở hành lang vàkhông có vẻ gì thân thiện.

      Tôi sờ vành mũ và , "Có lá thư người gửi phải trả cước, hy vọng chị phiền."

      "Cho tôi xem. Ai gửi? Sao, Jer gửi à! Cái thằngđiên. Gửi thư dán tem. Lee!" ta gọi. "Thưcủa Jerry này." Marston ra, nhưng trông hắnkhông vui lắm. Tôi đứng nghỉ chân, rồi chuyểnsang chân kia, đợi.

      "Tôi trả tiền," ta , "vì nó từ bạn cũ Jerry. Đây. Giờ chào ông."

      Mọi việc diễn ra kiểu như vậy - nghĩa là có thể có kiểu gì hết. Tôi có ý rằng mọi người quanh đây quen thuộc với họ - họ thuộc loại người mà bạn có bao giờ quen thuộc được. Nhưng sau thời gian có vẻ chẳng ai chú ý đến họ nhiều nữa. Người ta có thể chằm chằm nhìn bộ râu của khi đẩy xe mua hàng ở Safeway, nhưng chỉ có thế. nghe thêm chuyện gì nữa.

      Rồi ngày nọ họ biến mất. Theo hai hướng. Sau này tôi phát ra rằng ta chuồn mất tuần trước cùng với ai đó - gã - và sau đó vài ngày mang mấy đứa trẻ đến chỗ mẹ ở Redding. Sáu ngày liên tục từ thứ Năm đến thứ Tư tuần sau thư của họ nằm trong thùng thư. Tất cả mành cửa đều được kéo xuống và ai biết chắc liệu họ có luôn . Nhưng ngày thứ Tư đó tôi nhận thấy chiếc Ford lại đỗ trong sân, tất cả mành cửa vẫn được kéo xuống nhưng thư còn.

      Bắt đầu ngày tiếp theo luôn ở chỗ thùng thư đợi tôi đến giao thư tận tay, ngồi bậc tam cấp ở cổng hút thuốc, đợi, là như vậy. Khi thấy tôi tới đứng dậy, phủi quần, bước lại thùngthư. Nếu như tôi có thư nào cho , tôi thấy liếc nhìn địa chỉ người gửi thậm chí còn trước khi tôi đưa thư cho . Chúng tôi hiếm khi mở miệng, chỉ gật đầu với nhau nếu có chạm mắt nhau, chuyện cũng thường xảy ra. Dù vậy đau khổ - ai cũng có thể nhìn thấy điều đó - và cách nào đó tôi cũng muốn giúp chàng, nếu có thể. Nhưng chính xác là tôi chẳng biết gì.

      buổi sáng nọ, chừng tuần sau khi hắnquay lại, tôi thấy thọc hai tay vào túi quần sauđi lại lại trước thùng thư, và tôi quyết định nóigì đó. gì, tôi chưa biết, nhưng chắc chắn tôi gì đó. Lúc tôi tới quay lưng lạiphía tôi. Khi tôi tới gần, đột nhiên quay mặt lạivà cái vẻ mặt khiến lời lẽ trong miệng tôi đông cứng. Tôi dừng lại giữa đường, thư của trong tay. tiến vài bước về phía tôi và tôi đưa cho gì. nhìn nó chằm chằm như thể rất ngạc nhiên.

      "Gửi người ở địa chỉ này," .

      Đó là tờ rơi từ Los Angeles quảng cáo về chương trình bảo hiểm bệnh viện. Sáng hôm đótôi giao ít nhất bảy mươi lăm cái. gấp đôi nó lại rồi vào nhà.

      Ngày hôm sau lại ra đó như thường lệ. Vẻmặt vẫn như thế, nhưng trông có vẻ tự chủ hơn hôm trước chút. Lần này tôi linh cảm rằng tôi có thứ mà đợi. Sáng nay ở bưu cục tôi thấy nó khi sắp xếp thư thành từng gói. Đó là cái phong bì trắng trơn, địa chỉ được ghi bằng nét bút đàn bà bay bướm choán hết cả chỗ. Nó có dấu bưu điện Portland, và tên người gửi là hai chữ viết tắt JD với địa chỉ Portland.

      "Xin chào," tôi , chìa thư ra.

      cầm lấy lá thư từ tôi lời và mặt trở nên tái nhợt. lảo đảo lúc rồi quay vào nhà, chìa lá thư ra ánh sáng.

      Tôi gọi với, " phải người tốt, chàng trai ạ. Tôi có thể thấy thế ngay khi nhìn thấy ả. Sao quên ta ? Sao làm và quên ta ? Sao thích làm chứ? Chỉ có công việc, công việc ngày đêm, công việc khiến tôi quên lãng khi tôi ở vào tình thế của và có tranh cãi về việc tôi..."

      Sau lần đó đợi tôi bên ngoài nữa, và chỉ ở đó thêm năm ngày. Dù vậy, mỗi ngày tôi đều thoáng thấy vẫn đợi tôi như trước, nhưng đứng sau cửa sổ nhìn tôi qua màn cửa. ra ngoài chừng nào tôi chưa khỏi, chừng đó tôinghe tiếng cửa mở. Nếu tôi quay lại nhìn, có vẻ vội vàng gì khi mò tới thùng thư.

      Lần cuối cùng tôi thấy đứng ở cửa sổ mặt trông có vẻ bình tĩnh và thư giãn. Màn cửa buông, mành được kéo lên, và tôi đoán lúc đó thu dọn đồ đạc để . Nhưng bằng vào vẻ mặt tôi có thể lần này theo dõi tôi. nhìn đăm đăm về đâu đó lướt qua tôi, khỏi tôi, có thể vậy, qua khỏi mái nhà, qua những hàng cây, về hướng Nam. cứ nhìn đăm đăm thậm chí sau khi tôi ngang nhà và tiếp vỉa hè. Tôi ngoái lại nhìn. Tôi thấy vẫn đứng ở cửa sổ. Có cảm giác mạnh mẽ khiến tôi quay đầu nhìn theo hướng nhìn. Nhưng, như bạn có thể đoán, tôi chẳng thấy gì ngoài bầu trời, những dãy núi, rặng cây quen thuộc.

      Ngày kế tiếp mất. để lại địa chỉ chuyển tiếp. Thỉnh thoảng hay vợ hoặc cả hai lại có lá thư gì đó. Nếu đó là thư hạng nhất, chúng tôi giữ lại ngày rồi gửi trả. Chẳng có nhiều. Và tôi bận tâm. Tất cả chỉ là công việc, đằng nào cũng là công việc, và tôi luôn luôn vui vẻ khi có công ăn việc làm.


    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :