1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

EM LÀM ƠN IM ĐI ĐƯỢC KHÔNG?

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
        VỢ NGƯỜI SINH VIÊN


      Khi đọc Rilke - thi sĩ mà ngưỡng mộ - cho nàng nghe, nàng thiếp đầu gối lên cái gối của . thích đọc to, và đọc khá hay - giọng vang, tự tin, khi trầm đục u sầu, khi cao, khi hồi hộp. Lúc đọc bao giờ rời mắt khỏi trang sách và chỉ ngừng lại để với lấy điếu thuốc tủ đầu giường. Đó là chất giọng ấm áp đưa nàng vào giấc mơ về những đoàn lữ hành ra từ những thành phố có tường bao quanh và những người đàn ông râu tia mặc áo choàng. Nàng lắng nghe được vài phút rồi nhắm mắt lại thiếp .

      vẫn tiếp tục đọc vang. Bọn trẻ ngủ được mấy tiếng rồi, bên ngoài thỉnh thoảng có tiếng bánh xe rít bên vệ đường ướt át. đỗi sau đặt cuốn sách xuống và xoay người giường để với tay tới ngọn đèn ngủ. Nàng bất chợt mở mắt, vẻ hoảng sợ, chớp chớp mắt mấy lần. thấy mí mắt nàng trông có vẻ nặng nề và u ám dị thường khi chúng cứ chớp chớp đôi mắt bất động vô hồn. nhìn nàng đăm đăm.

      "Em ngủ mê à?"

      Nàng gật đầu rồi nhấc tay lên sờ mấy cái cuốn tóc hai bên đầu. Ngày mai là thứ Sáu, ngày nàng dành cho đám trẻ từ bốn đến bảy tuổi ở Chung cư Woodlawn. vẫn nhìn nàng, tì người khuỷu tay, cùng lúc cố kéo tấm khăn trải giường cho ngay lại bằng tay còn rảnh. Nàng có khuôn mặt mịn màng với lưỡng quyền nhô cao; cặp lưỡng quyền đó, thỉnh thoảng nàng khẳng định với bạn bè rằng nàng thừa hưởng từ cha nàng, người có phần tư dòng máu Nez Perce [1] trong người.

      [1]:   bộ tộc da đỏ sống ở vùng Pacific Northwest, Hoa Kỳ.

      Rồi: "Mike, làm cho em cái sandwich kẹp gì đó . Bơ, rau diếp và cho muối lên bánh mì nhé.”

      làm gì hết cũng gì hết vì muốn ngủ. Nhưng khi mở mắt nhìn nàng vẫn thức, nhìn .

      "Em ngủ được sao, Nan?" , rất quả quyết. "Muộn rồi."

      "Em muốn ăn cái gì đó", nàng . "Chân tay em hiểu sao đau nhừ, mà em lại đói bụng."

      rên rẩm cách thái quá khi lăn xuống giường.

      làm cho nàng cái sandwich và mang vào cái đĩa cạn lòng. Nàng ngồi thẳng dậy giường mỉm cười khi vào phòng, rồi luồn cái gối ra sau lưng, đỡ lấy cái đĩa. Trong cái áo ngủ trắng trông nàng như bệnh nhân bệnh viện.

      "Em mơ buồn cười quá."

      "Em mơ thấy gì?" , leo vào giường và nằm quay mặt chỗ khác. nhìn trân cái tủ đầu giường. Rồi từ từ nhắm mắt lại.

      " có thực muốn nghe ?" nàng .

      "Có," .

      Nàng ngả người thoải mái gối và khều miếng vụn bánh môi.

      "Ừm. Dường như đó là giấc mơ dài ngoẵng, biết , chằng chịt các mối quan hệ, nhưng bây giờ em nhớ hết. Lúc mới thức dậy em nhớ rất ràng, bây giờ mọi thứ bắt đầu mờ nhạt rồi. Em ngủ được bao lâu, Mike? Chuyện đó thành vấn đề lắm, em đồ là vậy. Dù sao nữa, em nhớ em mơ thấy bọn mình nghỉ qua đêm ở chỗ nào đó. Em biết các con ở đâu, chỉ có và em ở khách sạn hay đại loại thế. Chuyện diễn ra cái hồ lạ. Có cặp vợ chồng khác, lớn tuổi hơn, ở đó và họ muốn chở mình vòng bằng xuồng máy." Nàng bật cười, nhớ lại, và nhổm người khỏi gối. "Chuyện kế tiếp mà em nhớ là mình ở xuồng. Chỉ có điều hóa ra là họ chỉ có ghế ngồi xuồng, cái kiểu như băng ghế ở đằng trước, nó chỉ đủ rộng cho ba người ngồi thôi. với em tranh cãi nhau ai phải hy sinh ngồi bó rọ phía sau. để , còn em để em. Nhưng rốt cuộc em chui vào phía sau xuồng. Nó chật đến nỗi làm em đau chân, và em sợ rằng nước sắp tràn qua mạn xuồng. Thế rồi em thức giấc."

      " giấc mơ lạ," cố buông câu bình luận và nhột nhạt cảm thấy nên thêm gì đó. "Em có nhớ Bonnie Travis ? Vợ của Fred Travis ấy. ấy ấy từng có những giấc mơ màu sắc."

      Nàng nhìn cái sandwich tay rồi cắn miếng. Khi nuốt xong, nàng rà lưỡi sau vành môi và giữ thăng bằng cái đĩa trong lòng, với tay ra sau vỗ gối cho phình lên. Rồi nàng mỉm cười và lại tựa vào gối.

      " có nhớ cái lần mình nghỉ qua đêm bên sông Tilton Mike? Cái lần mà sáng hôm sau câu được con cá to đùng ấy?" Nàng để tay lên vai . " nhớ chuyện đó ?" nàng .

      Nàng nhớ. Những năm qua nàng hiếm khi nghĩ về chuyện đó, nhưng dạo gần đây chuyện đó hay quay lại với nàng hơn. Khoảng hai tháng sau khi cưới, họ chơi xa vào dịp cuối tuần. Đêm hôm ấy họ ngồi bên đống lửa , ngâm trái dưa hấu xuống sông cho lạnh, và nàng chiên món thịt heo hộp hiệu Spam, trứng và đậu hộp cho bữa khuya rồi bánh kếp, thịt heo hộp Spam và trứng trong cái chảo đen thui vào sáng hôm sau. Nàng làm cháy chảo trong cả hai lần nấu, và họ chẳng bao giờ đun sôi được cà phê, nhưng đó là trong những quãng thời gian đẹp nhất họ từng có. Nàng nhớ đêm đó cũng đọc thơ cho nàng nghe: Elizabeth Browning và mấy bài thơ trong tập Rybáiyát [2] . Họ phải đắp nhiều chăn đến nỗi chân nàng hầu như thể ngọ nguậy dưới toàn bộ sức nặng ấy. Sáng hôm sau con cá hồi to mắc câu, mọi người dừng xe con đường bên kia sông để xem kéo con cá vào.

      [2]: Tức tập thơ Rubai - dạng thơ của Ba Tư.

      "Này, có nhớ hay ?" nàng , vỗ vai . "Mike?"

      " nhớ," . " khẽ cựa mình, mở mắt. nhớ lắm, nghĩ vậy. Cái nhớ là mái tóc chải chuốt cẩn thận và những ý tưởng sống sít dở hơi về cuộc sống và nghệ thuật, và muốn nhớ những thứ ấy.

      "Chuyện đó lâu rồi Nan," .

      "Hồi đó mình vừa học xong phổ thông. chưa vào đại học," nàng .

      đợi, rồi chống người cánh tay và ngoảnh đầu nhìn nàng qua vai. "Em sắp ăn xong cái sandwich chưa, Nan?" Nàng ngồi thẳng lưng trong giường.

      Nàng gật đầu đưa cho cái đĩa.

      " tắt đèn đây," .

      "Nếu muốn," nàng .

      Rồi lại buông người xuống giường và duỗi chân ra chạm vào chân nàng. nằm yên lúc và sau đó cố thư giãn.

      "Mike, buồn ngủ đấy chứ?"

      "," . " buồn ngủ tí nào."

      "Ừa, đừng ngủ trước em," nàng . "Em muốn thức mình."

      trả lời, nhưng nhích tới gần nàng hơn chút, vẫn nằm nghiêng. Khi nàng vòng tay quanh người và xòe bàn tay đặt ngực , nắm mấy ngón tay nàng bóp . Nhưng trong chốc lát buông tay xuống giường, thở dài.

      "Mike? Cưng ơi? Em muốn xoa chân cho em. Chân em đau," nàng .

      "Chúa ơi," thào. " buồn ngủ lắm rồi."

      "Ôi, em muốn xoa chân cho em và chuyện với em. Vai em cũng đau. Nhưng chân đau hơn."

      quay sang và bắt đầu xoa chân nàng, rồi lại ngủ thiếp , tay gác hông nàng.

      "Mike?"

      "Gì đấy Nan? với cái gì ."

      "Em muốn xoa khắp người em," nàng và ngả người nằm xuống. "Tối nay cả chân tay em đều đau." Nàng co đầu gối lên thành cái tháp bên dưới chăn.

      thoáng mở mắt trong bóng tối rồi nhắm lại. "Đau như trẻ lớn, hả?"

      "Ôi Chúa, vâng," nàng , ngọ nguậy ngón chân, vui mừng vì lôi được ra. "Hồi mười, mười tuổi em to bằng bây giờ. Giá mà thấy em hồi đó! Em lớn nhanh quá nên tay chân em lúc nào cũng đau. thế sao?"

      " gì?"

      " bao giờ cảm thấy mình lớn lên à?"

      " nhớ," .

      Cuối cùng cũng chống khuỷu tay ngồi dậy, bật que diêm, và nhìn đồng hồ. lật gối sang bên kia cho mát hơn rồi lại nằm xuống.

      Nàng , " buồn ngủ à, Mike. Em ước gì muốn chuyện."

      "Được rồi," , nhúc nhích.

      "Chỉ cần ôm em và dỗ em ngủ thôi. Em ngủ được," nàng .

      quay sang choàng tay qua vai nàng trong khi nàng nghiêng người nằm quay mặt vào tường.

      "Mike?"

      nhịp ngón chân vào chân nàng.

      "Sao kể em nghe về những thứ thích và thích."

      "Giờ chẳng biết gì hết," . "Nếu thích em kể ," .

      "Nếu hứa kể cho em. có hứa ?"

      nhịp vào chân nàng lần nữa.

      "Ừm..." nàng và nằm ngửa lại, hài lòng. "Em thích đồ ăn ngon, steak và khoai tây nướng cháy sém, đại loại vậy. Em thích những cuốn sách và tạp chí hay, thích tàu ban đêm, và những lúc máy bay." Nàng dừng lại. "Dĩ nhiên em kể những thứ này theo thứ tự thích nào hết. Nếu phải kể theo thứ tự thích em phải nghĩ ngợi. Nhưng em thích máy bay. Cái khoảnh khắc rời mặt đất mình cảm thấy dù chuyện gì xảy ra cũng chấp nhận được." Nàng gác chân lên mắt cá . "Em thích thức khuya rồi sáng hôm sau nằm lì giường. Em ước mình có thể thường xuyên làm thế, chứ chỉ thỉnh thoảng. Và em thích sex. Đôi khi em thích được sờ nắn cách bất ngờ. Em thích xem phim và sau đó uống bia với bạn bè. Em thích có bạn. Em rất quý Janice Hendricks. Em thích nhảy ít nhất tuần lần. Em thích lúc nào cũng có quần áo đẹp. Em thích có thể mua quần áo đẹp cho con bất cứ lúc nào chúng cần mà phải đợi. Laurie cần có quần áo chơi lễ Phục sinh. Và em muốn kiếm cho Gary bộ vest hay gì đó. Nó lớn rồi. Em muốn cũng có bộ vest mới. Thực cần có vest mới hơn cả nó. Và em muốn chúng mình có chỗ ở của chúng mình. Em muốn thôi phải mỗi năm hay cách năm lại chuyển nhà lòng vòng. hết," nàng , "em muốn hai chúng mình có thể sống cuộc sống trung thực mà phải lo lắng về tiền bạc, hóa đơn và những thứ tương tự. buồn ngủ rồi," nàng .

      "Chưa mà," .

      "Em nghĩ ra thêm gì nữa. Tới lượt . Kể em nghe thích gì ."

      " biết. Nhiều thứ lắm," lúng búng.

      "Nào, kể . Mình chỉ chuyện mà, đúng ?"

      " ước gì em để cho yên, Nan." lại quay sang phần giường của và thõng tay xuống qua mép giường. Nàng cũng quay sang và ép vào người .

      "Mike?"

      "Jesus," . Rồi: "Thôi được. Để duỗi chân ra lúc , rồi tỉnh dậy."

      lúc sau nàng , "Mike? ngủ rồi à?" Nàng lắc vai nhè , nhưng có phản ứng gì. Nàng nằm đó lúc rúc vào người , cố ngủ. Đầu tiên nàng nằm yên, cựa quậy, áp vào và chỉ thở rất , rất đều đặn. Nàng cố điều chỉnh nhịp thở sao cho nàng hít vào thở ra cùng nhịp với . Nhưng vô ích. thanh nho phát ra từ mũi khiến mọi thứ vô ích. Có tiếng khò khè trong lồng ngực nữa. Nàng lại xoay trở và áp mông vào mông , dang tay qua mép giường và thận trọng kề đầu ngón tay lên bức tường lạnh. Tấm chăn tụt xuống chân giường, nàng có thể cảm thấy luồng gió khi nhúc nhích chân. Nàng nghe tiếng hai người lên cầu thang vào căn hộ bên cạnh. Ai đó cười khùng khục trước khi mở cửa. Rồi nàng nghe thấy tiếng ghế kéo lê sàn. Nàng lại loay xoay. Nhà bên cạnh có tiếng giật nước toa lét, rồi lại có tiếng giật nước. Nàng lại xoay, lần này nằm ngửa ra, cố gắng thư giãn. Nàng nhớ bài báo nàng đọc được tạp chí: Nếu tất cả xương, cơ và khớp trong cơ thể có thể hội nhau trong thư giãn hoàn hảo, giấc ngủ gần như chắc chắn đến. Nàng thở hơi dài, nhắm mắt, nằm bất động tuyệt đối, hai cánh tay thẳng bên người. Nàng cố thư giãn. Nàng cố tưởng tượng ra chân nàng được treo lên, bao trong cái gì đó giống như gạc. Nàng xoay người nằm sấp lại. Nàng nhắm mắt, rồi lại mở ra. Nàng nghĩ về những ngón tay nằm cong queo ga giường ngay trước môi nàng. Nàng nhấc ngón tay lên rồi buông xuống ga giường. Nàng lấy ngón cái sờ cái nhẫn cưới ngón tay đeo nhẫn của nàng. Nàng xoay người nằm nghiêng rồi lại nằm ngửa. Và rồi nàng bắt đầu cảm thấy sợ, và trong khoảnh khắc mong chờ lý giải được nàng cầu nguyện để vào giấc ngủ.

      Xin Chúa hãy cho con ngủ.

      Nàng cố ngủ.

      "Mike," nàng thào.

      có tiếng trả lời.

      Nàng nghe tiếng trong mấy đứa con trở người giường va vào tường phòng bên cạnh. Nàng lắng nghe và lắng nghe nhưng thanh nào khác. Nàng đặt tay phía trước ngực trái và cảm thấy nhịp tim đập tràn vào mấy ngón tay. Nàng xoay người nằm sấp và bắt đầu khóc, đầu trượt khỏi gối, miệng áp vào ga giường. Nàng khóc. Và nàng trèo ra từ phía chân giường.

      Nàng rửa tay, rửa mặt trong phòng tắm. Nàng đánh răng. Nàng đánh răng và tự ngắm mình trong gương. Nàng bật sưởi trong phòng khách lên. Rồi nàng ngồi xuống bàn trong bếp, co chân lên trong chiếc áo ngủ. Nàng lại khóc. Nàng châm điếu từ gói thuốc bàn. lát sau nàng quay lại phòng mặc áo choàng vào.

      Nàng ghé phòng các con. Nàng kéo chăn lên tận vai con trai. Nàng quay về phòng khách ngồi vào cái ghế to. Nàng lật qua cuốn tạp chí, cố đọc. Nàng nhìn các tấm ảnh và cố gắng tiếp tục đọc. Thỉnh thoảng có xe ngang đường, khi đó nàng ngẩng lên. Cứ mỗi xe ngang nàng lại chờ đợi, lắng nghe. Và rồi nàng lại nhìn xuống cuốn tạp chí. Có chồng tạp chí kệ sau cái ghế to. Nàng lật qua tất cả.

                  ***


      Khi ngoài trời bắt đầu sáng nàng đứng dậy. Nàng đến bên cửa sổ. Bầu trời mây phía những ngọn đồi bắt đầu chuyển sang màu trắng. Những hàng cây và dãy căn hộ hai tầng bên kia đường bắt đầu trong khi nàng ngắm nhìn. Bầu trời trắng hơn, ánh sáng nhanh chóng lan ra từ phía sau các ngọn đồi. Trừ những lần nàng thức giấc cùng với trong các con (nàng tính bởi vì những lần đó nàng nhìn ra ngoài, chỉ vội vã quay lại giường hoặc ra nhà bếp), nàng chỉ thấy mặt trời mọc vài lần trong đời và đó là hồi nàng còn bé. Nàng biết có lần nào giống như thế này. Cả trong các bộ phim nàng xem lẫn trong các cuốn sách nàng đọc chưa bao giờ nàng thấy bình minh kinh khủng như thế này.

      Nàng chờ đợi rồi nàng nhích ra phía cửa, mở khóa, bước ra ngoài cổng. Nàng kéo áo choàng lên che cổ. khí ướt và lạnh. Dần dần mọi thứ đều rất . Nàng nhìn mọi thứ cho đến ánh mắt nàng níu lại quầng ánh sáng đỏ nhấp nháy phía tháp radio ngọn đồi đối diện.

                  ***


      Nàng băng ngang căn hộ lờ mờ sáng, trở vào trong phòng ngủ. nằm cong queo ngay giữa giường, chăn nùi vào bên vai, đầu nửa nửa dưới gối. Trông có vẻ tuyệt vọng trong giấc ngủ nặng nề, hai cánh tay soãi ra phần giường của nàng, hàm nghiến chặt. Trong khi nàng nhìn , căn phòng trở nên rất sáng và tấm ga giường nhạt màu bỗng trắng lấp lóa trước mắt nàng.

      Nàng bập môi thành tiếng rồi quỳ xuống. Nàng chìa hai tay đặt giường.

      "Lạy Chúa," nàng . "Lạy Chúa, ngài có giúp đỡ chúng con , lạy Chúa?" nàng .

                    




       THỬ ĐẶT VÀO ĐỊA VỊ CỦA TÔI


      chạy máy hút bụi điện thoại đổ chuông. hút bụi căn hộ được nửa chừng và làm phòng khách, sử dụng đầu vòi để hút lông mèo mắc giữa những cái gối tựa. ngừng lại lắng nghe rồi tắt máy hút bụi. nhấc điện thoại.

      "A lô," . "Myers nghe đây."

      "Myers," chị . " khỏe ? làm gì đấy?"

      " làm gì hết," . "Chào em, Paula."

      "Chiều nay văn phòng có tiệc," chị . " cũng được mời. Dick mời ."

      "Chắc đến được," Myers .

      "Dick vừa mới bảo gọi điện cho bạn già nhà em . Lôi ấy xuống đây làm ly. Lôi ấy ra khỏi cái tháp ngà và trở về thế giới thực lát. Khi nhậu Dick rất tếu. Myers?"

      " nghe," Myers .

      Myers từng làm việc cho Dick. Dick lúc nào cũng tới chuyện Paris để viết tiểu thuyết, và Myers nghỉ việc để viết tiểu thuyết, Dick đợi tên Myers xuất danh sách best-seller.

      "Bây giờ tới được."

      "Sáng nay bọn em mới nghe được vài tin khủng khiếp," Paula tiếp tục, như thể chị nghe gì. " nhớ Larry Gudinas . ấy vẫn còn ở đây hồi bắt đầu làm. ấy hỗ trợ mục sách khoa học thời gian, rồi người ta đẩy ấy ra làm việc vặt, rồi xử ấy luôn. Sáng nay bọn em nghe tin ấy tự tử. ấy tự bắn vào mồm mình. hình dung ra ? Myers?"

      " nghe," Myers . cố nhớ Larry Gudinas và hình dung lại chàng cao, khòm, đeo kính gọng kim loại, cà vạt sáng màu, hói hai bên đầu. có thể hình dung ra cú giật, cái đầu toác ra. "Lạy Chúa," Myers . " buồn khi nghe chuyện đó."

      "Tới chỗ văn phòng , được ?" Paula . "Mọi người chỉ trò chuyện, uống vài ly và nghe nhạc Giáng sinh thôi. Đến nhé," chị .

      Myers có thể nghe thấy mọi thanh ở đầu dây bên kia. " muốn tới," . "Paula?" Mấy bông tuyết lả tả bay ngoài cửa sổ khi nhìn ra. sờ cửa kính và lấy mấy ngón tay viết tên mình lên cửa kính, chờ đợi.

      "Gì cơ? Em nghe," chị . "Thôi được," Paula . "Vậy , mình gặp nhau uống chút gì ở quán Voyles nhé? Myers?"

      "OK," . "Voyles. Cũng được."

      "Mọi người ở đây thất vọng nếu đến," chị . "Đặc biết là Dick. Dick ngưỡng mộ , biết đấy. Dick ngưỡng mộ lòng. ấy bảo em thế. ấy ngưỡng mộ can đảm của . ấy nếu cũng can đảm được như , ấy nghỉ việc từ nhiều năm rồi. Dick phải can đảm lắm để làm giống như . Myers?"

      " đây mà," Myers . " nghĩ nổ máy xe được. Nếu , gọi lại cho em."

      "Vâng ạ," chị . "Hẹn gặp lại ở Voyles. Nếu thấy gọi lại, năm phút nữa em rời khỏi đây."

      "Cho gửi lời chào Dick," Myers .

      "Em chuyển lời," Paula . " ấy về .”

      Myers cất máy hút bụi . bước xuống hai dãy bậc thang tới chỗ xe đỗ ở ô cuối cùng bị tuyết phủ đầy. vào xe, nhấp chân côn vài lần, rồi đề thử. Xe nổ máy. đè mạnh chân côn.

      Trong khi lái xe, nhìn những người xách túi mua sắm lại vội vã vĩa hè. liếc nhìn bầu trời xám đầy bông tuyết, nhìn những tòa nhà cao tầng tuyết đọng giữa các khe và rìa các cửa sổ. cố nhìn ngắm mọi thứ, lưu giữ chúng cho sau này. vừa viết xong truyện mà chưa bắt đầu truyện khác được, điều đó khiến chán nản. tìm thấy quán Voyles, quán bar ở góc gần cửa hàng quần áo nam giới. đỗ xe xe phía sau rồi vào. ngồi ở quầy bar lúc rồi cầm ly đến cái bàn gần cửa.

      Khi bước vào Paula , "Chúc mừng Giáng sinh," và đứng dậy hôn lên má chị. kéo ghế cho chị.

      . "Scotch nhé?"

      "Scotch," chị , rồi "Scotch với đá" với phục vụ.

      Paula nhấc ly của lên uống cạn

      "Cho tôi ly nữa," Myers với phục vụ. " thích chỗ này," Myers sau khi ta .

      "Chỗ này sao?" Paula . "Mình đến đây luôn mà."

      " chỉ thích," . "Mình uống ly rồi chỗ khác."

      "Sao cũng được," chị .

      phục vụ mang đồ uống đến. Myers trả tiền rồi cụng ly với Paula.

      Myers nhìn chị đăm đăm.

      "Dick gửi lời chào ," chị .

      Myers gật đầu.

      Paula nhấp ngụm. "Hôm nay làm việc được ?"

      Myers nhún vai.

      " làm gì?" chị .

      " gì hết," . " hút bụi.”

      Chị cầm lấy tay . "Mọi người đều gửi lời chào ."

      Họ uống cạn ly.

      "Em có ý này," chị . "Sao mình ghé thăm nhà Morgan tí. Mình chưa gặp họ bao giờ, Chúa ơi, mà họ về lại đây mấy tháng rồi. Mình có thể ghé ngang chào họ tiếng, chúng tôi là vợ chồng Myers đây. Ngoài ra, họ gửi thiệp cho mình. Họ bảo mình ghé thăm trong dịp lễ. Họ mời mình. Em muốn về nhà," cuối cùng chị và lần tay trong bóp tìm thuốc lá.

      Myers nhớ mình chỉnh máy sưởi và tắt hết đèn trước khi ra khỏi nhà. Và rồi nghĩ về những bông tuyết bay dạt ngang cửa sổ.

      "Còn cái thư xúc phạm mà họ bảo họ nghe mình có nuôi mèo trong nhà sao?" .

      "Đến giờ họ quên chuyện đó rồi," chị . "Dù sao đó phải là chuyện gì ghê gớm lắm. Ôi, nào, Myers. Ghé qua ."

      "Mình nên gọi trước nếu mình định ghé qua," .

      "," chị . "Thế mới vui. cần gọi. Cứ đến gõ cửa chào hỏi, mình từng sống ở đây. Được ? Myers?"

      " nghĩ mình nên gọi điện trước," .

      " dịp lễ mà," chị , đứng lên khỏi ghế. " nào, ."

      Chị kéo tay và họ ra dưới trời tuyết. Chị bảo xe chị rồi lấy xe sau. mở cửa cho chị xong, vòng qua bên ghế khách.

                  ***


      bồi hồi khi nhìn thấy những ô cửa sổ sáng đèn, thấy tuyết mái nhà, thấy chiếc xe có thùng kéo ở ngõ vào nhà. Các màn cửa để mở và ánh đèn cây thông Noel nhấp nháy với họ từ cửa sổ.

      Họ ra khỏi xe. nắm khuỷu tay chị khi họ bước qua đống tuyết tiến về phía cổng trước. Họ mới được vài bước con chó xồm to đùng phóng ra từ góc ga ra xộc thẳng về hướng Myers.

      "Ôi, Chúa ơi," , khòm người lại, giật lùi, đưa tay lên cao. trượt chân lối , áo khoác bùng nhùng, ngã vào đống cỏ đông cứng ngắc và trong cơn sợ hãi cầm chắc con chó xông vào cắn họng. Con chó gừ lên tiếng và bắt đầu đánh hơi áo khoác của Myers.

      Paula nhặt nắm tuyết ném con chó. Đèn cổng bật sáng, cửa mở, người đàn ông gọi. "Buzzy!" Myers đứng dậy phủi phủi.

      "Cái gì đó?" người đàn ông ở cửa . "Ai đó? Buzzy, lại đây, bạn. Lại đây!"

      "Chúng tôi là vợ chồng Myers," Paula . "Chúng tôi đến chúc Giáng sinh."

      "Vợ chồng Myers à?" người đàn ông ở cửa . " ra! Vào trong ga ra. , !" "Vợ chồng nhà Myers," ông ta với người đàn bà đứng sau lưng cố nhìn qua vai ông.

      "Vợ chồng Myers," bà ta , "À, kêu họ vào, kêu họ vào, trời ạ." Bà ta bước ra cổng và , "Vào nhà , xin mời, ngoài này lạnh cóng. Tôi là Hilda Morgan còn đây là Edgar. Chúng tôi rất vui khi gặp chị. Xin mời vào."

      Tất cả vội vã bắt tay nhau tại cổng trước. Myers và Paula bước vào còn Edgar Morgan đóng cửa lại.

      "Đưa áo khoác cho tôi. Cởi áo khoác ," Edgar Morgan . " sao chứ?" ông ta với Myers, quan sát kỹ, và Myers gật đầu. "Tôi biết con chó đó khùng, nhưng nó chưa bao giờ lôi thứ gì như vậy. Tôi nhìn thấy hết. Tôi ngó ra cửa sổ chuyện xảy ra."

      Lời bình luận này với Myers có vẻ kỳ cục, nhìn người đàn ông. Edgar Morgan khoảng bốn mươi, gần như hói, mặc quần đen, áo thun, mang dép da.

      "Nó tên là Buzzy," Hilda Morgan thông báo và cau mặt. "Đó là chó của Edgar. Tôi chả chịu được con gì trong nhà, nhưng Edgar mua con chó này và hứa để nó ở hẳn bên ngoài."

      "Nó ngủ trong ga ra," Edgar Morgan . "Nó đòi vào nhà nhưng chúng tôi cho, biết ." Morgan cười khùng khục. "Nhưng, ngồi xuống, ngồi xuống, bỏ qua cho cái bề bộn này nhé. Hilda, dời mấy thứ này chỗ khác để ông bà Myers có chỗ ngồi."

      Hilda Morgan dọn cái sofa đầy những gói, giấy bao, kéo, hộp ruy băng, nơ bướm. Bà để mọi thứ xuống sàn nhà.

      Myers để ý thấy Morgan lại chằm chằm nhìn , lần này cười.

      Paula , "Myers, có cái gì trong tóc kìa ."

      Myers đưa tay lên sau đầu thấy nhành cây bèn bỏ vào túi.

      "Cái con chó đó," Morgan và lại cười khùng khục. "Chúng tôi uống trà, cà phê và gói mấy món quà muộn. Ông bà uống với chúng tôi tách mừng ngày lễ nhé? Ông bà uống gì?

      "Gì cũng được ạ," Paula .

      "Gì cũng được," Myers . "Nếu biết ông bà bận chúng tôi đường đột."

      "Thôi ," Morgan . "Chúng tôi ... rất tò mò về gia đình Myers. Ngài uống đồ nóng chứ?"

      "Thế cũng tốt," Myers .

      "Còn bà Myers?" Morgan .

      Paula gật đầu.

      "Tôi mang hai tách đồ uống nóng lên," Morgan . "Em này, nghĩ mình cũng sẵn sàng phải ?" ông ta với vợ. "Đây chắc chắn là dịp tốt."

      Ông cầm cốc của vợ vào bếp. Myers nghe tiếng cửa tủ bếp đánh ầm và nghe tiếng lầm bầm nghe như lời nguyền rủa. Myers nheo mắt. nhìn Hilda Morgan lúc đó ổn định chỗ ngồi cái đôn ở đầu sofa.

      "Ông bà ngồi xuống đây," Hilda Morgan . Bà ta vỗ vỗ thành sofa. "Chỗ này, bên cạnh lò sưởi. Khi ông Morgan quay vào ta bảo ông ấy làm cho nó bùng lên lại." Họ ngồi xuống. Hilda Morgan hai tay nắm nhau đặt đùi, người khẽ nghiêng về phía trước, dò xét gương mặt của Myers.

      Phòng khách vẫn giống như nhớ, ngoại trừ bức tường đằng sau ghế Hilda Morgan ngồi thấy ba bức ảnh được đóng khung. Trong bức ảnh, người đàn ông mặc đồ vest và áo măng tô ngả nón chào hai quý bà cầm ô che nắng. Bối cảnh là sảnh rộng có ngựa và xe ngựa.

      "Ở Đức thế nào?" Paula . Chị ngồi mép cái gối tựa, ví để đầu gối.

      "Chúng tôi thích nước Đức lắm," Edgar Morgan trong khi từ bếp vào mang theo cái khay và bốn cốc lớn. Myers nhận ra mấy cái cốc.

      "Bà Đức bao giờ chưa, bà Myers?" Morgan hỏi.

      "Chúng tôi muốn ," Paula . "Phải , Myers? Có thể sang năm, hè sang năm. Nếu hai năm nữa. Chừng nào chúng tôi đủ tiền. Có lẽ ngay khi Myers bán được cái gì đó. Myers viết văn."

      "Tôi cho rằng chuyến châu Âu rất bổ ích cho nhà văn," Edgar Morgan . Ông để cốc lên miếng lót. "Xin cứ tự nhiên." Ông ngồi xuống cái ghế đối diện vợ và nhìn Myers. "Trong thư ông ông nghỉ việc để viết văn"

      "Đúng vậy," Myers và nhấp ngụm.

      "Hầu như hằng ngày ấy đều viết cái gì đó," Paula .

      " thế ?" Morgan . " ấn tượng! Hôm nay ông viết gì, cho hỏi được ."

      " có gì cả," Myers .

      " là ngày lễ mà," Paula .

      "Bà hẳn tự hào về ông ấy lắm, bà Myers," Hilda Morgan .

      "Đúng vậy," Paula .

      "Tôi thấy mừng cho bà," Hilda Morgan .

      "Hôm nọ tôi nghe được chuyện mà có lẽ ông quan tâm," Edgar Morgan . Ông lấy thuốc ra và bắt đầu nhồi tẩu. Myers châm điếu thuốc và nhìn quanh tìm gạt tàn, rồi thả que diêm ra đằng sau ghế sofa.

      "Thực đó là chuyện kinh khủng. Nhưng có thể ông sử dụng được nó, ông Myers à." Morgan bật lửa và rít tẩu. "Gì cũng biến thành văn được, ông biết rồi, đại khái thế," Morgan , cười khà và vẩy que diêm. "Có chàng này tầm tuổi tôi. ta là đồng nghiệp trong mấy năm. Chúng tôi biết nhau sơ sơ, và có vài người bạn thân chung. Rồi ta chuyển , ra làm ở trường đại học gần đó. Hừ, biết đấy, thỉnh thoảng chuyện này hay xảy ra - ta ngủ với sinh viên của mình.”

      Bà Morgan tặc lưỡi tỏ ý tán thành. Bà thò tay xuống lấy gói quà màu xanh lá cây và bắt đầu đính cái nơ đỏ lên

      "Theo các nguồn tin, đó là câu chuyện tình ái nóng bỏng kéo dài mấy tháng," Morgan tiếp tục kể. "Thực ra là kéo dài đến tận gần đây. Chính xác là cách đây tuần. Ngày hôm đó - vào buổi tối - ta thông báo với vợ - họ cưới nhau được hai mươi năm - ta thông báo với vợ rằng ta muốn ly dị. Ông có thể tưởng tượng người đàn bà tội nghiệp kia phản ứng thế nào - đột ngột như thế, đại khái vậy. Họ cãi nhau kịch liệt. Cả nhà đều tham gia. ta ra lệnh cho ta cuốn khỏi nhà ngay lập tức. Nhưng ngay khi ta chuẩn bị , con trai ta ném hộp xúp cà chua trúng vào trán. ta chấn thương phải chở vào bệnh viện. Tình trạng ta khá nghiêm trọng."

      Morgan rít tẩu ngó Myers.

                  ***


      "Em chưa bao giờ nghe chuyện như thế," bà Morgan . "Edgar, chuyện đó kinh tởm."

      "Kinh khủng," Paula .

      Myers cười gằn.

      "Giờ có chuyện này cho ông đây, ông Myers," Morgan , đón cái cười gằn và nheo mắt lại. "Nghĩ về câu chuyện mà có được, nếu có thể chui vào đầu ta."

      "Hoặc đầu của ta," bà Morgan . "Của người vợ. Nghĩ về chuyện của ấy nữa. Bị phản bội theo kiểu như thế sau hai mươi năm. Hãy nghĩ ấy có cảm giác như thế nào."

      "Nhưng hãy thử tưởng tượng những gì thằng bé tội nghiệp phải trải qua," Paula . "Tưởng tượng xem, suýt giết chết cha nó."

      "Vâng, tất cả chuyện đó đều đúng," Morgan . "Nhưng đây là cái mà tôi nghĩ rằng chưa ai nghĩ đến. Hãy nghĩ về chuyện này lúc. Ông Myers, ông có lắng nghe ? Hãy cho tôi nghe ông nghĩ gì về chuyện này. Ông hãy đặt mình vào chỗ của sinh viên mười tám tuổi người đàn ông có vợ. Nghĩ về ta lúc xem, rồi ông nhìn thấy các khả năng phát triển cho câu chuyện của ông."

      Morgan gật đầu và ngả người ra sau ghế, vẻ thỏa mãn.

      "Tôi e là tôi chẳng thông cảm gì với ta," bà Morgan . "Tôi chẳng thể tưởng tượng được ta là loại người gì. Ta đều biết thừa ta loại nào, cái loại dụ dỗ mấy lão già. Tôi cũng chả thông cảm gì cho ông kia - người đàn ông, kẻ theo đuổi, , tôi thông cảm. Tôi e là trong trường hợp này tôi chỉ có thể cảm thông với người vợ và cậu con trai."

      "Cần phải có Tolstoy để kể chuyện này và kể cho ra trò," Morgan . " kém hơn Tolstoy. Ông Myers, nước vẫn còn nóng."

      "Đến giờ phải về rồi," Myers .

      đứng dậy ném điếu thuốc vào lò lửa.

      "Ở lại ," bà Morgan . "Chúng ta còn chưa kịp quen nhau. Ông biết là chúng tôi ... bàn tán về ông như thế nào đâu. Bây giờ cuối cùng chúng ta mới gặp nhau, ở lại chút nữa. Đây là ngạc nhiên thú vị mà."

      "Chúng tôi cảm kích về tấm thiệp và lời nhắn của ông bà," Paula .

      "Tấm thiệp?" bà Morgan .

      Myers ngồi xuống.

      "Năm nay chúng tôi quyết định gửi tấm thiệp nào," Paula . "Lúc cần gửi tôi sắp xếp công việc được, còn gửi vào giờ chót có vẻ chẳng có ý nghĩa gì."

      "Bà dùng thêm tách trà nữa chứ bà Myers?"

      Morgan , bây giờ ông đứng trước mặt chị, tay để lên cốc của chị. "Bà nêu gương cho chồng bà đó."

      "Trà ngon lắm," Paula . "Ấm cả người."

      "Đúng rồi," Morgan . "Ấm cả người. đúng rồi. Em, em có nghe bà Myers ? Ấm cả người. Như thế là rất tốt. Ông Myers à," Morgan và chờ đợi. "Ông tham gia cùng chúng tôi chứ?"

      "Thôi được," Myers và để cho Morgan lấy cốc.

      Con chó bắt đầu gừ gừ và cào cào cánh cửa.

      "Cái con chó đó. Tôi biết nó ăn phải cái quái gì nữa," Morgan . Ông ta ra bếp và lần này Myers nghe tiếng ông Morgan rủa xả khi nện cái ấm nước vào bếp lò.

                  ***


      Bà Morgan hát thầm trong miệng. Bà nhặt gói quà được bao nửa chừng, cắt đoạn băng keo và bắt đầu dán giấy lại.

      Myers châm điếu thuốc. thả que diêm xuống miếng lót cốc. nhìn đồng hồ đeo tay.

      Bà Morgan ngẩng đầu lên. "Hình như có tiếng hát," bà . Bà lắng nghe. Bà đứng dậy ra cửa sổ đằng trước. "Có người hát này, Edgar!" bà gọi.

      Myers và Paula đến bên cửa sổ.

      " bao năm rồi tôi chưa từng thấy những người hát mừng Giáng sinh," bà Morgan .

      "Cái gì đó?" Morgan hỏi. Ông ta cầm khay cốc. "Cái gì đó? Có chuyện gì hả?"

      " có chuyện gì hết, à. Là những người hát mừng Giáng sinh. Họ ở đằng kia, bên kia đường," bà Morgan .

      "Bà Myers," Morgan , chìa khay ra. "Ông Myers. Em."

      "Cám ơn," Paula .

      "Muchas gracias [1] ." Myers .

      [1] :Tiếng Tây Ban Nha trong nguyên bản: Cám ơn nhiều.

      Morgan để khay xuống rồi quay lại cửa sổ mang theo cốc của mình. đám thanh thiếu niên tụ tập lối trước căn nhà bên kia đường, có cả trai và , và cậu bé cao hơn, già đặn hơn mặc áo khoác dài, quấn khăn quàng cổ dày. Myers có thể nhận ra các khuôn mặt ở cửa sổ nhà bên kia - nhà Ardrey - và khi đám trẻ hát xong, Jack Ardrey ra cửa đưa gì đó cho cậu bé lớn hơn kia. Cả đám xuống đường, ánh đèn pin lấp loáng, rồi dừng lại trước ngôi nhà khác.

      "Bọn chúng đến đây đâu," lát sau bà Morgan .

      "Cái gì? Tại sao bọn chúng đến đây?" Morgan và ngoảnh sang vợ. " cái gì ngớ ngẩn vậy. Tại sao chúng tới đây?"

      "Em chỉ biết là chúng đến," bà Morgan .

      "Còn chúng đến," Morgan . "Bà Myers, đám hát đó đến đây hay ? Bà nghĩ sao? Liệu chúng có quay lại để mang phúc lành cho nhà này ? Chúng tôi để tùy ông bà đấy."

      Paula ép sát hơn vào khung cửa sổ. Nhưng đám hát xa tận cuối đường. Chị trả lời.

      "Hừ, giờ những nhộn nhịp đó qua rồi," Morgan lại ghế của mình. Ông ta ngồi xuống, cau mày, bắt đầu nhồi tẩu.

      Myers và Paula quay lại sofa. Cuối cùng bà Morgan cũng rời cửa sổ. Bà ngồi xuống. Bà mỉm cười nhìn vào trong cốc. Rồi bà đặt cốc xuống và bắt đầu khóc.

      Morgan đưa khăn tay cho vợ. Ông ta nhìn Myers. Bây giờ Morgan bắt đầu nện tay vào thành ghế. Myers nhích chân. Paula nhìn vào ví cố tìm điếu thuốc. "Thấy ông bà gây ra những gì chưa?" Morgan , mắt nhìn chằm chằm vào cái gì đó tấm thảm gần giày của Myers.

      Myers gắng gượng.

      "Edgar, mang thêm đồ uống cho họ," bà Morgan vừa vừa chậm mắt. Bà lấy khăn tay lau mũi. "Em muốn họ nghe câu chuyện về bà Attenborough. Ông Myers viết văn. Em nghĩ ông ấy cảm kích câu chuyện này. Bọn em chờ quay lại trước khi bắt đầu câu chuyện."

                  ***


      Morgan vơ mấy cái cốc. Ông ta mang cốc vào bếp. Myers nghe tiếng bát đĩa va lách cách, tiếng cánh cửa tủ bếp đóng sầm. Bà Morgan nhìn Myers mỉm cười yếu ớt.

      "Chúng tôi phải về," Myers . "Chúng tôi phải về. Paula, lấy áo khoác ."

      ", , chúng tôi năn nỉ đấy, ông Myers," bà Morgan . "Chúng tôi muốn ông nghe chuyện bà Attenborough, bà Attenborough tội nghiệp. Có thể bà cũng cảm kích chuyện này, bà Myers à. Đây là dịp để bà xem đầu óc chồng bà xử lý chất liệu thô như thế nào."

      Morgan quay lại đưa thức uống nóng ra. Ông nhanh chóng ngồi xuống.

      " kể cho họ nghe chuyện bà Attenborough ," bà Morgan .

      "Cái con chó đó suýt cắn đứt giò tôi," Myers và ngay lập tức ngạc nhiên về lời của mình. đặt cốc xuống.

      "Ôi, thôi nào, làm gì tệ thế," Morgan . "Tôi thấy mà."

      "Bà thấy nhà văn chưa," bà Morgan với Paula. "Họ ưa phóng đại."

      "Quyền lực của ngòi bút và đại loại thế," Morgan .

      "Chính thế," bà Morgan . "Bẻ ngòi bút của mình thành lưỡi cày, ông Myers ạ."

      "Chúng ta để bà Morgan kể câu chuyện về bà Attenborough," Morgan , phớt lờ Myers lúc đó đứng dậy. "Bà Morgan có quan hệ mật thiết với vụ này. Tôi kể cho ông bà nghe chuyện chàng bất ngờ bị ném hộp xúp vào mặt." Morgan cười khùng khục. "Chúng ta để bà Morgan kể chuyện này."

      " kể . Và ông Myers, ông nghe cho kỹ nhé," bà Morgan .

      "Chúng tôi phải về," Myers . "Paula, nào."

      "Chuyện về trung thực," bà Morgan .

      " cứ về trung thực," Myers . Rồi , "Paula, em có ?"

      "Tôi muốn ông bà nghe chuyện này," Morgan , cao giọng. "Ông bà xúc phạm bà Morgan, ông bà xúc phạm cả hai chúng tôi, nếu lắng nghe câu chuyện này." Ông Morgan nghiến tẩu.

      "Myers, xin ," Paula lo lắng . "Em muốn nghe chuyện. Rồi mình về, Myers? Xin đấy, ngồi xuống vài phút nữa thôi."

      Myers nhìn chị. Chị nhúc nhích mấy ngón tay, như ra hiệu với . lưỡng lự, rồi ngồi xuống cạnh chị.

      Bà Morgan bắt đầu. " chiều nọ ở Munich, Edgar và tôi đến thăm Bảo tàng Dortmunder. Mùa thu năm ấy có triển lãm phái Bauhaus, và Edgar thây kệ, hãy nghỉ làm ngày - dạo đó ấy làm nghiên cứu - thây kệ, hãy nghỉ làm ngày. Chúng tôi bắt xe điện băng qua Munich để đến viện bảo tàng. Suốt nhiều tiếng đồng hồ, chúng tôi xem triển lãm và thăm lại số phòng tranh để bày tỏ kính trọng đối với vài họa sĩ mà chúng tôi thích trong số những bậc thầy xưa. Ngay lúc chúng tôi định khỏi, tôi vào phòng vệ sinh nữ. Tôi bỏ quên xắc ở đó. Trong ví có séc hằng tháng của Edgar bên nhà mới gửi qua hôm trước và trăm hai mươi đô la tiền mặt mà tôi định nộp vào ngân hàng cùng với tấm séc. Giấy tờ tùy thân tôi cũng bỏ trong xắc. Mãi đến khi về tới nhà tôi mới nhớ cái xắc. Edgar ngay lập tức gọi điện cho ban quản lý bảo tàng. Nhưng trong lúc ấy chuyện tôi thấy chiếc taxi dừng lại trước cửa. phụ nữ tóc bạc ăn vận lịch lãm bước ra. Đó là phụ nữ to con mang theo hai chiếc xắc. Tôi gọi Edgar rồi ra cửa. Người phụ nữ tự giới thiệu mình là bà Attenborough, đưa xắc cho tôi, giải thích rằng bà ta cũng bảo tàng chiều hôm ấy và lúc vào nhà vệ sinh bà để ý thấy cái túi xắc trong thùng rác. Dĩ nhiên bà mở xắc để tìm xem chủ là ai. Có giấy tờ tùy thân trong đó nên bà tìm được địa chỉ chúng tôi. Ngay lập tức bà ra khỏi bảo tàng bắt taxi đến để đích thân giao chiếc xắc. Tấm séc của Edgar còn đó, nhưng tiền, trăm hai mươi đô, còn. Dù vậy tôi vẫn rất biết ơn vì những thứ khác còn nguyên vẹn. Lúc đó gần bốn giờ và chúng tôi bảo bà ở lại uống trà. Bà ngồi xuống và trong chốc lát bắt đầu kể về mình. Bà sinh ra lớn lên ở Úc, lấy chồng khi còn trẻ, có ba người con, đều là trai, chồng mất, và vẫn sống ở Úc với hai con trai. Họ nuôi cừu, có hơn hai mươi mẫu đất để chăn cừu, và thuê người chăn cừu hay cắt lông cừu hay làm những việc khác cho họ tùy mùa trong năm. Khi bà tới nhà chúng tôi ở Munich, bà đường từ về Úc, bà thăm con trai út của bà, luật sư, ở . Bà đường quay lại Úc gặp chúng tôi," bà Morgan . "Bà tham quan nhiều nơi thế giới. Bà ghé nhiều nơi trong hành trình của mình."

      "Vào điểm chính em," Morgan .

      "Vâng. Rồi chuyện diễn ra thế này, ông Myers à. Đột nhiên, sau khi chúng tôi chuyện trò vui vẻ trong chừng tiếng đồng hồ, sau khi người phụ nữ đó kể chúng tôi nghe về cuộc đời đầy mạo hiểm của bà ở Úc, bà đứng dậy về. Ngay khi bắt đầu đưa cốc cho tôi, miệng bà chợt há hốc, cốc rơi xuống, bà ngã ra sofa và chết. Chết. Ngay trong phòng khách chúng tôi. Đó là khoảnh khắc sốc nhất trong đời chúng tôi."

      Morgan gật đầu khẳng định.

      "Ôi Chúa," Paula .

      "Định mệnh gửi bà ta tới chết sofa trong phòng khách nhà chúng tôi ở Đức," bà Morgan .

      Myers phá ra cười, "Định mệnh... gửi... bà ta... tới... chết.... trong... phòng khách... nhà... ông bà?" đứt quãng.

      "Buồn cười hả, ngài?" Morgan . "Ngài thấy chuyện đó buồn cười à?"

      Myers gật đầu. ngớt cười. lau mắt lên ống tay áo. "Tôi thành xin lỗi," . "Tôi nhịn được. Cái câu đó 'Định mệnh gửi bà ta tới chết tên sofa trong phòng khách nhà chúng tôi ở Đức.' Xin lỗi. Chuyện đó xảy ra khi nào?" cố . "Tôi muốn biết sau đó chuyện gì xảy ra."

      "Ông Myers, chúng tôi biết phải làm gì," bà Morgan . "Sốc kinh khủng. Edgar bắt mạch bà ta, nhưng chẳng có dấu hiệu gì của sống. Và bà ấy bắt đầu đổi màu. Cả tay và mặt bà ấy trở nên xám ngoét. Edgar ra chỗ điện thoại để gọi ai đó. Rồi ấy , 'Mở xắc bà ấy xem bà ấy ở đâu.' Tôi lấy ví của bà ta ra mà luôn tránh nhìn cái vật tội nghiệp ghế sofa đó. Hãy tưởng tượng ngạc nhiên và hoang mang toàn diện của tôi, hoang mang cùng cực, khi thứ đầu tiên tôi thấy bên trong xắc là trăm hai mươi đô la của tôi, vẫn còn kẹp bằng kẹp giấy. Chưa bao giờ tôi kinh ngạc như thế."

      "Và thất vọng," Morgan . "Đừng quên điều đó. Thất vọng não nề."

      Myers cười khùng khục.

      "Nếu ông thực là nhà văn, như ông tự xưng, ông Myers, ông cười," Morgan đứng dậy . "Ông dám cuời! Ông cố mà hiểu. Ông rúc sâu vào trái tim của linh hồn tội nghiệp đó và cố mà hiểu. Nhưng ông phải là nhà văn, thưa ngài."

      Myers ngớt cười khùng khục.

      Morgan đập tay lên bàn uống trà khiến những chiếc cốc tưng lên miếng lót. "Câu chuyện thực thụ nằm ngay đây, trong căn nhà này, trong chính cái phòng khách này, và đến lúc nó phải được kể! Câu chuyện thực ở ngay đây, ông Myers!," Morgan . Ông lại lại những tờ giấy gói quà rực rỡ đuợc trải ra và bây giờ vương vãi thảm. Ông dừng lại ném cho Myers cái nhìn, lúc đó Myers ôm trán và cười rung bần bật.

      "Hãy xem xét khả năng này, ông Myers!," Morgan gào lên. "Hãyxem xét! người bạn - tạm gọi là ông X - là bạn của... của ông bà Y, cũng là bạn của ông bà Z. may ông bà Y và ông bà Z biết nhau. Tôi may vì nếu họ biết nhau có câu chuyện này vì nó bao giờ xảy ra. Giờ , ông X biết rằng ông bà Y chuẩn bị Đức năm và cần ai đó ở nhà họ trong thời gian vắng. Ông bà Z tìm nơi ở phù hợp, và ông X bảo họ rằng ông biết chỗ. Nhưng trước khi ông X giới thiệu ông bà Z với ông bà Y, ông bà Y phải sớm hơn dự định. Ông X, với tư cách là bạn được ông bà Y ủy thác cho bất kỳ ai thuê nhà tùy ý ông ấy, bao gồm cả ông bà Y... ý tôi là Z. Rồi, ông bà .. Z dọn vào nhà mang theo con mèo mà sau này ông bà Y nghe được trong lá thư từ ông X. Ông bà Z mang con mèo vào nhà mặc dù điều kiện cho thuê nhà quy định cấm nuôi mèo hay bất cứ con vật nào khác vì bà Y bị suyễn. Câu chuyện thực thụ, thưa ông Myers, nằm trong tình huống mà tôi vừa mô tả. Ông bà Z... ý tôi là ông bà Y dọn vào nhà của vợ chồng Z, xâm phạm căn nhà của vợ chồng Z, nếu cần được kể ra. Ngủ giường vợ chồng Z là chuyện, nhung mở khóa tủ riêng của vợ chồng Z và sử dụng ga gối, phá hoại những đồ đạc tìm thấy trong đó là ngược lại với tinh thần và văn bản hợp đồng cho thuê. Và cũng cái cặp này, vợ chồng Z, mở những hộp dụng cụ nhà bếp dán nhãn 'Đừng Mở.' Và làm vỡ đĩa trong khi trong cùng hợp đồng thuê đó nêu , nêu rằng họ được phép sử dụng đồ đạc của chủ nhân, đồ đạc riêng của vợ chồng Z, tôi nhấn mạnh riêng."

      Môi Morgan trắng bệch. Ông ta tiếp tục lại lại giấy, thỉnh thoảng dừng lại nhìn Myers và phát ra những tiếng bập môi nho .

      "Còn đồ đạc trong nhà tắm nữa, - đừng quên đồ đạc trong nhà tắm," bà Morgan . "Sử dụng chăn màn của vợ chồng Z là tệ lắm rồi, họ còn mó đến những thứ trong nhà tắm và ngó nghiêng nhũng đồ vật riêng tư cất trong tầng áp mái, phải biết đâu là giới hạn chứ."

      "Đó là câu chuyện thực thụ ông Myers ạ," Morgan . Ồng ta cố nhồi tẩu. Tay ông run run khiến thuốc lá vung ra thảm. "Đó là câu chuyện thực chờ được viết ra."

      "Và cần phải Tolstoy mới kể được," bà Morgan .

      " cần Tolstoy," Morgan .

                  ***


      Myers cười ha hả. và Paula đứng dậy cùng lúc và tiến ra cửa. "Chúc ngủ ngon," Myers vui vẻ .

      Morgan đứng sau lưng . "Nếu ngài thực là nhà văn, thưa ngài, ngài viết câu chuyện đó ngay mà câu nệ."

      Myers chỉ cười. chạm vào nắm đấm cửa.

      " việc khác," Morgan , "tôi định mang chuyện này ra, nhưng do cách cư xử của ông ở đây tối nay, tôi muổn cho ông biết tôi mất bộ hai đĩa 'Jazz at the Philharmonic'. Mấy đĩa đó có giá trị tình cảm to lớn. Tôi mua chúng năm 1955. Và bây giờ tôi cầu ông tôi nghe chuyện gì xảy ra với những đĩa đó!"

      " cho ngay, Edgar," bà Morgan trong khi giúp Paula mặc áo khoác, "từ sau khi kiểm các đĩa nhạc, thừa nhận thể nhớ ra lần cuối cùng nhìn thấy mấy đĩa đó là khi nào."

      "Nhưng bây giờ chắc chắn về việc đó," Morgan . " tin chắc nhìn thấy mấy đĩa đó ngay truớc khi ta lên đường, và bây giờ, bây giờ, muốn ông nhà văn này bảo chính xác ông ta biết chúng ở đâu. Ông Myers?"

      Nhung Myers ra bên ngoài, và, nắm tay vợ, vội vã dẫn vợ xuống chỗ đậu xe. Họ làm con Buzzy ngạc nhiên. Con chó kêu ẳng như là sợ hãi rồi nhảy sang bên.

      "Tôi cầu được biết về chuyện này!" ông Morgan gọi. “Tôi chờ nghe đây, thưa ngài!"

      Myers đỡ Paula vào xe rồi bắt đầu nổ máy. nhìn cặp kia ở cổng lần nữa. Bà Morgan vẫy tay, rồi bà và Edgar Morgan quay vào nhà và đóng cửa.

      Myers đánh xe khỏi lề đường.

      "Mấy người đó điên rồi," Paula .

      Myers vỗ lên tay vợ.

      "Họ đáng sợ," chị .

                  trả lời. Giọng chị đến với dường như từ nơi nào xa xôi. cứ lái xe. Tuyết lùa vào kính. im lặng quan sát đường. thực ở cuối câu chuyện.


                    

        JERRY VÀ MOLLY VÀ SAM


      Theo như Al thấy, chỉ có giải pháp. phải quẳng con chó để Betty hay bọn trẻ biết về chuyện đó. Đơn giản chi cần chở con Suzy tới - ừm, chỗ nào đó, quyết định sau - mở cửa, đẩy nó ra, lái . Càng sớm càng tốt. thấy nhõm vì quyết định xong. bắt đầu tin rằng bất cứ hành động gì cũng tốt hơn là làm gì hết.

      Hôm đó là Chủ nhật. Sau khi mình ăn xong bữa sáng muộn trong bếp đứng bên cạnh bồn rửa bát, thọc tay túi quần. Gần đây chẳng có việc gì ổn thỏa. Nếu phải lo toan về con chó hôi hám này cũng có đủ thứ để phải vật vã rồi. Ở Aerojet người ta sa thải thay vì mướn người. Hồi giữa hè vừa rồi, các hợp đồng quốc phòng khắp cả nước bị đình trệ và Aerojet tính đến chuyện cắt giảm nhân . Thực tế là, cắt giảm nhân , mỗi ngày nhiều hơn. chẳng an toàn hơn bất cứ ai khác cho dù làm ở đó năm nay là năm thứ ba. quan hệ tốt với những nguời cần thiết, ừ vậy, nhưng thâm niên hay bạn bè, cái nào cũng vậy, thời buổi này chẳng có ý nghĩa quái gì. Nếu tới lượt bạn , a lê hấp - ai có thể giúp được gì. Họ sẵn sàng cho thôi việc, họ cho thôi việc. Năm mươi, trăm người lúc.

      Chẳng ai an toàn, từ đốc công, giám sát cho đến nguời trực tiếp đứng dây chuyền. Và cách đây ba tháng, ngay trước khi những vụ sa thải bắt đầu, để Betty thuyết phục dọn vào cái căn nhà tươm tất hai trăm đô tháng này. Thuê, kèm quyền chọn mua. Cứt !

      Al thực muốn rời chỗ cũ. Chỗ đó khá tiện nghi đối vói . Ai mà biết chỉ hai tuần sau khi dọn nhà người ta bắt đầu sa thải? Nhưng thời buổi này ai mà biết được chuyện gì? Jill là ví dụ. Jill làm kế toán ở Weinstock. dễ thương, rằng Al. chỉ đơn, đêm đầu tiên bảo như thế. Cũng trong đêm đầu tiên bảo có thói quen lại với đàn ông có vợ. gặp Jill cách đây chừng ba tháng, khi rất chán nản và nhạy cảm vì những bàn tàn về việc sa thải mới bắt đầu. gặp ở quán Town and Country, quán bar quá xa chỗ ở mới của . Họ nhảy với nhau chút rồi đưa về và họ hôn nhau đắm đuối trong xe hơi ngay trước căn hộ của . Tối đó lên nhà cùng , dù chắc rằng có thể. lên nhà cùng tối hôm sau.

      Giờ ngoại tình, ôi Chúa, và chẳng biết phải xử trí thế nào. muốn tiếp tục, mà cũng chẳng muốn cắt đứt: người ta quăng mọi thứ khỏi thuyền trong cơn bão. Al trôi dạt, biết trôi dạt, và chẳng đoán định được tất cả kết thúc ở đâu. Nhưng bắt đầu cảm thấy mất khả năng kiểm soát mọi . Mọi . Cũng gần đây, sau mấy ngày bị táo bón - niềm đau khổ mà luôn gán cho người già - chợt thấy mình suy nghĩ về tuổi già. Rồi còn có vấn đề chấm hói khiến bắt đầu lo biết chải tóc kiểu khác như thế nào. làm gì với đời mình? muốn biết.

      ba mốt tuổi.

      phải đương đầu với tất cả thứ này cách đây bốn tháng Sandy, em vợ, cho bọn trẻ, Alex và Mary cái con chó lai đó. ước gì chưa bao giờ nhìn thấy con chó ấy. Hay kể cả Sandy cũng vậy. Cái con điếm! ả luôn xuất với thứ thối tha nào dó khiến phải hao tốn tiền của, thứ tào lao nào đó sau hai ngày là trục trặc và cần phải sửa, thứ nào đó khiến bọ trẻ hú hét đánh lộn giành giật nhau. Lạy Chúa! Và xoay sang để vòi vĩnh, thông qua Betty, hai mươi lăm đô. Nội ý nghĩ về những tấm séc hai mươi lăm hay năm mươi đô, và tấm séc tám mươi lăm đô cách đây mấy tháng thanh toán tiền xe ô tô cho ả - thanh toán tiền xe ô tô cho ả, Chúa ạ, khi ngay cả cũng biết liệu có chỗ chui ra chui vào hay - là cũng đủ khiến muốn giết cái con chó khốn kiếp đó.

      Sandy! Betty và Alex và Mary! Jill! Và con chó Suzy khốn kiếp!

      Đây là Al.

                  ***


      phải bắt đầu từ đâu đó - đưa mọi thứ vào nề nếp, thu xếp mọi chuyện. đến lúc phải làm gì đó, đến lúc cần có suy nghĩ thẳng thắn để thay đổi. Và dự định bắt đầu vào đêm nay.

      lén dụ con chó vào xe, tìm cớ gì đó để ra khỏi nhà. Tuy nhiên ghét nghĩ đến cái kiểu Betty hạ mắt nhìn thay quần áo, và rồi, sau đó, ngay trước khi bước ra cửa, liền hỏi đâu, bao lâu, v.v... bằng cái giọng cam chịu khiến cảm thấy càng khó chịu hơn. chẳng bao giờ quen với việc dối. Ngoài ra, ghét phải dùng nốt chút tình cảm còn sót lại của Betty cho việc dối về điều khác với điều chị nghi ngờ. lời dối lãng phí, có thể vậy. Nhưng thể với chị, thể rằng uống, gặp gỡ ai, thay vào đó sắp sửa thủ tiêu con chó chết tiệt kia và qua đó thực buớc đầu tiêntrong quá trình thiết lập trật tự trong nhà.

      xoa mặt, cố xua mọi thứ ra khỏi đầu lúc. lấy trong tủ lạnh ra chai nửa lít bia Lucky lạnh và gỡ cái nắp nhôm ra. Đời trởthành mê cung, cái này chồng chéo lên cái kia đến mức chắc có thể lần ra đầu mối nếu như buộc phải làm vậy.

      "Đồ chó chết tiệt," to lên.

      "Nó biết điều," là cách Al mô tả nó.Ngoài ra, nó là con vật đê tiện. Ngay khi cửa sau đểmở và mọi người vắng, nó khều cánh cửa luới cho mở ra, chui vào phòng khách và đái lên thảm. tấm thảm bây giờ có ít nhất nửa chục vết bẩnto cỡ tấm bản đồ. Nhưng chỗ thích nhất của nó là phòng giặt, nơi nó rúc vào quần áo bẩn, khiếncho hết thảy quần soóc và quần lót đều bị cắn đũng hay mông. Nó còn gặm cả dây ăng ten ti vi bên ngoài nhà, và có lần Al lái xe về nhà thấy nó nằm ờ sân trước với chiếc giày Florsheim của trong mõm.

      "Nó điên," , "và nó làm mình phátđiên. Mình làm ra tiền đủ nhanh để mua đồ mới. Cái con chó mất dạy, bữa nào mình ssẽ phải giết nó!"

      Betty chịu đựng con chó được lâu hơn, có vẻ chung sống hòa bình thời gian, nhưng đột nhiên chị có thể lên cơn, nắm chặt tay lại, gọi nó là đồ con hoang, con điếm, quát tháo bọn trẻ bắt chúng đuổi chó ra khỏi phòng chúng, phòng khách, v.v... Betty đối xử với bọn trẻ cũng theo cung cách đó. Chị có thể hòa bình với bọn trẻ từng ấy, để chúng tự do từng ấy, rồi lại lên cơn hung hăng với chúng, tát chúng, gào thét, "Ngừng lại, ngừng lại, tao chịu nổi nữa."

      Nhưng lúc đó Betty , "Đó là con chó đầu tiên của các con. hãy nhớ lại mê con chó đầu tiên của như thế nào."

      "Chó của có đầu óc," bảo. "Nó là con chó săn giống Ai len."

                  ***


      Buổi chiều trôi qua. Betty và lũ trẻ đâu đó về bằng xe, và tất cả bọn họ ăn sandwich và khoai tây chiên trong sân. lăn ra ngủ bãi cỏ, khi thức dậy gần tối.

      tắm, cạo râu, mặc quần dài và áo sơ mi sạch. cảm thấy thoải mái nhưng uể oải. Trong khi mặc đồ nghĩ về Jill. nghĩ về Betty và Alex và Mary và Sandy và Suzy. thấy say thuốc.

      "Mình sắp ăn tối đấy," Betty , đến của buồng tắm nhìn chằm chằm.

      "Đâu có sao. đói. Nóng quá chẳng muốn ăn," vừa vừa mân mê cổ áo. "Có lẽ lái qua chỗ Carl, chơi vài cơ, uống vài ly bia."

      Chị , "Em hiểu rồi."

      , "Chúa ơi!"

      Chị , " , em quan tâm."

      , " lâu đâu."

      Chị , " , em rồi. Em em quan tâm."

      Trong ga ra, , "Chết tiệt tất cả các người!" và đá cái cào văng từ bên này qua bên kia sàn xi măng. Rồi châm điếu thuốc và cố gắng kiềm chế. nhặt cái cào lên cất lại chỗ cũ. lầm bầm mình, "Trật tự, trật tự," con chó vào ga ra, ngửi quanh cánh cửa, nhìn vào.

      "Đây. Lại đây, Suzy. Đây, bé," gọi.

      Con chó vẫy đuối nhưng cứ đứng yên.

      lại cái tủ phía máy cắt cỏ lấy ra , rồi hai, cuối cùng là ba hộp thức ăn.

      “Tối nay mày muốn gì cũng được, Suzy, già. Cho mày ăn thả ga," dụ, mở cả hai đầu của hộp đồ ăn thứ nhất và trút đổng lổn nhổn vào đĩa của con chó.

                  ***


      lái xe vòng vòng cả tiếng đồng hồ, sao quyết định được địa điểm. Nếu thả nó ở bất cứ khu lân cận nào và có người báo cho trạm chó lạc con chó quay về nhà trong vòng hai ngày. Trạm chó lạc của hạt là nơi đầu tiên mà Betty gọi. nhớ mình từng đọc chuyện những chú chó tìm đường về nhà xa hàng trăm dặm. nhớ tới các chương trình chống tội phạm khi ai đó thấy biển số xe, và ý nghĩ đó làm tim đập thình thịch. Dưới quan điểm của công chúng, cần biết mọi kiện liên quan, nếu bị bắt gặp vứt bỏ con chó là xấu hổ. phải tìm ra địa điểm thích hợp.

      lái xe đến gần sông American. Dù sao con chó cũng cần được đưa ra ngoài nhiều hơn, để được cảm thấy gió lùa lưng, được bơi và được lội nước khi nó muốn; tội nghiệp nếu lúc nào cũng nhốt chó sau hàng rào. Nhưng bãi đất gần bờ đê có vẻ quá hoang vắng, chẳng có nhà cửa nào xung quanh. Dù sao vẫn muốn con chó được ai dó tìm thấy và chăm sóc. muốn tìm ngôi nhà hai tầng lớn, nơi có những đứa trẻ vui vẻ, biết điều và cần con chó, hết sức cần con chó. Nhưng chẳng có căn nhà hai tầng cũ kỹ nào ở đây, chẳng có lấy cái.

      vòng xe lại xa lộ. Từ lúc lùa nó vào xe chưa nhìn lại nó. Nó nằm yên lặng băng ghế sau. Nhưng khi tấp vào vệ đường và dừng xe lại, nó ngồi thẳng lên càu nhàu, nhìn quanh.

      ngừng ở quán bar, hạ tất cả kính xe xuống trước khi vào trong. ở đó gần tiếng đồng hồ, uổng bia và chơi trò tạt đĩa. cứ băn khoăn liệu có nên hé cả các cửa xe . Khi quay ra, Suzy ngồi thẳng lên trong ghế cuộn luỡi lại, phô hàm răng.

      Anl ngồi vào xe và lại nổ máy.

                  ***


      Rồi nghĩ tới chỗ đó. Cái khu mà họ từng sống, có đầy trẻ con và ngay bên kia địa phận hạt Yolo, đó là chỗ thích hợp. Nếu con chó được ai đó tìm thấy, nó dược đưa đến trạm chó lạc ở Woodland, phải trạm ở Sacramento. Chỉ cần lái đến trong những con đường ở cái khu cũ đó, ngừng lại, quẳng ra nắm cái thứ đồ ăn thối tha cho nó, mở cửa, giúp nó tí bằng cách ẩy ra, và nó ra ngoài trong khi lái . Xong! Việc xong.

      vội vã lái xe ra đó.

      Đèn cổng các nhà sáng và khi lái xe ngang ba hay bốn căn nhà thấy đàn ông đàn bà ngồi ngay bậc thềm trước. đánh xe dọc theo con đuờng, và khi tới nhà cũ của mình chạy chậm lại gần như dừng hẳn đăm đăm ngó cánh cửa trước, cái cổng, ô cửa sáng đèn. Càng nhìn căn nhà, càng cảm thấy hữu. sống đó ư - trong bao lâu? năm, mười sáu tháng? Trước đó nữa, Chico, Red Bluff, Tacoma, Portland - nơi gặp Betty - Yakima... Toppenish, nơi sinh ra và học trung học. Dường như với , kể từ khi còn là trẻ con, chưa bao giờ biết sống mà phải lo âu và phải chịu những thứ còn tệ hơn. nghĩ đến những mùa hè câu cá và cắm trại ở Cascades, những mùa thu săn trĩ chạy theo sau con Sam, bộ lông đỏ của con chó săn nhấp nháy như ngọn đèn hiệu băng qua những cánh đồng ngô và đồng cỏ linh lăng nơi cậu bé là và con chó của hai đứa chạy như điên. uớc gì đêm nay có thể lái mãi, lái mãi cho đến khi lái con đường chính lát gạch cũ kỹ của Toppenish, rẽ trái ở chỗ có đèn giao thông đầu tiên, rồi rẽ trái tiếp, dừng lại khi tới chỗ mẹ sống, và bao giờ, bao giờ, vì bất cứ lý do gì, ra lần nữa.

      tới phía đầu tối của con phố. Có bãi đất trống lớn ngay trước mặt và con phố rẽ sang bên phải men theo bãi đất đó. Gần như nguyên cả dãy nhà này có căn nào nằm ở phía gần bãi đất hơn và chỉ có căn, hoàn toàn tối, nằm phía bên kia. dừng xe, nghĩ ngợi gì thêm về việc định làm, bốc nắm đồ ăn cho chó, nghiêng người qua ghế, mở cánh cửa phía sau gần bãi đất, ném đồ ra, và , " nào, Suzy." đẩy nó cho đến lúc nó nhảy xuống đầy vẻ miễn cưỡng. chồm tới chút nữa, kéo cánh cửa đóng lại, và từ từ lái . Rồi phóng càng lúc càng nhanh hơn.

                  ***


      ngừng lại ở Dupee, quán bar đầu tiên gặp đường về lại Sacramento. bồn chồn, mồ hôi lấm tấm. nghĩ cảm thấy thoát nợ hay nhõm, nhưng giờ thực thấy thế. Nhưng tự trấn an mình rằng đó là bước đúng đắn, rằng cảm giác yên ổn đến với vào ngày mai. Cái cần làm bây giờ là chờ đợi.

      Uống được bốn ly bia mặc áo cổ lọ, xăng đan xách cái va li đến ngồi cạnh . để va li ở giữa mấy cái ghế quầy bar. Có vẻ như quen bartender, và chàng bartender cứ gìđó với mỗi khi ngang, đôi lần cònđứng lại chút để trò chuyện. bảo Al tên là Molly, nhưng đồng ý để mời bia. Thay vào đó, đề nghị ăn nửa cái pizza.

      mỉm cười với , và mỉm cười lại. lấy thuốc lá và bật lửa ra để quầy bar.

      " pizza!" .

      Chốc sau, , "Em có cần nhờ xe ?"

      ", cám ơn. Em đợi người," cônói.

      , "Em định đâu?"

      , " đâu cả. Ồ," , ngón chân chạm vào cái va li và cười xòa, "ý cái này?" "Em ở đây, Wet Sac. Em định đâu cả. Trong này chỉ là cái động cơ máy giặt của mẹ em. Jerry - bartender kia - sửa đồ rất giỏi. Jerry ấy sửa lấy tiền."

      Al đúng dậy. hơi lảo đảo chúi người về phía . , "Thôi, chào tạm biệt, cưng. Hẹn gặp lại."

      "Hẹn gặp lại!" . "Và cám ơn về vụ pizza nhé. Chưa ăn gì từ trưa. cố giảm ít cái này." kéo áo thun lên, bóp nắm thịt quanh eo.

      "Chắc chắn là em nhờ xe chứ?" .

      lắc đầu.

      Vào lại trong xe, lái tiếp, thò tay tìm thuốc lá và cuống cuồng tìm bật lửa nhớ ra để quên mọi thứ ở quầy bar. Khỉ gió , nghĩ, hãy để cho ta giữ nó. Để cho ta nhét cái bật lửa và thuốc lá vào trong va li cùng cái máy giặt. ghi sổ cho con chó, thêm chi phí nữa. Nhưng ơn Chúa, là chi phí cuối cùng! Bây giờ nó làm nổi giận, vì rằng sắp xếp mọi thứ đâu vào đấy, rằng kia thân thiện hơn. Nếu có tâm trạng khác, có thể tán tỉnh . Nhưng khi nguời ta chán nản, điều đó lộ khắp người, kể cả trong cách châm thuốc.

      quyết định gặp Jill. ghé cửa hàng bán rượu mua panh whiskey rồi leo cầu thang lên căn hộ của , dừng lại ở chiếu nghỉ để thở và dùng lưỡi chà răng. vẫn có thể nghe mùi nấm của pizza, còn miệng và cổ họng khô khốc vì whiskey. chợt nhận ra điều muốn làm bây giờ là vào phòng tắm của Jill và dùng bàn chải đánh răng của .

      gỏ cửa. "Al đây," thầm. "Al," to hon. nghe thấy chân chạm xuống sàn. mở khóa và cố tháo sợi dây xích ra trong khi đè mạnh vào cửa.

      "Từ từ nào, cưng. Al, đừng đẩy nữa... em mở ra được. Rồi," và mở cửa, nhìn thoáng qua mặt trong khi nắm lấy tay .

      Họ ôm nhau cách vụng về, và hôn lên má .

      "Ngồi xuống, cưng. Đây." bật đèn lên và đưa tới sofa. Rồi đưa tay lên sờ mấy cái cuốn tóc, , "Em tô son chút. Trong lúc đó muốn uống gì ? Cà phê? Nước trái cây? Bia? Chắc em uống bia. có gì đó... whiskey hả? muốn uống gì, cưng?" tay nghịch tóc chồm qua người , nhìn vào mắt . "Tội nghiệp cưng của em, muốn gì?" .

      “Chỉ muốn em ôm ," . "Đây. Ngồi xuống. cần son," , kéo ngồi lên lòng. "Ôm. ngã," .

      vòng tay quanh vai . , " lại giuờng , cưng, muốn gì em chiều."

      "Này, Jill," , "mình truợt băng mỏng. Có thể vỡ bất cứ lúc nào... biết.” nhìn đăm đăm với vẻ mặt bất động, đờ đẫn mà có thể cảm thấy nhưng sửa được 'Nghiêm túc đấy," .

      Côgật đầu. "Đừng nghĩ gì cả cưng. Thả lỏng ," . kéo mặt về phía , hôn lên trán và môi . khẽ xoay người trong lòng , "Đừng, đừng nhúc nhích, Al," những ngón tay của hai bàn tay thình lình luồn ra sau cổ và cùng lúc ôm lấy mặt . nhìn vơ vẩn quanh phòng thoáng, rồi cố tập trung xem làm gì. giữ yên đầu trong mấy ngón tay khỏe mạnh. nặn được cái mụn đầu đen bên cánh mũi bằng hai móng tay cái.

      "Ngồi yên!" .

      "," . "Đừng! Thôi ! có hứng cho chuyện đó."

      "Em nặn gần xong rồi. Ngồi yên, em bảo!... Đó, nhìn . nghĩ sao? biết nó ở đó, đúng ? Bây giờ chỉ cái nữa, cái to, cưng. Cái cuối cùng," .

      "Vào nhà tắm," , hất ra, lấy đường .

                  ***


      Ở nhà, ngập ngụa nuớc mắt, rối tinh. Mary chạy ra xe, khóc, trước cả khi đỗ xe.

      "Suzy mất rồi," nó thút thít. "Suzy mất rồi. Nó bao giờ trở về nữa. Bố ơi, con biết thế mà. Nó mất rồi!"

      Chúa ơi, tim chùng xuống. Mình làm gì thế này?

      "Đừng lo nào, con . Chắc nó chỉ quanh quẩn đâu đây. Nó trở về," .

      "Nó trở về, bố. Con biết là nó về. Mẹ mình có thể phải kiếm con chó khác."

      "Như vậy được sao con?" . " con chó khác, nếu Suzy quay lại. Mình đến cửa hàng thú nuôi..."

      "Con muốn con chó khác!" đứa bé khóc, bám vào chân .

      "Mình kiếm con khỉ được bố, thay vì con chó?" Alex hỏi. "Nếu như mình đến cửa hàng thú nuôi để tìm con chó, thay vào đó mình kiếm con khỉ được ?"

      "Con muốn con khỉ!" Mary khóc. "Con muốn Suzy."

      "Tất cả buông ra nào, để bố vào nhà . Bố nhức đầu kinh khủng, kinh khủng," .

      Betty nhấc đĩa thức ăn trong lò ra. Trông chị mệt mỏi, bực bội... già xọm. Chị chẳng nhìn . "Connói với rồi? Suzy mất? Em tìm kỹ trong vùng. Mọi nơi, em thề."

      "Con chó xuất ," . "Chắc chỉ quẩn quanh đâu đó. Con chó đó quay về,"

      " nghiêm túc," chị , quay sang tay chống nạnh, "Em nghĩ tới chuyện khác. Em nghĩ chắc nó bị xe cán. Em muốn lái xe lòng vòng xem. Tối qua các con gọi nó, lúc đó thấy nó. Đó là lần cuối thấy nó. Em gọi trạm chó lạc và mô tả nó, họ các xe chưa về hết. Sáng nay em định gọi lại."

      vào nhà tắm mà vẫn nghe chị tiếp tục. bắt đầu mở nước vào bồn, băn khoăn, cảm thấy nhộn nhạo trong bụng, biết sai lầm của nghiêm trọng chừng nào. Khi tắt vòi rồi, vẫn nghe thấy tiếng vợ. cứ nhìn cái bồn đăm đăm.

      " có nghe em ?" chị gọi. "Sau bữa tối em muốn lái xe vòng quanh tìm nó. Con cũng có thể cùng để tìm... Al?"

      "Ừ, ừ," trả lời.

      "Gì?" chị . " gì?"

      " ừ. Ừ! Được rồi. Gì cũng được. Nhưng phải để rửa mặt cái, được ?"

      Chị nhìn từ bếp sang. "Hừ, mặt mũi bị cái quái gì vậy? Em có bảo say xỉn tối qua đâu, phải ? Em ngán lắm rồi, em bảo ! Hôm nay em có ngày chả ra sao, nếu muốn biết. Alex vào giường đánh thức em dậy lúc năm giờ, bảo rằng bố nó ngáy to quá đển nỗi... đến nỗi làm nó sợ. Em thấy ngoài kia quần áo đầy đủ ngang qua còn căn phòng bốc mùi lên tận trời. Em bảo em ngán lắm rồi!" Chị đảo mắt nhìn quanh bếp như muốn chộp cái gì.

      đá cánh cửa ập lại. Mọi thứ trở nên tồi tệ. Trong lúc cạo râu, có lúc ngừng lại cầm dao cạo trong tay nhìn mình trong gương: mặt đông cứng, vô hồn - vô đạo đức, đó mới là từ chính xác. để cái dao cạo xuống. Tôi tin rằng lần này tôi phạm sai lầm nghiêm trọng nhất. Tôi tin rằng tôi phạm sai lầm nghiêm trọng nhất trong đời. đưa dao cạo lên ngang cổ họng và kết thúc.

                  ***


      tắm, thay quần áo. "Cất phần ăn của vào trong lò," . "Hoặc trong tủ lạnh. ra ngoài. Ngay bây giờ," .

      " có thể đợi đến lúc ăn tối xong. Con có thể cùng."

      ", làm quái gì. Để cho con ăn tối, tìm quanh nếu chúng muốn. đói, mà trời sắp tối rồi."

      "Mọi người phát điên hết rồi sao?" chị . "Em biết chuyện gì sắp xảy ra với chúng ta. Em muốn quỵ ngã rồi. Em muốn mất trí rồi. Các con ra sao nếu em mất trí?" Chị sụp vào kệ bát đĩa, mặt nhăn nhúm, nước mắt lã chả má. "Dù sao con đâu! Chưa bao giờ con. Em lo lắng về con chó. Mà về chúng ta. Về chúng ta! Em biết chẳng còn em - quỷ tha ma bắt ! - nhưng thậm chí con cũng chẳng !"

      "Betty, Betty!" . "Chúa ơi!" . "Mọi chuyện ổn thôi. hứa với em," . "Đừng lo," . " hứa với em, chuyện ổn cả. tìm thấy con chó và rồi chuyện ổn," .

      lao ra khỏi nhà, nép vào lùm cây khi nghe tiếng các con tới: con khóc, gọi, "Suzy, Suzy"; con trai chắc nó bị tàu cán. Khi chúng vào nhà rồi, về phía cái xe.

      cáu kỉnh khi phải đợi đèn xanh, bực bội khi mất thời gian đổ xăng. Mặt trời xuống thấp và nặng nề, ngay dãy đồi thâm thấp phía đầu kia thung lũng. Tối đa còn khoảng tiếng đồng hồ ánh sáng ban ngày.

      thấy cả cuộc đời lụi tàn từ đây. Nếu sống được thêm năm mươi năm nữa - hầu như thể - cảm thấy chẳng bao giờ vượt qua nổi chuyện này, chuyện vứt bỏ con chó. cảm thấy đời xem như xong nếu tìm thấy con chó. Người nào vứt bỏ con chó nguời đó chẳng đáng xu nào. Loại người đó hẳnviệc gì cũng dám làm, chùn bước trước bất cứviệc gì.

      nhấp nhổm ghế, đăm đăm nhìn bộ mặt sưng phồng của mặt trời khi nó hạ xuống dãy đồi. biết tình hình bây giờ nghiêm trọng, nhưng chẳng làm gì được. biết bằng cách nào đó phải lần ra con chó, hệt như đêm hôm trước biết phải dứt bỏ nó.

      "Mình là người sắp điên," và tự gật đầu tán thành.

                  ***


      Lần này tới khu đất nơi bỏ con chó từ đầu bên kia, vừa vừa để ý có dấu hiệu chuyển động nào .

      "Mong rằng nó ở đây," .

      dừng xe lại và lục soát khu đất. Rồi lái tiếp, chầm chậm. chiếc moóc nổ máy ì ì đỗ trong lối vào căn nhà riêng lẻ, thấy nguời phụ nữ ăn mặc chỉn chu mang giày cao gót ra cửa trước cùng . Họ nhìn chằm chằm khi lái xe ngang. Thêm đoạn nữa rẽ trái, nhìn suốt con phố và các khoảnh sân ởcả hai bên dường xa hết tầm mắt. Chẳng thấy gì. Hai đứa bé có xe đạp dứng bên cạnh chiếc xe đổ cách đó dãy nhà.

      "Xin chào," rề xe lại, với hai thằng bé. "Hôm nay các em có thấy con chó màu trắng quanh đây ? loại chó trắng lông xù? mất con."

      cậu chỉ nhìn . Cậu kia , "Chiều nay em thấy đám trẻ con chơi với con chó ở đằng kia. Ở con phố phía bên kia phố này. Em biết đó là loại chó gì. Có thể là màu trắng. Có khá nhiều trẻ con ở đó."

      "OK, tốt quá. Cám ơn nhé," Al . "Cám ơn rất rất nhiều," .

      rẽ phải ở cuối đường. tập trung vào con đường truớc mặt. Mặt trời giờ lặn. Trời gần tối. Những căn nhà đứng kề nhau, cây cối, bãi cỏ, cột điện thoại, những chiếc xe đỗ, cảnh tượng đó làm xáo động vì vẻ yên bình, phiền muộn. nghe tiếng người đàn ông gọi con; thấy phụ nữ mặc tạp dề bước ra chỗ cánh cửa sáng đèn.

      "Có còn cơ hội nào cho mình ?" Al . cảm thấy mắt rơm rớm. kinh ngạc. thể tự cười mình và lắc đầu trong khi lấy khăn tay ra. Rồi thấy tốp trẻ con xuống phố. vẫy tay để thu hút chú ý.

      "Các cháu có nhìn thấy con chó trắng ?" Al với chúng.

      "Ồ, chắc rồi," đứa . "Chó của chú à?"

      Al gật đầu.

      "Cách đây chừng phút bọn cháu vừa mới chơi với nó, hướng này. Trong sân nhà Terry." Cậu bé chỉ. "Hướng này."

      "Chú có con chứ?" đứa bé lên tiếng.

      "Có, chú có con," Al .

      "Terry giữ con chó. Nó có chó," cậu bé .

      "Chú biết," Al . "Chú nghĩ con chú thích điều đó. Con chó là của chúng mà. Nó chỉ bị lạc," Al .

      lái xe theo hướng đó. Lúc này trời tối, khó mà nhìn thấy gì, và lại bắt đầu lo sợ, thầm nguyền rủa. chửi mình vì cái tội thay đổi như thời tiết, lúc thế này lúc thế nọ.

      Lúc đó thấy con chó. hiểu nhìn nó được lúc. Con chó di chuyển chậm chạp, ngửi đám cỏ dọc theo hàng rào. Al ra khỏi xe, băng qua bãi cỏ, vừa vừa cúi nguời xuống phía trước, gọi, "Suzy, Suzy, Suzy."

      Con chó ngừng lại khi thấy . Nó ngẩng đầu lên. ngồi xuống gót chân, chìa tay ra, chờ đợi. Cả hai nhìn nhau. Nó ngoe nguẩy đuôi mừng. Nó lăn kềnh ra hai chân trước ôm đầu chào . đợi. Nó đứng dậy. Nó vòng quanh rào rồi khuất tầm mắt.

      ngồi đó. Sau khi ngẫm nghĩ hết mọi lẽ nghĩ là cảm thấy quá tệ. Thế gian đầy những chó. Đâu cũng chó và đâu cũng chó. Có những con chó ta chẳng làm gì được.

                    

        TẠI SAO, CON TRAI?


      Thưa Ông,

      Tôi rất ngạc nhiên khi nhận được thư ông hỏi về con trai tôi, làm thế nào ông biết được tôi ở đây? Tôi chuyển đến chỗ này cách đây nhiều năm ngay sau khi chuyện đó bắt đầu diễn ra. ai biết tôi ở đây cả mà tôi cũng sợ người ta biết. Người mà tôi lo ngại chính là nó. Mỗi khi đọc báo tôi lại lắc đầu băn khoăn. Tôi đọc những gì người ta viết về nó và tự hỏi cái người đó có là con trai tôi , nó có thực làm những việc này ?

      Nó là đứa ngoan, trừ tính nóng nảy và trừ chuyện nó thể . Tôi đưa ra cho ông được lý do nào. Chuyện bắt đầu vào mùa hè trong dịp lễ Quốc Khánh, hồi đó nó chừng mười lăm tuổi. Con mèo Trudy nhà tôi biến mất cả đêm và cả ngày hôm sau. Tối hôm sau bà Cooper ở ngay sau nhà tôi sang nhà tôi bảo tôi rằng con Trudy lết vào sân sau nhà bà rồi chết. Con Trudy tanh bành nhưng bà bà vẫn nhận ra đó là Trudy. Ông Cooper chôn phần còn lại của Trudy.

      Tanh bành? Tôi hỏi. Ý bà tanh bành là sao?

      Ông Cooper thấy hai thằng bé ngoài đồng nhét pháo vào tai và chỗ đấy của Trudy. Ông ấy cố ngăn chúng lại nhưng chúng chạy mất.

      Ai, ai có thể làm trò như thế, ông ấy có nhận ra ai ?

      Ông ấy biết đứa kia nhưng trong hai đứa chạy lối này. Ông Cooper nghĩ đó là con trai bà.

      Tôi lắc đầu. , phải thế đâu, nó làm trò đó, nó thương Trudy mà, con Trudy ở với nhà tôi bao năm rồi, , khôngphải là thằng con tôi đâu.

      Tối hôm ấy tôi kể cho nó nghe chuyện con Trudy, nó tỏ vẻ ngạc nhiên và sốc, chúng tôi nên treo thưởng. Nó đánh máy cái gì đó rồi hứa dán ở trường. Nhưng đêm đó trước lúc về phòng nó mẹ đừng coi nặng chuyện này quá, nó già rồi, phải sáu lăm hay bảy mươi tính theo tuổi mèo, nó khá thọ rồi.

      Vào các buổi chiều và thứ Bảy nó làm, nó có chân sắp xếp hàng hóa ở cửa hàng Hartley. Betty Wilks, người bạn của tôi làm ở đó, mách tôi công việc này và giới thiệu nó. Tối đó tôi bảo nó, nó , tốt, thiếu niên dễ tìm việc.

      Cái đêm nó lĩnh lương lần đầu, tôi nấu món khoái khẩu của nó và bày bàn sẵn chờ nó về. A người đàn ông của gia đình đây, tôi và ôm nó. Mẹ tự hào lắm, con lĩnh được bao nhiêu, con trai? Tám mươi đô, nó . Tôi kinh ngạc. là tuyệt, con trai ạ, mẹ thể tin được. Con đói ngấu rồi, nó , mình ăn .

      Tôi vui, nhưng tôi hiểu được, chỗ đó còn nhiều hơn lương của tôi.

      Khi giặt quần áo tôi thấy giấy lĩnh lương của cửa hàng Hartley trong túi áo nó, chỉ ghi hai mươi tám đô, nó tám mươi. Sao nó ? Tôi hiểu được.

      Nếu tôi hỏi tối qua con đâu, nó trả lời xem biểu diễn. Rồi tôi phát ra nó khiêu vũ ở trường hay lượn lờ cả đêm với ai đó bằng xe hơi. Tôi nghĩ có gì khác biệt đâu, sao nó thể thành , chẳng có lý do gì mà dối mẹ cả.

      Tôi nhớ có lần nó thực địa về, tôi hỏi nó con thấy những gì trong chuyến . Và nó nhún vai bảo địa chất, đá núi lửa, tro, người ta chỉ cho bọn con nơi cách đây hàng triệu năm là cái hồ lớn, bây giờ chỉ là sa mạc. Nó nhìn vào mắt tôi và huyên thuyên. Rồi tôi nhận được thư của nhà trường họ muốn xin phép cho nó thực địa, liệu nó có được phép .

      Gần cuối năm lớp mười hai, nó mua chiếc xe hơi và chơi suốt. Tôi lo lắng về điểm chác của nó nhưng nó chỉ cười. Ngài biết đấy, nó là học sinh xuất sắc, hẳn ngài biết điều đó. Sau đó nó mua khẩu súng ngắn và con dao săn.

      Tôi ghét nhìn thấy những thứ đó trong nhà và tôi bảo nó thế. Nó cười, lúc nào nó cũng cười. Nó để súng và dao trong cốp xe, nó dù sao để đó cũng dễ lấy hơn.

      tối thứ Bảy nọ nó về nhà. Tôi lo đến độ phờ phạc. Khoảng mười giờ sáng hôm sau nó về bảo tôi nấu bữa sáng cho nó, nó săn về nên rất đói, nó xin lỗi vì cả đêm, nó chúng lái quãng đường dài đến chỗ kia. Nghe là lạ. Nó có vẻ run run.

      Con đâu?

      Lên tận Wenas. Bắn được vài phát.

      Con với ai?

      Fred

      Fred?

      Nó ngó tôi và tôi gì nữa.

      Ngày Chủ nhật kề sau đó tôi rón rén vào phòng nó lấy chìa khóa xe. Nó hứa mua đồ ăn sáng đường làm về tối hôm trước và tôi nghĩ nó để quên trong xe. Tôi thấy đôi giày mới của nó thò ra dưới giường dính đầy bùn và cát. Nó mở mắt.

      Con trai, giày con làm sao thế? Nhìn giày con kìa.

      Xe hết xăng, con phải bộ mua xăng. Nó ngồi dậy. Mẹ quan tâm làm gì?

      Mẹ là mẹ con mà.

      Trong lúc nó tắm tôi lấy chìa khóa và ra xe. Tôi tìm thấy đồ ăn. Tôi thấy khẩu súng nằm tấm khăn, cả con dao nữa, và tôi thấy áo sơmi của nó vo tròn, tôi giũ thấy máu me be bét. Nó còn ướt. Tôi thả nó xuống. Tôi đóng cốp xe quay vào nhà thấy nó đứng nhìn nơi cửa sổ và nó mở cửa cho tôi.

      Con quên bảo mẹ, nó , con bị chảy máu mũi, con biết cái áo đó có giặt đượckhông, hay là vứt vậy. Nó mỉm cười.

      Mấy ngày sau tôi hỏi nó công việc ở chỗ làm thế nào. Nó bảo, tốt, nó mới được tăng lương. Nhưng tôi gặp Betty Wilks ngoài đường và chị ấy bảo mọi người ở Hartley đều rất tiếc khi nó bỏ việc, mọi người rất mến nó, Betty Wilks .

      Sau đó hai đêm tôi nằm giường mà ngủ được, tôi nhìn trần nhà chằm chằm. Tôi nghe tiếng xe nó dừng trước nhà, tôi lắng nghe tiếng nó tra chìa khóa vào ổ khóa và nó vào nhà bếp, qua hành lang về phòng rồi đóng cửa lại. Tôi dậy. Tôi có thể nhìn thấy đèn phòng nó hắt ra dưới cửa. Tôi gõ cửa và hỏi nó có muốn uống trà hay cà phê , con trai, mẹ ngủ được. Nó cúi xuống bên tủ quần áo, đóng rầm ngăn kéo và quay sang tôi, mẹ ra khỏi đây , nó gào, ra khỏi đây , con chán thấy mẹ rình mò con rồi, nó gào. Tôi về phòng mình khóc đến khi ngủ thiếp. Đêm đó nó làm lòng tôi tan nát.

      Sáng hôm sau nó dậy và trước khi tôi thấy nó, nhưng với tôi thế cũng được. Kể từ đó tôi coi nó như khách trọ trừ khi nó muốn thay đổi, tôi hết chịu được rồi. Nó phải xin lỗi nếu nó muốn chúng tôi phải là những người lạ ở chung nhà.

      Tối đó khi tôi về nó ăn tối xong. Mẹ khỏe , nó hỏi, nó đỡ áo khoác cho tôi. Mọi việc hôm nay thế nào?

      Tôi tối qua mẹ ngủ được, con trai. Mẹ tự hứa gợi lại chuyện và cố làm cho con cảm thấy có lỗi nhưng mẹ quen bị con trai mình bằng giọng như thế.

      Con muốn cho mẹ xem cái này, nó , và nó cho tôi xem bài luận nó viết trong lớp dân . Tôi nghĩ là về mối quan hệ giữa quốc hội và tòa tối cao. (Đó là bài luận giúp nó đoạt giải khi tốt nghiệp!) Tôi gắng đọc và rồi tôi quyết định, đến lúc. Con này, mẹ muốn chuyện với con, với mọi như ngày nay nuôi dạy con cái là việc khó khăn, đặc biệt khó khăn khi người bố trong nhà, người đàn ông mà chúng ta nương tựa khi cần. Con bây giờ gần trưởng thành nhưng mẹ vẫn còn trách nhiệm và mẹ cảm thấy mẹ có quyền được tôn trọng và đếm xỉa đến, mẹ cố công bằng, thành với con. Mẹ muốn , con à, đó là tất cả những gì mẹ đòi hỏi ở con, . Con trai, tôi thở hơi, thử nghĩ nếu con có con mà khi con hỏi nó cái gì đó, bất cứ thứ gì, nó ở đâu hoặc định đâu, định làm gì, bất cứ thứ gì, nó bao giờ, bao giờ ? Mà nếu con hỏi nó có phải bên ngoài trời mưa , lại trả lời , trời đẹp và nắng, và mẹ nghĩ là nó cười mình cho rằng con quá già hoặc quá ngốc nên thấy quần áo nó ướt. Tại sao nó dối, con hỏi chính mình xem, nó được gì mẹ hiểu. Mẹ cứ tự hỏi mình mà mẹ có câu trả lời. Tại sao, con trai?

      gì, nó cứ nhìn tôi chằm chằm, rồi nó nhích về phía tôi và con chỉ cho mẹ. Con bảo quỳ, con bảo mẹ quỳ xuống, nó , đó là lý giải đầu tiên.

      Tôi chạy vào phòng mình khóa trái cửa. Tối đó nó bỏ , mang theo đồ đạc của nó, những thứ nó cần, và bỏ . Tin hay tùy nhưng tôi chưa bao giờ gặp lại nó. Tôi thấy nó trong lễ tốt nghiệp nhưng lúc đó có nhiều người xung quanh. Tôi ngồi cùng cử tọa và nhìn thấy nó nhận bằng và giải thưởng cho bài luận của mình, rồi tôi nghe nó phát biểu và cùng vỗ tay với mọi người.

      Sau đó tôi về nhà.

      Tôi bao giờ gặp lại nó. Ồ dĩ nhiên tôi thấy nó tivi và tôi thấy hình nó báo.

      Tôi biết nó vàolính thủy đánh bộ và tôi nghe ai đó bảo nó ra khỏi lính thủy đánh bộ rồi học đại học bên bờ Đông rồi cưới cái con bé đó và làm chính trị. Tôi bắt đầu thấy tên nó báo. Tôi tìm ra địa chỉ của nó và viết thư cho nó, vài tháng tôi lại viết lá thư, bao giờ có hồi . Nó tranh cử thống đốc, đắc cử, và giờ nổi tiếng. Đó là khi tôi bắt đầu lo lắng.

      Những nỗi sợ hãi này tăng dần trong tôi, tôi bắt đầu sợ, dĩ nhiên tôi thôi viết thư cho nó và tôi hy vọng rằng nó nghĩ tôi chết. Tôi chuyển đến đây. Tôi đặt số điện thoại đăng ký danh bạ. Và rồi tôi phải đổi tên. Nếu ông là người có quyền lực và ông muốn tìm ai đó ông tìm thấy, khó khăn gì lắm.

      Lẽ ra tôi phải thấy tự hào nhưng tôi sợ. Tuần trước tôi thấy chiếc xe hơi phố và người đàn ông ngồi trong mà tôi biết là theo dõi tôi, tôi ngay về nhà khóa cửa lại. Cách đây vài hôm điện thoại đổ chuông liên hồi khi tôi nằm nghỉ. Tôi nhấc điện thoại nhưng có gì cả.

      Tôi già rồi. Tôi là mẹ nó. Tôi phải là người mẹ hãnh diện nhất trong số các bà mẹ mặt đất nhưng tôi chỉ lo sợ.

      Cảm ơn ông viết thư cho tôi. Tôi muốn phải có ai đó biết chuyện. Tôi rất xấu hổ.

      Tôi cũng muốn biết làm thế nào mà ông biết được tên tôi và nơi tôi ở. Tôi cầu rằng ai biết. Nhưng ông biết? Sao ông lại biết? Vui lòng cho tôi.

      Trân trọng.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

        LŨ VỊT


      Chiều hôm đó cơn gió nổi lên mang theo trận mưa rào khiến cho lũ vịt đen kịt bay tán loạn khỏi mặt hồ tìm những cái hốc yên tĩnh trong rừng. chẻ củi ở đằng sau nhà thấy bọn vịt bay cắt qua xa lộ rồi hạ xuống đầm lầy phía sau những rặng cây. nhìn theo từng tốp sáu con, nhưng thường là từng đôi, tốp này theo sau tốp kia. Trời sẫm tối mặt hồ và sương giăng đầy nên thể thấy bên kia hồ, nơi có trại cưa. tranh thủ làm nhanh hơn, giáng cái nêm mạnh hơn xuống những khúc củi khô to, tách toạc chúng ra khiến những chỗ mục văng tung tóe. dây phơi của vợ , căng giữa hai cây thông, ga giường và chăn đập phần phật trong gió. khuân hai lượt hết chỗ củi vào trong cổng trước khi trời bắt đầu đổ mưa.

      “Bữa tối xong rồi!” chị vợ gọi với ra từ bếp.

      vào trong rửa mặt. Trong khi ăn họ trò chuyện chút, chủ yếu về những chuyến Reno. làm ba ngày nữa, tới ngày lãnh lương, rồi tới kỳ nghỉ cuối tuần ở Reno. Ăn tối xong ra cổng và bắt đầu cho mấy con mồi nhử vào bao. ngừng lại khi chị ra. Chị đứng ngay lối ra vào dõi theo .

      “Sáng mai lại định săn?”

      nhìn tránh sang chỗ khác và nhìn ra hồ. “Nhìn thời tiết kìa. Sáng mai chắc trời đẹp.” Những tấm ga giường của chị kêu phành phạch trong gió và cái chăn, “Đồ của em sắp ướt kìa.”

      “Đằng nào cũng có khô đâu. phơi ngoài đó hai ngày mà vẫn chưa khô.”

      “Có chuyện gì vậy? Em khỏe à?” .

      “Em thấy bình thường.” Chị quay vào bếp, đóng cửa và nhìn qua cửa sổ. “Em chỉ ghét việc lúc nào cũng vắng,” chị với cái cửa sổ. Hơi thở chị bám lại kính, rồi mờ . Khi vào nhà, đặt mấy con mồi vào góc và lấy túi đựng đồ ăn trưa. Chị đứng tì vào tủ bếp, tay đặt mép bồn rửa bát. chạm vào hông vợ, giật váy chị.

      “Em đợi đến khi mình Reno nhé. Ở đó mình vui.” .

      Chị gật đầu. Trong bếp nóng và có mấy giọt mồ hôi rịn mắt chị. “Khi về em dậy làm bữa sáng cho .”

      “Em ngủ . Em cứ ngủ hơn.” với tay ra phía sau chị để lấy túi đựng đồ ăn trưa.

      “Hôn tạm biệt em ,” chị .

      ôm chị. Chị siết chặt cánh tay quanh cổ và ghì . “Em . Lái xe cẩn thận nhé.”

      Chị lại cửa sổ nhà bếp và dõi nhìn chạy, nhảy qua mấy vũng nước mưa tới chỗ chiếc xe tải . Chị vẫy tay khi ngoảnh lại từ trong buồng lái. Trời gần như tối và mưa nặng hạt.

      Chị ngồi ghế bên cửa sổ phòng khách nghe radio và nghe mưa thấy ánh đèn xe tải của rẽ vào lối vào. Chị bật dậy vội vã ra cửa sau. đứng đó ở cửa, chị sờ cái áo cao su ướt của .

      “Họ bảo mọi người về nhà. Sếp trại cưa lên cơn đau tim. Ông ấy ngã xuống sàn ngay trong trại và chết.”

      làm em sợ.” Chị cầm túi đựng đồ ăn trưa của rồi đóng cửa. “Ai nhỉ? Có phải đó là đốc công tên Mel?”

      , ông ấy tên là Jack Granger. nghĩ ông ấy chừng năm mươi.” bước lại gần cái lò sưởi bằng dầu và hơ tay. “Jesus, buồn cười! Ông ấy tới chỗ làm hỏi công việc thế nào rồi có lẽ chưa được năm phút Bill Bessie vào, bảo rằng Bill Granger vừa chết ngay trong trại.” lắc đầu. “Chỉ vậy thôi.”

      “Đừng nghĩ về chuyện đó nữa,” chị và cầm hai tay , xoa mấy ngón tay.

      nghĩ đâu. Những chuyện như vậy vẫn xảy ra. Mình chẳng biết đâu được.”

      Mưa quất vào nhà và bắn tung tóe ngang những khung cửa sổ.

      “Trời, trong đây nóng quá! Còn bia ?” .

      “Chắc còn vài chai,” chị và theo ra bếp. Tóc còn ướt, chị lùa mấy ngón tay qua tóc khi ngồi xuống. Chị mở chai bia cho và rót ít vào ly của mình. ngồi uống từng ngụm , nhìn ra cửa sổ về khu rừng tối đen.

      , “Có người bảo ông ấy có vợ và hai con.”

      Chị , “Tội nghiệp ông Granger đó, bất hạnh. Em vui vì có ở nhà, nhưng em muốn chuyện như vậy xảy ra.”

      cũng bảo mấy cậu kia như vậy. về cũng thích, nhưng Chúa ơi, ghét được nghỉ kiểu này.” khẽ nhích người trong ghế. “Em biết , nghĩ hầu hết đám đàn ông có thể tiếp tục làm việc nhưng mấy cậu bé trong trại chúng làm việc được khi ông ấy nằm đó như vậy.” cạn chai bia rồi đứng lên. “ em nghe: thấy mừng khi chúng làm việc được,” .

      Chị , “Em cũng mừng khi làm việc. Tối nay khi ra khỏi nhà, em có cảm giác là buồn cười. Em nghĩ về cái cảm giác đó, cái cảm giác buồn cười của em, thấy ánh đèn xe.”

      “Tối hôm qua ông ấy mới ở trong phòng ăn kể chuyện cười, Granger là người tốt.  Lúc nào cũng cười.”

      Chị gật đầu. “Em chuẩn bị gì để ăn nhé, nếu như muốn ăn chút.

      đói, nhưng ăn chút,” .

      Họ ngồi trong phòng khách nắm tay nhau xem ti vi.

      “Trước đây chưa bao giờ thấy chương trình này,” .

      Chị , “Em còn quan tâm lắm đến chuyện xem ti vi. Chẳng có gì đáng xem cả. Thứ Bảy hay Chủ nhật còn đỡ. Những tối ngày thường chả có gì.”

      duỗi chân và ngả người ra. , “ hơi mệt. Chắc ngủ.”

      Chị , “Chắc em tắm rồi cũng ngủ.” Chị lùa tay qua tóc rồi buông tay ra và mân mê cổ . “Có lẽ tối nay mình vui với nhau chút. Mình chả có mấy dịp với nhau.” Chị vuốt ve đùi bằng tay kia, nghiêng sang và hôn . “ nghĩ sao?”

      “Nghe cũng được,” . đứng dậy đến bên cửa sổ. nhìn bóng cây bên ngoài nhưng vẫn có thể thấy chị đứng sau lưng hơi chệch sang bên. “Em này, sao em tắm rồi mình vào giường,” . đứng đó lát ngắm mưa quất vào cửa sổ. nhìn đồng hồ đeo tay. Nếu làm việc giờ này là giờ ăn trưa. vào phòng ngủ và bắt đầu cởi quần áo.

      Mặc mỗi quần soóc, quay lại phòng khách và nhặt cuốn sách sàn lên – Những bài thơ được chuộng nhất Hoa Kỳ. đoán cái câu lạc bộ mà chị là thành viên gửi tới theo đường bưu điện. quanh nhà để tắt đèn. Rồi quay lại phòng ngủ. luồn vào dưới chăn, chồng gối của vợ lên gối của mình, bẻ cái đèn cổ vịt cho ánh sáng rọi vào trang sách. mở giữa chừng cuốn sách và bắt đầu đọc vài bài thơ. Rồi gác cuốn sách lên tủ đầu giường và bẻ đèn hướng vào phía tường. châm điếu thuốc. gối đầu lên cánh tay nằm đó hút thuốc. nhìn thẳng vào tường. Ánh đèn soi từng kẽ nứt , từng chỗ phồng lên trong lớp vôi. Trong góc, cao gần trần nhà, có cái mạng nhện. nghe tiếng mưa dội xuống từ mái.

      Chị đứng dậy trong bồn tắm và bắt đầu lau người. Khi để ý thấy nhìn, chị mỉm cười, choàng khăn qua vai, bước bước trong bồn và làm dáng.

      “Trông như thế nào?”

      “Ổn,” .

      “OK,” chị .

      tưởng em vẫn còn…” .

      “Em vẫn.” Chị lau người xong, thả khăn xuống sàn bên cạnh bồn tắm và duyên dáng bước lên đó. Chiếc gương bên cạnh chị đầy hơi nước và mùi cơ thể chị lan đến . Chị quay người lại với lấy cái hộp kệ. Rồi chị luồn vào quần lót và điều chỉnh miếng băng trắng. Chị cố nhìn , cố mỉm cười. dụi điếu thuốc rồi cầm cuốn sách lên lại.

      đọc gì đó?” chị .

      biết. Vớ vẩn ấy mà.” lật ra bìa sau nhìn lướt qua phần tiểu sử.

      Chị tắt đèn, ra khỏi buồng tắm và chải tóc. “Sáng mai vẫn ?” chị .

      “Chắc ,” .

      Chị , “Em vui lắm. Mình ngủ nướng, rồi dậy, ăn bữa sáng thịnh soạn.”

      chồm qua lấy thêm điếu thuốc.

      Chị cất lược vào ngăn kéo, mở ngăn khác lấy cái áo ngủ ra.

      có nhớ mua cho em cái này hồi nào ?” chị .

      chỉ nhìn vợ.

      Chị vòng qua mé giường phía . Họ nằm im đỗi, hút điếu thuốc của đến khi gật đầu ra dấu hút xong, và khi đó chị dụi tắt. chồm qua người chị, hôn lên vai chị, và tắt đèn. “Em biết ,” , trong khi nằm ngửa, “ nghĩ là muốn khỏi đây. Đến nơi nào đó.” Chị xích lại gần và luồn chân giữa hai chân . Họ nằm nghiêng quay mặt vào nhau, môi gần như chạm nhau. băn khoăn biết hơi thở có sạch như hơi thở chị. , “ chỉ muốn . Mình ở đây lâu. muốn quay về quê gặp lại bạn bè. Hoặc chuyển lên Oregon. Đó là chỗ dễ chịu.”

      “Nếu như muốn vậy,” chị .

      nghĩ vậy,” . “Có nhiều chỗ để .”

      Chị khẽ cựa quậy, cầm tay đặt ngực mình. Rồi chị mở miệng và hôn , dùng tay kia vít đầu xuống. Từ từ chị nhích lên phía giường, nhàng đẩy xuống ngực mình. ngậm lấy núm vú và bắt đầu mút. cố nghĩ ra vợ nhiều bao nhiêu hay là vợ . nghe tiếng chị thở và cũng nghe tiếng mưa. Họ nằm như thế.

      Chị , “Nếu muốn cũng sao.”

      phải vậy,” , biết mình định gì.

      buông chị ra khi đoán chị ngủ và xoay qua phần giường của mình. cố nghĩ về Reno. có nghĩ về những cái khe trong máy đánh bạc, cách những viên xúc xắc đổ và trông chúng thế nào khi lật dưới ánh đèn. cố nghe cho được tiếng quả banh ru lét khi nó lăn quanh cái bánh xe lấp lánh. cố tập trung vào cái bánh xe. nhìn và nhìn và lắng nghe và lắng nghe và nghe thấy tiếng cưa và máy chầm chậm lại, dừng hẳn.

      ra khỏi giường đến bên cửa sổ. Bên ngoài tối đen và chẳng thể nhìn thấy gì, kể cả mưa. Nhưng có thể nghe thấy tiếng mưa, trượt từ mái nhà xuống vũng nước dưới cửa sổ. có thể nghe thấy tiếng mưa khắp nhà. lần tay lên chỗ nước đọng cửa kính.

      Khi quay vào giường, nhích lại gần vợ và đặt tay lên hông chị. “Em ơi, dậy ,” thào. Nhưng chị chỉ rùng mình rồi nhích ra tận mép giường. Chị vẫn ngủ say. “Dậy ,” thào. “ nghe tiếng gì ngoài kia.”

                    

        CÒN CÁI NÀY SAO?


      Toàn bộ niềm lạc quan tô vẽ cho chuyến bay rời thành phố còn, biến mất trong buổi tối của ngày thứ nhất, khi họ lái xe về phía bắc dưới bóng những cụm cây cù tùng tối sẫm. Giờ đây, những đồng cỏ trải dài, những con bò và những nông trang nằm tách biệt của miền Tây bang Washington có vẻ chẳng mang đến cho điều gì, chẳng có gì mà thực muốn. mong đợi cái gì đó hoàn toàn khác. cứ miên man lái trong khi cảm giác vô vọng và bức bối cứ dâng lên.

      giữ tốc độ 50 dặm/giờ, đường này chỉ cho phép mức đó. Mồ hôi đọng trán và môi của , mùi hăng hắc của cỏ ba lá lơ lửng quanh người. Cảnh quan bắt đầu thay đổi; đường xa lộ đột nhiên hẫng xuống, băng qua đoạn cống, gồ lên lại, rồi đường nhựa hết mất và giờ điều khiển xe con đường đất, vệt bụi kinh hoàng bốc lên sau xe. Khi họ chạy ngang cái nền xưa của căn nhà cháy rụi lẩn sau lùm phong, Emily bỏ kính mát ra nhổm tới, nhìn đăm đăm.

      “Đó là chỗ của gia đình Owen ngày xưa,” . “Ông ấy và bố là bạn.Ông ấy có bức tranh tĩnh vật để tầng áp mái và có đôi ngựa kéo lớn ông dùng để tham gia tất cả hội chợ. Ông ấy chết vì vỡ ruột thừa khi em chừng mười tuổi. năm sau nhà ông cháy rụi trong lễ Giáng Sinh. Sau đó họ chuyển tới Bremerton.”

      “Thế à?” . “Giáng sinh.” Rồi: “ rẽ trái hay rẽ phải ở đây? Emily? Trái hay phải?

      “Trái,” . “Trái.”

      lại đeo kính lên, chỉ để vài phút sau lại bỏ ra. “Cứ tiếp đường này, Harry, tới khi gặp giao lộ kế tiếp. Rồi rẽ phải. Thêm quãng ngắn nữa tới.” hút thuốc liên tục, hết điếu này tới điếu khác, bây giờ im lặng nhìn ra những cánh đồng được dọn dẹp, những cụm linh sam tách biệt, những ngôi nhà cũ kỹ rải rác.

      sang số, rẽ phải. Con đường đổ dần xuống thung lũng thưa cây. Phía xa là Canada, đoán thế - có thể nhìn thấy rặng núi và sau những ngọn núi đó là dãy núi khác, sẫm màu hơn và cũng cao hơn.

      “Có con đường ,” , “ở phía đáy thung lũng. Đó chính là con đường mình phải .”

      cẩn thận rẽ và cho xe chạy chầm chậm theo lối mòn, trông chờ dấu hiệu đầu tiên của căn nhà. Emily ngồi cạnh , có thể thấy run run, lại hút thuốc, cũng chờ đợi bóng dáng căn nhà xuất . chớp mắt khi mấy nhành cây lòa xòa quét vào kính xe. khẽ nhổm người tới trước chạm tay vào chân . “Đây,” . chạy chậm lại gần như dừng hẳn, cho xe vượt qua lạch suối nước trong veo từ đám cỏ cao bên trái chảy ra, rồi chui vào đám sơn thù du quấn quýt, xõa khắp xe trong khi con đường lên dốc. “Kia kìa,” , bỏ tay khỏi chân .

      Sau thoáng nhìn đầu tiên, tập trung nhìn đường. nhìn căn nhà lần nữa sau khi dừng xe gần cửa trước. Rồi liếm môi, ngoảnh sang , và cố mỉm cười.

      “Ừm, mình ở đây rồi,” .

      nhìn , hề nhìn căn nhà.

      Harry luôn sống ở thành phố - trong ba năm gần đây là San Francisco, và trước đó, Los Angeles, Chicago và New York. Nhưng từ lâu muốn về vùng quê, vùng quê nào đó. Đầu tiên lắm về việc muốn đâu; chỉ biết muốn rời thành phố để tái khởi đầu. nghĩ trong đầu cuộc sống giản đơn, chỉ những thứ thiết yếu, . ba mươi hai tuổi và theo cách nào đó là nhà văn, nhưng cũng là diễn viên và nhạc công. chơi saxophone, thỉnh thoảng biểu diễn cùng nhóm Bay City Players, và viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên. viết cuốn tiểu thuyết này từ lúc sống ở New York. chiều Chủ nhật tháng Ba ảm đạm, khi lại bắt đầu về thay đổi, về cuộc sống chân chất hơn đâu đó vùng thôn quê, nhắc tới, ban đầu chỉ ý đùa, chỗ bỏ hoang của bố ở miền Tây Bắc bang Washington.

      “Lạy Chúa,” Harry , “em phiền đấy chứ? Ý là sống thô kệch như thế. Sống ở chỗ nhà quê như thế?”

      “Em sinh ra ở đó,” cười, . “ nhớ ? Em sống ở quê. Cũng ổn mà. Cũng có những cái hay. Em có thể về đó ở lại. Nhưng em biết thế nào, Harry. Liệu nó có tốt cho ?”

      vẫn nhìn , giờ nghiêm túc. Gần đây cảm thấy lúc nào cũng nhìn .

      “Em hối tiếc chứ?” . “Từ bỏ những thứ ở đây?”

      “Em có từ bỏ gì nhiều đâu, phải , Harry?” nhún vai. “Nhưng em khuyến khích ý tưởng này đâu, Harry.”

      “Ở đó em vẽ đượckhông?”

      “Ở đâu em cũng vẽ được,” . “Ở đó có trường đại học. Hoặc Vancouver hoặc Seattle.” cứ dõi nhìn . ngồi cái ghế cao trước bức chân dung mờ ảo người đàn ông và người đàn bà vẽ dở, cứ se hai cái cọ vẽ tới lui trong tay.

      Đó là cách đây ba tháng. Họ bàn bàn lại về chuyện đó và giờ họ ở đây.

      đập đập lên bức tường gần cửa trước. “Chắc. Cốt chắc. Điều chính yếu là phải có cái cốt chắc chắn.” tránh nhìn . rất tinh nên chắc có lẽ đọc được điều gì đó trong mắt .

      “Em bảo đừng kỳ vọng nhiều quá,” .

      “Có, em có bảo thế. nhớ ,” , vẫn nhìn . gõ tấm ván trơn lần nữa rồi nhích ra đứng bên cạnh . Tay áo xắn lên trong cái nóng nhơm nhớp của buổi chiều, và vận quần jean trắng xăng đan. “Yên tĩnh, nhỉ?”

      “Rất khác ở thành phố.”

      “Chúa ơi, ừ… rất khác.” cố mỉm cười. “Cần sửa sang chút, vậy thôi. Sửa sang chút. Nếu mình muốn ở đây nó cũng là chỗ tốt. Ít ra hàng xóm cũng làm phiền mình.”

      “Hồi còn ở đây nhà em cũng có hàng xóm,” . “Muốn gặp họ phải lái xe , nhưng dù gì họ cũng là hàng xóm.”

      Cánh cửa hé mở. Cái bản lề cao bị lỏng: cũng đến nỗi. Harry ước lượng. Họ thong thả từ phòng này sang phòng nọ. cố che dấu thất vọng. Hai lần gõ lên tường và , “Chắc lắm.” Hoặc, “Người ta làm nhà như thế này nữa. Nhà như thế này mình có thể bày nhiều trò lắm.”

      dừng lại trước căn phòng lớn và hít hơi dài.

      “Phòng của em à?”

      lắc đầu.

      “Và mình có thể mượn đồ đạc cần thiết từ dì Elsie?”

      “Ừ, bất cứ thứ gì mình cần,” . “Đó là trong trường hợp mình muốn ở lại đây. Em ép. Quay lại vẫn quá muộn. mất mát gì hết.”

      Trong nhà bếp, họ thấy cái bếp lò bằng gỗ và tấm đệm dựng vào tường. Quay lại phòng khách, nhìn quanh mà , “ tưởng ở đây có lò sưởi.”

      “Em chưa bao giờ có lò sưởi.”

      hiểu tại sao cứ tưởng là ở đây có cái… Cũng có ổ cắm,” lúc sau . Rồi: “ có điện!”

      cả toa lét nữa,” .

      liếm môi. “Hừ,” , quay xem xét cái gì đó ở góc nhà, “ nghĩ mình có thể sửa sang trong mấy phòng này, lắp bồn tắm và những thứ khác, và nhờ ai đó chạy đường ống nước. Nhưng điện là chuyện khác, phải ? Ý là, hãy đối diện với những vấn đề này khi mình đụng tới chúng. Lần lượt từng thứ , phải ? Hãy… hãy đừng để mình chán nản vì những điều này, OK?”

      “Em ước gì im lặng,” .

      quay và bước ra ngoài.

      phút sau nhảy xuống mấy bậc thang, hít hơi và cả hai châm thuốc. đám quạ cất lên ở phía cuối đồng cỏ và bay chầm chậm, lặng lẽ vào trong rừng.

      Họ cuốc bộ về phía nhà kho, dừng lại ngắm nghía mấy cây táo quắt queo. bẻ nhánh cây khô , lật qua lật lại trong tay khi đứng sau lưng hút thuốc. Quả vùng quê yên bình, nếu là quyến rũ, và nghĩ dễ chịu khi cảm thấy cái gì đó thường hằng, thực thường hằng, có thể thuộc về . rung động vì trìu mến thình lình dành cho vườn cây ăn quả .

      “Phải làm cho mấy cái cây này có quả lại,” . “Chỉ cần tưới nước và chăm sóc chút.” mường tượng cảnh bước ra khỏi nhà mang theo cái giỏ mây và hái những quả táo đỏ lớn còn đẫm sương mai, và nhận ra rằng cái ý tưởng đó hấp dẫn .

      cảm thấy tươi vui hơm chút khi họ tới nhà kho. xem qua những bảng số xe cũ đính cửa. Những biển số xanh, vàng, trắng của bang Washington, giờ gỉ sét, 1922-23-24-25-26-27-28-29-34-36-37-40-41-1949; xem xét những ngày tháng như thể nghĩ rằng chuỗi số có thể tiết lộ mật mã. tháo cái chèn cửa bằng gỗ rồi kéo, đẩy cánh cửa nặng nề để nó mở toang ra. Bên trong có mùi khí lưu cữu. Nhưng tin đó phải là thứ mùi khó chịu.

      “Mùa đông ở đây mưa nhiều,” . “Em nhớ tháng Sáu ở đây chưa bao giờ nóng thế này.” Ánh sáng mặt trời rọi qua những kẽ hở mái. “Có lần bố bắn con hươu trong mùa săn. Hồi đó em độ chừng – em chắc lắm - tám hay chín tuổi, loanh quanh ở đó.” ngoảnh sang khi đứng lại bên cửa nhìn bộ yên cương cũ móc đinh. “Bố ở đây trong cái kho này cùng với con hươu đó người gác rừng lái xe vào sân. Lúc đó tối. Mẹ bảo em xuống gọi bố, và người gác rừng, người to cao đội mũ, theo em. Bố cầm cái đèn vừa mới từ gác xép bước xuống. Bố và người gác rừng trao đổi trong vài phút. Con hươu treo đó, nhưng người gác rừng gì. Ông mời bố nhai thuốc lá, nhưng bố từ chối – bố bao giờ thích nhai thuốc và ngay cả lúc đó cũng nhận. Rồi người gác rừng bẹo tai em rồi . Nhưng em muốn nghĩ về những chuyện ấy,” vội vã thêm. “Trong nhiều năm trời em nghĩ về những chuyện như vậy. Em muốn so sánh,” . “,” . lùi lại, lắc đầu. “Em khóc đâu. Em biết chuyện đó nghe có vẻ ủy mị và ngốc nghếch, và em xin lỗi vì tỏ ra ủy mị và ngốc nghếch. Nhưng Harry, là…” lại lắc đầu. “Em biêt. Có thể việc quay lại đây là sai lầm. Em cảm nhận được thất vọng của .”

      “Em biết đâu,” .

      , đúng thế, em biết,” . “Và em xin lỗi. Thực tình em định thuyết phục bằng cách này hay cách nọ. Nhưng em nghĩ muốn ở lại. Phải ?”

      nhún vai.

      lấy điếu thuốc ra. nhận điếu thuốc từ tay và cầm nó, chờ đợi que diêm, chờ đợi ánh mắt gặp ánh mắt qua que diêm.

      “Khi em còn ,” tiếp tục, “em muốn khi lớn lên theo gánh xiếc. Em muốn làm y tá hay giáo viên. Hay họa sĩ. Lúc đó em muốn thành họa sĩ. Em muốn trở thành Emily Horner, nghệ sĩ dây. Với em chuyện đó là quan trọng. Em từng tập ở đây, trong kho này, những cái xà nhà. Cái xà nhà to đằng kia, em đó hàng trăm lần.” định gì khác, nhưng lại bập thuốc và dụi bó bằng gót chân, cẩn thận vùi nó xuống đất.

      nghe tiếng chim kêu bên ngoài nhà kho, rồi nghe thấy tiếng chân chạy mấy tấm ván phía gác xép. ngang qua , ra ngoài chỗ sáng, và bắt đầu chậm rãi băng qua đám cỏ cao ngút hướng về phía căn nhà.

      “Mình làm gì đây, Emily,” gọi với theo .

      dừng lại, và tiến đến gần bên .

      “Sống sót,” . Rồi lắc đầu và mỉm cười yếu ớt. chạm cánh tay . “Jesus, em chắc là chúng mình gặp rắc rối, phải ? Nhưng em chỉ biết vậy, Harry à.”

      “Mình phải quyết định,” , thực biết mình có ý định gì.

      “Harry, quyết định , nếu như chưa quyết định. Đây là quyết định của . Em quay về ngay nếu như điều đó làm dễ chịu hơn. Mình ở với dì Elsie hai ngày rồi quay về. Được ? Nhưng cho em điếu, nhé? Em lên nhà.”

      nhích lại gần hơn, tưởng tượng họ có thể ôm nhau. muốn ôm. Nhưng nhúc nhích; chỉ nhìn rời mắt, nên chỉ véo mũi , “Chốc nữa gặp lại em.”

      nhìn theo . xem đồng hồ, quay lại, chậm rãi xuống phía đồng cỏ dẫn vào trong rừng. Cỏ cao đến gối . Ngay trước khi bước vào rừng, chỗ cỏ bắt đầu thưa ra, tìm thấy lối . xoa sống mũi phía dưới cái kính mát, ngoảnh lại nhìn ngôi nhà và nhà kho, rồi tiếp bước, thong thả. đám muỗi bay quanh đầu khi bước . ngừng lại châm điếu thuốc. ngoảnh lại lần nữa, nhưng giờ thấy cả căn nhà lẫn nhà kho. đứng đó nhả khói, bắt đầu cảm nhận được tĩnh lặng lẫn trong cỏ cây và trong bóng đổ sau lùm cây. Chẳng phải đây là điều mà mong muốn sao? bước tiếp, tìm chỗ để ngồi.

      châm điếu nữa và dựa vào thân cây. nhặt mấy miếng gỗ vụn từ trong đám đất mềm mại giữa hai chân. hút thuốc. nhớ tập kịch của Ghelderode nằm đống đồ đạc trong ghế sau xe, và nhớ lại tên số thị trấn mà sáng hôm đó ngang – Ferndale, Lyuden, Custer, Nooksack. Đột nhiên nhớ lại tấm đệm trong nhà bếp. cố hình dung ra cảnh Emily cái xà to trong nhàkho. Nhưng điều đó cũng làm sợ. hút thuốc. Thực cảm thấy bình tĩnh, sau khi nghĩ kỹ mọi việc. biết rằng ở lại đây, nhưng việc biết điều đó bây giờ làm bực bội. vui vì biết quá bản thân. xác định ổn thỏa. chỉ mới ba mươi hai. quá già. Trong thời khắc tại, rắc rối. thừa nhận điều đó. Sau rốt, ngẫm nghĩ, đời là như thế, chẳng phải sao? dập thuốc. Trong chốc lát lại châm điếu thuốc khác.

      Khi vòng qua góc nhà, thấy vừa mới lộn vòng. tiếp đất nhàng, hơi nhoài ra, rồi thấy .

      “Hê,” gọi, ngoác miệng cười.

      nhướn lên, cả người đổ trụ vào phần của bàn chân, giơ hai cánh tay ngang đầu, lướt tới. lộn hai vòng nữa trong khi dõi theo, và rồi gọi, “Còn cái này sao!” trồng chuối hai bàn tay, giữ thăng bằng, bắt đầu run run tiến về phía . Mặt đỏ bừng, áo dồn xuống cằm, hai chân vẫy điên loạn, tiến về phía .

      quyết định chưa,” , gần như thở.

      gật đầu.

      “Vậy sao?” . ngã bằng vai và lăn ngửa ra, che mắt cho khỏi chói bằng cánh tay như thể khoe ngực.

      , “Harry.”

      xòe tay châm thuốc bằng que diêm cuối cùng tay bắt đầu run rẩy. Que diêm tắt ngấm, và đứng đó cầm hộp diêm rỗng cùng điếu thuốc, đăm đăm nhìn khoảng cây mênh mông ở phía cuối đồng cỏ sáng.

      “Harry, chúng mình cần phải nhau,” . “Chúng mình chỉ cần phải nhau,” .

                    

        XE ĐẠP, CƠ BẮP, THUỐC LÁ


      hai ngày từ khi EvanHamilton bỏ thuốc, và dường như với trong hai ngày qua mọi điều hay suy nghĩ đều ít nhiều gợi về thuốc lá. nhìn đôi tay mình dưới ánh đèn nhà bếp. ngửi ngửi đốt tay và ngón tay.

      ngửi thấy mùi thuốc,” .

      “Em biết. Như thể nó ứa ra theo mồ hôi,” AnnHamilton . “Trong vòng ba ngày sau khi bỏ thuốc em có thể ngửi thấy mùi thuốc người em. Ngay cả khi em vừa mới tắm xong. kinh tởm.” Chị xếp đĩa lên bàn chuẩn bị cho bữa tối. “Em chia sẻ với . Em biết phải trải qua những gì. Nhưng nên yên tâm rằng ngày thứ hai luôn là ngày khó khăn nhất. Ngày thứ ba dĩ nhiên cũng khó, nhưng sau ba ngày đầu, nếu có thể chịu đựng được từng ấy thời gian, qua đượcgiai đoạn khó khăn nhất. Nhưng em rất vui vì bỏ thuốc cách nghiêm túc, vui hết.” Chị chạm cánh tay . “Giờ, gọi Roger về để mình ăn tối.”

      Hamilton mở cửa trước. Trời tối. là đầu tháng Mười nên ngày ngắn và lạnh. Có thằng bé lớn hơn con trai ngồi chiếc xe đạp nhưng trang bị đầy đủ trong ngõ vào nhà. Thằng bé nhổm khỏi yên xe, nhón chân chạm vào vỉa hè và giữ nguời thẳng.

      “Chú là Hamilton?” thằng bé .

      “Đúng rồi,” Hamilton . “Chuyện gì thế? Liên quan đến Roger hả?”

      “Chắc Roger ở nhà cháu chuyện với mẹ cháu. Kip và thằng nữa tên GaryBerman cũng ở đó. Có chuyện liên quan đến cái xe đạp của em cháu. Cháu biết chắc lắm,” thằng bé , vặn hai tay lái, “nhưng mẹ cháu bảo mời chú đến. Mời bố hoặc mẹ Roger.”

      “Nhưng nó sao chứ?” Hamilton . “Được, dĩ nhiên. Chú ra ngay.”

      vào nhà mang giày.

      có thấy nó ?” AnnHamilton .

      “Nó mắc mứu gì đó,” Hamilton trả lời. “Liên quan tới cái xe đạp. Có thằng bé – chưa kịp hỏi tên – ở ngoài. Nó muốn hoặc em cùng đến nhà nó.”

      “Con có sao ?” AnnHamilton hỏi và cởi tạp dề ra.

      “Chắc chắn là sao.” Hamilton nhìn vợ và lắc đầu. “Nghe có vẻ như là chuyện cãi nhau của trẻ con, và mẹ thằng bé tự dính líu vào.”

      có muốn em ?” AnnHamilton hỏi.

      ngẫm nghĩ chút. “Ừ, muốn để em hơn, nhưng thôi để . Chờ bố con về hãy ăn tối nhé. Chắc lâu đâu.”

      “Em thích nó ở ngoài khi trời tối,” AnnHamilton . “Em thích thế.”

      Thằng bé kia ngồi xe đạp và giờ bóp thắng.

      “Bao xa?” Hamiltonnói khi họ bắt đầu theo lề đường.

      “Ở phía khu Arbuckle Court,” thằng bé trả lời, và khi Hamilton nhìn nó, thằng bé thêm, “ xa đâu. Cách đây chừng hai dãy nhà.”

      “Chuyện gì xảy ra vây?”

      “Cháu biết . Cháu đầu đuôi câu chuyện. Hình như nó, Kip và thằng GaryBerman sử dụng chiếc xe đạp của em cháu trong lúc bọn cháu nghỉ, và cháu đoán là chúng làm hỏng nó. Cố tình. Nhưng cháu biết. Dù sao bọn họ cũng về chuyện này. Em cháu tìm thấy xe đạp của mình trong khi chúng, tức là Kip và Roger, sử dụng xe lần cuối. Mẹ cháu cố tìm xem nó ở đâu.”

      “Chú biết Kip,” Hamilton . “Còn đứa kia là đứa nào?”

      “GaryBerman. Cháu đoán nó mới đến xóm này. Bố nó tới ngay khi ông ấy về nhà.”

      Họ rẽ ở góc đường. Thằng bé chống đẩy xe trước chút. Hamilton nhìn thấy vườn cây ăn quả, rồi họ rẽ ở góc khác vào con phố cụt. chưa biết đến diện của con phố này và chắc nhận ra bất kỳ ai sống ở đây. nhìn những căn nhà lạ lẫm quanh mà thấy bất ngờ về phạm vi đời sống riêng tư của con trai.

      Thằng bé rẽ vào ngõ, xuống xe và dựng tựa vào nhà. Nó mở cửa trước, Hamilton theo nó qua phòng khách vào nhà bếp, thấy con trai ngồi bên cạnh bàn cùng với Kip Hollister và thằng bé khác. Hamilton nhìn kỹ Roger rồi quay sang nhìn người đàn bà tóc đen tròn trịa ngồi ở đầu bàn.

      là bố của Roger?” người đàn bà với .

      “Vâng, tôi tên là EvanHamilton. Chào chị.”

      “Tôi là Miller, mẹ của Gilbert,” ta . “Xin lỗi gọi sang đây, nhưng chúng ta có rắc rối.”

      Hamilton ngồi xuống chiếc ghế ở đầu kia bàn và nhìn quanh. thằng bé chừng chín mười tuổi,Hamilton đoán là đứa mất xe đạp, ngồi cạnh người đàn bà. thằng bé khác, tầm mười bốn, ngồi cạnh bồn rửa bát chân đung đưa dõi nhìn theo đứa nữa chuyện điện thoại. Ranh mãnh cười vì điều gì đó điện thoại, thằng bé với qua bồn rửa bát, điếu thuốc tay. Hamilton nghe thanh của điếu thuốc xèo tắt trong ly nước. Đứa dẫn tới đứng khoanh tay dựa vào tủ lạnh.

      “Con có gặp bố hay mẹ của Kipkhông?” người đàn bà với thằng bé.

      “Chị nó bọn họ mua sắm. Con đến nhà GaryBerman và bố nó tới đây trong vòng vài phút nữa. Con để lại địa chỉ mà.”

      Hamilton,” người đàn bà , “tôi kể lại với chuyện gì xảy ra. Tháng vừa rồi chúng tôi nghỉ và Kip muốn mượn chiếc xe đạp của Gilbert để Roger giúp nó cùng giao báo. Tôi đoán là xe đạp của Roger bị xẹp lốp hay sao đó. Hừm, nhưng hóa ra là…”

      “Gary bóp cổ con, bố.” Roger .

      “Cái gì?” Hamilton , quan sát con.

      “Nó bóp cổ con. Còn vết đây này.” Con trai kéo cổ áo thun xuống để lộ cổ.

      “Bọn nó ở ngoài ga ra,” người đàn bà tiếp tục. “Tôi biết chúng làm gì cho đến khi Curt, thằng lớn nhà tôi, ra xem.”

      “Nó gây trước!” GaryBerman với Hamilton. “Nó chửi cháu là đồ ngu.” GaryBerman ngóng ra cửa trước.

      “Tớ nghĩ là xe tớ giá tầm sáu mươi đô, các cậu ạ,” thằng bé tên là Gilbert . “Các cậu có thể đền tiền cho tớ.”

      “Gilbert, đừng xía vào,” người đàn bà với nó.

      Hamilton thở dài. “Kể tiếp ,” .

      “À, hóa ra là, Kip và Roger dùng xe của Gilbert để giúp Kip giao báo, rồi hai đứa, cả Gary nữa, bọn nó thế, thay phiên nhau vần xe.”

      “’Vần xe’ là sao?” Hamilton .

      “Vần xe,” người đàn bà . “Đẩy xuống đường cho chạy và mặc cho đổ kềnh ra. Rồi, mong phiền lòng – chúng mới thú nhận cách đây vài phút – Kip và Rogermang đến trường và quẳng ở trụ gôn.”

      “Đúng , Roger?” Hamilton , lại nhìn con trai.

      “Đúng phần, bố ạ,” Roger , nhìn xuống và di ngón tay lên bàn. “Nhưng bọn con chỉ vần có lần. Kip làm, rồi Gary, rồi đến con.”

      lần là quá lắm,” Hamilton . “ lần là quá lắm, Roger. Bố ngạc nhiên và thất vọng về con. Và cả cháu nữa, Kip,”Hamilton .

      “Nhưng thấy đấy,” người đàn bà , “ai đó vẫn còn dối hoặc chưa hết , vì thực tế là cái xe đạp vẫn còn mất tích.”

      Mấy thằng bé lớn tuổi hơn trong bếp cười đùa với thằng bé chuyện điện thoại.

      “Bọn cháu biết cái xe đạp ở đâu, Miller ạ,” thằng bé tên Kip . “Bọn cháu kể rồi. Lần cuối cùng bọn cháu thấy là lúc Roger và cháu đem về nhà cháu sau khi mang xe đến trường. Ý cháu đó là lần trước lần cuối cùng. Lần cuối cùng thực là khi cháu mang nó lại đây vào sáng hôm sau và dựng nó đằng sau nhà.” Nó lắc đầu. “Bọn cháu biết nó ở đâu,” thằng bé .

      “Sáu mươi đô,” thằng bé tên Gilbert với thằng bé tên Kip. “Cậu có thể trả tớ năm đô tuần cho đến hết.”

      “Gilbert, mẹ cảnh cáo con,” người đàn bà . “ thấy chưa, chúng rằng,” người đàn bà tiếp, giờ cau mày, “nó biến mất từ đây, từ phía đằng sau nhà. Nhưng làm sao có thể tin chúng khi chúng thành suốt cả buổi tối.”

      “Bọn cháu ,” Roger . “Tất tần tật.”

      Gilbert ngả người ra sau ghế lắc đầu nhìn con trai của Hamilton.

      Chuông cửa reo và thằng bé ngồi bếp nhảy xuống vào phòng khách.

      người đàn ông vai u tóc cắt kiểu thủy thủ có cặp mắt sắc màu xám bước vào nhà bếp mà năng gì. ta liếc qua người đàn bà rồi tới đứng sau lưng GaryBerman.

      chắc là Berman?” người đàn bà hỏi. “Rất vui được gặp . Tôi là mẹ Gilbert, và Hamilton đây là bố của Roger.”

      Người đàn ông gật đầu với Hamilton nhưngkhông chìa tay.

      “Chuyện gì đây?” Berman với con.

      Mấy thằng bé ngồi ở bàn cùng lúc lên tiếng.

      “Im lặng!” Berman . “Tao chuyện với Gary. tới lượt chúng mày.”

      Thằng bé bắt đầu kể. Cha nó lắng nghe chăm chú, thỉnh thoảng nheo mắt nhìn hai đứa kia.

      Khi GaryBerman kể xong, người đàn bà , “Tôi muốn biết ngọn ngành câu chuyện này. Tôi quy tội cho đứa nào, các hiểu chứ, Hamilton và Berman – tôi chỉ muốn biết ngọn ngành chuyện này.” ta nhìn Roger và Kipkhông rời mắt, trong khi hai đứa lắc đầu nhìn GaryBerman.

      đúng vậy, Gary,” Roger .

      “Bố, con chuyện riêng với bố tí?” GaryBerman .

      nào,” người đàn ông , và họ ra phòng khách.

      Hamilton nhìn họ . có cảm giác rằng nên chặn họ lại, cái bí mật này. Lòng bàn tay ướt nhem, và thò tay vào trong túi áo tìm điếu thuốc. Rồi, hít thở sâu, quệt mũi , “Roger, ngoài những chuyện kể con biết gì thêm về chuyện này ? Con có biết xe đạp của Gilbert ở đâu ?”

      ạ,” thằng bé . “Con thề.”

      “Lần chót con thấy chiếc xe đạp là khi nào?” Hamilton .

      “Lúc bọn con đem từ trường về để ở nhà Kip.”

      “Kip,” Hamilton , “cháu có biết xe đạp của Gilbert ở đâu ?”

      “Cháu thề cháu cũng biết,” thằng bé trả lời. “Cháu mang nó về sau buổi sáng, chúng cháu đem đến trường và cháu để nó đằng sau ga ra.”

      tưởng cháu cháu để đằng sau nhà chứ,” người đàn bà ngay.

      “Ý cháu là nhà! Cháu định như vậy,” thằng bé .

      “Mấy hôm sau cháu có quay lại đây chạy xe ?” ta , nghiêng người về phía trước.

      ạ,” Kip trả lời.

      “Kìa Kip,” ta .

      “Cháu mà! Cháu biết nó ở đâu,” thằng bé hét lên.

      Người đàn bà nhún vai. “Biết tin ai và tin gì?” ta với Hamilton. “Tôi chỉ biết là Gilbert mất cái xe đạp.”

      GaryBerman và bố quay lại nhà bếp.

      “Roger là đứa nghĩ ra trò vần xe,” GaryBerman .

      “Cậu nghĩ ra có!” Roger , bật dậy khỏi ghế. “Cậu muốn làm chuyện đó! Rồi cậu muốn đem đến vườn cây và tháo đồ ra!”

      “Mày câm mồm !” Berman với Roger. “Chừng nào người ta chưa chuyện với mày đừng , oắt con ạ. Gary, để bố lo chuyện này – đêm hôm mà bị mấy thằng vô lại lôi ra khỏi nhà! Giờ nếu trong hai đứa mày,” Berman , nhìn Kip trước rồi nhìn Roger, “biết cái xe đạp của thằng nhóc này ở đâu tao khuyên chúng mày mở mồm .”

      “Tôi nghĩ mất bình tĩnh rồi,” Hamilton .

      “Gì?” Berman , sầm mặt lại. “Còn tôi nghĩ là lo chuyện của !”

      nào Roger,” Hamilton , đứng dậy. “Kip, cháu muốn cùng hay ở lại.” quay sang người đàn bà. “Tôi biết tối nay chúng ta còn làm được gì nữa. Tôi dự định chuyện thêm với Roger về chuyện này, nhưng nếu phải bồi thường tôi nghĩ là, vì Roger có tham gia đập phá cái xe, nên nó có thể trả phần ba nếu chuyện phải đến mức đó.”

      “Tôi biết gì,” người đàn bà trả lời, theo Hamilton ra phòng khách. “Tôi chuyện lại với bố của Gilbert – ấy vắng. Chúng tôi tính xem. Rốt cuộc chắc cũng đâu đó thôi, nhưng cứ để tôi chuyện với bố nó.”

      Hamilton tránh ra bên để mấy thằng bé có thể qua mặt ra cổng, nghe tiếng GaryBerman từ phía sau, “Nó con là đồ ngu, bố.”

      “Nó dám như vậy hả?” Hamilton nghe Berman . “Hừ, nó là đồ ngu. Nhìn nó giống như thằng ngu.”

      Hamilton ngoảnh lại , “Tôi nghĩ tối nay thực mất bình tĩnh rồi đó, Berman. Sao tự kiềm chế mình?”

      “Còn tôi bảo tôi nghĩ nên tránh khỏi chuyện này!” Berman .

      “Con về nhà Roger,” Hamilton , liếm môi. “Bố ra lệnh đấy,” , “ .” Roger và Kip bước ra lối hè. Hamilton đứng án ngay cửa nhìn Berman cùng con trai qua phòng khách.

      Hamilton,” người đàn bà bắt đầu lo lắng nhưng hết câu.

      muốn gì?” Berman . “Coi chừng đó, tránh đường ra.” Berman huých vai Hamilton khiến Hamilton loạng choạng văng ra khỏi cổng vào bụi cây gai nhọn. tin nổi chuyện ấy xảy ra. lồm cồm ra khỏi bụi cây và lao vào người đàn ông đứng ngay cổng. Họ ngã uỳnh ra bãi cỏ. Họ lăn bãi cỏ, Hamilton vật ngửa Berman ra và dằn đầu gối hai bên bắp tay của Berman. nắm cổ Berman và bắt đầu giộng đầu Berman xuống bãi cỏ người đàn bà la, “Ôi Chúa ơi, ai đó can họ ra. Lạy Chúa, ai đó gọi cảnh sát !”

      Hamilton dừng lại.

      Berman nhìn lên , “Bỏ tao ra.”

      “Các có sao ?” người đàn bà hỏi hai người đàn ông khi họ buông nhau ra. “Lạy chúa,” ta . nhìn hai người đàn ông đứng cách mấy thước, quay lưng vào nhau thở hổn hển. Mấy đứa trẻ lớn hơn bâu lại quanh cổng xem; giờ chuyện xong, chúng chờ đợi, nhìn hai người đàn ông, và chúng bắt đầu vờ đấm lên cánh tay và mạn sườn của nhau.

      “Mấy đứa vào nhà ngay,” người đàn bà . “Tôi chưa bao giờ nghĩ tôi thấy chuyện như thế này,” ta và đặt tay lên ngực.

      Hamilton toát mồ hôi, phổi nóng rát khi cố hít hơi dài. Có cục gì đó trong cổ họng nên thể nuốt. bắt đầu bộ, con trai và thằng bé tên Kip hai bên. nghe thấy tiếng cửa xe đóng sầm, tiếng máy nổ. Đèn xe quét qua người trong khi .

      Roger thút thít, còn Hamilton khoác tay qua vai con trai.

      “Cháu phải về nhà,” Kip và bắt đầu khóc. “Bố cháu tìm,” và thằng bé chạy .

      “Bố xin lỗi,” Hamilton . “Bố xin lỗi vì để con phải nhìn thấy những chuyện như vậy,” Hamilton với con.

      Họ tiếp tục và khi về đến dãy nhà của họ, Hamilton bỏ tay ra.

      “Nếu giơ dao lên sao bố? Hay giơ gậy lên?”

      làm như vậy đâu,” Hamilton .

      “Nhưng nếu làm?” con .

      “Khó mà biết người ta làm gì khi giận dữ,” Hamilton .

      Họ bắt đầu về cửa nhà. Tim xao động khi nhìn thấy ô cửa sổ sáng đèn.

      “Cho con xem cơ bắp của bố,” con .

      phải bây giờ,” Hamilton . “Con vào ăn tối rồi ngủ nhé. mẹ bố sao, chỉ ngồi ở cổng lát thôi.”

      Thằng bé nhảy cẫng lên ngắm bố, rồi phóng ào vào nhà gọi, “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”

      ngồi ở cổng tựa vào tường ga ra duỗi chân ra. Mồ hôi trán khô. cảm thấy nhơm nhớp dưới lớp quần áo.

      Có lần từng nhìn thấy bố người vai còng, chậm, xanh tái – rơi vào tình huống giống như thế này. Đó là kỷ niệm tồi tệ - cả hai người đều bị thương. Chuyện xảy ra trong quán cà phê. Người kia là công nhân đồn điền. Hamilton rất bố và còn nhớ nhiều điều về ông. Nhưng bây giờ chỉ nhớ nắm đấm của bố như thể đó là mọi thứ của bố .

      Khi vợ ra vẫn còn ngồi bên cổng.

      “Chúa ơi,” chị vợ và ôm lấy đầu . “Vào nhà tắm, rồi mình ăn tối và kể lại chuyện nhé. Đồ ăn vẫn còn ấm. Roger ngủ rồi.”

      Nhưng nghe tiếng con gọi .

      “Nó vẫn còn thức,” chị .

      “Chốc vào ngay,” Hamilton . “Rồi có lẽ mình uống chút gì nhé.”

      Chị lắc đầu. “Thực em tin nổi chuyện này.”

      vào phòng con trai và ngồi ở chân giường.

      “Muộn lắm rồi mà con vẫn còn thức, nên bố vào chúc con ngủ ngon thôi,” Hamilton .

      “Chúc bố ngủ ngon,” cậu bé , hai tay gác sau cổ, cùi chỏ khuỳnh ra.

      Nó mặc pyjama và nó tỏa ra mùi sạch nồng khiến Hamilton hít mạnh. vỗ con trai qua lớp chăn.

      “Từ giờ trở coi như xong xuôi rồi nhé. Tránh xa cái khu đó, và bố muốn nghe thấy con làm hư xe đạp hay bất cứ đồ đạc gì của ai khác. chưa?” Hamilton .

      Cậu bé gật đầu. cầm lấy hai tay nó gối xuống dưới cổ và nhặt cái gì đó khăn trải giường.

      “Ok, thôi,” Hamilton , “chúc con ngủ ngon.”

      định nghiêng người hôn con cậu bé lên tiếng.

      “Bố, ông nội có mạnh như bố ? Ý con là khi ông nội bằng tuổi bố, và bố…”

      “Và bố chín tuổi chứ gì? Ý con vậy đúng ? Có, bố nghĩ ông nội cũng mạnh như vậy,” Hamilton .

      “Đôi khi con hầu như thể nhớ ông,” cậu bé . “Con muốn quên gì về ông hết, bố biết ? Bố biết con muốn , bố?

      Khi Hamiltonkhông trả lời ngay, cậu bé tiếp. “Hồi bố còn bé, ông nội với bố có giống bố với con ? Bố có ông nhiều hơn con ? Hay bằng nhau?” Cậu bé đột ngột . Nó ngọ nguậychân dưới chăn và nhìn lảng . Khi thấy Hamilton vẫn trả lời, nó , “Ông nội có hút thuốc ? Con nhớ ông có cái tẩu hay sao ấy.”

      “Trước khi mất ít lâu ông nội có bắt đầu hút tẩu, đúng vậy,” Hamilton . “Ông từng hút thuốc từ lâu sau rồi đó ông bất mãn với chuyện gì đó nên ông bỏ, nhưng rồi ông đổi sang hiệu khác và hút trở lại. Bố cho con xem cái này,” Hamilton . “Ngửi mu bàn tay bố .”

      Cậu bé cầm lấy tay , ngửi, và , “Con ngửi thấy mùi gì hết, bố ạ. Gì thế?”

      Hamilton ngửi bàn tay rồi ngón tay mình. “Giờ bố cũng ngửi thấy mùi gì,” . “Nó từng có mùi, nhưng giờ hết rồi.” Chắc nó sợ mình, nghĩ. “Bố muốn cho con xem thứ. Nhưng thôi, muộn rồi. Con ngủ ,” Hamilton .

      Cậu bé lăn người nằm nghiêng dõi theo bố ra cửa và nhìn bố đặt tay lên công tắc điện. Và rồi cậu , “Bố? Bố nghĩ là con điên điên, nhưng con ước gì con quen biết bố khi bố còn bé. Ý con là bằng tuổi con bây giờ. Con biết thế nào, nhưng nghĩ tới đó con thấy đơn. Như thể là… như là con nhớ bố rồi nếu con nghĩ về chuyện đó bây giờ. Chuyện này hơi điên phải bố? Dù sao, bố cứ để cửa mở cho con.”

      Hamilton để cửa mở, rồi đổi ý và khép lại nửa chừng.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
      CÔNG TƠ MÉT NÀY CÓ CHẠY ĐÚNG ?


      Thực tế là chiếc xe cần được bán gấp, và Leo giao Toni làm việc đó. Toni thông minh và cá tính. từng bán bách khoa toàn thư trẻ em giao tận nhà. thuyết phục được , cho dù chẳng có con. Sau đó, Leo hẹn hò với Toni, và cuộc hẹn đó dẫn đến tình trạng giờ. Giao dịch này phải thực bằng tiền mặt, và nó phải được hoàn thành trong tối nay. Ngày mai ai đó có thể siết nợ cái xe. Thứ Hai họ ra tòa, còn nhà - nhưng tin tức về họ loang từ hôm qua, khi luật sư của họ gửi thư thông báo ý định phá sản . Chẳng việc gì phải lo phiên tòa thứ Hai, luật sư . Họ bị thẩm vấn phải ký số giấy tờ, và chỉ thế. Nhưng hãy bán chiếc xe mui xếp , ông ta - ngay hôm nay, ngay tối nay. Họ có thể giữ cái xe , xe của Leo, vấn đề gì. Nhưng nếu họ ra tòa với chiếc xe mui xếp to đó, tòa lấy, và thế là hết.

      Toni diện quần áo. Lúc đó là bốn giờ chiều. Leo lo bãi xe đóng cửa. Nhưng Toni cứ thong thả chọnquần áo. mặc cái áo trắng mới, cổ tay rộng thêu ren, bộ vest mới, giày cao gót mới. chuyển đồ từ cái túi cói sang cái xách tay da láng mới. Côngắm nghía túi đựng đồ trang điểm bằng da kỳ đà và cho nó vào luôn. Toni trang điểm mặt mũi tóc tai hai tiếng đồng hồ. Leo đứng ở của phòng ngủ cọ đốt tay vào môi, ngắm nhìn.

      làm em run,” . “Em ước gì đừng đứng ,” . “Vậy xem trông em thế nào.”

      “Trông em xinh,” . "Trông em tuyệt. mua xe của em bất kỳ lúc nào."

      "Nhưng có tiền," , ngắm mình trong gương. vuốt tóc, cau mày. "Và tình trạng tín dụng của thảm hại. chẳng là gì," . “Trêu thôi,” và nhìn qua gương. "Đừng nghiêm trọng quá," . "Việc phải làm, nên em làm. Giả thử mình đem cầm, cùng lắm được ba, bốn trăm đô, cả và em đều biết như thế. , là may mắn nếu phải trả cho họ." vuốt tóc lần cuối, bặm môi, dùng khăn giấy lau chỗ son lem. quay khỏi gương và cầm ví lên. "Em phải ăn tối hay gì đó, em bảo rồi, cách họ làm việc là như vậy, em biết họ. Nhưng đừng lo, em chuồn được," . "Em xử lý được."

      "Jesus " Leo , “em có cần phải như vậy ?”

      nhìn chăm chú. "Chúc em may mắn ," .

      "Chúc may mắn," . "Em có cái giấy cho thôi việc ở đó ?" .

      gật đầu. theo băng qua nhà, phụ nữ cao, ngực cao và , hông và đùi rộng. cào cái mụn cổ. "Em chắc ?" . "Phải chắc chắn đấy. Em phải mang theo cái giấy cho thôi việc."

      "Em có cái giấy đó rồi," .

      "Phải chắc chắn đấy."

      định gì đó, nhưng thay vì vậy nhìn mình trong kính cửa sổ mặt trước nhà rồi lắc đầu.

      "Ít nhất hãy gọi điện," . "Cho biết chuyện gì diễn ra."

      "Em gọi," . "Hôn, hôn. Ở đây," và chỉ tay vào khóe miệng. "Cẩn thận," .

      giữ cửa cho . "Em định thử ở đâu truớc?" . vượt qua ra cổng.

      Ernest Williams nhìn từ bên kia đường. Vận quần lửng, bụng phệ, ông vừa nhìn Leo và Toni vừa xịt tưới đám thu hải đường. Có lần vào mùa đóng vừa rồi, trong những ngày lễ, khi Toni và bọntrẻ về thăm mẹ Leo, Leo mang về nhà. Chín giờ sáng hôm sau, thứ Bảy sương mù giá lạnh, Leo đưa ta ra xe, làm Ernest Williams - lúc ấy vỉa hè với tờ báo tay - ngạc nhiên. Sương mù tan, Earnest Williams nhìn chằm chằm, rồi đập mạnh tờ báo vào chân.

      Leo nhớ lại cú đập đó, rụt vai lại, , "Em dự định chỗ nào trước rồi chứ?"

      "Em cứ tùy tình hình," . "Cứ đến bãi xe đầu tiên, rồi em liệu xem."

      "Cứ đặt giá khởi điểm là chín trăm," . "Rồi hạ xuống. Chín trăm là món hời, cho dù có phải trả tiền mặt."

      "Em biết phải bắt đầu từ đâu."

      Ernest Williamsxoay vòi nước về hướng họ. Ông nhìn họ chằm chằm qua tia nước xịt ra. Leo đột nhiên muốn thú tội.

      " chỉ muốn chắc," .

      "OK, OK," . "Em đây."

      Đó là xe của , họ gọi đó là xe của , và điều đó khiến việc tồi tệ hơn. Mùa hè cách đây ba năm họ mua nó, mới tinh. muốn làm gì đó sau khi bọn trẻ bắtđầu học nên quay lại công việc bán hàng. làm sáu ngày tuần tại nhà máy thủy tinh sợi. Có thời gian họ chẳng biết làm thế nào để tiêu tiền. Họ mua chiếc xe mui xếp, trả trước nghìn đô, rồi hằng tháng trả gấp đôi, gấp ba lần các khoản tiền trả góp nên trong vòng năm thanh toán xong. Trước đó, khi thay quần áo, lấy con đội và phụ tùng ra khỏi cốp xe cũng như dọn dẹp sạch bút chì, diêm, tem Blue Chip trong ngăn để găng tay. Rồi rửa xe và hút bụi. Cái nắp ca pô đỏ và cản sốc trông sáng loáng.

      "Chúc may mắn," và chạm khuỷu taycô.

      gật. thấy như rồi, vào cuộc thương lượng rồi.

      "Mọi chuyện rồi khác," gọi khi tới lối ra. "Thứ Hai mình khởi đầu lại. đấy."

      Earnest Williamsnhìn họ và quay đầu nhổ nước bọt. ngồi vào xe và châm điếu thuốc.

      "Giờ này tuần tới!" Leo lại gọi. " trở thành dĩ vãng cũ xưa!"

      vẫy tay khi lùi xe ra đường. sang số và bắt đầu chạy. tăng tốc, lốp xe rít .

      Trong bếp Leo rót ly rượuScotch rồi mang ra sân sau. Bọn trẻ con ở nhà mẹ . Cách đây ba ngày nhận được lá thư, tên được viếtbằng bút chì cái phong bì bẩn, lá thư duy nhất trong cả mùa hè cầu thanh toán đầy đủ. Thư viết, bọn con rất vui. Bọn con thích bà nội. Bọn con có chó mới tên là Ông Sáu. Nó dễ thương. Bọn con nó. Chào bố.

      lấy lên thêm ly. thêm đá và thấy tay mình run run. xòe tay bồn rửa bát. nhìn tay mình chốc, để ly xuống, rồi xòe tay kia ra. Rồi cầm ly lên quay ra ngoài ngồi mấy bậc thang. nhớ hồi còn bố chỉ căn nhà xinh xắn, ngôi nhà trắng, cao có những cây táo và hàng rào gỗ bao quanh. "Đó là nhà của Finch," bố giọng đầy ngưỡng mộ. "Ông ấy phá sản ít nhất hai lần. Nhìn nhà ông ấy kìa." Nhưng phá sản nghĩa là công ty sụp đổ hoàn toàn, các nhà quản lý cắt cổ tay và nhảy ra cửa sổ, hàng nghìn người phải dạt ra đường.

      Leo và Toni hãy còn đồ đạc. Leo và Toni có đồ đạc, còn Tom và bọn trẻ con có quần áo. Những thứ đó được miễn trừ. Còn gì nữa? Xe đạp của bọn trẻ, nhưng gửi cất ở nhà mẹ . Máy lạnh xách tay và đồ điện tử, máy giặt và máy sấy mới, cách đây nhiều tuần xe tải đến chở . Họ còn có gì nữa? Cái này cái nọ, chẳng có gì đáng kể, toàn nhữngthứ cũ mèm hoặc sứt mẻ từ lâu. Nhưng họ có những bữa tiệc tùng tưng bừng, những chuyến du lịch tốt đẹp. Đến Reno và Tahoe, chạy tám chục dặm giờ để mui trần và radio mở. Đồ ăn, đó là trong những thứ họ tiêu tốn nhiều. Họ ngập trong thực phẩm. ước chừng nội những món xa xỉ phải đến hàng nghìn. Toni ra tiệm vớ lấy tất cả thứ nhìn thấy. “Hồi em rất thiếu thốn,” . “Các con phải thiếu thốn,” như thể rằng chúng nên thiếu thốn. tham gia mọi câu lạc bộ đọc sách. "Hồi bé em chẳng bao giờ có sách," khi xé những cái gói bưu kiện nặng nề. Họ tham gia các câu lạc bộ băng đĩa nhạc để có thể mượn đĩa về nghe bộ dàn thanh mới. Họ mua đủ thứ. Kể cả con chó săn nòi tên là Ginger. trả hai trăm mua nó chỉ để hai tuần sau thấy nó bị cán ngoài đường. Họ mua những thứ họ muốn. Nếu trả được, họ mua chịu. Họ cứ mua.

      Áo lót ướt; cảm thấy mồ hôi lăn từ nách. ngồi bậc thềm với cái ly rỗng tay ngắm bóng chiều lấp dần khoảnh sân. duỗi người, lau mặt. nghe tiếng xe cộ xa lộ và nghĩ xem có nên xuống tầng hầm, leo lên cái bồn rửa, treo cổ bằng thắt lưng hay . biết mình sẵn lòng để chết.

      Vào trong nhà lấy cái ly to rồi mở ti vi vàkiếm gì đó ăn. ngồi ở bàn với ớt và bánh quy, xem phim gì đó về thám tử mù. dọn bàn. rửa chảo, tô, lau khô cất , rồi cho phép mình nhìn đồng hồ.

      hơnchín giờ. gần năm tiếng đồnghồ.

      rót rượu Scotch, thêm nước, mang ly vào phòng khách. ngồi sofa nhưng lại thấy vai cứng đến nỗi ngả ra mà dựa được. ngó màn hình đăm đăm, nhấp rượu, và chẳng mấy chốc lại rót ly khác. lại ngồi xuống. Chương trình tin tức bắt đầu - lúc đó là mười giờ - và , "Chúa ơi, cái quái gì hỏng bét đây?" rồi vào bếp để rót thêm rượu Scotch. ngồi đó, mắt nhắm, chỉ mở mắt khi nghe điện thoại reng.

      “Em muốn gọi điện,” .

      "Em ở đâu?" . nghe tiếng nhạc dương cầm, và tim xáo động.

      “Em biết nữa,” .“ chỗ nào đó. Bọn em uống, rồi bọn em chỗ khác ăn tối. Em ngồi với tay quản lý bán hàng. thô lỗ, nhưng cũng chơi được. mua xe. Em phải bây giờ. Em đường tới toa lét thấy điện thoại.”

      có ai mua xe chưa?" Leo . nhìn ra cửa sổ bếp tới chỗ xe vẫn luôn đỗ lối .

      "Em kể với rồi," . “Em phải bâygiờ.”

      "Khoan, phút thôi, lạy Chúa," . " có ai mua xe hay ?"

      "Lúc em đứng dậy rút tập séc ra," . "Bây giờ em phải . Em phải vào toa lét."

      "Đợi ," gào lên. Đường dây tắt ngấm. lắng nghe tiếng tít tít. “Đức Jesus,” đứng đó cầm ống nghe tay mà .

      vòng quanh bếp rồi trở ngược ra phòng khách. ngồi xuống. đứng lên. Vào phòng tắm chải răng kỹ. Rồi dùng chỉ nha khoa. rửa mặt rồi trở ra bếp. nhìn đồng hồ rồi lấy cái ly sạch từ bộ ly vẽ hình quân bài. bỏ đá vào ly. chằm chằm nhìn lúc lâu cái ly mà bỏ lại trong bồn.

      ngồi tựa vào đầu ghế sofa, chân gác lên đầu kia. nhìn màn hình, nhận ra rằng biết người ta gì. xoay cái ly rỗng trong tay và tính đến chuyện cắn mép ly. run rẩy đỗi và nghĩ đến chuyện ngủ, cho dù biết mơ thấy người đàn bà to lớn tóc bạc. Trong mơ luôn cúi xuống cột dây giày. Khi đứng thẳng dậy, bà ta nhìn , và lại cúi xuống cột dây lần nữa. nhìn tay mình. Trongkhi ngắm nhìn tay mình, bàn tay tự vo lại thành nắm. Điện thoại đổ chuông.

      "Em ở đâu đấy, em ?" nhàng thong thả.

      "Bọn em ở quán ăn," , giọng khỏe tươi tắn.

      "Quán nào vậy em?" . đưa cổ tay lên ấn vào mắt.

      "Ở đâu đó trong trung tâm thành phố," . "Hình như là quán New Jimmy. Xin lỗi," với ai đó, "chỗ này có phải là New Jimmy? Đây là New Jimmy, Leo," với . "Mọi chuyện ổn cả, bọn em gần xong rồi, rồi đưa em về."

      "Em?" . áp điện thoại vào tai lắc lư người tới lui, mắt nhắm. "Em?"

      “Em phải đây” . "Em muốn gọi. Dù sao nữa, đoán bao nhiêu?"

      "Em," .

      "Sáu trăm hai mươi lăm," . "Em cất trong ví rồi. xe xe mui xếp được ưa chuộng lắm. Em nghĩ bọn mình may mắn từ trong trứng," và cười. "Em kể cho nghe đầu đuôi câu chuyện. Em nghĩ em cần phải làm thế."

      "Em," Leo .

      "Gì cơ?" .

      "Xin em đấy," Leo .

      " thông cảm," . "Nhưng gì màchẳng được." lại cười. " cá nhân thà bị coi là ăn cướp hay hiếp dâm hơn là phá sản. Dù vậy, cũng khá tử tế," .

      "Về nhà ," Leo . "Bắt taxi mà về."

      " được," . "Em với rồi, bọn em ăn tối dở chừng."

      " đến đón em," .

      "Đừng," . "Em bọn em gần xong rồi. Em bảo, đó là phần của vụ này. Họ phải đòi hỏi mọi thứ chứ. Nhưng đừng lo lắng gì, bọn em sắp ra về. Chốc nữa là em về đến nhà." gác máy.

      Vài phút sau gọi đến quán New Jimmy. giọng đàn ông trả lời. "Tối nay New Jimmy đóng cửa," người đó .

      "Tôi muốn chuyện với vợ tôi," Leo .

      " ấy làm việc ở đây ?" người đó hỏi. “ ấy là ai?"

      " ấy là khách," Leo . " ấy cùng người. doanh nhân.”

      "Liệu tôi có biết ấy ?" người kia ." ấy tên gì?"

      “Chắc ông biết ây đâu,” Leo .

      "Thôi được rồi," Leo . "Thôi được rồi. Tôi thấy ấy rồi."

      "Cám ơn vì gọi đến New Jimmy," người kia .

      Leo vội vàng phóng tới cửa sổ. chiếc ô tô mà nhận ra chạy chậm lại trước nhà, rồi tăng tốc. đợi. Hai, ba tiếng sau, điện thoại lại đổ chuông. ai ở đầu dây bên kia khi nhấc máy. Chỉ có tiếng tít tít.

      " ở ngay đây!" Leo gào vào điện thoại.

      Gần sáng nghe tiếng chân ngoài cổng. Từ sofa đứng dậy. Ti vi lào rào, màn hình nhấp nháy. mở cửa. va vào tường khi vào nhà. nhoẻn cười. Mặt sưng sưng, như thể ngủ dưới tác dụng của thuốc an thần. liếm môi, thụp người xuống né khi vung nắm đấm.

      "Đánh ," giọng khàn khàn. đứng đó người lảo đảo. Rồi rít lên và nhào tới, túm áo , xé toạc vạt trước. "Phá sản!" gào. vặn lại, tóm lấy áo lót và xé ngay cổ. "Đồ chó đẻ," , cào .

      bóp cổ tay , rồi buông ra, lùi lại, tìm cái gì đó đằm tay. vấp ngã khi tiến vào phòng ngủ. "Phá sản," lẩm bẩm. nghe tiếng gieo mình xuống giường rên rẩm.

      đợi lúc, vã nước lên mặt và vào hòng ngủ. bật đèn lên, nhìn , và bắt đầu lột quần áo . vần lăn qua lăn lại để cởi quần áo. gì đó nhưng vẫn ngủ, tay vung vẩy. cởi quần lót , nhìn kỹ dưới ánh đèn, rồi quẳng vào góc phòng. kéo chăn ra rồi lăn vào, trần truồng. Rồi mở ví . đọc tấm séc nghe có tiếng xe rẽ vào nhà.

      nhìn qua rèm cửa trước thấy chiếc xe mui xếp trước nhà, tiếng nổ êm, đèn trước sáng chói, khiến nhắm rồi mở mắt. thấy người đàn ông dáng cao vòng trước mũi xe đến trước cổng. Người đàn ông để cái gì đó bậc thềm rồi quay ra xe. mặc bộ vest bằng vải lanh trắng.

      Leo bật đèn cổng lên và thận trọng mở cửa. Túi trang điểm của vợ nằm ở bậc cùng. Người đàn ông nhìn Leo qua mũi xe, rồi ngồi vào trong xe và thả thắng tay.

      "Đợi ," Leo gọi và bước xuống bậc cấp. Người đàn ông thắng xe khi Leo bước tới trong ánh đèn xe. Chiếc xe bị thắng kêu rin rít. Leo cố kéo hai mảnh áo rách lại với nhau, cố nhét vào quần.

      " muốn gì?" người đàn ông . "Nghe này," người đàn ông , "tôi phải đây. Đừng giận dữ. Tôi mua bán xe, thế nhé? Quý kia để quên túi trang điểm. ấy là quý dễ thương, rất lịch . Cái gì đấy?"

      Leo tựa cửa nhìn người đàn ông. Người đàn ông bỏ tay khỏi vô lăng và rồi gác tay lên lại. sang số lùi, lùi được đoạn.

      “Tôi muốn với ông,” Leo và liếm môi.

      Đèn phòng ngủ nhà Earnest Williams bật sáng. Mành cửa được kéo lên.

      Leo lắc đầu, lại nhét áo vào quần. bước lui khỏi xe. "Hôm nay là thứ Hai," .

      "Hôm nay là thứ Hai," nguòi đàn ông , mắt dè chừng những cử động bất ngờ.

      Leo chầm chậm gật đầu.

      "Thôi, chúc ngủ ngon," người đàn ông và ho. "Thoải mái nhé? Thứ Hai, đúng rồi. OK vậy." bỏ chân khỏi thắng, rồi lại đạp thắng khi xe trôi lui cả thước. "Hây, câu hỏi thôi. Xem như chỗ bạn bè, cho tôi hỏi công tơ mét này chạy có đúng ?" Người đàn ông chờ đợi, hắng giọng. "OK, dù sao nữa cũng quan trọng lắm," người đàn ông . "Tôi phải đây. Thoải mái nhé." lùi xe ra đường, nhanh chóng lái , rồi rẽ ở góc đuờng mà hề dừng lại.

      Leo nhét áo vô quần rồi vào nhà. khóatruớc, xong kiểm tra cẩn thận. Rồi vào phòng ngủ khóa cửa và lật chăn lên. nhìn trước khi tắt đèn. cởi quần áo, xếp lại cẩn thận sàn, rồi vào giường nằm cạnh . nằm ngửa lát giật giật lông bụng, ngẫm nghĩ. nhìn ra cửa phòng ngủ hơn dưới ánh sáng yếu ớt từ ngoài hắt vào. Giờ thò tay ra chạm hông . sờ hông và cảm thấy vết rạn da ở đó. Chúng như những con đường, và lần theo chúng trong da thịt . lùa tay lên xuống, từng ngón . Chúng chạy khắp nơi cơ thể , hàng chục, có lẽ hàng trăm con đường. nhớ lại lần thức dậy vào buổi sáng sau khi họ mua xe, nhìn thấy nó, ở đó trước nhà, dưới ánh nắng, lóng lánh.


        NHỮNG DẤU HIỆU


      Wayne và Caroline tới quán Aldo, tiệm ăn lịch mới mở cửa ở khá xa về mạn Bắc, phần đầu trong kế hoạch chơi sang của họ tối hôm đó. Họ băng qua khu vườn có tường bao và những bức tượng , được người đàn ông cao tóc hoa râm mặc đồ sẫm đón, ông ta , "Xin chào quý ông bà," và đẩy cánh cửa nặng cho họ.

      Vào trong, đích thân Aldo mời họ xem vườn chim - con công, đôi trĩ vàng, con trĩ Trung Hoa cổ đỏ, và số con khác tên bay quanh hay đậu cành. Aldo tự tay đưa họ đến bàn, kéo ghế mời Caroline ngồi, xong quay sang Wayne , " quý bà đáng ," trước khi khỏi - đó là người da sẫm, con, hoàn hảo, có giọng mềm mại.

      Họ vui vì được ông chú ý.

      " đọc báo thấy ông ấy có ông chú có chức tước gì đó ở Vatican," Wayne ,. Đó là lý do ông ta có phiên bản của mấy bức tranh này. Wayne hất đầu về phía bức tranh chépVelasquez bức tường gần nhất. "Chú của ông ấy ở Vatican," Wayne .

      ''Ông ấy từng là maĩtre d’ [1] của khách sạn Copacabana ở Rio," Caroline . "Ông ấy quen biết Frank Sinatra, và Lana Turner là bạn tốt của ông ấy."

      [1]:Tiếng Pháp trong nguyên bản, viết tắt của maĩtre d’hôtel, nghĩa là “quản lý”

      "Thế à?" Wayne . " biết chuyện đó. đọc báo thấy ông ấy từng làm ở khách sạn Victoria bên Thụy Sĩ và khách sạn lớn khác bên Paris. biết ông ấy làm cho Copacabana ở Rio."

      Caroline khẽ đong đưa túi xách khi người hầu bàn đặt bộ cốc nặng trịch xuống. ta rót nước xong liền về phía sau Wayne.

      "Em thấy bộ đồ ông ấy mặc ?" Wayne . “Chẳng mấy khi thấy bộ vest như vậy đâu. Bộ đó ba trăm đô đấy.” cầm menu lên. lát sau, , "Sao, em định gọi món gì?"

      "Em biết," . "Em chưa quyết định. gọi món gì?"

      biết,” . " cũng chưaquyết định."

      " trong mấy món kiểu Pháp này sao,Wayne? Hay là món này? Phía bên này này." trỏ ngón tay và nheo mắt nhìn trong khi đọcmenu, mím môi, cau mày, lắc đầu.

      " biết nữa," . " muốn biết đại để món đó trông ra sao. thực biết."

      Người hầu bàn quay lại cầm theo phiếu và bút, gì đó mà Wayne hiểu lắm.

      “Chúng tôi chưa quyết định,”Wayne . lắc đầu khi người hầu bàn vẫn đứng bên cạnh. “Tôi ra hiệu cho khi chúng tôi sẵn sàng.”

      "Chắc gọi món thăn bò. Em muốn ăn gì gọi," Wayne với Caroline khi người hầu bàn chỗ khác. gấp menu lại và nâng cốc. có thể nghe tiếng líu lo từ phía vườn chim trỗi lên khỏi tiếng rì rào từ các bàn khác. thấy Aldo đón nhóm bốn người, trò chuyện với họ, mỉm cười, gật đầu chào và đưa họ tới bàn.

      "Lẽ ra mình có thể có bàn khác tốt hơn," Wayne . "Thay vì ngay chính giữa ai cũng có thể ngang và nhìn mình ăn. Lẽ ra mình có thể có bàn sát tường. Hoặc gần đài phun nước đằng kia."

      "Chắc em gọi món bò Tournedos," Caroline .

      vẫn nhìn vào menu. lấy điếu thuốc ra, châm thuốc, liếc quanh nhìn những thực khách khác. Caroline vẫn đăm đăm nhìn vào menu.

      "Này, Chúa ơi, nếu em định gọi món đó gấp menu lại để ta còn ghi món nữa." Wayne giơ tay vẫy người hầu bàn loanh quanh phía sau chuyện với hầu bàn khác.

      " chẳng có chuyện gì để làm ngoài tán nhảm với mấy đứa hầu bàn khác," Wayne .

      " ta tới," Caroline .

      "Vâng thưa ngài?" Người hầu bàn là chàng gầy mặt rỗ, mặc bộ đồ đen thùng thình và đeo cái nơ đen.

      “…Và chúng tôi gọi chai sâm banh, tôi nghĩ vậy. chai . Loại, ừm, nội địa," Wayne .

      “Vâng, thưa ngài,” người hầu bàn .

      "Và mang ra ngay nhé. Mang ra trước món xa lát hay đĩa khai vị," Wayne .

      "Ồ, dù sao nhớ vui lòng mang khay khai vị nhé," Caroline .

      "Vâng, thưa bà," người hầu bàn .

      “Toàn dân láu cá,”Wayne . "Em có nhớ chàng tên Bruno từng làm việc ở văn phòng trongtuần và chạy bàn dịp cuối tuần ? Fred bắt gặp nó chôm tiền mặt. Bọn đuổi nó rồi."

      " chuyện gì tươi vui ," Caroline .

      "Cũng được," Wayne .

      Người hầu bàn rót sâm banh vào ly của Wayne, Wayne nhấc ly, nếm, , "Tốt, cái này hợp đấy." Rồi , "Ly này cho em," và nâng cao ly. "Chúc mừng sinh nhật."

      Họ chạm ly.

      "Em thích sâm banh," Caroline .

      thích sâm banh,”Wayne .

      "Lẽ ra mình có thể gọi chai Lancer," Caroline .

      "Hừm, sao lúc nãy em gì, nếu em muốn gọi loại đó?" Wayne .

      "Em biết," Caroline . "Em chỉ nghĩ tới. Dẫu sao cái này cũng được."

      " rành sâm banh lắm. ngần ngại thú nhận rằng phải loại... sành sỏi. ngại thừa nhận mình chỉ là kẻ hạ tiện." cười phá cố đón ánh mắt , nhưng mải tìm quả ô liu trong món khai vị. “ giống như cái hội mà dạo gần đây em chơi cùng đâu. Nhưng nếu em muốn uống Lancer,” tiếp tục, "thìlẽ ra em nên gọi Lancer."

      "Ôi im !" . " chuyện gì khác được sao?" ngẩng nhìn khiến phải nhìn chỗ khác. nhúc nhích chân dưới gầm bàn.

      , “Em muốn thêm tí sâm banh ,em?”

      "Vâng, cám ơnanh," khẽ .

      "Ly này cho chúng ta," .

      "Cho chúng ta, ," .

      Họ nhìn nhau rời mắt trong khi uống.

      "Mình nên làm thế này thường xuyên hơn," .

      gật đầu.

      "Thỉnh thoảng chơi tí cũng tốt. cố gắng hơn, nếu em muốn thế."

      với lấy cần tây. "Tùy thôi."

      đúng. phải là… là…"

      " là sao?" .

      " quan tâm em làm cái gì," , hạ mắt xuống.

      " ?"

      biết tại sao thế,” .

      Người hầu bàn mang xúp ra, dọn chai sâm banh và ly uống rượu , xong rót thêm nuớc vào cốc họ.

      "Cho tôi cái thìa ăn xúp nhé?" Wayne hỏi.

      "Dạ sao ạ?"

      "Thìa ăn xúp,"Wayne nhắc lại.

      Nguời hầu bàn trông ngạc nhiên và bối rối. ta liếc nhìn các bàn khác. Wayne ra dấu xúc bát xúp. Aldo xuất bên cạnh bàn.

      "Mọi chuyện có ổn ? Có chuyện gì bất ổnà?"

      "Dường như chồng tôi có thìa ăn xúp," Caroline . "Xin lỗi vì quấy rầy," .

      "Dĩ nhiên. Une cuiller, s'il vous plaĩt [1] ," Aldo với người hầu bàn bằng giọng đều đều. Ông nhìnWayne cái rồi giải thích với Caroline, "Đây là đêm làm việc đầu tiên của Paul. Cậu ta bập bẹ tiếng , nhưng tôi tin quý khách đồng ý cậu ta là phục vụ xuất sắc. Cậu bé dọn bàn quên sắp thìa." Aldo mỉm cười. "Vì thế Paul rất ngạc nhiên."

      [1] :Tiếng Pháp trong nguyên bản: Xin lấy cho cái thìa.

      "Chỗ này là đẹp," Caroline .

      "Cám ơn," Aldo . "Tôi rất vui vì ông bà đến dây tối nay. Ông bà có muốn xem phòng giữ rượu vang và phòng ăn riêng ?"

      "Có, rất muốn," Caroline .

      "Tôi cho người đưa ông bà xem sau khi ông bà dùng xong bữa tối," Aldo .

      '”Chúng tôi nóng lòng muốn xem,”Caroline .

      Aldo khẽ gập người chào và lại nhìn Wayne. "Tôi hy vọng ông bà thích thú với bữa ăn," ông với họ.

      “Cái thằng ngu,”Wayne .

      "Ai?" . " ai?" , bỏ thìa xuống.

      “Thằng chạy bàn,”Wayne . "Thằng chạy bàn. Thằng mới nhất và ngu nhất trong quán, và mình vớ phải nó."

      "Ăn xúp ," . “Đừng nổi khùng.”

      Wayne châm điếu thuốc. Người hầu bàn mang món xa lát đến và mang bát xúp .

      Khi bắt đầu ăn món chính, Wayne , "Sao, em nghĩ gì? Có cơ hội nào cho mình hay ?" nhìn xuống, sửa lại khăn ăn đùi.

      "Có thể," . "Luôn luôn có cơ hội."

      “Đừng vớ vẩn như thế,” . "Trả lờithẳng thắn lần ."

      “Đừng to tiếngvới em,”cônói.

      hỏi em,” . "Trả lời thẳngthắnđi," .

      , " muốn cam kết gì đó ký bằng máu hả?"

      , "Ý tưởng đó cũng tồi."

      , " nghe này! Em dành cho những năm tháng đẹp nhất của đời em. Những năm tháng đẹp nhất của đời em!"

      "Những năm tháng đẹp nhất của đời em?" anhnói.

      “Em ba mươi sáu tuổi,” . "Ba mươi bảy đêm nay. Đêm nay, ngay bây giờ, ngay phút này, em thể được em định làm gì. Em phải xem ," .

      " quan tâm em làm gì," .

      " vậy sao?" .

      ném nĩa xuống và vò khăn ăn bàn.

      " xong chưa?" nhàng hỏi. "Uống cà phê và ăn tráng miệng . Mình gọi món tráng miệng nào ngon. Món gì đó ngon ngon."

      ăn hết mọi thứ đĩa.

      "Hai tách cà phê," Wayne với ngưòi hầu bàn. nhìn và lại nhìn người hầu bàn. "Tráng miệng có món gì?"

      "Vâng ạ?"

      "Tráng miệng!" Wayne .

      Nguời hầu bàn nhìn Caroline rồi nhìn Wayne.

      " cần tráng miệng," . "Mình khỏi ăntráng miệng."

      "Bánh sô la," ngườihầu bàn . "Kem cam," nguời hầu bàn . mỉm cười, phô hàm răng xấu. "Ngài dùng gì ạ?"

      "Và muốn tham quan chỗ này," Wayne khi người hầu bàn khỏi.

      Khi đứng dậy, Wayne thả tờ đô la gần tách cà phê của . Caroline lấy hai đô la từ túi xách của mình, vuốt thẳng thớm rồi để bên cạnh đồng kia, ba tờ tiền nằm thẳng hàng.

      cùng Wayne đứng đợi khi trả tiền. Wayne liếc thấy Aldo đứng cạnh cửa rắc hạt ngũ cốc vào trong vườn chim. Aldo nhìn về phía họ, mỉmcười, rồi rũ những hạt bám ngón tay trong khi lũ chim mổ hạt trước mặt ông. Xong ông vội vàng phủi hai tay vào nhau và tiến lại phía Wayne, còn Wayne nhìn lảng , xoay người nhưng ràng khi Aldo lại gần. Nhưng khi Wayne nhìn lại, thấy Aldo bắt tay Caroline, thấy Aldo chập hai gót chân vào nhau kiểu cách, thấy Aldo hôn lên cổ tay .

      "Quý bà có thích bữa tối ạ?" Aldo .

      "Tuyệt vời,” Caroline .

      "Thỉnh thoảng bà quay lại chứ?" Aldo .

      "Tôi quay lại," Caroline . "Bất cứ khi nào có thể. Lần tới, chắc tôi xin phép ông xem vòng quanh, nhưng lần này chúng tôi phải rồi."

      "Thưa quý bà," Aldo . "Tôi có cái này cho bà. Vui lòng đợi trong giây lát." Ông với lọ hoa bàn gần cửa và duyên dáng thu người lại với cành hồng dài tay.

      "Dành tặng quý bà," Aldo . "Nhưng hãy cẩn thận. Gai. quý bà rất đáng ," ông với Wayne và cười với rồi quay sang chào đôi khác.

      Caroline đứng đó.

      "Hãy ra khỏi đây," Wayne .

      " có thể thấy tại sao ông ấy có thể kết bạn với Lana Turner," Caroline . cầm cành hoa, xoay xoay nó giữa mấy ngón tay.

      "Chào tạm biệt," gọi Aldo từ phía sau.

      Nhưng Aldo bận rộn chọn cành hồng khác.

      " nghĩ ông ấy chưa bao giờ quen biết bà ta,”Wayne .


        EM LÀM ƠN IM , ĐƯỢC ?



                  1


      Khi Ralph Wyman mười tám tuổi và lần đầu tiên xa nhà, cha , hiệu trưởng Trường tiểu học Jefferson và là cây trumpet solo trong ban nhạc của Câu lạc bộ Weaverville Elks, dạy rằng đời là chuyện nghiêm chỉnh, cuộc mạo hiểm đòi hỏi mạnh mẽ và chí hướng ở người trẻ tuổi vừa mới khởi , con đường lắm chông gai, đó là điều ai cũng biết, nhưng cũng nhiều tưởng thưởng, cha Ralph Wyman tin vào điều đó và bảo thế.

      Nhưng khi ở đại học Ralph mù mờ về phương hướng. vừa nghĩ rằng mình muốn trở thành bác sĩ vừa nghĩmìnhmuốn trở thành luật sư, học vài khóa y khoa sơ cấp, vài khóa về lịch sử pháp quyền và luật kinh doanh, nhưng rồi xác định rằng mình chẳng có trơ lì cần thiết cho ngành y lẫn khả năng đọc triền miên cho ngành luật, đặc biệt là khi phải đọc về tài sản và thừakế. Mặc dù thỉnh thoảng đăng ký học các lớp về khoa học và kinh doanh, Ralph vẫn học cả các lớp triết học và văn chương và cảm thấy mình như ngưỡng của tự khám phá lớnlao. Nhưngđiều ấy chẳng bao giờ đến. Chính trong thời gian này, khoảng thời gian sa sút nhất như về sau tự nhận, Ralph tin rằng gần như sụp đổ; đàn đúm và đêm nào cũng say bét nhè. uống nhiều đến độ tiếng tăm nổi như cồn và mọi người gọi là "Jackson", theo tên người bartender ở quán The Keg.

      Rồi, năm thứ ba đại học, Ralph bắt đầu chịu ảnh hưởng của giáo sư có sức lôi cuốn đặc biệt. Đó là tiến sĩ Maxwell; Ralph bao giờ quên ông được. Ông đẹp trai, duyên dáng, trạc ngoài bốn mươi, phong thái tinh tế, giọng phảng phất chất miền Nam. Ông từng học ở Vanderbilt, nghiên cứu ở châu Âu, rồi cộng tác với vài tạp chí văn chương bên bờ Đông. Sau này Ralph bảo gần như chỉ qua đêm là quyết định theo nghề dạy học. bỏ rượu, bắt đầu chú tâm học hành, và chỉ trong năm được bầu vào Omega Psi, hội thân hữu báo chí toàn quốc; trở thành hội viên Câu lạc bộ tiếng ; được mời tới dự cùng cây đàn cello mà ba năm sờ đến, tham gia nhóm nhạc thính phòng sinh viên vừa mới thành lập; thậm chícòn đắc cử chức thư ký của lớp vào năm cuối. Đúng lúc đó gặp Marian Ross - mảnh mai xinh xắn với nước da nhạt màu, người ngồi cạnh trong lớp học về Chaucer.

      Marian Ross để tóc dài, thích mặc áo thun cao cổ và luôn đeo túi xách da dây dài đong đưa vai. Đôi mắt to, như thâu hết mọi vật vào trong cái nhìn. Ralph thích chơi với Marian Ross. Họ cùng đến quán The Keg và vài chỗ khác mà mọi người hay đến, nhưng họ bao giờ để chuyện chơi hay chuyện đính hôn mùa hè năm sau len vào chuyện học. Họ là những sinh viên nghiêm túc, và hai bên cha mẹ cuối cùng tán thành chuyện hai người. Mùa xuân, họ cùng thực tập tại trường trung học ở Chico, và vào tháng Sáu, họ cùng vượt qua kỳ thi tốt nghiệp. Hai tuần sau họ làm đám cưới ở nhà thờ St. James thuộc Tân giáo.

      Đêm trước đám cưới, tay trong tay, họ nguyện mãi mãi giữ gìn niềm hứng khởi và vẻ bí của cuộc sống hôn nhân.

      Họ lái xe đến Guadalajara hưởng tuần trăng mật và mặc dù cả hai thấy thích thú khi viếng thăm những nhà thờ đổ nát và những bảo tàng tranh tối tranh sáng cũng như những chiều mua sắm, khámphá chợ búa, Ralph thầm kinh sợ tình trạng bẩn thỉu và phóng đãng công khai mà nhìn thấy, và muốn nhanh quay vềvới an toàn của California. Nhưng cái cảnh tượng mà luôn nhớ và cũng làm cảm thấy bất an nhất chẳng liên quan gì đến Mexico cả. Đó là buổi chiều muộn, gần như là tối, Marian đứng chống tay bất động tì lên hàng lan can sắt của casita [1] họ thuê trong khi Ralph về từ con đường bụi mù bên dưới. Mái tóc xõa dài trước vai, nhìn mà nhìn vào cái gì đó xa xăm. mặc váy trắng, choàng khăn màu đỏ tươi quanh cổ, và có thể nhìn thấy ngực phập phồng sau lớp vải trắng. kẹp chai rượu vang sẫm dán nhãn dưới cánh tay, và cảnh tượng này gợi lên ởRalph cái gì đó như trong cuốn phim, khoảnh khắc hết sức kịch tính mà Marian vào vai trọn vẹn còn .

      [1] :Tiếng Tây Ban Nha trong nguyên bản: ngôi nhà

      Trước khi hưởng tuần trăng mật họ nhận dạy ở trường trung học ở Eureka, thị trấn thuộc vùng chuyên đốn gỗ ở phía Bắc tiểu bang. Được năm, sau khi họ thấy chắc chắn rằng ngôi trường và thị trấn này đúng là nơi họ muốn gắn bó, họ mua ngôi nhà ở quận Fire Hill. Ralph cảmthấy, mà cần thực nghĩ ngợi nhiều, rằng và Marian hiểu nhau cách hoàn hảo - ít nhất đến mức mà hai con người có thể hiểu được về nhau. Hơn nữa, Ralph cảm thấy tự hiểu mình - cái gì có thể làm, cái gì , và về đâu bằng đánh giá thận trọng về bản thân.

      Hai con của họ tên là Dorothea và Robert, giờ đứa năm tuổi, đứa bốn tuổi. Vài tháng sau khi sinh Robert, Marian được mời làm giáo viên tiếng Pháp và tiếng trường trung cấp ngoài rìa thị trấn, còn Ralph vẫn dạy ở trường trung học. Họ tự cho mình là đôi hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân của họ cho đến giờ này chỉ có trục trặc duy nhất xảy ra lâu rồi, vào mùa đông cách đây hai năm. Kể từ đó họ chưa bao giờ nhắc lại. Nhưng đôi khi Ralph nghĩ về chuyện ấy - lòng, phải thừa nhận rằng càng ngày càng hay nghĩ về chuyện ấy. Những hình ảnh ghê sợ ngày càng trong mắt , những chi tiết thể chịu đựng được. Vì đinh ninh rằng vợ từng lần phản bội với gã tên là Mitchell Anderson.

      Nhưng bây giờ là đêm Chủ nhật tháng Mười , bọn trẻ ngủ say còn Ralph cũng buồnngủ, ngồi ghếsofa chấm bài, tiếng radio văng vẳng ra từ nhà bếp nơi Marian là quần áo, và cảm thấy hạnh phúc ngập tràn. ngắm nhìn tập bài trước mặt lúc rồi xếp chúng lại và tắt đèn.

      "Xong rồi hả ?" Marian mỉm cười hỏi khi vào nhà bếp. ngồi cái ghế cao, và dựng đứng bàn là dậy như thể đợi sẵn .

      "Còn lâu," nhăn mặt , vứt xấp bài lên bàn bếp.

      bật cười - cái cười rạng rỡ, vui sướng - ngẩng mặt lên đợi được hôn, và hôn lên má . kéo ghế ngồi xuống, ngả người ra sau tì chân ghế ngắm vợ. lại mỉm cười rồi hạ mắt xuống.

      " hơi buồn ngủ," .

      "Cà phê nhé?" hỏi, chồm người qua và lấy mu bàn tay chạm vào bình pha cà phê.

      lắc đầu.

      cầm điếu thuốc cháy dở trong gạt tàn lên, rít hơi trong lúc nhìn xuống sàn nhà, rồi đặt điếu thuốc lên lại cái gạt tàn. nhìn chồng, nét ấm áp tràn gương mặt. cao, vóc nguời mềmmại, ngực cao, eo thon, và cặp mắt to, tuyệt vời

      " có bao giờ nghĩ về bữa tiệc ấy ?" côhỏi, vẫn nhìn .

      giật mình ngọ ngoạy trong ghế, và , “Bữa tiệc nào? Em định bữa tiệc cách đây hai, banăm?”

      gật đầu.

      đợi, và khi thấy giải thích gì thêm, , "Có chuyện gì? Sao em mang chuyện đó ra, có chuyện gì thế?" Rồi tiếp: "Rốt cuộc là đêm đó ta hôn em, đúng ? Ý là, biết ta hôn em. ta cố hôn em, hay là ?"

      “Em chỉ nghĩ về chuyện đó và em hỏi , có thế thôi,” . “Thỉnh thoảng em nghĩ về chuyện đó,” .

      "Hừm, ta hôn em, phải . Thôi nào, Marian," .

      " có bao giờ nghĩ về đêm hôm ây ?" .

      , " hẳn. Chuyện đó lâu rồi, đúng ? Cách đây ba hay bốn năm. Bây giờ em kể nghe được rồi đấy. vẫn là chàng Jackson ngày xưa mà em từng tâm , nhớ ?" Cả hai đột nhiên cùng bật cười rồi đột nhiên bảo: "Có," , “ ta có hôn em mấy cái,” mỉm cười.

      biết nên cố mỉm cười cùng , nhưng thể. bảo, "Thế mà trước đây em bảo là ta hôn em. Em bảo ta chỉ choàng tay qua người em khi lái xe. Vậy là sao?"

      "Sao  lại làm như thế?" lơ mơ hỏi. " đâu cả đêm?" gào lên, đứng chắn trước mặt , chân sũng nước, nắm tayco lại để đánh tiếp. Rồi , "Em chẳng làm gì cả. Sao đánh em?" .

      "Sao mình lại đến chuyện này nhỉ?" .

      "Em khơi chuyện ra," .

      lắc đầu. "Em biết cái gì khiến em nghĩ về chuyện ấy nữa." mím môi lại và chăm chú nhìn sàn nhà. Rồi vươn vai và lại ngẩng nhìn lên. ", nếu cất cái bàn là quần áo này cho em, em pha đồ uống gì nóng nóng. Rượu rum pha bơ. thấy sao?"

      "Được," .

      vào phòng khách bật đèn rồi cúi xuống nhặt cuốn tạp chí sàn. ngắm hông vợ dưới cái váy len kẻ ô. đến trước cửa sổ và đứng đó nhìn ra đèn đường. vuốt tay xuống váy rồi nhét áo vào trong. tự hỏi biết có tự hỏi mình rằng liệu ngắm .

      Sau khi dựng cái bàn là quần áo vào trong góc cửa, ngồi xuống, và khi vào bếp, hỏi, “Này đêm hôm đó giữa em và Mitchell Anderson còn diễn ra chuyện gì nữa?”

      " có gì cả," . "Em nghĩ về chuyện khác."

      "Chuyện gì?"

      "Về các con, về cái váy mà em muốn mua cho Dorothea vào lễ Phục sinh tới. Và em nghĩ về buổi dạy ngày mai. Sinh viên có âu sầu chăng khi học thơ Rimbaud," và bật cười. "Em có ý gieo vần đầu, đấy, Ralph, đấy, chẳng có chuyện gì khác xảy ra đâu. Em xin lỗi nếu em gì về chuyện đó."

      "Được rồi," .

      đứng dậy, tựa vào tường bên cạnh tủ lạnh nhìn vợ xúc đường cho vào hai cái cốc và khuấy rượu rum lên. Nuớc bắt đầu sôi.

      "Em này, bây giờ chuyện được mang ra rồi," , "và chuyện đó cũng cách đây bốn năm, nên nghĩ chẳng có lý do gì khiến mình bây giờ thể về chuyện đó được nếu mình muốn. Đúng ?"

      , "Nhưng chẳng có gì để cả."

      , " muốnbiết."

      Cônói, "Biết gì cơ?"

      "Ngoài chuyện hôn em ra ta còn làm gì. Chúng mình là người lớn. Mình gặp nhà Anderson hàng năm rồi còn gì và có thể mình chẳng bao giờ gặp lại họ mà chuyện đó xảy ra lâu lắm rồi, nên có lý gì mà mình thể về chuyện đó?" hơi ngạc nhiên về chất lý trong giọng của mình. ngồi xuống, nhìn tấm khăn trải bàn rồi ngước lên nhìn vợ. "Thế nào?" .

      "Hừm," cười láu lỉnh, hất đầu sang bên cách rất nữ tính, nhớ lại. ", Ralph, đấy. ra em nên kể hơn."

      “Chúa ơi, Marian. Bây giờ nghiêm túc đấy,” , và đột nhiên hiểu là thực muốn thế.

      tắt bếp gas, đặt tay lên ghế rồi ngồi xuống, gót chân móc vào thanh gác. hơi chồm về phía trước, tay đặt lên gối, ngực áp vào áo. gẩy cái gì đó váy rồi ngước lên.

      " có nhớ là Emily ra về cùng với nhà Beatty, hiểu sao Mitchell vẫn còn ở lại. Phải là đêm hôm ấy trông ấy ổn lắm. Em , có thể là Emily và ấy lục đục, nhưng em lắm. Lúc đó, , em, nhàFranklin và Mitchell Anderson vẫn còn ở lại. Cả hội đều ngà ngà. Ralph, em nhớ chuyệndiễn ra thế nào, nhưng đột nhiên chỉ mình Mitchell và em tình cờ có mặt trong nhà bếp cùng lúc, lúc đó chẳng còn tí whiskey nào, chỉ còn chai vang trắng uống dở. Lúc đó phải gần giờ, bởi vì Mitchell : ‘Nếu mình bay những đôi cánh khổng lồ mình có thể tới tiệm rượu kịp trước khi họ đóng cửa,’ có biết là ấy có thể kịch đến mức nào khi ấy muốn ? Giọng mềm mỏng, vẻ biểu cảm khuôn mặt? Dù sao nữa, ta rất hóm. Ít nhất vào lúc đó có vẻ như thế. Và rất say nữa, em có thể thêm. Em cũng say. Đó là phút bốc đồng Ralph ạ. Em biết tại sao em làm như thế, đừng hỏi em, nhưng khi ấy bảo chúng ta nào em đồng ý. Bọn em ra phía sau, chỗ ấy đậu xe. Bọn em như thể... bọn em là... thậm chí mang áo khoác theo, nghĩ rằng chỉ tí teo. Em biết bọn em nghĩ gì, em nghĩ gì, em biết tại sao em lại , Ralph ạ. Bốc đồng, em chỉ có thể như thế. bốc đồng sai lầm." ngừng lại. "Đêm hôm đó em có lỗi, Ralph, em xin lỗi. Lẽ ra em nên làm như thế - em biết điều đó."

      "Chúa ơi!" Cái từ ấy trượt ra khỏi miệng . "Nhưng lúc nào em cũng như thế, Marian!" Và ngay lập tức biết rằng vừa thốt ra mớimẻ vàsâusắc.

      Đầu tràn ngập những lời cáo buộc, và cố tập trung vào cáo buộc cụ thể. nhìn xuống bàn tay mình và nhận thấy chúng có cùng cảm giác vô hồn mà chúng từng có cái ngày nhìn đứng ban công. nhặt cây bút chì đỏ chấm bài nằm bàn lên rồi lại đặt nó xuống.

      " nghe đây," .

      "Nghe cái gì cơ?" . " cộc cằn và trở nên bực dọc, Ralph. Chẳng vì cái gì cả - chẳng vì cái gì, à... có chuyện gì khác cả," .

      "Tiếp tục ," .

      , "Rốt cuộc là có chuyện gì với chúng ta? có biết là chuyện này bắt đầu như thế nào ? Bởi vì em chẳng biết chuyện này bắt đầu như thế nào."

      bảo, "Tiếp tục , Marian."

      "Tất cả chỉ có thế, Ralph," . "Em bảo rồi. Bọn em phóng xe . Bọn em trò chuyện. ấy hôn em. Em vẫn tại sao bọn em có thể đến ba giờ đồng hồ - hay là bất cứ cái gì mà là bọn em làm."

      "Kể , Marian," , biết rằng còn nữa và biết rằng luôn biết điều đó. cảm thấy nôn nao trong bụng, và rồi : “Thôi.Nếu em muốn kể cũng được. ra nghĩ chỉ nên biết đến đấy," . thoáng nghĩ rằng nếu chưa lấy vợ đêm nay nơi nào khác làm việc gì khác, rằng nơi nào đó yên lặng.

      "Ralph này," , " giận, phải ?Ralph? Chúng ta chỉ chuyện thôi. giận, phải ?" chuyển sang ngồi chiếc ghế cạnh bàn.

      , " giận."

      , "Hứa nhé?"

      , "Hứa."

      châm điếu thuốc. Đột nhiên có ham muốn lớn lao được nhìn thấy lũ trẻ, dựng chúng dậy và lôi ra khỏi giường, nặng nề và vẫn còn mê ngủ, giữ mỗi đứa bên gối, kéo chúng cho đến khi chúng tỉnh dậy. chuyển sang chú ý đến trong những cỗ xe đen nhánh bé tí đặt khăn trải bàn. Bốn chú ngựa trắng cũng bé tí tung vó kéo từng cỗ xe đen, người đánh xe ngựa đội chiếc mũ cao vung taylên, những hòm xiểng được treo trễ xuống từ nóc xe, và thứ trông giống như cái đèn dầu lủng lẳng bên, và nếu có lắng nghe gì đó là nghe từ bên trong cổ xe đen.

      "...Bọn em thẳng đến tiệm ruợu, em ngồi đợitrong xe cho đến lúc ấy ra. tay ấy cầm túi, tay kia cầm túi ni lông đá. ấy loạng choạng ngồi vào xe. Em nhận ra là ấy say mèm cho đến lúc bọn em bắt đầu lái về. Em để ý cái cách ấy lái. Chậm kinh khủng. ấy gục cả người lên tay lái. Mắt ta long lanh. Bọn em tán đủ thứ chuyện chẳng có ý nghĩa gì cả. Em chẳng nhớ nữa. Bọn em về Nietzsche. Strindberg. ấy dàn dựng vở Nàng Julietrong học kỳ thứ hai. Rồi cái gì đó về chuyện Norman Mailer đâm vào ngực vợ. Rồi ấy dừng lại lúc giữa đường. Rồi mỗi đứa lấy chai ra nốc ngụm. ấy ấy ghét nghĩ đến việc em bị đâm vào ngực. ấy ấy muốn hôn lên ngực em. ấy tấp xe vào vệ đường. ấy gục đầu vào lòng em..."

      Giọng gấp gáp, ngồi hai tay khoanh bàn ngắm nhìn môi vợ. Mắt lướt vòng quanh bếp - bếp lò, hộp đựng khăn giấy, bếp lò, tủ ly, lò nướng bánh mì, ngược lại môi của vợ, ngược lại cỗ xe khăn trải bàn. chợt thấy ham muốn lạ lùng đối với vợ thoáng qua phần bụng dưới của mình, rồi cảm nhận được nhịp xóc đều đều của cỗ xe, muốn kêu ngừng lại nghe vợ , " ấy bảo chúng mình làm chuyện ấy nhé?" Và rồi , "Em đáng trách. Em là người đáng trách. ấy bảo tùy em quyết định, em có thể làm bất kỳ điều gì em muốn."

      nhắm mắt lại. lắc đầu, cố nghĩ ra những khả năng khác, những kết luận khác. thực băn khoăn biết liệu có thể dựng lại cái đêm cách đây hai năm ấy và tưởng tượng ra chính vào bếp đúng lúc mấy người kia ra đến cửa, nghe giọng chính mình , xúc động mạnh, ồ , , em được với gã Mitchell Anderson đâu đấy! Chẳng những say mà còn là tài xế tồi, với lại bây giờ em còn phải ngủ để sớm mai dậy với Robert và Dorothea nữa, dừng lại ! Ngươi phải dùng lại!

      mở mắt ra. lấy tay che mặt, khóc rưng rức.

      "Tại sao em làm vậy, Marian?" hỏi.

      lắc đầu mà ngẩng lên.

      Rồi đột nhiên biết hết! Đầu vỡ ra. Cả lúc lâu chỉ có thể nhìn trừng trừng ngờ nghệch vào tay mình. biết hết! Đầu gầm rú vì điều biết.

      “Chúa ơi! ! Marian! Jesus, lạy Chúa tôi!” , bật người ra khỏi bàn. "Chúa ơi! , Marian!"

      ", ," , hất đầu ra phía sau.

      " để cho !" gào lên.

      ", ," nức nở.

      " để cho ! Làm chuyện đó! Đúng ? Đúng ? Làm cái! Có phải vậy ? Trả lời tôi !" gào lên. " ta có phọt vào ? có để cho phọt vào khi làm chuyện đó?"

      "Nghe em, nghe em này Ralph," nghẹn ngào, "em thề với ta . ta ra. ta ra trong người em." nảy người từ bên này sang bên kia ghế.

      "Ôi Chúa! Quỷ tha ma bắt !" rít lên.

      "Chúa ơi!" , đứng dậy, chìa tay ra. "Chúng mình điên hả, Ralph? Chúng mình mất trí chưa? Ralph? Tha thứ cho em, Ralph. Tha thứ…"

      "Đừng chạm vào tôi! Tránh ra!" gào. gào.

      bắt đầu thở hổn hển trong sợ hãi. cố chặn lại. Nhưng tóm lấy vai và hất ra.

      "Tha thứ cho em, Ralph. Em van ,Ralph!” gào lên.

                  2


      phải dừng lại và vịn vào cái xe trước khi tiếp. Có hai cặp trong trang phục dạ hội vỉa hè hướng về phía , trong hai người đàn ông kể chuyện bằng giọng rất to. Những người khác cười giòn giã. Ralph rời khỏi xe và băng qua đường. Mất vài phút đến được quán Blake, chỗ buổi chiều thỉnh thoảng ghé vào nhâm nhi tí bia với Dick Koenig trước khi đón con ở trường mẫu giáo.

      Bên trong quán tối. Nến lập lòe trong những cái chai cổ dài đặt mấy cái bàn dọc theo tường. Ralph nhìn lướt qua những bóng trai trò chuyện, đầu chụm vào nhau. cặp ngồi gần cửa ngừng chuyện ngẩng lên nhìn . vật hình hộp treo trần xoay qua xoay lại ném ra những tia sáng. Hai người đàn ông ngồi phía cuối quán, và bóng người đứng tựa vào máy chọn nhạc trong góc, hai bàn tay tõe ra hai bên cái ly. ta sắp sửa chơi cái gì đó, Ralph nghĩ, như thể vừa có phát tối quan trọng, đứng giữa sàn nhìn ta.

      "Ralph! Ngài Wyman!"

      nhìn quanh. Hóa ra là David Parks gọi từ phía sau quầy bar. Ralph bước lại, tì mạnh vào quầy bar rồi chuồi người lên cái ghế cao.

      "Em rót nhát nhé, bác?" Parks cầm cái ly trong tay, mỉm cười. Ralph gật đầu, nhìn Parksnghiêng cái ly dưới vòi bia, rồi nhàng dựngthẳng nó lên khi đầy.

      "Công việc thế nào, bác?" Parks gác chân lên cái kệ phía dưới quầy bar. "Ai thắng trận đấu tuần tới, bác?" Ralph lắc đầu, nâng ly bia lên môi. Parks khẽ ho. "Em trả cho bác ly nhé. Em mời bác ly này." ta buông chân xuống, gật đầu khẳng định, và lần tay vào túi dưới tạp dề. “Đây. Tôi có mấy đồng đây này,”Ralph và móc ra mấy đồng lẻ, kiểm tra chúng trong tay mình. đồng hai mươi lăm xen, đồng mười xen, hai đồng năm xen, hai đồng xen. đếm chúng như thể có mật mã cần được giải. đặt đồng hai mươi lăm xen xuống và đứng lên, bỏ mấy đồng lẻ lại vào trong túi. Người kia vẫn đứng trước máy chọn nhạc, hai tay vẫn xòe ra hai bên ly.

      Ra ngoài, Ralph ngoảnh lại, ngần ngừ nghĩ xem mình nên làm gi. Tim thình thịch như thể chạy. Cánh cửa bật mở sau lưng đôi trai bước ra. Ralph nhích sang tránh đường cho họ, họ ngồi vào xe đỗ bên lề đường và Ralph thấy hất tóc khi ngồi vào xe. chưa bao giờ nhìn thấygì đáng sợ như thế.

      bộ đến cuối dãy nhà, băng qua đường, thêm dãy nhà nữa rồi quyết định thẳng vàotrung tâm thị trấn. rảo bước, tay nắm chặt trong túi quần, giày nện hè phố. chớp mắt liên tục và nghĩ khó tin đây là nơi sống. lắc đầu. muốn ngồi lại chỗ nào đó lúc để nghĩ về nó, nhưng biết thể ngồi, thể nghĩ về nó. nhớ lại có lần thấy người đàn ông ngồi bên vệ đường ở Arcata, ông già râu ria xồm xoàm đội mũ len nâu co ro, tay để vào giữa hai đầu gối. Và rồi Ralph nghĩ đến: Marian! Dorothea! Robert! thể được! cố tưởng tượng hai mươi năm tới mọi chuyện ra thế nào. Nhưng thể tưởng tượng được gì. Rồi tưởng tượng bắt gặp mẩu giấy chuyền tay giữa đám học sinh trong đó viết Chúng mình làm chuyện ấy nhé? Rồi thể nghĩ được nữa. Rồianh cảm thấy hoàn toàn dửng dưng. Rồi nghĩ về Marian. nghĩ về Marian như mới gặp cách đây ít giờ, mặt rúm ró. Rồi Marian nằm sàn nhà, miệng đầy máu: "Tại sao đánh em?" Rồi Marian thò tay vào dưới váy cởi nịt bít tất! Rồi Marian nhấc váy lên cong người lên. Rồi Marian kích động, Marian gào lên, Nào! Nào! Nào!

      đứng lại. tin rằng mình sắpnôn. tiến lại mép vỉa hè. nuốt nước bọt liên tục, ngẩng đầu lên khi đám thiếu niên reo hò phóngxe ngang qua, nhấn hồi còi có tiếng nhạc dài. Ừ, quả có cái ác lớn lao thúc đẩy thế giới, nghĩ, và nó chỉ cần lối trượt nho , cửa ngõ nho .

      đến Phố số 2, khu mà người ta vẫn gọi là "Phố Hai." Nó bắt đầu từ đây ở Shelton, dưới những ngọn đèn đường cuối dãy nhà cũ cho thuê, chạy dài bốn hay năm dãy nhà nữa cho đến cầu tàu, chỗ buộc những chiếc thuyền đánh cá. đến khu này lần, cách đây sáu năm, đến cửa hàng đồ cũ để lục lọi những kệ sách cũ phủ đầy bụi. Có tiệm rượu bên kia đường, và có thể nhìn thấy nguời đàn ông đứng đọc báo phía bên trong cửa kính.

      Cái chuông cửa ngân lên. thanh làm Ralph suýt khóc. mua mấy điếu thuốc rồi quay ra, dọc theo con phố, nhìn vào các cửa sổ, số cái có dán tờ quảng cáo: buổi khiêu vũ, gánh xiếc Shrine đến và mùa hè vừa rồi, cuộc bầu cử - bầu Fred C. Walterslàm ủy viên Hội đồng. thấy bồn rửa bát và những đầu nối ống nước nằm vương vãi bàn qua trong những cửa sổ mà nhìn vào, và những cái này cũng làm rơi nước mắt. đến phòng tập thể dục Vic Tanney, ở đó nhìn thấy ánh sáng hắt ra dưới màn cửa, nghe thấy tiếng nước tóe và tiếng gọi nhau í ới phía hồ bơi bên trong. Phố bây giờ sáng hơn, ánh sáng hắt ra từ những quán cà phê và quán bar hai bên phố, người cũng đông hơn, từng nhóm ba bốn người nhưng thỉnh thoảng cũng có người đàn ông mình hoặc phụ nữ mặc quần màu sáng rảo bước vội vã. dừng lại trước cửa sổ nhìn mấy người da đen chơi bi a, khói lẩn quẩn trong ánh đèn thắp phía bàn. người thoa phấn lên cơ, đầu đội mũ, miệng ngậm thuốc, gì đấy với người khác rồi cả hai cùng ngoác miệng cười, rồi người kia chăm chú ngắm mấy quả bi và cúi xuống bàn.

      Ralph dừng lại trước Jim's Oyster House. chưa từng đến đây, chưa từng đến bất kỳ những chỗ như thế này. Phía cánh cửa dòng chữ JIM'S OYSTER HOUSE được gắn bằng những bóng đèn vàng. Phía dòng chữ, được gắn vào cái lồngsắt, có cái vỏ sò lớn chiếu đèn nê ông sáng và đôi chân người thò ra. Phần thân được giấu trong vỏ và đôi chân nhấp nháy đỏ, lên xuống, nên chúng trông có vẻ như đá. Ralph dùng điếu thuốc cháy dở châm điếu khác rồi đẩy cửa vào.

      Bên trong đông đúc, người nghẹt sàn nhảy, tay đan vào nhau, để hờ chờ ban nhạc bắt đầu chơi lại. Ralph len lỏi đến phía quầy bar, có lúc say bám vào áo khoác . còn cái ghế nào nên đành đứng phía cuối quầy bar giữa nhân viên cứu hộ bờ biển và chàng mặc đồ jean nhăn nhúm. Nhìn vào gương có thể thấy được ban nhạc ngồi ở bàn đứng dậy. Họ mặc sơ mi trắng, quần đen, cổ đeo nơ đỏ. Có lò sưởi với ngọn lửa bằng gas phía sau đống củi kim loại, và cái bục dành cho ban nhạc ngay bên cạnh lò sưởi này. nhạc công gại thử dây đàn ghi ta điện, gì đó với những người kia và cười ra vẻ hiểu ý. Ban nhạc bắt đầu chơi.

      Ralph nâng ly uống cạn. Ở đằng kia quầy bar Ralph nghe thấy tiếng phụ nữ giận dữ: "Này, đây cho mà biết, thế nào cũng có rắc rối đấy nhé." Các nhạc công chơi xong bản nhạc và bắt đầu bản khác. trong số họ, tay chơi bass, tiến lại micro bắt đầu hát. Nhưng Ralph hiểu ta hát gì. Khi ban nhạc nghỉ giải lao lần nữa, Ralph nhìn quanh xem toa lét chỗ nào. nhìn ra được những cánh cửa đóng mở liên tục ở đầu kia của quầy bar liền hướng về phía đó. hơi lảo đảo, biết rằng mình say. Bên cánh cửa là mộtgiá sừng hươu. thấy người vào và người khác giữ cánh cửa rồi ra. Vào trong, xếp hàng sau ba người khác, thấy mình nhìn chằm chàm vào hình vẽ cặp đùi giạng ra khoe hộ tường bên cạnh máy bán lược bỏ túi. Bên dưới là dòng chữ viết tháu XƠI EM , dưới nữa ai đấy viết thêm Betty M. xơi - RA 52275. Người đứng trước Ralph nhích lên, Ralph bước tới bước, tim co thắt dưới trọng lượng của Betty. Cuối cùng, đến trước bồn và bắt đầu tiểu. Đó là tia chớp lóe lên. thở dài, rướn người lên trước, tì đầu tường. Ôi chao, Betty, nghĩ. Đời thay đổi, sẵn sàng để hiểu điều đó. lơ mơ tự hỏi liệu những người khác có thể nhìn vào kiện trong đời họ mà cảm nhận trong nó những thành phần bé của thảm họa sau đó hướng cuộc đời họ sang ngả hoàn toàn khác? đứng đó lúc nữa rồi nhìn xuống: tiểu lên tay mình. lại bồn rửa tay, quyết định dùng thỏi xà phòng bẩn mà chỉ vặn cho nước chảy qua tay. Trong lúc kéo khăn giấy, gí mặt vào gương và nhìn vào mắt mình. cái mặt: chẳng có gì bất thường. sờ vào gương, nhưng lại tránh ra vì người khác cố vượt qua đển chỗ bồn rửa tay.

      Khi ra cửa, để ý thấy cánh cửa khác ở đầu bên kia hành lang. tới nhìn qua cửa kính thấy bốn người chơi bài quanh cái bàn dường như màu xanh lá cây. Với Ralph dường như bên trong có vẻ là tĩnh lặng và yên bình, những cử động câm của những người kia như hàm ngôn và chất chứa nhiều ý nghĩa. tì vào kính nhìn họ cho đến khi cảm thấy họ nhìn .

      Phía đằng quầy bar tiếng ghi ta choi ầm ĩ,mọi người bắt đầu vỗ tay và huýt sáo. phụ nữ đứng tuổi phục phịch vận đầm trắng bị đẩy lên sân khấu. Chị ta cố vùng vẫy nhưng Ralph có thể nhận thấy chỉ là vùng vẫy giả vờ, và cuối cùng chị ta chịu cầm lấy micro và khẽ nhún người. Đám đồng huýt sáo giẫm chân rầm rầm. Đột nhiên biết rằng gì có thể giải cứu được ngoại trừ việc vào trong phòng kia cùng với những người chơi bài, xem họ. móc ví ra, giơ lên xem thử còn bao nhiêu. Phía sau chị kia bắt đầu hát bằng thứ giọng trầm buồn ngủ.

      Người chia bài ngẩng đầu lên.

      "Muốn nhập hội à?" ta hỏi, nhìn quét khắp người Ralph và chia bài lần nữa. Những người khác nhướng mắt lên rồi quay lại nhìn những quânbài nằm rải rác bàn. Họ cầm bài lên, người ngồi xoay lưng lại Ralph thở hắt ra bằng mũi, ngọ ngoạy trong ghế tỏ vẻ khó chịu.

      "Benny, mang thêm cái ghế!" người chia bài gọi ông già quét dưới gầm cái bàn chất đầy ghế chổng ngược. Người chia bài là tay đô con; ta mặc sơ mi trắng, cổ mở, tay áo xắn để lộ cẳng tay mập và lông quăn đen. Ralph hít hơi dài.

      "Uống gì ?" Benny hỏi khi mang ghế đến bàn.

      Ralph đưa ông già đô la và cởi áo khoác ra. Ông già đỡ lấy áo khoác, treo gần cửa khi ông ra. Hai người trong đám nhích ghế cho Ralph ngồi xuống đối diện với người chia bài.

      "Khỏe ?" người chia bài hỏi, nhìnlên.

      "Bình thường," Ralph đáp.

      Người chia bài nhàng, vẫn nhìn lên: "Chơi bài ăn hoặc năm lá. Mỗi ván cược quá năm đô."

      Ralph gật đầu, khi ván đó xong mua mười lăm đô phỉnh. ngắm những quân bài được ném quanh bàn, nhặt bài của mình lên theo cách thấy cha làm, luồn quân này dưới quân kia khi chúng rơi trước mặt . nhướng mắt nhìn vàomặt những người khác. tự hỏi biết chuyện đó có xảy ra với ai trong số họ .

      Trong vòng nửa tiếng đồng hồ thắng hai ván, và cần đếm đống phỉnh trước mặt nghĩ vẫn còn khoảng mười lăm hay thậm chí hai mươi đô la. trả tiền cho ly nữa bằng phỉnh và đột nhiên nhận ra rằng tối hôm ấy quãng đường dài, quãng đường dài trong cuộc đời. Jackson, nghĩ. có thể là Jackson.

      " cược hay ?" người hỏi. "Clyde, cược thế nào nhỉ, lạy Chúa?" ta hỏi người chiabài.

      "Ba đô," người chia bài .

      "Cược,"Ralph . "Tôi cược." Anhđặt ba phỉnh vào giữa bàn.

      Người chia bài ngẩng lên rồi lại nhìn bài của mình. "Nếu cậu thực muốn tưng bừng, đêm nay chúng ta có thể đến chỗ tôi khi xong ở đây," người chia bài .

      ", thế được rồi," Ralph . "Tối nay đủ tưng bừng rồi. Tối nay tôi mới phát ra. Vợ tôi lăng nhăng với thằng khác cách đâyhai năm.Tối nay tôi mới phát ra." hắng giọng.

      người gác bài xuống và châm xì gà. ta vừa nhìn Ralph chằm chặp vừa bập thuốc, rồi vẩy tắt que diêm và cầm bài lên. Người chia bài ngẩng lên, gác hai tay lên bàn, lông đen cứng cánh tay nâu sẫm.

      "Cậu làm việc ở đây?" ta hỏi Ralph.

      "Tôi sống ở dây,"Ralph . thấy ráo hoảnh, trống rỗng rã rời.

      "Mình có chơi tiếp hay ?" người hỏi."Clyde?"

      "Gượm tí nào," người chia bài .

      "Vì Chúa," ta khẽ .

      "Tối nay cậu phát ra cái gì?" người chia bàihỏi.

      "Vợ tôi," Ralph . "Tôi phát ra."

      Trong ngõ hẻm, lại móc ví ra, lần đếm những tờ tiền còn lại: hai đô la - và nghĩ còn vài đồng xu trong túi. Đủ để kiếm cái gì đó ăn. Nhưng đói, tựa người vào tòa nhà gắng nghĩ ngợi. chiếc xe rẽ vào ngõ, dừng lại rồi lùi ra. bắt đầu bộ. lại con đường lúc đến. sát vào các tòa nhà, tránh những nhóm trai ồn ào lại vỉa hè. nghe tiếng phụ nữ mặc áo khoác dài với người đàn ông cùng: "Hoàn toàn phải như thể, Bruce. hiểu gi cả."

      dừng lại trước tiệm rượu. Vào trong tiến lại quầy quan sát những hàng chai dài xếp ngay ngắn. mua nửa panh rượu rum và thêm mấy điếu thuốc. Hình những cây cọ nhãn chai, những tàu lá to rũ xuống với hồ nước nền xa đập vào mắt , và chợt nhận ra rum! Và nghĩ ngất. Người bán hàng, người gầy, hói mặc quần có dây đeo, bỏ chai rượu vào trong túi giấy, tính tiền và nháy mắt. "Đêm nay ra trò đấy nhỉ?" ông .

      Ra ngoài, Ralph về phía cầu tàu; nghĩ muốn nhìn ánh đèn phản chiếu xuống nước. mường tượng Tiến sĩ Maxwell xử lý tình huống tương tự như thế nào, và thò tay vào túi giấy trong khi , bóc lóp niêm của cái chai và dừng lại trước ngõ vào nhà để tu hơi dài, và nghĩ Tiến sĩ Maxwell hẳn ngồi cách huy hoàng bên mép nước. băng qua môt vài lối xe điện cũ và rẽ vào phố khác, tối hơn. nghe được tiếng sóng ồm oàm dưới chân cầu tàu, và rồi nghe thấy ai đó lại gần sau lưng . tên da đen thó mặc áo khoác da bước ra trước mặt , , "Cho xin phút thôi, bạn." Ralph định vòng qua. Gã kia , "Có Chúa chứng giám, bé con, mày giẫm lên chân tao đấy!”Ralph chưa kịpchạy bị gã da đen đấm cú vào bụng, và khi Ralph rên rỉ, chực ngã gã kia đâm vào mũi làm bật vào tường, ngồi phịch xuống, chân gập lại, cố nhấc người lên gã da đen tát vào má và đấm bò lăn ra vỉa hè.

                  3


      nhìn cố định vào chỗ và thấy chúng, vài chục con, lượn vòng và bổ nhào dưới đám mù, chim biển, những con chim từ biển bay vào đây giờ này buổi sáng. Đường hãy còn nhờ nhờ tối trong sương mù giăng; và phải thận trọng để tránh giẫm lũ sên bò qua vệ đường ẩm ướt. chiếc xe hơi để đèn sáng chạy chậm lại khi ngang qua . chiếc khác lướt qua. Rồi chiếc khác nữa. nhận ra họ là công nhân nhà máy, thầm với chính mình. Đó là sáng thứ Hai. rẽ vào góc phố, ngang qua quán Blake: rèm cửa cuốn lên, mấy cái chai rỗng như đứng canh sau cửa. Trời lạnh. cố nhanh, thỉnh thoảng khoanh tay và rụt vai. Rồi cũng về đến nhà, đèn ở cổng vẫn sáng, cửa sổ tối. băng qua bãi cỏ rồi vòng ra sau nhà. vặn quả đắm cửa, cánh cửa mở ra yên ắng và căn nhà cũng yên ắng. Kia là cái ghếcao bên cạnh giá phơi bát đĩa. Kia là cái bàn nơi họ ngồi. đứng lên từ ghế sofa, vào nhà bếp, ngồi xuống. làm gì nữa? chẳng làm gì nữa cả. nhìn cái đồng hồ phía bếp lò. có thể ngó vào phòng ăn, cái bàn trải khăn đăng ten, đôi hồng hạc bằng thủy tính nặng nề giữa bàn, cánh xòe ra, rèm phía bàn để mở. Có phải vợ đứng ở cửa sổ kia ngóng đợi về? bước lên tấm thảm phòng khách. Áo khoác của vứt ghếsofa, trong ánh sáng mờ mờ vẫn nhận ra cái gạt tàn đầy nhóc đầu lọc thuốc. Khi ngang qua để ý thấy danh bạ điện thoại để mở bàn uống trà. khựng lại trước cánh cửa phòng ngủ mở hé. Dường như đối với mọi thứ đều mở. Trong giây lát kháng cự lại cái ý muốn mở cửa nhìn , và rồi khẽ đẩy cửa mở rộng ra chút nữa. ngủ, đầu chệch khỏi gối, xoay vào tường, mái tóc đen của xõa khăn trải giường, chăn dồn lại quanh vai, chăn kéo lên từ chân giường. nằm nghiêng, thân thể bí mật của tạo thành góc nơi hông. nhìn trừng trừng. Sau tất cả mọi chuyện; nên làm gì đây? Lấy đồ rồi bỏ ? Tới khách sạn? Thu xếp vài chuyện gì đó? Người ta phải cư xử như thế nào trong những tình huống như thế này? hiểu những việc diễn ra.Nhưng hiểu bây giờ phải làm những việc gì. Căn nhà rất yên ắng.

      ngồi bên bàn trong nhà bếp đầu gục vào tay. chẳng biết phải làm gì. phải chỉ ngay bây giờ, nghĩ, phải chỉ trong chuyện này, phải chỉ về chuyện này, hôm nay và ngày mai, mà tất cả những ngày khác. Rồi nghe tiếng lũ trẻ khuấy động. ngồi thẳng dậy và cố mỉm cười khi chúng vào trong bếp.

      "Bố, bố," chúng reo lên, những thân hình bé chạy lại với .

      "Bổ kể chuyện ," con trai , trèo vào lòng .

      "Bố kể chuyện đâu," con . "Còn sớm quá nên thể kề chuyên được, phải bố?"

      "Mặt bố làm sao thế," con trai chỉ.

      "Đề con xem nào," con . "Bố để con xem."

      "Tội nghiệp bố," con trai .

      "Bố làm gì cái mặt bố thế?" con hỏi.

      " có gì đâu," Ralph đáp. "Mọi chuyện ổncả mà con cưng. Robert con trèo xuống nào, bốnghe có tiếng mẹ.”

      Ralph bước nhanh vào buồng tắm, khóa cửa lại.

      "Bố có ở đây ?" nghe tiếng Marian hỏi. "Bố đâu, trong buồng tắm à? Ralph?"

      "Mẹ, mẹ," tiếng con kêu. "Bố bị thương ở mặt"

      "Ralph!" vặn nắm đấm. "Ralph, cho em vào. Ralph? Cho em vào, . Em muốn gặp , Ralph? mà!"

      bảo, " , Marian."

      , "Em . Thôi nào, Ralph, mở cửa phút thôi, ! Em chỉ muốn nhìn , Ralph. Ralph? Con bị thương? Có chuyện gì , Ralph?"

      bảo, " ."

      , "Ralph, mở cửa ."

      bảo, "Em làm ơn im , được ?"

      nghe tiếng đợi ở cửa, thấy nắm đấm xoay lần nữa, và rồi nghe tiếng lại trong bếp, cho bọn trẻ ăn sáng, trả lời những câu hỏi của chúng.

      nhìn mình trong gương lúc lâu. nhăn mặt trêu chính mình. cố tạo ra nhiều vẻ mặt khác nhau. Rồi bỏ cuộc. quay ra, ngồi trền mép bồn tắm tháo dây giày. ngồi đó, tay cầm chiếc giày nhìn những chiếc thuyềnbuồm lướt qua đại đương xanh mênh mông là tấm màn phòngtắm bằng nhựa. nghĩ đến những chiếc xe màu đen khăn trải bàn và suýt kêu lên Ngừng lại! cởi cúc áo, thở dài khom người bồn tắm, lắp nút vào chỗ xả nước. vặn nước nóng, hơi bắt đầu bốc lên.

      đứng trần truồng nền gạch trước khi bước vào bồn tắm. nắn chỗ mỡ chảy sệ bên lườn. ngắm nghía mặt mình lần nữa trong tấm gương mờ . giật mình khi nghe Marian gọi tên.

      "Ralph, con chơi trong phòng. Em gọi Von Williams làm hôm nay, và em cũng ở nhà." Rồi tiếp, "Em làm sẵn bữa sáng ngon lành bếp, khi nào tắm xong ăn nhé. Ralph?"

      "Làm ơn im ," .

      ở trong buồng tắm cho đến khi nghe tiếng vợ trong phòng các con. mặc quần áo cho chúng, hỏi chúng phải là chúng muốn chơi với Warren và Roy hay sao? băng ngang nhà vào phòng ngủ, đóng cửa lại. nhìn cái giường trước khi trườn vào. nằm ngửa nhìn trần nhà. đứng lên từ ghế sofa, vào nhà bếp, ... ngồi... xuống. nhắm mắt lại và xoay người nằm nghiêng khi Marian vào trong phòng. cởi váy, ngồi xuống bên giường. luồn tay vào dưới chăn và bắt đầu vuốt ve chỗ thắt lưng .

      “Ralph,” gọi.

      gồng người lại khi chạm vào, rồi thả lỏng chút. Thả lỏng chút dễ chịu hơn. Tay lần qua hông , qua bụng và bây giờ người áp vào người , dịch chuyển tới lui người . ghìm mình lại, sau này nhớ vậy, lâu hết mức có thể. Và rồi nghiêng sang . ngừng xoay trở trong giấc ngủ lẽ ra là tuyệt vời, và vẫn còn xoay trở, kinh ngạc về thay đổi ngờ tràn ngập .

    4. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :