1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Kẻ May Mắn

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      Kẻ May Mắn

      Tựa Gốc: The lucky one

      Tác Giả: Nicholas Sparks

      Dịch: Khánh Linh - Nhật Minh

      Nhà xuất bản: Văn Học

      Ngày xuất bản: 26/11/2012

      Nguồn sách và chụp pic: Misa Nguyễn

      Thực ebook: Nguyen Thu Phuong, Cậu bé ném kẹo, Đánhboss Xongmới Ngủngon, Hoài Thương, Trang Kao, Phi phi Yên Vũ, Gấu Nhồi Boom, Marie Hoang, Annabelle Tran, Mai Thanh.

      Biên tập và Ebook: Tina

      Nguồn: https://www.facebook.com/groups/chamchilamebookfree/

      Tóm tắt nội dung

      bức ảnh vô tình tìm thấy dưới lớp cát sa mạc dường như mang lại quá nhiều may mắn cho Logan Thibault, chàng lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ. Những ván bài thắng liên tiếp cũng là gì so với sống sót qua những trận phục kích ác liệt nhất nơi chiến trường, khi đồng đội mấy người qua khỏi. Tấm ảnh ấy mang hình . Sống sót trở về quê nhà Colorado từ đợt làm nghĩa vụ thứ tại Iraq, Logan sao gạt nổi hình ảnh xinh đẹp ấy đó ra khỏi tâm trí. Tin rằng chính nắm giữ chìa khóa số phận mình, Logan lên đường cuốc bộ xuyên đất nước để tìm kiếm. Cuối cùng tìm ra. ấy chính là Elizabeth. Elizabeth sống tại trại nuôi và huấn luyện chó cùng người bà của mình. Bà của Beth quyết định thuê Logan làm việc sau khi nhìn thấy cách ra lệnh cho mấy chú chó, mặc cho phản đối của . Logan chẳng bao giờ ngờ người phụ nữ vừa mạnh mẽ vừa yếu mềm mà tìm được nơi thị trấn Hampton lại chính là chờ cả đời

      “... ấy tóc vàng, nở nụ cười với đôi mắt tinh nghịch màu hạt dẻ, mặc chiếc quần jeans, và cái áo thun in chữ Lucky Lady (Quý bà may mắn) ở đằng trước. Phía sau băng rôn mang chữ “Hội chợ Hampton”. con chó chăn cừu Đức, với cái mũi xám, đứng bên cạnh . Trong đám đông phía sau sau là hai người thanh niên trẻ, họ tập trung gần quầy bán vé và có vẻ như hơi lơ đãng. Họ mặc áo thun có in hình logo. Ba cây thường xuân nhô lên từ đằng xa, những cái ngọn nhọn hoắt, loại cây có thể gặp ở bất kỳ đâu. Phía sau bức atnh là hàng chữ viết tay: “Bảo trọng nhé, E.”

      Lúc đó để ý mấy đến những thứ thế này. Theo bản năng, định vứt nó . hầu như làm như thế, nhưng khi đó bất chợt nghĩ rằng người nào đánh mất nó có thể muốn tìm lại. Nó ràng là mang ý nghĩa đặc biệt với ai đó. Khi trở về trại, đính bức ảnh lên tường thông tin gần cửa ra vào trung tâm tin học, vì cho rằng khá nhiều cư dân của khu trại này ngang qua đó. Chắc chắn có ai đó nhận lại nó.

      tuần trôi qua, rồi mười ngày sau. Bức ảnh vẫn còn ở nguyên đó. Lúc đó, trung đội của phải tập luyện hàng giờ luyện mỗi ngày, và những ván bài xì phé ngày càng căng thẳng. vài gã thua đến cả nghìn đô la, người ta còn đồn rằng tay chơi tự do nào đó còn thua đến 10 nghìn đô la. Thibault, sau lần thua đáng xầu hổ lúc đầu, quyết định dành thời giờ rảnh để suy xét về cuộc chiến và nghĩ xem mình phản ứng thế nào khi bị bắn. Khi lang thang qua khu trung tâm tin học ba ngày trước cuộc chiến, trông thây bức ảnh vẫn còn đính bảng, và vì lý do nào đó mà chính cũng hiểu được, lấy bức ảnh xuống và nhét vào trong túi...”

      Kẻ may mắn là khúc ca tán dương câu chuyện tình tuyệt đẹp giữa hai con người xa lạ và ràng buộc nhau bởi sợi dây định mệnh vô hình. Logan từ ước muốn tìm thấy mang lại cho nhiều xúc cảm bí nhanh chóng trở thành khao khát mãnh liệt có được tình nơi Elizabeth. với cuộc sống thực tại thiếu những phức tạp như Elizabeth liệu có thể cùng Logan đến chặng cuối của cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc thực ? Định mệnh có tồn tại hay ? Phải chăng định mệchân mỗi chúng ta dù ở những điều nhặt nhất hay những bước ngoặt làm thay đổi cuộc đời mỗi người? Câu hỏi muôn thuở này chính là vấn đề trung tâm của cuốn tiểu thuyết Kẻ may mắn mà Nicholas Sparks cố gắng giải quyết cách thấu đáo, sâu sắc trong suốt hơn 400 trang sách. Ngọt ngào, lãng mạn và quá nhiều cảm xúc chân thành cho tác phẩm về tình như Kẻ may mắn!

      ~~~~~~~~~~~~~~~~~~
      Thông tin tác giả

      Nicholas Sparks sinh ngày 31 tháng 12 năm 1965, tại Omaha, Nebraska, Mỹ. Cha ông là giáo sư và mẹ làm nội trợ. Ông có trai và em , người em này mất khi mới 33 tuổi. chính là nguồn cảm hứng cho các nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết A walk to remember của ông. Ông tốt nghiệp ngành tài chính, Đại học Notre Dame năm 1988 và là trong những sinh viên đứng đầu được vinh danh. Khởi đầu rực rỡ với The notebook vào năm 1996 - tác phẩm được xem là tượng của ngành xuất bản, tác phẩm mà Time Warner Book Group phải chi tới 1 triệu USD để mua bản quyền - đến nay, Nicholas cho ra mắt 15 đầu sách và tất cả đều trở thành best - sellers ở Mỹ, đồng thời được dịch ra 35 thứ tiếng. Những câu chuyện đầy cảm hứng của Nicholas Sparks về cuộc sống và tình đẹp phi thường của những con người bình thường luôn chiếm được cảm tình của độc giả toàn thế giới. số tác phẩm nổi bật khác của Nicholas Sparks: Lựa chọn của trái tim; Bản tình ca cuối cùng; John dấu; Những đêm ở Rodanthe; Thiên đường bình yên;...

      Thông tin thêm

      Kẻ may mắn (tựa gốc: The lucky one) - phát hành vào tháng 9/2008 - là cuốn tiểu thuyết thứ 7 của Nicholas Sparks được chuyển thể thành phim. Bộ phim được hoàn thành vào năm 2012 với chỉ đạo diễn xuất của Scott Hicks và tham gia của các diễn viên nổi tiếng: Zac Efron, Taylor Schilling, Blythe Danner... Mời các bạn tìm đọc!

      ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
      Lời tựa

      Tặng Jamie Raab và Dennis Dalrymple

      năm để nhớ...

      năm để quên.

      Trái tim tôi luôn ở bên các bạn.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      1
      fe
      Clayton và Thibault

      Đội phó Keith Clayton hề nghe thấy tiếng họ tiến lại, và khi nhìn gần, vẻ ngoài của họ cũng chẳng làm gã thích thú hơn chút nào so với lúc mới nhìn thấy. phần là do con chó. Gã thích béc giê Đức, mà con này dù đứng yên nhưng vẫn nhắc gã nhớ tới Panther, con chó cảnh sát cùng gã đội phó Kenny Moore, vốn chỉ cần thoáng nhìn thấy hiệu lệnh là nhanh như cắt cắn vào đũng quần kẻ tình nghi. Clayton thường coi Moore như gã ngớ ngẩn, nhưng dù sao đó cũng là người duy nhất trong đội gã có thể tạm coi là bạn, và phải thừa nhận là Moore có cách tường thuật mấy vụ ngoạm đũng quần khiến gã phải cười vỡ bụng. Và chắc chắn là Moore đánh giá cao cái bữa tiệc tắm tiên nho mà gã vừa phá ngang khi bí mật theo dõi hai nữ sinh nằm tắm nắng bên lạch nước trong vẻ đẹp mơn mởn tuổi thanh xuân. Gã mới ở đó chừng vài phút và chỉ vừa giơ cái máy ảnh kỹ thuật số lên bấm được hai pô thấy thứ ba xuất sau bụi tú cầu. Giấu vội chiếc máy ảnh vào bụi cây, gã bước ra từ sau cái cây và ngay lập tức mặt đối mặt với nữ sinh.
      “Chà, chúng ta có gì ở đây thế này?” gã dài giọng, cố gắng dồn vào thế bị động.
      thích bị bắt quả tang, và cũng chẳng hài lòng với kiểu mở màn chán ngắt thế này của mình. Bình thường miệng lưỡi gã dẻo hơn cơ. Dẻo hơn nhiều. May thay, quá bối rối đến độ để ý đến cái gì nữa, thậm chí còn suýt bị vấp khi cố gắng lùi lại. Vừa lắp bắp trả lời gì đó, vừa cố gắng lấy tay che thân. Cứ nh được xem nàng chơi trò Twister[1] mình vậy.
      [1] Twister: trò chơi phổ biến ở Mỹ, trong đó hai người chơi đặt cả hai tay và hai chân vào các vòng tròn màu sân chơi, sau đó theo lệnh của người điều khiển, ví dụ “chân trái vàng; tay phải đỏ", hai người chơi phải dùng đúng tay hoặc chân theo lệnh để chạm được vào vòng tròn có màu như hiệu lệnh. (Các chú thích trong sách đều là của người dịch.)
      Clayton chẳng buồn nhìn chỗ khác. Thay vào đó gã cười cười, làm bộ để ý đến cơ thể của , cứ như thể đối với gã, tình cờ bắt gặp các khỏa thân trong rừng là chuyện thường ngày ở huyện vậy. Gã dám chắc biết gì về cái máy ảnh.
      “Bình tĩnh nào. Chuyện gì diễn ra ở đây vậy?” gã hỏi.
      Dù gã biết thừa là chuyện gì. Hè nào mà trò này chẳng diễn ra vài lần, nhưng nhiều nhất là vào tháng Tám: các nữ sinh từ Chapel Hill hoặc NC State đều đổ về bãi tắm ở Emerald Isle để tận hưởng kỳ nghỉ cuối tuần dài cuối cùng trước khi vào học kỳ mùa thu, thường bọn họ vòng theo con đường chở gỗ hồi xưa, chạy quanh co khúc khuỷu chừng gần hai ki lô mét tới rừng quốc gia rồi tiếp tục đâm ra chỗ con lạch Swan thình lình ngoặt về phía sông South. Ở đấy có bãi tắm phủ đầy đá cuội, địa điểm tắm nắng “nude” nổi tiếng - vì sao lại thế Clayton cũng - và gã thường cố tình đảo qua đảo lại nơi đó, biết đâu lại gặp may. Hai tuần trước gã nhìn thấy sáu nàng cực xinh; nhưng hôm nay chỉ có ba , mà hai nằm khăn tắm lấy áo rồi. trong nhóm trông có hơi nặng nề chút nhưng hai còn lại - tính cả tóc đen đứng trước mặt gã - sở hữu thân hình có thể khiến cả lũ con trai phát điên. Đội phó cảnh sát cũng phải ngoại lệ.
      “Bọn em biết có người ở đây! Bọn em cứ tưởng vấn đề gì chứ.”
      Gương mặt toát lên vẻ ngây thơ vô tội đủ để khiến gã tự hỏi, Chắc bố chẳng mấy tự hào nếu biết con bé bỏng của mìàm gì đâu nhỉ? Gã thấy buồn cười khi tưởng tượng xem trả lời như thế nào, nhưng vì mặc đồng phục nên gã hiểu mình phải gì đó ra dáng chút. Thêm nữa, Clayton cũng biết rằng gã mạo hiểm với vận may của mình: nếu chuyện cảnh sát tuần khu vực này mà lan rộng ra chẳng nữ sinh nào dám đến đây nữa, mà gã thích viễn cảnh ấy tẹo nào.
      chuyện với các bạn xem nào.”
      Gã theo nữ sinh về phía bãi tắm, thích thú thưởng thức màn trình diễn nho khi cố gắng che tấm lưng trần cách vô vọng. Lúc họ ra khỏi đám cây cối bước tới bãi trống bên bờ sông các bạn mặc xong áo. tóc đen chạy tới chỗ các bạn mình, làm đổ vài lon bia trong khi vội vã quơ chiếc khăn tắm. Clayton ra hiệu về phía cái cây gần đó.
      “Các nhìn thấy cái biển à?”
      Ba nhìn theo tay gã. Hệt mấy con cừu chờ mệnh lệnh tiếp theo, gã nghĩ thầm. Cái biển báo, xíu và bị khuất phần sau những cành sồi già sà thấp, được treo ở đó theo lệnh của thẩm phán Kendrick Clayton, người tình cờ lại là chú của gã. Chính Keith đề xuất ý tưởng biển bọt này; gã biết việc ngăn cấm công khai chỉ càng làm tăng sức hấp dẫn của nơi này mà thôi.
      “Bọn em nhìn thấy nó!” tóc đen kêu lên, quay lại nhìn gã. “Bọn em biết! Bọn em mới nghe đến chỗ này vài ngày trước!” tiếp tục phản kháng trong lúc đánh vật với cái khăn tắm; còn hai kia quá sợ đến nỗi chẳng làm được gì ngoài chuyện cố gắng xỏ chân vào chiếc quần bikini. “Đây là lần đầu tiên bọn em tới đây!”
      Câu bật ra như tiếng rên, khiến giọng nghe chẳng khác nào nữ sinh trường dòng hư hỏng. Mà có lẽ cả ba này đều thế . Bọn họ có cái dáng vẻ đó mà.
      “Các có biết ở quốc gia này khỏa thân nơi công cộng là phạm luật ?”
      Nhìn những khuôn mặt trẻ trung càng lúc càng tái mét, gã biết bọn họ tưởng tượng ra cái tội nho ấy bị ghi trong lý lịch. Cảnh này cũng thú vị ra phết, nhưng gã tự nhắc mình nên để chuyện quá xa.
      “Tên là gì?”
      “Amy.” tóc đen nuốt nước bọt. “Amy White.”
      từ đâu tới?”
      “Chapel Hill. Nhưng quê em ở Charlotte.”
      “Tôi thấy ở kia có chất cồn. Các hai mươi mốt tuổi hết rồi chứ?”
      Lần đầu tiên cả hai kia cũng đồng thanh lên tiếng. “Vâng, thưa ngài.”
      “Được rồi Amy. Giờ tôi cho biết tôi định làm gì. Tôi tin lời là các nhìn thấy biển báo kia, và các đủ tuổi để được phép uống rượu, vậy nên tôi làm chuyện này nghiêm trọng hơn. Tôi giả vờ như ở đây. Miễn là ba hứa với sếp tôi là tôi thả các .”
      Họ chắc có nên tin gã hay .
      chứ?”
      ,” gã . “Tôi cũng từng học đại học mà.” Thực ra là Clayton chưa từng, nhưng gã biết thế nghe có vẻ oách. “Và có lẽ các muốn mặc quần áo vào. Các biết đấy thôi - chừng có kẻ rình rập quanh đây cũng nên.” Rồi gã thoáng mỉm cười. “Hãy đảm bảo là các dọn sạch đống lon kia, được chứ?”
      “Vâng, thưa ngài.”
      “Tôi đánh giá cao điều đó.” Gã quay .
      “Thế thôi ư?
      Ngoái đầu lại, gã nở nụ cười nữa. “Thế thôi. Các cẩn trọng nhé.”
      Clayton lách qua bụi cây, thỉnh thoảng cúi thấp tránh mấy cành cây đường trở về chỗ xe tuần tra, tự nhủ mình xử lý ngon vụ này. Quá ngon là đằng khác. ràng Amy cười với gã, và khi quay , gã còn thoáng nghĩ đến chuyện quay lại xin số của nàng. Nhưng rồi gã quyết định là nên, có lẽ tốt hơn hết cứ để mọi chuyện dừng ở mức êm đẹp thế này được rồi. Chắc chắn khi trở về, họ kể cho bạn bè rằng mặc dù bị sĩ quan cảnh sát bắt quả tang tắm tiên nhưng vẫn sao. Rồi tiếng lành đồn xa, thiên hạ biết những cảnh sát ở vùng này rất thoáng. Dẫu sao, trong khi len lỏi qua đám cây cối, gã vẫn thầm hy vọng những bức ảnh được nét. Chúng là thứ bổ sung tuyệt vời cho bộ sưu tập nho của gã.
      chung hôm nay là ngày tuyệt vời. Vừa định quay lại lấy cái máy ảnh gã nghe thấy tiếng huýt sáo. Lần theo hướng phát ra tiếng động, gã về phía con đường chở gỗ và nhìn thấy kẻ lạ mặt dắt con chó bước chậm rãi, nom giống gã hippie những năm sáu mươi.
      Kẻ lạ mặt đó cùng ba kia. Clayton tin chắc như vậy. Trước hết ta quá già so với sinh viên; ít nhất cũng phải gần ba mươi rồi. Mái tóc dài kia khiến Clayton liên tưởng tới cái ổ chuột; còn lưng ta, Clayton có thể nhìn thấy mép cái túi ngủ gồ lên chỗ đáy chiếc ba lô. Đây thể nào là người dã ngoại ngày tới bãi tắm này; nhìn ta giống người bộ đường trường, thậm chí có thể cắm trại ngoài trời nữa. biết ta ở đây bao lâu và thấy những gì rồi.
      Ví dụ như việc Clayton chụp lén?
      thể nào. thể thấy được. Chỗ gã nấp cách xa con đường chính, toàn bụi cây rậm rạp, và nếu có người qua cánh rừng gã phải nghe thấy chứ. Đúng ? Hơn nữa, chỗ này chẳng có gì hay ho để mà lang thang. Họ ở giữa nơi hoang vu hẻo lánh, và gã hề muốn đám hippie hãm tài lập dị phá hỏng nơi dành cho mấy nữ sinh này chút nào.
      Đúng lúc đó, kẻ lạ mặt ngang qua Clayton. ta ở gần xe tuần tra và hướng về phía chiếc Jeep của ba . Clayton bước lên mặt đường và hắng giọng. Kẻ lạ mặt và con chó liền quay sang phía có tiếng động.
      Đứng từ xa, Clayton tiếp tục đánh giá họ. Dường như kẻ lạ mặt lẫn con chó đều bất ngờ trước xuất đột ngột của Clayton, và cái nhìn của ta có vẻ gì đó khiến Clayton cảm thấy bối rối. Cứ như là ta chờ gã lộ diện vậy. Con chó béc giê cũng thế. Thái độ của nó vừa thờ ơ vừa cảnh giác - và rất thông minh - giống y như con Panther mỗi khi chực chờ được Moore thả ra. Clayton chột dạ. Tự chủ lắm gã mới đưa tay phòng thủ chỗ kín.
      Suốt phút dài dằng dặc, hai bên cứ thế nhìn nhau chằm chặp. Từ lâu Clayton biết rằng bộ đồng phục của gã làm cho khối kẻ phải sợ. Mọi người, kể cả vô tội nữa, đều thấy lo lắng khi đụng đến pháp luật, và gã cho rằng chàng này cũng phải ngoại lệ. Đó chính là trong những lý do khiến gã cái nghề này.
      có dây xích cho con chó chứ?” gã cất giọng giống kiểu ra lệnh hơn là hỏi.
      “Trong ba lô của tôi.”
      Clayton hề nghe ra thổ . “Tiếng kiểu Johnny Carson[2],” như mẹ gã từng gọi. “Vậy lấy ra tròng cho nó .”
      [2] John Carson (1925-2005): người Mỹ, diễn viên, người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng.
      “Đừng lo. Nó nhúc nhích trừ phi tôi ra lệnh.”
      “Cứ tròng vào.”
      Kẻ lạ mặt hạ cái ba lô xuống và bắt đầu lục lọi; Clayton rướn cổ hòng liếc xem trong đó có gì giống như ma túy hay vũ khí . lúc sau, cái xích được buộc vào cổ con chó và kẻ lạ mặt nhìn Clayton vẻ muốn hỏi, “Giờ
      làm gì ở đây?” Clayton lên tiếng.
      bộ đường trường.”
      “Cái ba lô đó mà vác đường trường cũng mệt đấy nhỉ.”
      Kẻ lạ mặt gì.
      “Hay rình rập dòm ngó gì ở đây?”
      “Đó là những gì mà mọi người tới đây hay làm hả?” Clayton thích giọng điệu cũng như ý của ta. “Tôi muốn xem giấy tờ của .”
      Kẻ lạ mặt lại cúi xuống ba lô rồi lấy cuốn hộ chiếu ra. Sau khi giơ tay ra hiệu cho con chó đứng yên, ta tiến tới trước Clayton đưa hộ chiếu cho gã.
      có bằng lái xe hả?” Clayton hỏi.
      “Tôi có.”
      Clayton xem xét tên của kẻ lạ mặt, môi gã mấp máy. “Logan Thibault.”
      Người kia gật đầu.
      từ đâu tới?”
      “Colorado.”
      hành trình dài đấy nhỉ.”
      Kẻ lạ mặt im lặng.
      “Cụ thể là định đâu
      “Đến Arden.”
      “Có cái gì ở Arden?”
      “Tôi biết. Tôi chưa đến đó bao giờ.”
      Clayton nhíu mày trước câu trả lời đó. Quá trơn tru? Quá... thách thức? Quá gì đó. Mà cái quái gì cũng được. Dù sao gã cũng hề thích tay này. “ đợi ở đây,” gã . “ phiền nếu tôi kiểm tra lại cái này chứ?”
      “Xin cứ tự nhiên.”
      Trong khi quay về xe tuần tra, Clayton ngoái đầu lại và thấy Thibault mở ba lô lấy ra cái bát rồi rót hết phần nước còn trong cái chai vào đó. Nom như ta chẳng hề lo nghĩ cái gì đời này cả.
      Bọn tao tìm ra cái gì đó chứ hả? Ngồi trong xe tuần tra, Clayton hì hục đánh vần cái tên “Thibault” qua bộ đàm đồng nghiệp ở đầu dây kia ngắt lời.
      “Là Thibault, phát như T-bow, phải Thigh-bolt. Đó là cái tên Pháp.”
      “Sao tôi lại phải quan tâm nó phát thế nào chứ hả?”
      “Tôi chỉ định ...”
      “Sao cũng được, Marge. Cứ kiểm tra nó được chứ?”
      “Trông có giống người Pháp ?”
      “Thế quái nào mà tôi biết được gã người Pháp trông như thế nào?”
      “Tôi chỉ tò mò thôi. Đừng có cáu kỉ như thế. Tôi hơi bận.”
      Phải rồi, bận lắm luôn, Clayton nghĩ. Chắc là bận ăn bánh rán như mọi khi chứ gì. Marge có thể chén hết ít nhất là tá bánh Krispy Kremes ngày. ta phải nặng tạ rưỡi là ít.
      Qua cửa bên của xe, gã thấy tay Thibault ngồi xổm bên cạnh con chó mà thầm với nó trong khi nó uống nước. Clayton lắc đầu: chuyện với loài vật à? vớ vẩn. Làm như chó có thể hiểu được cái gì khác ngoài mấy câu mệnh lệnh căn bản nhất vậy. Vợ cũ của Clayton cũng từng làm thế. ta đối xử với chó như với con người, đáng ra gã phải nhìn vào đó mà tránh xa ta ngay từ đầu mới phải.
      “Tôi tìm thấy gì cả,” có tiếng Marge . Nghe như ta nhai cái gì đó. “ thấy trát tòa chưa giải tỏa nào liên quan tới cái tên Thibault này.”
      chắc chứ?”
      “Chắc chắn. Công việc của tôi tôi phải biết chứ.”
      Clayton vẫn còn chuyện qua bộ đàm kẻ lạ mặt cất cái bát vào ba lô rồi lẳng ba lô lên vai.
      “Sáng nay có cuộc gọi nào bất thường ? Như là có người lảng vảng đâu đó chẳng hạn?” Clayton hỏi.
      . Sáng nay khá yên tĩnh. À mà ở đâu vậy? Bố tìm đấy.”
      Bố của Clayton là cảnh sát trưởng hạt này.
      “Bảo ông ấy là tôi về ngay.”
      Ông ấy có vẻ tức giận.
      “Cứ bảo ông ấy tôi tuần tra, được
      Để ông ấy biết tôi làm việc và gì nữa.
      “Được rồi.”
      Có thế chứ.
      “Thôi, tôi phải đây.”
      Gã cất bộ đàm và ngồi im, cảm thấy hơi thất vọng chút. Kể mà được thấy tên đó xoay xở trong khám với mái tóc kiểu con và tất tần tật mấy thứ kia vui lắm. Nếu thế em nhà Landry ngày thỏa thích với . Chúng là “khách quen” ở phòng tạm giam vào các tối thứ Bảy: uống rượu và phá phách, gây mất trật tự, đánh lộn, mà lúc nào cũng là chúng tự đánh nhau. Trừ phi bị nhốt vào khám. Khi đó chúng đánh người khác.
      Clayton nghịch cái tay nắm cửa xe. Mà lần này ông già giận dữ vì điều gì nhỉ? Chàng công tử bột thấy chột dạ... Làm cái này . Làm cái kia . Con xử lý mớ giấy tờ đó chưa? Tại sao lại đến muộn? Con vừa ở đâu về? rất nhiều lần gã chỉ muốn lão mà lo cái công việc khốn kiếp của lão ấy. Lão vẫn tưởng lão điều hành mọi thứ ở đây cơ đấy.
      Nhưng thôi, sao. Sớm muộn gì gã cũng biết thôi. Giờ là lúc tống khứ tên hippie quái đản kia khỏi đây, trước khi đám nữ sinh tới. Mấy nàng đó nghĩ đây là chỗ riêng tư, đúng chứ? Bọn hippie như thế kia có thể phá hỏng chốn này mất.
      Clayton ra khỏi xe, đóng cửa lại. Con chó ngỏng đầu về phía Clayton tiến đến. Gã đưa trả hộ chiếu. “Xin lỗi làm phiền, Thibault.” Lần này gã cố tình phát sai cái tên. “Tôi chỉ làm công việc của mình. Tất nhiên, trừ phi có thuốc phiện hay súng ở trong ba lô.”
      “Tôi có.”
      có đồng ý để tôi kiểm tra ?”
      hẳn. Luật sửa đổi lần thứ tư và các luật khác.”
      “Tôi thấy trong đó có túi ngủ. cắm trại à?”
      “Tối qua tôi ngủ ở hạt Burke.”
      Clayton dò xét kẻ lạ mặt, ngẫm nghĩ về câu trả lời.
      “Quanh đây có khu cắm trại nào hết.”
      ta im lặng.
      Bây giờ Clayton là người nhìn chỗ khác. “Có lẽ nên xích con chó này lại.”
      “Tôi nghĩ là hạt này có luật phải xích chó.”
      “Đúng. Để an toàn cho con chó của thôi. đường cái có rất nhiều xe cộ.”
      “Tôi để ý.”
      “Được rồi.” Clayton dợm quay người nhưng rồi khựng lại lần nữa. “Nếu phiền cho tôi hỏi ở đây được bao lâu?”
      “Tôi vừa mới tới. Sao vậy?”
      Cách trả lời của Thibault có gì đó khiến Clayton phân vân, và gã lưỡng lự trước khi tự trấn an rằng thể nào có chuyện tên này biết gã làm gì được.
      có gì,” Clayton đáp.
      “Tôi có thể được chưa?”
      “Ừ. Được rồi.
      Clayton quan sát kẻ lạ mặt và con chó của ta bước tới con đường chở gỗ rồi rẽ sang đường mòn dẫn vào rừng. Khi ta khuất, Clayton quay lại chỗ nấp ban đầu để tìm cái máy ảnh. Gã thò tay vào bụi rậm, đá đá mấy đống lá thông khô cố dò dò lại dấu chân của mình để chắc chắn gã ở đúng chỗ. Cuối cùng, gã khuỵu xuống và bắt đầu hoảng sợ. Cái máy ảnh đó là của văn phòng cảnh sát trưởng. Gã chỉ mượn nó cho những chuyến chơi đặc biệt như thế này, và bố gã tra hỏi bằng chết nếu cái máy ảnh đó mất . Tệ hơn nữa là nếu nó lại được tìm thấy với cái thẻ nhớ đầy nhóc hình khỏa thân. Bố gã là người triệt để tuân thủ lễ giáo và trách nhiệm.
      Vài phút trôi qua. Gã nghe thấy tiếng khởi động xe ở đằng xa. Chắc là mấy nữ sinh chuẩn bị rời ; gã chỉ hơi lăn tăn chuyện họ nghĩ gì nếu thấy xe của gã vẫn còn ở đó.
      Vấn đề chính lúc này là: cái máy ảnh biến mất.
      phải bị mất. Mà là biến mất. Và gã chắc chắn điều là cái máy tự chạy đâu được. Cũng thể có chuyện lũ con phát ra nó. Thế tức là Thigh-bolt chơi xỏ gã. Thigh-bolt. chơi gã. thể tin nổi. Gã biết tên đó đóng kịch quá trơn tru mà, quá giống cái kiểu “Tôi biết làm gì vào mùa hè năm ngoái”[3] mà.
      [3] . Tên bộ phim kinh dị của Mỹ.
      thể để cho mang thứ đó trót lọt được. tên hippie bẩn thỉu, đồng bóng, thích chuyện với chó nào được qua mặt Keith Clayton này. Ít nhất là chừng nào gã còn sống đời.
      Vừa len lỏi lách qua những cành cây để trở ra đường cái, Clayton vừa tưởng tượng cảnh bắt được tên Logan Thigh-bolt kia và tiến hành cuộc lục soát nho . Mà đó mới chỉ là bắt đầu thôi. Tiếp theo còn những thứ khác nữa, chác chắn là vậy. Tên đó dám chơi gã à? xong đâu. Dù sao cũng phải ở thị trấn này. Gã đếch thèm lo tới con chó. Nó làm càn ư? bái bai, cún con. Đơn giản là vậy. Chó béc giê Đức cũng là loại vũ khí - trong vùng có tòa án nào là chấp nhận lý lẽ này.

      Dù sao việc đầu tiên cần làm là phải tìm tên Thibault. Lấy lại cái máy ảnh. Rồi vạch ra bước tiếp theo.
      Ấy thế nhưng khi tới gần chiếc xe của mình, Clayton mới nhận ra rằng hai bánh sau xẹp lép.
      tên là gì nhỉ?”
      Vài phút sau, Thibault nhoài người qua ghế trước của chiếc Jeep, gào át tiếng gió vù vù. “Logan Thibault.” giơ ngón tay cái chỉ ngược ra sau. “Còn đây là Zeus.”
      Zeus ngồi ở đuôi xe, lưỡi thè lè, hếch mũi lên hứng gió khi chiếc Jeep phóng vèo vèo đường cao tốc.
      “Con chó đẹp . Em là Amy. Đây là Jennifer và Lori.”
      Thibault ngoái lại phía sau. “Xin chào.”
      “Chào.”
      Hai có vẻ lơ đãng. Cũng có gì đáng ngạc nhiên, Thibault nghĩ, nếu xét đến những gì họ vừa phải trải qua. “Cảm ơn vì cho tôi nhờ.”
      “Có gì đâu. định Hampton?”
      “Nếu nơi đó quá xa!”
      “Ngay đường chúng ta đó.”
      Sau khi rời khỏi con đường chở gỗ và kiểm tra số thứ, Thibault lén ngược trở lại con đường đó vừa đúng lúc xe của các tới. giơ ngón cái ra hiệu, thầm cảm thấy may mắn là có Zeus cùng, và gần như ngay lập tức, chiếc xe đỗ lại bên vệ đường.
      Đôi khi mọi việc diễn ra suôn sẻ như thể được sắp đặt sẵn vậy.
      Tuy nhiên Thibault giả vờ, thực ra nhìn thấy ba từ sáng sớm, khi họ mới đến - cắm trại ở ngay sau gò đất cạnh bãi tắm - nhưng cho họ riêng tư mà họ đáng được hưởng ngay khi họ bắt đầu cởi quần áo. Đối với , cái việc họ làm là vô hại và chẳng xấu xa gì; ngoài ra chỉ có mỗi mình họ ở đấy, mà cũng chẳng có ý định nấn ná gần đó để nhìn lén. Ai quan tâm họ cởi hết quần áo hay là mặc đồ hóa trang gà con cơ chứ? Đó phải là việc của , và định cứ để mặc họ thoải mái, nhưng rồi chợt nhìn thấy gã cảnh sát lái chiếc xe của Văn phòng Cảnh sát trưởng quận Hampton trườn tới.
      Qua kính chắn gió của chiếc xe, Thibault nhìn thấy gã cảnh sát mồn và nhận ra có gì đó ổn nét mặt gã. Khó mà chính xác đó là gì, nhưng định tốn thời gian mà phân với chả tích. vòng lại, cắt ngang qua khu rừng và tới nơi vừa kịp lúc nhìn thấy tay cảnh sát kiểm tra thẻ nhớ trong cái máy ảnh tay trước khi lặng lẽ đóng cửa xe lại. quan sát gã lén lút tới gò đất. thừa biết là có thể tay cảnh sát này thực thi nhiệm vụ, nhưng sao trông gã cứ như kiểu con Zeus mỗi khi chờ miếng thịt bò vậy. Hơi quá phấn khích hơn bình thường.
      Thibault để Zeus ở nguyên tại chỗ, còn theo gã cảnh sát, cố giữ khoảng cách để gã phát ra. Và toàn bộ phần còn lại của kế hoạch phát sinh ngoài dự kiến. biết rằng việc bắt tận tay day tận mặt là thể - tay cảnh sát có thể tuyên bố là thu thập chứng cứ, và lời của gã chống lại kẻ lạ mặt như rất khó mà phản bác. Bất cứ động thủ nào cũng vô nghĩa, chỉ tổ gây thêm rắc rối mà thôi, dù rằng trong lòng rất muốn đấu tay đôi với gã này. may thay - hoặc rủi thay, tự nhủ, cũng còn tùy vào cách nhìn nhận vấn đề - đó xuất , tay cảnh sát hoảng sợ, và rồi Thibault nhìn thấy chỗ gã giấu máy ảnh. Khi Clayton cùng về phía các bạn của , Thibault nhặt lấy chiếc máy ảnh. Đáng lẽ cứ thế mà bỏ cũng được nhưng lại quyết định phải cho gã này bài học. Chẳng phải đao to búa lớn gì, chỉ là bài học nhằm đảm bảo danh dự của ba bị tổn hại, để tiếp tục hành trình và phá hỏng luôn ngày hôm nay của tay cảnh sát. Nghĩ thế nên quay lại xì le của gã.
      “Ồ, suýt nữa quên,” Thibault mở lời. “Tôi tìm thấy cái máy ảnh của các trong bụi rậm.”
      phải của tôi. Lori, Jen... các cậu có mất máy ảnh ?”
      Cả hai lắc đầu.
      “Thôi các cứ giữ nó ,” Thibault vừa vừa để máy xuống ghế. “Và cảm ơn cho nhờ. Tôi có cái rồi.”
      chắc chứ? Chắc đắt phết đấy.”
      “Chắc mà.”
      “Cảm ơn .”
      Thibault để ý bóng nắng nhảy nhót gương mặt Amy, có sức hấp dẫn của tiểu thư thành thị với đường nét sắc sảo, nước da màu ô liu và đôi mắt nâu ánh vàng. tưởng tượng có thể ngắm Amy hàng giờ chán.
      “Này... cuối tuần này có bận việc gì ?” Amy hỏi. “Chúng tôi định biển chơi.”
      “Cảm ơn mời, nhưng tôi thể.”
      “Tôi cá là có hẹn với bạn chứ gì.”
      “Điều gì khiến nghĩ thế?”
      “Nhìn tôi đoán thế.”
      Thibault ép mình phải quay . “Đại loại vậy.”

      2
      f—e
      Thibault

      kỳ lạ khi nghĩ về những biến cố có thể xảy ra trong cuộc đời người đàn ông. Mới chỉ hơn năm trước, chắc Thibault nhảy cẫng lên nếu được tận hưởng những ngày nghỉ cuối tuần với Amy và đám bạn . Có thể đấy chính là điều cần; vậy mà khi họ thả xuống ngay rìa thị trấn Hampton, giữa cái nóng hầm hập của buổi trưa tháng Tám, vẫy chào tạm biệt mà lòng thấy nhõm đến lạ kỳ. Việc cố tỏ ra thoải mái bên các khiến thấy kiệt sức.
      Kể từ khi rời Colorado năm tháng trước, chưa từng dành quá vài tiếng đồng hồ bên cạnh bất cứ ai, trừ bác nông dân lớn tuổi vắt sữa bò ở Nam Little Rock, người cho sử dụng phòng ngủ bỏ lầu sau bữa tối diễn ra gần như trong yên lặng giữa hai người. rất cảm kích vì ông cụ ép giải thích lý do tỏ ra như vậy. hỏi, tò mò, bóng gió. Chỉ đơn giản chấp nhận là Thibault thích trò chuyện. Để đáp lại, Thibault dành vài ngày để giúp ông sửa mái chuồng bò trước khi lại tiếp tục khăn gói lên đường, với Zeus lẽo đẽo theo sau.
      Ngoại trừ lúc được ba cho nhờ ra, còn lại Thibault cuốc bộ hết cả chặng đường dài. Kể từ lúc vứt chùm chìa khóa căn hộ của mình ở phòng quản lý chung cư hồi giữa tháng Ba, phải thay đến tám đôi giày, chủ yếu sống nhờ lương khô PowerBars và nước trong khi mình rong ruổi những chặng đường dài nối liền các thành phố và thị trấn. Có lần, ở Tennessee, ăn lúc hết năm chồng bánh bột mì rán sau khi cuốc bộ gần ba ngày mà có gì vào bụng. Với Zeus làm bạn đồng hành, qua bão tuyết, mưa đá, dông tố và nắng gắt đến độ hai cánh tay bỏng rộp; nhìn thấy cơn lốc xoáy trong quá trình hình thành gần Tulsa, bang Oklahoừng suýt bị sét đánh hai lần. Đôi lần, tự dưng muốn theo đường lớn, đường vòng để rồi bị lạc lung tung, khiến cho chuyến bị kéo dài thêm. Thường bộ tới chừng nào mệt lử, chập tối bắt đầu tìm nơi cắm trại, chỗ nào cũng được miễn là và con Zeus bị làm phiền. Buổi sáng, trước khi mặt trời kịp mọc, lại lên đường nên ai biết họ ở đó. Cho đến lúc này họ chưa từng bị ai quấy rầy.
      Thibault tính ra mình trung bình hơn ba mươi ki lô mét mỗi ngày, mặc dù chưa bao giờ ghi chép lại cả thời gian lẫn độ dài quãng đường. Đó phải là mục đích của hành trình này. có thể tưởng tượng ra người này nghĩ xa khỏi những hồi ức về cái thế giới mà bỏ lại sau lưng, nghe có vẻ thi vị, người kia lại cho là chỉ để thế thôi. Nhưng cả hai đều đúng. thích bộ, và số nơi cần đến. Chỉ đơn giản vậy thôi. thích được tự do muốn lúc nào , muốn đến chỗ nào đến, muốn nhanh nhanh muốn chậm chậm. Sau bốn năm phải tuân lệnh trong lực lượng lính thủy đánh bộ tự do tự tại này hấp dẫn với .
      Mẹ Thibault rất lo lắng cho , nhưng bà mẹ nào mà chả thế. Mà đấy cũng là cái tính cố hữu của mẹ rồi. Cứ vài ngày Thibault lại gọi điện về lần để bà biết rằng vẫn ổn; và lần nào cũng vậy, cứ mỗi khi ngắt máy, lại thấy mình phải với bà. Hầu như suốt cả năm năm qua xa nhà, và ba lần sang Iraq cả ba lần đều phải nghe bà thuyết giảng qua điện thoại, nhắc nhở được làm điều gì dại dột. chẳng làm gì dại dột, ấy vậy mà cũng hơn vài lần suýt chết. Dù Thibault chưa bao giờ kể cho mẹ nghe về những chuyện ấy nhưng bà đọc được báo. Đêm trước khi Thibault lên đường bà khóc lóc, “Lại ... Mẹ thấy tất cả những chuyện này điên rồ.”
      Có thể là điên rồ. Cũng có thể là . cũng biết nữa.
      “Mày nghĩ sao, Zeus?”
      Con chó ngước lên khi nghe gọi tên mình và lặng lẽ bước đến bên .
      “Ừ, tao biết. Mày đói. Còn gì khác ?”
      Thibault dừng lại trong bãi đỗ xe trước nhà trọ tuềnh toàng ở rìa thị trấn. lấy cái bát và chỗ thức ăn dành cho chó cuối cùng. Trong khi Zeus bắt đầu ăn tranh thủ ngắm nhìn thị trấn.
      Hampton phải nơi xấu nhất mà từng thấy, dĩ nhiên là rồi, nhưng cũng chẳng phải là nơi đẹp nhất. Thị trấn này nằm dọc hai bờ sông South, cách Wilmington và bờ biển khoảng sáu mươi ki lô mét về phía Tây Bắc. Thoạt nhìn, có vẻ nó chẳng khác gì so với hàng ngàn thị trấn tự cung tự cấp nằm rải rác khắp miền Nam của những người công nhân luôn tự hào về lịch sử của mình. Vài hộp đèn giao thông treo lủng lẳng những sợi dây võng xuống làm cản trở giao thông khi xe cộ lách lên cây cầu bắc qua sông, hai bên con phố chính là những tòa nhà gạch thấp tầng san sát nhau kéo dài khoảng nửa cây số, các cửa trước in tên những địa điểm ăn uống hoặc mua sắm đồ ngũ kim. Đó đây vài cây mộc lan già mọc rải rác, rễ phình lên khiến vỉa hè cũng bị nhấp nhô theo. Đằng xa, nhìn thấy cả cột ống biển hiệu cắt tóc cổ lỗ sĩ và những cụ già ngồi chờ chiếc ghế băng đặt ngoài cửa tiệm. mỉm cười. Cảnh tượng cũ kỹ là lạ, tựa hồ như ở những năm năm mươi của thế kỷ trước vậy.
      Tuy nhiên, sau khi quan sát kỹ hơn, cảm thấy những ấn tượng ban đầu ấy sai lầm. Dù nằm ngay bên bờ sông - mà cũng có thể chính vì thế - vẫn thấy tình trạng xuống cấp gần những đường bao mái, nơi những đống gạch đổ nát sát chân tường, những vết ố bẩn phai màu cao tới cả mét tính từ móng cho thấy ở đây từng xảy ra lụt lội nghiêm trọng. Chưa có cửa hàng nào đóng cửa, nhưng nhìn vài chiếc xe đỗ lèo tèo bên ngoài, tự hỏi họ có thể buôn bán được bao lâu. Những khu thương mại ở các thị trấn sắp sửa theo gót bọn khủng long, và nếu thị trấn này cũng giống như hầu hết những nơi mà qua đoán có lẽ mọc lên khu buôn bán khác mới hơn, nơi gần như chắc chắn có Wal-Mart hay Piggly Wiggly[1], đặt dấu chấm hết cho phần này của thị trấn.
      [1]. Wal-Mart và Piggly-Wiggly là hai hệ thống siêu thị bán lẻ lớn của Mỹ.
      Kể cũng lạ. ở đây. nhớ mình từng hình dung thế nào về Hampton, nhưng chắc phải thế này.
      Mà thôi, thị trấn có thế nào phải việc của mình. Nhìn Zeus liếm nốt cái bát, Thibault tự hỏi phải mất bao lâu nữa mới tìm thấy ấy. Người phụ nữ trong bức ảnh. Người mà kiếm tìm.
      Nhưng tìm thấy . Đó là điều chắc chắn. nhấc ba lô lên. “Mày sẵn sàng chưa?”
      Zeus nghiêng đầu.
      “Chúng ta thuê phòng. Tao muốn ăn và tắm rửa. Mà cả mày cũng phải tắm nữa.”
      Thibault được vài bước nhận ra Zeus vẫn nhúc nhích. ngoái đầu lại.
      “Đừng có nhìn tao như vậy. Dứt khoát mày phải tắm. Có mùi rồi đấy.”
      Zeus vẫn đứng im.
      “Thôi được. Tùy mày. Tao đây.”
      bước về phía phòng quản lý để đăng ký, thừa biết kiểu gì Zeus cũng theo. cho cùng, Zeus luôn theo .
      Cho đến trước khi nhặt được bức ảnh đó, cuộc sống của Thibault diễn ra đúng như dự tính. Lúc nào cũng có sẵn kế hoạch. muốn ở trường mình phải được loại giỏi, và được loại giỏi; muốn tham gia nhiều môn thể thao, và chơi gần như tất cả các môn. muốn học piano và violin, và giỏi tới mức có thể tự sáng tác nhạc. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Colorado, quyết định gia nhập lực lượng lính thủy đánh bộ. Người tuyển quân mừng rỡ khi thấy chọn lính thay vì trở thành nhân viên văn phòng. Bị sốc, nhưng mừng rỡ. Hầu như chẳng có ai tốt nghiệp đại học mà lại khao khát được làm lính quèn, ấy nhưng đó chính là điều mà muốn.
      Vụ đánh bom Trung tâm Thương mại Thế giới chẳng liên quan mấy tới quyết định này của . Việc nhập ngũ dường như là điều hết sức tự nhiên, bởi lẽ bố cũng từng phục vụ lực lượng lính thủy đánh bộ suốt hai mươi lăm năm. Nhập ngũ là lính trơn và giải ũ với quân hàm trung sĩ, mái tóc hoa râm và gương mặt rắn rỏi có thể dọa được tất cả mọi người trừ vợ ông và trung đội mà ông chỉ huy. Ông coi những chàng trai ấy như con mình, và mục tiêu duy nhất của ông, như ông thường với họ, là trả họ về với mẹ, bình an, mạnh khỏe và trưởng thành. Ông dự chừng hơn năm chục đám cưới của cấp dưới, những người thể nào tưởng tượng được mình cưới vợ mà có ông chúc phúc. Ông cũng là lính thủy đánh bộ xuất sắc. Ông được trao tặng huân chương Bronze Star và hai huân chương Purple Heart tại Việt Nam; từng nhiều năm tham gia các chiến dịch Grenada, Panama, Bosnia và Cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất. Ông là người bao giờ ngại thuyên chuyển, và Thibault trải phần lớn thời niên thiếu theo ông hết nơi này đến nơi khác, sống trong các căn cứ quân khắp thế giới. Về số mặt nào đó Okinawa có vẻ giống quê nhà của Thibaut hơn là Colorado, và mặc dù vốn tiếng Nhật rơi rớt nhiều nhưng nghĩ chỉ tuần ở Tokyo là lại lưu loát thứ ngôn ngữ này ngay. Giống như bố, định theo đuổi binh nghiệp đến cùng rồi nghỉ hưu, nhưng khác với ông, lại muốn sống lâu sau đó để hưởng thụ. Bố mất vì cơn đau tim chỉ hai năm sau lần cuối cùng ông cởi bộ quân phục màu xanh treo lên giá. cơn nhồi máu cơ tim mạnh và đột ngột. Mới phút trước ông còn xúc tuyết khỏi con đường dẫn vào nhà phút sau ông ra . Chuyện xảy ra từ mười ba năm trước. Khi đó Thibault mười lăm tuổi.
      Đối với Thibault, ngày bố mất và đám tang sau đó là những ký ức đáng nhớ nhất trong quãng đời trước khi gia nhập lính thủy đánh bộ. Được nuôi dạy trong môi trường nhà binh khiến người ta biết cách tự xóa nhòa ký ức, đơn giản vì họ phải di chuyển quá nhiều. Những người bạn đến rồi ; quần áo được gói ghém rồi gỡ ra, thứ gì trong nhà cần thiết thường xuyên bị vứt bỏ; và kết quả là chẳng còn lại gì nhiều. Đó là những giai đoạn khó khăn, nhưng chúng khiến đứa trẻ trở nên mạnh mẽ theo cái cách mà đa số mọi người hiểu nổi. Nó học được rằng, khi ai đó bị bỏ lại sau lưng chắc chắn có người mới thế chỗ; rằng nơi nào cũng đem lại cả điều tốt và điều xấu. Tất cả những điều này khiến đứa trẻ lớn nhanh hơn.
      Thậm chí những năm đại học cũng mờ nhạt đối với Thibault, nhưng dẫu sao quãng đời đó ai cũng như ai cả thôi. Cả tuần vùi đầu vào sách vở, cuối tuần chơi bời, tới kỳ thi nhồi nhồi nhét nhét, ở ký túc xá đồ ăn dở tệ, và hai bạn , trong đó có kéo dài được hơn năm tí chút. Đó là câu chuyện muôn thuở của tất cả những ai từng học đại học, nhưng rất ít câu chuyện để lại dư dài lâu. Rốt cuộc chỉ có kiến thức của là ở lại. Thú , Thibault cảm thấy đời mình vẫn chưa bắt đầu cho đến căn cứ Paris tham gia khóa huấn luyện cơ bản. Vừa bước xuống xe buýt, nghe tiếng viên trung sĩ huấn luyện quát vào tai. đời này chỉ duy nhất các trung sĩ huấn luyện là khiến tin rằng đời từ trước đến nay chẳng đáng xu. Bây giờ là người của họ, chấm hết. giỏi thể thao? Hãy chống đẩy năm mươi lần cho tôi, Ngài Thủ Quân. tốt nghiệp đại học? Hãy ráp khẩu súng này, Einstein. Hay có bố từng ở lính thủy đánh bộ? Hãy lau chùi cái máy xén này, giống như bố từng làm ấy. Toàn những trò rập khuôn cũ rích. Chạy, đều, nghiêm, lăn qua bùn, trèo tường: chả có gì trong khóa huấn luyện cơ bản làm bất ngờ.
      Phải công nhận rằng khóa tập huấn này tương đối có tác dụng. Nó quật người ta xuống bùn, đánh người ta tơi tả, nhưng cuối cùng cũng rèn đúc nên những tay lính thủy đánh bộ. Hoặc đó là những gì họ . Dù gì Thibault cũng gục gã. vượt qua thử thách, nhẫn nhịn, tuân lệnh, và giữ nguyên bản chất của mình. Cuối cùng trở thành lính thủy đánh bộ.
      Sau khóa huấn luyện, được điều động về tiểu đoàn l, trung đoàn 5 đóng tại trại Pendleton. San Diego chính là kiểu thành phố mà thích, với khí hậu dễ chịu, những bãi tắm xinh đẹp, và phụ nữ lại càng quyến rũ hơn nữa. Nhưng thời kỳ đó chẳng kéo dài được bao lâu. Tháng Giêng năm 2003, ngay khi vừa bước sang tuổi Hai mươi ba, được đưa tới Kuwait để tham gia Chiến dịch giải phóng Iraq. Trại Doha, nằm trong khu công nghiệp ở thành phố Kuwait, được trưng dụng thành khu quân kể từ Cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, trông chả khác nào thành phố . Ở đó có phòng tập thể thao, trung tâm máy tính, trạm bán hàng cho quân đội, các địa điểm ăn uống và bạt ngàn lều dã chiến trải dài tới tận chân trời. Nơi này vốn bận rộn nay càng trở nên bận rộn hơn do phải chuẩn bị cho cuộc tấn công, mà ngay từ đầu mọi thứ hỗn độn lắm rồi. Những ngày ở đây là chuỗi các cuộc họp dài lê thê lếch thếch, các buổi rèn luyện thể lực và diễn tập nhiều phương án tác chiến thay đổi. Phải tập tập lại hàng trăm lần cách thức mặc quần áo chống vũ khí hóa học. Lại còn những lời đồn đại liên miên nữa chứ. Nản nhất là cứ phải cố xác định xem lời của ai có khả năng là . Ai cũng biết ai đó quen người nào đó nghe được chính xác cái chuyện xảy ra. Hôm nay thấy chuẩn bị tấn công ngay lập tức, ngày mai lại nghe kế hoạch tấn công hoãn lại. Lúc đầu thấy hướng tấn công chính là từ phía Bắc và Nam, sau đó có người lại bảo là chỉ từ hướng Nam mà thôi, mà có thể cũng chả phải vậy nữa. Hôm nay nghe kẻ thù có vũ khí hóa học và họ định sử dụng chúng; hôm sau lại có thông tin rằng họ dám dùng sợ nước Mỹ giáng trả bằng vũ khí nguyên tử. Người này xì xào rằng Vệ binh Cộng hòa của Iraq có kế hoạch lập tuyến tử thay sát biên giới; người kia lại thề thốt tuyến tử thủ được dựng lên ở gần Baghdad. Lại có những người khác chắc chắn rằng đối phương sống chết gần các giếng dầu. Tóm lại là, chẳng ai biết gì cả, điều này chỉ càng kích động trí tưởng tượng của trăm năm mươi ngàn quân lính tập kết ở Kuwait mà thôi.
      Đại bộ phận lính tráng chỉ là những đứa trẻ. Nhiều khi mọi người quên mất điều này. Mười tám, mười chín, hai mươi tuổi - phân nửa số quân nhân này thậm chí còn chưa đủ tuổi để mua cốc bia. Chúng tự tin, được huấn luyện tốt và háo hức xông pha, nhưng thể nào lờ cái thực tế về những điều xảy đến với chúng. số chết. Có đứa về điều đó hết sức thoải mái, những đứa khác viết thư về cho gia đình rồi đưa cho sĩ quan tuyên úy. Chúng nhanh chóng trở nên cáu bẳn. số khó ngủ, số khác lại ngủ li bì suốt ngày. Thibault quan sát tất cả những chuyện này với thái độ thờ ơ đến kỳ lạ. Chào mừng đến với chiến tranh - bên tai vẫn văng vẳng lời bố . Luôn luôn có từ để tả nó, ấy là SNAFU: lúc nào cũng hỗn loạn như vậy, có gì lạ hết[2].
      [2]. Nguyên văn là: “SNAFU: Situation normal, all f_ed up”. Viết đầy đủ là: Situation normal, all fucked up, hoặc đôi khi để tránh bất lịch , người ta thường viết Situation normal, all fouled up. Ban đầu, cụm từ viết tắt được sử dụng phổ biến trong quân đội, với lối hài hước để chỉ việc xảy ra như vốn dĩ vẫn vậy. Sau này, từ “snafu" được bình thường hóa, trở thành tiếng lóng ám chỉ hỗn loạn, tình trạng hoang mang.
      phải là Thibault hoàn toàn miễn nhiễm với tình trạng căng thẳng leo thang, và cũng như tất cả mọi người, cần lối thoát. thể giải pháp nào đó. bắt đầu chơi poker. Bố từng dạy chơi, và biết chơi... hoặc nghĩ là mình biết chơi. Rồi nhanh chóng hiểu ra rằng những người khác còn chơi giỏi hơn. Trong ba tuần đầu tiên, nướng sạch số tiền tích cóp được kể từ khi nhập ngũ. Đáng ra phải hạ bài lại theo, và ngược lại, khi cần theo lại hạ. Số tiền học nghề như thế cũng có gì nhiều, vả lại dù có giữ được tiền cũng chẳng có mấy chỗ mà tiêu, tuy nhiên vẫn thấy ức chế trong nhiều ngày liền. ghét bị thua.
      Thuốc giải duy nhất là chạy đường dài vào buổi sáng trước khi mặt trời mọc. Lúc đó trời thường rất lạnh; mặc dù tới Trung Đông được tháng nhưng vẫn chưa hết ngạc nhiên vì sao sa mạc có thể lạnh đến thế. mải miết chạy dưới bầu trời đầy sao, hơi thở thoát ra thành từng làn khói mỏng trong trung.
      lần, khi sắp kết thúc đường chạy và căn lều của ra phía xa xa, Thibault bắt đầu chạy chậm lại. Mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời, tỏa ánh vàng rực rỡ khắp sa mạc khô cằn. Chống tay lên hông, cố gắng thở đều. Và rồi, đúng lúc đó, khóe mắt bắt được ánh sáng yếu ớt hắt lên từ bức ảnh bị vùi nửa dưới cát. Thibault dừng lại nhặt bức ảnh lên và nhận ra nó được tráng laminate, dù rẻ tiền nhưng rất cẩn thận, chắc là để bảo vệ khỏi tác động của môi trường. phủi bụi, lau sạch bức ảnh, và đó là lần đầu tiên nhìn thấy .
      Đó là tóc vàng mỉm cười, đôi mắt màu ngọc bích ánh lên vẻ tinh nghịch, mặc quần jean và áo phông có hàng chữ QUÝ MAY MẮN ngực. Đằng sau là biển hiệu ghi PHIÊN CHỢ HAMPTON. Đứng cạnh con béc giê mõm xám. Trong đám đông phía sau là hình ảnh hơi bị nhòe nét của hai thanh niên mặc áo phông in logo đứng cạnh quầy bán vé. Phía xa xa là ba cây thường xanh, loại cây có thể mọc ở hầu như bất cứ đâu. Mặt sau của bức ảnh có dòng chữ viết tay, “Hãy bảo trọng! E.”
      Tuy nhiên, ngay lúc ấy chẳng nhìn ra bất cứ chi tiết nào cả. Thoạt đầu, theo bản năng, chực quăng nó . Nhưng đúng lúc định làm vậy chợt nghĩ rằng bất cứ ai làm mất nó có thể muốn nhận lại. ràng là bức ảnh này có ý nghĩa nào đó với ai đó.
      Khi trở lại trại, ghim bức ảnh lên bảng thông báo gần lối vào của trung tâm máy tính vì nghĩ rằng lúc này lúc khác, hầu như tất cả mọi người ở trại đều ghé qua đây. Thể nào cũng có người nhận lại bức ảnh.
      tuần, rồi mười ngày trôi qua. Bức ảnh vẫn chưa có ai nhận lại. Thời gian đó trung đội của phải luyện tập ròng rã nhiều tiếng đồng hồ mỗi ngày, còn những ván poker trở nên ăn thua thực . Vài người bị thua hàng ngàn đô la; cả trại xì xào có hạ sĩ mất đến gần mười ngàn đô. Riêng Thibault từ bỏ hẳn thú cờ bạc sau thất bại ê chề trong lần đầu thử vận may. thích dành thời gian rỗi để nghĩ về cuộc tấn công sắp tới và tự hỏi mình thế nào nếu bị dính đạn. Ba ngày trước khi diễn ra cuộc tấn công, khi lững t ngang qua trung tâm máy tính, thấy bức ảnh vẫn còn ghim bảng thông báo, và vì lý do nào đó mà đến giờ vẫn thể hiểu nổi, gỡ nó ra cho vào túi.
      Tối hôm đó, Victor, bạn thân nhất của Thibault trong tổ - họ cùng nhau trải qua khóa huấn luyện cơ bản - rủ chơi poker bất chấp thái độ của . Với lưng vốn ít ỏi, Thibault bắt đầu cuộc chơi cách dè dặt và cho là mình có thể ngồi lại quá nửa tiếng. Ba ván đầu bỏ bài, rồi bốc được bộ sảnh ở ván thứ tư cùng bộ cù lũ trong ván thứ sáu. Các quân bài liên tục đẹp như mơ - thùng, phá, sảnh, cù lũ. Chừng giữa cuộc chơi lúc nửa đêm, gỡ lại toàn bộ số tiền thua lúc trước. Người trước bỏ cuộc, kẻ sau thế chỗ. Thibault chơi tiếp. Đến lượt họ ra , vẫn ở lại. Vận may liên tục mỉm cười, và khi bình minh ló dạng, thắng được số tiền còn nhiều hơn cả sáu tháng lương lính đầu tiên của mình.
      Mãi tới khi cùng Victor rời khỏi bàn, Thibault mới chợt nhận ra là suốt từ đầu cuộc chơi đến giờ, bức ảnh vẫn nằm trong túi . Khi về tới lều, cho Victor xem bức ảnh và chỉ vào dòng chữ áo . Bố mẹ Victor là dân nhập cư trái phép sống gần Bakersfield, bang California, chàng chỉ theo đạo mà còn tin vào các thể loại điềm báo. Sấm chớp, đường ngã ba và mèo đen là những thứ linh ứng nhất Trước khi tới đây, có lần Victor kể cho Thibault nghe về ông chú có đôi mắt quỷ: "Khi chú ấy nhìn cậu theo kiểu nào đấy chuyện cậu chết chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.” Vẻ nghiêm túc của Victor khiến cho Thibault cảm thấy như được trở về tuổi lên mười, say sưa nghe Victor kể chuyện với cái đèn pin chống dưới cằm. Khi đó bình luận gì cả. Mỗi người mỗi kiểu. Victor muốn tin vào điềm báo à? Tốt thôi. Điều quan trọng là tài bắn súng của Victor đủ siêu để được chọn vào đội bắn tỉa, và tin cậu chàng đủ để phó thác cuộc đời mình cho bạn.
      Victor nhìn chằm chằm vào bức ảnh trước khi trả lại nó. “Cậu bảo cậu tìm thấy thứ này lúc bình minh hả?”
      “Ừ.”
      “Khi mặt trời lên là quãng thời gian mạnh nhất trong ngày đấy.”
      “Cái đấy cậu rồi.”
      “Đó là dấu hiệu,” Victor . “ ấy là bùa may mắn của cậu. Thấy cái áo ấy mặc chứ?”
      “Chắc chỉ may mắn đêm nay thôi.”
      chỉ đêm nay đâu. Cậu tìm thấy bức ảnh là có lý của nó. ai nhận bức ảnh cũng có lý của nó. Và rồi cậu quyết định lấy lại cũng có lý của nó nốt. Có nghĩa là chỉ duy nhất cậu mới có được bức ảnh mà thôi.”
      Thibault muốn gì đó về người đánh mất bức ảnh và cảm thấy thế nào về chuyện này, nhưng rồi quyết định im lặng. nằm xuống giường và đan hai bàn tay kê dưới đầu.
      Victor cũng làm như Thibault rồi bổ sung, “Tớ mừng cho cậu. Từ giờ trở , may mắn luôn ở bên cậu.”
      “Tớ cũng mong là thế.”
      “Nhưng cậu đừng bao giờ để mất bức ảnh.”
      “Sao?”
      “Nếu mất sau đó cái bùa gây tác dụng ngược.”
      “Nghĩa là sao?”
      “Nghĩa là cậu gặp rủi ro. Mà trong chiến tranh, rủi ro là gì cậu cũng biết rồi đấy.”
      * * *

      Mọi thứ bên trong phòng nghỉ cũng xấu xí y hệt vẻ bề ngoài của nhà trọ: gỗ ván ốp tường, bóng đèn thòng xuống từ trần nhà bằng dây xích, thảm trải sàn dệt từ loại sợi thô lởm chởm, chiếc ti vi được bắt chặt vào đế. Có vẻ như căn phòng được trang trí từ giữa những năm bảy mươi rồi từ đó đến nay chưa bao giờ được nâng cấp, và nó gợi cho Thibault nhớ đến những chỗ mà bố chọn làm nơi dừng chân trong chuyến nghỉ xuyên vùng Tây Nam của gia đình, khi còn . Cả nhà thường ngủ qua đêm trong những nhà nghỉ ngay sát đường cao tốc, và miễn sao chúng tương đối sạch ông đều duyệt hết. Mẹ nghĩ thế, nhưng bà có thể làm gì chứ? Xung quanh đấy chẳng có cái khách sạn Bốn Mùa nào, mà kể cả có nữa họ cũng đâu đủ tiền thuê.
      Thibault có thói quen giống bố mỗi khi bước vào phòng trọ: kéo tấm phủ giường ra để chắc chắn rằng vải lót nệm sạch , rồi kiểm tra tấm che bồn tắm xem có mốc meo , có tóc ở trong bồn rửa . Mặc dù có những chỗ bị ố bẩn, vòi nước hơi bị rỏ giọt, phảng phất mùi thuốc lá, nhưng nơi này vẫn sạch hơn tưởng. Lại còn đắt nữa. Thibault trả trước tiền thuê tuần, bị hỏi câu nào, tiền thêm cho chó. Gì gì, thế là hời rồi. có thẻ tín dụng, có thẻ ghi nợ, có cả thẻ ATM, có địa chỉ email và có cả điện thoại di động. mang theo gần như tất cả những gì mình có. có tài khoản ngân hàng, nơi có thể chuyển tiền cho khi cần. Nó được đăng ký dưới tên công ty chứ phải tên . chẳng giàu có gì. Thậm chí còn thuộc diện trung lưu nữa. Cái công ty đó thực chất chả làm gì cả. Chỉ đơn giản là thích riêng tư.
      dẫn Zeus đến bồn, tắm rửa cho nó bằng chai dầu gội để trong ba lô. Rồi đến lượt tắm và tròng vào người bộ quần áo sạch cuối cùng. Ngồi giường, mở lật hết lượt cuốn danh bạ điện thoại, tìm kiếm điều gì đó đặc biệt nhưng gặp may. Rồi viết tờ giấy nhắc mang đồ giặt là khi nào có thời gian, sau đó quyết định kiếm cái gì bỏ bụng tại nhà hàng nhìn thấy ngay dưới phố.
      Khi tới đó, họ cho Zeus vào, việc này có gì bất ngờ. Thế là cu cậu đành phải nằm ở ngoài cửa rồi ngủ mất. Thibault gọi bánh kẹp pho mát và thịt rán, tráng miệng bằng sữa sô la, cuối cùng gọi thêm bánh kẹp pho mát cho Zeus. Trở ra, Thibault nhìn Zeus ngoạm sạch cái bánh trong chưa đến hai mươi giây rồi lại ngó lên nhìn .
      “Rất vui khi thấy mày khoái nó. nào.”
      Thibault mua bản đồ thị trấn ở cửa hàng tạp hóa rồi tới ngồi băng ghế gần quảng trường thị trấn - trong những công viên kiểu cổ bao quanh bốn mặt là những con phố san sát các cửa hàng cửa hiệu. Với những hàng cây cổ thụ, sân chơi cho trẻ em và rất nhiều hoa, nom công được đông vui cho lắm: có mấy bà mẹ đứng tám chuyện với nhau trong khi trẻ con chơi cầu trượt hay lượn tới lượn lui xích đu. Thibault dòm kỹ mặt đám phụ nữ, rồi khi chắc chắn rằng có trong số ấy quay lại trải tấm bản đồ ra, trước khi họ bắt đầu lo lắng về có mặt của . Những bà mẹ có con lúc nào cũng lo lắng khi thấy gã đơn độc lảng vảng xung quanh mà chẳng chủ định làm gì hết. trách họ. Xã hội giờ đầy rẫy bọn điên mà.
      Vừa nghiên cứu bản đồ, vừa định hướng xem mình ở đâu và vạch ra bước tiếp theo. hề ảo tưởng rằng chuyện này dễ dàng. Xét cho cùng đâu biết gì nhiều. Tất cả những gì có là bức ảnh - họ tên hay địa chỉ. thông tin về nghề nghiệp. số điện thoại. đề ngày tháng. có gì ngoài khuôn mặt trong đám đông.
      Nhưng cũng có vài manh mối. nhiều lần nghiên cứu kỹ các chi tiết bức ảnh, và bắt đầu bằng những gì mình biết. Bức ảnh được chụp ở Hampton. Nom trong ảnh khoảng chừng hai mươi hai mốt tuổi. rất cuốn hút. con chó béc giê, hoặc là quen chủ của nó. Tên bắt đầu bằng chữ E. Emma, Elaine, Elise, Eileen, Ellen, Emily, Erin, Erica... đó là những cái tên phổ biến nhất, mặc dù biết ở miền Nam còn có những cái tên như là Erdine hay Elspe. đến hội chợ với người sau này sang Iraq. ấy đưa cho người này bức ảnh, và Thibault tìm thấy nó vào tháng Hai năm 2003, có nghĩa là bức ảnh phải được chụp từ trước đấy nữa. Như vậy giờ người phụ nữ này phải gần ba mươi rồi. Đằng xa xa có hàng ba cây thường xanh. Đó là tất cả những gì biết. Dữ kiện có.
      Rồi xây dựng các giả thiết, bắt đầu là với Hampton. Hampton là địa danh khá phổ biến. Chỉ cần gõ từ khóa lên mạng là cho ra rất nhiều kết quả. Các hạt và thị trấn: Nam Carolina, Virginia, New Hampshire, Iowa, Nebraska, Georgia. Còn những nơi khác nữa. Rất nhiều. Và tất nhiên, còn Hampton là hạt Hampton ở Bắc Carolina.
      Mặc dù có cột mốc nào ràng trong khung cảnh phía sau người phụ nữ trong ảnh - chẳng hạn hình ảnh Monticello cho biết ở bang Virginia, hay tấm biển CHÀO MỪNG TỚI IOWA! - nhưng cũng có đươc chút thông tin. phải từ người phụ nữ, mà là từ mấy thanh niên phía sau đứng xếp hàng mua vé. Hai người trong số họ mặc áo có in logo. cái in hình Homer Simpson, chả có ý nghĩa gì. Cái kia có từ “DAVIDSON” ngang ngực áo, lúc đầu tưởng cũng chẳng có ý nghĩa gì, kể cả khi Thibault suy ngẫm về nó. Thoạt tiên cứ nghĩ rằng đây là từ viết t của Harley Davidson, tên loại mô tô. Nhưng thao tác Google làm vấn đề sáng tỏ. biết được Davidson cũng là tên của trường đại học danh tiếng gần Charlotte, Bắc Carolina. Chọn lọc và đầy thử thách, trọng tâm là liberal arts[3]. Lướt qua cẩm nang của trường này, tìm thấy mẫu áo y hệt như vậy.
      [3]. Liberal Arts: chương trình đại học truyền đạt kiến thúc tổng hợp về toán, khoa học, ngôn ngữ, lịch sử, triết học; phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, tổng hợp kiến thức. Liberal Arts sâu vào ngành nghề nào mà chú trọng đào tạo phương pháp tư duy cho học sinh.
      Tuy nhiên hiểu cái áo thể đảm bảo rằng bức ảnh được chụp ở Bắc Carolina. Biết đâu ai đó học trường này cho chàng trong bức ảnh cái áo; biết đâu ta là học sinh ngoài bang, biết đâu ta chỉ thích màu sắc của chiếc áo, biết đâu ta tốt nghiệp và chuyển đến nơi khác. Nhưng ngoài chi tiết này ra chẳng còn manh mối nào nữa, thế là trước khi rời Colorado, Thibault gọi điện đến Phòng Thương mại Hampton và được họ xác nhận rằng hạt có tổ chức hội chợ thường niên vào mùa hè. Thêm tín hiệu tốt. đích đến, nhưng vẫn chưa chắc là đúng. chỉ giả định rằng đó là nơi mình tìm mà thôi. Tuy nhiên, vì lý do nào đó thể giải thích nổi, cảm chấy chính là nó.
      Còn vài giả định khác nữa, nhưng trở lại với chúng sau. Việc đầu tiên phải làm là tìm đến nơi hội chợ đó diễn ra. Hy vọng rằng hội chợ của hạt này được tổ chức ở địa điểm cố định; mong người nào có thể chỉ đường cho cũng có thể giải đáp luôn khúc mắc. Nơi tốt nhất để tìm người như vậy là trong các cửa hàng quanh đây. phải cửa hàng quà lưu niệm hay cửa hàng đồ cổ - những chỗ đó thường là của những người mới dọn đến, những người từ miền Bắc tìm cuộc sống yên tĩnh với khí hậu ấm áp hơn. Thay vào đó, theo , khả dĩ nhất chỉ có thể là nơi như cửa hàng đồ ngũ kim địa phương, quán bar, hoặc văn phòng nhà đất. cho rằng mình nhận ra chỗ đó khi nhìn thấy nó.
      Thibault muốn biết chính xác địa điểm nơi bức ảnh được chụp. phải là để hình dung hơn người phụ nữ đó là ai. Nơi diễn ra hội chợ có lẽ cũng chẳng giúp gì
      muốn biết có phải ở chỗ đó có ba cái cây thường xanh cao vút mọc sát nhau hay , loài cây lá kim này có thể mọc hầu như ở bất cứ đâu.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      3
      Beth


      Beth đặt lon Diet Coke của xuống bên cạnh, hài lòng vì thấy Ben rất vui vẻ trong bữa tiệc sinh nhật của Zach, bạn nó. ước thầm giá như thằng bé phải tới chỗ của bố nó Melody đến ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh.
      “Ý tưởng hay chứ hả? Súng nước vui ra trò.” Melody mỉm cười, để lộ hàm răng được tẩy hơi quá trắng trong khi da lại quá sậm, như thể vừa mới nhuộm da về vậy. Mà chắc thế . Từ hồi còn học cấp ba Melody rất tự đắc với ngoại hình của mình, và dạo gần đây có vẻ như nó trở thành nỗi ám ảnh của .
      “Hy vọng bọn trẻ chĩa mấy khẩu Super Soaker đó vào mình.”
      “Khôn hồn đừng có làm vậy,” Melody cau mày. “Mình bảo Zach nếu nó làm thế mình giải tán hết.” ngả ra sau cho thoải mái hơn. “Hè này cậu biến đâu vậy? Chả thấy cậu đâu cả, mình gọi điện cũng trả lời.”
      “Mình biết. Xin lỗi. Hè này mình tu ấy mà. cố hết sức bắt kịp bà và trại chó, và cả việc huấn luyện chúng nữa. Mình hiểu làm thế nàoà bà có thể xoay xở được suốt thời gian dài như thế.”
      “Dạo này bà Nana ổn chứ?”
      Bà Nana là bà của Beth. Bà nuôi dạy Beth từ khi mới lên ba, sau khi bố mẹ mất vì tai nạn ô tô. gật đầu. “Ừ, bà hồi phục dần, nhưng cơn đột quỵ làm cho bà mất sức nhiều. Nửa thân trái của bà là vẫn còn yếu lắm. Bà có thể tự lo liệu phần việc huấn luyện, nhưng điều hành trại chó và huấn luyện lũ chó vẫn là quá sức. Cậu cũng biết thừa là bà phải rất cố gắng rồi đấy. Lúc nào mình cũng lo bà làm quá sức thôi.”
      “Mình thấy tuần này bà còn quay lại đội hợp xướng nữa cơ.”
      Bà Nana tham gia đội hợp xướng của nhà thờ First Baptist suốt hơn ba mươi năm, và Beth hiểu rằng đó là trong những niềm đam mê của bà.
      “Tuần trước là buổi tập lại đầu tiên của bà, nhưng mình chắc bà có hát gì nhiều . Lúc về bà ngủ liền hai tiếng luôn.”
      Melody gật đầu. “Vào đầu năm học sao?”
      “Mình cũng biết nữa.”
      “Cậu vẫn dạy chứ?”
      “Hy vọng là vậy.”
      “Hy vọng? Cậu dự các buổi họp giáo viên tuần tới à?”
      Beth thậm chí còn muốn nghĩ đến vụ đó chứ gì tới việc trò chuyện về nó, nhưng biết Melody có ý tốt. “Ừ, nhưng thế có nghĩa là mình dạy. Mình biết mình làm khó cho trường, nhưng cũng thể để bà ở nhà mình cả ngày được. Kiểu gì cũng chưa thể được. Vả lại, ai giúp bà điều hành trại chó? Bà mình thể dạy mấy con chó cả ngày được.
      “Cậu thuê người giúp được à?” Melody gợi ý.
      “Mình cũng cố đây. Mình kể cậu nghe chuyện đầu mùa hè này chưa nhỉ? Mình thuê được gã, gã đến được hai lần rồi chuồn mất ngay vào dịp nghỉ cuối tuần. Gã thứ hai cũng vậy. Sau đó chẳng ai thèm đến nữa. Thành ra tấm biển “Tuyển người” được treo mãi cửa sổ nhà mình thế đó.”
      “David luôn phàn nàn về tình trạng thiếu người giỏi.”
      “Cứ bảo cậu ấy trả họ mức lương tối thiểu rồi hẵng phàn nàn. Thậm chí cả bọn học sinh cấp ba còn chẳng muốn cọ rửa cũi nữa là. Chúng công việc đó gớm ghiếc.”
      “Lại bèo bọt nữa.”
      Beth bật cười, “Ừ, đúng đấy,” thừa nhận. “Nhưng mình còn thời gian nữa. Mình nghĩ là có thể thay đổi được gì trước tuần tới, và nếu vậy mọi chuyện tệ hơn nữa. Mình thực thích huấn luyện chó. Chúng dễ bảo gấp đôi lũ học trò ấy.”
      “Giống thằng con mình?”
      “Con cậu rất dễ bảo. Tin mình .”
      Melody quay về phía Ben. “Cu cậu cao hơn so với lần trước mình gặp đấy.”
      “Gần ba xăng ti mét,” Beth , thầm nghĩ Melody đáng nhận ra điều đó. Ben luôn bé hơn so với tuổi, lúc nào cũng đứng ở hàng đầu, ngoài cùng bên trái trong ảnh chụp cả lớp, thấp hơn nửa cái đầu so với đứa bé ngồi cạnh. Zach, con trai của Melody, hoàn toàn đối lập: ngoài cùng bên phải, hàng cuối, luôn là đứa cao nhất lớp.
      “Mình nghe học kỳ này Ben chơi bóng đá nữa,” Melody .>“Nó muốn thử cái gì đó khác.”
      “Như cái gì?”
      “Nó muốn học chơi violin. Nó theo học lớp của bà Hastings.”
      “Bà ấy vẫn dạy cơ á? Ít nhất bà cũng phải chín mươi rồi còn gì.”
      “Nhưng bà ấy thừa kiên nhẫn để dạy người mới bắt đầu. Hoặc ít nhất với mình như vậy. Và Ben rất thích bà ấy. Đó là điều quan trọng nhất.”
      “Tốt quá,” Melody . “Mình cá là cu cậu chơi rất giỏi. Còn Zach chắc là rất dở.”
      “Chúng cùng đội. Zach chơi cho đội năng khiếu, đúng ?”
      “Nếu nó cố gắng.”
      “Nó làm được thôi.”
      Mà đúng thế . Zach là đứa trẻ bẩm sinh tự tin và thích cạnh tranh, trưởng thành sớm, luôn nổi trội hơn những đứa ít năng khiếu hơn sân. Như Ben chẳng hạn. Thậm chí ngay cả lúc này, khi Ben chạy vòng quanh sân với khẩu Super Soaker cu cậu cũng đọ được với Zach. Tốt tính và dễ thương, nhưng Ben lại phải là vận động viên giỏi, điều này ngừng làm chồng cũ của tức điên. Năm ngoái, ta đứng tại đường biên sân bóng với vẻ mặt cau có như khỉ, đây cũng là lý do khác khiến Ben thích chơi bóng.
      “David có tham gia huấn luyện nữa ?”
      David là chồng của Melody và là trong hai bác sĩ nhi của thị trấn. “ ấy vẫn chưa quyết định. Từ ngày Hoskins nghỉ, ấy phải trực nhiều hơn. ấy rất ghét trực, nhưng làm sao được? Họ vẫn cố gắng tìm thêm bác sĩ khác, nhưng rất khó. Chẳng phải ai cũng muốn làm việc ở thị trấn , nhất là khi bệnh viện gần nhất ở Wilmington cách tận bốn lăm phút xe. Chuyện đó khiến ngày làm việc dài hơn. Gần như ngày nào cũng tám giờ tối ấy mới về nhà. Thậm chí đôi khi còn muộn hơn nữa.” Beth nhận thấy vẻ lo lắng trong giọng của Melody, và đoán bạn mình nghĩ về chuyện vụng trộm của David mà chàng thú nhận là kéo dài tới tận mùa đông năm ngoái. Beth hiểu lúc này mình nên im lặng hơn. Ngay từ lần đầu nghe mọi người đồn thổi, quyết định họ chỉ đến chuyện đó khi Melody muốn nghe. Còn ? Tốt thôi. Đó phải là việc của .
      “Còn cậu sao? Cậu có hẹn hò với ai thế?”
      Beth nhăn mặt. “. Chẳng ai cả từ sau vụ Adam.”
      “Có chuyện quái gì với Adam vậy?”
      “Mình biết.”
      Melody lắc đầu. “Mình thể rằng mình ghen với cậu. Mình chưa bao giờ thích hẹn hò cả.”
      “Ừ, nhưng ít nhất cậu giỏi vụ đó. Mình kinh khủng.”
      “Cậu thổi phồng lên đấy thôi.”
      hề. Nhưng đó phải là vấn đề lớn. Cái chính là mình chắc mình còn đủ năng lượng cho chuyện đó nữa . Mặc quần lọt khe, cạo lông chân, à ơi tán tỉnh, giả vờ vui vẻ với các bạn của gã. Có vẻ như tất cả những trò đó cần quá nhiều sức lực.”
      Melody nhăn mũi. “Cậu cạo lông chân ư?”
      “Tất nhiên là mình có chứ,” , rồi hạ thấp giọng, “Ờ cũng khá thường xuyên mà.” ngồi thẳng lưng lên. “Nhưng cậu biết rồi đấy. Hẹn hò là việc khó khăn. Đặc biệt là đối với những người cỡ tuổi mình.”
      “Ôi thôi . Cậu còn chưa đến ba mươi mà, và cậu vẫn có thể làm cánh đàn ông chết mê chết mệt ấy chứ.”
      Beth nghe như thế nhiều quá rồi, và cũng thể lờ cái thực tế là đám đàn ông - kể cả có gia đình - vẫn thường dài cổ ngoái theo mỗi khi ngang qua. Trong ba năm đầu dạy học, chỉ có duy nhất ông bố mình đến trao đổi việc học tập của con cái với . Những trường hợp khác đều là các bà mẹ. nhớ là cách đây vài năm thổ lộ điều băn khoăn đó với bà, và bà bảo, “Họ muốn để cháu mình với chồng họ đâu, vì cháu xinh xắn như quả bí ngô ngày lễ hội vậy.” Bà lúc nào cũng có kiểu chẳng giống ai về mọi thứ thế đấy.
      “Cậu quên mất ta sống ở đâu rồi,” Beth . “Ở đây có nhiều đàn ông độc thân cỡ tuổi mình. Với cả nếu ngần này tuổi mà còn độc thân chắc chắn là có vấn đề.”
      đúng.”
      “Có thể ở thành phố có. Nhưng còn quanh đây sao? Trong thị trấn này? Tin mình . Mình sống ở đây từ lúc còn quấn tã đến giờ, ngay cả khi học đại học, mình cũng tàu điện từ nhà đến trường. Trong vài lần hiếm hoi có người hẹn hò với mình bọn mình chơi hai ba lần gì đó, và rồi họ chẳng gọi điện nữa. Đừng hỏi mình vì sao.” phẩy tay vẻ bất cần. “Nhưng chả vấn đề gì. Mình có Ben và bà chứ đâu phải chỉ lọ mọ mình với hàng tá mèo vây quanh đâu hả.”
      “Ừ. Cậu chỉ có cả đàn chó thôi.”
      phải chó của mình. Là chó của người khác. Có khác nhau đấy.”
      “Ừ phải rồi,” Melody phá lên cười. “Khác nhau lớn đấy.”
      Ở bên kia sân, Ben lăm lăm khẩu súng nước đuổi theo lũ trẻ bất ngờ trượt ngã. Kính của nó rơi vào đám cỏ. Beth biết là mình nên lại xem con trai thế nào: lần gần đây nhất khi cố gắng giúp Ben, thằng bé ngượng ra mặt. Nó lần mò xung quanh cho tới khi tìm được cặp kính, đứng lên và lại chạy tiếp.
      “Chúng lớn nhanh quá nhỉ?” Melody cắt ngang dòng suy nghĩ của Beth. “Mình biết là câu đó nhàm quá rồi, nhưng thực là thế. Mình nhớ mẹ mình chúng lớn nhanh như thổi, lúc ấy mình còn nghĩ là bà chẳng biết bà gì. Mình sốt ruột mong Zach lớn nhanh hơn chút nữa. Tất nhiên, lúc đó nó hay bị đau bụng, và đêm nào mình cũng chỉ được ngủ được hai ba tiếng, ròng rã hơn tháng trời. Thế mà bây giờ chúng sắp vào cấp hai đến nơi rồi.”
      “Chưa. Còn năm nữa cơ.”
      “Mình biết. Nhưng nó vẫn khiến mình lo lắng.”
      “Vì sao?”
      “Cậu biết đấy... đây là lứa tuổi bất trị mà. Bọn trẻ trong thời kỳ bắt đầu nhận biết thế giới của người lớn, mà lại chưa đủ trưởng thành như người lớn để xử lý được mọi việc xảy ra xung quanh. Rồi lại còn bao nhiêu cám dỗ, và chúng còn nghe lời cậu như ngày nào nữa, tâm tính bất ổn, rồi mình là người đầu tiên thú nhận rằng mình trông chờ điều đó xảy đến đâu. Cậu là giáo viên. Cậu hiểu mà.”
      “Đó là lý do vì sao mình dạy lớp Hai.”
      lựa chọn đúng đắn.” Giọng Melody chùng xuống. “Cậu nghe về Elliot Spencer chưa?”
      “Mình chẳng nghe được gì nhiều. Mình làm nữ tu mà, cậu quên à?”
      “Nó bị bắt vì bán ma túy.”
      “Nó chỉ hơn Ben vài tuổi mà!”
      “Và vẫn còn học cấp hai.”
      “Giờ cậu bắt đầu làm mình lo
      Melody đảo mắt. “Đừng lo. Nếu con mình mà giống Ben mình chả có lý do gì để mà lo cả. Ben có tâm hồn già dặn. Thằng bé lúc nào cũng lịch , lúc nào cũng tốt bụng, lúc nào cũng là đứa đầu tiên giúp những đứa bé hơn. Nó là đứa biết cảm thông. Nhưng thằng Zach nhà mình ngược lại.”
      “Zach cũng rất ngoan còn gì.”
      “Mình biết. Nhưng lúc nào nó cũng khó bảo hơn Ben nhiều. Và nó hay đua đòi hơn Ben nữa.”
      “Nãy giờ cậu có nhìn chúng chơi ? Mình ngồi đây thấy Ben toàn chạy theo đuôi những đứa khác thôi.”
      “Cậu hiểu là mình muốn gì mà.”
      Đúng là Beth hiểu. Ngay từ khi còn bé, Ben bằng lòng với con đường riêng của nó. Điều đó tốt, phải thừa nhận như vậy, vì con đường mà thằng bé chọn tương đối ổn. Mặc dù có nhiều bạn nhưng nó lại có nhiều mối quan tâm để tự mình theo đuổi. Cũng toàn những thú vui lành mạnh. Nó hầu như thích chơi điện tử hay lướt Web, ti vi thi thoảng mới xem và thường xem chừng ba mươi phút là tắt. Thay vào đó, nó đọc sách hoặc chơi cờ vua ( trò chơi mà dường như ở mức độ nào đó, cu cậu tự mày mò tìm hiểu bằng trực giác) bảng trò chơi điện tử được tặng nhân dịp Giáng sinh. Nó rất thích đọc và viết. Nó còn thích cả bầy chó trong trại, nhưng lũ chó thường tỏ vẻ bồn chồn do bị nhốt lâu và thường tảng lờ cu cậu . Ben dành nhiều buổi chiều để chơi ném bóng tennis với lũ chó, và hầu hét số bóng đó chẳng bao giờ được tha về.
      “Tất cả ổn thôi.”
      “Mong là vậy.” Melody đặt cốc của mình sang bên. “Chắc mình nên lấy bánh thôi nhỉ? Zach có buổi tập lúc năm giờ.”
      “Trời nóng đấy.”
      Melody đứng lên. “Mình chắc là nó muốn mang theo khẩu súng bắn nước. Có khi lại bắn cả nước vào huấn luyện viên cũng nên.”
      “Cậu có muốn mình giúp gì ?”
      , cảm ơn cậu. Cứ ngồi đây thư giãn . Mình quay lại ngay.”
      Beth nhìn Melody khuất mà chợt nhận ra bạn mình gầy quá nhiều. Phải sút đến năm, bảy ký lô so với lần gặp trước. Hẳn là do bị căng thẳng, nghĩ. Chuyện của David vắt kiệt sức lực của Melody, nhưng giống Beth trong hoàn cảnh tương tự, Melody quyết tâm cứu vãn cuộc hôn nhân của mình. Nhưng cũng phải lại, hai cuộc hôn nhân của hai quá khác nhau. David phạm sai lầm lớn, và điều đó làm Melody đau đớn, nhưng bất chấp tất cả, bề ngoài họ luôn tỏ ra là đôi hạnh phúc. Ngược lại, cuộc hôn nhân của Beth thất bại ngay từ khi mới bắt đầu. Đúng như bà đoán trước. Bà có khả năng đánh giá con người qua cái nhìn đầu tiên, và bà có cái kiểu nhún vai rất đặc trưng khi thích ai đó. Khi Beth thông báo mang bầu và thay vì vào đại học cùng bạn trai cũ quyết định cưới nhau, bà bắt đầu nhún vai nhiều đến nỗi giống như kiểu bị co giật thần kinh vậy. Tất nhiên khi đó Beth lờ và cho là bà cho ấy cơ hội. Bà đâu biết ấy. Bọn cháu hạnh phúc. Ấy nhưng tuyệt nhiên . Viễn cảnh đó bao giờ xảy ra. Bà luôn tỏ ra lịch nhã nhặn khi gặp ta đến nhà, nhưng những cái nhún vai vẫn ngừng mãi đến khi Beth lại quay về nhà bà ở cách đây mười năm. Cuộc hôn nhân kéo dài chưa đầy chín tháng; Ben được năm tuần tuổi. Bà hoàn toàn đúng về con người ta.
      Melody biến mất vào trong nhà rồi xuất trở lại sau đó mấy phút, theo sau là David. cầm dao nĩa đĩa giấy, bân rộn. có thể thấy những mảng tóc hoa râm gần vành tai , và những nếp nhăn sâu nơi vầng trán. Lần gặp trước, những nếp nhăn ấy còn chưa , và đoán đó là dấu hiệu khác của đợt căng thẳng mà David trải qua.
      Đôi khi, Beth tự hỏi cuộc sống của mình thế nào nếu mình lập gia đình. phải với người chồng cũ, dĩ nhiên. Nghĩ tới thôi cũng rùng cả mình. Ơn Chúa, phải chịu đựng ta mỗi cuối tuần là quá đủ rồi. Nhưng với ai đó khác sao. Ai đó... tốt hơn. Dù sao có vẻ như đó cũng là ý kiến hay, ít nhất cũng là lý thuyết. Sau mười năm, quen với cuộc sống của mình, và cho dù có thể rất tuyệt nếu như có ai đó để thi thoảng xoa bóp lưng hay chia sẻ với những buổhảnh thơi sau cả ngày bận rộn nhưng vẫn thấy hay hay vui vui khi được vận bộ pyjama loanh quanh cả ngày thứ Bảy nếu muốn. Đôi khi vẫn làm vậy đấy. Cả Ben nữa. Họ gọi đó là “ngày lười biếng”. Những ngày tuyệt vời nhất. Đôi khi hai mẹ con chẳng thiết làm gì ngoài việc gọi pizza và xem phim. Tuyệt cú mèo!
      Vả chăng, nếu đương hẹn hò khó khăn hôn nhân còn khó khăn hơn nữa. Melody và David phải cặp đôi duy nhất phải vật lộn với nó; dường như hầu hết các cặp vợ chồng đều gặp khó khăn. kết cục thể tránh khỏi. Bà thường thế nào nhỉ? Dính hai con người khác nhau với những kỳ vọng khác nhau dưới mái nhà phải lúc nào cũng như lăn tôm với bột trong lễ Phục sinh.
      Chính xác. Dù rằng chắc bà lấy những phép dụ đó từ đâu nữa.
      Liếc nhìn đồng hồ, biết bữa tiệc sắp kết thúc, phải quay về nhà xem bà thế nào. Chắc chắn tìm thấy bà trong trại chó, ngồi sau bàn làm việc hoặc kiểm tra lũ chó cho mà xem. Bà vẫn bướng bỉnh như vậy. Chân trái của bà hầu như thể đứng được nữa cũng đâu hề hấn gì nhỉ? Chân bà tuy khỏe khoắn nhưng cũng đâu phải sáp ong chứ. Ngộ nhỡ bà ngã và bị thương sao? Bà có phải là cái bình sứ mỏng manh đâu hả. Tay trái của bà đâu còn cử động dễ dàng được nữa? Miễn là bà múc được xúp vào mồm, còn đâu chẳng cần.
      Bà quả thực là độc nhất vô nhị thế gian này, xin Chúa phù hộ bà, như từ trước đến giờ vẫn thế.
      “Mẹ ơi!”
      Mải suy nghĩ, nhìn thấy Ben đến gần. Khuôn mặt lấm tấm tàn nhang của cu cậu nhễ nhại mồ hôi. Nước tong tong từ bộ đồ của nó, áo lấm lem vết cỏ ố mà chắc liệu có giặt sạch được .
      “Sao vậy con?”
      “Mẹ cho con ở nhà Zach tối nay mẹ nhé?”
      “Mẹ tưởng bạn ấy có buổi tập bóng.
      “Sau buổi tập cơ ạ. Nhiều bạn khác cũng ngủ lại nhà nó. Nó được mẹ tặng bộ Guitar Hero làm quà sinh nhật.”
      Nhưng biết lý do khiến thằng bé muốn ngủ lại nhà bạn.
      “Tối nay được. Bố đến đón lúc năm giờ.”
      “Mẹ có thể gọi xin bố được ạ?”
      “Mẹ cố. Nhưng con biết đấy...”
      Ben gật đầu, và như thường lệ, mỗi khi việc này diễn ra, Beth lại thấy nhói đau trong tim. “Vâng, con biết.”
      Nắng chiếu qua cửa kính ô tô nóng như thiêu đốt, và ước gì mình sửa điều hòa xe. kéo cửa kính thấp xuống, gió thổi tóc quất vào mặt ran rát. lại tự nhủ mình cần phải cắt tóc. tưởng tượng ra cảnh với thợ cắt tóc, Cứ tỉa hết , Terri. Cắt sao cho tôi giống con trai ấy! Nhưng biết đến lúc ấy rồi mình vẫn phải bảo ta tỉa cho cái đầu bình thường mà thôi. Trong vài chuyện, rất là nhát.
      “Nom các con chơi rất vui.”
      “Vâng.”
      “Chỉ vậy thôi sao?”
      “Mẹ, con mệt lắm.”
      Beth chỉ vào quầy Dairy Queen ở đằng xa. “Con có muốn ra đó mua kem ?”
      “Kem tốt cho con ạ.”
      “Nào, mẹ của con. Chắc mẹ mới là người phải câu đó chứ nhỉ. Mẹ chỉ nghĩ rằng nếu con thấy nóng chắc con thích ăn kem thôi.”
      “Con đói. Con vừa ăn bánh.”
      “Được rồi. Tùy con. Nhưng về đến nhà đừng có trách mẹ nếu lúc đấy mới nhận ra mình bỏ lỡ cơ hội nhé.”
      “Vâng,” Ben quay mặt ra phía cửa sổ.
      “Này, nhà vô địch. Con ổn chứ?”
      Giọng thằng bé gần như bị gió thổi bạt . “Tại sao con phải đến chỗ bố? Ở đó chẳng có gì vui hết. Bố bắt con phải ngủ lúc chín giờ, cứ như là con vẫn học lớp Hai hay gì đó. Con thậm chí còn chẳng thấy mệt nữa là. Còn ngày mai, bố bắt con phải làm việc nhà cả ngày cho xem.”
      “Mẹ tưởng bố đưa con tới nhà ông nội ăn trưa sau khi nhà thờ chứ.”
      “Con vẫn muốn .”
      Mẹ cũng muốn con , Beth nghĩ. Nhưng có thể làm gì được chứ?
      “Sao con mang quyển sách đọc nhỉ?” gợi ý. “Con có thể đọc truyện ở phòng con tối nay, rồi nếu ngày mai con thấy chán, con lại đọc tiếp ở đó.”
      “Lúc nào mẹ cũng vậy.”
      Bởi vì mẹ chẳng biết gì với con nữa, nghĩ. “Hay con muốn hiệu sách ?” “,” thằng bé đáp. Nhưng Beth hiểu nó có ý như thế.
      “Dù sao con cũng cùng mẹ chứ. Mẹ muốn mua sách.”
      “Dạ.”
      “Mẹ rất tiếc vì chuyện này, con biết mà.”
      “Vâng, con hiểu.”
      hiệu sách có làm Ben phấn chấn hơn chút. Mặc dù cuối cùng nó cũng chọn hai cuốn truyện trinh thám Hardy Boys nhưng Beth nhận ra dáng lừ đừ của thằng bé khi họ xếp hàng đợi tính tiền. đường trở về. Ben vờ mở cuốn ra đọc. Beth biết thằng bé làm vậy để khỏi hỏi han hay miễn cưỡng pha trò hòng làm nó thấy thoải mái hơn trước viễn cảnh phải ngủ ở nhà bố. Mười tuổi, Ben tỏ ra rất giỏi trong việc phán đoán hành vi của mẹ.
      Beth ghét cái thực tế là thằng bé thích đến chỗ bố. nhìn Ben vào trong nhà, biết nó lên phòng lấy đồ đạc. Thay vì theo, ngồi lại bậc cửa và lần thứ nghìn lẻ , ước rằng mình có cái xích đu. Trời vẫn nóng phát rồ, và qua những tiếng gầm gừ vọng lại từ chó sau vườn, có thể thấy là lũ chó cũng phải chịu đựng cái nóng này. căng tai nghe ngóng tiếng bà trong nhà. Nếu bà ở trong bếp khi Ben qua chắc chắn nghe thấy tiếng bà rồi. Bà đúng là đài phát thanh di động. phải vì cơn đột quỵ ngày trước, mà đó là phần cá tính của bà. Bảy mươi sáu tuổi mà cứ như muời sáu mười bảy, bà cười to, khua muỗng ầm ĩ trong chảo khi nấu nướng, mê bóng chuyền, vặn đài đến váng óc mỗi khi kênh NPR phát nhạc Big Band[1]. “Thứ nhạc như vậy tự dưng mà mọc lên như nấm, đúng .” Ngày nào bà cũng chân xỏ ủng cao su, mình khoác áo che bụi, đầu đội chiếc mũ rơm quá khổ, qua khu vườn sang bên trại chó, huấn luyện lũ chó theo chủ, đứng, dừng lại theo mệnh lệnh, mãi đến khi bị đột quỵ bà mới chịu nghỉ ngơi.
      [1]. Big Band là kiểu nhạc đồng diễn kết hợp với nhạc Jazz, loại nhạc thịnh hành từ những năm 1930 đến cuối những năm 1950, sau thời đại nhạc Swing.
      Nhiều năm về trước, cùng với chồng, bà dạy lũ chó làm gần như tất cả mọi thứ. Họ cùng nhau nuôi dưỡng và huấn luyện chó săn, chó giúp việc cho người mù, chó dò tìm ma túy cho cảnh sát, chó giữ nhà. Giờ ông mất, bà chỉ thỉnh thoảng mới làm những việc đó. phải vì bà biết cách huấn luyện; bà thường đảm nhiệm phần lớn công việc huấn luyện là đằng khác. Nhưng huấn luyện con chó giữ nhà phải mất đến mười bốn tháng, mà bà có thể quý con vật ngay từ khi mới nhìn thấy chúng, thành thử mỗi khi phải trả nó lại cho chủ sau thời gian dài gắn bó như vậy trái tim bà luôn luôn nhói đau. Giờ đây, chẳng còn ông bên cạnh bà để an ủi, “Ta bán nó rồi, ta có quyền lựa chọn bà ạ”, bà thấy dễ dàng hơn khi quyết định từ bỏ phần việc này.
      Thay vào đó, bà mở trường huấn luyện chó biết nghe lời. Mọi người gửi chó đến đây vài tuần - trại lính cún, bà gọi như vậy - và bà dạy chúng thực các mệnh lệnh ngồi, nằm, đứng im, , theo chủ. Đó là những lệnh đơn giản mà hầu như chú chó nào cũng có thể hiểu rất nhanh. Thường cứ hai tuần là có khoảng mười lăm đến hai nhăm con “tốt nghiệp”, và mỗi con cần độ hai mươi phút huấn luyện mỗi ngày. Nếu kéo dài thời gian huấn luyện hơn chút nữa lũ chó mất hứng thú ngay. Dạy khoảng mười lăm con sao, nhưng lên đến hai lăm con rất mệt, thế con nào cũng cần được dắt dạo hằng ngày. Đấy là còn chưa kể đến việc cho ăn, dọn chuồng, gọi điện trao đổi với khách hàng và những công việc giấy tờ khác. Gần như suốt cả mùa hè, Beth phải làm việc mười hai, mười ba tiếng ngày.
      Họ luôn luôn bận rộn. Huấn luyện con chó có gì khó khăn - từ khi mười hai tuổi, Beth giúp đỡ bà những lúc có thể - rồi còn hàng tá sách về chủ đề này nữa. Ngoài ra, bệnh viện thú y cũng có các buổi dạy dành cho chó và chủ của chúng vào mỗi sáng thứ Bảy với học phí đáng kể. Beth biết hầu như ai cũng có thể dành ra hai mươi phút mỗi ngày trong vài tuần để huấn luyện chó của họ. Nhưng họ lại làm thế. Thay vào đó, họ cất công lặn lội từ những nơi rất xa như Florida hay Tennessee để nhờ người khác huấn luyện chúng. Cứ cho là bà Nana nổi tiếng là người huấn luyện chó tốt , nhưng thực tế là bà chỉ dạy chúng tuân lệnh ngồi, theo chủ và đứng im. Chẳng phải là môn khoa học cao siêu gì cho cam. Ấy thế mà người ta lại vô cùng biết ơn. Và trăm lần như , họ luôn luôn tỏ ra sửng sốt.
      Beth xem đồng hồ. Keith - chồng cũ của - sắp tới đây. Mặc dù số vấn đề với người đàn ông này - Chúa chứng giám, những vấn đề rất nghiêm trọng - nhưng ta được chung quyền chăm sóc con, đơn giản như vậy, và cố hết sức để chấp nhận điều đó. Beth hay an ủi mình rằng việc ở cùng bố rất quan trọng đối với Ben. Con trai cần dành thời gian bên bố của chúng, đặc biệt là giai đoạn thanh thiếu niên, và Beth thừa nhận rằng Keith phải người xấu. Chưa chín chắn, nhưng xấu. Đôi khi Keith cũng làm vài ly bia, nhưng nghiện bia rượu; ta hút chích; và cũng chưa từng lạm dụng cả ba thứ đó. Chủ nhật nào Keith cũng đến nhà thờ, ta có công việc ổn định và luôn gửi tiền nuôi con đúng hạn. Hay, đúng hơn là, gia đình ta luôn gửi tiền đúng hạn. Họ gửi tiền vì ý thức trách nhiệm, trong nhiều điều mà gia đình đó củng cố qua hàng bao nhiêu năm nay. Và trong phần lớn những dịp cuối tuần dành cho cậu con trai, Keith luôn tránh đưa các bạn ta thay như thay áo về nhà mình. Từ khóa ở đây là: “phần lớn”. Gần đây ta có tiến bộ hơn, nhưng khá chắc rằng điều này liên quan tới mối quan hệ tại của ta với mấy bồ hơn là tới lời tái cam kết về nghĩa vụ làm cha. Lẽ ra cũng chẳng bận tâm lắm về việc này, nếu phải vì tuổi tác mấy bồ gần đây của ta thường gần với Ben hơn là với bố nó, và thói thường đám đó có chỉ số IQ nông cạn như bát đựng salat vậy. hề ác ý; chính Ben cũng thấy thế. Vài tháng trước, Ben phải giúp trong số những bạn của bố nó nấu món mì ống pho mát Kraft thứ hai sau khi mẻ đầu tiên bị cháy. Những hướng dẫn hộp như “thêm sữa, bơ, sau đó trộn và khuấy” ràng là quá khả năng của ta.
      Tuy nhiên, đó phải là điều làm Ben thấy phiền nhất. Mấy bạn đó cũng ổn - họ đối xử với Ben như với cậu em trai hơn là con trai. Ben cũng chẳng hề buồn bực khi phải làm những việc lặt vặt trong nhà. Có thể nó phải quét vườn hay lau bếp và đổ rác, nhưng điều đó có nghĩa là chồng cũ của coi con trai như thằng sai vặt. Làm việc nhà cũng tốt cho nó; ở với thằng bé cũng phải làm việc nhà vào cuối tuần thôi. , vấn đề là ở cái tính trẻ con của Keith, ta ngừng tỏ ra thất vọng về Ben. Keith muốn vận động viên thể thao, chứ phải là thằng con thích chơi violin. ta muốn có người cùng săn bắn; nhưng thay vì thế lại có thằng con thích đọc sách. ta muốn con trai mình biết chơi bóng rổ; nên ta khó chịu vì thằng con cận thị vụng về.
      Keith bao giờ những điều ấy với Ben hay Beth, mà ta cũng chẳng cần làm vậy. Tất cả thể quá ràng qua cái lối ta tỏ ra khinh bỉ mỗi khi nhìn Ben chơi bóng, cái kiểu ta từ chối ban lời khen khi thằng bé chiến thắng trong vòng đấu cuối của giải cờ vua, và cái cách ta liên tục ép Ben phải là ai đó chứ phải là chính nó. Những điều này khiến Beth vừa phát điên vừa đau lòng, nhưng với Ben còn tệ hơn thế nhiều. Bao năm qua, nó cố làm hài lòng bố, nhưng rồi thằng bé tội nghiệp cũng thấy kiệt sức. Ví dụ như học bắt bóng. Chẳng hại gì, đúng ? Lẽ ra Ben học được cách thích môn thể thao này. Biết đâu nó còn cò thể tham gia giải đấu thiếu niên. Hiểu ý của Keith khi ta gợi ý nó chơi môn này ban đầu Ben rất sốt sắng. Nhưng lâu sau, thằng bé đâra chán ghét khi nghĩ tới giải đấu. Nếu nó bắt được ba quả liên tiếp, bố nó muốn nó bắt được bốn quả. Khi bắt được bốn quả, lại phải cố gắng năm quả. Thậm chí ngay cả khi nó làm được hơn thế, bố nó lại muốn nó trượt quả nào. Rồi vừa bắt vừa chạy tiến. Vừa bắt vừa chạy lùi. Trượt chân cũng bắt. Ngã chúi đầu xuống cũng bắt. Bắt những quả bóng bố nó cố ném ở mức khó nhất có thể. Và nếu nó để rớt quả? Tận thế đến nơi! Bố thằng bé phải kiểu người , “Cố gắng tốt đấy, quán quân”, hay “Rất nỗ lực!”. , ta thét lên “Nào, thôi ngay cái trò vờ vịt đó !”
      Ôi, Beth với ta về việc đó. đến phát chán. Lời vào tai này lại ra tai kia. Vẫn như cũ. Bỏ qua chưa trưởng thành, mà có lẽ chính vì cái chưa trưởng thành ấy đúng hơn, Keith rất bướng bỉnh và bảo thủ trong nhiều chuyện, và nuôi dạy Ben cũng là trong số dó. ta muốn có đứa con trai theo kiểu của mình, và có Chúa chứng giám, ta nhào nặn nó. Và đúng như dự đoán, Ben chuyển sang phản ứng theo cái kiểu thụ động-gây hấn đặc trưng của mình. Nó bắt đầu để rớt mọi thứ Keith ném cho, thậm chí cả những quả lốp đơn giản nhất, đồng thời làm ngơ trước thất vọng ngày càng tăng của bố, cho đến khi ta giận dữ lột đôi găng ném xuống đất, lao vào trong nhà giận dỗi suốt khoảng thời gian còn lại của buổi chiều. Ben vờ như thấy gì, ngồi chỗ dưới gốc cây thông đọc sách cho đến khi mẹ đến đón vài giờ sau đó.
      Beth và chồng cũ chỉ cãi nhau về Ben; họ như lửa với băng vậy. ràng hơn Keith là lửa còn Beth là băng. ta vẫn còn bám lấy , khiến cảm thấy khó chịu dứt. Chả hiểu thế quái nào mà ta vẫn cho là hẵng còn muốn dính dáng tới ta; nhưng dù thế nào nữa cũng ngăn được ta cứ sán lại tán tỉnh. hầu như thể nhớ nổi tại sao hồi xa xưa kia lại thích ta. có thể liệt kê ra những lý do mình kết hôn - còn trẻ và ngốc nghếch, đấy là lý do trước nhất, và lại bị dính bầu - nhưng bây giờ , bất cứ khi nào bị ta săm soi từ đầu tới chân, đều cảm thấy muốn co rúm lại. ta phải mẫu người của . Thành , Keith chưa bao giờ là mẫu người của . Nếu cả cuộc đời cuốn băng video, hôn nhân chính là phần mà vui mừng được xóa nhất. Trừ việc có Ben, tất nhiên.
      Beth ước gì có cậu em trai Drake ở đây, và lại thấy nhói đau khi nghĩ đến cậu. Mỗi khi Drake đến, Ben chạy theo cậu như kiểu lũ chó theo bà vậy. Hai cậu cháu cùng nhau lang thang bắt bướm hoặc dành hàng giờ chơi trong nhà cây mà ông ngoại xây. Để lên ngôi nhà đó chỉ có đường duy nhất là qua cây cầu yếu ớt bắc ngang trong hai con suối chảy qua khu đất thuộc sở hữu của gia đình. giống chồng cũ của , Drake quý và chấp nhận Ben, và xét nhiều phương diện, cậu ấy có vẻ giống bố của Ben hơn là ông bố của thằng bé. Ben mến Drake, và mến Drake bởi cung cách cậu ấy lặng lẽ xây dựng lòng tin nơi con trai . nhớ lần cảm ơn cậu về điều đó, nhưng cậu chỉ nhún vai trả lời như để giải thích, “Đơn giản là em thích chơi với thằng bé thôi mà.”
      Beth biết mình cần xem bà thế nào. Đứng dậy khỏi ghế, nhận thấy có ánh đèn trong văn phòng, nhưng nghĩ bà xem hồ sơ giấy tờ. Có lẽ bà ở ngoài khu rào quây sau trại chó đúng hơn, và Beth về hướng đó. Hy vọng bà nghĩ đến việc cố gắng dắt lũ chó dạo. Nếu chẳng may chúng giật dây xích thể giữ được thăng bằng, mà cũng giữ được chúng nữa. Nhưng đây lại là trong những việc bà thích làm hơn cả. Bà luôn cho rằng hầu hết lũ chó chưa được tập tành đủ, và trang trại quả là nơi tuyệt vời để bù đắp thiếu sót đó. Rộng gần bảy mươi héc ta, nó kiêu hãnh phô những cánh đồng trải dài bát ngát, bọc quanh là rừng cây gỗ cứng nguyên sinh, gần chục con đường mòn ngang dọc và hai con suối chảy thẳng ra sông South. Được mua cách đây năm mươi năm với cái giá rẻ mạt, bây giờ trang trại lại rất có giá. Ấy là ông luật sư vậy. Ông ta qua thăm chỗ này và gợi ý với bà về khả năng bán đất.
      Beth biết ai đứng sau vụ này. Bà cũng vậy, nên bà vờ ngây ngô khi ông luật sư chuyện. Bà chăm chú nhìn ông ta với đôi mắt mở to, trống rỗng, thả từng quả nho xuống sàn nhà, và lẩm bẩm gì đó chả ai hiểu nổi. Sau khi ông luật sư ra về, bà và Beth ngồi cười khúc khích hàng giờ thôi.
      Liếc qua cửa phòng làm việc, thấy bóng dáng của bà, nhưng có thể nghe thấy tiếng bà vọng ra từ khu rào quầy.
      “Đứng im... lại đây. Được rồi ! giỏi lắm!”
      Vòng qua góc sân, Beth nhìn thấy Nana khen con chó Shih Tzu khi nó chạy từng bước thong thả về phía bà. Nó làm Beth liên tưỏng đến những con chó đồ chơi bán đầy ở Wal-Mart.
      “Bà, bà làm gì vậy? Bà nên ra đây mà.”
      “A, chào Beth.” như hai tháng trước, giờ đây bà hầu như lắp nữa.
      Beth chống nạnh. “Bà nên ra đây mình chứ!”
      “Bà mang theo điện thoại. Bà nghĩ nếu có vấn đề gì bà chỉ cần gọi điện là xong.”
      “Bà có điện thoại mà.”
      “Bà có cái của cháu. Bà lén lấy nó khỏi ví cháu sáng nay.”
      “Vậy bà gọi cho ai?”
      Có vẻ như bà chưa nghĩ đến điều này, và lông mày Beth nhướng cao khi liếc sang con chó. “Xem cháu phải chịu đựng những gì này, con Precious sao? Cháu với bà răng nó còn sắc hơn cái xẻng xúc đất của bà cơ mà.” tức giận rít lên the thé như con cú.
      Beth biết bà sắp chuyển chủ đề.
      “Ben đâu rồi?” bà hỏi.
      ở trong, chuẩn bị xong rồi. Thằng bé đến chỗ bố nó ạ.”
      “Bà cá là nó sợ đến đó. Cháu chắc nó trốn ở chỗ nhà cây chứ?”
      “Thoải mái ,” Beth . “ ta vẫn là bố của nó.”
      “Đấy là cháu nghĩ thế.”
      “Cháu chắc chắn.”
      “Cháu có chắc là hồi đó cháu ăn nằm với ai khác hả? Tình đêm với cậu bồi bàn, hay gã lái xe, hay đó cùng trường?” Giọng bà tràn trề hy vọng. Lần nào câu này bà cũng có cái giọng y như thế.
      “Chắc chắn ạ. Mà cháu với bà cả nghìn lần rồi còn gì.”
      Bà nháy mắt. “ đúng, nhưng ta luôn hy vọng trí nhớ của cháu khá hơn.”
      “À mà bà ở ngoài này bao lâu rồi?”
      “Bây giờ là mấy giờ?”
      “Gần bốn giờ.”
      “Vậy ở đây ba tiếng.”
      “Trong cái nóng này sao?”
      “Bà mệt, Beth. Vụ đó chỉ là tai nạn thôi.”
      “Bà bị đột quy.”
      “Nhưng quá nghiêm trọng.”
      “Bà thể cử động tay.”
      “Chỉ cần múc được xúp thôi, còn lại bà cần tới nó. Thôi, để bà xem thằng cháu của bà thế nào. Bà muốn tạm biệt nó trước khi nó .” Họ về hướng trại chó, con Precious theo sau, thở hổn hển vì nóng, đuôi nhỏng lên. chó đáng .
      “Bà nghĩ tối nay mình muốn ăn đồ Tàu. Cháu sao?”
      “Cháu chưa nghĩ đến việc ăn gì.”
      “Ờ, vậy hãy nghĩ xem.
      “Vâng, ta có thể ăn đồ Tàu. Nhưng cháu muốn ăn gì quá khó tiêu. Đồ rán cũng . Trời nóng quá mà.”
      “Cháu chả thú vị gì hết.”
      “Nhưng cháu khỏe mạnh.”
      “Cũng vậy thôi. À, vì cháu khỏe mạnh nên cháu có thể đưa con Precious về chuồng ? Nó ở chuồng mười hai. Bà nghe được truyện cười mới muốn kể cho Ben.”
      “Bà nghe truyện cười ở đâu vậy?”
      đài.”
      “Nó có phù hợp ?”
      “Tất nhiên là hợp. Cháu nghĩ bà là ai chứ?”
      “Cháu biết chính xác bà là ai mà, vậy nên cháu mới hỏi. Chuyện như thế nào ạ?”
      “Hai tên ăn thịt người ăn thịt diễn viên hài, và tên quay sang hỏi tên kia, ‘Món này ăn vui mày nhỉ?’”
      Beth bật cười. “Nó thích đấy.”
      “Tốt. Thằng bé tội nghiệp cần thứ gì đó làm nó vui lên.”
      “Nó ổn mà.”
      “Phải rồi, nó ổn mà. Chẳng lẽ bà biết.”
      Khi họ đến chỗ trại chó, Nana tiếp về phía ngôi nhà, từng bước khập khễnh của bà có vẻ đỡ hơn soáng nay. Tình hình của bà khá dần, nhưng còn mất khá lâu nữa mới hồi phục hoàn toàn được.

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953

         4
         f—e
        Thibault


      Lực lượng lính thủy đánh bộ được cơ cấu dựa số ba. Đó là trong những điều đầu tiên họ dạy ta ở khóa huấn luyện cơ bản. dễ hiểu là thế này. Ba lính thủy đánh bộ thành tổ, ba tổ thành tiểu đội, ba tiểu đội thành trung đội, ba trung đội thành đại đội, ba đại đội thành tiểu đoàn, và ba tiểu đoàn thành trung đoàn. Dù sao đó cũng chỉ là giấy tờ. Khi đánh vào Iraq, trung đoàn của họ phối hợp với nhiều đơn vị khác, gồm tiểu đoàn trinh sát thiết giáp hạng , các tiểu đoàn chiến đấu thuộc trung đoàn số 11 lính thủy đánh bộ, các tiểu đoàn xe lội nước số 2 và 3, đại đội B thuộc tiểu đoàn công binh số 1, và tiểu đoàn dịch vụ hậu cần số 115. Được trang bị tận răng. Gần sáu ngàn con người cả thảy.

      Vừa bộ dưới bầu trời tối dần lúc hoàng hôn, Thibault vừa hồi tưởng về cái đêm đó, khi lần đầu tiên thực tham gia trận đánh ở Iraq. Trung đoàn của , trung đoàn 5, thuộc sư đoàn 1, là đơn vị đầu tiên vượt biên giới vào Iraq với mục đích chiếm mỏ dầu Rumaylah. Mọi người đều nhớ Saddam Hussein đốt cháy hầu hết các giếng dầu ở Kuwait khi ông ta rút lui trong Cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất, và ai muốn điều đó xảy ra lần nữa. Chuyện dài nhưng tóm lại, trung đoàn của , cùng với các đơn vị khác, đến đó kịp thời. Chỉ có bảy giếng dầu bốc cháy vào lúc toàn bộ khu vực được bảo vệ. Từ đó tiểu đội của Thibault được lệnh tiếp lên phía Bắc để tham gia giải phóng Baghdad. Trung đoàn số 5 của là đơn vị được tặng thưởng nhiều huân chương nhất trong lực lượng lính thủy đánh bộ, vì thế được chọn dẫn đầu mũi tấn công thọc sâu vào lãnh thổ đối phương. Chuyến đầu tiên đến Iraq của kéo dài hơn bốn tháng.

      Năm năm sau trận chiến đó, hầu hết các chi tiết về lần sang Iraq đầu tiên mờ nhạt. hoàn thành nhiệm vụ và cuối cùng được gửi trở về Pendleton. Thibault thích về kiện này. cố gắng nghĩ đến nó. Có ngoại lệ, đó là về Ricky Martinez và Bill Kincaid, hai đồng đội cùng tổ chiến đấu với Thibault, phần của câu chuyện mà bao giờ quên.

      Chọn ra ba người bất kỳ, gắn họ lại với nhau, chắc chắn họ có những điểm khác biệt. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Ngay về bề nổi, họ khác nhau rồi. Ricky lớn lên trong căn hộ tại Midland, Texas, mê cử tạ, từng là cầu thủ bóng chày của đội Minnesota Twins trước khi nhập ngũ; còn Bill lớn lên ở trang trại sữa cùng năm chị em phía Bắc New York, từng chơi kèn trumpet trong ban nhạc diễu hành của trường trung học. Ricky thích những tóc vàng, Bill thích những tóc đen; Ricky nhai thuốc lá sợi, Bill hút thuốc; Ricky thích nhạc rap, Bill thích nhạc đồng quê miền Tây. Nhưng quan trọng. Họ tập luyện cùng nhau, ăn cùng nhau, ngủ cùng nhau. Họ tranh luận về thể thao và chính trị. Họ cãi nhau và trêu chọc nhau như em. sáng Bill ngủ dậy với bên lông mày bị cạo mất; và sáng hôm sau Ricky thức dậy thấy cả hai bên lông mày cánh mà bay. Thibault quen tỉnh giấc ngay khi có tiếng động nhất, và bằng cách nào đó giữ được đôi lông mày của mình còn yên vị. Rồi bọn họ cười về vụ lông mày đó hàng tháng. Trong đêm uống rượu say, họ xăm lên mình những hình vẽ có liên hệ với nhau, mỗi hình là lời tuyên thệ trung thành với quân đội.

      Sát cánh bên nhau quá lâu, họ hiểu nhau đến mức người nọ có thể đoán trước hành vi của người kia. Cả hai đều lần lượt cứu mạng Thibault, hoặc ít nhất cũng cứu thoát khỏi bị trọng thương. Lần đầu Bill túm lấy lưng áo Thibault giữ lại khi chuẩn bị lao ra khu đất trống; vài giây sau, tay bắn tỉa làm hai đồng đội gần đó bị thương. Lần thứ hai, do chú ý nên Thibault suýt bị chiếc Humvee do lính thủy đánh bộ điều khiển lao ầm ầm đâm phải; lần đó, Ricky là người túm tay Thibault giữ lại. Ngay cả trong chiến tranh vẫn có những người chết bởi tai nạn ô tô. Như Pattontt [1] chẳng hạn.

      [1] George Smith Patton, tướng Mỹ trong Thế chiến 2, chết vì tai nạn xe hơi.

      Sau khi chiếm được các giếng dầu, họ tiến đến vùng ngoại ô của Baghdad cùng những người còn lại trong đại đội. Thành phố vẫn chưa thất thủ. Họ là phần của đơn vị chiến đấu, ba trong số hàng trăm người lính thắt chặt vòng vây quanh thành phố. Ngoài tiếng gầm động cơ xe của các đơn vị bạn, tất cả đều yên ắng khi họ tiến vào vùng ven đó. Khi nghe thấy tiếng súng vọng lại từ phía con đường sỏi dẫn ra quốc lộ, tiểu đội của Thibault được lệnh kiểm tra.

      Họ quan sát tình hình. Các tòa nhà hai và ba tầng đứng chen chúc nhau hai bên con đường đầy những ổ gà. con chó bới rác tìm đồ ăn. Bụi khói của chiếc ô tô vừa chạy xa khoảng trăm mét còn vương lại. Cả tổ đứng đợi. Chẳng thấy gì. Họ đợi thêm chút nữa. Vẫn chẳng nghe thấy gì. Cuối cùng, Thibault, Ricky và Bill được lệnh băng ngang con phố. Họ di chuyển nhanh và sang được phía bên kia an toàn. Từ vị trí đó, tiểu đội của bắt đầu tiến dọc con phố, cứ tiến lên mà biết điều gì chờ mình phía trước.

      Khi tiếng súng vang lên lần nữa còn là tiếng súng đơn lẻ nữa. Đó là những tiếng nổ chết người của hàng chục rồi hàng trăm viên đạn bắn ra từ những khẩu tự động, chụp lấy họ trong vòng hỏa lực. Thibault, Ricky, Bill cùng những người còn lại của tiểu đội bị ghim chặt tại chỗ con phố, ngay trước cửa ra vào các ngôi nhà, nơi có rất ít chỗ để nấp.

      Đợt súng đó quá dài, ấy là sau đó mọi người lại như vậy. Nhưng nó đủ lâu. Trận bão lửa đổ xuống từ những cửa sổ đầu họ. Thibault và các đồng đội trong tiểu đội, theo bản năng, giương súng lên bắn trả, và cứ thế mà bắn. Bên kia đường, hai người bị thương, nhưng quân tiếp viện nhanh chóng xuất . chiếc xe tăng tiến tới, bộ binh chạy theo sau. Cả trung rung chuyển khi nòng tăng nhả đạn. Các tầng của tòa nhà đổ sụp xuống, bụi và kính bay mù mịt. Tiếng la hét vang lên khắp nơi, thấy dân thường từ trong các tòa nhà túa ra phố. Hàng tràng đạn tiếp tục được bắn ra; con chó lang thang lúc nãy trúng đạn đổ vật xuống. Dân thường ngã sấp mặt khi bị trúng đạn từ phía sau, chảy máu lênh láng, họ la hét kinh hoàng. Người lính thủy thứ ba cũng bị thương ở chân. Thibault, Ricky và Bill vẫn thể di chuyển được, họ bị ặn lại bởi những loạt đạn nã liên tiếp vào các bức tường ngay sát chân họ. Cứ thế, ba người tiếp tục bắn. trung lại rung chuyển bởi tiếng gầm vang dội, các tầng của tòa nhà nữa đổ sụp xuống. Chiếc xe tăng chồm lên phía trước giờ tiến đến gần họ. Và ngay lập tức, quân địch bắt đầu nhả đạn từ cả hai bên phố, chứ còn từ bên như trước. Bill liếc Thibault, Thibault liếc qua Ricky. Họ biết phải làm gì. Phải chạy thôi; nếu ở lại, họ chết. Thibault vùng chạy trước tiên.

      Ngay lúc đó, mọi thứ bất ngờ trắng toát, rồi trở nên đen kịt.



      Tại Hampton, hơn năm năm sau, Thibault thể nhớ mọi chi tiết, ngoại trừ cái cảm giác giống như bị ném vào máy giặt. bị hất tung lên rồi rơi sấp mặt xuống đường cùng với tiếng nổ, tai ù đặc. Victor, bạn , nhanh chóng có mặt; y tá hải quân cũng chạy tới. Chiếc xe tăng vẫn tiếp tục nhả đạn, và dần dần con phố nằm trong tầm kiểm soát.

      Tất cả những chuyện này chỉ được nghe kể lại, rằng vụ nổ đó là do khẩu súng chống tăng RPG gây ra. Sau này, sĩ quan cũng cho Thibault biết quả đạn chống tăng đó thực ra nhắm vào chiếc xe tăng; nhưng nó chệch khỏi tháp pháo vài xăng ti mét. Và như định mệnh, nó bay thẳng đến chỗ Thibault, Ricky và Bill.

      Thibault được đưa lên chiếc Humvee và thoát ra khỏi khu vực đó trong tình trạng bất tỉnh. kỳ diệu, các vết thương của nghiêm trọng, chưa đầy ba ngày sau có thể trở lại tiểu đội. Nhưng Ricky và Bill ; cả hai được chôn cất sau đó, được tặng thưởng nhiều huân chương. Còn tuần nữa là tới sinh nhật lần thứ hai mươi hai của Ricky. Bill lúc đó mới hai mươi tuổi. Họ chẳng phải là những người đầu tiên, cũng phải người cuối cùng chết trong cuộc chiến này. Chiến tranh vẫn tiếp diễn.

      Thibault tự buộc mình nghĩ nhiều về họ. Nghe có vẻ nhẫn tâm, nhưng trong chiến tranh, những ký ức như vậy phải được khép lại. đau buồn khi nghĩ về cái chết của họ và cảm nhận thiếu vắng họ, nên cố quên . Hầu hết mọi người trong tiểu đội cũng làm như vậy. lao mình vào công việc. tập trung vào rằng mình vẫn còn sống. tập trung vào việc giữ những người khác an toàn.

      Nhưng hôm nay ký ức tê tái, cảm giác mất mát và được chôn cất họ lại ùa về. Họ cùng cuốc bộ những con đường vắng trong thành phố, dẫn ra vùng ngoại ô xa xa. Theo chỉ dẫn của lễ tân nhà nghỉ, về hướng Đông đường 54, men theo lề đường cỏ mọc và tránh đường chính. Điều học được trong các chuyến ấy là bao giờ tin vào đám tài xế. Zeus lê bước theo sau, thở hổn hển. Thibault dừng lại, cho Zeus uống chai cuối cùng.

      Các cơ sở kinh doanh nối tiếp nhau hai bên đường quốc lộ. cửa hàng bán nệm, tiệm sửa chữa ô tô, nhà trẻ, cửa hàng Quick-N-Go bán xăng cùng mớ thực phẩm ôi bọc trong túi nilon, và hai ngôi nhà kiểu trang trại cổ lỗ xiêu vẹo nằm đúng chỗ, giữa những thành quả của thế giới đại mọc lên xung quanh. quang cảnh thể chính xác những gì diễn ra nơi đây, nghĩ vậy. tự hỏi những người chủ kia còn có thể kiên trì giữ chúng lại trong bao lâu nữa, hay tại sao lại có người muốn sống trong ngôi nhà sát mặt đường cao tốc và bị kẹp chặt giữa những cơ sở thương mại như vậy.

      Xe cộ qua lại ầm ĩ. Mây bắt đầu kéo đến, xám xịt, cuồn cuộn. ngửi thấy mùi mưa trước cả khi giọt đầu tiên rơi xuống người, và mới bước thêm vài bước mưa đổ như trút nước. Mưa kéo dài mười lăm phút, làm ướt sũng. Nhưng may mắn là những đám mây đen cứ tiếp tục bay về phía biển cho đến khi chỉ còn vương lại sương mù. Zeus lắc mình giũ nước. Lũ chim lại quay về những cành cây và bắt đầu hót vang, trong khi hơi nước bốc lên từ mặt đất ẩm ướt.

      Cuối cùng, cũng tới được nơi tổ chức cái chợ phiên đó. Cảnh vật hoang vắng. Chả có gì thú vị cả, nghĩ thầm trong khi xem xét cách bố trí ở đây. Chỉ là những thứ cơ bản nhất. Bãi đỗ xe ở phía trái, khu đất trải sỏi nhớp nhúa bùn đất; vài nhà kho kiểu cổ ở phía xa bên phải; bãi cỏ rộng, nơi tổ chức hội hè, chia khu chợ phiên ra làm hai nửa, tất cả đều được bao quanh bởi hàng rào mắt cáo.

      cần nhảy qua hàng rào, cũng cần nhìn lại bức ảnh nữa. xem nó hàng nghìn lần. tiếp tục về phía trước, định hướng, và cuối cùng nhận ra cái quầy bán vé. Phía sau nó là cổng vòm nơi có thể treo biểu ngữ. Bước tới cổng, Thibault xoay người về phía Bắc, hình dung bố cục hình ảnh trong đó có quầy bán vé và cổng vòm ở trung tâm, giống như được thể . Chính là ở góc độ này, nghĩ; đây chính là nơi bức ảnh được chụp.

      Cấu trúc các đơn vị lính thủy đánh bộ đều dựa con số ba. Ba người làm thành tổ chiến đấu, ba tổ làm thành trung đội. Và Thibault cũng từng ba lần sang Iraq. Xem đồng hồ, nhận thấy mình tới Hampton được ba tiếng; và kia, ngay phía trước, đúng tại vị trí như trong bức ảnh, có ba cây thường xanh chụm vào nhau.



      Thibault quay trở lại đường quốc lộ, biết rằng mình đến gần người phụ nữ trong bức ảnh hơn chút nữa. Hãy còn chưa tìm thấy , nhưng chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

      ấy từng ở đây. Giờ biết chắc thế.

      Điều cần là cái tên. Trong khi bộ xuyên qua vùng quê này, có nhiều giờ để suy nghĩ, và chốt lại là có ba cách giải quyết vấn đề. Thứ nhất, thử tìm tổ chức cựu chiến binh tại địa phương, hỏi xem có ai ở đây từng phục vụ tại Iraq. Cách này có thể dẫn tới người có thể nhận ra . Thứ hai, có thể đến trường trung học địa phương mượn xem kỷ yếu của trường từ mười hay mười lăm năm trước; và xem từng bức ảnh . Thứ ba, cầm bức ảnh hỏi những người xung quanh.

      Cả ba cách đó đều có những mặt hạn chế, cách nào đảm bảo chắc chắn thành công, về hội cựu chiến binh, tra được hội nào danh bạ điện thoại; cách thứ nhất bị loại. Và bởi bây giờ vẫn là kỳ nghỉ hè nên ngờ rằng trường trung học mở cửa; mà nếu có cũng rất khó được phép tiếp cận những kỷ yếu để trong thư viện nhà trường; có nghĩa là cách thứ hai cũng bị loại - ít nhất là vào thời điểm tại. Vậy cơ may duy nhất còn lại là hỏi những người xung quanh xem có ai nhận ra .

      hỏi ai đây?

      Qua niên giám, biết rằng có chín nghìn người sống ở Hampton, Bắc Carolina. Và khoảng mười ba nghìn người nữa sống ở hạt Hampton. Quá nhiều. Chiến lược hiệu quả nhất là giới hạn tới mức thấp nhất con số những người có thể hỏi, chỉ chọn những ứng viên tiềm năng nhất. lần nữa, lại bắt đầu với những dữ liệu biết.

      Trông ấy khoảng ngoài hai mươi tuổi khi bức ảnh được chụp, có nghĩa là bây giờ phải gần ba mươi. Cũng có thể hơn ba mươi chút. ràng là rất quyến rũ. Hơn nữa, ở trong thành phố cổ này, giả sử rằng phân bố tuổi tác là đồng đều có khoảng 2.750 đứa trẻ từ mới sinh cho đến mười tuổi, 2.750 từ mười cho đến hai mươi, và 5.500 nguời từ hai mươi mốt đến bốn mươi - nhóm tuổi của ấy. Áng chừng trong số đó có khoảng nửa là đàn ông và nửa còn lại là phụ nữ. Phụ nữ có xu hướng nghi ngờ về ý định của , đặc biệt là khi họ biết trong ảnh. Thibault là người lạ, mà người lạ rất nguy hiểm. Ít có khả năng họ tiết lộ với điều gì.

      Đàn ông có thể, tất nhiên cũng còn tùy thuộc cách họ nhận định về câu hỏi của . Theo kinh nghiệm mình, biết đa số đàn ông đều để ý đến những phụ nữ đẹp thuộc độ tuổi của mình, đặc biệt nếu như họ là đàn ông độc thân. Mà có bao nhiêu đàn ông thuộc nhóm tuổi ấy còn độc thân? đoán khoảng ba mươi phần trăm. Có thể đúng, có thể sai, nhưng cho là con số đó chấp nhận được. Tức là khoảng 900 người. Trong số đó, ước tính có khoảng tám mươi phần trăm sống ở đây từ hồi đó đến giờ. Chỉ là phỏng đoán, nhưng có cảm giác Hampton là nơi mà người dân có khả năng di cư chỗ khác hơn là nhập cư vào. Phân tích này khiến cho con số giảm xuống còn 720. lại có thể loại tiếp nửa, chỉ tập trung vào những người đàn ông độc thân tuổi từ hai lăm đến ba lăm, thay vì từ hai mốt đến bốn mươi. Vậy là còn 360. cho là phần đông những người này hoặc là có mối quan hệ quen biết, hoặc là biết ấy hồi năm năm trước. Có thể học ở cùng trường trung học với ấy, hoặc cũng có thể - biết trong thị trấn có trường trung học - nhưng mặt khác, họ cũng có thể biết ấy nếu còn độc thân. Tất nhiên, cũng có khả năng là có chồng - phụ nữ ở những thành phố miền Nam thường hay lấy chồng sớm. Dù gì cũng có thể bắt đầu tìm kiếm cơ sở những lập luận này. Những từ được viết ở mặt sau của bức ảnh - “Hãy bảo trọng! E.” đủ độ tình tứ để kết luận rằng nó dành cho người hay hôn phu. có chữ “ ,” cả “Em nhớ ” cũng , mà chỉ có mỗi chữ cái đầu tên. Có lẽ họ chỉ là bạn bè bình thường.

      Từ con số 22.000 người rút gọn xuống chỉ còn 360 người, trong chưa đầy mười phút. Cũng tồi. Và thậm chí là rất tốt để xuất phát. Tất nhiên đó là theo giả thiết rằng ở đây khi bức ảnh được chụp, chứ phải ấy chỉ ghé qua đây tham quan.

      có gì để đảm bảo rằng giả thiết này là đúng. Nhưng cần điểm để xuất phát, và biết từng có mặt ở đây lần. Bằng cách này hay cách khác, tìm ra , và bắt đầu từ đây.

      Những người đàn ông độc thân hay la cà ở đâu, những người mà có thể lân la đưa đẩy câu chuyện? Tôi gặp ấy vài năm trước và ấy bảo tôi gọi điện cho khi trở lại thành phố, nhưng tiếc là tôi lại quên mất tên và số điện thoại ấy...

      Đó là quán bar, hoặc quán bi a.

      Trong thị trấn cỡ này, nghĩ khó mà tồn tại nhiều hơn ba hoặc bốn quán bar hoặc quán bi a bán rượu để dân địa phương la cà tới. Và hôm nay là thứ Bảy, những nơi đó có thể chật ních người. tin là bằng cách này hay cách khác, có câu trả lời, trong vòng mười hai giờ tới.

      nhìn Zeus. “Có lẽ tối nay mày phải tự lo liệu thôi. Tao có thể mang theo mày, nhưng rồi phải để mày ở ngoài, mà tao lại mình ở trong đó bao lâu.”

      Zeus tiếp tục bước , đầu cúi xuống, lưỡi thè ra. Quá mệt và nóng rồi, nó chả thèm quan tâm nữa.

      “Tao bật điều hòa cho mày, được chứ?”

      5


         f—e


        Clayton


      Bây giờ là chín giờ tối thứ Bảy, và gã chết gí ở nhà để giữ trẻ. Tuyệt. Rất tuyệt.

      Còn cách gì tồi tệ hơn để kết thúc ngày như cái ngày hôm nay nữa? Đầu tiên, trong mấy suýt bắt quả tang gã chụp ảnh, sau đó cái máy ảnh của văn phòng lại bị đánh cắp, và lại còn bị Logan Thigh-bolt xịt lốp xe. Tệ hơn nữa, gã còn phải giải thích cả về chuyện cái máy ảnh bị mất lẫn chuyện cái lốp xe bị xịt cho ông bố - ngài Cảnh Sát Trưởng của hạt. Y như rằng, lão già chửi bới loạn xạ và chả hiểu sao hề tin vào câu chuyện bịa của gã mà cứ hỏi dồn dập hết câu này đến câu nọ. Cuối cùng, suýt chút nữa Clayton vặc lại lão. Bố gã có thể là quan lớn đối với rất nhiều người ở đây, nhưng lão có quyền gã như thể gã là thằng ngốc thế được. Tuy nhiên Clayton vẫn khăng khăng bám lấy câu chuyện bịa của mình - gã nghĩ là nhìn thấy ai đó nên bám theo để điều tra, rồi may dính phải mấy cái đinh. Còn cái máy ảnh à? Đừng hỏi. Thậm chí gã còn hề biết ban đầu nó có ở trong chiếc xe tuần tra hay nữa là. xuất sắc, gã biết, nhưng cũng đủ lọt tai.

      “Cái lỗ này giống kiểu bị chọc thủng bằng con dao bấm hơn,” bố gã , cúi xuống xem xét các bánh xe.

      “Con bảo đó là đinh.”

      có công trường nào ngoài, “Con cũng đâu có biết nó xảy ra như thế nào! Con chỉ kể cho bố chuyện gì xảy ra.”

      “Vậy đinh đâu?”

      “Thế quái nào mà con biết được? Con vứt vào bụi cây rồi.”

      thể thuyết phục được lão già, nhưng Clayton đủ khôn ngoan để bám lấy câu chuyện của mình. Phải luôn luôn bám chặt vào câu chuyện. Khi bắt đầu truy ngược về nguồn gốc việc đối phương bắt đầu lúng túng. Bài học thẩm vấn số 101.

      Rốt cuộc lão cũng phải , còn Clayton chỉ việc lắp những cái lốp dự trữ vào, rồi lái xe đến gara, ở đó người ta vá lại mấy cái săm bị thủng. Vài giờ trôi qua, gã bị lỡ hẹn với cái tên Logan Thigh-bolt kia. Chưa có ai dám dây với Keith Clayton này, càng thể có chuyện tên hippie ất ơ lang thang dám cho rằng mình có thể chơi khăm gã.

      Từ đó cho đến hết buổi chiều gã lái xe khắp các con phố ở khu Arden để hỏi có ai nhìn thấy Thibault . kẻ như thể gây chú ý, ít nhất người ta cũng phải để ý đến con quái Cujo [1] kè kè bên cạnh . Tuy nhiên, cuộc tìm kiếm bất thành, và điều này chỉ làm gã thêm lộn ruột, vì nó chứng tỏ Thigh-bolt dối ngay trước mũi gã mà gã nhận ra.

      [1] Cujo: tên của con chó trong bộ phim kinh dị cùng tên của Mỹ.

      Nhưng gã tìm ra tên đó. Chắc chắn trăm phần trăm gã tìm được, vì cái gì khác cũng vì cái máy ảnh. Chính xác hơn là vì những bức ảnh. Đặc biệt là những bức ảnh kia. Gã tuyệt đối muốn thấy cái tên Thigh-bolt lững thững bước vào văn phòng cảnh sát trưởng và ném ảnh con bé đó lên bàn - hay tệ hơn nữa là gửi thẳng cho tòa soạn báo. Trong hai viễn cảnh đen tối đó viễn cảnh thứ nhất có vẻ đỡ hơn, vì bố gã có thể ỉm chuyện này . Mặc dù lão già phát khùng và chắc chắn bắt gã phải làm những công việc như cứt trong v sau đó, nhưng lão im như thóc. Trong phần lớn mọi chuyện, bố gã chẳng giỏi giang gì nhưng với những chuyện kiểu này lão luôn biết xử lý làm sao cho hiệu quả.

      Nhưng báo chí... lại là chuyện khác. Chắc chắn ông nội gã cũng giật dây và gắng hết sức bịt miệng lũ tòa soạn, nhưng có cách nào để kìm hãm thông tin loại này. Nó quá sốt dẻo, nên dù có hay có bài báo nào tin tức vẫn nhanh chóng lan nhanh như cháy rừng khắp cái thị trấn này thôi. Clayton vốn bị coi là nỗi hổ thẹn của gia đình, và gã đời nào muốn tạo thêm lý do nữa để ông nội xỉ vả mình. Ông có cái kiểu thích xoáy vào mặt tiêu cực của vấn đề. Thậm chí cả bây giờ, bao nhiêu năm trôi qua mà ông cụ vẫn nhớ như in chuyện Clayton và Beth ly dị, nhưng lại hề nhớ rằng việc đó chả liên quan gì tới ông cả. Còn trong những buổi họp gia đình, ông thường hay nhắc đến việc Clayton học đại học. Với điểm của mình, Clayton dư sức thi vào đại học. Nhưng đơn giản là gã tưởng tượng nổi mình phải phí bốn năm trời mài đũng giảng đường để làm gì, vì thế gã đến làm tại văn phòng cảnh sát trưởng. Vậy là đủ để xoa dịu ông nội rồi. Gã có cảm tưởng mình dành cả nửa đời để làm hài lòng ông cụ.

      Nhưng gã có lựa chọn nào khác trong việc này. Mặc dù gã thích ông nội cho lắm - ông là con chiên dòng Baptist ngoan đạo, lễ nhà thờ mỗi Chủ nhật; coi việc uống rượu và nhảy nhót là tội lỗi, điều luôn làm cho Clayton thấy nực cười - nhưng gã biết ông kỳ vọng gì ở gã, và có thể việc chụp ảnh nude của các nữ sinh nằm trong danh mục “những việc nên làm”. Cũng vậy đối với những bức ảnh khác trong thẻ nhớ, đặc biệt là bức trong đó gã cùng với mấy nàng khác trong tư thế rất “tình ngay lý gian”. Những thứ như vậy hẳn nhiên đem đến nỗi thất vọng lớn lao, mà ông nội mấy kiên nhẫn với những ai khiến mình thất vọng, kể cả người nhà. Nhất là người nhà. Dòng họ Clayton sống tại hạt Hampton từ năm 1753; xét nhiều phương diện, họ chính là hạt Hampton. Các thành viên trong gia đình có cả quan tòa, luật sư, bác sĩ và địa chủ; thậm chí cả ngài hạt trưởng cũng là con rể nhà Clayton, nhưng mọi người đều biết ông nội mới là người nắm quyền lực tối cao. Ông cai quản nơi này như Bố già mafia kiểu cũ, và hầu hết mọi người trong hạt đều ca ngợi ông, lại những phẩm chất tốt đẹp của ông. Ông thích tin rằng đó là do mình ủng hộ mọi thứ từ thư viện đến nhà hát đến trường tiểu học địa phương, nhưng Clayton thừa biết lý do là vì ông sở hữu hầu hết các cao ốc thương mại trong thị trấn, rồi cả cửa hàng bán gỗ và vật liệu xây dựng, hai bến du thuyền, ba cửa hàng bán ô tô, ba tổng kho, tổ hợp căn hộ duy nhất trong thị trân, và cả vù trồng trọt rộng lớn. Tất tần tật những thứ kể tạo nên gia đình cực kỳ giàu sang và quyền lực. Khi mà phần lớn số tiền Clayton kiếm được là từ các quỹ tín thác của gia đình điều gã ngán nhất là bị tên lạ mặt nào đó trong thị trấn chọc gậy bánh xe.

      Ơn Chúa là gã có Ben sau khoảng thời gian ngắn chung sống với Beth. Ông nội có quan niệm khó hiểu về dòng dõi, và vì Ben được đặt theo tên ông - ý tưởng khá hay, đấy là gã nghĩ vậy - nên đâm ra ông cụ rất chiều nó. Clayton thường có cảm giác ông cụ thích thằng chắt trai hơn là bố nó, cháu trai của cụ.

      Ờ, Clayton biết Ben là đứa trẻ ngoan. Chẳng riêng gì ông nội - mọi người đều vậy. Cả gã cũng rất Ben, cho dù đôi khi nó khác gì cái gai trong mắt gã. Từ chỗ ngồi ở hiên trước, Clayton nhìn qua cửa sổ thấy Ben dọn bếp xong và quay trở lại ghế. Gã biết mình nên vào trong đó cùng con trai, nhưng gã vẫn chưa sẵn sàng. Gã muốn tỏ ra mất kiềm chế hay lỡ miệng điều gì đó để rồi về sau phải hối tiếc. Gã tự uốn nắn mình trong những chuyện như thế này; vài tháng trước đó, ông nội có vài lời với gã về tầm quan trọng của việc tạo được ảnh hưởng bền vững. Ông già rách việc. Đáng ra chỉ cần dạy Ben biết làm bất cứ việc gì vào bất cứ khi nào bố nó cầu, Clayton nghĩ thế. Như thế tốt hơn nhiều chứ. Tối nay thằng bé chọc tức gã lần, nhưng thay vì quát tháo gã nhớ lại lời ông nội, cắn răng kiềm chế mà bước ngoài.

      Gần đây xem ra lúc nào là gã phải nổi điên lên với Ben. Nhưng đó phải là lỗi của gã, tình cố gắng làm thân với thằng bé đấy chứ! Và mới đầu mọi rất ổn. chuyện về trưòng lớp, ăn bánh kẹp thịt, mở chương trình SportsCenter kênh ESPN. Rất vui vẻ. Nhưng sau đó, tai họa, gã bảo Ben lau bếp. Có gì quá đáng đâu, đúng ? Suốt mấy hôm nay Clayton có lúc nào rảnh mà làm việc đó, và gã biết Ben làm tốt. Thế là Ben hứa lau bếp, nhưng thay vì làm thế nó cứ ngồi ì ra đó. Ngồi miết. Đồng hồ cứ tích tắc chạy. Còn Ben cứ ngồi im.

      Thế là Clayton đành phải bảo nó lần nữa - đảm bảo là gã rất nhàng - ấy thế mà dù chắc chắn trăm phần trăm nhưng gã nhớ khá thằng bé đảo mắt trước khi lừ đừ. Thế đấy. Mà gã vốn rất ghét cái trò đảo mắt, và thằng bé chưa hiểu điều này. Như kiểu nó biết làm thế nào để chọc tức gã, và nó dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi của mình vào việc nghĩ ra những kiểu mới để chọc tức bố nó mỗi khi gặp vậy. Chính thế nên giờ này gã mới phải ngồi ngoài hiên thế này đây.

      Những hành vi như vậy của Ben chính là thành quả dạy dỗ của mẹ nó, về điều này Clayton nghi ngờ gì hết. ta đẹp , nhưng đến cái điều tối thiểu để biến đứa trẻ trở thành người đàn ông ta cũng biết. Clayton thấy có vấn đề gì với việc Ben đạt điểm tốt, nhưng chả lẽ nó thể chơi bóng đá chỉ vì nó thích violin sao? Sao lại vớ vẩn thế nhỉ? Violin hả? Thế khác nào cho thằng bé mặc bộ đồ màu hồng và dạy nó cưỡi ngựa vắt hai chân sang bên kiểu phụ nữ. Clayton luôn cố gắng giữ thằng bé tránh xa mấy thứ ẻo lả con đó, nhưng vấn đề là gã chỉ ở với nó được ngày rưỡi mỗi dịp cuối tuần. phải lỗi của gã khi thằng bé vung gậy bóng chày hệt như đứa con . Nó quá bận chơi cờ vua mà. Và ai cũng biết là có đánh chết gã cũng thèm mò tới buổi biểu diễn độc tấu violin nào hết.

      Độc tấu violin! Chúa ơi. Cái thế giới này về đâu biết?

      Thế rồi dòng suy nghĩ của gã lại quay trở lại với Thigh-bolt, và mặc dù rất muốn tin rằng tên này biến khỏi hạt nhưng gã biết thể có chuyện đó. Tên này bộ và thể kịp tới phía kia hạt trước khi trời tối. Và gì nữa? Có gì đó cào cấu ruột gan gã cả ngày nay, và tận khi thư thái ngoài hiên gã mới biết đó là cái gì. Cứ cho là tên Thibault này về việc ở Colorado - có thể láo, nhưng cứ tạm coi là - có nghĩa là từ Tây sang Đông. Và cái thị trấn tiếp theo ở hướng Đông là gì? phải Arden. Chắc chắn rồi. Từ nơi gã chạm mặt Thigh-bolt Arden ở phía Tây Nam, còn thẳng về phía Đông chính là Hampton lừng danh thời. Chính là chỗ này đây, nơi gã ở! Thế nghĩa là có thể tên này ở cách chỗ gã ngồi chỉ khoảng mười lăm phút đường.

      Nhưng Clayton ở đâu? tìm Thigh-bolt ư? , gã ngồi trông trẻ.

      G lại liếc nhìn Ben qua cửa sổ. Nó ngồi đọc sách ghế, cái việc duy nhất mà dường như lúc nào thằng bé cũng thích. Ồ phải rồi, trừ violin ra. Gã lắc đầu, tự hỏi biết thằng bé có tí gen nào của mình nữa. Có vẻ là . Toàn của mẹ nó. Đúng là con của Beth.

      Beth...

      Ờ, cuộc hôn nhân của gã được suôn sẻ. Nhưng giữa họ vẫn có điều gì đó. Luôn luôn là thế. Có thể vợ cũ của gã bảo thủ và hay “lên lớp”, nhưng gã lại luôn quan tâm tới ta, chỉ vì Ben, mà còn vì Beth ràng là người phụ nữ đẹp nhất gã từng ngủ cùng. Trước đẹp mà giờ dường như còn đẹp hơn. Thậm chí còn đẹp hơn cả mấy nữ sinh mà gã thấy hôm nay. Kỳ lạ . Cứ như là ta đến cái độ tuổi hoàn mỹ nhất rồi từ đó ngưng già vậy. Gã biết điều này thể kéo dài mãi được. Rồi trọng lực phát huy quyền lực của nó, nhưng dù sao gã vẫn thể ngừng nghĩ đến việc lên giường với ta lần nữa. lần để nhớ lại thời qua, và để giúp gã... xả bớt bí bách.

      ra gã có thể gọi cho Angie. Hoặc Kate. hai mươi tuổi, làm việc ở cửa hàng bán thú cảnh; kia lớn hơn tuổi, cọ toa lét ở Stratford Inn. Cả hai đều xinh xắn nhắn, và luôn luôn bùng nổ dữ dội mỗi khi gã... xả hàng. Gã biết Ben cũng chẳng quan tâm nếu gã gọi trong hai đến, nhưng dẫu sao đáng lẽ gã phải chuyện trước với họ. Lần cuối gặp họ, cả hai giận điên lên với gã. Gã phải xin lỗi rồi giở lại bài tán tỉnh, và rồi hiểu gã có đủ kiên nhẫn để nghe các vừa chóp chép kẹo cao su vừa huyên thuyên về những thứ họ xem MTV hay đọc National Enquirer nữa. Đôi khi gã thấy thể chịu nổi.

      Thế là xong phim. Tối nay tìm Thigh-bolt được. Ngày mai cũng được, vì mai ông nội muốn mọi người phải qua nhà ông ăn trưa sau khi lễ nhà thờ. Nhưng dù sao Thigh-bolt cuốc bộ, với con chó và cái ba lô, tức là khó có thể nhờ xe ai. Vậy đến chiều mai có thể được bao xa nhỉ? Ba mươi cây? Hay cùng lắm là năm mươi? Năm mươi cây là nhiều nhất, tức là vẫn loanh quanh ở các hạt lân cận. Có lẽ gã gọi điện cho số đồng nghiệp ở các hạt bên, nhờ họ để mắt giúp vụ này. Vì chỉ có vài con đường dẫn ra khỏi hạt Hampton nên gã tính rằng nếu bỏ ra vài giờ để gọi điện cho các cửa hàng quen dọc mấy con đường đó có thể có người nhìn thấy . Khi ấy gã lên đường. Thằng cha Thigh-bolt kia sai lầm biết chừng nào khi dám dây với Keith Clayton này.

      Mải suy nghĩ, Clayton hầu như nghe thấy tiếng cửa mở.

      “Bố?”

      “Hả?”

      “Có người gọi điện.”

      “Ai vậy?”

      “Tony.”

      “Tất nhiên rồi.”

      Gã đứng dậy khỏi ghế, tự hỏi Tony muốn gì. thằng nhãi vớ vẩn. Ốm nhom ốm nhách và đầy mụn nhọt, Tony là trong những kẻ chuyên bám đuôi cảnh sát, ỡm ờ ra vẻ ta đây là trong số họ. Có lẽ muốn tìm hiểu xem Clayton ở đâu và làm gì để chắc là mình bị hít khói đây mà. Vớ vẩn.

      Clayton uống nốt chỗ bia rồi ném cái lon rỗng vào thùng rác, nghe nó rớt cạch cái. Gã nhấc điện thoại lên.

      “Gì?”

      Ở đầu dây bên kia, gã có thể nghe thấy những hợp méó của bài hát nhạc đồng quê miền Tây phát ra từ máy nghe nhạc tự động, xen lẫn với tiếng cười ầm ĩ. biết thằng ấm ớ này gọi từ chỗ quái nào.

      “Này, em ở quán bi a Decker, và có thằng lạ mặt ở đây mà em nghĩ nên biết.”

      Ăng ten chú ý của gã bật lên. “Có phải nó với con chó? Đeo ba lô? Trông mốc meo bẩn thỉu, giống như mới chui ra từ trong rừng?”

      !”

      “Mày chắc chứ?”

      “Chắc chắn. chơi bi a sau lưng em. Nhưng nghe này. Cái em muốn có ảnh vợ cũ của .”

      Clayton giật mình, nhưng gã vẫn cố làm giọng thờ ơ. “ sao?”

      “Em chỉ nghĩ là muốn biết.”

      “Việc đếch gì tao phải quan tâm?”

      “Em biết.”

      “Dĩ nhiên mày biết. Thằng ngu.”

      Clayton dập máy, thầm nghĩ đầu thằng đó chắc chứa toàn bã đậu quá. Rồi gã quét ánh mắt săm soi căn bếp. Sạch tinh. Thằng bé làm rất tốt, như mọi lần. Suýt nữa gã vuột ra câu khen ngợi, nhưng thay vì thế, khi nhìn thấy Ben, gã thể nhận thấy con trai mình quá thấp bé. Cứ cho là phần nhiều do di truyền, rồi giai đoạn phát triển sớm hay muộn và mấy thứ đại loại vậy; nhưng chắc chắn phần là do thể chất nữa. Rất có lý. Ăn uống đúng chế độ, tập thể dục thể thao và nghỉ ngơi nhiều. Những kiến thức cơ bản; điều mà bà mẹ nào cũng dạy con cái. Và các bà mẹ đúng. Ăn uống đủ, người ngợm lớn được. Tập thể dục đủ, cơ bắp nhão nhoét. Con người ta lớn vào lúc nào? Vào buổi đêm. Khi cơ thể tự hồi phục. Khi người ta ngủ.

      Gã thường tự hỏi biết ở nhà mẹ nó thằng bé có ngủ đủ giấc . Clayton biết Ben ăn uống thế nào - nó ăn sạch cả bánh kẹp thịt lẫn khoai chiên - và biết thằng bé ưa hoạt động, vậy nó bị còi chỉ có thể do thiếu ngủ. Tất nhiên là chẳng đứa trẻ nào lại thích mình thấp bé, nó cũng vậy. Tất nhiên là . Ngoài ra, lúc này Clayton cũng muốn có chút thời gian ngồi mình, để tính toán xem làm gì với tên Thigh-bolt trong lần gặp tới.

      Gã hắng giọng. “Này, Ben. Có vẻ muộn rồi đấy, con có nghĩ thế ?”

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,953
      6
      f—e
      Thibault

      đường từ quán bi a trở về phòng trọ, Thibault nhớ lại lần sang Iraq thứ hai.
      Mọi chuyện diễn ra thế này: Fallujah, mùa xuân năm 2004. Trung đoàn số 5 thuộc sư đoàn 1, cùng các đơn vị khác, được lệnh bình ổn tình hình bạo lực leo thang kể từ khi Baghdad sụp đổ năm trước đó. Người dân biết chuyện gì chờ đợi họ ở phía trước, nên bắt đầu rời khỏi thành phố, làm tắc nghẽn các con đường quốc lộ. Có lẽ phải tới phần ba thành phố sơ tán chỉ trong vòng ngày. lực được điều tới bắn phá, sau đó là lính thủy đánh bộ. Họ giành lại từ căn hộ này tới căn hộ khác, từ ngôi nhà này tới ngôi nhà khác, cụm nhà này tới cụm nhà khác, trong trận chiến có thể coi là khốc liệt nhất kể từ ngày bắt đầu cuộc tấn công Iraq. Trong ba ngày, họ giành quyền kiểm soát được phần tư thành phố, nhưng con số dân thường bị chết tăng lên thôi thúc nhà cầm quyền ngừng bắn. Quyết định kết thúc chiến dịch được đưa ra, và hầu hết các đơn vị rút lui, kể cả đại đội của Thibault
      Nhưng phải toàn bộ đại đội của đều rút lui.
      Trong ngày thứ hai của chiến dịch, tại khu vực công nghiệp phía Nam của thành phố, Thibault và trung đội của mình nhận lệnh kiểm tra tòa nhà được cho là nơi cất giấu vũ khí của đối phương. Tuy nhiên, người ta xác định được chính xác tòa nhà nào; nó có thể là bất cứ cái nào trong cả tá đống đổ nát xếp thành hình gần giống bán nguyệt, gần trạm xăng bỏ hoang. Cả trung đội tiến vào, về phía các tòa nhà, bỏ lại phía sau trạm xăng được xác định là điểm tập kết. nửa trung đội tiến vào từ bên phải, nửa còn lại từ bên trái. gian tĩnh lặng. Nhưng sau đó, bất thình lình trạm xăng nổ tung. Lửa ngùn ngụt bốc lên trời cao. Sức ép của vụ nổ hất nửa số người xuống đất và làm tai họ ù đặc. Thibault rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê; tầm nhìn tối dần, tất cả đều mờ . Ngay lập tức, trận mưa đạn rơi xuống từ các cửa sổ và mái nhà phía đầu họ, và cả từ những xác xe cháy ngùn ngụt đường.
      Thibault tỉnh dậy thấy mình nằm dưới đất bên cạnh Victor. Và hai người nữa cùng trung đội, Matt và Kevin - người trước biệt danh Chó Điên và người sau là Sát Thủ - cũng nằm cạnh họ. Rồi đột nhiên, bản năng và tình đồng đội trỗi dậy. Bất chấp cuộc tấn công dữ dội, bất chấp nỗi sợ hãi, bất chấp cái chết, Victor với lấy súng nhỏm dậy quỳ gối bắn thẳng vào kẻ thù. Cậu ấy bắn, bắn liên tiếp, động tác điềm tĩnh, tập trung và rất chắc chắn. Chó Điên cũng vớ lấy súng mà bắn. Từng người , tất cả đều nhỏm dậy. Họ hợp thành các nhóm chiến đấu. Bắn. Nấp. Di chuyển. Trừ điều là họ gần như thể di chuyển, có nơi nào để chạy cả. người lính ngã xuống, và người tiếp theo. Rồi người thứ ba, thứ tư
      Khi quân tiếp viện đến gần như quá muộn. Chó Điên bị bắn vào động mạch đùi; mặc dù được ga rô nhưng chết vì mất máu chỉ trong vài phút, Kevin bị bắn vào đầu và chết tại chỗ. Mười người khác bị thương. Chỉ số ít vô , trong đó có Thibault và Victor.

      Trong số những thanh niên mà Thibault chuyện ở chỗ chơi bi a, có người làm nhớ đến Chó Điên. Họ có thể là em lắm chứ - cùng chiều cao, cùng vóc dáng, màu tóc giống nhau, cách giống nhau - và trong thoáng, Thibault tự hỏi biết họ có phải em họ hàng gì , trước khi tự nhủ rằng việc đó thể xảy ra đưọc
      Thibault biết kế hoạch của mình đem lại kết quả. Trong thị trấn những kẻ lạ mặt luôn luôn đáng nghi, và đến cuối buổi tối, thấy gã gầy nhom với nước da bủng beo vừa gọi điện thoại công cộng gần phòng vệ sinh vừa nhìn lấm lét. Trước đó Thibault cũng nhận thấy gã này có vẻ rất bồn chồn, và đoán gã hoặc gọi cho người phụ nữ trong ảnh, hoặc cho ai đó thân thiết với ấy. nghi ngờ này được xác nhận khi Thibault ra khỏi quán bi a. Đúng như nghĩ, kẻ kia cũng theo ra đến cửa để xem lối nào, chính vì thế nên Thibault rẽ hướng ngược lại, để rồi sau đó mới lặng lẽ lộn trở lại hướng cần .
      Khi tới quán bi a xập xệ này, Thibault bỏ qua quầy bar mà thẳng đến các bàn bi a. nhanh chóng nhận thấy mọi người ở đây đều xêm xêm tuổi nhau, đa số có vẻ còn độc thân. ngỏ ý muốn tham gia cuộc chơi và vấp phải những tiếng cằn nhằn khó chịu. Tỏ ra thân thiện, mua vài chầu bia mời mọi người ngay cả khi bị thua, thế là đủ để họ bắt đầu thoải mái hơn với . Làm ra vẻ tình cờ, hỏi han về đời sống xã hội trong thị trấn. giả vờ đánh hỏng vài quả. chúc mừng mọi người khi họ đánh trúng.
      Rốt cuộc họ cũng bắt đầu hỏi chuyện . từ đâu tới? làm gì ở đây? ậm ừ, lẩm bẩm cái gì đó về , rồi lại đổi chủ đề. kích thích tò mò của họ. Rồi lại mua thêm bia, và khi họ hỏi lại lần nữa, an miễn cưỡng chia sẻ câu chuyện của mình: rằng vài năm trước từng đến phiên chợ ở đây với người bạn, có gặp . Họ thấy tâm đầu hợp ý với nhau. Rồi Thibault cứ lại rằng ấy tuyệt thế nào, rằng ấy bảo là hãy tìm nếu có dịp trở lại đây. Và rất muốn, nhưng vớ vẩn là lại chẳng nhớ tên .
      nhớ tên sao? họ hỏi. , đáp. Tôi vốn giỏi nhớ tên người khác. Hồi tôi bị quả bóng chày đập trúng đầu đâm ra trí nhớ có vấn đề. Thibault nhún vai, biết chắc rằng họ cười phá lên, và đúng thế . Nhưng tôi có bức ảnh, thêm, làm ra vẻ đắn đo.
      có mang nó theo ? Có, tôi nghĩ là có.
      Thibault bắt đầu lục túi, rồi rút bức ảnh ra. Mọi người bắt đầu xúm lại. Ngay lập tức, người lắc đầu. xui xẻo, ta . ấy được rồi. ấy có chồng! hẳn thế, nhưng cứ đơn giản là ấy hẹn hò ai cả. Chồng cũ của ấy thích đâu, tin tôi , muốn dây với gã này đâu.
      Thibault nuốt nước bọt. ấy là ai vậy?
      Beth Green, họ đáp. Giáo viên Trường Tiểu học Hampton, sống với bà tại ngôi nhà ở trại chó.
      Beth Green, hay chính xác hơn, Thibault nghĩ, là Elizabeth Green.
      E.
      Bọn họ chuyện chưa lâu Thibault nhận thấy người trong đám chuồn đâu mất sau khi xem bức ảnh. Chắc l may rồi. Thibault và cất bức ảnh .
      quyết định nán lại thêm nửa giờ nữa để ngụy trang. dăm ba câu chuyện. quan sát kẻ khả nghi có nước da bủng beo gọi điện thoại và nhận thấy vẻ thất vọng trong phản ứng của gã. Trông gã giống như đứa trẻ bị mắng vì can tội ăn tung tung. Tốt. Nhưng mà cứ có cảm giác là còn gặp lại tên này. mua thêm bia, và thua thêm vài ván nữa, thỉnh thoảng lại liếc về phía cửa xem có ai đến . Nhưng có ai. đến lúc rồi, giơ hai tay lên tuyên bố mình hết sạch tiền. phải lên đường. Vụ này khiến tốn hơn trăm đô la rồi. Họ đảm bảo với rằng được hoan nghênh tới đây bất cứ lúc nào.
      hầu như chẳng nghe thấy họ gì. Lúc này, tâm trí dồn hết vào cái tên của người phụ nữ ấy, và bước tiếp theo là phải tìm gặp ấy.

      7
      f—e
      Beth

      Chủ nhật.
      Sau khi lễ nhà thờ, thời gian còn lại trong ngày là để nghỉ ngơi, hồi phục sức khỏe và nạp lại năng lượng cho tuần mới. muốn ở bên gia đình, nấu món hầm trong bếp và bộ thư giãn dọc bờ sông. Cũng có thể là nhâm nhi cốc rượu vang và đọc cuốn sách thích, hoặc ngâm mình trong bồn tắm ấm áp sủi bọt.
      Việc mà muốn làm là phải dành cả hốt phân chó bãi cỏ chúng tập dượt, dọn chuồng, hay huấn luyện mười hai con chó tiếp theo, hay chết gí trong cái văn phòng nóng đến toát mồ hôi chờ người đến nhận chó - trong khi lũ chó lại thư giãn trong cũi có điều hòa mát lạnh. Vậy nhưng, đó lại chính là những việc mà phải làm kể từ lúc từ nhà thờ trở về nhà sáng sớm nay.
      Hai con chó được đón về, nhưng theo lịch hôm nay còn phải trả bốn con nữa. Bà dễ thương khi giao hết cả đống giấy tờ này cho trước khi lui vào trong nhà xem bóng chày ti vi. Lúc này đội Atlanta Braves đấu với đội Mets. Bà chỉ là cổ động viên cuồng nhiệt của Atlanta Braves, tới mức Beth cảm thấy tức cười, mà bà còn ghi nhớ tất cả những kiện liên quan đến đội này. Điều đó giải thích cho diện của hàng chồng hàng dãy cốc cà phê Atlanta Braves cạnh quầy bar, cờ phướn Atlanta Braves treo kín tường, lịch bàn Atlanta Braves, và cái đèn Atlanta Braves đặt gần cửa sổ.
      Tuy mở cửa song khí trong văn phòng vẫn rất ngột ngạt. Đó là trong những ngày hè nóng ẩm, rất thích hợp để bơi ở sông, còn chẳng hợp cho bất kỳ việc gì khác nữa. Áo Beth ướt sũng mồ hôi, và do mặc quần soóc nên đùi cứ dính chặt vào mặt chiếc ghế nhựa. Mỗi khi nhúc nhích hai chân, lại được thưởng thức cái thanh giống như lúc người ta tách băng dính ra khỏi hộp các tông, nghe mà gớm ghiếc.
      thấy nhất thiết phải giữ mát cho lũ chó, thế nhưng lại chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện bổ sung ống dẫn khí mát vào phòng làm việc. “Nếu cháu nóng cứ việc mở cánh cửa dẫn ra chỗ trại chó ấy,” bà toàn vậy mà lờ rằng chỉ có bà là bao giờ thấy phiền vì tiếng chó sủa ầm ĩ cả ngày, còn hầu hết những người bình thường khác ngược lại. Hơn nữa, hôm nay còn có cặp song ca bé bỏng nữa: ấy là hai con chó săn giống Jack Russell sủa ngừng nghỉ kể từ khi Beth đến. đoán chắc chúng sủa cả đêm qua, vì mấy con khác cũng tỏ ra rất gắt gỏng. Cứ khoảng phút, những con khác lại cất tiếng hòa theo làm nên bản hợp ca giận dữ, cao vút và dữ dội, cứ như thể con nào cũng muốn bày tỏ bất mãn của mình bằng cách sủa to hơn những con khác vậy. Thế nghĩa là chẳng có cơ hội nào cho mở cái cánh cửa đó ra hứng luồng khí mát vào phòng cả.
      Cứ chực chạy lên nhà để uống cốc nước mát, nhưng rồi Beth lại thôi bởi ý nghĩ kỳ quặc là hễ vừa rời khỏi văn phòng, thế nào chủ của con chó giống cocker spaniel cũng xuất . Họ gọi tới văn phòng từ nửa giờ trước để thông báo với đường tới - “Mười phút nữa chúng tôi tới nơi!” - và họ là kiểu người sẵn sàng làm loạn lên nếu con chó của họ phải ngồi chờ trong cũi lâu thêm phút nữa, nhất là khi nó phải xa nhà những hai tuần lễ.
      Nhưng cuối cùng họ tới chưa? ràng là chưa.
      Mọi việc dễ hơn nhiều nếu Ben ở đây. Sáng nay nhìn thấy nó trong nhà thờ với Keith, và đúng như đoán, trông thằng bé ủ rũ. Như thường lệ, ở đó chả có gì vui đối với nó. Đêm qua, trước lúc ngủ, thằng bé gọi điện cho kể rằng Keith dành phần lớn buổi tối ngồi mình ngoài hiên, trong khi nó phải lau bếp. Thế là sao chứ hả? Tại sao ta cảm nhận được niềm vui của chuyện được ở cùng với con trai mình? Hay chỉ đơn giản là ngồi chuyện với nó thôi cũng được vậy? Ben là đứa trẻ dễ gần nhất thế giới, và thế phải là vì thiên vị con mình. Ờ đúng, thừa nhận là có thể mình cũng hơi thiên vị chút, nhưng là giáo viên, tiếp xúc với rất nhiều trẻ em, và biết mình gì. Ben thông minh. Ben hài hước. Ben tốt bụng. Ben lịch thiệp. Ben là đứa trẻ tuyệt vời, và tức phát điên lên khi thấy Keith quá ngu ngốc đến độ nhận ra điều đó.
      cứ ước rằng mình ở trong nhà và... làm cái gì đó. Bất cứ cái gì. Kể cả giặt quần áo cũng còn thích hơn là ngồi đây. Ngồi đây có quá nhiều thời gian để nghĩ ngợi. chỉ nghĩ về Ben, mà cả về bà nữa. cũng băn khoăn biết năm nay mình có thể dạy học hay . Rồi tình hình đương ảm đạm cũng luôn khiến chán nản. tuyệt vời nếu như gặp được người đặc biệt, người để chia sẻ niềm vui, người có thể Ben cũng nhiều như . Hay ít ra cũng là người để cùng ăn tối và xem phim. người đàn ông bình thường, người quên trải khăn ăn lên lòng những lúc ở nhà hàng và thi thoảng mở cửa cho . Những việc đó đâu có gì quá đáng, phải ? hề dối Melody khi cho rằng mình chẳng có nhiều lựa chọn ở cái thị trấn này, mặc dầu cũng phải thừa nhận mình kén cá chọn canh, nhưng ngoài quãng thời gian ngắn ngủi hẹn hò với Adam dành hầu như tất cả các ngày nghỉ cuối tuần trong năm qua để ở nhà. Bốn mươi chín trong tổng số năm mươi hai đợt nghỉ cuối tuần. phải là quá kén chọn, điều này đảm bảo. Đơn giản Adam là người duy nhất mời chơi, và rồi chẳng hiểu vì lý do gì đột nhiên ta gọi điện cho nữa. Đấy, lịch sử tình trường của suốt mấy năm qua tóm lại chỉ có thế.
      Nhưng cũng chả quan trọng, đúng ? Dù sao đến giờ vẫn sống khỏe mà chẳng cần tới chuyện đương, và tiếp tục phát huy. Với cả, phần lớn thời gian cũng thấy phiền não gì. Giá mà hôm nay nóng khủng khiếp thế này chắc cũng chả bận tâm tới chuyện đó làm gì. Nhất định phải kiếm cho mình thứ gì đó mát mẻ thôi. Kẻo lại miên man nghĩ về quá khứ, rồi lại ngồi ì ra ở đây. Cầm cái cốc rỗng lên, quyết định lấy nước đá. Tiện thể lấy luôn cái khăn để phủ lên ghế mà ngồi.
      Khi đứng dậy, liếc nhanh về phía con đường trải sỏi vắng ngắt, rồi viết nguệch ngoạc dòng thông báo rằng quay lại sau mười phút và dán lên cửa trước của văn phòng. Bên ngoài, mặt trời rọi nắng chói chang khiến rảo bước về phía bóng râm của cây mộc lan già rồi theo con đường trải sỏi dẫn về ngôi nhà nơi lớn lên. Nó được xây vào khoảng năm 1920, na ná kiểu nhà trang trại rộng rãi và thấp, bao quanh là hàng hiên rộng và các mái chìa chạm nổi mô tả các môn thể thao. Sân sau, được ngăn cách với khu trại chó và văn phòng bởi những giậu cây cao ngất, nằm dưới bóng râm của cây sồi khổng lồ, có bày dãy bàn ăn ngoài trời. Trước kia hẳn là nơi này rất hoành tráng nguy nga, nhưng cũng như rất nhiều ngôi nhà khác ở vùng nông thôn quanh Hampton, thời gian và khí hậu bào mòn nó. Bây giờ, mái hiên xệ xuống, sàn kêu cọt kẹt; nếu có gió mạnh, thậm chí giấy tờ cũng có thể bay tứ tung khỏi bàn kể cả khi cửa sổ đóng. Bên trong ngôi nhà, tình hình cũng khá hơn: kết cấu rất vững chắc, nhưng cần được gia cố lại, đặc biệt là phòng bếp và phòng tắm. Bà cũng biết vậy và thỉnh thoảng có nhắc tới việc sửa sang nhà cửa, song những kế hoạch đó luôn luôn bị trì hoãn. Ngoài ra, Beth cũng phải công nhận rằng đây là nơi đặc biệt quyến rũ. chỉ vì sân sau giống hệt như ốc đảo thực thụ, mà vì cả những thứ bên trong nữa. Bao năm qua, bà vẫn thường lui tới các cửa hàng đồ cổ, và bà thích tất cả mọi thứ mang phong cách Pháp thế kỷ mười chín. Bà còn dành phần lớn các ngày nghỉ cuối tuần để tới những buổi thanh lý đồ cũ tìm kiếm tranh cổ. Bà có sở trường về tranh vẽ chung và xây dựng được số mối quan hệ tốt với các chủ phòng tranh ở khắp miền Nam này. Hầu như bức tường nào trong nhà cũng có tranh treo. Nhân lần cao hứng, Beth thử tra cứu tên tuổi số họa sĩ Google và biết rằng những tác phẩm khác của họ được treo ở Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan tại New York và Thư viện Huntington ở San Marino, California. Khi về những gì đọc được mạng, bà nháy mắt bảo, “Cảm giác giống như khi nhâm nhi ly sâm banh, phải ?” Đằng sau lối chọn từ kỳ quặc của bà thường là bản năng rất sắc bén.
      Vừa đến được hiên trước và mở cửa ra, luồng gió má vào người khiến Beth thấy khoan khoái, cứ đứng nguyên đó mà thưởng thức cái cảm giác dễ chịu này.
      “Đóng cửa vào,” bà vọng ra. “Cháu làm cho khí thoát hết ra ngoài đấy.” Rồi bà ngồi xoay lại, nhìn Beth lượt. “Cháu có vẻ nóng hả.”
      “Rất nóng ạ.”
      “Bà nghĩ hôm nay văn phòng chắc là nóng như cái lò.”
      “Bà nghĩ thế ạ?”
      “Bà nghĩ đáng lẽ cháu phải mở cái cửa thông sang chuồng chó như bà dặn ấy. Nhưng chắc chỉ có bà mới vậy. Thôi nào, vào đây lúc cho mát .”
      Beth hướng ánh mắt về phía chiếc ti vi. “Đội Braves chơi thế nào ạ?”
      “Như mớ cà rốt vậy.”
      “Vậy là tốt hay tốt ạ?”
      “Cà rốt có chơi bòng chày được ?”
      “Cháu nghĩ là .”
      “Thế là cháu biết câu trả lời rồi đấy.”
      Beth mỉm cười và vào trong bếp. Mỗi khi đội Braves thua, bà thường tỏ ra có đôi chút cáu kỉnh.
      lấy khay đá ra khỏi tủ lạnh và nạy ra vài cục. Sau khi thả chúng vào trong cốc, rót nước và khoan khoái thưởng thức hơi dài. Cảm thấy đói bụng, chọn quả chuối từ khay đựng hoa quả rồi quay trở lại phòng khách. Ngồi lên tay vịn văng, cảm nhận mồ hôi từ cơ thể bốc hơi trong khí mát lạnh của căn phòng, lúc nhìn Nana, lúc xem trận đ diễn ra ti vi. Beth cũng muốn hỏi xem có bao nhiêu bàn thắng được ghi rồi, nhưng biết bà có hứng trả lời. Tất nhiên là rồi khi mà đội Braves chơi như mớ cà rốt. Liếc nhìn đồng hồ, thở dài, biết rằng đến lúc phải quay trở lại văn phòng.
      “Ghé thăm bà là thích.”
      “Bà cũng thế, cháu . Nhớ đừng để bị nóng bức quá nhé.”
      “Vâng, cháu cố.”
      Beth sải bước trở lại văn phòng trại chó, hết sức thất vọng khi chẳng thấy cái xe nào ở bãi đỗ, có nghĩa là những người chủ vẫn chưa đến nhận chó về. Tuy nhiên, có người đàn ông bộ lối dẫn vào văn phòng, bên cạnh là con chó béc giê Đức. Từng đám bụi cuộn lên mặt đất phía sau ta. Đầu con chó rũ xuống, lưỡi thè ra ngoài. Beth tự hỏi tại sao họ lại ra ngoài dạo chơi trong ngày nóng nực thế này. Ngay cả con vật cũng thích được ở trong nhà hơn. Nghĩ lại, nhận ra đây là lần đầu thấy có người dắt chó bộ đến trại. những vậy, dù là ai nữa nguời này cũng gọi điện hẹn trước. Bất cứ ai gửi chó ở đây đều gọi điện hẹn trước.
      Thấy rằng người đàn ông kia tớí văn phòng cùng lúc với mình, Beth vẫy tay chào và ngạc nhiên khi thấy ta dừng lại nhìn chăm chú. Con chó của ta cũng vậy, tai nó dỏng lên, và ý nghĩ đầu tiênt xuất trong đầu Beth là trông nó giống Oliver, con béc giê Đức mà bà mang về nhà khi mười ba tuổi. Nó cũng có màu đen pha nâu, cũng kiểu nghiêng đầu như thế, cũng cái dáng vẻ dọa dẫm ấy khi gặp người lạ. Nhưng hề sợ nó. Ban ngày Oliver giống chó của Drake hơn là của Beth, nhưng đến tối nó luôn tới ngủ cạnh giường của , chờ được vỗ về.
      Miên man lúc với những kỷ niệm về Drake và Oliver, nhận ra người đàn ông kia vẫn đứng bất động. ta cũng gì. Lạ . Có thể ta muốn gặp bà chăng. Vì gương mặt ta bị khuất bóng nên cảm nhận được điều gì hơn nữa, nhưng cũng chẳng sao. Bước tới cửa, gỡ tờ thông báo xuống mở cửa, chắc mẩm ta vào theo khi sẵn sàng. bước vòng qua bàn thu ngân, và khi nhìn thấy chiếc ghế nhựa, nhớ ra là mình đem theo cái khăn.
      Cho rằng cần phải chuẩn bị giấy tờ để người lạ mặt làm thủ tục gửi chó, Beth rút từ trong tủ hồ sơ ra tờ khai gắn vào tấm bìa kẹp. Rồi lục khắp bàn tìm cây bút, sau đó đặt cả hai lên bàn đúng lúc người lạ mặt và con chó vào. ta mỉm cười, và khi ánh mắt họ gặp nhau, đó là trong số những lần hiếm hoi trong đời cảm thấy thốt được lời nào.
      hẳn là vì ta cứ nhìn chằm chằm, mà do cái cách ta nhìn đúng hơn. Nghe có vẻ điên rồ, nhưng quả thực ta nhìn như thể nhận ra vậy. Mà chắc chắn trước giờ chưa từng thấy ta. Nếu gặp rồi hẳn phải nhớ ngay, bởi vì cái cách ta dường như chế ngự bầu khí trong phòng khiến Beth nhớ đến Drake. Giống Drake, ta cao khoảng mét tám, hơi gầy, đôi tay rắn chắc, bờ vai rộng. Dáng vẻ của ta toát lên sức mạnh đầy quyến rũ, lại được tôn thêm bởi bộ quần jean áo phông bạc màu nắng gió.
      Nhưng giống nhau giữa Drake và ta cũng chỉ có vậy. Trong khi mắt Drake có màu nâu viền vàng mắt của người này màu xanh da trời; trong khi Drake luôn để tóc ngắn tóc người này lại dài hơn, gần như là cắt tỉa gì. Beth để ý thấy mặc dù phải bộ đến đây, nhưng xem ra ta đổ mồ hôi ít hơn .
      Bỗng dưng Beth cảm thấy lúng túng và quay mặt chỗ khác đúng lúc người lạ mặt tiến bước về phía bàn thu ngân. Qua khóe mắt, quan sát ta khẽ hướng lòng bàn tay mình về phía con chó. nhìn thấy bà làm động tác đó hàng nghìn lần, và con chó hiểu được từng cử động nhất của chủ, lập tức ngồi yên tại chỗ. Con chó này được huấn luyện rất tốt, vậy chắc là ta đến để gửi nó.
      “Con chó của đẹp ,” vừa vừa đẩy cái kẹp hồ sơ về phía ta. Tiếng của phá vỡ bầu im lặng khó xử. “Tôi cũng từng có con béc giê Đức. Tên nó là gì vậy?”
      “Cảm ơn . Nó tên Zeus”
      “Chào Zeus.”
      Zeus nghiêng đầu.
      “Tôi cần ký vào đây,” . “Và nếu có bản copy hồ sơ theo dõi của nó tốt. Hoặc là thông tin để liên lạc.”
      “Xin lỗi?”
      “Hồ sơ theo dõi của con chó. đến đây để gửi Zeus phải ?”
      ,” ta đáp và chỉ qua vai. “ ra, tôi thấy bảng thông báo ở cửa sổ. Tôi tìm việc, và tôi tự hỏi là ở đây vẫn cần người chứ?”
      “Ồ.” Beth chờ đợi điều này nên cố gắng định thần lại.
      ta nhún vai, “Tôi biết đáng lẽ tôi phải gọi điện trước, nhưng đằng nào tôi cũng tiện đường qua đây. Tôi nghĩ hay là cứ rẽ qua xem có thể xin cái đơn xin việc . Tôi quay lại vào ngày mai nếu muốn.”
      , phải vậy. Tôi chỉ ngạc nhiên thôi. Thường người ta đến xin việc vào Chủ nhật.” ra những ngày khác cũng chẳng có ai ghé qua, nhưng lờ điều nàv . “Ở đây tôi có tờ đơn. Xin đợi chút để tôi tìm nó.” Vừa vừa quay lại cái tủ hồ sơ đằng sau, mở ngăn kéo dưới cùng ra và bắt đầu lục lọi tìm kiếm trong tập hồ sơ. “Tên là gì?”
      “Logan Thibault.”
      “Tên Pháp ư?”
      “Đó là quê bố tôi.”
      “Tôi chưa gặp ở đây bao giờ.”
      “Tôi mới đến thị trấn này.”
      “Đây rồi, nó đây!” tìm được mẫu đơn.
      đặt tờ đơn trước mặt cùng cây bút. Trong khi viết tên, quan sát thấy làn da của khá thô ráp, có thể là do nắng nhiều. Tới dòng thứ hai của tờ đơn, dừng lại và ngẩng đầu lên, mắt họ gặp nhau lần thứ hai. Beth cảm thấy mặt mình hơi đỏ nên cố giấu vẻ lúng túng bằng cách giả vờ chỉnh lại áo sơ mi.
      “Tôi biết nên viết gì trong mục địa chỉ. Tôi cũng rồi đấy, tôi mới đến thị trấn và ở nhà trọ Holiday Motor Court. Tôi cũng có thể dùng địa chỉ của mẹ tôi ở Colorado. muốn thế nào?”
      “Colorado ư?”
      “Đúng, tôi biết. Nó ở rất xa.”
      “Vậy điều gì khiến đến Hampton?”
      Chính là , Thibault nghĩ. Tôi đến tìm . “Có vẻ như đây là thị trấn xinh đẹp, và tôi quyết định thử sống ở đây.”
      có gia đình ở đây?”
      .”
      “Ồ,” . Dù đẹp trai hay câu chuyện của ta nghe có vẻ hợp lý, và thấy tới lúc phải cảnh giác. còn lấn cấn vì điều gì đó khác nữa mà tạm thời chưa biết là cái gì. Phải mất vài giây mới nhận ra. lùi bước khỏi bàn thu ngân, khiến cho khoảng cách giữa hai người xa hơn chút. “Nếu chỉ vừa đến thị trấn này, sao biết trại chó muốn thuê người làm? Tuần này tôi hề đăng tin tuyển dụng báo.”
      “Tôi nhìn thấy bảng thông báo ở đây.”
      “Khi nào?" Beth liếc xéo , “Tôi thấy bộ tới, và thể nào nhìn thấy được cái bảng đó cho tới tận khi vào đến trước cửa văn phòng.”
      “Tôi nhìn thấy nó từ sángớm nay. Chúng tôi dọc con đường Zeus nghe thây tiếng chó sủa. Nó chạy về phía này, và khi đuổi theo tìm nó, tôi nhìn thấy tấm bảng. Lúc đó có ai ở đây nên tôi quyết định quay lại sau.”
      Câu chuyện nghe có vẻ hợp lý, nhưng Beth vẫn cảm thấy ta hoặc dối hoặc cố tình bỏ qua chi tiết nào đó. Và nếu như ta ở đây từ trước điều đó có nghĩa là gì? Nghĩa là ta tìm kiếm gì ở đây chăng?
      Dường như Thibault nhận ra thái độ thoải mái ở . đặt bút xuống, thò tay vào túi lấy hộ chiếu của mình và mở nó ra, đẩy về phía . nhìn vào bức ảnh, rồi nhìn lên mặt . Cả họ tên, thấy cũng đúng, tuy nhiên điều đó vẫn làm vơi cảnh giác trong . Chẳng ai qua Hampton mà lại quyết định ở lại cả. Charlotte, hay Raleigh, hay Greensboro hoàn toàn có thể. Nhưng Hampton? Chả có lý nào.
      “Tôi hiểu,” Beth , bỗng dưng muốn kết thúc cuộc chuyện này. “Ta tiếp tục nhé. hãy ghi địa chỉ thư của vào chỗ đó. Và kinh nghiệm làm việc nữa. Tiếp theo, tất cả những gì tôi cần là số điện thoại để có thể liên lạc.”
      nhìn thẳng vào mắt . “Nhưng gọi.”
      chàng này quả là sắc sảo, Beth nghĩ. Và thẳng thắn nữa. Quả thực cũng định thế. “Đúng.”
      Thibault gật đầu. “Đúng, dựa những gì nghe được cho tới lúc này nếu là tôi cũng gọi lại. Nhưng trước khi rút ra kết luận nào đó, tôi cổ thể bổ sung vài điều ?”
      “Xin mời.”
      Giọng của là để cho biết rằng dù gì cũng tin bất cứ điều gì .
      “Đúng, tôi ở tạm tại khách sạn , nhưng rất cần tìm chỗ quanh đây để ở. Tôi cũng tìm công việc ở đây.” hề chớp mắt. “Giờ xin chút về mình. Tôi t năm 2002, cử nhân khoa Nhân loại học. Sau đó tôi gia nhập lính thủy đánh bộ, rồi được giải ngũ cách đây hai năm. Tôi chưa từng bị bắt hay bị buộc bất cứ tội danh gì. Chưa từng dính vào ma túy, và chưa từng bị sa thải vì thiếu khả năng. Tôi sẵn sàng xét nghiệm ma túy. Nếu muốn, có thể kiểm tra lý lịch của tôi để chắc chắn về những điều tôi . Hoặc đơn giản nhất, có thể gọi cho sĩ quan chỉ huy cũ của tôi, ông ấy xác nhận những điều tôi . Và, mặc dù luật pháp bắt buộc tôi phải trả lời câu hỏi kiểu này, nhưng tôi phải điều trị bất cứ loại bệnh nào. cách khác, tôi có vấn đề về tâm thần hay lưỡng cực hay hoang tưởng. Tôi chỉ là người cần tìm việc làm. Và chính xác là tôi thấy bảng tìm người từ sáng nay.”
      Beth cũng chắc mình mong đợi Thibault trình bày điều gì, nhưng ràng là làm bất ngờ.
      “Tôi hiểu,” lại , tập trung vào việc từng phục vụ trong quân ngũ.
      “Liệu tôi có cần điền tiếp vào mẫu đơn nữa ?”
      “Tôi vẫn chưa quyết định.” Trực giác mách bảo rằng lần này , nhưng vẫn tin hẳn còn giấu điều gì đó nữa. cắn môi. cần người làm. Nhưng điều gì quan trọng hơn - tìm hiểu xem ta giấu giếm điều gì, hay là tìm nhân viên mới?
      đứng thẳng trước mặt , vẻ điềm tĩnh, tạo cảm giác tin tưởng dễ chịu. Tư thế quân nhân, cau mày nhận xét.
      “Tại sao lại muốn làm việc ở đây?” Ngay cả còn thấy câu hỏi của mình lộ nghi ngờ. “Với bằng cấp như vậy, có thể kiếm được công việc tốt hơn ở chỗ khác trong thị trấn này.”
      Thibault chỉ về phía Zeus. “Tôi thích chó.”
      “Nhưng lương cao đâu.”
      “Tôi cần nhiều tiền
      “Ngày làm việc dài đấy!”
      “Tôi biết như thế.”
      “Trước đây từng làm việc ở trại chó nào chưa?”
      “Chưa.”
      “Tôi hiểu.”
      Thibault cười..“ câu đó nhiều nhỉ.”
      “Đúng thế,” Beth . Tự nhủ: Ngừng thế ngay. “ biết ai ở thị trấn này sao?”
      .”
      vừa mới tới thị trấn và quyết định ở lại?”
      “Đúng vậy.”
      “Xe của đâu?”
      “Tôi có xe.”
      “Vậy tới đây bằng gì?”
      “Tôi bộ.”
      chớp mắt, hiểu gì cả.
      định với tôi là bộ suốt từ Colorado đến đây sao?”
      “Đúng
      nghĩ điều đó kỳ quặc à?”
      “Tôi cho là cũng còn tùy vào lý do nữa.”
      “Lý do của là gì?”
      “Tôi thích bộ.”
      “Tôi hiểu.” Beth thể nghĩ ra bất cứ điều gì khác để nữa. với tay lấy cái bút, chần chừ. “Tôi đoán chưa có gia đình,” .
      “Chưa.”
      “Còn con cái?”
      có. Chỉ mình tôi và Zeus. Nhưng mẹ tôi vẫn sống ở Colorado.”
      gạt lọn tóc bết mồ hôi ra khỏi trán, cảm thấy vừa bối rối vừa kinh ngạc. “Tôi vẫn chưa hiểu. bộ ngang qua nước Mỹ, đến Hampton, bảo thích nơi này, và bây giờ muốn làm việc ở đây!”
      “Đúng thế.”
      có muốn thêm điều gì ?”
      .”
      há miệng định gì đó nhưng rồi lại thôi. “Xin lỗi, cho tôi xin phút. Tôi phải chuyện với người.”
      * * *

      Beth có thể xử lý rất nhiều việc, nhưng việc này ngoài tầm của . Dù cố gắng nhưng vẫn tàtoàn bộ những gì Thibault . Trong chừng mực nào đó, câu chuyện của nghe có vẻ lọt tai; nhưng về tổng thể, nó có gì đó... vô lý. Nếu chàng này ta là kẻ lạ lùng; còn nếu ta dối, ta chọn kiểu dối rất lạ lùng. Dù thế này hay thế kia cũng khó hiểu. Đó là lý do khiến muốn chuyện với bà. Nếu có ai hiểu nổi ý đồ của người này đó chính là bà.
      Xui xẻo thay, khi Beth trở lại nhà chính trận đấu vẫn chưa kết thúc. có thể nghe thấy tiếng các bình luận viên tranh luận về việc đội Mets thay cầu thủ giao bóng, hay việc cầu thủ nào đó ở tuyến này là nên hay nên. Mở cửa ra, ngạc nhiên thấy chiếc ghế bà ngồi giờ trống trơn.
      “Bà ơi?”
      Bà Nana ló đầu ra từ phòng bếp. “Bà đây, bà vừa mới vào pha cốc nước chanh, cháu có muốn uống , bà có thể pha bằng tay.”
      ra cháu cần chuyện với bà. phút thôi được ạ? Cháu biết trận đấu vẫn còn...”
      Bà phẩy tay gạt . “Ôi, bà chán xem rồi. Cháu cứ và tắt ti vi . Braves thể thắng trận này được, và bà cũng chẳng muốn nghe những lời bào chữa của họ nữa. Bà ghét những lời bào chữa. Họ có lý do gì để mà thua trận này hết, và điều đó họ biết. Được rồi, cháu có chuyện gì nào?”
      Beth bước vào phòng bếp, dựa người cạnh bàn trong khi bà Nana rót nước chanh từ bình thủy. “Cháu đói ? Bà có thể làm nhanh cho cháu cái bánh kẹp.”
      “Cháu vừa ăn chuối rồi.”
      “Ăn thế đủ đâu. Trông cháu gầy như cây gậy đánh gôn ấy.”
      Cầu cho Chúa nghe thấy lời bà , Beth nghĩ.
      “Chắc để lát nữa. Còn bây giờ, có người đến xin việc. ta ở đây.”
      “Có phải cái chàng điển trai với con béc giê Đức ? Bà biết là cậu ta xin việc mà. Cậu ta thế nào? Hãy với bà rằng cậu ta luôn mơ ước được dọn chuồng chó .”
      “Bà nhìn thấy ta à?”
      “Tất nhiên.”
      “Làm sao bà biết ta muốn xin việc?”
      ngoài ra còn lý do gì khiến cháu muốn chuyện với bà nữa đây?”
      Beth lắc đầu. Bà luôn trước bước. “Dù sao , cháu nghĩ là bà nên chuyện với ta. Cháu thực tình biết ta là người thế nào nữa.”
      “Đầu tóc của cậu ta có liên quan gì tới chuyện này ?”
      “Cái gì ạ?”
      “Thực là cháu để ý.”
      “Chắc chắn cháu có để ý, cháu . Cháu thể dối bà được đâu. Thế vấn đề là gì đây?”
      Beth nhanh chóng kể tóm tắt cho bà nghe cuộc phỏng vấn. Nghe xong, bà ngồi im lặng.
      “Cậu ta bộ từ Colorado sao?”
      “Ấy là ta thế.”
      “Và cháu tin cậu ta?”
      “Chuyện này á?” ngập ngừng. “Vâng, chuyện này ta .”
      “Quả là hành trình dài.”
      “Cháu biết.”
      “Bao nhiêu cây nhỉ?”
      “Cháu biết. Rất xa.”
      kỳ lạ, cháu có nghĩ vậy ?"
      “Có ạ. À, và còn điều nữa.”
      “Gì vậy?”
      ta từng là lính thủy đánh bộ.”
      Bà Nana thở dài. “Tốt hơn là cháu đợi ở đây. Bà chuyện với chàng này.”
      Trong mười phút tiếp theo, Beth quan sát họ từ sau rèm cửa sổ phòng khách. Bà phỏng vấn kẻ kỳ lạ trong văn phòng, thay vào đó bà dẫn tới băng ghế gỗ dưới bóng cây mộc lan. Zeus ngủ gà ngủ gật dưới chân họ, thỉnh thoảng lại ngoe nguẩy tai để xua đám ruồi mời mà đến. Beth họ những gì, nhưng thỉnh thoảng thấy bà cau mày, như vậy là xem ra cuộc phỏng vấn được suôn sẻ cho lắm. Cuối cùng, Logan Thibault và Zeus bước theo con đường trải sỏi ngược ra đường cái, còn bà Nana nhìn theo họ với vẻ mặt đăm chiêu.
      Beth tưởng bà về nhà chính, nhưng bà lại vào văn phòng. Cùng lúc đó, Beth thấy chiếc xe chở hàng Volvo màu xanh xuất lối vào.
      Là chủ của con cocker spaniel. quên béng chuyện họ đến đón con chó, nhưng sao, bà thu xếp việc này. Thế là tranh thủ làm mát bằng cái khăn mặt ướp lạnh và uống thêm cốc nước đá nữa Từ trong phòng bếp, Beth nghe thấy tiếng cửa mở cọt kẹt khi bà bước vào.
      “Tình hình thế nào ạ?”
      “Tốt.”
      “Bà thấy sao?”
      “Rất... thú vị. Cậu ấy thông minh và lịch . Nhưng cháu đúng, chắc chắn cậu ấy giấu giếm gì đó.”
      “Vậy bây giờ sao ạ? Cháu có phải đăng quảng cáo tuyển dụng nữa báo ?”
      “Để xem chàng này làm việc ra sao .”
      Beth chắc mình có nghe đúng nữa. “Bà là bà thuê ta sao?”
      , bà là bà thuê cậu ấy. Cậu ấy bắt đầu làm việc từ thứ Tư, tám giờ.”
      “Vì sao bà lại quyết định thuê ta?”
      “Vì bà tin cậu ấy.” Bà mỉm cười buồn bã, như thể biết chính xác điều Beth nghĩ. “Kể cả khi cậu ấy từng là lính thủy đánh bộ chăng nữa.”

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :