1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Mặt Nạ Hoàn Hảo - Sherry Thomas

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
       Chương 20


      “Ngài Vere có thể xử lý mọi chuyện ?” Dì Rachel hỏi khi đoàn tàu chuyển bánh trong tiếng còi và hơi nước.

      Vere vẫn ở lại sân ga, quan sát họ rời . Vẫn trong bộ dạng người đánh xe, đưa Elissande và dì Rachel đến ga tàu, để họ có thể bỏ Exeter và những thử thách lại sau lưng. Bà Douglas hồi phục ở nhà tốt hơn là ở đồn cảnh sát, .

      Nhưng đó là nhà của , đâu phải nhà họ?

      ấy làm tốt thôi”, Elissande .

      lùi xa dần, xa dần, vắng mặt của bỗng biến thành lỗ hổng sắc nhọn trong . Cuối cùng nhà ga chỉ còn là chấm sáng trong bóng đêm và biến mất khỏi tầm nhìn của .

      “Mẹ nghĩ rằng... mẹ nghĩ rằng con muốn biết mọi chuyện”, dì .

      , phải dì , mà là mẹ . Elissande chuyển ánh mắt sang khuôn mặt thân quen đó, bớt hốc hác hơn trước nhưng vẫn già hơn nhiều so với tuổi, và cảm thấy nỗi buồn ghê gớm.

      “Chỉ khi nào mẹ cảm thấy đủ khỏe để chuyện”.

      biết có đủ khỏe để nghe hay .

      “Mẹ nghĩ có thể”, dì Rachel với nụ cười yếu ớt. “Nhưng mẹ biết bắt đầu từ đâu”.

      Elissande nhớ lại những gì chồng thuật lại chi tiết trước đây. Để giữ mình run rẩy là cả nỗ lực. “Con biết được rằng chú con, cha con, vẽ mẹ như thiên thần tốt, nhân hậu rất lâu trước khi hai người kết hôn. Mẹ biết ông ta là ai sao?”

      “Ông ta lần đầu tiên nhìn thấy mẹ ở Brighton, West Pier, và bị mẹ thu hút đến mức ông ta mua chuộc chủ cửa hàng ảnh mà gia đình mẹ chụp ảnh để có địa chỉ mà nhà mẹ viết lại để gửi ảnh đến, và cũng để mua bức ảnh của mẹ. Mẹ chưa bao giờ gặp ông ta trước khi ông ta đến gặp mẹ. Ông ta tuyên bố là quen người cha cố của mẹ và mẹ hề nghi ngờ ông ta. Mẹ ở trong hoàn cảnh sa sút và Charlotte bỏ nhà , mọi người dối để phải tiếp đón mẹ nữa. Mẹ nghĩ rằng có người nào lại dối để được gần mẹ.”

      Trái tim Elissande tê tái: người mẹ cả tin, dịu dàng của , đơn độc trong thế giới và hoàn cảnh dễ bị tấn công bởi con quái vật như Douglas.

      “Mẹ biết khi nào?”

      lâu trước khi con sinh ra. Mẹ thấy cuốn nhật ký cũ của ông ta khi mẹ tìm thứ khác, mẹ nhớ là thứ gì. Nếu mẹ biết cuốn nhật ký thuộc về ông ta, mẹ mở ra. Nhưng chữ viết tắt G.F.C. khắc bìa làm mẹ tò mò.”

      Bà Douglas thở dài. “Mẹ quá ngây thơ, quá ngu ngốc, và hoàn toàn mãn nguyện với người chồng giàu có, thông minh và đẹp trai, ngay cả ghen tuông của ông ta mẹ cũng nghĩ là lãng mạn. Khi mẹ nhận ra rằng chữ viết của George Fairborn Carruthers và vài kiện trong cuộc đời người lạ này trùng khớp với những gì Edmund kể lại về cuộc đời mình, trong số tất cả mọi người, mẹ lại hỏi ông ta về chuyện đó.

      Ông ta hẳn sợ hãi. Ông ta có thể lừa gạt mẹ với vài câu chuyện bịa đặt, nhưng ông ta kể cho mẹ những điều kinh khủng. Đó là lần đầu tiên mẹ nhìn thấy bản chất thực của ông ta, lần đầu tiên mẹ sợ hãi ông ta”.

      Đó là lý do bà quá hãi hùng vì tin tức Stephen Delaney bị ám sát, Elissande nhận ra: Douglas hẳn thề với bà rằng ông ta bao giờ cướp đoạt mạng sống của người khác nữa.

      “Khi con được tháng tuổi, chị họ con được trung sĩ của Quân đội Cứu tế đưa đến cửa nhà chúng ta. Mẹ mất liên lạc với Charlotte nhiều năm. Mẹ biết rằng chị ấy chết trong khi sinh hay là chồng chị ấy chết. Vị trung sĩ đó rằng chị ấy cố gắng đưa đứa trẻ về cho nhà Edgerton, nhưng họ từ chối thẳng thừng. Mẹ hãi hùng với việc nhận thêm đứa trẻ khác vào nhà mình, dưới kiểm soát của chồng mẹ, nhưng mẹ thể làm gì khác.

      Con bé đáng . Nó chỉ lớn hơn con tuần tuổi và hai đứa con có thể dễ dàng bị nhầm là chị em sinh đôi. Nhưng chưa đến mười ngày sau khi con bé đến sống với chúng ta, cả hai đứa đều bị sốt. Con bé dường như khỏe hơn, trong khi mẹ lo sợ cho cuộc sống của con. mừng rỡ mẹ cảm thấy khi cơn sốt của con bớt … con thể tưởng tượng được đâu. Nhưng chỉ vài tiếng đồng hồ sau, vào giữa đêm, chị họ con chết trong tay mẹ. Trước cơn sốc đó, mẹ thể ngừng khóc. Mẹ nghĩ chắc chắn con bé chết nếu nó ở với nhà Edgerton. Mẹ sợ rằng nhà Edgerton nhận ra sai lầm và sáng mai đến để nhận lại con bé. Lúc đó mẹ gì với họ?

      Sau đó mẹ nghĩ ra. Chú con… cha con làm việc ở Antwerp, và vú nuôi bị sa thải vì bà quản gia bắt gặp ta với người hầu. Nếu mẹ tuyên bố con chết thay vì chị họ con, ai biết được. Rồi khi nhà Edgerton đến, con có thể với họ và sống cuộc sống có cha con, điều mà mẹ thể làm. Khi mẹ quyết định, mẹ gửi thư báo tử cho mọi người mẹ biết, đó là trước khi cha con chuyển chúng ta về nông thôn, và mẹ vẫn có vài người bạn. Việc đó khiến cho cái chết của con được chính thức hóa. ai nghi ngờ rằng người mẹ lại nhận ra chính đứa con của mình”.

      Bà chấm khăn tay lên khóe mắt. “Mẹ phải rằng nhà Edgerton làm mẹ thất vọng ghê gớm. Mẹ gửi cho họ rất nhiều thư. Mẹ gửi những tấm ảnh của con. Họ chưa bao giờ hồi đáp”.

      Elissande cũng phải lau mắt mình. “Được rồi mà. Mẹ làm điều tốt nhất”.

      phải. Mẹ là người mẹ tồi tệ, gánh nặng vô dụng đối với con”.

      Elissande lắc đầu. “Làm ơn đừng thế. Chúng ta đều biết rằng ông ta là loại người nào. Ông ta giết mẹ nếu mẹ cố gắng bỏ ”.

      “Mẹ nên giúp con bỏ . Ông ta nhất thiết phải có quyền thống trị cả hai chúng ta”.

      Elissande vươn tay qua gian hẹp giữa hai chiếc ghế và chạm vào má mẹ mình. “Con hoàn toàn là tù nhân: Con có Capri. Con luôn luôn tưởng tượng mình ở đó, cách xa khỏi ông ta”.

      “Mẹ cũng thế”, bà Douglas , nhét chiếc khăn vào cổ tay áo.

      Elissande kinh ngạc. “Mẹ cũng tưởng tượng mình ở Capri?”

      , mẹ tưởng tượng con ở đó. Mẹ rất thích đoạn con thường đọc cho mẹ nghe. Mẹ vẫn còn nhớ vài câu: ‘Như Venice, Capri là điểm đến thường xuyên trong hành trình của du khách, tách biệt với miền đất liền Ý về đặc điểm tự nhiên và xã hội’”, bà Douglas nhắc lại, mắt bà đăm chiêu, “‘ vùng quê tươi sáng, đầy gió biển, với những tiếng thầm sâu thẳm của quá khứ rì rào như những con sóng trong hang động’.

      Mẹ hình dung con khám phá những hang động đó, mẹ đọc về khai phá Hang Động Xanh khi mẹ còn là con , nó có vẻ rất thú vị. Khi con khám phá đầy đủ về những hang động, con ăn tối trong trang trại và ăn những thức ăn thôn quê ngon lành làm từ thảo dược và ô liu. Và khi buổi chiều đến, con trở lại ngôi nhà vách đá cao và quan sát mặt trời lặn xuống Địa Trung Hải”.

      Nước mắt lại dâng lên trong mắt Elissande. “Con tin rằng con từng nghĩ đến chuyện ăn gì hay sống ở đâu ở Capri”.

      “Cũng sao. Nhưng mẹ là mẹ con. Khi mẹ nghĩ đến chuyện con ở xa, mẹ muốn nghĩ rằng con được ăn uống đầy đủ và nghỉ ngơi an toàn”.

      Nhưng mẹ là mẹ con. Những từ ngữ này vừa gây bối rối vừa đẹp đẽ như lần đầu tiên nhìn thấy những vì sao.

      “Và mẹ tưởng tượng có đường dễ dàng từ ngôi nhà của con đến trung tâm hòn đảo và những khách sạn mà tất cả du khách người tụ họp. Để khi buồn hoặc đơn, con có thể đến đó uống trà hoặc ăn tối. Và có lẽ chàng trai trẻ tốt bụng có thể ghé chơi với con”.

      Bà Douglas ngập ngừng mỉm cười. “Mẹ tưởng tượng cả cuộc sống đầy đủ cho con, ở nơi mẹ chưa bao giờ nhìn thấy”.

      Elissande luôn biết rằng người đàn bà trước mặt , nhưng chưa bao giờ biết tình đó nhiều đến như thế nào. “ cuộc sống tuyệt vời”, nghẹn lời.

      “Gần tuyệt vời như cuộc đời của con với ngài Vere”. Bà Douglas nắm tay . “Con là người may mắn, Ellie ạ”.

      Cuộc hôn nhân của điều đáng xấu hổ, chồng sẵn sàng trả số tiền lớn để bao giờ phải nhìn thấy nữa. Và người đàn ông khinh miệt nhất lại hóa thành cha , vẫn còn quá tê liệt để hiểu được cơn biến động này. Nhưng bà Douglas sai. Elissande người may mắn: vẫn có mẹ, an toàn và khỏe mạnh.

      nghiêng người về phía trước và hôn lên trán mẹ. “Vâng, và con biết rất điều đó”.




      Vere dõi mắt theo con tàu mang vợ biến mất trong đêm tối.

      nghĩ biết tường tận mọi điều quanh co ngoắt ngoéo về trường hợp của Douglas. Nhưng những khám phá tối nay vẫn làm rúng động tâm can.

      có rối loạn ? có chối bỏ ? Thậm chí là có hiểu được mọi chuyện xảy ra hay ?

      Thay vì cho phép mình bị cuốn hút bởi những bí mật chưa được tiết lộ, nên cảm thấy tai họa sắp xảy đến. nên sử dụng thuốc mê nhanh hơn. Nếu hành động sớm hơn phút, có thể bảo vệ được niềm vui sướng vì biết của .

      cực kỳ vui vẻ - thế giới ảm đạm, xấu xa này mới mẻ và xinh đẹp trong mắt . lần ở bữa tối, kể lại kinh ngạc của dì trong chuyến Dartmouth. Và suýt nữa bình luận về kinh ngạc nhìn thấy khuôn mặt mỗi ngày, tìm thấy niềm vui thể tin được từ những thứ nhặt nhất.

      Cuối cùng, gì. Niềm vui của làm bất an: Nó là ngọn lửa, ngọn lửa nguy hiểm mà sợ rằng nó thiêu cháy nếu ngu ngốc lao vào nó. Cho đến lúc này biết rằng nghĩ nó đẹp đẽ đến mức nào. trân trọng nó ra sao.

      dám nhận lấy niềm hạnh phúc như thế cho mình, xứng đáng, nhưng muốn có được nó. Niềm vui của là niềm vui tinh khiết phải khó khăn lắm mới có được. Và cảm thấy nó tan vỡ bên trong , những mảnh vỡ của nỗi đau đâm thủng mọi hơi thở của .

      Khi trở lại ngôi nhà Douglas chọn để thực kế hoạch của mình, Holbrook, cũng ăn mặc như người đánh xe, đứng gác dưới ánh đèn đường hiu hắt.

      “Người của chúng ta đến rồi”, ta thay cho lời chào.

      Vere gật đầu. “Tôi thay quần áo và chúng ta mang ”.

      thay quần áo ở trong nhà. Sau đó cùng Holbrook mang Douglas, vẫn còn bị trói chặt, vào cỗ xe hai bánh của Holbrook. Holbrook leo lên ghế đánh xe; Vere trèo vào trong xe và ngồi cạnh Douglas.

      “Vậy là, cậu là con rể của ta”, Douglas .

      Vere cảm thấy sởn gai ốc khi người đàn ông này mở miệng . “Hả?” . “, , tôi kết hôn với cháu của vợ ông”.

      “Cậu hiểu những gì nghe thấy trong tối nay sao? Con bé phải là cháu của vợ ta. Nó là con ta”.

      Vere đờ đẫn nhìn Douglas. “Bị vỡ đầu rồi, phải ?”

      Douglas cười phá lên. “Ta phải là, phần nào ta cũng rất thích thú khi nó kết hôn với thằng ngốc”.

      “Tôi phải thằng ngốc”, Vere lặng lẽ , hối hận khủng khiếp vì đập người đàn ông này nhừ tử khi có cơ hội.

      ? Thế hãy biết rằng: Nó là con ta. Ta biết nó. Ta biết nó gài bẫy cậu. Nó thông minh và cũng tàn nhẫn như ác quỷ. Nó sử dụng cậu cho đến khi cậu còn gì để cho, và ai biết được, có lẽ nó giũ bỏ cậu”.

      hèn hạ của người đàn ông này bao giờ làm người khác hết ngạc nhiên. Những ngón tay Vere siết chặt thành nắm đấm. “Làm sao ông có thể những điều như thế về chính con mình?”

      “Bởi vì đó là . Nó học được rất nhiều từ ta, kẻ cơ hội bậc nhất. Cậu nghĩ là tại sao? Thứ lỗi cho ta, cậu biết nghĩ, ta quên mất. Chà, ta cảm thấy thương hại cậu, đồ vụng về ngớ ngẩn”.

      “Gì cơ?” Vere .

      “Đồ ngốc nghếch ngớ ngẩn”.

      Vere đấm vào mặt ông ta, gần như làm vỡ cả bàn tay mình với sức mạnh của cú đấm. Douglas rú lên đau đớn, toàn bộ cơ thể ông ta rúng động.

      “Xin lỗi”, Vere vừa vừa mỉm cười khi thấy Douglas rùng mình trước giọng của . “Tôi làm thế khi người ta gọi tôi là ngốc nghếch. Ông gì nhỉ?”




      “Tôi muốn chắc chắn rằng mình hiểu đúng ngài, ngài Vere. Ngài ngồi trong quán rượu ở Dartmouth. Quý ông này ngồi xuống và mua cho ngài chầu rượu. Sau khi uống xong ngài thấy mình mơ màng và choáng váng, rồi đồng ý cùng ông ta xem điền trang đẹp ở Exeter. Ngài thức dậy sàn nhà của ngôi nhà hoang, nhận ra rằng mình bị bắt cóc. Ngài chế ngự kẻ bắt cóc mình khi ta mang bánh mì và nước đến, và mang ta đến đây?” Thám tử Nevinson hỏi. Ông ta ở đồn cảnh sát, sau khi nhận được bức điện Vere gửi từ Paignton.

      Chết tiệt cái vai diễn bao giờ kết thúc này. Vere muốn được ở nhà – đêm nay vợ nên ở mình.

      “Phải”, . “Tôi là người mà gọi là, à, phải nữ thừa kế, tôi biết đó là phụ nữ, nhưng người đàn ông có tài sản thừa kế gọi là gì?”

      “Ngài là người giàu có”, Nevinson , mắt đảo tròn.

      “Đúng vậy. Và vì thế, tôi biết mình bị đe dọa vì tiền. Và thằng khốn kia, thứ lỗi cho ngôn ngữ của tôi, kẻ bị trói kia cả gan rằng giam giữ tôi để vợ tôi phải liên tục giao cho hàng nghìn bảng. Ngay cả phép xã giao đúng đắn để đòi tiền chuộc cũng biết, đúng ? À, cảm ơn ngài”, với thanh tra trưởng của Cảnh sát Thành phố Exeter, ông ta đưa cho tách trà đen, đậm. “Thứ này tốt, thanh tra. Khó có thể thích được loại Ceylon mà các quý vẫn thích”.

      Nevinson lắc đầu. “Thưa ngài, ngài có biết ngài vừa bắt ai ?”

      “Tất nhiên là . với ông rồi, chưa bao giờ nhìn thấy trước đây”.

      “Tên ông ta là Edmund Douglas. Nghe quen ?”

      “Chúa lòng lành, tôi bị tay thợ may của mình bắt sao!”

      !” Nevinson gào lên. Ông ta lấy hơi thở sâu và nuốt xuống miệng trà. “Người đàn ông đó là chú của vợ ngài”.

      “Điều đó là thể. Chú vợ tôi ở Holloway”.

      “Ông ta bỏ trốn khỏi Holloway”.

      “Thế à?”

      “Đó là lý do ông ta muốn ngài. phải vì ngài là người giàu có, thưa ngài, mà vì ngài là cháu rể ông ta”.

      “Thế tại sao ông ta giới thiệu mình?”

      “À, dù gì ”, thanh tra trưởng , “Ngài bắt ông ta về đây, thưa ngài, và giúp mọi người thoát khỏi cuộc săn lùng kéo dài. Ít nhất là, tôi nghĩ việc này đáng uống gì hơn là trà. Có lẽ, chút uýt-ki nhé, thám tử?”

      “Làm ơn”, Nevinson nhiệt tình hưởng ứng.

      trung sĩ cảnh sát vội vã vào phòng thanh tra trưởng. “Xin lỗi làm phiền các ngài, nhưng người đàn ông hầu tước vừa bắt chết rồi”.

      Nevinson há hốc miệng. Vere nhảy lên, hất đổ chiếc ghế ngồi. “Tôi giết ông ta”.

      “Tất nhiên ngài giết ông ta”, Nevinson sốt ruột . “Chuyện gì xảy ra, trung sĩ?”

      “Chúng tôi chắc, thưa ngài. Ông ta hoàn toàn khỏe mạnh. Rồi ông ta hỏi xin nước. Cảnh sát Brown đưa nước cho ông ta. Năm phút sau, khi cảnh sát Brown đến lấy cái cốc, ông ta nằm giường, chết”.

      Họ chạy vội đến phòng giam của Douglas. Douglas nằm nghiêng, như ngủ, nhưng hoàn toàn có mạch đập.

      “Sao chuyện này xảy ra được?” Vere hét lên. “Ông ta chết bất đắc kỳ tử à?”

      “Có vẻ là dùng xyanua hoặc stricnin”. Nevinson vỗ vào người Douglas. “ người ông ta có gì ngoài ít tiền và chiếc đồng hồ”.

      “Ông có nghĩ ông ta giữ thuốc độc trong đồng hồ ?” Vere hỏi, mắt mở lớn.

      “Cái đó…”, Nevinson dừng lại. Ông ta dò dẫm chiếc đồng hồ; mặt đồng hồ bật mở để lộ ngăn bí mật. “Ngài đúng: Còn nhiều viên thuốc nữa. Đủ để giết ba người, nếu nó là thuốc độc”.

      cơn ớn lạnh chạy thẳng xuống xương sống Vere. Có lẽ Douglas dự định đầu độc vợ mình cùng bản thân. Hoặc có lẽ chúng đều để dành cho bà Douglas, trả thù cuối cùng, bị trì hoãn bấy lâu nay.

      Và có lẽ cũng đủ cho cả Elissande. Máu Vere lạnh , mặc dù bây giờ nguy hiểm qua.

      “Tôi cho rằng ông ta biết lần này thoát được”, Nevinson . “Chúng ta có đủ chứng cớ. Ông ta tiến gần đến giá treo cổ rồi”.

      Đối với người đàn ông tìm cách làm chủ số mệnh của mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào, ý nghĩ bị áp đặt cái chết hẳn là thể chịu đựng được. Nhưng ít nhất giờ đây ông ta bao giờ có thể làm hại Elissande và mẹ nữa.

      Suy nghĩ ấy mang đến nhõm như Vere hy vọng. Đối với những tổn hại Douglas gây ra trong ngày hôm nay, và trong toàn bộ cuộc đời vô nghĩa của ông ta, ông ta lẽ ra phải chịu tất cả những đau đớn mà cơ thể con người có thể cảm nhận được trước khi chết trong nhục nhã công khai.

      “Và xem này”. Nevinson đặt chiếc đồng hồ xuống sàn nhà và cho họ thấy cái túi . “Bên trong vẫn còn hai viên kim cương. Đó hẳn là cách ông ta mua chuộc tay gác tù để trốn thoát”.

      Trong khi vị thám tử và thanh tra trưởng kiểm tra những viên kim cương, Vere cầm chiếc đồng hồ lên và kín đáo lần mò nó lần nữa. Đây rồi, ngăn bí mật thứ hai, và bên trong, chiếc chìa khóa tí hon khác.

      cho chiếc chìa khóa vào túi và đưa chiếc đồng hồ lại cho Nevinson. “ là, ông ta cần tự tử. Tôi có lời xin khoan hồng với quan tòa. Đàn ông giàu có là những mục tiêu hấp dẫn. Và sau cùng , ông ta là chú tôi”.




      Elissande bất ngờ đến thở nổi.

      cố gắng hít thở sâu chuyến tàu về nhà, cho đến khi đưa mẹ mình vào giường. Cuối cùng mình, nằm chiếc trường kỷ trong phòng khách, miếng gạc đặt mặt, miếng khác được làm lạnh trong chậu nước đựng miếng đá lấy từ hầm đá, phổi mở ra và thu lại như chúng phải thế.

      Nhưng bây giờ bật dậy, hất miếng gạc xuống sàn nhà. Bây giờ giật cổ áo. Bây giờ bàn tay của chú lại siết chặt quanh cổ , chặn hết nguồn khí mà hề thương tiếc, hề dao động.

      thở hổn hển và gấp gáp. há rộng miệng và nuốt xuống lượng ôxy ít ỏi còn lại trong phòng.

      Nhưng vẫn lấy đủ khí. Đầu quay cuồng; ngón tay tê cứng; môi râm ran cách kỳ lạ. thở nhanh hơn và sâu hơn. Ngực nhức nhối. Mắt nổ đom đóm.

      thanh ở bên ngoài nhà. Có phải là cỗ xe ? Là ai mở cửa chính? thể nhận ra bất cứ điều gì. chỉ có thể gập người lại và nhét đầu giữa hai đầu gối, vật lộn để bất tỉnh.

      Tiếng bước chân – còn mình nữa.

      “Thở chậm lại, Elissande”, hướng dẫn, và ngồi xuống cạnh . “Em phải kiểm soát hơi thở của mình”.

      vuốt tóc , hơi ấm từ cái vuốt ve của dễ chịu như chiếc khăn lụa cashmere. Nhưng lời của có nghĩa gì – cần khí.

      “Hít vào chậm, và quá sâu. Rồi thở ra như thế.” Bàn tay lúc này ở lưng , sức ép tinh tế trấn tĩnh .

      làm như . Chẳng mấy chốc nhận thấy rành là đúng. Kiểm soát lượng khí hít vào xoa dịu thần kinh của , hành động ngược lại hoàn toàn với hiểu biết của . tê liệt và râm ran biến mất; cái gọng kìm trong ngực tan cùng với kích động trong đầu .

      giúp ngồi thẳng dậy. Mắt vẫn còn hơi đau ở khóe mắt, nhưng còn thấy những chấm sáng nhảy múa, chỉ nhìn thấy . có vẻ mệt mỏi, mặt hơi nhăn nhó, nhưng ánh mắt điềm tĩnh và dịu dàng.

      “Tốt hơn chưa?” hỏi.

      “Rồi, cám ơn ”.

      Nhưng ngón tay chỉ khẽ chạm vào , quay mặt lại để xem xét nó. “Những vết bầm trở nên xấu xí. Em nên ở giường, hôm nay là ngày rất dài”.

      Có phải mới chỉ sáng nay thức dậy trong niềm lạc quan bao la về tương lai, với chắc chắn rằng mọi mảnh ghép trong cuộc đời xếp vào đúng chỗ? Làm sao nó có thể bị phá hủy tan hoang như thế này trong khoảng thời gian ít ỏi như thế?

      “Em ổn rồi”, máy móc lẩm bẩm.

      ?

      thể giữ ánh mắt . Mắt rơi xuống tay mình. “Ông ta quay lại nhà tù chưa?”

      “Ông ta ”.

      Cằm ngẩng phắt lên. “?”

      ngập ngừng.

      Bàn tay siết chặt tay ghế uốn cong của chiếc trường kỷ. “Ông ta lại trốn thoát rồi à? Làm ơn với em rằng ông ta trốn thoát lần nữa !”

      Chồng nhìn chỗ khác lúc. Khi quay lại với , ánh mắt có vẻ trống rỗng nào đó. “Ông ta chết rồi, Elissande. Ông ta tự tử ở đồn cảnh sát. Bằng thuốc độc, có thể là xyanua. Chúng ta phải đợi bản báo cáo của nhân viên điều tra để biết chính xác ông ta chết vì cái gì”.

      hơi hé miệng. Hơi thở lại loạn nhịp và đều.

      “Chậm lại”, phải với , bàn tay giữ chặt tay . “Nếu em có thể bị choáng váng lần nữa”.

      đếm khi thở. buộc cơ hoành phải tuân lời, nhưng bên trong lồng ngực, trái tim đập tán loạn vì sốc.

      có chắc đó phải là mưu mẹo ?”

      đích thân ở đó. Ông ta chết giống như những nạn nhân của mình”.

      đứng lên, thể ngồi thêm nữa. “Vậy là ông ta thể đối mặt với hậu quả của những hành động mình gây ra”, , giọng cay đắng.

      , ông ta thể. Ông ta là kẻ cực kỳ hèn nhát”.

      ấn hai ngón tay vào giữa lông mày, mạnh, nó đau. Nhưng có gì đau đớn nhiều như . “Và ông ta là cha em”.

      Mọi thứ tin là của mình lộn ngược lại.

      Thứ gì đó ấn vào tay , ly uýt-ki đầy ắp. muốn bật cười: ngài Vere quên khả năng uống rượu hạn chế của rồi sao? Thay vào đó phải cắn môi để ép nước mắt chảy ngược lại.

      “Ông ta tận dụng mọi cơ hội để lăng mạ Andrew và Charlotte Edgerton trước mặt em. Em hiểu rằng ngay cả khi hai người đó được phán xét cách tử tế nhất, mọi người vẫn thấy Charlotte Edgerton là người buông thả và chồng bà ngu ngốc. Nhưng…”

      chớp mắt. “Nhưng em họ, em tin rằng họ mạnh mẽ và vĩ đại. Em tưởng tượng rằng khi họ trút hơi thở cuối cùng, niềm hối tiếc lớn nhất của họ là thể nhìn thấy em trưởng thành”.

      Thay vì thế, khi cha trút hơi thở cuối cùng, niềm hối tiếc lớn nhất của ông ta là thể hành hạ Elissande và mẹ theo đúng ý mình nữa.

      Ý nghĩ đó thiêu đốt . Thay vì là Andrew Edgerton phóng khoáng, tình cảm và bốc đồng, cha lại là người vui sướng trước khả năng phải nuôi đàn con thiểu năng.

      nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc gương tường. Chồng sai. Những vết bầm của phải xấu xí, mà chúng xấu xí: những đường viền đỏ chuyển sang tím, vết cắt chéo qua môi, mắt sưng vù lên đến mức gần như thể nhìn thấy được nữa.

      Chính người cha ruột làm điều này với , với hả hê rệt trước nỗi đau và vết thương của .

      tin rằng tự do là trốn thoát khỏi Highgate Court về mặt thể xác. Nhưng làm thế nào trốn thoát được chuyện này? Chừng nào còn sống, dòng máu của Edmund Douglas vẫn chảy trong , nhắc nhở hàng ngày về mối ràng buộc máu mủ thể phá vỡ, trói buộc mãi mãi vào ông ta.

      quay khỏi chiếc gương, nhét ly uýt-ki trở lại tay chồng mình và ra cửa. lên cầu thang, theo hành lang dẫn đến phòng mình. mở hộp châu báu và lấy tất cả những vật kỷ niệm quá trân trọng trong tất cả những năm qua ra.

      “Elissande, đừng làm gì vội vã”, Vere .

      nghe thấy , ở trong phòng với từ lúc nào.

      “Em hủy hoại chúng”. Những vật kỷ niệm này còn ý nghĩa như xưa đối với . Nhìn chúng giống như tự cầm con dao đâm vào tim mình. Nó gợi cho nhớ đến cuộc đời mà tin là có thể có nếu như Andrew và Charlotte Edgerton còn sống, mẹ vẫn muốn có vài vật lưu niệm để nhớ đến chị mình. “Em chỉ muốn đốt chiếc hộp này”.

      “Tại sao?”

      “Có ngăn bí mật trong nắp hộp. Khi em còn ông ta cho em xem những chiếc chìa khóa và rằng ngày nào đó em tìm thấy chúng. Bây giờ em biết trong đó có thứ gì rồi”. phải siết chặt răng để chống lại cơn ghê tởm trào dâng; cảm thấy bẩn thỉu. “Nó chắc hẳn là cuốn nhật ký của ông ta”.

      Và bức tranh treo trong phòng ở Highgate Court, với bông hồng đỏ có gai mọc lên từ vũng máu của ông ta, nó phải là gợi ý cho ngay từ đầu sao?

      “Chiếc hộp sinh ra nhiều khói trong lò sưởi”, chồng . “ có chìa khóa mở. Sao để thử mở nó?”

      nhìn chằm chằm vào ; quên mất lĩnh vực chuyên môn của . “ tìm thấy chìa khóa ở đâu và khi nào?”

      chiếc trong ngăn bí mật ở Highgate Court, khi chúng ta trở lại sau đám cưới, chiếc thứ hai tìm thấy người Douglas tối nay”.

      bỏ về phòng mình để lấy chiếc chìa khóa kia. đặt chiếc hộp bàn trang điểm. đút chìa khóa vào và xoay hai chiếc cùng lúc. Đáy nắp hộp bật mở khoảng xentimet. cẩn thận kéo nó xuống cho đến khi gói bọc vải rơi vào lòng bàn tay.

      Miếng vải bọc xanh lơ mở ra để lộ cuốn sách bọc da, với chữ viết tắt G.F.C. khắc ở góc.

      “Ở đây có lá thư gửi cho em”.

      “Nó viết gì?” muốn chạm vào thứ gì nằm trong bàn tay của Douglas.

      “ ‘Elissande thân của ta, Christabel Douglas chưa bao giờ chết. Hỏi bà Douglas xem chuyện gì xảy ra với nó. Và…’ ”, chồng dừng lại, liếc nhìn . “ ‘Và mong sao ta sống mãi trong ký ức của con. Cha của con, George Fairborn Carruthers’ ”.

      Cứ như thể Douglas lại đấm lần nữa. Ít nhất cần phải hối tiếc vì làm ông ta câm lặng bằng thuốc mê sớm hơn. Ông ta luôn định liệu để có được tiếng cười cuối cùng từ dưới mộ.

      giật cuốn nhật ký từ bàn tay Vere và ném nó qua phòng. “Chúa nguyền rủa ông ta!”

      Nước mắt cố kìm lại tuôn tràn xuống mặt . Chúng bỏng rát nơi Douglas đánh .

      “Elissande…”

      “Đó thậm chí còn phải là tên em”.

      luôn tên mình, cái tên kết hợp từ Eleanor và Cassandra, tên của mẹ Charlotte và Andrew Edgerton. quý quan tâm và suy tư dồn vào sáng tạo nó; những tiết là lạ đầy nhịp điệu; những nguyện vọng mà Charlotte và Andrew Edgerton ắt hẳn mong muốn cho con mình khi ban tặng cái tên tuyệt đẹp như thế cho ấy, cái tên phải mọi đều có thể có được.

      Phần lớn cuộc đời sôi sục trong bất lực. Nhưng chưa bao giờ cảm thấy bất lực như lúc này – bị tước đoạt mọi thứ từng quan trọng với .

      Sau lưng, chồng đặt tay lên cánh tay . Sau đó, rất nhàng, vòng tay quanh eo và giữ sát vào .

      khóc cho tất cả những giấc mơ tan vỡ của mình.




      Khi còn nước mắt nữa, cởi váy và mặc váy ngủ cho . Rồi bế lên, đưa vào giường và đắp chăn cho .

      tắt hết đèn và rời khỏi phòng . nằm mở mắt, nhìn chằm chằm vào bóng tối, ước gì mình quá kiêu hãnh để xin ở lại lâu hơn chút. Nhưng trước nhõm của – và khoảng khắc hạnh phúc ngọt ngào và cay đắng – trở lại ngay sau đó.

      “Em khát ?” hỏi.

      khát. ấn cốc nước vào bàn tay , đó là thứ mà vừa để lấy. uống gần hết và cảm ơn . kéo chiếc ghế vào cạnh giường và ngồi xuống.

      Có lẽ đúng. Có lẽ luôn biết ơn những lòng tốt nho người khác thể với . Nhưng ở lại với trong đêm đen tối nhất của cuộc đời phải chỉ đơn giản là lòng tốt nho .

      nắm tay . “Elissande”.

      kiệt sức đến nỗi thể nhắc rằng Elissande phải tên .

      Như thể nghe thấy , , “Nó là cái tên đẹp, cùng với cái tên đó, mẹ em làm lễ rửa tội lại cho em”.

      Trái tim lỡ nhịp. nghĩ như thế.

      “Nó đẹp vì tất cả những hy vọng bà gom góp cho nó, hành động dũng cảm nhất trong cuộc đời nhút nhát. Hành động che giấu con mình là minh chứng cho tình bà dành cho em”.

      tin rằng còn nước mắt nữa. Nhưng mắt lại nhức nhối khi nhớ đến lòng dũng cảm tuyệt vọng của mẹ mình.

      “Đừng quên nó,  Elissande”.

      Nước mắt trào ra từ khóe mắt , qua thái dương và chảy vào tóc . “Em quên”, lẩm bẩm.

      đưa cho chiếc khăn tay. giữ chặt nó và bàn tay kia giữ chặt bàn tay .

      Ngón tay cái của xoa mu bàn tay . “Khi đọc cách tổng hợp kim cương nhân tạo, mọi bài báo đều đến thực tế rằng kim cương chỉ được hình thành từ carbon, cùng loại với grafit và than. Douglas là cha em, tranh cãi điều đó. Nhưng trong khi ông ta chỉ là tảng than, em lại là viên kim cương qua nước đầu tiên”.

      khó có thể là thế. kẻ dối trá và mưu mẹo.

      “Mẹ em sống đến ngày hôm nay nếu phải vì em, hề nghi ngờ điều đó. Khi bà ấy bất lực, em bảo vệ bà ấy”.

      “Làm sao em có thể làm thế? Bà ấy cần em”.

      phải mọi người đều che chở cho những người yếu đuối. Em được lợi nhiều hơn nếu nịnh bợ Douglas, hoặc em có thể bỏ mình. Để làm điều đúng đắn cần phải có đạo đức”.

      cắn môi. “Cứ tiếp và em nhanh chóng tin rằng mình là hình mẫu của đức hạnh”.

      cười tắc nghẹn. “Em phải thế, và có thể bao giờ là thế. Nhưng em có sức mạnh và lòng trắc , những điều mà Douglas hiểu và có chút nào”.

      lau vệt ướt ở thái dương , cái vuốt ve của và thận trọng như nét vẽ của họa sĩ vẽ tranh tiểu họa.

      quan sát em trong những ngày qua. đời sống dưới đàn áp của Douglas có thể dễ dàng khiến em cay đắng, sợ hãi và oán giận. Nhưng em vẫn sáng rực rỡ. Đừng để ông ta lấy nó khỏi em. Thay vì thế hãy cười vào mặt ông ta. Kết bạn, đọc sách, đưa mẹ em dự tiệc. Hãy cho ông ta nhìn thấy cuộc sống của em tràn ngập niềm vui. Hãy để ông ta thấy rằng ngay cả khi ông ta dành cả đời để hủy hoại cuộc đời em, ông ta vẫn thất bại”.

      Thêm nước mắt đổ vào tóc . Bà Douglas đúng: Elissande người may mắn. Người đàn ông đối xử tệ hại nhất lại hóa ra là người bạn thực .

      nghĩ về mẹ , bình an vô nằm trong phòng, bao giờ bị ngược đãi nữa. nghĩ về bản thân: vẫn làm chủ chính mình, điều đó thay đổi. nghĩ về bình minh đến, ngay cả đêm tăm tối nhất cũng tồn tại mãi mãi, và ngạc nhiên khi cảm thấy khao khát muốn ngắm mặt trời mọc.

      đúng”, . “Em để ông ta hủy hoại em từ dưới mồ, cũng như em chưa bao giờ cho phép ông ta lấy mảnh linh hồn nào của em khi ông ta còn sống”.




      Khi Vere mười sáu tuổi, và Freddie được gọi về từ trường Eton để gặp cha mình khi ông trong những giờ phút cuối của cuộc đời mình.

      người đàn ông hấp hối nhưng hầu tước vẫn bớt cay độc hơn ngày thường. Mặc dù có mặt Freddie ở trong phòng, ông ta ra lệnh cho Vere phải kết hôn sớm và sinh con nhanh, để có khả năng tước hiệu và tài sản phải chuyển sang cho Freddie.

      Vere ngậm miệng bởi diện của bác sĩ và y tá. Nhưng cho đến buổi tối càng thấy giận dữ hơn. Cuối cùng, khi đêm rất khuya, thể chịu đựng thêm nữa. Cha có lẽ ở ngưỡng cửa của Thần chết nhưng ông ta cần phải được ai đó cho biết rằng ông ta là kẻ đáng khinh và là người cha tồi tệ.

      tiến đến phòng ngủ của hầu tước. Người y tá ngủ gật ở phòng bên cạnh nhưng cánh cửa phòng ngủ hé mở, ánh sáng và giọng rò rỉ đến lối . ngó vào và nhận ra vị mục sư qua bộ lễ phục.

      “Nhưng… nhưng… nhưng, thưa ngài, làm như thế là giết người”, vị mục lắp bắp.

      “Chết tiệt, ta biết đẩy mụ ta xuống cầu thang là giết người”, hầu tước . “Nếu nó là vụ tai nạn, ta cần ông ở đây”.

      Vere nhìn thấy màu đen. siết lấy chân của chiếc đèn tường để níu giữ. Tám năm trước, mẹ chết bởi cú ngã cầu thang trong ngôi nhà Luân Đôn của hầu tước mà mọi người đều tin là do may mắn. Bà thức khuya, uống hơi nhiều, gót giày nhảy của bà bị mắc kẹt, và bà trượt xuống.

      Cái chết của bà tàn phá Vere và Freddie.

      Máu của bà thuần khiết của người Noóc-măng mà cha quá tự hào có trong người mình; cha bà, cho dù giàu có tột đỉnh, trong mắt hầu tước cũng chỉ xếp hạng cao hơn người bán rong chút. Nhưng bà phải là bông hoa héo. Là con của người đàn ông cực kỳ giàu có, bà biết rất rằng của hồi môn của bà trả nợ cho hầu tước và duy trì thịnh vượng của dinh thự. Và bà bảo vệ con mình, đặc biệt là Freddie, trước tính khí độc địa thường đoán trước được của hầu tước.

      ghê tởm lẫn nhau giữa hầu tước và nữ hầu tước là điều ai cũng biết. Thói tiêu pha hoang phí của hầu tước lại làm khánh kiệt của hồi môn mà vợ mình mang theo sau khi kết hôn và ông ta lần nữa rơi vào nợ nần. Ông Woodbridge, ông ngoại của Vere phải là người ngốc. Ông chu cấp cho nhu cầu của con mình: váy áo, trang sức, những chuyến du lịch nước ngoài để bà và con có thể tránh xa chồng.

      Nhưng bất chấp tất cả những căng thẳng trong gia đình, ai từng nghi ngờ cái chết của bà có gì khuất tất. Hay ít nhất, ai từng dám buộc tội hầu tước về chuyện ấy. Sáu tháng sau hầu tước tái hôn, lần này là nữ thừa kế giàu có bằng, và có người cha vợ phiền toái.

      Và hồ sơ điều tra về cái chết của nữ hầu tước, mẹ đều khẳng định rằng đó là tai nạn hết sức minh bạch và đơn giản.

      Vì thế Vere tin, cho đến giây phút kinh khủng đó. muốn trốn. muốn chạy. muốn đạp cửa xông vào và ngăn chặn nghi lễ đó. Nhưng đông cứng tại chỗ, thể cử động cơ bắp.

      “Tôi cho rằng ngài chắc hẳn ăn năn, thưa ngài?” vị mục sư hỏi, giọng ông ta rin rít.

      , ta làm thế lần nữa nếu phải làm, ta thể chịu đựng mụ ta thêm phút nào nữa”, hầu tước . Ông ta cười, tiếng cười khò khè xấu xa. “Nhưng ta cho rằng chúng ta phải trải qua những nghi lễ, đúng ? Ta với ông rằng ta hối lỗi và ông với ta rằng mọi chuyện đều ổn thỏa trái đất màu xanh của Chúa”.

      “Tôi thể!” vị mục sư hét lên. “Tôi thể bỏ qua hành động hay thái độ ăn năn của ngài”.

      “Ông ”, hầu tước , giọng ông ta hề mủi lòng. “Hoặc cả thế giới này cuối cùng được biết rằng tại sao ông lại là gã độc thân kiên quyết như thế. xấu hổ, mục sư Somerville tằng tịu với người đàn ông kết hôn, linh hồn của thằng cha đó bị nguyền rủa xuống địa ngục vĩnh viễn ngay cả khi ông tự nguyền rủa linh hồn của chính mình”.

      Vere quay người và bước . thể chịu được việc chứng kiến hầu tước đạt được ý muốn của mình lần cuối cùng, thể sau khi ông ta được bỏ qua tội giết người.

      Đám tang hầu tước diễn ra kinh khủng, người tham dự đông nghịt, tính cách cao ngạo và việc làm tốt của ông ta được tán dương đến tận nóc bởi những kẻ biết hoặc quan tâm ông ta thực là người như thế nào: con quỷ hút máu.

      Đêm sau đám tang, Vere gặp ác mộng lần đầu tiên. Cho dù hề nhìn thấy cảnh mẹ mình chết; bây giờ luôn tìm thấy bà lạnh giá và gãy nát ở chân cầu thang hết lần này đến lần khác.




      Ba tháng sau đó,  Vere ngã quỵ và tâm với bà của là quý bà Jane.

      Quý bà Jane lắng nghe với thông cảm và đầy cảm xúc. Và sau đó bà , “Bà rất tiếc. Chuyện này làm bà đau đớn khi nghe Freddie . Và nó cũng làm bà đau đớn kém khi nghe cháu kể lần nữa”.

      Tiết lộ của bà làm Vere sửng sốt gần bằng đằng sau cái chết của mẹ .

      Freddie biết? Nó biết và nó với cháu?”

      Quý bà Jane nhận ra sai lầm của mình nhưng quá muộn. Vere cho phép bà rút lại lời . Cuối cùng bà cũng chịu thua.

      “Freddie lo lắng về phản ứng của cháu. Nó sợ rằng cháu có thể giết cha cháu nếu cháu biết, những gì bà biết về cháu cho thấy lo ngại đó phải là có lý”, quý bà Jane . “Bên cạnh đó, nó tin rằng cha cháu bị trừng phạt thích đáng”.

      Thế là câu chuyện tiếp tục, khi Freddie mười ba tuổi, đêm đến phòng cha mình, hy vọng lấy trộm lại bức vẽ thích bị hầu tước tịch thu. Tin rằng những thanh Freddie tạo ra báo hiệu xuất của bóng ma người vợ trước, ràng hầu tước rất hoảng sợ.

      Vere thể kìm chế được mình. Sao Freddie có thể ngu ngốc như thế, nghĩ rằng cha họ chịu đựng giày vò của hối hận, đừng là sợ hãi. Người đàn ông đe dọa phơi bày bí mật của vị mục sư đồng tính hề ăn năn và xứng đáng được bất kỳ ai tha thứ.

      Freddie biết từ hai năm trước, hai năm đủ để Vere có thể biến cuộc sống của cha mình thành địa ngục trần gian. Đối vối , thế mới là Công lý, nhưng Công lý được thực . Cơ hội đó bị cướp mất, mà vì ai khác ngoài Freddie…

      Có lẽ quý bà Jane nhìn thấy tiềm năng thực trong Vere. Có lẽ bà chỉ mong rằng thôi lải nhải những lời rỗng tuếch về và Công lý. Bất luận thế nào, bà đáp lại giãi bày của bằng giãi bày của bà: Bà là đặc vụ của Hoàng gia, công việc cả đời bà là tìm ra và khôi phục công lý. Với mẹ của Vere quá muộn. Nhưng có lẽ tìm thấy chút an ủi bằng cách giúp đỡ những người khác?

      đồng ý ngay lập tức. Quý bà Jane khuyên nên đóng vai nào đó, để mọi người nhìn nhận cách nghiêm túc, điều cực kỳ có ích đối với đặc vụ mật. Bà gợi ý đóng vai kẻ ăn chơi trụy lạc. Vere phản đối. chưa bao giờ là người quá nuông chiều ham muốn. Quan trọng hơn là, dù rất đơn, muốn ở gần đám đông nhiều vào lúc này. Có ai từng nghe về kẻ ăn chơi trụy lạc dật cơ chứ?

      “Cháu thà là kẻ ngốc”, .

      lâu sau nhận ra rằng là kẻ trụy lạc, ít ra có thể bày tỏ ý kiến của mình về nhiều vấn đề. Vai diễn kẻ ngốc cho phép được thoải mái như thế. Và càng diễn đạt, càng lập mình hơn.

      Quý bà Jane khuyên rằng nên quyết định ngay. Tuy nhiên, chính xác hai ngày sau, bị quăng khỏi ngựa. ngay lập tức quyết định tận dụng tai nạn nghiêm trọng này, và lợi dụng diện của Needlam là khách của quý bà Jane. Khi vị bác sĩ đóng con dấu chuyên môn y khoa tài giỏi vào tình trạng của Vere, ai có thể nghi ngờ việc trải qua cơn chấn động nghiêm trọng làm thay đổi cả cuộc đời.

      Những cầu khách quan để đột ngột biến thành kẻ ngốc có, lựa chọn khác để quyết định: gì với Freddie?

      Nếu quý bà Jane lỡ lời ra, quyết định rất khác. và Freddie luôn thân thiết. Vì Freddie thể dối, em cũng phải làm thế trong tình huống này: hành động của Vere khiến tin đồn lan truyền. Nếu Freddie bị người khác nghi ngờ, em đơn giản có thể lại lời chẩn đoán của Needlam. Và lòng trung thành của Freddie đối với Vere nổi tiếng đến mức ngay cả nếu Freddie tiếp tục về thông minh đặc biệt của trai mình, những người nghe chỉ kết luận đó là do Freddie khó chấp nhận thực mới.

      Nhưng vì nghĩ rằng Freddie cướp mất cơ hội để trả thù cho mẹ, nên Vere đáp lại đặc ân đó và giữ bí mật mới cho riêng mình.




      lý do khiến Vere gắng sức chối bỏ tình với vợ mình là vì kỹ năng đóng kịch và những lời dối trôi chảy của nhắc quá nhiều về bản thân.

      Nhưng chúng chỉ là tương đồng bề ngoài. Ở bên trong, là người đàn ông bị gục ngã ở tuổi mười sáu và chưa bao giờ hồi phục toàn vẹn trở lại, trong khi , cho dù hoàn hảo đến đâu, vẫn sở hữu khả năng phục hồi khiến nín thở.

      Bàn tay vẫn nằm trong tay , những ngón tay thả lỏng trong giấc ngủ. chỉ định ở lại cho đến khi ngủ thiếp , nhưng vẫn ở đây cho đến bình minh, canh gác những cơ ác mộng cho .

      luôn muốn là bức tường thành che chắn khỏi những cơn ác mộng.

      Suy nghĩ đó làm ngạc nhiên nhiều như vẫn nghĩ, khi bây giờ thôi chối bỏ rằng . Nhưng xứng đáng với – chí ít là vẫn chưa xứng đáng, với tất cả giả dối và hèn nhát vẫn hủy hoại tính cách của .

      biết mình phải làm gì. Nhưng có được lòng dũng cảm và tính khiêm nhường chưa? Ước muốn bên cạnh và bảo vệ có mạnh mẽ hơn bản năng muốn co mình lại trước thực và tiếp tục vai diễn lừa gạt trở thành cuộc đời ?

      cảm thấy như thể đứng bên vách đá cao. Lùi bước, tất cả an toàn và quen thuộc. Nhưng bước bước về phía trước cần có lòng tin đặc biệt, và là người đàn ông có rất ít lòng tin, đặc biệt là đối với chính mình.

      Nhưng muốn nhìn lần nữa như thể tràn đầy cơ hội. Như thể họ tràn đầy cơ hội.

      Và để được như thế phải làm điều đúng đắn, bất chấp những khuyết điểm của mình.


    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
      <!--[if !mso]>
      <style>
      v:-* {behavior:url(#default#VML);}
      o:-* {behavior:url(#default#VML);}
      w:-* {behavior:url(#default#VML);}
      .shape {behavior:url(#default#VML);}
      </style>
      <![endif]-->

       

                 Chương 21[/I][/B]

       

                   

                  Trong gia đình có người chết, nhất là cái chết trong hoàn cảnh căng thẳng như thế này, cần rất nhiều việc phải giải quyết.

                  Thi thể của Edmund Douglas phải được nhận về và chôn cất, rồi còn phải bàn bạc với luật sư về di chúc và tài sản. Trong hoàn cảnh khác, Elissande phải giải quyết những vấn đề này. Nhưng vì những vết thâm tím khuôn mặt bầm dập của biến thành tập hợp màu tím, xanh và vàng đen, bà Douglas nhất quyết rằng Elissande phải ở nhà để hồi phục sức khỏe. Bà thay Elissande.

                  Đây là lúc bà dành quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề của cuộc đời mình, bà Douglas . Dù sao cũng cần Luân Đôn, Vere tình nguyện tháp tùng bà. Họ cũng đưa bà Green cùng , để sắp xếp chu đáo và chăm sóc tỉ mỉ cho bà Douglas.

                  Và bây giờ bà Douglas ngủ gà gật trong khoang tàu, trọng lượng của bà tì vào cánh tay Vere bẫng như tấm chăn.

                  Ký ức lúc con bà ngủ bên cạnh tàu tràn về. nhớ đến cảm giác khinh bỉ bản thân vì có thể bị cuốn hút bởi người có tính cách đáng ngờ như thế. Trí thông minh của nhận ra điều mà phần nguyên sơ hơn, sâu hơn trong cảm thấy ở cái nhìn đầu tiên: toàn vẹn của .

                  phải toàn vẹn theo tiêu chuẩn đạo đức xã hội, mà là toàn vẹn về nhân cách. Cuộc thử thách dưới bàn tay của Douglas phải để lại dấu ấn ở , nhưng cũng làm .

                  Trong khi đầy sẹo và bị thu lại.

                  luôn dùng ngôn ngữ của Công lý để nhắc đến công việc của mình. Công lý thực phải được thúc đẩy bởi lòng khao khát công bằng cách vô tư. Điều dưới toàn bộ nghiệp của là oán giận và hối tiếc: oán giận vì thể trừng phạt cha , hối tiếc vì thể làm mẹ sống lại.

                  Đó là lý do tại sao chỉ nhận được hài lòng đáng kể ngay cả với những thành công lớn nhất của mình: Chúng nhắc về bất lực của cuộc đời , về điều bao giờ có thể hoàn thành.

                  Và đó cũng là lý do quá gay gắt với Freddie: phần nào đó là vì ghen tỵ. Lúc chuyện với quý bà Jane, cha chết được ba tháng. Nhưng nỗi ám ảnh của Vere chỉ càng thêm lớn hơn. thể hiểu tại sao Freddie có thể từ bỏ và tiến lên phía trước, trong khi tiếp tục bị mắc kẹt giữa đêm mẹ bị giết và đêm cha chết.

                  Mười ba năm. Mười ba năm theo đuổi những gì bao giờ có thể có được từ ngày đầu tiên, trong khi tuổi trẻ của trôi qua, những hoài bão ngày trước bị bỏ quên, và cuộc đời ngày càng trở nên lập hơn.

                  tiếng ngáy trong khoang tàu kéo chú ý của trở lại với người đồng hành. Bà Douglas trở mình, rồi ngủ tiếp. đường ra ga tàu, bà e dè với rằng trước khi gặp , bà nhìn thấy trong giấc mơ trong cồn thuốc phiện – khá băn khoăn rằng bà nghĩ gì về diện của trong phòng bà. ngày nào đó, khi sắp xếp lại cuộc đời mình, với bà và xin lỗi vì làm bà hoảng sợ.

                  Bà lại trở mình. Vere chăm chú nhìn bà: đôi má luôn nhợt nhạt giờ ấm hơn bởi hồng hào nhàng; cái cổ trở nên thanh mảnh chứ còn như que củi nữa. Khi lần đầu tiên thấy bà, đoán bà bị tan vỡ vĩnh viễn. Nhưng bà chứng minh mình là hạt giống im lìm chỉ cần môi trường ít khắc nghiệt hơn là tiếp tục sinh trưởng.

                  lại quay ra cửa sổ. Có lẽ cũng bị tan vỡ vĩnh viễn như vẫn nghĩ.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Lần này, Vere rung chuông cửa nhà Freddie, thay vì dùng chìa khóa tự mở.

                  được đưa vào phòng làm việc của Freddie, nơi Freddie kiểm tra cuốn sổ lịch tàu, ngón tay di dần xuống cột, tìm kiếm chuyến phù hợp. Freddie nhìn lên và thả cuốn sổ xuống.

                  “Penny! Em định thăm ”. bước nhanh tới và ôm trai với vẻ lo lắng. “Nếu đến chậm hơn mười lăm phút, em ra ga Paddington rồi. Em nghe thấy những tin đồn kỳ quái sáng nay: chú của quý bà Vere trốn khỏi nhà tù và bắt cóc chiến đấu vì mạng sống của mình. Chuyện gì xảy ra thế?”

                  Những lời môi Vere –Ôi, vớ vẩn, mọi người biết đồn đại cách đúng đắn là như thế nào nữa hay sao? phải chiến đấu cho mạng sống của mình. hạ gục gã đàn ông như que tăm đó bằng ngón tay,[/I] cái vẻ tự mãn lại mặt .

                  Sức quyến rũ rơi trở lại vai kẻ ngốc diễn thành thạo quá lớn. Freddie mong đợi điều gì khác từ Vere. Freddie quen với con người ngốc nghếch ở trai mình từ lâu. Họ vẫn là em – em quý nhau. Tại sao phải thay đổi cơ chứ?

                  Họ vào phòng làm việc, Freddie rót cho mình ly -nhắc, và dốc cạn. “Điều em nghe thấy là những lời bịa ra với cảnh sát”, . “Thực ra, ông Douglas bắt cóc bà Douglas. Nhưng khi bọn cứu được bà Douglas, bọn quyết định rằng để bà ấy về nhà hồi phục sức khỏe tốt hơn là chuyện với cảnh sát. Vì thế mang Douglas đến đồn cảnh sát và dựng lên câu chuyện bịa đặt đó”.

                  Freddie chớp mắt. Và chớp mắt nhiều lần nữa. “À, thế mọi người có ổn ?”

                  “Quý bà Vere có vài vết bầm. ấy tiếp khách được trong vài ngày. Bà Douglas rất sợ hãi, nhưng hôm nay bà ấy với và lúc này thư thái ở khách sạn Savoy. Còn Douglas, ừ, ông ta chết rồi. Ông ta quyết định rằng nuốt xyanua tốt hơn là tìm kiếm cơ hội ở tòa”.

                  Freddie lắng nghe chăm chú. Khi Vere xong, nhìn Vere thêm lúc, sau đó khẽ lắc đầu. “[/I] có ổn , Penny?”

                  “ hoàn toàn ổn, Freddie”.

                  “À, ừ, vẫn lành lặn. Nhưng cư xử như chính mình”.

                  Vere hít hơi sâu. “ luôn là người như thế này. Đúng là thỉnh thoảng, thực ra là gần như suốt thời gian mười ba năm qua, khôngcư xử [/I]đúng như con người của mình”.

                  Freddie dụi mắt. “ điều em nghĩ , đúng ?”

                  “Em nghĩ gì?” Vere hỏi. nghĩ , nhưng Freddie phản ứng như mong đợi.

                  “Đợi chút”. Freddie với lấy cuốn sách bách khoa và lật đến trang bất kỳ. “Cuộc ly khai đầu tiên của người La Mã diễn ra năm nào?”

                  “Năm 494 trước Công nguyên”.

                  “Chúa tôi”, Freddie lẩm bẩm. lật cuốn bách khoa đến mục khác, sau đó nhìn lên với hy vọng chan chứa khiến bụng Vere quặn lại. “Sáu người vợ của Henry VIII là?”

                  “Catherine của Aragon, Anne Boleyn, Jane Seymour, Anne của Cleves, Catherine Howard và Catherine Parr”, Vere chậm rãi . có thể kể danh sách này nhanh hơn, nhưng sợ phải kết thúc câu trả lời.

                  Freddie đặt cuốn sách xuống. “ có ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ , Penny?”

                  “New Zealand dành quyền bầu cử hạn chế cho phụ nữ vào năm ’93. Nam Phi cũng dành quyền bầu cử và cho phép phụ nữ đứng trong Nghị viện vào năm ’95. Và bầu trời những nơi đó hề sập, theo như lần cuối cùng kiểm tra”.

                  “ hồi phục”, Freddie thầm, nước mắt tuôn xuống mặt . “Chúa tôi, Penny, hồi phục”.

                  Vere đột nhiên bị Freddie ôm cứng.

                  “Ôi, Penny, biết đâu. Em nhớ rấtnhiều[/I]”.

                  Nước mắt lăn xuống má Vere: niềm vui của Freddie, nỗi xấu hổ của riêng , tiếc nuối tất cả thời gian đánh mất.

                  lùi ra.

                  Freddie hề chú ý tâm trạng căng thẳng của . “Chúng ta phải với mọi người ngay lập tức. tệ là mùa Lễ hội kết thúc. Lạy Chúa, năm tới mọi người cú sốc thực . Nhưng chúng ta vẫn có thể đến câu lạc bộ và tuyên bố. Và rời thành phố ngay phải ? Angelica ở Derbyshire thăm họ hàng, nhưng ấy trở về vào ngày mai. ấy phấn khích lắm.Phấn khích[/I], em đấy”. Freddie vội vã khiến những từ ngữ cứ ríu vào nhau. “Để em gọi bà Charles. Em nghĩ em có hoặc hai chai sâm banh nằm đâu đó. Chúng ta phải ăn mừng. Chúng ta phải ăn mừng xứng đáng”.

                  Freddie với lấy dây chuông. Vere kéo tay em trai lại. Nhưng điều cần vướng lại trong cổ họng như xi măng ướt. gồng mình để đối mặt với cơn thịnh nộ của Freddie, phải niềm vui quá khích này. thêm nữa tiêu diệt niềm hạnh phúc tràn ngập mặt và lấp lánh trong mắt em trai .

                  Nhưng Vere được lựa chọn. Nếu cho phép mình dừng ở đây, nó lại là Lời Dối Cỡ Bự giữa hai người họ, vốn chồng chất quá nhiều dối trá.

                  thả bàn tay ra khỏi cánh tay Freddie và siết nó lại thành nắm đấm. “Em hiểu lầm rồi, Freddie. hồi phục gì cả, vì có gì để hồi phục. chưa bao giờ bị chấn động. Cư xử như tên ngốc là lựa chọn của ”.

                  Freddie nhìn chằm chằm vào Vere. “ gì? được chẩn đoán. Em đích thân chuyện với Needham. Ông ấy bị chấn thương ở đầu khiến cho tính cách bị thay đổi”.

                  “Hỏi lần nữa về quyền bầu cử của phụ nữ”.

                  chút màu sắc nhạt má Freddie. “ có ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ ?”

                  Vì lý do nào đó, vai diễn đến với Vere ngay lập tức, như thể diễn viên rời sân khấu, trút bỏ phục trang, xóa lớp trang điểm, và ngủ gà gật, rồi sau đó đột nhiên được cầu diễn lại vai của mình.

                  phải hít vài hơi thở sâu và hình dung đến việc đeo chiếc mặt nạ vào. “Quyền bầu cử của phụ nữ? Nhưng họ cần nó để làm gì? Mọi phụ nữ bầu theo ý muốn của chồng ta, và chẳng nghi ngờ gì chúng ta kết thúc với  những tên ngốc như thế trong Nghị viện! Bây giờ nếu chó có thể bầu, điều đó có thể tạo nên khác biệt. Chúng thông minh, trung thành với Hoàng gia, và chúng chắc chắn xứng đáng có tiếng trong việc điều hành đất nước này”.

                  Freddie há hốc miệng. đỏ mặt vì bối rối. Và sau đó, khi Vere quan sát, mặt từ từ tối sầm lại thành giận dữ. “Vậy là trong tất cả những năm qua, tất cả những năm qua, nó chỉ là mộtvai diễn[/I]?”

                  Vere nuốt nghẹn. “ e là thế”.

                  Freddie nhìn chằm chằm vào trai mình phút nữa. đưa tay tung cú đấm. Nó rơi vào chính giữa ngực Vere với tiếng bịch nghe khá . Vere loạng choạng. Trước khi có thể đứng vững, cú đấm khác lại lao đến. Và cú khác. Và cú khác. Và cú khác. Cho đến khi bị ghim vào tường.

                  biết Freddie lại có thể bạo lực như thế.

                  “Đồ khốn!” Những từ ngữ nổ ra thành tiếng gầm. “Đồ tồi tàn! Đồ giả dối chết tiệt!”

                  cũng biết là Freddie có khả năng chửi thề.

                  Freddie dừng lại, việc hít thở của trở nên vất vả và nặng nề.

                  “ xin lỗi, Freddie”. Vere thể nhìn vào mắt em trai mình. nhìn chằm chằm vào chiếc bàn sau lưng Freddie. “ xin lỗi”.

                  “[/I] xin lỗi ư? Tôi thường khóc như cái vòi nước mở van bất cứ khi nào nghĩ về . có từng nghĩ về việc đó ? thậm chí có quan tâm đến những người ?”

                  Lời của em trai như những mảnh kính vỡ trong tim Vere. cố gắng tránh xa Freddie hết mức có thể trong những tháng đầu tiên sau tai nạn, nhưng nỗi đau đớn của Freddie là thể nhầm lẫn. Thời gian đầu Freddie vẫn từ bỏ hy vọng, nhưng chúng sớm tan ra thành từng  mảnh vụn tuyệt vọng sau những lần gặp Vere.

                  Và lúc này giây phút thú nhận đến. Lúc này Freddie nhìn thấy thực là như thế nào.

                  “Và tôichưa bao giờ[/I] để ai gọi là kẻ ngốc”, Freddie gầm gừ. “Tôi tí nữa đánh nhau với Wessex vì điều đó. Nhưng Chúa tôi, là thế. đúng là tên ngốc tệ hại như thế”.

                  Đúng thế. Chúa tôi, kẻ ngốc. tên ngốc đáng ghê tởm và thằng khốn ích kỷ.

                  “Cứ như là chết. Con người ra . Và em chịu đựng tất cả những đau đớn mà ngay cả ra cũng được, có lẽ ngoại trừ với quý bà Jane hay Angelica, bởi vì mọi người cứ rằng em nên cảm tạ vì vẫn còn sống. Phải, em cảm tạ, và sau đó em nhìn vào người lạ có khuôn mặt và giọng của và nhớ khủng khiếp”.

                  Nước mắt lăn xuống mặt Vere.

                  “ xin lỗi. quá bị ám ảnh bới cái chết của mẹ và tội lỗi của cha, và giận em vì gì với …”

                  Freddie nắm cánh tay Vere. “Làm sao biết được chuyện đó?”

                  “ nghe thấy cha trước lúc chết, cha cố gắng ép buộc vị mục sư tha thứ cho ông ta tội giết người”.

                  Mặt Freddie thay đổi. bước , rót cho mình ly -nhắc đầy, và uống hơi hết nửa ly. “Thoạt tiên em nghĩ quý bà Jane hay Angelica với ”.

                  “Angelica cũng biết?”

                  “Lẽ ra em chỉ với Angelica, nhưng ấy xa với gia đình vào mùa hè năm ấy”. Freddie thọc tay vào tóc. “Nhưng em hiểu. Việc biết chuyện xảy ra với mẹ có liên quan gì đến chuyện diễn kịch của ?”

                  “ là đặc vụ điều tra của Hoàng gia, như quý bà Jane lúc trẻ. nghĩ rằng đó là cách tìm thấy phần nào yên bình. Với vai diễn kẻ ngốc, ai để ý đến ”.

                  Freddie quay ngoắt lại. “Lạy Chúa! Thế khi nhìn thấy ông Hudson tiêm thuốc ngủ cho quý bà Haysleigh, phải là ngẫu nhiên có mặt ở đó”.

                  “”.

                  “Và ông Douglas, cũng điều tra ông ta?”

                  “Phải”.

                  Freddie uống hết phần -nhắc còn lại. “ có thể với em. Em mang bí mật của xuống mồ. Và em rất tự hào về ”.

                  “ nên giấu em. Nhưng vẫn sôi sục giận em vì kể với , vì cướp của cơ hội trừng phạt cha”. Vere co rúm lại trước những lời hung hăng non nớt và tầm nhìn hạn hẹp của . Đối với , chỉ có oán giận và ám ảnh là những phản ứng chấp nhận được đối với đó. “ sôi sục nhiều tuần. Có lẽ nhiều tháng. Và khi bình tĩnh lại phần nào, dường như em quen với con người mới của ”.

                  Màu đỏ giận dữ nhạt dần má Freddie. lắc đầu chầm chậm. “Em bao giờ có thể quen được với người--phải--đó. Em ước gì có thể cho em biết . Khi đó em có thể với rằng cha cần đến trừng phạt của : Ông sống trong địa ngục rồi. phải nghe thấy những gì ông vào đêm đó. Suốt ba giờ liền ông nằm co rúm trong chăn và cầu xin em tha thứ. Em phải ngồi xuống vì quá mệt đứng nổi”.

                  “Nhưng ông ta bao giờ thể chút hối hận nào”.

                  “Đó là bi kịch của ông: Ông ôm ấp quá nhiều sợ hãi mà hiểu rằng ông có thể và nên hối cải. Thậm chí đến mức ông điều này với mục sư, vị mục sư kể với em rằng ông sợ bị nguyền rủa vĩnh viễn. Em thương hại ông”.

                  Vere vịn tay lên giá sách. “Em có biết rằng ghen tỵ với em , Freddie? Em có thể tiếp tục tiến về phía trước, trong khi làm được và thể quên được. luôn tự hào về trí thông minh của mình, nhưng nó là trí thông minh trống rỗng. ước gì mình có chút hiểu biết của em”.

                  Freddie thở dài. nhìn Vere, ánh mắt chứa đầy lòng cảm thông sâu sắc. Vere suýt phải ngoảnh mặt ; xứng đáng với lòng thông cảm của Freddie.

                  “Trong tất cả những năm qua cảm thấy như thế nào hả Penny?”

                  Vere chớp mắt kìm lại những giọt nước mắt mới. “Tốt và tồi tệ”.

                  Freddie vừa định gì đó, chợt giật mình. “Chúa tôi, quý bà Vere có biết ?”

                  “Bây giờ ấy biết”.

                  “Và ấy vẫn thích ?”

                  lo âu trong giọng của Freddie khiến cổ họng Vere nghẹn lại lần nữa. xứng đáng với quan tâm của Freddie.

                  “ chỉ có thể hy vọng”.

                  “Em nghĩ là có”, Freddie , mắt lại sáng lên với chân thành trong trẻo mà Vere rất quý.

                  Vere ôm em trai mình. “Cảm ơn, Freddie”.

                  Ngày hôm nay xứng đáng với tha thứ của Freddie, nhưng hy vọng đến ngày nào đó. ngày nào đó xứng đáng với nó.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Bà Douglas gửi điện tín cho Elissande. Mỗi khi đến địa điểm mới bà lại đánh bức điện để trấn an Elissande về tình trạng của mình. Trong đó có bức điện bà kể đầy phấn khích vì được Vere đưa đến nhà hát Savoy để xem vở nhạc hài kịch có tênHạ sĩ quan của Quân đội[/I], bà rất thích mặc dù bà chỉ ngồi xem hết được nửa vở kịch. bức điện rất ngắn khác chỉ viết đơn giản:Bà Green để mẹ ăn thìa kem. Mẹ quên mất nó tuyệt vời như thế nào.[/I]

                  Những bức điện của bà mang theo tin tức mới. Mẩu tin quan trọng đầu tiên sau khi bà và Vere gặp luật sư của Douglas. Trong di chúc, Douglas để lại gì cho vợ và cháu , mà thay vào đó để lại toàn bộ cho Nhà thờ. Elissande cười thành tiếng. Ông ta thực phải là mình nếu có lòng oán giận.

                  bức điện khác của Vere gửi kèm theo, giải thích rằng thừa kế tài sản của Douglas đúng là trong cái rủi có cái may – Douglas vay mượn rất nhiều bằng cách thế chấp mỏ kim cương và có thể còn gì để lại ngoài nợ nần. Các luật sư của Nhà thờ thời gian thử thách với món quà đặc biệt này.

                  bức điện ngày hôm sau còn đáng mừng hơn nhiều: Vere tìm được số châu báu Charlotte Edgerton để lại cho bà Douglas, nhưng bị Douglas tịch thu ngay lập tức. Lượng châu báu trị giá nghìn bảng.

                  Elissande đọc lại bức điện nhiều lần. nghìn bảng[/I].

                  Buổi sáng sau khi trở về từ Exeter, lúc thức dậy, cả cuốn nhật ký và chiếc hộp đều biến mất khỏi phòng. Nơi để chiếc hộp cũ là chiếc hộp gỗ mun sang trọng, trong đó là những vật kỷ niệm của Charlotte và Andrew Edgerton được sắp xếp gọn gàng. Elissande vẫn mặc váy ngủ, đứng trước chiếc hộp, đầu ngón tay di theo gờ của nó, và hy vọng món quà này có ý nghĩa như mong đợi. Nhưng chồng ngay sau đó, chỉ để lời dặn dò nghiêm nghị rằng phải tự chăm sóc mình.

                  thể làm gì nhiều trong hai ngày kể từ khi , ngoại trừ cố gắng chấp nhận rằng thay đổi quyết định. còn giận dữ như trước, lần này chỉ đau buồn. muốn mất người đàn ông nắm tay khi cần nhất.

                  có thể viện đến rất nhiều lý do để ở lại Pierce House lâu hơn: Trước tiên phải phục hồi sức khỏe, sau đó phải giãi bày chuyện này rất nhàng cho mẹ của ; sau đó họ hẳn phải cần thời gian và lựa chọn nơi để .

                  Nhưng bắt đầu quay lưng lại với những lý do đó. Nếu phải – và phải – đây là thời điểm tốt hơn bất cứ lúc nào, nên lần lữa trước khi lòng hiếu khách bị bào mòn.

                  Bây giờ, với nghìn bảng trong tay, họ có thể cân nhắc điểm đến cuối cùng ở bất kỳ đâu - khách sạn, ngôi nhà cho thuê, hay chính khách sạn Savoy, nếu họ thích. Và phải tìm cách với mẹ , cho dù quanh co như thế nào, này vẫn làm bà Douglas thất kinh kém.

                  hướng dẫn mấy hầu phòng gói ghém đồ đạc của họ, trong lúc cố gắng làm mình vui lên, giao nhiệm vụ đó cho người khác đỡ đau đớn hơn. nơi ở mới, những con người mới, và cuộc sống hoàn toàn  mới – những thứ khiến rộn ràng trong những ngày bị giam hãm ở Highgate Court. Nhưng chỉ cần nhìn ra ngoài khu vườn tuy héo tàn nhưng vẫn xinh đẹp qua cửa sổ, trái tim nhói đau với cảm giác nơi này, cuộc sống này, và người đàn ông đưa mẹ xemHạ sĩ quan của Quân đội[/I] ở nhà hát Savoy như thế nào.

                  suy nghĩ nhiều, rời khỏi nhà và bộ đến nơi gặp chồng mình trong chuyến bộ đường dài của ở phía sông Dart. Sau khi ra , vẫn những đồng cỏ của vùng quê trập trùng này, vẫn thỉnh thoảng dừng lại ở sườn dốc để nhìn xuống dòng sông, vẫn chiếc mũ trong tay, vẫn những mảnh vải da tay áo của chiếc áo khoác vải tuýt.

                  Và đau đớn cho những dặm đường dài đơn của .

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Về đến nhà, vào phòng làm việc của chồng mình.

                  Trong mấy ngày đầu tiên đến Devon, nhìn thấy cuốn sách trong thư viện có tên làPhụ nữ có thể làm gì để kiếm sống[/I]. Vào lúc đó, nó dường như là cuốn sách kỳ lạ giữa bộ sưu tập của người đàn ông chưa bao giờ cần làm việc để kiếm sống; nhưng bây giờ trở nên quen thuộc với khối lượng kiến thức đa dạng và sâu rộng mà biết như lòng bàn tay.

                  Khi tìm kiếm cuốn sách đó giá, mắt bắt gặp góc của tấm bưu ảnh chen giữa hai cuốn sách. rút bưu thiếp ra và há hốc miệng. Tấm ảnh mang sắc màu xanh của đại dương bao la và những vách đá cao. Capri, đầu ngay lập tức quyết định, trước khi nhìn thấy chữ ở góc dưới bên trái của tấm bưu ảnh:Bờ biển Exmoor[/I].

                  gọi bà Dilwyn giúp tìm bờ biển Exmoor bản đồ chi tiết nước treo tường phòng khách. Nó xa lắm, hơn năm mươi dặm chút về phía bắc của bờ biển Devon. đưa cho bà Dilwyn xem tấm bưu ảnh. “Bà có nghĩ tôi tìm thấy địa điểm này ở bờ biển Exmoor ?”

                  “Ồ, có, thưa ”, bà Dilwyn sau khi nhìn qua. “Tôi ở đó. Nó là vách đá Người treo cổ. nơi đáng ”.

                  “Bà biết đến đó bằng cách nào ?”

                  “Có chứ, thưa . tàu từ Paignton đến Barnstaple, sau đó tiếp tuyến tàu địa phương và đến Ilfracombe. Những vách đá này cách bờ biển vài dặm”.

                  cảm ơn bà Dilwyn và dành thêm thời gian bâng khuâng nhìn tấm bưu ảnh. Khó mà đến thăm được nơi như vách đá Người treo cổ: mẹ thể hết những con đường dốc dẫn đến đỉnh.

                  ý nghĩ đột nhiên nảy ra với : có thể mình. Theo kế hoạch hai ngày nữa mẹ mới về đến nhà. Nếu luôn vào buổi sáng, có thể trở về vào tối ngày mai, còn nhiều thời gian để đón mẹ vào ngày hôm sau, trong thời gian đó, có thể trải nghiệm những gì mình mơ ước quá nhiều năm: đứng đỉnh vách đá phía vùng biển dữ dội.

                  Nếu phải bắt đầu kỷ nguyên mới trong cuộc đời mà hào hứng lắm, có thể kết thúc cuộc sống cũ này với ấn tượng phi thường.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  “Vẫn nghĩ về Penny?” Angelica hỏi.

                  “Phải, à ”, Freddie .

                  Khi Angelica trở về từ Derbyshire, thấy Freddie đứng đợi ở ngoài cửa. Và trong tiếng rưỡi đồng hồ họ chỉ về những tiết lộ của Penny, nhớ lại hàng tá ví dụ về những lời và hành động ngốc nghếch của Penny hóa ra đều là công việc phục vụ Hoàng gia.

                  Lúc đầu tức giận. và Freddie luôn thân thiết hơn, nhưng Penny là người tinh thần trong suốt thời thơ ấu của . Nhiều lần và Freddie khóc cùng nhau, thương tiếc con người họ đều thương, mất hẳn nhưng cũng còn nữa.

                  Những vì Freddie tha thứ cho , cho thêm thời gian, cũng sẵn sàng tha thứ cho .

                  gọi ấm trà mới. Cuộc chuyện làm khát nước. “Làm thế nào có thể nghĩ về ấy và nghĩ về ấy cùng lúc?”

                  Freddie nhìn lúc lâu. “ vui vì Penny ra. Và bọn tiếng để chuyện trước khi ấy về để đưa bà Douglas gặp luật sư của chồng bà ấy. Nhưng vẫn còn bồn chồn và muốn chuyện với em …” dừng lại giây, “… và ai khác ngoài em. Đó là hai tư tiếng đồng hồ dài nhất của cuộc đời , đợi em trở về”.

                  Đây là câu hài lòng nhất mà được nghe. Sau khi dùng tất cả thời gian và nỗ lực để đưa họ từ chỗ là bạn thân trở thành người tình, trớ trêu thay bây giờ lại thỉnh thoảng lo lắng rằng chuyện làm tình của họ, cho dù tuyệt vời đến đâu lấn át mọi chuyện. ngốc, họ vẫn là bạn thân nhất.

                  mỉm cười với . “Nếu em biết, em trở về sớm hơn”.

                  đáp lại nụ cười của mà với lấy ấm trà.

                  “ còn trà nữa”, nhắc .

                  hơi đỏ mặt. “À, tất nhiên còn. Em vừa gọi ấm mới, đúng ?”

                  Trà mới đến. rót cho cả hai người. nâng tách lên.

                  “ muốn dùng sữa và đường ?” chưa bao giờ uống trà đen.

                  đỏ mặt hơn, đặt tách trà xuống, và chà ngón tay dọc trán. “ vẫn chưa trả lời câu hỏi của em nhỉ?”

                  quên câu hỏi của mình. biết vì sao hồi hộp đột nhiên của khiến cũng căng thẳng.

                  Nhưng cho dù đó là chuyện gì, dường như quyết định. nhìn thằng vào , giọng chắc chắn. “Thời gian gần đây vật lộn để xác định cảm giác của đối với em là gì, nó mạnh mẽ hơn tình bạn, nhưng hề giống với tình trải qua”.

                  với tay lấy chiếc bánh quy. Bàn tay dừng lại giữa chừng. Những ngón tay nắm chặt lấy chiếc bánh. Họ vẫn chưa hề tiếngyêu[/I] nào với nhau.

                  “Với quý bà Tremaine, luôn luôn là người tôn sùng tầm thường. Mỗi lần bước vào phòng khách của ấy, có cảm giác như thầy tu tiến đến bàn thờ của vị thần. Cảm giác này vừa phấn khích vừa bất an. Nhưng phòng khách của em giống như phần của nhà . Và thể giải thích được điều đó”.

                  Mắt họ gặp nhau. biết gì tiếp theo. Trái tim đấu tranh để chứa đựng nỗi sợ hãi – và cả mong chờ tăng dần.

                  “Và trong lúc đợi em về. Khi lên xuống con đường bên ngoài, nhận ra rằng chưa bao giờ đến với quý bà Tremaine trừ phi cảm thấy có thể trao tặng cái gì đó. đến với ấy chỉ vì muốn gặp ấy, luôn sợ rằng mình làm mất thời gian của ấy. Nhưng muốn gặp em dù ở bất kỳ tâm trạng nào. Khi đặc biệt vui vẻ, khi bình thường, khi hoàn toàn bối rối, như ngày hôm qua và ngày hôm nay. vui sướng vì khi đến với em, có thể giãi bày tất cả tâm trạng của mình”.

                  thả lỏng chiếc bánh quy mà bóp vụn trong lòng bàn tay. để những mẩu vụn rơi xuống khăn trải bàn và hít thở lần nữa.

                  “Qua cách làm của Penny, ấy xem trọng . Nhưng phải mình ấy làm như thế: cũng xem trọng ấy, trước ‘tai nạn’ ”. khẽ mỉm cười, ánh mắt sâu và ấm áp. “Giống như Penny, em cũng là trụ cột của cuộc đời , cuộc đời ít ý nghĩa hơn nếu có em. Tuy nhiên cũng cho đó là điều hiển nhiên”.

                  đứng dậy khỏi ghế. Việc cũng đứng lên dường như cũng là tự nhiên, nắm lấy tay .

                  “ bao giờ muốn làm như thế nữa Angelica. Em có đồng ý lấy ?”

                  rút tay lại và che miệng. “ trở nên đầy bất ngờ, Freddie!”

                  “Còn em là điều bất ngờ tốt đẹp nhất của cuộc đời ”.

                  làn sóng hạnh phúc đơn thuần gần như làm khuỵu xuống. Và tất nhiên thực nghĩ như  thế - chưa bao giờ điều gì mà thực nghĩ thế.

                  “ biết cuộc đời mình trở nên như thế nào nếu có em ở bên cạnh ”, tiếp tục.

                  “Thường xuyên nhắc phải trân trọng em?” đùa, nếu có thể bắt đầu thổn thức.

                  cười khúc khích. “À, có lẽ cần thường xuyên. Bốn lần ngày là được”. Cầm tay lên, nhìn sâu vào mắt . “Điều này có nghĩa là em đồng ý?”

                  “Đồng ý”, đơn giản.

                  hôn và ôm chặt lúc lâu. “ em”.

                  Những từ đó ngọt ngào hơn cả những gì biết và mong chờ mỏi mòn, mong ước được nghe chúng quá nhiều năm.

                  “Em cũng ”, . lùi lại chút và nháy mắt với . “ bức tranh khỏa thân thứ hai để kỷ niệm lễ đính hôn nhé?”

                  cười và ôm chặt cho nụ hôn khác.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Ilfracombe gây thất vọng ghê gớm. Sương mù dày đặc như cháo yến mạch nấu quá tay tràn đến và phủ tình lạnh giá, ẩm ướt lên bờ biển. Trời tối đến mức những ngọn đèn đường phải để sáng cả ngày, những vòng sáng vàng vọt yếu ớt giữa màn sương mù ảm đạm che giấu mọi vật cách Elissande hơn mét.

                  cảm nhận được chút vui sướng ở bên bờ biển: hương vị của biển cả, những con sóng xô vào những vách đá hoang dã và xù xì, hề giống với những con sóng dịu dàng của Torbay; tiếng còi tàu trầm trầm của những con tàu qua kênh đào Bristol, lãng mạn cách độc.

                  quyết định ở lại qua đêm. Nếu sương mù tan , có đủ thời gian để đến thăm những vách đá và quay lại Pierce House trước khi mẹ và chồng trở về, luyện tập để thôi nghĩ nó như là nhà.

                  Và sau đó phải chuyện với mẹ lời vĩnh biệt với cuộc hôn nhân của mình.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Trái tim Vere như bị bóp nghẹt khi nhìn thấy những chiếc vali trong phòng vợ mình.

                  và bà Douglas về đến Luân Đôn vào giữa buổi chiều. thể để phụ nữ lớn tuổi kiệt sức lại thêm nữa trong cùng ngày, Vere sắp đặt cho bà và bà Green ở lại khách sạn Savoy, sau đó vội vã về nhà. Bây giờ chuyện xong với Freddie, cần với vợ mình rất nhiều điều: ngu ngốc như thế nào, nhớ như thế nào, và háo hức muốn cuộc hôn nhân của họ có khởi đầu mới như thế nào.

                  mở ngắn kéo của – trống . giật mở cửa tủ quần áo của – trống . liếc nhìn bàn trang điểm – trống , ngoại trừ chiếc lược. Và hình ảnh khiến bụng nhộn nhạo: cuốn sách chiếc bàn đầu giường tênPhụ nữ có thể làm gì để kiếm sống.[/I]

                  bỏ .

                  chạy hết tốc lực xuống cầu thang và túm lấy bà Dilwyn. “Quý bà Vere đâu?”

                  thể che giấu lo sợ, giọng to và cộc cằn.

                  Bà Dilwyn giật mình bởi thô lỗ của . “Quý bà Vere đến vách đá Người treo cổ, thưa cậu”.

                  cố gắng tiêu hóa thông tin này và thất bại. “Tại sao?”

                  “Ngày hôm qua ấy nhìn thấy tấm bưu ảnh trong phòng làm việc và nghĩ rằng phong cảnh ở đó tuyệt đẹp. Và vì cậu và bà Douglas chưa về, ấy quyết định đến đó vào sáng ngày hôm nay”.

                  Bây giờ gần đến giờ ăn tối. “Lẽ ra ấy phải trở về rồi chứ?”

                  “ ấy vừa gửi điện giờ trước, thưa cậu. ấy quyết định ở lại qua đêm. Hôm nay bờ biển có sương mù và ấy thể ngắm cảnh. ấy hy vọng buổi sáng thời tiết đẹp hơn”.

                  “Vách đá Người treo cổ, vậy là ấy đến Ilfracombe”, , với chính mình cũng như với bà Dilwyn.

                  “Vâng, thưa cậu”.

                  ra khỏi nhà trước khi bà hết.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  Mặt trời đốt cháy mắt , ánh nắng gay gắt đến mức gần như biến thành màu trắng. làn gió khô thổi đến. Người khô , làn da mong manh như tờ giấy, cổ họng khát cháy.

                  cố gắng cử động. Nhưng cổ tay chảy máu vì vật lộn với những sợi xích, những sợi xích được chôn sâu vào lòng của Caucasus [1].

                 [1] Dãy núi nằm giữa châu Âu và châu Á.[/I]

                  Tiếng rít của con chim đại bàng khiến lại vật lộn, trong cơn điên cuồng vì đau đớn và bất lực. Con đại bàng bay đến gần hơn đôi cánh đen, trùm bóng tối lên . Nó lao vào , cái mỏ sắc như dao sáng loáng, xoay đầu lại và vùng vẫy trong đau đớn.

                  “Tỉnh dậy , Elissande”, người đàn ông thầm, giọng của chứa đầy quyền lực và trấn an. “Tỉnh dậy ”.

                  tỉnh giấc, bật dậy và thở hổn hển. bàn tay đặt lên vai . quấn những ngón tay quanh nó, trấn tĩnh lại nhờ hơi ấm và sức mạnh của nó.

                  “Em muốn uống nước ?” chồng hỏi.

                  “Có, cảm ơn ”.

                  cốc nước tìm đường đến tay . Và khi hết cơn khát, lấy cái cốc .

                  Đột nhiên nhớ ra ở đâu: phải trong phòng ngủ ở nhà – Pierce House – mà trong khách sạn ở Ilfracombe – khách sạn này nhìn ra hải cảng, nhưng từ cửa sổ phòng khó có thể nhìn thấy ngay cả con đường bên ngoài.

                  “Làm thế nào tìm được em?” hỏi, ngạc nhiên và bối rối, trong khi cảm giác kích động, nóng đến mức cháy sém, bắt đầu chạy qua mạch máu .

                  “Khá dễ. Chỉ có tám khách sạn ở Ilfracombe được giới thiệu trong cuốn sách hướng dẫn du lịch mua đường. Tất nhiên, khách sạn danh tiếng nào lại cho số phòng của quý bà. phải sử dụng chút biện pháp lén lút để lấy được thông tin đó lúc tìm ra nơi em ở. Và sau đó chỉ còn vấn đề là phá khóa, và giải quyết cái then cửa đáng ghét kia”.

                  lắc đầu. “Anhcó thể[/I] gõ cửa mà”.

                  “ thói quen xấu. gõ cửa sau nửa đêm”.

                  nghe thấy nụ cười trong giọng . Trái tim đập thình thịch. thả bàn tay nắm tay xuống. “ làm gì ở đây?”

                  trả lời mà chỉ đặt tay lên vai . “Đó có phải cơn ác mộng em kể với , trong đó em bị trói lại như Prometheus?”

                  gật đầu. có thể cảm nhận được chuyển động của , vì bàn tay di chuyển đến ngay dưới tai .

                  “Em có muốn kể với em về Capri, để giúp em quên cơn ác mộng ?”

                  phải đến gần hơn; nhận thấy hơi sương mù vẫn còn bám vào áo khoác của . gật đầu lần nữa.

                  “Từ Naples nhìn ra bờ biển, đảo Capri nằm ngang khúc hẹp của vịnh như con đê chắn sóng tự nhiên khổng lồ, tầm vóc hoành tráng, và khung cảnh đẹp như trong tranh vẽ”, nhàng, giọng ràng và quyến rũ.

                  giật mình. nhận ra đoạn văn này: Nó được trích từ cuốn sách thích của về Capri mà để mất khi chú thanh trừng thư viện.

                  “ ‘Rất lâu trước đây, du khách người so sánh nó với con sư tử nằm ngẩng đầu lên’ ”, tiếp tục. “ ‘Jean Paul, dựa số ảnh xem, tuyên bố nó là con nhân sư; trong khi Gregorovius, giàu trí tưởng tượng nhất, thấy nó giống như quan tài đá cổ, khắc những bức phù điêu hình nữ thần tóc rắn Eumenides và bạo chúa Tiberius’”.

                  đỡ nằm xuống giường. “Em có muốn nghe nữa ?”

                  “Có”, lẩm bẩm.

                  cởi quần áo, quăng từng chiếc , quần áo rơi xuống khẽ khàng khiến cổ họng nóng rát và trái tim đập hoang dại.

                  “ ‘Đường đến Capri phải chỉ có con đường độc đạo’ ”. cởi váy ngủ của và lướt ngón tay xuống sườn . “ ‘Phần lớn du khách tàu chạy hơi nước từ Naples, ghé thăm hang Xanh, tham quan ở bến giờ đồng hồ, và trở lại trong buổi chiều qua Sorrento’ ”.

                  hôn khuỷu tay gập lại của , mạch máu ở cổ tay , và cắn vào giữa lòng bàn tay . rùng mình vì khoái cảm.

                  “ ‘Nhưng nếu làm thế giống như đọc tiêu đề sách, thay vì toàn bộ nội dung bên trong’ ”.

                  Bàn tay di chuyển lên theo cánh tay và ôm vai . Tay kia ôm mặt . nhàng, quá nhàng, để làm đau những vết bầm tím màu sắc phong phú tan dần nhưng vẫn nhạy cảm với sức ép, vuốt ve gò má .

                  “ ‘ số ít người leo núi, tự mình lặng lẽ cảm nhận cuộc sống và phong cảnh của hòn đảo, tìm thấy bài thơ hoàn chỉnh, thiếu yếu tố nào của vẻ đẹp hay thú vị, mở ra cho họ chiêm ngưỡng’ ”, ngâm nga, trong khi ngón tay cái kéo môi dưới của xuống.

                  thốt ra tiếng rên rỉ đòi hỏi. Hơi thở của nghẹn lại.

                  “Nhưng em còn đẹp hơn Capri nhiều”, , ngay lập tức giọng trở nên nồng nhiệt và tha thiết.

                  kéo chặt vào và hôn nồng nàn. Từ đó, Capri bị bỏ quên và môi, tay cũng như tâm trí họ chỉ còn dành cho nhau.

                   
      <img alt="" src="file:///C:UsersCharlesAppDataLocalTempmsohtmlclip19clip_image001.jpg" width="175" height="26" /> 

       

                  “Em nghĩ gì thế?” Vere hỏi, nằm nghiêng, đầu gác lên lòng bàn tay.

                  thể nhìn thấy , chỉ cảm nhận thấy nhịp thở và hơi ấm của làn da .

                  Bàn tay lần theo những vết sẹo ở lồng ngực . “Em nghĩ rằng, trong tất cả những năm đọc sách giới thiệu du lịch, em chưa bao giờ, chưa từng lần nhận ra rằng chúng cũng có thể được sử dụng là công cụ quyến rũ. Và đây hẳn là lần đầu tiên chúng ta đều thức sau đó”.

                  tạo ra tiếng ngáy.

                  cười nắc nẻ.

                  “Nếu em cũng buồn ngủ, muốn kể cho em câu chuyện”, .

                  đến lúc.

                  “Em buồn ngủ chút nào”.

                  muốn cảnh báo phần nào với . “Câu chuyện của , nó phải luôn vui vẻ đâu”.

                  “ có câu chuyện nào luôn vui vẻ cả. Nếu phải là câu chuyện; nó là bài ca chiến thắng”.

                  Rất đúng. Vậy là kể cho những kiện dẫn đến cuộc sống thứ hai của , bắt đầu từ cái đêm cha chết. Bất chấp lời cảnh báo, toàn bộ cơ thể vẫn cứng đờ vì kinh hoàng. Bàn tay nắm chặt cánh tay . Nhưng im lặng lắng nghe, chăm chú, với những hơi thở đứt đoạn và run rẩy.

                  “Và có lẽ cuộc đời tiếp tục con đường đó mộ cách vô định. Sau cùng, nó là lối rất mòn nếu bao giờ gặp em. Nhưng em đến và em làm thay đổi mọi thứ. Càng hiểu về em, càng tự hỏi những thứ nghĩ rằng thay đổi có thực hóa đá, hay đơn giản chỉ là vì quá sợ thay đổi”.

                  Khi câu chuyện của qua khỏi những quãng đau thương ban đầu, cơ thể cũng dần dần thả lỏng. Lúc bày bàn tay vai còn có vẻ căng thẳng nữa.

                  “Hai ngày trước thú nhận mọi chuyện với Freddie. Nó là cuộc chuyện khó khăn kinh khủng, nhưng sau đó cảm thấy nhõm và tự do mà cảm thấy trong thời gian dài. Và phải cảm ơn em vì điều đó”.

                  “Em rất, rất vui vì và ngài Frederick chuyện với nhau, nhưng em hiểu em có tác động gì”, , với vẻ bối rối chân thành.

                  “Có nhớ em gì vài đêm trước về Douglas ? ‘Em để ông ta ám ảnh em từ trong mồ, cũng như em chưa bao giờ cho phép ông ta lấy mảnh linh hồn nào của em khi ông ta vẫn còn sống’. Những lời đó làm choáng váng. Cho đến giây phút đó hiểu rằng anhđã[/I] để linh hồn của mình bị cướp . Và cho đến khi nhận ra rằng mình còn toàn vẹn, thể bắt đầu ráp nối mình lại lần nữa”.

                  đầy lòng biết ơn đối với . Nhưng đó lại là dấu hiệu chứng tỏ kín đáo như thế nào, kín đáo đến mứccô[/I] hề biết những thay đổi tác động đến .

                  “ tuyệt là em có thể giúp gì đó”, , vừa có vẻ hài lòng vừa có vẻ lúng túng. “Nhưng em phải phản đối rằng em xứng với những tin tưởng dành cho em. thấy rồi đấy: Vừa rồi thôi em gặp cơn ác mộng khác. Em phải là ví dụ sáng sủa”.

                  “Em là của ”, chắc chắn. “Bên cạnh đó, đến để đối phó với ác mộng, đúng ?”

                  “Em vừa định hỏi! Làm thế nào thuộc lòng được trong những cuốn sách thích của em?”

                  “ hỏi mẹ em xem bà ấy có nhớ cuốn sách nào về Capri mà em thích . Bà ấy đọc cho đoạn, nhưng thể nhớ được tên sách, chỉ nhớ rằng em nó. Vì thế bắt đầu làm việc”.

                  cầu bảy cửa hàng sách mang tất cả những cuốn sách du lịch có liên quan nhiều đến nước Ý tới khách sạn. Sau khi và bà Douglas trở lại từ nhà hát Savoy, thức gần hết đêm để tìm tất cả các trang sách có nhắc đến Capri, cho đến khi gặp được đoạn bà Douglas đọc”.

                  “ tìm cuốn sách này với ý định đọc cho em nghe cho đến khi em ngủ lại được, nếu em gặp ác mộng lần nữa. Nhưng sau đó nghĩ rằng nếu đọc cần bật đèn. Vậy tốt hơn là nhớ nó trong đầu, học thuộc nó trong lúc ngồi tàu trở về Devon”.

                  “Điều đó… điều đó ngọt ngào đến mức thể tin được”. Chiếc giường kẽo kẹt. nhích người đệm chút và hôn lên môi .

                  “ còn có hai đoạn văn nữa trong đầu. Nhưng nếu biết rằng sách du lịch có khả năng gợi tình như thế, nhớ tất cả mọi thứ”.

                  cười khúc khích. “Ồ, làm thế sao?”

                  lùa tay vào mái tóc mát lạnh của . “Nếu em muốn làm, làm. Ngay cả nếu bị cấm bao giờ được quyến rũ em với sách hướng dẫn du lịch đến Capri lần nữa”.

                  áp má mình vào má , cử chỉ đơn giản khiến lòng biết ơn của suýt nữa tuột khỏi khả năng kiểm soát.

                  “Đây có phải là thời điểm tốt để xin lỗi em vì cư xử như con lừa đần độn khi chúng ta ở trong tòa lâu đài bỏ hoang ?”

                  Hành vi đó giày vò lương tâm suốt từ ngày ấy.

                  hơi lùi lại, như thể để nhìn vào mắt . “Chỉ khi nào nó cũng là thời điểm tốt để em xin lỗi vì buộc phải cưới em”.

                  “Vậy là được tha thứ?”

                  “Tất nhiên”, .

                  Trước đây thường cho rằng tha thứ là cho phép mọi tội lỗi được bỏ qua mà chịu trừng phạt. Bây giờ cuối cùng hiểu ra tha thứ phải là vì quá khứ, mà còn là vì tương lai.

                  “Còn em, em được tha thứ chứ?” , giọng chút lo lắng.

                  “Có chứ, tất nhiên”, , chân thành.

                  run rẩy thở ra, thanh của nhõm. “Bây giờ chúng ta có thể tiếp tục”.

                  Bây giờ họ có thể hướng về tương lai.

                   


      <!--[if gte mso 9]><xml>
      <o=DocumentProperties>
      <o:version>12.00</o:version>
      </o=DocumentProperties>
      </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml>
      <w:WordDocument>
      <w:view>Normal</w:view>
      <w:Zoom>0</w:Zoom>
      <w:TrackMoves/>
      <w:TrackFormatting/>
      <w:punctuationKerning/>
      <w:validateAgainstSchemas/>
      <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid>
      <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent>
      <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText>
      <w=DoNotPromoteQF/>
      <w:LidThemeOther>EN-US</w:LidThemeOther>
      <w:LidThemeAsian>X-NONE</w:LidThemeAsian>
      <w:LidThemeComplexScript>X-NONE</w:LidThemeComplexScript>
      <w:Compatibility>
      <w:BreakWrappedTables/>
      <w:SnapToGridInCell/>
      <w:WrapTextWithPunct/>
      <w:UseAsianBreakRules/>
      <w=DontGrowAutofit/>
      <w:SplitPgBreakAndParaMark/>
      <w=DontVertAlignCellWithSp/>
      <w=DontBreakConstrainedForcedTables/>
      <w=DontVertAlignInTxbx/>
      <w:Word11KerningPairs/>
      <w:CachedColBalance/>
      <w:UseFELayout/>
      </w:Compatibility>
      <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel>
      <m:mathPr>
      <m:mathFont m:val="Cambria Math"/>
      <m:brkBin m:val="before"/>
      <m:brkBinSub m:val="--"/>
      <m:smallFrac m:val="off"/>
      <m=DispDef/>
      <m:lMargin m:val="0"/>
      <m:rMargin m:val="0"/>
      <m=DefJc m:val="centerGroup"/>
      <m:wrapIndent m:val="1440"/>
      <m:intLim m:val="subSup"/>
      <m:naryLim m:val="undOvr"/>
      </m:mathPr></w:WordDocument>
      </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml>
      <w:LatentStyles DefLockedState="false" DefUnhideWhenUsed="true"
      DefSemiHidden="true" DefQFormat="false" DefPriority="99"
      LatentStyleCount="267']
      <w:LsdException Locked="false" Priority="0" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Normal"/>
      <w:LsdException Locked="false" SemiHidden="false" UnhideWhenUsed="false"
      QFormat="true" Name="heading 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" QFormat="true" Name="heading 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" QFormat="true" Name="heading 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" QFormat="true" Name="heading 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" QFormat="true" Name="heading 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" QFormat="true" Name="heading 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 7"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 8"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="9" QFormat="true" Name="heading 9"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 7"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 8"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" Name="toc 9"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="35" QFormat="true" Name="caption"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="10" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Title"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="1" Name="Default Paragraph Font"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="11" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtitle"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="22" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Strong"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="20" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Emphasis"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="59" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Table Grid"/>
      <w:LsdException Locked="false" UnhideWhenUsed="false" Name="Placeholder Text"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="1" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="No Spacing"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" UnhideWhenUsed="false" Name="Revision"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="34" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="List Paragraph"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="29" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Quote"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="30" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Quote"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 1"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 2"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 3"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 4"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 5"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="60" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Shading Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="61" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light List Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="62" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Light Grid Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="63" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 1 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="64" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Shading 2 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="65" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 1 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="66" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium List 2 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="67" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 1 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="68" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 2 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="69" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Medium Grid 3 Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="70" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Dark List Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="71" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Shading Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="72" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful List Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="73" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" Name="Colorful Grid Accent 6"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="19" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtle Emphasis"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="21" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Emphasis"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="31" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Subtle Reference"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="32" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Intense Reference"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="33" SemiHidden="false"
      UnhideWhenUsed="false" QFormat="true" Name="Book Title"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="37" Name="Bibliography"/>
      <w:LsdException Locked="false" Priority="39" QFormat="true" Name="TOC Heading"/>
      </w:LatentStyles>
      </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]>
      <style>
      /* Style Definitions */
      table.MsoNormalTable
      {mso-style-name:"Table Normal";
      mso-tstyle-rowband-size:0;
      mso-tstyle-colband-size:0;
      mso-style-noshow:yes;
      mso-style-priority:99;
      mso-style-qformat:yes;
      mso-style-parent:"";
      mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt;
      mso-para-margin-top:0in;
      mso-para-margin-right:0in;
      mso-para-margin-bottom:10.0pt;
      mso-para-margin-left:0in;
      line-height:115%;
      mso-pagination:widow-orphan;
      font-size:11.0pt;
      font-family:"Calibri","sans-serif";
      mso-ascii-font-family:Calibri;
      mso-ascii-theme-font:minor-latin;
      mso-hansi-font-family:Calibri;
      mso-hansi-theme-font:minor-latin;
      mso-bidi-font-family:"Times New Roman";
      mso-bidi-theme-font:minor-bidi;}
      </style>
      <![endif]-->

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954
      Chương 22
      “Pedicapo ego vos et irrumabo’ có nghĩa là gì?” Elissande hỏi, khi họ leo lên con dốc dẫn đến đỉnh vách đá Người treo cổ.
      Bình minh ngày hôm nay đầy nắng và xinh đẹp. Bờ biển phơi bày những mũi đất nguyên sơ và bãi biển hoang dã. bị cuốn hút ngay lập tức.
      Sau bữa sáng, họ thuê cỗ xe và đánh xe đến Combe Martin, ngôi làng gần vách đá Người treo cổ nhất, và từ đó họ bộ, lang thang qua những đồng cỏ xanh rờn lác đác vài con dê trắng đáng kinh ngạc lối .
      Chồng uống nước từ bi đông nước mang theo. Trước câu hỏi của , sặc giống em trai mình vào cái buổi tối tuyên bố cụm từ đó là khẩu hiệu gia đình của nhà Edgerton ở Abingdon. Elissande phải đập mạnh vào lưng để giúp thoát khỏi cơn sặc.
      vừa rên rỉ vừa cười. “Chúa tôi, em vẫn còn nhớ à?”
      “Tất nhiên em nhớ. Nó phải khẩu hiệu của gia đình nào đó, đúng ?”
      !” gập đôi người lại để cười. “Hay ít nhất, hy vọng là ”.
      tiếng cười của . Càng nó nhiều hơn vì lê bước con đường dài, đơn để đến được với ngày này, ngày họ có thể tay trong tay thưởng lãm bờ biển của miền Tây đất nước. nhặt chiếc mũ bị rơi xuống đường của lên.
      “Thế nó có nghĩa là gì?” vuốt tóc và đặt lại chiếc mũ đầu , điều chỉnh góc độ cho đúng – vẫn còn chưa quen với những đồ dùng của đàn ông.
      “Nó được trích từ bài thơ của Catullus, có lẽ là bài thơ bậy bạ nhất em mong được đọc trong đời đâu”, hạ giọng xuống với vẻ bỡn cợt, “Bậy đến mức nghĩ có bản dịch nào được xuất bản ở ”.
      “Ồ?” phải nghe cái này. “ ”.
      quý bà trẻ tử tế giống như em nên hỏi”, trêu.
      quý ông trẻ tử tế như nên giữ kín, hoặc là quý bà trẻ tử tế bị xúi giục hỏi em trai ”.
      “Oái, đe dọa à. thích đấy. Chà, nếu em phải biết, động từ đầu tiên liên quan đến thói thủ dâm”. phá lên cười lần nữa, lần này là vì biểu của . “Đừng sốc thế. với em là bậy bạ mà”.
      ràng em có cuộc đời được bao bọc. Khái niệm về bậy bạ của em là gọi người khác là xấu xí và ngu ngốc. Có động từ thứ hai ?”
      “Đúng là có. Nó cũng liên quan đến hành động tình dục, phần nào ít thô thiển hơn, nhưng vẫn khiến phòng các quý kêu the thé đòi thuốc muối nếu nó được nhắc đến”.
      há hốc miệng. “Em nghĩ em biết nó là gì rồi”.
      lùi lại ngạc nhiên. “, em chắc chắn biết nó là gì”.
      “Có, em biết”, tự mãn . “Cái đêm uống say bí tỉ, nhắc đến rút lui. Và nếu trong tâm trạng đặc biệt tồi tệ, bắt em nuốt tinh trùng của ”.
      Cằm trễ xuống. “ lấy lại lời đó. Thế là em biết nó là gì rồi. Lạy Chúa, đó là tất cả những gì với em rồi chứ?”
      người chăn cừu trẻ xuất đường, ôm đống lông về phía họ.
      “Nghĩ lại rồi”, chồng , “Hãy đợi đến tối nay. có dự cảm rằng nếu nhắc chính xác đến những lời và hành động của đêm đó có thể dẫn dắt chúng ta đến những hành động khiến chúng ta bị bắt”.
      cười khúc khích. trao cho cái lườm chế giễu. “Nghiêm túc nào. lo lắng cho danh tiếng của em đấy”.
      hắng giọng và điều chỉnh vẻ mặt. “Đó có phải là kiểu bài thơ La-tinh tìm để ru mình ngủ lúc ở Highgate Court ?”
      “Tất nhiên là . Đó là kiểu bài thơ La-tinh đọc khi muốn sặc nước, ràng là thế”.
      cười giòn tan. “ đến việc tìm thơ La-tinh, làm gì trong phòng làm việc của chú em đêm đó”.
      Biểu của trở nên bẽn lẽn. “Nó ở ngay bên cạnh phòng khách màu xanh. hy vọng đến nhìn em sau khi quý bà Avery bắt quả tang em ở mình. nghĩ nó hài hước lắm”. thở dài. “Thấy chưa, trả thù đưa đến thất bại”.
      vỗ vào cánh tay . “ vẫn là người đàn ông tốt?”
      “Em nghĩ thế sao?”
      Có thể ý định của là đặt câu hỏi cách hờ hững, nhưng nó thốt ra với đầy hy vọng và hoài nghi.
      hiểu . chưa bao giờ nghĩ mình tốt – làm sao người ta có thể tốt mà lại dối và lừa lọc thành thạo như thế? Nhưng nghi ngờ những điểm tốt của : chỉ cần nhìn vào cách chăm sóc mẹ .
      có quá ít lòng tin vào bản thân. Để nhận ra thay đổi cần phải nhìn thấu mọi chuyện; và để thú nhận với Freddie sau ngần ấy năm, cần đến lòng dũng cảm thực .
      “Em biết thế”, .
      im lặng. Con đường ngoặt sang bên. đưa tay ra để giúp qua hòn đá mặt đất. ngước nhìn , rồi cảm thấy bản năng che chở mạnh mẽ với người đàn ông đẹp trai, cao to, vừa hạnh phúc và vừa trầm ngâm của .
      Họ được gần năm phút trước khi chạm vào vai , “Cảm ơn em. sống xứng đáng với nó”.
      hề nghi ngờ lời của .

      Đỉnh vách đá Người treo cổ mang đến tầm nhìn hấp dẫn: mũi đất dài nhiều dặm xanh ngát cao hàng trăm mét, mặt trời chiếu xuống mặt biển xanh sẫm lấp lánh như lưới bạc, và ở xa xa, con thuyền xinh đẹp, tất cả những cánh buồm giương lên, lướt mặt nước với vẻ duyên dáng nhàn hạ như con thiên nga.
      thể rời mắt khỏi cảnh đẹp này. Và thể rời mắt khỏi . Mặt đỏ ửng, hơi thở vẫn còn hơi hổn hển sau lúc hăm hở leo trèo, và nụ cười của , nụ cười của kính vỡ vì nó.
      “Ở đây thậm chí còn đẹp hơn khi hoa thạch nam nở rộ”, . “Lúc đó những sườn dốc chuyển thành màu tím rực rỡ”.
      “Vậy chúng ta phải quay lại nhé, khi hoa thạch nam nở rộ”.
      Váy bay trong làn gió trong lành mang theo vị mằn mặn. cơn gió nghịch ngợm suýt nữa thổi bay mũ . cười khanh khách khi dùng tay giữ đỉnh mũ. Bàn tay kia trượt vào bàn tay , cái nắm tay của ấm áp và nhàng.
      Trái tim chao đảo: Đó là . luôn là người chờ đợi trong suốt những năm qua.
      thường nghĩ đến người đồng hành hoàn hảo”, .
      liếc nhìn , đôi mắt ánh lên vẻ tinh quái. “Em cá rằng ấy hề giống em”.
      “Thực ra, ấy hề giống . tạo ra ấy đối lập với mình về mọi mặt. ấy đơn giản, bằng lòng với cuộc sống, lừa dối, cay độc, và có quá khứ”.
      quay hẳn về phía , lúc này khuôn mặt biểu tò mò nghiêm túc. “ ấy có phải là Capri của ?”
      Tất nhiên hiểu, nhưng trái tim vẫn trào dâng niềm cảm kích. “Phải, ấy là Capri của . Nhưng trong khi Capri của em là khát vọng, Capri của trở thành điểm nương tựa. Thậm chí sau khi em, vẫn cố gắng bám níu lấy ấy. Đáng lẽ phải thừa nhận Capri của có vòng đời giới hạn và thời điểm kết thúc của nó đến thay vì đẩy em ra xa và đánh mất tương lai cùng với em”.
      Tay siết chặt tay . “ có chắc là sẵn sàng từ bỏ nó chưa?”
      “Rồi”. Sau cùng. “Và từ bỏ nhiều hơn thế. nghĩ đến lúc gặp ‘tai nạn’ khác”.
      há hốc miệng. “ từ bỏ công việc làm đặc vụ cho Hoàng gia?”
      luôn muốn có ghế trong Hạ nghị viện cho đến ngày phải thế chỗ của cha mình trong Thượng nghị viện. Và sau đó biết được về cái chết của mẹ mình. Kế hoạch của còn thích hợp nữa. Thay vào đó, cống hiến hết mình cho cuộc trả thù mà bao giờ là của . Nhưng với ‘tai nạn’ khác, có thể tuyên bố rằng hồi phục và bắt đầu từ đó”.
      chỉ nhìn chằm chằm, mắt mở lớn.
      Bỗng nhiên nghi ngờ tấn công . “Em nghĩ rằng ý nghĩ tham gia vào Thượng nghị viện là quá ngông cuồng?”
      , hoàn toàn . Em chỉ kinh ngạc trước tất cả thay đổi xảy ra trong cuộc đời ”. chạm tay vào lông mày . “ vui vẻ khi làm ở Thượng nghị viện chứ?”
      . Nó là tập hợp những kẻ phản động tự cao tự đại. chưa từng nổi điên đến mức như thế khi bọn phủ quyết thông qua đạo luật Tự trị cho Ai-len vào năm ’93”. mỉm cười với . “Nhưng nên có người ở đó để với bọn rằng bọn chẳng qua chỉ là tập hợp những kẻ phản động tự cao tự đại khố rách áo ôm”.
      “Trong trường hợp đó, đầu tiên em phải diễn vẻ hoang mang sao cho phù hợp, vì người chồng ngốc nghếch của mình đột nhiên biến thành người đàn ông có trí tuệ và kiến thức vượt quá sức tưởng tượng. Và sau đó, dưới dìu dắt nhiệt tình, kiên nhẫn của ấy, em phát ra những năng lực trí óc bị giấu của chính mình”. gật đầu. “Phải đó, em nghĩ như thế là được. Khi nào ‘tai nạn’ mới này của diễn ra?”
      bị giằng xé giữa việc phá lên cười và ngưỡng mộ trước cách giải quyết những đòi hỏi này của , vai diễn lớn cuối cùng của .
      “Chúng ta quyết định thời gian và cách thức chính xác sau. phải giải quyết những vấn đề khẩn cấp hơn rất nhiều. Thực ra là ngay bây giờ”.
      ngẩng mặt lên. “Chuyện gì thế?”
      Những vết bầm vẫn còn hơi mờ mờ, nhưng chúng làm xấu vẻ đẹp của : chỉ nhiều hơn vì lòng dũng cảm của .
      “Cho dù cố gắng chối bỏ nhiều như thế nào cũng em từ giây phút đầu tiên gặp em. Quý bà Vere, em dành cho vinh dự lớn lao là ở lại làm vợ chứ?”
      khẽ há miệng, sau đó cười khúc khích. “Đậy là lời cầu hôn phải ngài Vere?”
      “Đúng thế”. đoán trước, nhưng trái tim đập nhanh hơn. “Làm ơn đồng ý ”.
      “Đồng ý”, . “Vâng, em đồng ý. có gì có thể làm em hạnh phúc hơn”.
      bỏ mũ của xuống, sau đó của , và hôn , người đàn bà nhất, ở nơi thích nhất của thế giới này.

      Khi họ trở về nhà, họ nhận thấy chỉ bà Douglas trở về từ Luân Đôn - tự hào đưa số châu báu của chị mình cho Elissande làm của hồi môn – mà còn có Freddie và Angelica đích thân đến để tuyên bố lễ đính hôn của họ.
      Angelica trông rạng rỡ, đấm chiếu lệ vào ngực Vere để trừng phạt vì dối trong suốt từng ấy năm.
      “Đấm nữa ”, . với Freddie rằng em trai có thể chia sẻ mọi thứ với Angelica, hiểu rằng Freddie cần làm như thế.
      “Em nên đấm nữa”, Angelica , “Nhưng em quyết định tha thứ cho ”.
      bước đến ôm . “Cảm ơn em”.
      chưa bao giờ thôi ngạc nhiên, rộng lượng của những người – và những người nhất.
      Họ cùng chuyện phiếm lúc với bà Douglas. Sau khi bà Douglas nghỉ, bốn người họ quây quần trong phòng làm việc và vui vẻ lấy Vere làm trò cười khi họ hiến mưu kế cho hồi phục của .
      “Chúng ta có thể gặp con gấu ở trong rừng”, Angelica , “và con gấu tát vào đầu như cách lẽ ra em làm!”
      “Gấu hoang dã tuyệt chủng ở kể từ thế kỷ thứ mười”, Vere chỉ ra. “Chúng ta gặp vấn đề với câu chuyện đó”.
      “Thế còn tai nạn trong lúc chơi crikê sao?” Freddie . “Em có thể đánh rất ”.
      “Sau khi bị em thụi tơi bời, Freddie, nghĩ em đánh giá thấp sức mạnh của chính mình. cú đánh của em có thể làm vỡ đầu ”.
      “Em có thể đập bằnh cái chảo rán”, vợ tham gia trò đùa, “Những xung đột trong gia đình luôn luôn dễ tin”.
      “Ý tưởng tuyệt vời!” Angelica thốt lên.
      “Nhưng em là nữ hầu tước, phải vợ của nông dân”. Vere lắc đầu. “Những quý bà ở địa vị của em mất năm phút chạy từ phòng khách đến bếp để lấy cái chảo làm gì? đáng tin hơn nếu em dùng cái bình thời nhà Minh”.
      “Hoặc cây ba-toong của ấy”, Freddie , với cái nháy mắt với Elissande.
      Họ đều phá lên cười trước câu đó.
      Freddie và Angelica ở lại ăn tối. Họ nâng cốc chúc tụng rất nhiều trong bữa tối: nâng cốc vì hạnh phúc tương lai của cặp đôi mới đính hôn, vì sức khỏe của bà Douglas, và hồi phục ‘kỳ diệu’ sắp tới của Vere, và vì lòng kiên nhẫn như thánh của vợ với người đàn ông mô phạm đến mức chịu nổi mà Vere chắc chắn trở thành, khi mà bây giờ tự do bộc lộ thông thái
      Vere mời em trai và em dâu tương lai ở lại qua đêm, nhưng họ từ chối. nài ép nhiều vì biết rằng cặp tình nhân mới háo hức được về chốn riêng tư. Bốn người họ lên kế hoạch sớm gặp lại, sau đó Vere và Elissande đứng trước nhà, vẫy tay tạm biệt với Freddie và Angelica khi hai người ra ga tàu.
      Khi cỗ xe biến mất khỏi tầm nhìn, Vere khoác tay lên vai vợ. dựa vào người .
      em”, , hôn lên tóc .
      “Em cũng ”. nâng bàn tay ở vai lên và hôn vào lòng bàn tay. “Và em muốn bộ cùng , rất, rất nhiều lần”.
      mỉm cười. “Mong muốn của em là mệnh lệnh đối với , thưa quý bà”.
      “Tốt”, . “Bây giờ hãy lên tầng lâu, về những bài thơ La-tinh, hiểu ý em chứ?”
      Họ vẫn còn cười khi khép cánh cửa phòng ngủ.

      GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ

      Đèn pin được phát minh vào cuối thế kỷ mười chín. Những bằng sáng chế với nhiều kiểu dáng phong phú, tập trung vào ứng dung thương mại có từ năm 1896 đến 1898. Có thể chúng gọn gàng và dễ mang theo như chiếc đèn pin Vere dùng trong cuốn sách này, tôi cảm thấy khá tự tin rằng dựa công nghệ sẵn có và những kỹ sư tài năng và khéo léo làm việc cho Hoàng gia có thể dễ dàng tạo ra vật dụng kiểu như của James Bond như thế.
      Đoạn văn miêu tả Capri được trích từ Sổ tay hướng dẫn cho khách du lịch đến Nam Ý và Sicity, và Những nẻo đường của Châu Âu.

    4. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :