Ma câm: Ma Khóc dưới Hồ Tiên Đôn - Thiên Hạ Bá Xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

                  5


      Trong tiệm mì chỉ có hai nhóm người ngồi ăn, người đàn ông mang theo cỗ quan tài ngồi ngay sau bàn Thôi lão đạo, ông ta và nhìn thấy Thôi lão đạo và hai người thợ dán hồ giấy tuy ăn mặc rách rưới nhưng che được khí thế hùng, nén nổi lén nhìn sang bên này, nghe Thôi lão đạo thời tiết có thể thay đổi, Hoàng Hà sắp xảy ra nạn lớn, liền quay sang hỏi: “Thưa đạo trưởng, tôi thấy mấy ngày nay thời tiết rất đẹp, sao có thể biết được thời tiết thay đổi?”

      Thôi lão đạo : “Vô lượng thiên tôn, tôi có khả năng thấy trước, chỉ là xem hướng gió nhìn sắc trời mà biết thôi.”

      Người đàn ông : “Lão đạo có bản lĩnh như vậy, xin cho hỏi tu hành ở danh sơn động phủ nào?”

      Mạnh Bôn nhanh miệng, chưa đợi Thôi lão đạo trả lời: “Làm gì có danh môn động phủ nào, đạo trưởng nhà chúng tôi nhà cửa tiền bạc, đêm ngủ trong lò gốm ở thành Nam, ngày bày quán xem bói ở cổng thành thôi.”

      Người đàn ông nghe vậy cười : “Hóa ra là thủ đoạn giang hồ…” rồi quay đầu , thèm chuyện với hội Thôi lão đạo nữa.

      Nếu lúc bình thường Thôi lão đạo cũng chấp, nhưng lúc đó do kích động, trong lòng nghĩ: “Trông người đàn ông này phải tầm thường, hẳn là người có thân phận địa vị cao, trước giờ rất coi thường những kỹ xảo giang hồ, nếu hôm nay mình thể bản lĩnh đến hai vị huynh đệ kia cũng coi thường mình.”

      Thôi lão đạo nghĩ vậy liền cười ha hả, : “Tình cờ gặp nhau cũng coi là có duyên, lão đạo ta ngày hôm nay cũng học Trương thiên sư bán thuốc, bói cho lão huynh chữ được chứ? Nếu đúng phiền lão huynh truyền tên giúp tôi, nếu đúng xin chớ cười.”

      có vẻ ưa mấy chuyện này, khuyên người đàn ông đừng quan tâm đến bọn lão đạo giang hồ, tránh mắc lừa, người đàn ông lại hiếu kỳ, : “Được, cũng thú vị lắm.” rồi lấy chiếc đũa chấm vào bát nước chấm rồi viết lên bàn chữ “Lộ”, rồi : “Đạo trưởng vừa rồi rất đúng, chúng ta tình cờ gặp nhau, đều là người đường, vậy xin bói cho tôi chữ ‘Lộ’ .”

      Thôi lão đạo nhìn chữ đó lúc rồi cười nhạt, : “Ngôn ngữ là tiếng của con tim, chữ là bức tranh của con tim, xem lão huynh viết chữ cũng có chút mạnh mẽ cứng cáp, hẳn là người dám làm dám chịu, vậy cứ bói chữ này , biết lão huynh định hỏi việc gì?”

      Người đàn ông : “Đạo trưởng xem tôi kiếm cơm bằng nghề gì?”

      Thôi lão đạo : “Chữ ‘Lộ’ [1] bắt đầu bằng chữ khẩu, xem ra lão huynh cũng giống bần đạo, kiếm cơm bằng miệng.”

      [1] “Lộ” chữ Hán là ,bắt đầu bằng bộ, tức là miệng.

      Vừa dứt lời, người đàn ông và những người xung quanh đều biểu lộ ngạc nhiên.

      Dương Phương và Mạnh Bôn cười thầm trong bụng, Thôi lão đạo lại đoán trúng rồi. Người đàn ông hộ tống cỗ quan tài hoàn toàn giống nông dân, chữ viết cũng tốt, đương nhiên là kiếm cơm bằng miệng rồi, còn nghề bằng miệng nhiều lắm, trong giang hồ bói toán, ca hát, kể chuyện đều là nghề bằng miệng cả. Dạng người được ăn sung mặc sướng thể làm việc nặng nhọc, làm ăn buôn bán, làm quan cũng đều phải , chẳng phải là nghề bằng miệng cả sao? Có điều bản lĩnh ứng biến linh hoạt của Thôi lão đạo ai bằng.

      Người đàn ông : “ giấu đạo trưởng, tôi làm nghề buôn bán, giờ phải mang cỗ quan tài này làm việc lớn, nhưng chưa biết chuyến này kết quả ra sao, xin đạo trưởng chỉ giáo.”

      Thôi lão đạo chẳng cần nghĩ ngợi, luôn: “Chữ ‘lộ’ này bắt đầu bằng chữ khẩu, kết thúc cũng bằng chữ khẩu. Trong chữ khẩu lại có gì cả, lúc đến chữ khẩu có gì, lúc chữ khẩu cũng có gì, lão đạo tôi câu hay xin ngài đừng trách, chữ này phải là điềm tốt.”

      Người đàn ông nghe rồi có vẻ thất vọng, bất chợt ngồi im gì, cùng ông theo hộ tống cỗ quan tài, chính là cậu thanh niên vai u thịt bắp đập bàn đánh rầm đứng dậy, hét lên: “Ông chủ, ông đừng nghe lão đạo đó năng linh tinh, mấy trò tiểu xảo giang hồ đó lừa được ông chứ lừa được Biên Hải Long tôi đâu, ba đứa này ràng là dân đào trộm mộ, mới gặp là tôi ngửi thấy mùi khí của mồ mả người chúng nó rồi, chừng còn mang theo cả đồ móc trộm nữa đấy, có dám bỏ đồ ra cho mọi người xem ...”

      Biên Hải Long vừa xong liền rút ra khẩu súng ngắn Mauser, ta chỉ định nổ súng để dọa người thị uy thôi chứ phải để bắn ai, nào ngờ vừa rút súng ra chiếc roi của Dương Phương cũng vừa quất tới, ra tay quá nhanh, mọi người chỉ nhìn thấy thứ gì đó vút qua trước mặt, nghe thấy tiếng roi quất tiếng, khẩu súng trong tay Biên Hải Long bị đánh rơi xuống đất vỡ tan, tay của bị quất chảy máu, chiếc bàn trước mặt vỡ làm đôi, đứng đờ ra biết phải làm gì. ai nhìn thấy lúc đó xảy ra chuyện gì, đợi khi Biên Hải Long định thần trở lại, biết mình gặp phải đối thủ, xấu hổ bỏ chạy ra khỏi quán, dám quay đầu lại.

      Dương Phương đánh rơi súng của người khác mà thần khí, nét mặt thay đổi, mặt biểu cảm xúc nhưng trong lòng rất đắc ý, quay về phía người đàn ông chắp tay cúi chào, câu: “Đắc tội” rồi thu roi lại.

      Mạnh Bôn chỉ vào người đàn ông rồi với chủ quán: “Tổn thất do người này đền, vì người của ông ta ra tay trước.”

      Ông chủ quán mì là người thà, nào dám lên tiếng. đứng dậy trả tiền, rằng tiền đền bù bàn ghế bị đánh hỏng, tiền ăn của tất cả mọi người, còn hỏi chủ quán là tiền trả đủ hay chưa. Chủ quán run rẩy nhận lấy tiền, : “Đủ rồi, đủ rồi. Mua luôn toàn bộ quán chúng tôi cũng đủ rồi, các vị cứ tự nhiên... tự nhiên...”, rồi lủi ngay vào phòng trong, gọi thế nào cũng dám ra.

      Người đàn ông được Biên Hải Long gọi là ông chủ đứng dậy : “Chàng thanh niên cùng đạo trưởng đây tuổi còn trẻ mà thân thủ phi thường, chắc phải là thợ dán giấy rồi, các vị lẽ đúng là dân đào trộm mộ.”

      Thôi lão đạo nhìn nhóm người này văn ra văn, võ ra võ, đẩy cỗ quan tài, lại có người mang theo súng cùng, là dân áp tải hàng cũng phải, dân áp tải hàng kỵ nhất là sinh gây chuyện. Giờ bị bọn họ phát ra người có đồ tang lễ, còn cách giấu giếm, nhưng Thôi lão đạo rất biết cách lựa: “ giấu gì, ba em chúng tôi có tên tuổi đàng hoàng, giang hồ gọi là Thiết chủy đại vương hoạt Tử Nha Thôi Đạo Thành, Trại Ly miêu đả thần tiên Dương Phương, Thảo đầu thái tuế Mạnh Bôn. Chúng tôi mang trong mình tấm lòng trung nghĩa, noi gương các hùng hiệp sỹ, lập trí trừ gian diệt ác, giúp đỡ dân nghèo. Thời buổi này nhiều loạn lạc, có vương đạo, dưới có vương pháp, dân chúng còn đường sống. em chúng tôi thể thay trời hành đạo, tới thôn Thảo Lư ở Lôi Công Lĩnh đào mộ tổ của thủ lĩnh quân phiệt Đồ Hắc Hổ, giờ đường đem những thứ đào được đổi thành lương thực để cứu tế cho người dân bị nạn vùng Hoàng Hà. Chúng tôi tuy thân phận thấp hèn, nhưng có lời thề bao giờ lấy đồ bất nghĩa, cũng lấy những vật vô danh, chúng tôi phải dân đào trộm mộ.”

      Người đàn ông nghe xong, nhìn hội Thôi lão đạo lượt, rồi nghiêm túc : “Nghe danh lâu, nay được mở mang tầm mắt, tôi thực vinh dự được gặp đạo trưởng và các vị. Tôi cũng có việc muốn để mọi người .”

      Hóa ra, thủ lĩnh quân phiệt Đồ Hắc Hổ vẫn thường đào trộm mộ rồi đem quốc bảo bán cho người nước ngoài, khiến trời đất đều nổi giận. Hiềm nỗi thời thế loạn lạc, Đồ Hắc Hổ tay nắm binh quyền, ai dám động vào . Gần đây, Đồ Hắc Hổ điều binh hoạt động tại thành Khai Phong, định đào trộm ngôi chùa cổ thời Bắc Tống bị mất tích. Ngôi chùa cổ này rất lớn, vị trí nằm tại ven sông Hoàng Hà, được gọi là Hộ Quốc đại Phật tự. Nhưng từ xưa tới nay, lụt lội quanh vùng sông Hoàng Hà diễn ra liên miên, đất lở đất bồi, lòng sông ngày dâng cao, vậy mới có câu Khai Phong là sông trời, sông còn cao hơn thành, cộng thêm mấy lần thay đổi dòng chảy của sông, nước lụt nhiều lần nhấn chìm ngôi chùa. Những năm vua Tống Nhân Tông trị vì, thành đô là Biện Lương, nhà vua cho xây ngôi chùa Đại Hộ Quốc này bên dòng sông Hoàng Hà để cầu cho dân chúng được bình an. Trong chùa thờ hai tượng Phật trăm tay nghìn mắt, to , bức tượng được làm bằng vàng khảm rất nhiều ngọc ngà châu báu, là báu vật vô giá của thời nhà Tống. Ai ngờ, sau trận đại hồng thủy vô tiền khoáng hậu, đất bên bờ sông bị lở nhấn chìm cả ngôi chùa. Thời gian trôi qua, vật đổi sao dời, triều đại thay đổi, chẳng còn ai biết được vị trí ngôi chùa bị nhấn chìm ở chỗ nào nữa.

      Thủ lĩnh quân phiệt Đồ Hắc Hổ nghe bức tượng nghìn tay nghìn mắt là báu vật vô giá liền đem quân tìm di tích ngôi chùa, mong tìm lại được bức tượng để đổi cho bọn người Tây lấy quân hỏa. Người đàn ông họ Triệu này là thương nhân giàu có, thời trai trẻ thích giao du mạo hiểm, say mê khảo cổ sưu tầm vật, thường tìm cơ hội ra nước ngoài mua lại những cổ vật bị lưu lạc. Được biết Đồ Hắc Hổ chuyên đào mộ cổ nhiều lần viết thư cho cơ quan địa phương nhưng các quan lại vùng này đều nhận tiền đút lót của Đồ Hắc Hổ nên ai cũng muốn yên thân, ai dám lên tiếng, đều thoái thác do có chứng cứ cụ thể nên giải quyết. Ông chủ Triệu có cách nào khác đành lên kế hoạch tìm ra ngôi chùa cổ trước Đồ Hắc Hổ, cất giấu tượng phật nghìn tay nghìn mắt, để rơi vào tay bọn quân phiệt hay chút nào, lỡ lưu lạc ra nước ngoài, bản thân chúng ta là con cháu Trung Hoa, sau này còn mặt mũi nào gặp liệt tổ liệt tông. Thời thế loạn lạc, phải dùng cách của bọn trộm để phòng trộm vậy, cũng là cách bần cùng bất đắc dĩ. Ngoài ra, căn cứ vào tài liệu lịch sử, ngôi chùa bị vùi sâu trong cát này còn có bí mật khác.

      Trong cỗ quan tài cất giấu súng săn, đèn pin, mũ bảo hiểm, xẻng v.v... Mang theo súng săn là để phòng khi gặp thổ phỉ, tất cả các vật dụng đều để trong quan tài. Mượn danh đưa người thân về quê mai táng, thứ nhất để tiện lại đất do quân phiệt chiếm lĩnh, tránh gây chú ý, lại chi khoản tiền lớn thuê người tên Biên Hải Long, là dân đào trộm mộ hỗ trợ, ngờ người này khứu giác tồi nhưng quá nhát gan, mới ra tay bị Dương Phương đánh cho bỏ chạy, những người còn lại ngoài ông chủ Triệu ra còn có cháu tên Đạm Đài Minh Nguyệt, người còn lại để mái tóc như chiếc nồi úp là người hầu, gia đinh nhà họ Triệu, tên Triệu Nhị Bảo, mặc dù có bản lĩnh gì, nhưng theo hầu ông nhiều năm, rất trung thành, đáng tin cậy.

      Ông chủ Triệu , nếu giúp đỡ của dân đào trộm mộ chuyên nghiệp khó hoàn thành được việc lớn, lại cần phải ra tay trước Đồ Hắc Hổ, thời gian rất gấp rút, còn kịp để tìm người mới, có ý nhờ hội Thôi lão đạo giúp cho tay, việc thành công hậu tạ.

      Thôi lão đạo vừa rồi mới thao thao bất tuyệt, nào là tấm lòng trung nghĩa, nào là hiệp sỹ hào kiệt, thế nên việc lớn vì dân vì nước này làm sao được? Lão đạo quay sang bàn bạc với Dương Phương và Mạnh Bôn, chung chỉ cần là việc làm chống lại Đồ Hắc Hổ họ đều đồng tình ủng hộ, huống hồ còn được trả tiền. Hơn nữa tìm bức tượng nghìn tay nghìn mắt có gì là to tát đâu, chỉ cần mình Dương Phương là được, Thôi lão đạo chân cẳng nhanh nhẹn, Mạnh Bôn đưa ông qua sông trước, vài bữa nữa cả hội gặp nhau tại thị trấn Cao Đài phía bắc sông Hoàng Hà.

      Ông chủ Triệu thấy Dương Phương đồng ý giúp đỡ cảm ơn rối rít, trong lòng nghĩ: “Có được giúp đỡ của người này người bằng mười người.”

      Hai nhóm người chia tay tại quán, Dương Phương dặn dò Mạnh Bôn: “Huynh đệ, cậu chăm sóc cho đạo trưởng, tôi ít hôm rồi về.”

      Thôi lão đạo cũng dặn dò: “Lục đệ! Ta thấy thiên thời được tốt, có khả năng có họa lớn đấy, mọi người dọc đường phải hết sức cẩn thận. Ngoài ra, tên Đồ Hắc Hổ rất lợi hại, nếu quyết tâm tìm tượng Phật chừng chạm mặt với mọi người, cậu phải chú ý, nhớ lời của ta thà bị đánh mặt đất, còn hơn bị chôn dưới lòng đất. được hành bốc đồng, các cụ dạy rồi ‘Bá Vương tự tử ở sông Ngô Giang, Chu Du có tài nhưng mệnh đoản, bao nhiêu hùng hào kiệt trước khi xuất trận dũng mãnh nhưng cuối cùng cũng thiệt mạng vì bốc đồng’, khi gặp phải nguy hiểm, ba mươi sáu kế kế chuồn là thượng sách, với bản lĩnh của cậu, thoát thân phải là khó.”

                  6


      Dương Phương : “Đạo trưởng cứ yên tâm, tôi ghi nhớ cả rồi.” Trong lòng lại nghĩ: “Đồ Hắc Hổ mặc dù ghê gớm nhưng đánh tay đôi với mình mình cũng chẳng sợ .”

      Tại quán ăn, Thôi lão đạo bói cho ông chủ Triệu chữ “Lộ”, cho thấy chuyến này thuận lợi. Lão ta vốn bói mười quẻ có tới chín quẻ sai, chỉ toàn áp dụng mấy trò tiểu xảo giang hồ. Nhưng lăn lộn trong giang hồ lâu năm, lão cũng có khả năng nhìn việc nhìn người rất chuẩn, cảm thấy có việc lớn sắp xảy ra khiến trong lòng bất an, cứ dặn dặn lại Dương Phương phải hết sức cẩn thận, sau đó mới cùng Mạnh Bôn qua sông về hướng Bắc.

      đến chuyện Thôi lão đạo qua sông thế nào. Còn bốn người bọn Dương Phương, men theo bờ sông theo hướng đông, thời đó loạn lạc, ra ngoài dám quá lộ liễu, mọi người phải cải trang thành người dân quê, kéo theo cỗ quan tài, cũng chẳng có ngựa, vì nếu có ngựa bị quân thổ phỉ giết người cướp của chú ý tới.

      Ông chủ Triệu rất quan tâm tới Dương Phương, hỏi: “Nghe đạo trưởng gọi cậu là Dương Phương? Đó là tên của cậu?” Dương Phương trả lời: “Tôi chỉ là đứa trẻ mồ côi, chẳng biết bố mẹ ở đâu, làm gì có tên . Năm đó, sư phụ tôi mua tôi từ nhà họ Phương ở huyện Dương nên đặt tên cho tôi là Dương Phương”. Ông chủ Triệu : “Hóa ra là vậy, đúng là hùng cần hỏi xuất thân. Thân thế của Dương huynh đệ có phần giống đứa cháu của tôi”. Dương Phương hỏi lại: “Ông chủ Triệu vậy là sao?” Đạm Đài Minh Nguyệt nghe nhắc tới tên mình vội lên tiếng: “Chú! Chú đừng với ta”. Ông chủ Triệu trả lời: “ sao! Dương huynh đệ phải là người ngoài”, rồi bắt đầu kể: “Đứa cháu này của tôi cũng là đứa bé tội nghiệp có cha mẹ”. Dương Phương hỏi: “Đại tiểu thư cũng có cha mẹ từ ?” Ông chủ Triệu gật đầu: “Đúng thế! Chuyện đầu đuôi thế nào đến nó cũng . Hôm nay nhân tiện tôi kể cho hai đứa nghe luôn. Chuyện là hai mươi năm trước, thời vẫn còn triều đại nhà Thanh ấy.”

      Cuối thời Thanh, ông chủ Triệu vẫn chưa giàu có như bây giờ, để kiếm tiền học, mạo hiểm theo người vượt biển xuống Nam Hải đầu cơ, ngờ dọc đường gặp bão suýt chút nữa chìm tàu, cột buồm bị gió đánh đổ, chỉ còn cách lênh đênh biển, cho đến khi lương thực và nước cạn, sắp bị chết đói gặp bọn hải tặc, nhìn thấy bộ quần áo nhà Minh, bọn họ liền kéo thuyền vào hòn đảo hẻo lánh, đảo cây cối um tùm, có chiếc hang rất lớn, bên trong nhiều nhà cửa, trông giống như thành trì, ông chủ Triệu bị bọn hải tặc đưa vào phía sâu trong động cùng những tù binh khác. Chỉ thấy bên trong thờ bức tượng đất, ăn mặc trang phục cổ, đầu đội mũ giáp, đây chính là bức tượng tổ tiên của bọn hải tặc. Trong động, vàng bạc châu báu chất cao như núi, thủ lĩnh bọn hải tặc là người khảng khái, đối xử tồi với ông chủ Triệu, cho ăn uống đàng hoàng, hỏi thăm ông về tình hình ở nhà, còn kết nghĩa em với ông. đêm, thủ lĩnh hải tặc mời ông tới gian nhà đá cùng uống rượu hàn huyên, kể lại lai lịch của chiếc hang động mà quân hải tặc cư trú này. Đó là trước khi Bát kỳ thiết giáp của quân Mãn Thanh tràn vào thành, có đội quân bại trận của nhà Minh, dưới dự thống lĩnh của vị tổng quan tháo chạy ra hoang đảo ngoài biển làm hải tặc. Vị tổng quan đó biết xem phong thủy, nhìn thấy địa thế tuyệt vời của hòn đảo này có thể dùng để chặn cướp tàu của nhà Thanh. Nhưng phụ nữ được phép ở lại đảo quá năm, nếu phá hỏng phong thủy của hòn đảo này, khi phong thủy bị phá hỏng số phận hòn đảo cũng coi như chấm hết. Vì vậy lập ra quy định, những người phụ nữ cướp được về đảo, phải giết hết trong vòng năm, nếu sinh ra con cũng phải giết hết, được để sót, tránh vị trí hòn đảo bị tiết lộ ra ngoài, quân triều đình tới tiêu diệt đảo. Hai trăm năm sau đó, những người sinh sống đảo ai dám làm trái lời dạy của tổ tiên, truyền tới đời thống lĩnh hải tặc này vẫn vậy. Năm ngoái, bọn hải tặc cướp về được thiếu nữ có dung mạo tuyệt trần, sau đó có mang với thủ lĩnh, hai người nhau thực , thủ lĩnh hải tặc nỡ giết người con đó, năm sau sinh được , nếu để bị phát , cả hai mẹ con bị giết. May mắn lúc đó tàu ông chủ Triệu bị bắt vào đảo. Thấy người này tác phong khác người, hẳn chịu khuất phục người khác, liền kết nghĩa em, còn tặng nhiều vàng bạc, sửa sang lại con tàu của ông chủ Triệu, nhờ ông đem vợ con chạy trốn khỏi đảo. ngờ trong lúc chạy trốn lại bị quân hải tặc phát . Đám người này và nhóm trung thành với thủ lĩnh hải tặc phát sinh mâu thuẫn kịch liệt, trận đấu súng nổi lên, hầu như cả hai bên đều chết hết, thành trì trong động cũng bị cháy sạch, những người sống sót sau trận đấu súng cũng bị đám cháy thiêu rụi, người phụ nữ nhảy xuống biển tự tử theo chồng, chỉ còn lại đứa bé tròn hai tháng tuổi mà ông chủ Triệu bế tay. Ông ngồi thuyền chạy thoát khỏi đảo, từ đó giàu có, coi đứa bé như con đẻ của mình, chỉ biết thủ lĩnh hải tặc họ Đạm Đài, trong đêm ông bỏ chạy trăng sáng vằng vặc nên đặt tên cho đứa bé là Minh Nguyệt. Có thể , tính mệnh và của cải của ông đều do thủ lĩnh hải tặc ban tặng, nếu có đứa bé này ông cũng thể sống để rời khỏi hòn đảo đó. Đạm Đài Minh Nguyệt từ bé thích cưỡi ngựa săn bắn, có thể là di truyền từ bố. Ông chủ Triệu cũng có cách nào mà quản được, nuông chiều hết mực, đòi trăng trời chẳng dám hái sao, chỉ còn cách mời thầy về dạy bắn cung, cưỡi ngựa, múa kiếm. Nhưng lần này là đối đầu với thủ lĩnh quân phiệt Đồ Hắc Hổ, quá mạo hiểm. Ông với Dương Phương, nếu chuyến này ông có gì bất trắc, nhờ Dương Phương trông nom Đạm Đài Minh Nguyệt hộ ông. Vì ông linh cảm thấy điều may, lại thể giương mắt lên nhìn quốc bảo bị đánh cắp để đổi lấy vũ khí quân đội, đành phải đem thân liều mình vào chốn nguy hiểm.

      Đạm Đài Minh Nguyệt : “Chú đừng mấy lời may mắn đó, cháu cần ai phải chăm lo, chú cũng sao cả.”

      Dương Phương vốn nghĩ chỉ là vớt bức tượng nghìn tay nghìn mắt dưới lòng sông lên thôi, chẳng có gì to tát, có gì mà mạo hiểm? Vì vậy cũng khuyên ông chủ Triệu nên quá lo lắng, Đồ Hắc Hổ chỉ là quân phiệt, mộ tổ của Dương Phương tôi cũng đào rồi, còn làm gì được tôi?

      Ông chủ Triệu : “Dương huynh đệ tài năng xuất chúng, nhưng nên vì hùng phải khiêm nhường mà cam tâm chôn vùi tài năng của mình. Với kỹ năng này của cậu, sao lại chỉ dùng vào việc đào trộm mộ quân phiệt được, sao cậu nghĩ tới chuyện xây dựng nghiệp lớn?”

      Dọc đường, ông chủ Triệu cũng tâm rất nhiều, nhưng Dương Phương nghĩ như vậy: “Nếu để cho ông chủ Triệu này ăn bánh ngô hấp với rau muối vài tháng ông ta cũng chẳng còn tâm trí đâu mà lo việc dân việc nước nữa.”

      Chiều ngày hôm đó, họ tới bến phà bên bờ sông Hoàng Hà, đây là khúc quanh của dòng sông, chỉ thấy dòng nước chảy xiết, nước cuộn ầm ầm. Phía nam bờ sông là bên đất bồi, khoảng rộng lớn, có mấy gian nhà đất nhấp nhô, bên cắm ngọn cờ cũ rách, viết chữ “Quán trọ Cổ Độ”, gió mạnh thổi cờ bay phần phật, phía xa xa có mấy con chó hoang gặm xương người, vùng hoang vắng, nhìn ra xa nữa chỉ là những điểm đen li ti.

                  7


      Ông chủ Triệu nhìn bản sơ đồ hồi lâu, với ba người còn lại, theo kinh nghiệm thu thập cổ vật và khảo cổ của ông, ngôi chùa cổ thời Bắc Tống nằm ở vị trí này, chính điện của ngôi chùa bị nhấn chìm trong đám bùn đất của sông Hoàng Hà trong những trận đại lụt. Đồ Hắc Hổ cho rằng ngôi chùa cổ ở vị trí gần thành Khai Phong, nên đội quân phiệt chỉ đào bới xung quanh thành. Cách đó rất xa, có quán trọ hẻo lánh, cả nhóm tạm thời dừng chân ở quán trọ rồi tìm kiếm kỹ càng sau, chắc chắn có thu hoạch, đừng để người khác phát giác.

      Dương Phương : “Ông chủ Triệu biết đấy thôi, nghe quán trọ bên bờ sông là hắc điếm, chuyên làm bánh bao nhân thịt người, ông chở quan tài đưa người chết về quê mai táng chỉ là để che mắt quân phiệt, nhưng thể nào qua mắt được bọn giang hồ kia, nếu vào ở trọ chắc chắn bị bỏ thuốc mê, giết thịt làm nhân bánh, đầu, chân tay và xương bị vứt xuống sông Hoàng Hà.”

      Ba người nghe vậy đều cảm thấy buồn nôn, bất giác rùng mình. Thời thế loạn lạc, chuyện bán bánh bao nhân thịt người chưa chắc chỉ là lời đồn.

      Nhị Bảo thốt lên: “May có Lục ca nhắc nhở, nếu mình trọ lại ở đây chắc ăn phải bánh bao nhân thịt người mất.”

      Dương Phương : “Huynh đệ, tụi mình ăn phải mấy chiếc bánh bao nhân thịt người cũng sao, chứ trông cậu toàn thân đều là thịt ba chỉ thế này, là loại thịt cao cấp làm nhân bánh bao đấy, chủ tiệm nỡ tha cho cậu sao, cho liều thuốc mê, lột hết quần áo, trói lên bàn mổ...”

      Nhị Bảo kinh hoàng: “Lục ca à, nghe hắc điếm cũng là hảo hán lục lâm, họ cũng phải phân biệt tốt xấu chứ, gặp người là giết hết sao?”

      Đạm Đài Minh Nguyệt : “Nhị Bảo đừng tin ta xằng, ta ở quán trọ này đâu mà biết, dựa vào đâu mà người ta là quán bánh bao nhân thịt người?”

      Ông chủ Triệu : “ thể đề phòng, Dương huynh đệ sai. Chúng ta kéo theo cỗ quan tài đường còn lý giải được, nếu ở trọ dài ngày trong quán nhất định gây chú ý. Dương huynh đệ, theo ý cậu chúng ta nên làm gì?”

      Dương Phương : “Theo quy tắc giang hồ, đành phải trả thêm ít tiền cho chủ tiệm, tình, bảo họ đừng quản việc người khác.”

      Bốn người bàn bạc xong xuôi, đánh xe tiến về phía quán trọ. Tới gần mới biết, trong đó bóng người, bụi bám dày đặc. Xem ra, từ trận lụt trước đây mọi người tháo chạy hết, chỉ còn lại mấy gian phòng ẩm thấp, thông thống gió, nhưng như vậy cũng bớt được rất nhiều phiền phức. Triệu Nhị Bảo còn lo bị người ta giết thịt làm nhân bánh nữa, cậu ta vui vẻ buộc lừa bên ngoài cửa tiệm, rồi lại bận rộn dọn dẹp phòng trọ. Trời cũng vừa sập tối, gió mạnh dần lên, tiếng gió rít nghe như tiếng sói tru ma khóc, chân trời màu vàng ệch.

      Có quán trọ hoang làm chốn nghỉ chân, mọi người cũng an tâm phần nào, nếu nhà cửa mà gặp phải trận cuồng phong này còn cách nào để qua đêm cả.

      Mọi người chuyển cỗ quan tài nặng trịch đó vào bên trong, ăn qua loa vài miếng lương khô lót dạ. Nhị bảo xuống bếp đun nước, ông chủ Triệu chuyện với Dương Phương và Đạm Đài Minh Nguyệt: “Chúng ta phải ra tay trước Đồ Hắc Hổ, thời gian đợi chúng ta, đêm nay nghỉ ngơi cho tốt, sáng sớm mai là bắt tay vào tìm chùa Đại Hộ Quốc ngay.”

      Dương Phương mở quan tài ra xem xét, bên trong có bốn khẩu súng săn hai nòng và thuốc nổ. Giờ nơi đây hoang vu bóng người, đêm đến ngoài thú hoang ra chỉ sợ gặp thổ phỉ nên vẫn cần có súng để phòng thân. Ngoài ra còn có đèn pin, xẻng đào đất, đến đồ săn và lương khô v.v… đều chuẩn bị đầy đủ.

      Ông chủ Triệu giở cuốn sổ vẫn luôn mang theo bên người, trong đó có bản sơ đồ vẽ bố cục Hộ quốc đại Phật tự. Chỉ cần tìm thấy Phật đường hay gian điện nào đó trong chùa, rồi đối chiếu với bản đồ là có thể tìm ra gian chính điện. Tượng phật nằm và bức tượng nghìn tay nghìn mắt đều trong gian chính điện. Ông phân tích, phía sau quán trọ có những mô đất cao hơn những mô đất khác, nếu nhầm đó chính là Phật pháp của ngôi chùa, nếu vậy phía bên dưới nền đất của quán trọ này chính là gian chính điện.

      Dương Phương : “Chuyện này chẳng phải dễ như trở bàn tay sao, chỉ cần tìm đúng vị trí, ngày mai cứ đào từ đây xuống, nhiều lắm cũng hai ngày là xong.”

      Ông chủ Triệu : “Chuyện đơn giản như vậy. Có điều mà tôi phải đợi đến đây mới với mọi người được. Thời Bắc Tống khi xây dựng ngôi chùa bên dòng sông, có truyền thuyết rất đáng sợ, mọi người có tin rằng... bức tượng Phật nghìn tay nghìn mắt là để trấn áp thủy quái dưới sông Hoàng Hà ?”

                  8


      Dương Phương nghe ra đằng sau chuyện này còn có việc khác, liền hỏi: “Ông chủ Triệu tượng Phật của chùa Đại Hộ Quốc trấn... thủy quái? Chuyện là thế nào?”

      Ông chủ Triệu : “Đó là lời đồn từ rất nhiều năm trước, tôi chỉ lo nếu di chuyển bức tượng Phật dẫn dến tai nạn thể lường trước được.”

      Đạm Đài Minh Nguyệt : “Chú cần lo lắng, những ghi chép dã sử đó làm sao mà được.”

      Ông chủ Triệu cũng mong đó chỉ là do ông quá lo lắng, chung chờ tới khi nhìn thấy bức tượng phật nghìn tay nghìn mắt đó biết việc là thế nào.

      Dương Phương hỏi: “Lấy được tượng phật rồi để trong cỗ quan tài này chuyển sao?”

      Ông chủ Triệu : “Đúng vậy, kích thước bức tượng đó cũng tương đương với người , để trong quan tài chở qua sông, tìm nơi nào bọn quân phiệt thể tìm được rồi chôn. Thiên hạ thể cứ loạn lạc mãi được, Đồ Hắc Hổ tự cho mình dũng mãnh, giết người ghê tay, sau này thể nào lọt qua lưới trời, sớm muộn gì cũng bị quả báo. Chờ thời thế hết loạn lạc, chúng ta đào bức tượng lên trả nó về cho nhân dân.”

      Dương Phương vẫn cảm thấy chuyện này có gì đó rất lạ, định truy hỏi thêm việc bức tượng phật đó trấn áp quái gì, nhưng do ông chủ Triệu tuổi cao, liên tục hơn mười ngày thấm mệt, Triệu Nhị Bảo dọn dẹp xong gian phòng trong mời ông vào nghỉ ngơi, Dương Phương cũng hỏi thêm nữa.

      Ngôi quán trọ bỏ hoang bên bến phà cạnh dòng sông có khoảng bảy tám phòng trọ, đều có sẵn giường, quét lớp bụi bên là có thể sử dụng. Ông chủ Triệu nghỉ tại gian phòng ngoài cùng phía tây, lúc này cũng muộn, ba người còn lại ngồi ở đại sảnh, thắp ngọn đèn dầu, sắp xếp lại đám dụng cụ trong quan tài tiện cho ngày mai sử dụng. Quán trọ hoang tàn, tứ bề lộng gió, ngọn đèn dầu lúc tỏ lúc mờ, bên ngoài vọng lại tiếng kêu “ngao ngao” nghe rất lạ, cũng là tiếng sói hoang hay tiếng gió thổi.

      Đạm Đài Minh Nguyệt nghĩ tới chuyện Dương Phương kể về bánh bao nhân thịt người, ban ngày sợ, nhưng giờ trời tối đen, khỏi cảm thấy rùng rợn, lên tiếng trách Dương Phương: “Dương Lục, tôi thấy trong quán trọ này làm gì có thứ gì giống như bàn mổ đâu, câu chuyện của chỉ là bịa thôi.”

      Dương Phương nghĩ thầm: “Ta hành tẩu giang hồ có ai dám gọi ta tiếng Dương Lục ca, riêng đại tiểu thư này coi mình ra gì, gọi thẳng mình là Dương Lục, mình dọa được ta đêm nay gặp ác mộng chẳng phải hổ danh hùng hảo hán sao...”

      Dương Phương nghĩ vậy rồi với Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo rằng, ngờ quán trọ bên bờ sông bị bỏ hoang từ lâu, nhưng chuyện bánh bao nhân thịt người là có , sư phụ ta đích thân gặp phải chuyện này. Năm đó, sư phụ ta chuyên tới vùng này buôn bán, mình tới nghỉ trọ ở quán này, chỉ thấy xung quanh hoang vắng, chủ quán là quả phụ, có hai thanh niên to khỏe làm phụ tá, bán cho sư phụ ta hai chiếc bánh bao còn nóng hổi. Ông thấy nhân chiếc bánh bao toàn mỡ, vừa thơm vừa ngon...

      Đạm Đài Minh Nguyệt nghe tới đó cau mày còn Nhị Bảo lấy tay bịt miệng kêu lên: “Lục ca, sư phụ huynh ăn bánh bao thịt người à?”

      Dương Phương kể tiếp rằng phải vậy, dựa vào nhãn lực của sư phụ ta, nhìn vào nhân bánh bao ông phát ra giống như thịt người, là phần thịt gần mông và đùi, nếu sao có nhiều mỡ như vậy? Do nghi ngờ nên cố nhịn đói ăn. Tới nửa đêm, khi ông nằm ngủ giường nghe thấy tiếng động dưới gầm giường, như có người kéo giường của ông cụ, nghe cọt kẹt cọt kẹt, thanh đó vang lên giữa đêm khuya khiến người ta ghê rợn, dựng cả tóc gáy.

      Dương Phương khéo kể chuyện, thêm nữa bên ngoài gió rít nghe như tiếng ma hờn quỷ khóc, khiến Nhị bảo sợ run người nhưng vẫn muốn nghe tiếp, cứ liên tục hỏi sau đó rồi sao? lẽ bọn người hắc điếm trốn dưới gầm giường, định giết sư phụ huynh để làm nhân bánh bao?

      Dương Phương phải, nếu người quán trọ trốn dưới gầm giường còn kéo giường làm gì? Sư phụ ta cũng băn khoăn hiểu vì sao, nghe gõ vài cái rồi im lặng, giờ lại thấy có tiếng cào gõ, ông liền dậy thắp đèn xem có gì dưới gầm giường. Ôi mẹ ơi, là xác người mất đầu, chắc là nạn nhân trong ngày bị giết, giấu trong gầm giường chưa kịp dọn dẹp. Thịt đùi bị xẻo làm nhân bánh, biết là do thi biến hay sao mà xác chết đầu này cứ lấy tay gõ vào thang giường.

      Đạm Đài Minh Nguyệt biết đây chỉ là Dương Phương bịa chuyện để dọa người nhưng nơi hoang vu lạnh lẽo này nghe kể chuyện ma cũng khỏi sợ hãi, trong lòng thấy bất an vô cùng.

      Dương Phương cười thầm trong bụng, mọi người tranh thủ nghỉ ngơi, ngày mai còn phải bận rộn. xong vào phòng mình đóng cửa lại, để chiếc roi đồng phía dưới gối, nghĩ ngợi gì, trong đầu trống rỗng, lúc sau chìm vào giấc ngủ. Ngoài trời bỗng nổi luồng phong, lạnh đến thấu xương, người nổi hết da gà. choàng tỉnh dậy, cửa phòng bị gió thổi bật ra, có người toàn thân máu me bê bết từ bên ngoài bước vào.

                  9


      Dương Phương thất kinh, giật mình tỉnh dậy, thấy toàn thân lạnh toát, mồ hôi nhễ nhại, nhìn lại thấy cửa phòng vẫn đóng, đêm khuya, trong phòng có ai cả, chợt nghĩ bụng: “Tự mình nghĩ chuyện bánh bao nhân thịt người định bụng dọa biết trời cao đất dày kia, nào ngờ lại dọa chính mình, nửa đêm nửa hôm nằm mơ thấy ác mộng này, chẳng có đầu đuôi gì.”

      Sư phụ của Dương Phương giờ tung tích, chẳng truyền lại bùa mô kim cho ta nên ta hành chẳng theo quy tắc của mộc kim hiệu úy [2] , hơn nữa ta lại học được nhiều kỹ nghệ giang hồ, gan dạ ai bằng, nhưng giờ nằm mơ thấy gì ta cũng , xem xét lại lần nữa trong phòng có gì khả nghi lại lên giường nằm, vừa nhắm mắt, trời lại nổi gió , cửa phòng bật mở, người mình đầy máu me, từng bước tiến gần lại giường ta, Dương Phương hét lên tiếng rồi tỉnh dậy, nhìn quanh phòng vẫn thấy gì, mồ hôi toát ra ướt đẫm áo, tim đập thình thịch, tại sao lại nằm mơ hai lần giấc mơ giống hệt nhau?

      [2] Mộc Kim Hiệu Úy: là phái chuyên đào trộm mộ của thời xưa của Trung Quốc. Theo sử sách ghi chép, Mộc Kim Hiệu Úy bắt nguồn từ cuối thời Đông Hán, Tam Quốc. Lúc đó, thủ lĩnh quân Ngụy là Tào Tháo vì để bổ sung quân lương bị thiếu hụt thiết lập ra các quân hàm như Phát Trung Lương Tướng, Mộc Kim Hiệu Úy v.v... chuyên đào trộm mộ, bổ sung cho quân đội. Phái đào mộ Mộc Kim Hiệu Úy chủ yếu dựa vào xem phong thủy, phân biệt thời tiết, dựa vào “kim dịch” làm tôn chỉ để xác định huyệt mộ của mộ cổ.

      ta nghĩ bụng: “Gặp ma rồi, lẽ quán trọ này có ma? Nhưng nếu lúc này mà gọi mọi người dậy vị đại tiểu thư kia và Nhị bảo cười mình mất, sau này mình còn mặt mũi nào mà gặp mọi người?”

      Dương Phương nhảy ra khỏi giường, lại xem xét mọi ngóc ngách trong phòng, thấy gì khác lạ, nghĩ bụng: “Nghĩ nhiều sinh ra ma quỷ, mình thèm để ý đến nó xem thế nào.” Nghĩ rồi, ta nằm xuống giường ngủ, vừa nhắm mắt gió lại nổi lên, cánh cửa phòng lần thứ ba bị bật mở, người đàn ông toàn thân máu bê bết đó lại bước vào từ bên ngoài, tóc Dương Phương dựng ngược hết cả lên, nhưng ta đúng là gan to bằng trời, cố gắng động đậy, nằm im theo dõi người đó tiến lại gần mình, thấy người đó như muốn gì với mình, hình như đó là từ “Mau chạy !”

      Dương Phương thất kinh, nhìn lại trong phòng trở lại như bình thường, toàn thân lạnh toát. Người giang hồ có ai tin điềm báo, trong lòng nghĩ: “Giấc mơ đó sinh động như , chỉ e đây là điềm báo lành, hơn nữa mình nằm mơ ba lần đều chung nội dung, trong phòng này chắc có ma, con ma đó là ai? Tại sao muốn nhắn mình hãy chạy thoát? lẽ xảy ra chuyện lớn?”

      Trong lòng nghĩ ngợi như vậy trời hửng sáng, nhóm Đạm Đài Minh Nguyệt dậy thay đồ.

      Đạm Đài Minh Nguyệt thấy Dương Phương sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần hoảng hốt, như kiểu cả đêm ngủ được cười trêu: “Dương huynh, sao sắc mặt khó coi thế? lẽ đêm qua kể chuyện ma lừa bọn tôi cuối cùng thành dọa chính mình?”

      Dương Phương vốn định đem chuyện đêm qua nằm mơ kể lại cho ba người kia nghe, chỉ e có chuyện liên quan tới tính mạng, nên mau chóng rời khỏi nơi đây. Nhưng vừa nghe Đạm Đài Minh Nguyệt vậy, dám để mất mặt đành : “Cứ nghĩ tới dân tình khổ cực, cả đêm suy nghĩ ngủ được.”

      Ông chủ Triệu : “ đáng quý, Dương huynh đệ người trong giang hồ mà có chí cả, lúc ngủ cũng quên lo lắng cho bách tính. Thời thế loạn lạc, cho dù là tàn binh bại tốt cũng nên cống hiến cho quốc gia, lần này chúng ta tìm tượng phật nghìn tay nghìn mắt, được để rơi vào tay Đồ Hắc Hổ, chính là bảo vệ quốc bảo.”

      Dương Phương đồng tình: “Ông chủ Triệu đúng lắm. Chúng ta hoàn thành việc này chính là góp thêm công đức tòa Phật tháp.”

      Ông chủ Triệu : “Tốt! Vậy lát nữa chúng ta ra phía sau quán trọ bắt đầu nào, xem bên dưới có Phật tháp .”

      chuyện hồi như vậy, Dương Phương cũng có cơ hội kể lại việc gặp ma đêm qua. thấy nhóm ông chủ Triệu thay trang phục săn, từ đầu đến chân đều là đồ quốc, trong lòng nghĩ, kiểu Tây à, nhưng đúng là mặc đồ này vào làm việc dễ dàng hơn. Bên ngoài trời nổi gió to, cát bụi bay mù mịt, bốn người trong gió cát tới phía sau quán trọ bắt tay vào đào. Dưới lớp đất cát là lớp đất khô cứng, tiếp tục đào thêm mấy tấc nữa, bên dưới lộ ra lớp gạch, quả nhiên là có Phật tháp. Ông chủ Triệu mừng rỡ, hai mắt sáng ngời, ngôi chùa có tượng Phật nghìn tay nghìn mắt thời Bắc Tống đây rồi, chính điện của ngôi chùa ngay bên dưới quán trọ bên bờ sông Hoàng Hà, ông bỏ ra bao công sức nhiều năm nay để tìm, giờ phút này tìm được vẫn chưa dám tin là .

      Dương Phương hiểu bức tượng kia có sức quyến rũ như thế nào khiến ông chủ Triệu mê mẩn đến như vậy, cũng muốn nhanh chóng được nhìn thấy. ta dắt theo Nhị Bảo vào bên trong bức tường phía sau quán trọ tiếp tục đào, đào tới giữa trưa được hố to, phía dưới lớp đất cát là lớp ngói thẳng hàng, cho thấy mặc dù Phật điện bị bùn đất lấp đầy nhưng sau khi đất cát khô tạo thành lớp vỏ bọc cứng, sau bảy tám trăm năm gian điện thờ vẫn giữ được nguyên vẹn. Dỡ bỏ lớp ngói bên , phía dưới đen ngòm, bên trong Phật điện cột kèo mục nát, biết sập xuống lúc nào. Bốn người họ quay vào trong chuẩn bị dây thừng, đèn pin, còn mang theo mấy bó đuốc, đợi khí ẩm mốc trong Phật điện tan hết mới dám xuống.

      Lúc này, gió thổi mạnh hơn, từng trận nổi lên ù ù, quán trọ bỏ hoang nhiều năm được sửa chữa, mái nhà chỉ là những tấm gỗ, bên dưới lót lớp cỏ khô, giờ bị những trận gió thổi bay tơi tả, bốn người nép sát chân tường đất, vừa tránh gió vừa ăn tạm lương khô, nhưng gió thổi bay cát bụi đầy mồm, thể nào nuốt nổi.

      Dương Phương tìm cơ hội hỏi ông chủ Triệu: “Tượng Phật nghìn tay nghìn mắt trấn áp vật gì bên dưới vậy? Có phải là quái sông Hoàng Hà ?”

      Ông chủ Triệu : “ chỉ đơn thuần là lời đồn, Hoàng Hà năm nào chẳng lũ lụt, nhiều năm trước...”

      Dương Phương đưa tay lên ra hiệu mọi người im lặng: “Từ từ, tôi nghe thấy như có tiếng người lại phía chúng ta, phải tiếng gió đâu.”

      Quán trọ bên bờ sông vốn hoang vu bóng người, tầm nhìn bị cản trở, vùng trước mắt toàn là cỏ khô, lúc này gió thổi mạnh cát bay mù mịt, Dương Phương phóng tầm mắt ra xa, chỉ nhìn cái mà thở hắt ra, giấc mơ gặp ma đêm qua thành thực.

      Ông chủ Triệu phát tình hình ổn, chỉ thấy trong lớp bụi mờ xuất dải màu đen, khi khoảng cách gần hơn mới biết đó là đội quân phiệt, phía trước toàn là kỵ binh, tiếng vó ngựa ngày càng gần, ầm ầm như thác đổ, bụi cát cuộn bay mù mịt.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 10: Bức tượng Phật thần bí


                  1


      Ông chủ Triệu thất kinh, vội vàng lùi lại phía sau, trong lòng nghĩ: “Đồ Hắc Hổ cho rằng chùa - Hộ Quốc nằm xung quanh khu vực thành Khai Phong, vẫn đào bới ở khu vực đó, sao lại có thông tin ở đây mà điều quân tới?”

      Nơi đây là khúc quanh của dòng sông, bọn quân phiệt từ phía Nam tới, có nghĩa vây kín khu vực này. Những năm đó quân phiệt chẳng khác gì thổ phỉ, coi mạng người như cỏ rác, rơi vào tay bọn chúng đừng nghĩ còn đường sống.

      Bốn người vội cầm lấy súng, đứng nép sau bức tường ngắm chuẩn vào đoàn quân ầm ầm kéo đến, quyết tâm phen sống mái, nếu có thể bám trụ tới đêm còn cơ hội thoát thân. Có điều bốn người có cách nào chống chọi lại với cả đội quân, nhưng họ cũng cam tâm buông tay chịu chết, họ chuẩn bị sẵn tâm lý chiến đấu trong tư thế của mãnh thú bị bao vây.

      Đội quân phiệt hùng hổ bỗng dừng lại phía ngoài tầm đạn bắn, Dương Phương tinh mắt nhận ngay ra tên đầu là Đồ Hắc Hổ, hiềm nỗi khoảng cách quá xa, súng săn thể bắn tới. Bỗng thấy có người phi ngựa tiến lên phía trước, tay cầm súng, đeo tay nải bên người cồm cộm là đựng thứ gì, xem ra người này có gì đó muốn , nên để cho tiến gần lên, đợi khi nhìn là ai cả bốn người đều kinh ngạc.

      Người cưỡi ngựa tới phải ai khác, chính là tên trộm mộ Biên Hải Long chạy trốn ở quán ăn hôm trước, Biên Hải Long bị Đồ Hắc Hổ ép ra phía Dương Phương, sợ bị hội Dương Phương giết chết nên khi tiến gần tới chỗ tường đất liền chắp tay chào rồi gỡ tay nải xuống, cố gắng ra vẻ bình tĩnh : “Hai nước giao tranh giết sứ giả, chúng ta trong nghề cũng có quy định đó, Biên đệ tôi thay mặt thống đốc đại nhân tới chuyển lời.”

      Ông chủ Triệu thấy Biên Hải Long là thuộc hạ của Đồ Hắc Hổ trách mình nhìn nhầm người, ông cố nén cơn tức giận, quát: “Mày cút , tao có gì để với bọn quân phiệt cả.”

      Biên Hải Long khuyên ông chủ Triệu nên động vào thống đốc đại nhân, nghe hết . Đồ Hắc Hổ hùng hổ đào bới khắp nơi để tìm tượng Phật nghìn tay nghìn mắt thời Bắc Tống, nhưng có tiến triển. Nghe tin ông chủ Triệu biết vị trí ngôi chùa cổ thời Bắc Tống, sai thuộc hạ là Biên Hải Long dò hỏi, ông chủ Triệu biết đó là kế của Đồ Hắc Hổ, mời Biên Hải Long giúp đỡ, cũng may ông đề phòng, chưa vị trí ngôi chùa Đại Hộ Quốc ở đâu. Dọc đường gặp hội Thôi lão đạo vừa đào mộ tổ nhà Đồ Hắc Hổ về, Dương Phương ra tay khiến hoảng hồn bỏ chạy nhưng bỏ hẳn mà vẫn ngầm theo dõi mọi người, thấy nhóm Thôi lão đạo tách ra người cùng ông chủ Triệu, xem ra là cùng hội với nhau liền quay về báo cáo thủ lĩnh quân phiệt. Thôi lão đạo vừa qua sông bị quân lính xông ra bắt, Mạnh Bôn bị bắn chết ngay tại chỗ, Thôi lão đạo rơi xuống sông biết sống chết ra sao.

      Thực ra, Thôi lão đạo rơi xuống sông chết, lão vẫn sống tới khi đất nước hoàn toàn giải phóng, nhưng đó là chuyện về sau, tạm thời nhắc tới. Thảo đầu thái tuế Mạnh Bôn đúng là chết , tay nải vai Mạnh Bôn bị quân lính gỡ xuống trình lên cho Đồ Hắc Hổ. Đồ Hắc Hổ mở ra xem, ngay lập tức thổ huyết, trong tay nải đó là bảo bối trong mộ tổ nhà ta. chưa xem trong quan tài có gì nhưng nhận ra hai chiếc chén ngọc, biết ngay là mộ tổ nhà mình bị đào trộm, nổi giận lôi đình, nhưng bức tượng nghìn tay nghìn mắt chỉ có ông chủ Triệu biết nên đành án binh bất động theo dõi hành tung của ông chủ Triệu. Thấy mấy người họ dừng lại ở quán trọ bên bờ sông và bắt đầu đào bới, nghĩ chắc đây chính là di chỉ của chùa Đại Hộ Quốc liền đem binh bao vây, lệnh cho Biên Hải Long làm thuyết khách khuyên hội ông chủ Triệu đầu hàng, chỉ cần ra ai là người đào trộm mộ tổ nhà thống đốc tha tội chết cho bọn họ.

      Ông chủ Triệu tức tím mặt, chỉ vào mặt Biên Hải Long : “Mày cút về với thằng cầm đầu quân phiệt đừng có nằm mơ.”

      Dương Phương nghe Biên Hải Long kể Thôi lão đạo rơi xuống sông, Mạnh Bôn chết chưa tin hẳn, thấy tay nải Biên Hải Long đeo người có vết máu liền giật lấy mở ra xem, chính là đầu của Mạnh Bôn, hai mắt vẫn trợn trừng chưa nhắm lại, chết rất thảm. Dương Phương ôm lấy đầu Mạnh Bôn, nhớ lại giấc mơ tối qua, biết có phải mình tự liên tưởng hay là Mạnh Bôn sau khi chết về báo mộng cho mình, đau lòng đến đứt gan đứt ruột, hai mắt trợn trừng như sắp lồi ra ngoài.

      Biên Hải Long thấy nét mặt Dương Phương khác thường, nếu ra tay bất ngờ mình thể chống chọi lại được, vội : “Các vị, các cụ rồi, dù sao sống vẫn hơn chết, các vị cứ nghe lời khuyên của tôi...”

      Mới tới đó, chiếc roi đồng của Dương Phương vung lên, đầu Biên Hải Long bị đánh tụt vào trong lồng ngực, thi thể đổ ập xuống mặt đất, Dương Phương nhặt lên vứt ra bên ngoài bức tường đất.

      Ông chủ Triệu tức giận : “Chết như vậy quá là nhàng cho tên cẩu tặc này.”

      Dương Phương cố nhịn nỗi đau trong lòng, gói cẩn thận đầu của Mạnh Bôn vác lên vai, trong lòng nghĩ: “Phải tìm cơ hội bẻ đầu tên Đồ Hắc Hổ xuống để rửa hận cho Thôi lão đạo và Mạnh Bôn.”

      Đội quân phiệt từ xa nhìn thấy thi thể Biên Hải Long lập tức nổ súng, đồng thời tiến lên. Bốn người nấp sau bức tường đất bắn trả lại, nhưng đối phương bắn dữ quá, đạn bay vèo vèo như châu chấu, bắn vào bức tường đất nghe bụp bụp, khói đạn mù mịt. Dương Phương tài nào ngóc đầu lên được, trong lòng nghĩ: “Thôi xong, xem ra hôm nay bỏ mạng ở đây rồi, hồn của đạo trưởng và Mạnh Bôn huynh chưa xa xin hãy chờ tôi, chúng ta cùng làm bạn với nhau đường xuống suối vàng.”

      Lúc này, gió bụi mù mịt, vừa giữa trưa, trời bỗng chuyển màu vàng sẫm, dưới đất cũng màu cát bụi, trời đất hỗn độn vào nhau, đến đội quân phiệt cũng cảm thấy e ngại, đây là tượng sông Hoàng Hà có đại hồng thủy. Nhưng đội quân của Đồ Hắc Hổ được rèn luyện nghiêm khắc, dưới trướng toàn quân lính tinh nhuệ, tuy trong lòng hốt hoảng nhưng lính phải nghe lời tướng như cỏ thuận theo chiều gió vậy, nhận được lệnh của thống đốc, toàn quân vẫn rầm rộ tiến lên.

      Ông chủ Triệu kêu lên: “Dương huynh đệ, chúng ta thể chống cự lại với đội quân, chỉ còn cách rút xuống Phật điện thôi.”

      Dương Phương biết nếu lúc này chỉ có chết, việc đến nước này đành đến đâu hay đến đó. ta cũng nhiều lời, cố vượt qua lớp đạn bắn tới tấp như mưa, thòng dây thừng xuống Phật điện, bốn người lần lượt xuống bên dưới, khí ẩm mốc vẫn chưa thoát ra hết bốc lên nồng nặc làm ai cũng ho sặc sụa, xà nhà phủ lớp bụi dày, mạng nhện chăng mắc khắp nơi, bên dưới sâu đến rợn người, ngờ gian Phật điện này lại rộng lớn đến vậy, cả đoàn theo dây thừng tụt xuống bên dưới, nhìn thấy chính giữa là bức tượng nghìn tay nghìn mắt rất lớn, lừng lững như ngọn núi, mỗi bàn tay đều cầm vật khí khác nhau, tượng cao khoảng bảy, tám trượng, xung quanh có tổng trăm lẻ tám con mắt và bốn mươi hai cánh tay, khuôn mặt nghiêm nghị nhưng hiền dịu, khi ánh đèn soi vào bức tượng phản chiếu ánh sáng lấp lánh, ràng là được mạ vàng, hai bên là tượng các vị La Hán, Địa tạng vương bồ tát, phía trước là tượng Di Lặc và Vi Đà Bồ tát, tất cả đều mang phong cách điêu khắc thời Bắc Tống.

                  2


      Bốn người đều bị choáng ngợp trước bức tượng Phật, đến khi tiếp đất mới biết bên dưới toàn là bùn đất. Ông chủ Triệu lần đầu tiên đặt chân tới đây, gian Phật điện bị nhấn chìm mấy trăm năm, ông vốn mê mẩn với bức tượng Phật nghìn tay nghìn mắt, trong mơ cũng muốn được tới đây cho biết. Bất kể bức tượng nào trong số những bức ở đây đều là bảo bối độc nhất vô nhị, hiển trong gian Phật điện tối mờ này càng thể thần bí, ông cứ đứng ngây người ra chiêm ngưỡng, cho tới khi nghe thấy tiếng súng nổ bên tai mới định thần lại, vội vàng xác định vị trí, dẫn theo ba người kia trốn ra phía sau bức tượng Phật lớn.

      Tượng trong Phật điện nhiều kể xiết, kích cỡ lớn bé khác nhau, tường là những bức bích họa về truyền thuyết của Phật giáo, bên dưới bệ đỡ của bức tượng Phật cao như núi đó là những gian thờ cao bằng người bình thường, bên trong đều là những bức tượng Phật nghìn tay nghìn mắt với nhiều hình thái khác nhau.

      Dương Phương thấy ông chủ Triệu vội vàng tìm kiếm trong số những bức tượng đó, ta hiểu rằng trong gian điện thờ này có thứ gì đó đặc biệt, nếu trong lúc cận kề cái chết này, ông chủ Triệu màng tất cả chỉ để tìm vật đó. Đồ Hắc Hổ kìm được cũng đích thân tìm tới, đơn giản chỉ là vài bức tượng Phật, lẽ liên quan đến việc bức tượng nghìn tay nghìn mắt trấn áp thủy quái sông Hoàng Hà?

      Ý nghĩ đó vừa ra nghe thấy tiếng ông chủ Triệu kêu lên: “Chính là bức tượng này!” ông gọi Triệu Nhị Bảo tới giúp, hai tay cầm chặt lấy thân bức tượng để xoay chuyển.

      Dương Phương và Đạm Đài Minh Nguyệt cầm súng để yểm trợ hai bên, bắn tất cả những bọn quan binh theo xuống dưới Phật điện. Tài bắn súng của Đạm Đài Minh Nguyệt có thể là tuyệt đỉnh, hầu như trượt phát nào, mỗi lần nhả đạn là hạ gục tên, nhưng bọn quân phiệt đông như ong, xem chừng thể cầm cự được lâu. Mặc dù Đồ Hắc Hổ lệnh cho quân lính được ham bắn làm hỏng tượng phật nhưng bọn chúng ngày càng hăng máu, trong thế mất còn đâu còn tâm trí để ý tới lệnh của cấp nữa, xung quanh tiếng súng nổ rầm rầm, đạn bay như trấu, thiếu mỗi nước ném thẳng lựu đạn vào trong điện.

      Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc, ông chủ Triệu và Nhị Bảo di chuyển được nửa bức tượng Phật, cùng lúc đó tiếng động lớn vang lên, đế đỡ hình hoa sen của bức tượng Phật nghìn tay nghìn mắt bỗng mở ra cánh cửa.

      Dương Phương nghĩ chẳng phải bức tượng này trấn áp thủy quái sông Hoàng Hà sao? Mới nghĩ vậy thấy ông chủ Triệu gọi mọi người vào bên trong, lúc đó cũng chẳng kịp thời hỏi lại, chỉ vừa đánh vừa rút, chui vào đường hầm bên dưới bức tượng, bên trong như hang động, có quả cầu đá chiếc đòn bẩy, sau khi khởi động quả cầu đá lăn xuống bịt kín lối vào. Quân đội của Đồ Hắc Hổ bị chắn ở bên ngoài, người bên trong cũng đừng mong có lối ra.

      Sau khi thoát chết, Dương Phương định thần lại, bật đèn pin lên xem xét, phát trong động còn có đường hầm bằng đá, đường hầm phẳng rộng, chiều ngang khoảng năm, sáu người đứng sát nhau, đường hầm đó thông đâu, chỉ thấy đứng trong đường hầm nghe gió thổi lạnh buốt, chứng tỏ bên trong rất rộng và sâu, tường khắc chi chít kinh văn pháp chú, ta nhận ra đây là “Kim cương phục ma chú”, nếu ma quỷ quái tự dưng lại khắc kinh này tường, trong lòng thấy lạ định hỏi ông chủ Triệu đây là nơi nào?

      Vừa định lên tiếng nghe thấy ông chủ Triệu kêu lên tiếng “Ối!”. Hóa ra lúc ở Phật điện, ông chủ Triệu bị trúng đạn ở bụng, trong lúc tình hình căng thẳng ông cũng để ý tới, đến khi rút được vào trong đường hầm trụ được vì mất quá nhiều máu. Ba người vội vàng dìu ông ngồi xuống để xem xét vết thương, ông chủ Triệu nắm chặt tay Dương Phương như muốn điều gì đó, lời tới cửa miệng nhưng chưa kịp thốt lên tắt thở ngay sau đó.

      Ông chủ Triệu chết quá đột ngột, Dương Phương cảm thấy đau lòng khôn xiết, sinh tử vốn vô thường như vậy, vừa quen nhau chưa được bao lâu, ngờ dương cách trở. Nhị Bảo ôm lấy thi thể ông chủ Triệu, người đần ra như kẻ ngốc, ngừng khóc gọi chủ nhân. Đạm Đài Minh Nguyệt từ nương tựa vào ông chủ Triệu, tình như cha con, giờ khóc ngất . Dương Phương vội đỡ lấy , tới khi tỉnh lại liền chạy ra ôm lấy thi thể ông chủ Triệu khóc lóc thảm thiết. Lúc này chỉ nghe thấy tiếng nổ đinh tai, vách đá cũng bị chấn động rung lên bần bật.

                  3


      Ba người hiểu ra bọn quân phiệt dùng thuốc nổ để phá cửa hầm, Dương Phương chửi thầm: “Đồ Hắc Hổ khốn nạn! Cắn được người rồi là chịu nhả ra”. Lần này tuy chưa phá được cửa hầm, nhưng nếu cho nổ lần nữa cho dù cả ba người bị nổ tan tành mây khói cũng bị bọn lính đông như ong tràn xuống bắn chết.

      Dương Phương biết thể ở lại chốn này lâu, phải thoát ra theo lối đường hầm, người chết rồi thể sống lại, có khóc lóc cũng vô dụng. Vì muốn thi thể ông chủ Triệu rơi vào tay quân phiệt, chết rồi mà còn phải chịu nhục, liền đổ dầu lên thi thể ông rồi đốt cùng chiếc đầu của Mạnh Bôn. Đạm Đài Minh Nguyệt tuy rất đau lòng nhưng cũng hiểu đại cục, biết được đâu là việc quan trọng, gạt nước mắt, nhìn lần cuối thi thể bị ngọn lửa thiêu đốt, kéo Nhị Bảo khóc ngất ra, rồi theo Dương Phương tiến vào trong đường hầm.

      Từ đời bố của Triệu Nhị Bảo hầu hạ cho nhà họ Triệu, từ trước đến nay ông chủ cậu ta làm cái đó, bản thân mình chưa làm chủ điều gì, giờ đây gặp đại nạn này, trong lòng hoang mang vô cùng, chỉ còn cách hỏi Đạm Đài Minh Nguyệt: “Đại tiểu thư, ông chủ mất rồi, từ giờ chúng ta phải làm sao đây?” Đạm Đài Minh Nguyệt : “Đương nhiên phải tìm cách ra khỏi đây rồi tìm cơ hội giết Đồ Hắc Hổ để trả thù.” Dương Phương : “Đúng thế, còn sống làm gì cũng được, khi chết mọi việc cũng trở nên vô nghĩa, cần phải nghĩ nhiều như vậy, tránh cho qua hôm nay rồi tính, mọi người có biết con đường hầm này thông tới đâu ?”

      Những chuyện ông chủ Triệu biết Đạm Đài Minh Nguyệt đều biết, kể lại cho Dương Phương. Từ cổ tới nay, nạn lũ sông Hoàng Hà rất khó trị, mỗi năm có lụt đều nhấn chìm ít người dân. Thời Bắc Tống, ngôi chùa Đại Hộ Quốc được dựng lên bên bờ sông để trấn hà an dân. Bên ngoài như vậy, nhưng thực chất là để trấn . Trước đây có truyền thuyết rất đáng sợ, kể rằng thành Khai Phong bên bờ sông Hoàng Hà là thành trì thành trì, ngày nay nhìn từ xuống ít nhất cũng có sáu bảy thành trì, toàn do lụt sông Hoàng Hà, đất phù sa bồi đắp khiến nước sông ngày dâng cao, mỗi lần có lụt, nước sông và phù sa nuốt trọn thành trì, mấy nghìn năm trôi qua, thay đổi nhiều triều đại, khiến thành trì sau chồng lên thành trì trước tạo thành kỳ quan hiếm gặp. Tương truyền, thành Khai Phong là “Tam sơn bất hiển, ngũ môn bất chiếu”, tam sơn bất hiển là ý ngoài thành Khai Phong có địa danh đều có chữ sơn nhưng những vùng đó có ngọn núi nào, chỉ là đồng bằng, thực ra ngọn núi đó dần bị phù sa sông Hoàng Hà bồi lấp, từ đó có thể thấy lớp đất do phù sa bồi lấp sâu tới mức nào, càng xuống sâu niên đại của thành trì phía dưới càng lâu. Thành trì lâu đời nhất có thể tính được là Đại Lương thành của thời Xuân Thu Chiến Quốc, sớm hơn nữa chưa hẳn là có mà chỉ do có tài liệu của sử sách để truy cứu. Đa phần là thành trì trống bị phù sa vùi lấp nhưng cũng có vài lần do gặp đại nạn khiến toàn dân trong thành bị chôn sống. thử nghĩ xem, cả thành trì bị chôn vùi kiểu gì cũng có khe hở nhưng thể nào có người còn sống được. Vậy mà có lúc động đất, cổ nhân từ hàng nghìn năm trước từ dưới thành trì trong lòng đất bò lên qua những vết nứt mặt đất, những người này tỏa ra mùi hôi thối khó chịu, mặt xanh nanh dài, đuổi bắt người dân để ăn thịt, nhưng khi thấy mặt trời toàn thân đơ cứng thể cử động, vậy rất giống cương thi, nhưng vẫn có thịt có máu, vẫn thở bình thường, ai biết đó là quái gì. Vì vậy, ngôi chùa Đại Hộ Quốc này mới thờ tượng phật nghìn tay nghìn mắt, bức tượng khổng lồ này trấn ngay ở cửa động, chính là chỗ năm xưa những quái xuất , đó vốn là dòng chảy ngầm dưới lòng đất, sau khi nước rút thành đường hầm, chắc là thông tới động cát bên ngoài thành Khai Phong, theo sơ đồ dòng sông đó cũng là mắt sông.




      Dương Phương nghe chuyện này thấy có điểm vô lý, năm xưa người dân đều biết ở đây có quái, tại sao lấp luôn cửa động mà phải tạc tượng lấp đường hầm làm gì?

                  4


      Đạm Đài Minh Nguyệt , quân vương nghe lời quần thần nịnh nọt, rằng thứ trồi lên từ dưới sông Hoàng Hà phải là cương thi mà là thần tiên trong lốt thân xác phàm trần, tu luyện nghìn năm đắc đạo trường sinh bất lão, đạo giáo đều chú trọng việc sau khi chết hóa thành lông hồng bay về trời, thân xác phàm trần càng đáng quý. Những cương thi này chắc do bị chôn vùi dưới đất nhưng chết, ăn thịt Tê dưới mắt sông Hoàng Hà, Tê chính là rồng già sống dưới sông Hoàng Hà, sau khi chết thi thể mọc lên những cây nấm linh chi bằng thịt, ăn thứ đó có thể trường sinh bất lão, chính vì vậy những người bị chôn dưới lòng đất mới có thể sống sót tới ngày nay, chỉ có điều họ bị những oan hồn đeo bám. Quân vương là thân của thánh minh thiên tử, nên cần độ hóa cho những hồn dã quỷ đó. Vậy nên quân vương mới tắm rửa sạch , thắp hương khấn vái trời đất, chọn ngày lành phái hai người đạo sỹ tới bờ sông tìm thần tiên để xin phép thường sinh bất lão. Cũng có người tin thân xác phàm trần có thể thành thánh, nhưng cho rằng nơi đây có kỳ chân dị bảo, thành trì quý giá nên mới bị chôn vùi toàn diện như vậy, đồ vật trong thành hẳn chưa có ai động tới, con lạc đà chết đói còn được khối thịt huống hồ là cả thành trì, có người tới để kiếm của phát tài, có người tới để tìm thuật giúp thân xác phàm trần có thể thành thánh nhân, nên bỗng chốc đâu đâu cũng bàn luận vấn đề này nhưng ai dám tìm hiểu tình, sau cùng họ chọn giải pháp trung gian, đầu tiên tới bên bờ sông tạc bức tượng nghìn tay nghìn mắt khổng lồ, tạm thời bịt kín miệng hố, nhưng để lại con đường hầm, mỗi năm đều mời cao tăng tới độ hóa những ác quỷ đó. Nhưng chưa đợi quân vương chọn người tìm phép tiên quân lính nhà Kim đánh tới tiêu diệt Bắc Tống, sau đó Hoàng Hà đổi dòng, lũ lụt kéo theo lượng phù sa bùn đất lớn nhấn chìm cả ngôi chùa, cùng với thay đổi triều đại, nơi đây dần bị con người lãng quên.

      Đạm Đài Minh Nguyệt còn kể với Dương Phương, ông chủ Triệu dã tâm của Đồ Hắc Hổ rất lớn, phần là muốn đào thành cổ dưới phủ Khai Phong, phần muốn tìm thần vật khiến cho người xưa có thể trường sinh bất tử. Ông chủ Triệu tuy biết chuyện này nhưng ông mấy tin vào những truyền thuyết ma quỷ, chỉ muốn lấy những tượng phật và báu vật của chùa lên tránh rơi vào tay quân phiệt. Trong lúc đường cùng mới vô tình phát ra đúng là có đường hầm ngầm phía dưới bức tượng Phật khổng lồ. Điều này cho thấy đường hầm này thông ra mắt sông, còn có quái hay ai có thể phán đoán được.

      Dương Phương hiểu được ngọn ngành việc, trong lòng nghĩ: “Tình thế này đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, cổ nhân bị chôn vùi trong bùn đất mà chết sao? Mắt sông Hoàng Hà có quái gì?” vừa nghĩ tới đó phía sau lưng vọng tới tiếng mìn nổ, phía xa lốm đốm ánh lên những tia lửa, Đồ Hắc Hổ cho nổ tung bệ đá, đội quân của lập tức xông xuống phía dưới.

      Đồ Hắc Hổ tuy trong quân đội nhưng thường ngày vốn hay mê tín, bí mật dời mộ tổ về chôn ở Lôi Công Lĩnh, cho rằng giấu được trời đất, ngờ lại bị đổ đấu, tức đến thổ huyết, may tìm ra đường hầm thông xuống thành trì dưới đất, ta nghe bên dưới có thần vật, huống hồ mấy tên đào trộm mộ tổ nhà cũng trốn xuống đó, băm vằm được bọn nó khó mà làm tan được nỗi hận trong lòng. Trước đó, sai Biên Hải Long làm thuyết khách là để bắt sống moi tin đứa đào trộm mộ, còn truyền thuyết tượng phật dùng để trấn áp quái rồi bên dưới có đường hầm ngầm như lòng bàn tay. Giờ cho nổ tung cửa hầm, đích thân dẫn quân xông xuống, hơn bốn trăm quân lính theo đều là những tay tinh nhuệ, chỉ cần đánh hơi thấy nơi nào có tiền có khói bếp thậm chí cần mạng sống để liều mình, tên nào cũng có khẩu súng ngắn, khẩu súng trường, sau lưng còn thanh đao, thắp mấy trăm bó đuốc, xếp hàng vào đường hầm. Đồ Hắc Hổ tay cầm súng, giữa chỉ huy, vừa vừa giơ súng lên hạ lệnh: “Các quân sỹ nghe đây, hãy theo ta lấy báu vật, ai được thăng quan trọng thưởng, ai dám quay ra ta cho ăn đạn ngay lập tức, bọn trộm thoát vào đường hầm gồm bốn tên, giờ chết tên, còn lại ba tên, nếu bắt được tên còn sống ta thưởng hai mươi thỏi bạc, chết thưởng mười thỏi.” Quân sỹ đồng thanh trả lời, ỷ vào thế đông lực mạnh coi ai ra gì, đều muốn bắt sống để lĩnh thưởng, mấy hàng lính đầu thu súng lại, rút đao ra, cầm đuốc tiến lên phía trước.

      Dương Phương nhìn thấy thế lực quân phiệt hết sức hung hãn đuổi theo rất gấp, vội tắt đèn pin, may mà Dương Phương có đôi mắt tinh tường, trong bóng tối vẫn nhìn thấy ràng, Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo theo sát phía sau, súng đeo cả sau lưng, nắm lấy tay nhau trong bóng tối. Trong đường hầm rộng rãi bằng phẳng, tuy khoảng cách với bọn quân phiệt còn xa nhưng vẫn thấy được ánh lửa sáng lên phía sau lưng.

      Nhị Bảo thấy quân binh đuổi theo sát phía sau hồn vía lên mây, run rẩy : “Đại tiểu thư, sớm muộn gì cũng bị bọn Đồ Hắc Hổ đuổi kịp thôi, mình phải làm gì bây giờ?”

      Đạm Đài Minh Nguyệt cũng bất giác toát mồ hôi lạnh, nhưng là người có chủ kiến, liền với Nhị Bảo: “Chuyện đến nước này chỉ còn cách tùy cơ ứng biến thôi.”

      Dương Phương khỏi khâm phục Đạm Đài Minh Nguyệt gan dạ, nghĩ tới tình cảnh lúc này của mọi người, đúng là mối nguy hiểm khủng khiếp chưa từng gặp bao giờ, đến như cũng chỉ có thể nghĩ “tùy cơ ứng biến”. Nghe thấy hiệu lệnh thét lên phía sau lưng, hình như bọn quân phiệt chui xuống đường hầm, nỗi tức giận trào dâng, định quay lại phen sống mái với chúng, nhưng nghĩ lại lời dặn dò của Thôi lão đạo đành phải nhẫn nhục, tiếp tục mò mẫm trong bóng tối.

      thêm đoạn tới nhánh dòng sông cạn nước, địa hình chật hẹp hơn, thực ra nơi đây trước là dòng chảy ngầm của con sông, đường hầm uốn khúc quanh co, lúc rộng lúc hẹp, dưới nền toàn bùn đất và cát, mỗi bước chân đều bị lún sâu rất khó rút chân lên. Ba người bỏ xa đội quân đuổi theo phía sau đoạn, tạm thời nhìn thấy ánh lửa nên bật đèn pin lên, họ lại tiếp tục di chuyển trong đường hầm ngoằn ngoèo. Bỗng phía trước xuất bức tường thành màu vàng đất chắn ngay trước mặt, phía màu tối đen, nghe ngóng phía bên kia thấy động tĩnh gì.

      Nhóm Dương Phương men theo bức tường tới phía cổng thành, thấy bố cục đường xá bên trong vẫn nguyên vẹn, vừa sâu vừa hẹp, giống như hào giao thông quân , nhưng nhà cửa đều bị bùn cát phủ lấp, chỉ nhìn thấy hình thù cao thấp mà thôi, thể phân biệt được là thuộc triều đại nào.

      Khai Phong là sông trời mà thành trì dưới lòng đất, sông Hoàng Hà chảy xiết nên phù sa bồi đắp ngày càng nhiều, sông ngày càng cao, thậm chí cao hơn thành Khai Phong, vậy mới gọi sông trời, thành lũy cổ bên dưới thành Khai Phong chính là thành trì ngầm trong lòng đất. Lũ lụt sông Hoàng Hà là đại nạn từ xưa tới nay, đất bồi của sông hết lớp này tới lớp khác khiến mặt đất ngày càng cao hơn, nhưng bên trong vẫn có những khe hở, năm này qua năm khác thành những đụn cát lớn, ngôi thành cổ này năm xưa rơi vào động cát nên tổng thể vẫn nguyên vẹn hơn những thành trì cổ bên dưới thành Khai Phong, nhưng mỗi lần lũ lụt nước dâng lên, những động cát đó cũng chìm dưới nước, ngày nay chỉ còn lại những ngôi nhà xây bằng gạch kiên cố, những kiến trúc khác chỉ còn dấu tích nền đất hoặc tường đất.

      Đạm Đài Minh Nguyệt : “Xem ra nơi này nhiều lần bị nhấn chìm trong nước, năm xưa khi thành trì bị lún vào động cát, nếu may mắn thoát chết chắc cũng sống được bao lâu, nên ngôi thành trì này chẳng có châu báu ngọc ngà cũng chẳng còn ai sống sót, chỉ là thành phố chết.”

                  5


      Nhị Bảo thở hổn hển: “ chạy được nữa rồi, có thể vào trong thành trốn tạm ...”

      Dương Phương : “Dù sao cũng chạy ra được, chúng ta vào trong thành thử làm hoàng thượng xem sao.”

      Nhị Bảo là người lạc quan, liền : “Lục ca, nếu huynh là hoàng thượng đại tiểu thư làm hoàng hậu, tôi làm tướng quân.”

      Dương Phương : “Huynh đệ, ngữ cậu chưa làm tướng quân được đâu, cùng lắm chỉ làm thái giám.”

      Đạm Đài Minh Nguyệt : “Hai người còn có thời gian mơ mộng nữa à, quân phiệt sắp đuổi tới nơi rồi.”

      Mới đứng chuyện lúc mà quân của Đồ Hắc Hổ tới ngoài thành. Ba người dám dừng lại, vội vã vào bên trong. Bọn binh lính nhìn thấy ba người từ xa như nhìn thấy sáu thỏi vàng, chẳng ai dám nổ súng, ai cũng tranh lên trước để đuổi theo, tiếng la hét chửi bới ầm ĩ vang lên phía sau.

      Nhóm Dương Phương thoát vào trong thành, để lại vết chân phía sau lưng, nhưng vì bọn Đồ Hắc Hổ bám riết phía sau, ba người lại quá mệt mỏi, chẳng kịp xóa dấu vết, cứ thế chạy thẳng đến cổng thành phía bên kia, phía trước mặt đất ngày lún hơn, khắp nơi đều là nước, mặt nước mênh mông, còn đường nào để chạy thoát nữa.

      Đạm Đài Minh Nguyệt hạ khẩu súng săn lưng xuống cầm sẵn tay, nấp sau bức tường, nếu nhân lúc nhộn nhạo mà bắn trúng Đồ Hắc Hổ tốt, nếu nhảy xuống sông tự tử, thà chết chứ để rơi vào tay quân phiệt.

      Dương Phương : “Trong đám lộn nhộn kia khó mà phân biệt được mục tiêu, nếu phát bắn trúng Đồ Hắc Hổ, tuyệt đối còn cơ hội thứ hai, hay là tôi nấp sau cổng thành, cho chúng điều bất ngờ, và Nhị Bảo leo lên phía thành, chờ thời cơ tiếp ứng.”

      Đạm Đài Minh Nguyệt biết Dương Phương làm thế nào để nấp tại cổng thành mà bị phát , nhưng bọn quân phiệt đuổi tới nơi, đành cùng Nhị Bảo tìm chỗ có thể trèo để leo lên đỉnh thành.

      Dương Phương biết lần này chết chắc mà còn cơ hội sống, nhưng nếu kéo theo được Đồ Hắc Hổ chết cũng nhắm được mắt. ta tắt đèn dầu, nấp vào chân tường, Dương Phương đứng phía bên ngoài, bọn quân phiệt đuổi từ phía sau tới, hầu hết đều vào trong thành, hai bên cách nhau chỉ cái cổng thành. tên lính muốn lập công đầu, chạy lên rất nhanh, tay giơ cao ngọn đuốc, tay cầm súng xông vào cổng thành, Dương Phương nghe thấy tiếng bước chân tới gần, rút roi ra nhằm trúng đầu tên lính quất tới, tên lính này dày dạn trận mạc, cũng kịp giơ khẩu súng lên đỡ nhát roi của Dương Phương quất tới, coi như phản ứng nhanh, khổ nỗi lực đánh của Dương Phương quá mạnh, chiếc roi lại nặng, khẩu súng bị đánh gãy làm đôi, đầu cũng nát bét, đổ gục xuống đám bùn đất mà kịp kêu lên tiếng.

      Dương Phương đạp thi thể tên lính sang bên, nhặt lấy bó đuốc vứt xuống nước tắt ngóm, trong thành cổ nếu có đuốc đốt sáng nhìn thấy gì, bọn lính truy đuổi phía sau nhìn tình hình phía trước, thấy có ánh lửa vẫn lay động phía trước cho rằng còn phải tiếp tục tiến lên, ai cũng mong lập công đầu, ra sức chạy, chỉ cắm đầu cắm cổ đuổi theo. Dương Phương từ chân tường thành di chuyển vào bên trong cổng thành, hít hơi sâu, lấy hết sức bình sinh nhảy lên bám vào đỉnh cổng thành như con thằn lằn.

      Bọn quân phiệt đuổi tới, rầm rộ chạy qua cổng thành ngay phía dưới Dương Phương, chẳng ai nghĩ là có người trốn ngay phía đỉnh đầu mình, khoảng hơn năm mươi tên chạy qua, Đồ Hắc Hổ tiến tới giữa đám quân lính tiền hô hậu ủng. vào thành, tận mắt nhìn thấy có thần tiên, cũng chẳng có núi vàng núi bạc thất vọng vô cùng, phía trước chẳng còn đường tiến, nên liền lệnh cho quân lính phân chia nhau lục soát, được để tên trộm nào chạy thoát, mấy tên phó tướng bên cạnh cũng lớn tiếng hò hét: “Mấy tên trộm tép riu này dám vuốt râu hùm, dám đào trộm mộ tổ nhà thống đốc, cũng nghĩ xem chúng nó có mấy cái đầu, phải bắt sống chúng lột da ép mỡ chúng để thắp đèn trời.”

      Dương Phương ở phía nghe thấy mồn , đúng là cơ hội ngàn năm có , nếu lúc này nhảy xuống, chắc mười mươi có thể đánh vỡ đầu Đồ Hắc Hổ, nhưng quân lính xung quanh quá đông, thằng nào cũng sát khí đằng đằng, gươm súng đầy đủ. có thể giết được Đồ Hắc Hổ nhưng khó mà thoát thân, bị đạn lạc bắn chết cũng bị rừng đao chém chết. Nhưng cơ hội chỉ đến trong chớp mắt, giờ để nghĩ ngợi nhiều, Dương Phương từ thành phi xuống như chim bay, lựa tư thế tốt nhất, nhắm thẳng đầu Đồ Hắc Hổ quất tới.

      Dương Phương dồn hết mười hai phần công lực vào chiếc roi, dồn hết kỹ thuật mà mình từng luyện được vào lần xuất chiêu này, trong lòng nghĩ: “Đồ Hắc Hổ đầu ngươi có cứng mấy chăng nữa cũng thể cứng hơn cương thi ở Lạc Dương mình đồng da sắt được.”

                  6


      Lần này bị tấn công bất ngờ, Đồ Hắc Hổ bản lĩnh đến mấy cũng thể ngờ Dương Phương lại treo mình nóc cổng thành, nhưng vì trong thành cổ khắp nơi toàn là bùn nước nên trước khi Dương Phương ra tay làm rơi ít bùn đất trúng ngay đầu của Đồ Hắc Hổ, với bản lĩnh nhạy bén, biết ngay có điều bất thường nên khi chiếc roi của Dương Phương quất tới kịp né tránh, chiếc roi đồng xoẹt qua người , sém chút nữa đầu lìa khỏi cổ, lực roi quất ra mạnh đến nỗi tuy đánh trúng người nhưng tạo ra luồng gió quét qua mặt Đồ Hắc Hổ đau rát, khiến vừa thất kinh vừa phẫn nộ, hét to: “Tên trộm to gan kia”, rồi rút súng ra nhằm thẳng Dương Phương bóp cò.

      Dương Phương vốn đinh ninh đánh trúng đầu Đồ Hắc Hổ, ngờ phản ứng quá nhanh, tránh được trong gang tấc. Trong lúc tiếp đất nhìn thấy Đồ Hắc Hổ rút súng ra, ta cũng ra tay nhanh như gió, liên tục quất ba roi, roi đầu đánh bay khẩu súng của Đồ Hắc Hổ, hai roi sau đánh vào hai vai của . Roi đồng quất nhanh như gió, Đồ Hắc Hổ chưa kịp lên nòng súng bị đánh rơi, càng tức giận hơn, lùi bước tránh roi thứ hai, rút thanh đao bên hông ra, nghe tiếng gió quất vù vù hẳn lực đánh rất mạnh, thể đỡ bằng lưỡi đao được, liền dùng cán đao đỡ roi thứ ba, sau đó chuyển sang phản công, tiếng đao chém trong khí nghe vun vút. Dương Phương thấy Đồ Hắc Hổ đao pháp lợi hại, đành thu roi tiếp chiêu.

      Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo trốn thành lầu, nhìn thấy bên dưới đèn đuốc sáng trưng, chi chít hàng trăm quân lính, tuy nhìn thấy Dương Phương đánh nhau với Đồ Hắc Hổ ra sao, nhưng nghe thấy tiếng hô hét của hai bên cũng thấy lo lắng.

      Lúc này, Đồ Hắc Hổ và Dương Phương đánh nhau chưa tới hồi phân giải, nếu ở nơi đất bằng rộng rãi Dương Phương cũng chưa chắc là đối thủ của Đồ Hắc Hổ, chuyện đến nước này đành phải liều mạng thôi, dựa vào địa thế trong cổng thành để xoay xở, nên vẫn miễn cưỡng cầm cự được. Đồ Hắc Hổ xuất thân từ thổ phỉ nhưng luyện được thân thủ phi phàm, ngựa dưới đất võ nghệ đều tốt, thường ngày hiếm khi gặp được đối thủ, tự xưng là thần dũng, hai năm gần đây làm thống đốc quân đội, quyền cao chức trọng nhưng vẫn thay đổi được thói quen giết người, lúc này đây cũng quyết tâm dồn đối phương vào chỗ chết, gầm lên tiếng rồi thay đổi chiêu thức, tay phải cầm đao đỡ roi đồng, tay trái tung chưởng thiết sa.

      Dương Phương biết lợi hại của chiêu này nên dám đỡ liều, vội lùi lại nhưng hai phía cổng thành đều có binh lính cầm đao vây kín, sao xông ra ngoài được, trong lúc hoảng hốt vội tránh sang bên tường đá. Binh lính thấy thống đốc chiếm thế thượng phong, ép được đối phương vào bước đường cùng đều hò reo ầm ĩ. Đồ Hắc Hổ thấy Dương Phương bỏ chạy liền nghĩ: “Với thân pháp của người này, hẳn có thể bay lên tường thành như các hiệp sỹ thời Đường, hơn nữa hang động dưới chân thành rộng tới đâu cơ chứ, bên ngoài gươm súng như rừng ta còn sợ chạy lên trời chắc”, liền xách đao đuổi theo mà biết Dương Phương còn chiêu nữa, đó là “Tản thủ tiên”. Lúc này Dương Phương chạy tới chân tường, chỉ nghe tiếng gió ngoảnh đầu lại, bất ngờ giơ tay ra phía sau, hét lên tiếng: “Trúng!” cùng lúc chiếc roi bay ra khỏi tay.

      Tản thủ tiên của Dương Phương trăm lần xuất chiêu chưa thất bại lần nào, là chiêu sát thương cực hiểm, phải vạn bất đắc dĩ tuyệt tùy tiện sử dụng. Lúc này khoảng cách của hai người khá gần, nếu là người khác hẳn bị roi quất thẳng mặt, nhưng Đồ Hắc Hổ võ công lợi hại, trong lúc ngàn cân treo sợi tóc vẫn kịp đưa đao lên đỡ, thanh đao bị chém làm đôi, chiếc roi bị chuyển hướng chỉ sát thương ở vai của Đồ Hắc Hổ rồi bật mạnh vào tường phát ra tiếng kêu lớn. Dương Phương nhanh như chớp, đón lấy chiếc roi trước khi nó rơi xuống đất, lập tức đánh loạn xạ lên người Đồ Hắc Hổ. Trong tay Đồ Hắc Hổ chỉ còn lại nửa thanh đao, trong khi Dương Phương tới tấp tấn công, roi quất tứ phía như mưa rơi. Vừa rồi bị chiêu “Tản thủ tiên” làm cho lạnh toát toàn thân, bả vai vẫn truyền đến từng cơn đau, nhức nhối thấu xương khiến chân tay luống cuống, còn khả năng tiếp chiêu nữa. Dương Phương chuyển bại thành thắng, định hạ thủ kết liễu Đồ Hắc Hổ chợt thấy đám binh lính nhốn nháo loạn xạ, chạy hết cả vào bên trong cổng thành.

                  7


      Dương Phương và Đồ Hắc Hổ bị quân lính chen lấn đùn đẩy ra khỏi cổng thành, Đạm Đài Minh Nguyệt thấy Dương Phương ló ra liền lập tức thả dây thừng xuống giúp ta leo lên . Dương Phương dám liều đánh, thu roi lại, nhân lúc hỗn loạn đu dây thừng lên phía tường thành.

      Sau khi cứu Dương Phương, Đạm Đài Minh Nguyệt cầm lấy súng săn định bắn Đồ Hắc Hổ trốn vào góc chết phía dưới thành. Bọn binh lính dưới chân tường thành phát bên có người bắt đầu nổ súng, hiềm nỗi đèn đóm, phía lại tối đen nên khó mà bắn chuẩn, lại nghe thấy trong đám binh lính có người kêu lên rằng thượng nguồn sông Hoàng Hà có lũ, là trận lũ lớn nhất trong vòng trăm năm nay, thành Khai Phong ngập trong nước, biết có bao nhiêu người làm mồi cho hà bá, số quân lính phía bến phà đều chui xuống hết bên dưới, nước lụt cũng tràn vào bên trong.

      Đồ Hắc Hổ nhặt được khẩu súng và thanh đao, quay lại bắn chết mấy tên lính định tháo chạy, vung đao lên lại chém chết bốn năm tên nữa mới tạm thời ổn định được đám hỗn loạn, hét lên: “Mẹ chúng mày, cuống cái gì? Nơi này là động cát, nước có vào nhiều mấy cũng bị ngấm hết, đợi nước rút rồi lên vẫn muộn, giờ phải bắt ba đứa đáng chết kia rồi băm vằm cho ta!”

      Thuộc hạ của Đồ Hắc Hổ vốn gan lì, nghe mệnh lệnh của Thống đốc như vậy lập tức mọi tiếng ồn ào đều im bặt. Đồ Hắc Hổ cố nhịn cơn đau ở vai, ngẩng đầu hét lên phía thành: “Đao pháp của bổn thống đốc tuy nhanh nhưng phải để chém đám chuột bọ vô danh, nay các người như cá trong rọ, chết tới nơi rồi có dám để lại danh tính ?”

      Dương Phương hét lại: “Bọn tao nghe thấy rồi. Ông nội mày là Đả thần tiên Dương Phương, đào mộ tổ nhà thống lĩnh quân phiệt Đồ Hắc Hổ, đánh xác chết, lấy báu vật, tên nào sợ chết cứ lên đây nếm thử roi của ông.”

      Đồ Hắc Hổ nghiến răng nghiến lợi, chỉ muốn moi tim ăn sống ba tên kia, nên đích thân đem theo thuộc hạ leo lên thành, hạ tử lệnh phải bắt sống bọn Dương Phương, là “Hiệu lệnh xuất thời sương tuyết lạnh, uy phong đáo sở quỷ thần kinh”.

      Đạm Đài Minh Nguyệt nấp sau lô cốt đất cao nhất thành, dặn dò Nhị Bảo ở bên cạnh chỉ việc phụ trách nạp đạn, bắn lúc hai khẩu súng săn hai nòng, hạ gục từng tên lính leo lên thành, mỗi lần nổ súng tất có tên lính lộn cổ xuống dưới, những tên lính sau vẫn sợ chết, tiếp tục bò lên như ong như kiến.

      Đúng lúc đó, đám binh lính phía dưới lại nhao nhao loạn xạ, có tiếng thét lên kinh hãi, nghe như có ai đó nhìn thấy thần tiên xuất trong thân xác phàm trần.

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 11: Cá khổng lồ trong động cát


                  1


      Ngôi thành cổ bị lún xuống động cát này, tường thành cao tầm ba trượng, cổng thành còn số thành lầu, cao hơn tường thành khoảng, quân lính phía dưới thành tuy thắp đuốc nhưng thể soi lên tận cao, nhóm Dương Phương, nấp thành lầu nhìn xuống phía dưới lại mồn .

      Lúc này, Đồ Hắc Hổ chỉ huy quân lính trèo lên, bỗng nghe thấy phía sau nhốn nháo hiểu chuyện gì. Bọn quân phiệt tuy xuất thân từ thổ phỉ, chỉ cần có tiền có thể bỏ mạng, nhưng quân phiệt thời trước lại rất mê tín, nghe thấy có người la ó rằng trong động cát có cương thi ai cũng hốt hoảng. Thực ra cũng hẳn là sợ, bọn này theo Đồ Hắc Hổ đánh thành, đào mộ, tiền của người sống người chết chúng đều cướp cả, nhưng nỗi sợ hãi lại dễ lây lan, mặc dù nhiều người chưa chuyện gì xảy ra, thấy nhốn nháo vẫn hoang mang, quên cả việc vây quanh thành để bắt ba người phía .

      Thành trì cổ bị lún sâu trong động cát, nhiều lần ngập trong nước, mỗi lần nước dâng kéo theo nhiều bùn đất, phù sa, nên bề mặt tường thành, nhà cửa đều phủ lớp bùn dày, tới khi lớp bùn đất đó khô tạo thành lớp vỏ bọc cứng bên ngoài, nhà cửa trong thành chỉ giống như những mô đất nhấp nhô trải dài, quân lính của Đồ Hắc Hổ khi xông vào trong đều chạy ở phía , trong đám quan binh có người trúng đạn ngã lăn xuống mái nhà, chỗ đất khô đó bị vỡ ra thủng lỗ, viên quan binh rơi xuống căn nhà phía dưới, quân lính xung quanh vội vàng chạy tới cứu người, thực ra viên quan binh đó thể sống sót được, nhưng dù sao cũng là trưởng quan, phải làm bộ chút, ba bốn tên lính thắp đuốc tới tìm, chỉ thấy phía dưới còn có mấy xác chết khác chưa bị phân huỷ, mọi người nhìn nhau nhưng ai nấy đều cứng miệng nên lời.

      Chủ yếu là ai nghĩ trong gian nhà đó còn có xác chết, những người này hẳn là bị chôn sống từ lúc thành trì bị lún xuống đất, quần áo người còn nữa, mặt mũi khô đét, nhưng tóc và móng tay vẫn dài ra, dường như chỉ cần có chút động tĩnh là trừng mắt tỉnh dậy.

      Viên quan binh bị trúng đạn tắt thở từ trước khi rơi xuống bên dưới, máu từ vết thương chảy ra xối xả, cảnh tượng này tuy rất đáng sợ nhưng là chuyện quá bình thường với đám quân lính suốt ngày đối diện với cái chết, có điều khi soi đuốc lại gần viên quan binh, dường như xác chết bên cạnh hơi động đậy, mọi người tưởng mình nhìn nhầm, dụi mắt nhìn lại thấy xác chết thè lưỡi ra liếm những dòng máu chảy ra người viên quan binh.

      Lúc này mới có người hét lên, thống đốc Đồ Hắc Hổ ra mệnh lệnh trấn áp, sau khi hỏi tình cũng khỏi kinh ngạc. Xem ra, trong thành còn có nhiều cương thi nữa. Dưới trướng của Đồ Hắc Hổ có viên tướng vốn to gan, tin là ma, cũng muốn thể trước mặt Thống đốc, liền thắp đuốc nhảy xuống bên dưới xem xét tình hình, dùng dao đâm vào người những xác chết đó, ta phát những xác chết cổ xưa này có người vẫn còn chảy máu, xem ra phải là cương thi, có vẻ giống như loài rắn và cóc ngủ đông, tuy chết nhưng cũng thuộc dạng sắp chết, có thể do bị chôn dưới đất quá lâu nên mới sinh ra như vậy. Đám binh lính xung quanh đều sợ tái mặt, bị chôn sống dưới lòng đất ăn uống, trải qua bao nhiêu năm như vậy mà chết, lẽ là “Nhục Tiên” ở sông Hoàng Hà?

                  2


      đến Nhục Tiên ở sông Hoàng Hà người dân hai bên bờ sông là ai biết. Nghe kể, sông Hoàng Hà chảy từ đoạn Thiểm Tây tới Hà Nam có rất nhiều mắt sông. Mắt sông thường thông xuống những dòng xoáy ngầm dưới lòng sông. Mỗi lần, Hoàng Hà xảy ra lũ lụt đều nhấn chìm làng mạc, thành trì và rất nhiều người, nếu ai rơi vào đúng mắt sông có lẽ chết, nhưng cũng biết vì lý do gì mà biến thành thánh nhân trong thân xác phàm trần. Trước đây, khi ai đó đắc đạo thành tiên thân xác phàm trần cũng tan biến, thân xác phàm trần biến thành thánh nhân trường sinh bất lão quá là ít, ngoài tầm kiểm soát của năng lực con người. Thực ra, chuyện tu luyện để cầu trường sinh bất lão từ thời Tần Thủy Hoàng có, nhưng suốt hơn hai nghìn năm làm gì có ai thành tiên đâu? Người ta tận mắt nhìn thấy có ai thành tiên nên thể là sau khi thoát xác mới thăng thiên, người trần mắt thịt thể nhìn thấy được, thân thể phàm trần thành thánh chỉ có trong truyện Phong Thần diễn nghĩa mà thôi. Nhưng mọi người đều dưới sông Hoàng Hà có Nhục Tiên, thời Đường Tống cũng có nhiều người dân thấy cổ nhân lên từ mắt sông, cũng chẳng đó là quái hay thần tiên. Truyền thuyết trong nhân gian đến rất nhiều, nhưng trong lịch sử chưa hề có ghi chép, binh lính của đội quân phiệt khi thấy Nhục Tiên cũng là hung hay cát, nhất thời ai cũng hoảng loạn.

      Đồ Hắc Hổ nghĩ: “Nơi đây đúng là có Nhục Tiên trường sinh bất lão sao?” Trong lòng ta thấy kỳ lạ vô cùng, nhưng cũng có phần lo sợ. Truyền thuyết xưa rằng bảo thành bị nhấn chìm dưới sông có rất nhiều ngọc ngà châu báu, giờ chỉ thấy vạt đất mà chẳng có báu vật gì, mộ tổ bị người ta đào trộm, đúng là “Gàu trúc gánh nước chẳng được giọt nào”, giờ ngờ lại gặp Nhục Tiên trong thành cổ, hình thù chết ra chết sống ra sống của những người dân trong thành cổ là kỳ dị, Đồ Hắc Hổ đảo mắt vòng, hạ lệnh cho thuộc hạ lấp chỗ thủng vừa rồi lại, trước mắt phải bắt cho được ba tên tiểu tặc kia , ai làm cho quân lính hoang mang ném xuống dưới chôn cùng đám cương thi kia luôn.

      Đám quân binh biết Thống đốc là làm nên ai dám chậm trễ, đồng thanh trả lời vang như sấm rền, ai nấy cầm đao đốt đuốc leo lên thành.

      Ba người thành nhìn thấy mồn , trong lòng thầm kêu khổ, lúc này nước sông Hoàng Hà chảy vào bên trong động cát rất nhiều, xem ra trận hồng thủy này phải là , phía đỉnh động, cũng xuất những dòng chảy, mặt đất toàn bùn, lớp bùn đất bao phủ bên thành trì bị nước cuốn trôi, lộ ra mấy chóp điện màu vàng, những tên lính soi đuốc lại gần, ánh vàng lấp lánh.

      Mọi người ai nấy đều rất kinh ngạc, trong thành có nhiều đại điện chóp bằng vàng, so với số vàng ở đây vàng lá Phật điện chưa là gì cả, chỉ có điều bị bùn đất che lấp nên nhìn thấy, giờ bị nước sông chảy vào sói lớp bùn đất bên , nên lộ ra lớp vàng sáng lấp lánh chói cả mắt, đúng là toà bảo thành trong lòng đất.

      Nước sông Hoàng Hà chảy vào rất nhanh, chẳng mấy chốc ngập tới đầu gối, quân phiệt còn cách nào khác đành phải di chuyển lên chỗ cao hơn, có người trèo lên tường thành, có người trèo lên nóc nhà. Đồ Hắc Hổ vẫn dắt theo mấy chục tên lính bên mình trèo tường lên thành lầu.

      Đạm Đài Minh Nguyệt hối thúc Nhị Bảo nhanh chóng nạp thuốc súng, Nhị Bảo trả lời vừa rồi bắn hết số thuốc súng cuối cùng. Đạm Đài Minh Nguyệt : “Chết !”. Đồ Hắc Hổ thấy đối phương còn nổ súng, lập tức mạnh dạn hơn, la hét ầm ĩ chen nhau trèo lên. Dương Phương rút roi quất từng tên , Đạm Đài Minh Nguyệt cũng cầm lấy đoản kiếm tiến lên nghênh địch. Đồ Hắc Hổ hận ba người này tới tột đỉnh, nhìn tình thế như vậy trong lòng mừng rỡ, cắn đao miệng, cầm lấy đuốc, tay trèo lên tường thành, sau vài lần trượt lên trượt xuống cũng leo được lên , gặp ngay Nhị Bảo, Đồ Hắc Hổ vừa mới giơ tay lên, đao còn chưa kịp cầm trong tay nghe thấy Nhị Bảo: “Á” lên tiếng rồi mắt trợn ngược trắng dã, sau đó lăn ra bất tỉnh.

      Đồ Hắc Hổ bị Nhị Bảo lừa cho kịp phản ứng, trong lòng nghĩ sao mình chưa ra tay mà sợ chết rồi? cũng biết Nhị Bảo chỉ là người theo hầu, sống hay chết quan trọng, chỉ nhìn chăm chăm vào Dương Phương và Đạm Đài Minh Nguyệt, nghĩ ngợi: “Lần này tìm được thành trì có nóc bằng vàng và Nhục Tiên, đầu tiên phải băm vằm tên trộm đào mộ tổ, sau đó bắt em xinh đẹp kia về thưởng thức, thế mới gọi là được cả tài lẫn sắc, chuyện tốt trong thiên hạ này đều vào tay ta.”

      Dương Phương đánh chết mấy tên lính leo lên thành, thấy Đồ Hắc Hổ cũng lên tới nơi liền quất roi về phía đó, ra tay vừa nhanh vừa mạnh. Đồ Hắc Hổ tuy sợ Dương Phương nhưng cũng biết chiếc roi đồng này rất nặng, trong tay chỉ có thanh đao thể đỡ trực tiếp được, hơn nữa vừa leo lên thành lầu còn chưa kịp đứng vững. Đất tường thành bị ngấm nước mềm ra, vội lùi bước né tránh, đạp rơi lớp đất, mất thăng bằng trượt xuống phía dưới, định tiếp tục leo lên thấy tiếng nước có gì đó rất lạ, dường như có vật gì rất to trồi lên khỏi mặt nước, quay đầu lại nhìn nhưng có ánh sáng nên nhìn thấy gì.

                  3


      Dương Phương lại có khả năng nhìn trong bóng tối, từ cao nhìn xuống thấy phía xa có con cá rất lớn nổi lên, cố gắng nhìn cũng thấy được hình thù của nó. Phần nổi lên mặt nước của con cá này to như quả đồi, da dày có vảy, chỉ thấy đầu mà thấy đuôi, hai mắt chỉ là hai đường chỉ dài. Thành cổ chìm vào trong động cát, địa thế giống như cái đấu, nơi đây bị nhiều lần ngập nước, năm này qua năm khác bùn đất lấp đầy, dưới đáy động cát luôn có sống ngầm, ai biết được bên dưới sâu bao nhiêu, chỉ thấy con cá kia há mồm ra nhả luồng khói trắng, luồng khói này bay vào trong thành, quân lính thấy tình hình có thay đổi cũng thôi leo lên thành lầu nữa, dừng hết lại nóc nhà và tường thành nhìn trước nhìn sau, ai cũng thấy kỳ lạ, nước vẫn chưa rút sao có sương mù?

      Đạm Đài Minh Nguyệt chạm thử vào người Nhị Bảo, Nhị Bảo từ từ mở mắt ra, hỏi lại: “Đại tiểu thư, tôi bị người ta đánh chết rồi à?” Đạm Đài Minh Nguyệt : “Đồ vô dụng, làm gì mà mới nhìn thấy Đồ Hắc Hổ sợ tới nỗi lăn ra đất giả chết?” Triệu Nhị Bảo ấp a ấp úng: “Vài chiêu này của tôi làm được gì Đồ Hắc Hổ, lúc đó chỉ nghĩ nếu để Đồ Hắc Hổ giết chết bằng giả chết lừa , ông chủ vẫn thường rồi: ‘Trong lúc dụng binh, tránh khỏi phải dùng thuật dối trá’ mà…”

      Trong lúc chuyện, Đạm Đài Minh Nguyệt cũng nhìn thấy khói trắng nên thèm tranh luận với Nhị Bảo nữa, quay lại hỏi Dương Phương: “Xảy ra chuyện gì thế?” Dương Phương lắc đầu, trong lòng linh cảm có điều chẳng lành, nhưng cũng đoán biết được chuyện kỳ lạ gì xảy ra.




      Lúc này, mây mù ngày càng nhiều hơn, đám binh lính đứng nóc nhà ngửi thấy mùi hương thơm kỳ lạ, lập tức như người mất trí, làm chủ được bản thân, từ từ tiến lên phía trước cách vô thức, những người chưa ngửi phải mùi hương ngăn họ lại nhưng tài nào ngăn được, họ cứ như người mất hồn, từng người từng người vào bên trong miệng con cá khổng lồ, từng thanh đuốc tắt ngấm.

      Dương Phương nhìn ràng con cá khổng lồ đó nhả làn khói để dụ người vào bụng nó, nuốt sống từng người , đội quân nhiều như vậy mà hề chống cự lại chút nào, ngay cả mình chết như thế nào cũng biết. Nhìn thấy cảnh tượng đó, tóc gáy bất giác dựng ngược, tim đập thình thịch, may mà nước phía nóc nhà chảy xuống bên dưới nên sương mù khó bay lên tường thành.

      Số đuốc của quân phiệt tắt dần từng cái , bên trong ngày tối, Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo nhặt lấy đuốc và súng của số lính bị rơi xuống nước, khi thắp đuốc lên mới thấy bên dưới bỗng chốc yên tĩnh hơn hẳn, hỏi Dương Phương kể lại những gì mình nhìn thấy: “Trong động xuất con cá rất to, thở ra luồng khói trắng, thôi miên đám lính vào trong miệng mình và nuốt sống cả rồi”. Hai người nghe xong cũng cảm thấy kinh hãi.

                  4


      Dương Phương đặt chân lên mọi miền dọc hai bờ sông Hoàng Hà, nhiều biết rộng, có thể nhận biết được nhiều loài động vật, từ bay trời cho đến chạy dưới đất, nhưng họ nhà cá muốn hình vạn trạng, hình thù kỳ quái kiểu gì cũng có, những nơi sâu thẳm dưới đáy biển có những loại kỳ quái như vậy cũng chỉ bằng phần vạn trong loài cá mà thôi, có điều chưa bao giờ nghĩ tới dưới sông Hoàng Hà lại xuất loại cá to như thế. Nước lụt vẫn ngừng chảy vào bên trong, phút chốc dâng lên lưng thành, biết nơi này thể nán lại lâu, khổ nỗi bị kẹt lại bên trong, phía dưới nước cuồn cuộn, sương mù mờ mịt, đầu toàn tường đá, có mọc cánh cũng bay nổi.

      Nước dâng ngày càng mạnh, tứ bề đều ngấm nước bắt đầu đổ vỡ, sụt lở, tất cả đều bị nước lũ cuốn , đám sương mù do con cá khổng lồ thổi ra cũng tan nửa, đám quân lính trong thành chẳng còn lại mấy người, giờ tranh nhau thoát thân.

      Đạm Đài Minh Nguyệt với Dương Phương: “Tường thành cũng sắp sập rồi, nhân lúc nước còn chưa dâng cao, chúng ta phải chạy qua chỗ chưa bị sương khí lan tới, rồi leo lên phía chỗ nóc điện vàng, chỗ đó tương đối cao, có thể tránh thêm thời gian nữa.”

      Dương Phương quan sát động thái của con cá, cầm lấy ngọn đuốc tay Nhị Bảo, ném về phía con cá, theo ánh đuốc ta thấy nó nhả ra từng người lính mà nó vừa nuốt trước đó, từng người bước ra từ miệng cá, những người này hai mắt đỏ rực, da mặt xanh lét, có người leo lên được tường thành, tìm những tên lính còn sống để cắn, dù bị đạn bắn xuyên đầu cũng có cảm giác gì.

      Ba người thấy cảnh tượng đó hết sức kinh hãi, nghĩ tới chuyện bức tượng phật trong chùa Đại Hộ Quốc là để trấn áp quái, hoá ra những người này chết sống lại kia đều do con cá này nuốt sống rồi biến thánh xác quỷ, thời đó những việc như vậy thường được gọi là xác quỷ. Xác chết bị quỷ nhập, chặt gãy đầu vẫn tiếp tục . Nghĩ tới đó, mặt ai cũng thất sắc kinh hãi, vội vàng trốn chạy. Thực ra con cá lớn kia nuốt người phải để ăn thịt, nó dùng mùi hương thơm dụ dỗ người vào trong bụng để nuốt trứng của nó, sau khi nuốt con người trở thành nơi trú ngự của trứng cá, cho dù có bị chôn trong lòng đất cũng chết, còn có ý thức, chỉ thích hút máu người.

      Việc này Dương Phương rất ít gặp, chỉ nghĩ rằng đó là xác quỷ. Nhìn thấy đường hầm lúc tới đây ngập trong nước, xem ra tới bước đường cùng, chỉ còn cách lội trong nước ngập tới lưng, cố ra được tới đại điện, nước nhanh chóng dâng lên ngập tới ngực rồi tới cổ, đuốc bị tắt vì ướt, Dương Phương vội bật đèn pin để soi sáng, liều mạng leo lên nóc đại điện, nhìn thấy nước ngập càng lớn hơn, tường thành ngập trong nước, đội quân phiệt tên chết tên trốn, giờ còn bóng dáng đứa nào.

      Lúc này, họ bỗng thấy Đồ Hắc Hổ cũng leo lên nóc đại điện. Người này vốn tính đa nghi, thấy sương mù bay tới vội trốn trong khe đất ở cổng thành cho tới khi sương tan, thấy tình thế nguy hiểm qua mới chui ra leo lên chỗ cao hơn để tránh nước, khó khăn lắm mới thoát được, súng mất, chỉ còn đuốc và đao, bộ dạng hết sức tàn tạ, nhưng gặp lúc loạn cũng mất bình tĩnh, vẫn giữ được nét mặt lạnh lùng, thấy ba người Dương Phương trốn ở đỉnh điện, trong tay vẫn còn súng, vội nấp sau ngách nhà.

      Đàm Đài Minh Nguyệt nghiến răng: “Đồ Hắc Hổ mệnh lớn , vừa rồi cứ tưởng bị cá nuốt rồi”. Trong chốc lát cả thành trì đều ngập trong nước, chỉ còn nóc đại điện nhô lên mặt nước. Dương Phương : “Đại điện cũng nhanh chóng bị chìm thôi, tới lúc đó chúng ta chẳng ai sống nổi, nhưng nếu tôi quất được roi lên đầu tên Đồ Hắc Hổ có chết cũng thể nhắm mắt được.” Đạm Đài Minh Nguyệt : “Được, tôi và Nhị Bảo cùng , chúng ta có chết cũng chết cùng nhau.” Dương Phương : “Đao pháp của Đồ Hắc Hổ rất lợi hại, hai người làm sao tiếp cận được , hai người ở phía sau yểm hộ cho tôi là được.” rồi chỉnh sửa tư thế, cầm sẵn roi trong tay, tiến thẳng về chỗ Đồ Hắc Hổ.

      Đồ Hắc Hổ ủ mưu nhiều năm, cố tìm cho được tòa thành trì này, giờ chỉ có thể giương mắt ra nhìn tòa bảo điện bằng vàng mà thể nuốt trôi. Bày trăm phương nghìn kế tưởng như thành công trong chốc lát bỗng thành ra trắng tay, thuộc hạ đều chết hết, ngay cả bản thân mình cũng khó mà thoát thân, chỉ sợ là do mộ tổ bị đào trộm nên mới xui xẻo thế này, càng nghĩ càng thấy hận, lại thấy Dương Phương tới, chỉ thẳng vào mặt chửi: “Tên họ Dương kia, ngươi dựa vào chiếc roi đồng, dám đánh tay đôi với tao ?” Dương Phương rằng, giơ roi lên nhằm đầu Đồ Hắc Hổ quất tới.

      Đồ Hắc Hổ phẫn nộ: “Bắt nạt người quá đáng!” nhìn thấy roi đồng quất tới quá nhanh kịp tránh, đành phải giơ đao lên đỡ. Roi đồng của Dương Phương quất lên ngói vàng, chỉ thấy toé lửa, ngói vỡ tan tành. Từ trước đến giờ, khi Dương Phương vung tay quất roi đồng, ai đỡ nổi, ngay cả roi đầu tiên bởi thế khỏi khâm phục bản lĩnh cao cường của Đồ Hắc Hổ. Thường ngày, Đồ Hắc Hổ tự xưng Thần dũng, chưa có ai là đối thủ của , giờ đây vì trong tay chỉ có thanh đao, thể đấu lại với roi đồng, thân pháp cũng nhanh nhẹn bằng Dương Phương, hơn nữa đứng nóc đại điện trơn thế này, thất thế hơn Dương Phương rồi.

      Đạm Đài Minh Nguyệt và Nhị Bảo phía bên kia của nóc đại điện căng thẳng nhìn sang. Lúc này, nước vẫn ngừng dâng lên, rất nhiều xác quỷ từ dưới nước mò lên lao về phía bốn người, Dương Phương và Đồ Hắc Hổ trong tình thế nguy cấp thể tiếp tục giao đấu, đành phải buông tay tự mình ứng chiến với bọn xác quỷ. Nước vẫn tiếp tục dâng, tất cả đều rút lên nóc điện, tiếng nước vẫn chảy ào ào.

                  5


      Lúc này, bọn xác quỷ leo lên đỉnh điện, há to cái miệng đầy máu, thè lưỡi về phía Nhị Bảo đứng đờ người ra. Dương Phương nhanh tay nhanh mắt, nhảy tới tung roi quất lên đầu tên xác quỷ, bắn tung lên trung rồi rơi xuống nước.

      Đồ Hắc Hổ nhân lúc Dương Phương cứu người, liền rút đao ra, Đạm Đài Minh Nguyệt đứng bên cạnh nhìn thấy vội giương súng lên bắn, tiếng nước ào ào như sấm nuốt chửng tiếng súng, Đồ Hắc Hổ kịp đề phòng nên trúng đạn, quá tức giận, trước khi chết cũng muốn kéo theo người chết cùng, liền phóng đao về phía Đạm Đài Minh Nguyệt, hai bên đều đứng nóc điện kịp né tránh, thanh đao đâm thẳng vào bụng lút cán. Lúc này, Dương Phương quất roi nện trúng đầu Đồ Hắc Hổ như bổ dưa hấu, lăn xuống mép nóc điện rơi xuống nước chìm nghỉm.

      Dương Phương thấy Đạm Đài Minh Nguyệt trúng đao vội chạy tới đỡ , Nhị Bảo cũng chạy tới khóc tướng lên, chỉ thấy Đạm Đài Minh Nguyệt mặt trắng bệch như tờ giấy, tính mạng chỉ còn trong gang tấc, bỗng trời rung đất lở, lớp đất vỏ bọc bên ngoài khu thành trì bị nước lụt ngấm vào trở nên mềm và tơi ra, đổ sụp xuống, để lộ ra bầu trời bên ngoài, nước đổ vào bên trong ầm ầm như thác, Dương Phương đối diện với cố bất ngờ này cũng khỏi kinh hãi.

      Đúng lúc đó, nước lũ xoáy bật gốc thân cây rất lớn cuốn vào bên trong động cát, thân cây va vào nóc đại điện, Dương Phương biết đây là cơ hội sống sót, giờ còn chạy chờ tới lúc nào nữa? ta vội túm lấy chân của Nhị Bảo giờ sợ mềm nhũn ra, sau đó ôm lấy Đạm Đài Minh Nguyệt nhảy lên thân cây, vừa rời khỏi nóc đại điện nước lụt cũng nhấn chìm tất cả, hai người ôm chặt lấy thân cây, động cát phút chốc chìm trong biển nước, thân cây theo dòng nước nổi lên, chỉ thấy phía màn trời nước, thi thoảng thấy vài điểm đen trôi qua, đều là xác người và động vật chết đuối.

      Trận lụt này đúng là “Tứ bề mênh mang dòng nước, lũ sơn hà khoảnh khắc bỗng tiên tan”, lũ lụt ở hai bờ sông Hoàng Hà lần này còn nghiêm trọng hơn lần quân phiệt cho mở cửa đập thủy lợi, khắp nơi bị bùn đất lấp đầy, dòng chảy của sông đổi qua hướng nam, kim bảo điện, tượng phật trong chùa Đại Hộ Quốc chìm trong bùn nước, vĩnh viễn có cơ hội nhìn thấy ánh mặt trời.

      Dương Phương thấy thân thế Đạm Đài Minh Nguyệt trong lòng mình lạnh dần, biết là ra , trong lòng đau đớn vô cùng, bất giác hai dòng nước mắt tuôn rơi. và Nhị Bảo ôm thi thể của Đạm Đài Minh Nguyệt, chờ cho tới khi nước rút. Thôn làng nơi đây bị huỷ hoại hoàn toàn, số người và súc vật chết nhiều đếm xuể, dân chạy nạn xếp hàng dài, khắp nơi toàn là cảnh tượng thê lương.

      Mặc dù mưa gió tạnh nhưng khắp nơi đều là bùn đất, hai người họ màng tới điều đó, tìm đường tránh vùng lũ lụt, qua sông lên phía bắc, tìm nơi cao ráo lập ba ngôi mộ, ngôi cho Đàm Đài Minh Nguyệt, hai ngôi còn lại lập cho ông chủ Triệu và Mạnh Bôn. Nhị Bảo ở lại trông mộ để giữ chữ trung thành với chủ. Dương Phương nghĩ tới việc tuy giết được Đồ Hắc Hổ nhưng số người chết quá nhiều, Thôi lão đạo, Mạnh Bồn, ông chủ Triệu, Đạm Đài Minh Nguyệt, và cả số lính biến thành người quỷ kia tâm trạng bỗng trở nên rất ảm đạm. mình tiến thẳng lên phía bắc. Khi ngang qua thị trấn Cao Đài ngờ gặp lại Thôi lão đạo, sau khi gặp đại nạn còn sống sót và trùng phùng, hai người kể lại cho nhau nghe những gì mình trải qua. Thôi lão đạo rơi xuống nước nhưng mạng lớn chết, được người cứu lên, Mạnh Bôn may bỏ mạng. Ông ta lại lo lắng cho Dương Phương lành ít giữ nhiều, khổ nỗi biết đâu mà tìm. Nhớ lại lần đó hẹn nhau ở thị trấn Cao Đài nên đành tới đây chờ tin tức.

      Thôi lão đạo chảy nước mắt : “Huynh đệ ta lần này như vào chỗ chết, ngờ còn sống mà gặp lại nhau, tiếc rằng Mạnh Bôn chết dưới làn súng đạn của lũ quân phiệt, còn bị chặt đầu, số đồ lấy được trong mộ tổ nhà Đồ Hắc Hổ cũng mất rồi. Xem ra cuộc đời lão đạo ta chẳng làm được gì, động đến việc gì là tự chuốc vạ vào thân, còn liên lụy đến huynh đệ.”

      Dương Phương có phần chán nản: “Sao huynh trưởng lại vậy. Sống chết có số, phú quý do trời định, phải do con người muốn mà được. Đồ Hắc Hổ chết trong động cát, chúng ta thay trời hành đạo, trừ mối họa lớn cho nhân dân.”

      Thôi lão đạo nghe Dương Phương kể lại mình bị bao vây bên bờ sông ra sao, rồi thoát xuống động cát và trốn nóc điện vàng thế nào, tình thế giao tranh gay cấn với Đồ Hắc Hổ, rồi chuyện gặp con cá khổng lồ dưới đó ra sao. Với kinh nghiệm của Thôi lão đạo cũng phán đoán được thành trì đó của thời đại nào, chắc của ông vua triều đại nào đó sùng bái đạo giáo, muốn tu luyện thành tiên, thấy trời mây gió biến hoá bất thường nên ra lệnh xây Kim điện bên bờ sông nhằm mời các vị tiên tới thưởng ngoạn, nào ngờ tiên chẳng thấy đâu còn cung điện bị lún chìm trong động cát.

      Lão lại bảo, đây là trận lụt lớn nhất trong trăm năm qua, nên giờ chúng ta phải đào mộ cổ núi lấy báu vật về để trấn áp thiên tai. Trong “Lăng phả” [1] , có ghi chép về ngôi mộ cổ núi Hùng Nhĩ, tại vị trí giáp ranh hai nước Tân và Tề, trong mộ vàng bạc chất như núi, trong quách là quan tài bằng ngọc, dùng ngọc minh châu thay cho nến, cũng chẳng biết chủ nhân ngôi mộ là ai mà nhiều đồ tuỳ táng có giá trị như vậy. Nhưng ngôi mộ chìm dưới nước từ lâu, gặp trận hạn hán trăm năm mới có lần lộ ra mặt nước, cũng biết là nơi đó khó ra tay, định tìm ngôi mộ khác nhưng lại quá xa. Dương Phương : “Đổ đấu mất nhiều thời gian mà việc tập trung lương thực cứu người dân bị nạn lại cần gấp. Theo ý kiến của đệ phủ đệ của Thống đốc quân phiệt thành Lạc Dương hề thiếu vàng bạc châu báu. Trong thành tuy có quân lính canh gác, nhưng chúng ta cũng có nhiều em, sao nhân cơ hội Đồ Hắc Hổ vừa mới chết, quân phiệt như rắn mất đầu, chúng ta tụ hội em lại, đêm đến lần vào phủ đệ của quét sạch mẻ, đổi lấy lương thực về cứu tế cho dân bị nạn”. Thôi lão đạo thấy ý kiến của Dương Phương cũng hợp lý nên sau đó họ tụ hợp dân đào trộm mộ đại náo thành Lạc Dương, chuyện này tạm nhắc tới. Còn Nhị Bảo bái Dương Phương làm sư phụ. Nhị Bảo vốn chỉ là tên thân mật, tên là Triệu Bảo Nghĩa, chính là lão Nghĩa mù, tính theo thứ bậc phải gọi Thôi lão đạo là sư thúc. Sau này, khi mắt kém, lão còn làm công việc đổ đấu nữa, chỉ giám định cổ vật, tôi càng thể gọi là đồ đệ của lão Nghĩa mù, chỉ hay theo ông, võ vẽ được chút ít, nghe ông kể về nhũng chuyện đào mộ của lớp người trước, chớp mắt thời gian mấy chục năm, trải qua cả thế hệ, Thôi lão đạo, Dương Phương đều qua đời, giờ tới lão Nghĩa mù cũng còn nữa, vài chiêu này của tôi chẳng là gì cả, lại biết tí gì về ngôi mộ cổ đó, chẳng hơn thông tin biết được ở thôn Phi Tiên là bao.

      [1] Lăng phả: Những ghi chép về lăng tẩm.

      Tôi kể lại câu chuyện cho Điếu bát và Mặt dày nghe, mục đích để học sớm từ bỏ ý định đó, tôi : “Ngôi mộ cổ mà Thôi lão đạo với Dương Phương có thể là địa cung ở núi Hùng Nhĩ được vẽ chiếc gối, chúng ta còn biết mộ chủ là ai…”, tới đây tôi chợt nhớ lại ác mộng bên cạnh nữ thi Saman, trong bức bích họa vẽ lại giấc mơ cũng thấy có quan tài bằng ngọc và tượng vàng, có phải về hầm mộ trong núi Hùng Nhĩ ? Trong cơn ác mộng nghìn năm đó có hình ảnh người chết, đầu tóc rũ rượi bò từ trong quan quách ra, tôi muốn quên hình ảnh đó thể quên được, nơi đó hẳn lành ít giữ nhiều.

                  6


      Hai người kia ngồi nghe say sưa, mỗi người đều có cảm nhận riêng, nhưng khi lòng tham nổi lên Phật tổ Bồ tát cũng thể nào khuyên họ quay đầu là bờ được, tới lui vẫn quay về chủ đề ngôi mộ ở Dự Tây.

      Điếu bát : “Nếu bán chiếc gối dương này , em ta mỗi người chia nhau ít, rồi cũng chẳng được bao nhiêu, giờ có cơ hội phát tài như vậy sao lại phải bỏ qua chứ?”. ta quyết tâm chưa thấy Hoàng Hà chưa thay đổi quyết định, nhất quyết theo vụ này đến cùng, thành bại cũng chỉ lần, ta chẳng thèm bàn bạc gì với tôi và Mặt dày tự động đập chiếc gối ra và tìm thấy tấm bản đồ cũ ở bên trong, rồi mở ra cho tôi xem.

      Trong tấm bản đồ vẽ hình cái hồ hai đầu hẹp ở giữa rộng, phía tây giáp với núi Kê Lung, phía đông giáp núi Thông Mã, phía bắc kề với Thảo Hài Lĩnh, ở thế ba phía đều là núi, chính giữa là hồ Tiên Đôn, nằm trong dãy núi Hùng Nhĩ ở Dự Tây. mặt hồ có đánh dấu khoanh tròn màu đỏ, đó chính là vị trí ngôi mộ cổ địa cung được xây dựng trong núi Tiềm Sơn, ngọn núi đó vốn là trong những ngọn núi của dải núi trải dài liên miên của vùng này, nghìn năm trôi qua, vì thay đổi địa chất khiến ngôi mộ nằm trong lòng hồ trong khu vực núi Dự Tây ít người biết đến, có đường , phải trèo đèo vượt núi mới có thể tới được.

      Tôi vốn bị ám ảnh bởi cơn ác mộng trong ngôi mộ cổ thời Liêu nên sắc mặt ngày kém hơn, trong lòng biết chắc ngôi mộ này có gì đó rất cổ quái, quan ngọc tượng vàng vốn là những thứ hiếm có đời, địa cung xuất trong cơn ác mộng được vẽ bích họa tám chín phần là về ngôi mộ cổ ở núi Hùng Nhĩ rồi. Tôi nghĩ gần đây chúng tôi gặp vận xui, họa vô đơn chí phúc bất trùng lai, các cụ vậy rồi, nhưng là phúc phải hoạ, là họa cũng tránh được. tới hầm mộ đó để tìm hiểu cho ra nhẽ có nghĩ nát óc cũng chẳng ích gì, cuối cùng tôi quay sang bàn bạc với hai người kia.

      Tôi : “Có được khởi đầu may mắn chúng ta thành công nửa. Lần này Dự Tây khác hẳn với lần trước, cần phải chuẩn bị kỹ càng.”

      Điếu Bát : “Cậu đúng ý , theo cậu chúng ta cần chuẩn bị những gì?”

      đợi tôi cất lời, Mặt dày : “Còn phải hỏi, đầu tiên phải chuẩn bị đủ tiền, binh mã chưa có nhưng lương thảo phải chuẩn bị sẵn, lương thảo chẳng phải dùng tiền mua sao?”

      Điếu bát : “ em mình giờ sống như buôn đồng nát, tiết kiệm chút , thế là cũng đủ rồi, còn chuẩn bị gì nữa?”

      Tôi : “Đèn pin, lương khô, xẻng… những thứ này đều phải chuẩn bị, mộ cổ núi Hùng Nhĩ chìm trong nước nhiều năm, cho dù có lộ lên khỏi mặt nước nhưng bùn đất cũng ít, phải hai hôm mà đào xong ngay được, hơn nữa chúng ta chưa hề biết gì về ngôi mộ, cũng như về hồ Tiên Đôn, thậm chí mộ đó chôn ai chúng ta cũng biết.”

      Điếu bát : “Ngôi mộ đó phải do chúng ta nghĩ ra, sơ đồ do Dương đoan công Chu Ngộ Cát để lại chắc đến nỗi là giả. Lấy ví dụ, nếu qua đập Tam Hiệp về phía Tây, là đến bến phà Phong Lăng, thường những địa danh nào có chữ Lăng đều có mộ cổ hết, chỉ vì niên đại quá lâu nên nhiều người được nguồn gốc của cái tên đó mà thôi, bến Phong Lăng chính là nơi có mộ cổ.” ta dừng lại chút rồi lại tiếp: “Ý của tôi là có thể lai lịch của vị vua chôn núi Hùng Nhĩ thất truyền, nhưng ngôi mộ vẫn còn tồn tại dưới hồ Tiên Đôn, truyền thuyết để lại cũng ít, dưới hầm mộ có tượng vàng tùy táng, ắt thể sai được.”

      Ba chúng tôi mỗi người câu, bàn bạc với nhau trong quán lẩu từ trưa cho tới tối, biết chủ quán phải thay bao nhiêu lần than. Tới khi trời tối hẳn, ngoài đường còn ai, ông chủ quán cũng mất hết nhẫn nại: “Mấy người cũng giỏi buôn chuyện quá , nếu biết mấy người có cái tài này lúc đàm phán Trung - đề cử mấy người rồi, muốn qua đêm cũng đừng chọn quán tôi, mau tính tiền rồi đâu .”

      Chúng tôi bị chủ quán đuổi ra, trong lòng được thoải mái cho lắm, nhưng giờ phải lúc gây chuyện phiền phức, đành quay về chia nhau chuẩn bị, đầu tiên là phải kiếm cho đủ tiền đường. Tôi chuyến Độc Thạch Khẩu, lấy ít tiền về cho Mặt dày sắp xếp việc gia đình, còn vấn đề nữa là tuy ở đó hay nổ mìn núi đá, thuốc nổ nhiều nhưng quản lý rất nghiêm ngặt, khó lấy được thuốc nổ hoặc mìn, tôi tìm người quen mới lấy được hai khẩu súng ngắn, đó là loại súng người dân tự chế để bắn gà rừng. Tôi nghĩ núi Hùng Nhĩ giống như Thông Thiên Lĩnh, nơi đó rừng sâu núi thẳm, thú dữ lảng vảng khắp nơi, mang theo khẩu súng phòng thân an toàn, súng tự chế của người dân Độc Thạch Khẩu bắn bằng đạn chì, sức sát thương lớn, nhưng có còn hơn , chúng tôi tháo súng ra xếp dưới đáy bao hành lý, để tránh bị phát lúc tàu.

      Về nhà, tôi nhận được thư của Sách Ni Nhi, trong thử gửi kèm gói nấm mật Armillaria, tôi định đọc thư Điếu bát mua được vé tàu, chúng tôi ngồi tàu tới Nam Dương trước, sau đó theo hướng đập nước Áp Hà Khẩu để lên núi. Vì tuyến đường này ít chuyến tàu chạy nên người rất đông, trong tàu chen chúc chật chội, lúc tàu ngang cầu bắc ngang sông Hoàng Hà, tôi cố vươn người ra cửa sổ để nhìn ra ngoài, ánh chiều ngả về Tây, dòng sông dưới ánh nắng chiều trải dài như chiếc đai ngọc, cảnh đẹp khó có thể miêu tả bằng lời. Trời chiều nhanh chóng chuyển sang màu ảm đạm, tối dần rồi đen hẳn màu. Tôi lấy bức thư của Sách Ni Nhi ra đọc, mơ màng nhớ lại lúc cùng săn trong rừng, rồi biết tự lúc nào hình ảnh bức bích họa trong ngôi mộ cổ thời Liên về cơn ác mộng nghìn năm bỗng về trong đầu, người tóc tai rũ rượi, bụng thủng lòi ruột bò ra từ trong quan tài, tay vươn về phía tôi, tôi kinh hãi vô cùng, vội giơ tay lên đỡ, mu bàn tay chạm vào móng của con ma đó, cảm thấy luồng gió lạnh tới thấu xương, vừa lúc tàu vào ga, tôi thức tỉnh vì bị chúi người về phía trước do tàu phanh giảm tốc độ. Trán đẫm mồ hôi, tôi biết mình lại mơ giấc mơ đó, cúi đầu nhìn xuống tay mình thấy có những vết xước rỉ máu.

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      Chương 12: Thành cổ dưới đáy hồ


                  1


      Chuyến tàu quá tải nghiêm trọng, trong toa tàu chỗ nào cũng thấy người, thậm chí có người nằm cả khoang đựng hành lý, khí ngột ngạt nồng nặc mùi người, tàu cập ga nào cũng dừng, vừa thay đầu tàu vừa thay nước. Bên ngoài trời tối như mực, đêm khuya, cũng chẳng biết là dừng lại ở ga nào, Điếu bát và Mặt dày đều ngồi bên cạnh tôi, túi hành lý kê dưới chân, người ngủ gục đầu bên cửa sổ, chảy cả nước miếng, người nằm rạp bàn ngáy như sấm, cả hai đều ngủ như chết. Tôi giật mình tỉnh dậy, thấy mu bàn tay có vài vết xước, trong lòng kinh hãi vô cùng, cơn ác mộng ngày hơn, tôi nhớ đến khuôn mặt nhăn nheo biến dạng của nữ thi Khiết Đan, ràng là nàng bị cơn ác mộng nghìn năm làm cho sợ đến chết, tôi thể để mình cũng có kết quả như vậy được.

      Nhưng tại sao người Khiết Đan khi sống cũng mơ về ngôi mộ cổ ở núi Hùng Nhĩ? Quan ngọc, tượng vàng và người chết trong bộ dạng thủng bụng lòi ruột cũng trong ngôi mộ đó sao? Chúng tôi Dự Tây đào trộm mộ lẽ gặp cố thi biến? Tất cả những nghi vấn đó tôi tài nào lý giải nổi, nhưng theo nội dung trong bức bích họa cố thi biến xảy ra lúc nguyệt thực, ngay tại thời điểm mặt trăng hoàn toàn bị che khuất, nghe gần đây có nguyệt thực nên tôi cũng an tâm phần nào. lúc sau, tàu lại chuyển bánh, hành khách trong toa đều ngủ cả, lòng tôi lo lắng yên, tài nào chợp mắt nổi, ngồi lâu khiến chân tê mỏi nên cố len ra bên ngoài giữa hai toa tàu để hít thở khí trong lành. Tôi ngồi ở toa số chín, toa mười là toa nhà ăn, từ toa mười trở là giường nằm cao cấp, bên đó thoáng đãng thoải mái, có tiền chưa chắc mua được vé toa đó. Nơi này có gió, khí lưu thông tốt, cũng có ai, tôi ngồi hút thuốc và lắng nghe tiếng tàu chạy xình xịch để giết thời gian. Lúc này mới để ý bên cạnh có người khoảng ngoài ba mươi tuổi, dáng người tầm thước, mặt đầy mụn, râu để lún phún, hai tai nhọn mọc dựng lên . ta ngồi bao hành lý, hai mắt nhìn chăm chăm vào tôi vẻ thèm thuồng, tôi đưa cho ta điếu thuốc, ta vội đỡ lấy và cảm ơn rối rít, hóa ra là lên cơn nghiện mà thuốc hết, đồ tàu đắt dám mua, đêm đến lại càng khó chịu hơn. ta vội vàng bật diêm châm thuốc, hai mắt lim dim rít liền hai hơi. Chúng tôi ngồi nhả khói hút hết điếu này tới điếu khác, chuyện phiếm đông tây nam bắc. Người này cũng hay chuyện, ta có biệt hiệu Lư mặt rỗ, người Lão Giới Lĩnh, Dự Tây. Lão Giới Lĩnh cách núi Hùng Nhĩ xa, nên tôi tiện miệng hỏi thăm về nơi đó luôn.

      Tôi nghe Lư mặt rỗ , vùng Thảo Hài Lĩnh ở núi Hùng Nhĩ đất rộng người thưa, thế núi hiểm trở, cây cối um tùm rậm rạp, chim chóc thú dữ rất nhiều, cá dưới nước có những con rất to, xung quanh tứ bề đều là núi, khe núi sâu hun hút, mưa gió liên miên, mười ngày nửa tháng cũng có lấy ngày nắng, cứ như trong rừng sâu e thẹn dám gặp người ngoài. Khi thời tiết đẹp, có thể nhìn thấy những con vích to như cái cối đá nằm bên bờ sông phơi nắng, chuột nặng hai ba cân là chuyện bình thường, còn có những con trăn dài mấy trượng, đó mới gọi là khủng khiếp. Lớp các cụ lớn tuổi đều cho rằng những con vật đó đều tu đắc đạo nên ai dám động đến chúng, rừng núi Kê Lung rất rậm rạp, địa hình phức tạp, núi Thương Mã là nơi hiểm trở nhất, vì đó là chiến trường cổ. Thảo Hài Lĩnh lại nhiều hang động, có động Hoàng Sào là động cạn, từ trước giải phóng cạn nước, còn được gọi là động Ngư Khốc, động đó rất sâu. Chuyện kể rằng, năm đó khi khởi nghĩa Hoàng Sào thất bại, quân lính còn đường lui, bỗng xuất ông cụ đưa nghĩa quân tới trốn trong động.

      Lần trước, tôi và Điếu bát Thông Thiên Lĩnh, chính là ngọn núi thuộc dãy Phục Ngư, nhưng vùng núi này quá lớn, Thông Thiên Lĩnh ở phía Bắc, Thảo Hài Lĩnh thuộc núi Hùng Nhĩ ở phía Nam, địa thế khác nhau cũng nhiều, hang động đá vôi như động Hoàng Sào này ở đây rất nhiều, lớn bé đều có, cái cạn cái dưới nước. Riêng động tên là Hoàng Sào cũng có mấy cái liền, nghe là sau này người dân tự đặt tên và cũng chẳng có gì đặc biệt. Tôi chỉ hỏi thăm Lư mặt rỗ về địa thế ở đó, đặc biệt hỏi thăm kỹ càng về hồ Tiên Đôn.

      Lư mặt rỗ lại kể, hồ Tiên Đôn Thảo Hài Lĩnh ba phía Đông, Tây, Bắc đều là núi, có đường , mực nước thấp hơn rất nhiều so với hồi trước giải phóng, phía Nam là vùng đầm lầy lau sậy, chỗ đó gọi là “Canh gà rừng”, nhưng hoàn toàn có gà rừng, mùa hè nước dâng vịt trời về đó sinh sống làm tổ. Lư mặt rỗ từng này tuổi rồi nhưng chưa lần nào tới hồ Tiên Đôn, nghe nơi đó rất bí , là có ma quỷ quái gì hay . Ví dụ, thời tiết vốn đẹp, bỗng nghe tiếng nổ inh tai, sương mù bỗng dày đặc, những người vào trong hồ, hầu như ai trở về. Năm hơn mười tuổi, có lần Lư mặt rỗ theo bố ta vào đầm Canh gà săn vịt trời, thời tiết quang đãng bỗng mưa như trút nước, hai bố con sợ lũ tràn về, dám ở lại săn vịt trời nữa mà vội vã ra về.

      Tôi thầm thấy kỳ lạ, hỏi Lư mặt rỗ: “Hồ Tiên Đôn có cái tên rất lạ, lẽ trong hồ có ụ đất tiên à?”

      Lư mặt rỗ : “Có ụ đất tiên đấy, cụ nội tôi tận mắt nhìn thấy...”

      Tôi nghe thấy vậy vội hỏi: “Thế là thế nào?”

      Lư mặt rỗ kể tiếp: “Cậu em cho điếu thuốc nữa , tôi kể chuyện Tiên Đôn cho cậu nghe.”

                  2


      Tôi đoán dưới hồ Tiên Đôn chôn vị vương hầu nào đó thời Hán, vì sao mà bị thủng bụng chết thảm, trong hầm mộ có vô số châu báu, còn có nhiều người tùy táng. có rất nhiều truyền thuyết về câu chuyện này, nhưng chưa ai giải được bí mật. Lư mặt rỗ sinh ra và lớn lên ở Lão Giới Lĩnh, để xem ta kể những gì, tôi đưa bao thuốc Hồng Tháp Sơn vẫn còn nửa cho ta, bảo ta vào trọng tâm, đừng vòng vo Tam Quốc nữa.

      Lư mặt rỗ : “Cậu em đúng là phóng khoáng, có cơ hội mời về nhà tôi chơi. Đừng xem thường nhà tôi nghèo, món mì đặc sản ở chỗ tôi phải ở đâu cũng có đâu. Vợ tôi ngoài việc sinh con chẳng có tài cán gì khác, ngày ngày làm bạn với cái bếp, món mì ấy làm nổi tiếng khắp vùng đấy, cậu phải ăn thử mới được. Mà cậu cứ nghe kể , ông nội của ông nội của ông nội... cũng là từ đời nào, chung là từ mấy đời trước rồi, đúng năm nạn đói, nhiều làng có thứ ăn, phải ăn vỏ cây, rễ cây, rất nhiều người chết đói. Hồi đó ở Dự Tây khắp nơi đều có thổ phỉ, thợ săn các vùng đều dám vào rừng săn bắn. Tổ tiên nhà tôi có người tin tà ma, cũng vì đói quá hóa liều, tới đầm Canh gà núi Hùng Nhĩ để săn vịt trời. Ở đó có điều rất lạ, cá trong hồ rất nhiều nhưng ai dám đánh lên ăn, chỉ dám săn bắn đàn vịt trời làm tổ trong đám lau sậy và lấy trứng vịt, nhưng cũng rất mạo hiểm, nếu bị sa vào đám sình lầy khó mà thoát ra được.”

      Tôi hỏi: “Lạ , sao ai dám ăn cá trong hồ? Cá ở đó hình thù rất kỳ dị sao?”

      Lư mặt rỗ : “Cậu cứ nghe kể tiếp biết ngay. Năm đó, ông tổ nhà tôi mình vào trong đầm Canh gà đợi ở đó ngày cũng chẳng thấy bóng dáng con vịt trời nào, đói lép cả bụng, ông tìm đường sâu vào bên trong, chừng kiếm được con vịt nào trốn sau đám lau sậy, nghĩ vậy liền vạch đám lau sậy tiến sâu vào bên trong, bỗng thấy phía xa có ngôi mộ to khác thường, xung quanh ngôi mộ đó là vô số nhà cửa, nếu có những ngôi nhà này chắc ông cũng chẳng dám bước vào trong. Trông thấy có nhiều nhà, hơn nữa cũng có nhiều người lại bên trong, nên ông cụ cũng nghĩ ngợi gì nhiều, lúc đói mờ cả mắt chỉ nghĩ vào tạm nhà nào đó xin miếng cơm ăn, cho dù là bát canh thôi cũng được. Nhưng khi tới nơi hỏi ai người ta cũng chẳng trả lời, trong lòng băn khoăn hiểu đây là nơi nào mà lạ vậy, hay là họ ngại tiếp xúc với người lạ nên thấy người ngoài đến tiện chào hỏi. Ông định bụng mình cứ vào nhà lấy đồ xem mấy người kia có giả vờ biết nữa hay . Nghĩ vậy liền vào trong nhà mở chum gạo ra lấy rất nhiều gạo, nhưng những người kia cũng chẳng thèm để ý đến ông. Sau khi lấy được gạo rồi ông trở ra, tới gần đầm Canh gà mà trong lòng vẫn chưa hết kỳ lạ, quay đầu lại nhìn hồn vía lên mây, phía sau lưng ông ngoài nước ra chỉ có nước, ngôi mộ và những gian nhà kia biến mất tự bao giờ, ông vội mở túi gạo ra xem, chỉ thấy bên trong là đất sét xanh lè hôi thối như vừa mới móc dưới đáy hồ lên.”

      Tôi hơi nghi ngờ, hỏi lại: “Chắc là gặp ma rồi! May là rời khỏi chỗ đó sớm, nếu chắc giữ được tính mạng.”

      Lư mặt rỗ : “Chứ còn gì nữa! Sau khi chạy thoát về nhà, nghe các cụ lớn tuổi , rất nhiều năm trước khi còn chưa có hồ, ở đó có ngôi mộ cổ, xung quanh có rất nhiều mộ , chôn rất nhiều người, sau đó đều chìm dưới đáy hồ. Những người mà cụ tổ nhà tôi nhìn thấy toàn là ma, dương cách biệt nên số gạo đó mang ra ngoài hóa bùn hết. Thời đó, khoảng phần hai nấm mộ lộ ra mặt nước, vì vậy mới gọi là hồ Tiên Đôn. Tương truyền cá trong hồ đều ăn thịt người chết nên mới to như vậy. Nếu cậu biết bọn cá này ăn thịt người cậu có dám ăn chúng nữa ?”

      Tôi lắc đầu : “ dám ăn...”, nhưng trong lòng nghĩ: “Bọn vịt trời chẳng phải cũng ăn tôm cá trong hồ sao? Người dân chẳng phải vẫn thường xuyên ăn thịt vịt đấy thôi?”

      Lư mặt rỗ tiếp tục : “Phần là vào sâu bên trong có đường, phần là nơi đó rất bí hiểm nên người ngoài ít khi lui tới, dân trong núi cùng lắm cũng bắt vài con vịt, vài con rái cá ở đầm Canh gà thôi, chẳng ai dám sâu vào bên trong.”

                  3


      Tôi dò hỏi: “Trong ngôi mộ hoang đó chắc là có báu vật, sao nhiều năm vậy rồi mà ai dám đào? Giờ chẳng phải thịnh hành câu : “Muốn làm giàu đào mộ cổ” đó sao, trong ngày trở thành giàu có rồi?”

      Lư mặt rỗ : “Tôi bảo rồi, nơi đó bí hiểm lắm, ai mà chán sống mới vào đó. Con người ta sợ nghèo nhưng vẫn sợ chết hơn. Đào được bảo vật cũng mất mạng, hơn nữa vẫn còn pháp luật cơ mà.”

      Tôi : “Đúng thế, tôi cũng chỉ vậy thôi, cho dù có hận xã hội cũ đến mấy chúng ta cũng thể làm bừa được, đúng ?”

      chuyện với Lư mặt rỗ, bỗng tôi có cảm giác như có người đứng bên cạnh, trong lòng chột dạ: “ hay rồi. Mấy câu này thể để cho người ngoài nghe thấy được”. Tôi quay đầu lại nhìn, sau lưng là rất xinh xắn, khoảng hơn hai mươi tuổi, chắc là ăn bên toa số mười, bây giờ ấy quay lại toa mười để nghỉ ngơi. Đêm khuya, còn ai lại toa tàu, để ngồi cho thoải mái hơn nên tôi lôi bao tải hàng của Lư mặt rỗ để ra ngoài hành lang rồi ngồi vắt chân chữ ngũ chuyện rôm rả, quên mất là chắn mất đường của người khác. Tôi thấy nhìn tôi như kiểu nghe thấy tôi và Lư mặt rỗ về chuyện đào trộm mộ. Bước chân của ấy rất , biết là đứng sau lưng tôi bao lâu rồi, tới lúc này tôi mới phát ra, vội ngậm miệng nữa, dịch chân tránh đường. “Cảm ơn!” rồi cúi đầu qua để lại mùi hương thơm thoang thoảng. Nhưng Lư mặt rỗ lại : “Hây, xinh làm được gì cho đời, như cái gối thêu thôi, chỉ đẹp mà chẳng có tác dụng gì, lấy vợ phải chọn người như vợ tôi ấy, trông hơi thô chút nhưng nấu nướng, sinh con, việc đồng áng, việc gì cũng giỏi...”. mới được mấy bước, nghe thấy Lư mặt rỗ vậy quay đầu lại nhìn chúng tôi. Lư mặt rỗ lúng túng, ta biết mình lỡ lời, vội cúi gằm mặt xuống, giống như vừa làm việc gì sai trái bị bắt quả tang vậy. Tôi chẳng để ý, ngẩng đầu lên với : “Bọn em đâu, em cứ ! ‘Em cứ mạnh dạn tiến về phía trước về phía trước’ [1] ...” đỏ ửng mặt, quay lưng về phía toa mười . Lư mặt rỗ thở hắt hơi dài: “Cậu được đấy!”. Tôi : “Con này cho mình là giỏi, coi thường dân lao động chân tay chỉ ngồi được ghế cứng như em mình”. Lư mặt rỗ gật đầu: “Đúng thế! cũng chưa gì mà ta trợn mắt lên nhìn rồi, chắc hẳn ta nghĩ là dân lưu manh”.

      [1] Lời bài hát.

      Sau đó, tôi lại hỏi thăm Lư mặt rỗ số lời đồn, về núi Hùng Nhĩ, nhưng phần nhiều là thông tin mấy hữu dụng. Ngày thứ hai, chúng tôi xuống tàu tại ga Nam Dương. Lư mặt rỗ phải qua đập nước Áp Hà Khẩu rồi ngồi xe Lão Giới Lĩnh. Nơi đó cách núi Thông Mã ở phía Đông hồ Tiên Đôn xa và cũng là con đường duy nhất tới đầm Canh gà. Nhưng chuyến này của chúng tôi càng ít người biết càng tốt nên chúng tôi dự định vòng sang hướng Bắc phía Thảo Hài Lĩnh, là nơi thưa người sinh sống. Cũng cho Lư mặt rỗ biết chúng tôi định đến hồ Tiên Đôn, cả hai bèn chia tay nhau ở Áp Hà Khẩu. Ba người chúng tôi chuẩn bị đầy đủ lương khô, hỏi đường rồi ngồi xe lên núi. Khi vào sâu trong núi, còn đường nữa, phải đeo ba lô trèo đèo lội suối, dựa vào tấm bản đồ và la bàn, hai ngày mới tới Thảo Hài Lĩnh. Bên kia ngọn núi là hồ Tiên Đôn, nhưng thế núi cao hiểm trở, giống như bức bình phong bằng núi khó mà vượt qua được.

      Chúng tôi tới nơi trước khi trời tối, tưởng rằng phải ngủ lại trong núi, ngờ ở đây có ngôi nhà hoang, tứ bề đều giáp rừng núi, cỏ dại và cây cối mọc um tùm xung quanh, nóc nhà và các bậc thang đều mọc đầy cỏ, lá rụng dày mặt đất, chiếc khóa cánh cửa hoen rỉ nặng. Xem ra, nhà trọ này bỏ hoang nhiều năm.

      Mặt dày : “Trời sắp tối rồi, có chỗ này qua đêm tốt quá rồi.”

      Điếu bát lên tiếng: “Đêm hôm giữa nơi thanh vắng lại có quán trọ bỏ hoang trông có vẻ ghê ghê...”

      ta còn chưa hết Mặt dày phá xong khóa cửa, dẹp đống lá và cỏ dại sang hai bên rồi vào trong. Hai gian nhà phía đông và phía bắc, cái sập nửa, cái thủng nóc, chỉ còn gian phía tây, tuy mái hiên bên ngoài hỏng nhưng tường nhà vẫn còn kiên cố, bên trong bám đầy mạng nhện và bụi bặm, ẩm thấp. Chúng tôi bật đèn pin lên nhìn thấy ba cỗ quan tài nằm trong phòng.

      Mặt dày chửi um lên: “Ai mà thất đức thế biết, quan tài mang chôn lại để giữa nhà dọa nhau thế này.”

      Tôi : “ tàu tôi có nghe Lư mặt rỗ , người dân ở Tấn Dự trước giải phóng có phong tục là những hộ gia đình lớn thường để quan tài trong nhà.”

      Điếu bát : “Ừ, người dân miền núi mê tín, để như vậy là có hàm ý thăng quan phát tài đấy.”

      Tôi : “ thế cũng đúng! Nhà giàu năm thê bảy thiếp, vợ chết lại thể chôn ở nghĩa trang họ tộc ngay, quan tài đành để trong nhà cho tới khi người chồng chết mới được chôn cùng. Cũng có người mua sẵn quan tài cho mình, quan tài trong phòng này có khi chỉ là cỗ quan tài rỗng thôi.”

      Điếu bát bực bội càm ràm: “Gặp quan , huyệt trống là may chút nào. Nghe quan tài đòi mạng người đấy, trong phòng này lại có đúng ba cỗ quan tài, bọn mình cũng ba đứa, đừng có... đừng có để nó đòi mạng mình đấy!”

      Mặt dày chẳng tin: “Quan tài có nhúc nhích được đâu, vài tấm gỗ mục còn ăn thịt người được chắc?”

      Điếu bát : “Cậu biết thôi! Quan tài huyệt trống mà vị trí đặt đúng lấy mạng người như chơi. Ông cố ngày trước là địa chủ, ưng ý mảnh đất ngoài thành nên mua về, ông chủ bán đất tham lam, muốn tăng giá đất nên đào tám cái huyệt mảnh đất đó, là tổ tiên nhà ông ta đều chôn ở đó, vốn định lừa tiền ông cố nhà . Nào ngờ, từ khi đào mấy cái huyệt kia nhà ông ta bắt đầu có người chết, chết hết người này tới người khác cho tới khi đủ tám người, đúng với số huyệt mà ông ta đào. Cậu thấy chuyện này có đáng sợ ?”. ta lại với tôi: “Cậu cũng biết chuyện huyệt trống đòi mạng người đúng ?”. Tôi gật đầu: “Có nghe lão Nghĩa mù qua...”, nhưng khi tới gần quan tài, tôi thấy nắp có đóng đinh, chứng tỏ đây phải là quan tài rỗng.

                  4


      Trong núi trời thường tối sớm hơn, khi chúng tôi vào trong phòng bên ngoài trời cũng chập choạng tối, bọn tôi ai cũng mệt mỏi, chẳng có sức mà tìm nơi khác nghỉ chân, có gan đào trộm mộ có lẽ gì lại sợ mấy cỗ quan tài trong nhà hoang. Vậy là, chúng tôi nghỉ đêm tại ngôi quán trọ hoang trong rừng. Mấy cỗ quan tài đều đặt ở sát tường của gian phòng phía Tây, gỗ mục cho thấy phải là loại gỗ tốt. Nghe theo phong tục của vùng này, linh cữu để lâu trong nhà chôn là để tránh mộ bị đào trộm lấy đồ. Chúng tôi cũng dám làm kinh động tới người chết, chỉ ngồi lại ngoài cửa phòng, lấy lương khô ra ăn.

      Trong lúc ăn, tôi kể lại những chuyện hỏi được từ Lư mặt rỗ cho hai người kia nghe. Hai người họ nghe xong rất hồ hởi, bàn chuyện ngày mai Thảo Hài Lĩnh, Mặt dày : “Ngọn núi này vừa cao vừa hiểm trở, ngày mai làm sao mà vượt qua được?” Điếu bát : “Cậu chẳng động não gì cả, bọn mình thống nhất rồi còn gì, đầu tiên theo hướng động Hoàng Sào như trong bản đồ của Chu Ngộ Cát để lại”. Mặt dày : “Lúc trước là động Ngư Khốc cơ mà, sao giờ lại là động Hoàng Sào? Cùng là cái động à, đừng có sai đường đấy.” Tôi : “Cùng là động, chỉ là tên gọi khác nhau, mới đầu gọi là động Ngư Khốc, sau đó khởi nghĩa Hoàng Sào thất bại, có ông cụ chỉ đường cho nghĩa quân lên trốn trong động, vì thế sau này hang động đó còn có tên là Hoàng Sào”. Mặt dày lại hỏi: “Tôi chỉ biết yến sào thôi còn Hoàng Sào là ai?” Điếu bát giải thích: “Hoàng Sào là thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa vào cuối đời Đường, còn được gọi là Xung Thiên Tướng quân, thống lĩnh hàng trăm nghìn quân khởi nghĩa đánh vào Lạc Dương, Tràng An. Đúng là giết người như ngóe! Nên mới có câu Hoàng Sào giết tám triệu người, hàm ý gặp ông ta khó mà thoát chết”. Mặt dày : “Tôi chưa nghe đến bao giờ, xem ra người này cũng nổi tiếng lắm”. Điếu bát : “Thế lực của Hoàng Sào rất mạnh, nhưng dù sao cũng chỉ là đội quân ô hợp, chuyện hoang đường gì cũng dám làm, ông ta những đem quân đào trộm mộ, mà khi quân lương cạn kiệt ông ta còn cho binh lính ăn thịt người. Cuối cùng khởi nghĩa thất bại, chết thảm ở núi Lang Hổ.” Mặt dày : “Hóa ra Hoàng Sào cũng là dân đào trộm mộ, cùng nghề với bọn mình.” Tôi : “Hoàng Sào tuy cũng đào trộm mộ nhưng phải dân đổ đấu chuyên nghiệp. Ông ta thống lĩnh hàng trăm nghìn quân đào Càn Lăng, đào hẳn đường hào to trong núi mà chẳng tìm thấy đường hầm của ngôi mộ đâu, cho thấy ông ta chẳng có khả năng xem xét địa hình.” Điếu bát lại : “Nghe ngày hành quân tiếu tốn hàng nghìn lạng vàng. Các cậu thử nghĩ xem, bao nhiêu người cùng đào mộ, cho dù trong mộ có nhiều vàng bạc tới mấy cũng đủ mà chia nhau.” Mặt dày : “ theo đại ca đúng là học được nhiều. Nhưng có chuyện tôi vẫn , động Hoàng Sào sao lại còn có tên gọi là động Ngư Khốc. Tên này là lạ, cá mà biết khóc sao?”




      Câu hỏi này làm khó Điếu bát, ta ấp úng: “Cái này, cái này... cá ở trong nước, ai mà biết được nó có khóc hay ?”

      Tôi giải thích: “Người dân phía nam và phía bắc Thảo Hài Lĩnh có cách gọi khác nhau về cái động này. Phía nam Thảo Hài Lĩnh gọi là động Hoàng Sào, phía bắc mới gọi là động Ngư Khốc. Về cái tên động Ngư Khốc, Lư mặt rỗ cũng kể cho tôi nghe rồi. Thế nào nhỉ? Nghe thời xưa cái động này vẫn có nước. Thời đó, có hai mẹ con nhà nọ nhà nghèo rớt mồng tơi, ngày có nổi bữa ăn. hôm, có ông cụ tới xin nghỉ nhờ, bà cụ tốt bụng dành chút gạo cuối cùng trong nhà nấu cháo cho ông cụ ăn. Ông cụ cảm động vô cùng, lén dặn dò con trai ngày mai lên hang động trong núi chờ, đến giờ này cá trong động bơi ra ngoài, cậu ta có thể bắt cá, nhưng tuyệt đối được động đến con cá đầu đàn. con trai nửa tin nửa ngờ nhưng ngày thứ hai vẫn tới ngoài cửa động ngồi chờ. Đến giờ ông cụ , quả nhiên có đàn cá vàng lũ lượt bơi ra. con trai quá mừng rỡ, quên béng lời dặn của ông cụ, nhắm chuẩn con cá đầu đàn to nhất quăng lưới. Về nhà đánh vảy định làm bữa cá tươi cho mẹ già, tới khi mổ bụng thấy những hạt cháo trong bụng cá còn chưa kịp tiêu hóa, mới vỡ lẽ con cá chính là ông cụ hôm qua hóa thành. Hai mẹ con hối hận vô cùng, đến tối hôm đó họ nghe thấy tiếng cá khóc ở xa xa. Từ đó trở , nước trong động cạn dần, cá cũng ít . Tới trước giải phóng trở thành chiếc động cạn. Cho tới ngày nay người dân phía bắc Thảo Hài Lĩnh vẫn quen gọi đây là động Ngư Khốc. Thế mới thấy khi lòng tham của con người trỗi dậy chẳng còn để ý tới gì sất.” Mặt dày hỏi: “Nghe cậu vậy ông lão cứu Hoàng Sào cũng chính là do con cá thần biến thành?” Điếu bát : “Cá thần cứu ai cứu, lại cứu đúng Hoàng Sào, chắc tại Hoàng Sào giết người quá nhiều, phạm vào luật trời, vì vậy nên cá thần sau khi cứu Hoàng Sào phải chịu hậu quả.”

      tới đó chúng tôi đun nước ngâm chân, đóng cánh cửa cài then rồi mặc nguyên quần áo nằm lên đống cỏ. Đêm hôm giữa núi rừng hoang vắng sợ gặp người, chỉ sợ bị bọn dơi bay tới, đêm còn dài, trời lạnh, ánh trăng từ bên ngoài rọi vào cần phải thắp nến. Mặt dày vừa đặt lưng là ngủ, Điếu bát lo sợ người chết trong quan tài nửa đêm mò ra nên ngủ được, hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Tôi thấy những cỗ quan tài đó được đóng đinh cẩn thận, chắc mấy chục năm nay chưa từng mở ra, người chết bên trong có khi xương cũng mục rồi, chẳng có gì phải sợ. Để cho chắc ăn, tôi ghim khẩu súng săn và thuốc nổ xuống dưới ba lô, rồi gối đầu lên ba lô ngủ. đám mây đen che khuất mặt trăng, quán trọ hoang bỗng chốc tối đen, nhìn thấy gì nữa, chỉ nghe thấy phía bên ngoài dường như có tiếng trẻ con khóc.

                  5


      Tôi giật mình, mở to mắt lắng nghe, xung quanh lại im ắng như tờ, thấy động tĩnh gì nữa.

      Điếu bát thầm: “Cậu có nghe thấy gì , vừa nãy có tiếng trẻ con khóc bên ngoài.”

      Tôi : “Thảo Hài Lĩnh hoang vắng thế này, quanh đây lại có nhà dân, làm gì có trẻ con, chừng là tiếng mèo kêu.”

      Điếu bát : “Chắc là nghe nhầm, nhưng mèo đêm tới nhà là điềm gở. Ban đêm mèo mò vào nhà là để đếm lông mày của người, đếm xong rồi là bị hút mất hồn...”

      Trong lòng tôi biết đó phải là tiếng mèo kêu, tiếng khóc vừa rồi vọng lại từ phía xa nhưng ràng là tiếng của đứa trẻ tầm hai ba tuổi, chỉ nghe thấy vài tiếng rồi im bặt luôn, đêm hôm giữa rừng sao lại có tiếng trẻ khóc?

      Mải nghĩ như vậy cũng chẳng để ý Điếu bát với tôi chuyện mèo đêm đếm lông mày của người rốt cuộc là như thế nào. Mặc dù thấy kỳ lạ, nhưng vì leo núi cả ngày quá mệt nên tôi muốn nhúc nhích động đậy nữa. Nhắm mắt lại là ngủ, cũng biết ngủ được bao lâu, bỗng tiếng trẻ con khóc lại vang lên, nghe gần hơn, hơn, khiến người ta phải sốt ruột.

      Tôi và Điếu bát cùng mở trừng mắt, mây đen trôi , ánh trăng lại chiếu vào bên trong, tôi nhìn thấy vẻ mặt Điếu bát hết sức kinh ngạc, ta : “Đây phải là tiếng mèo...”. Tôi gật đầu, hơi nhổm người dậy, nhòm qua cửa sổ nhìn ra ngoài, chỉ thấy dưới ánh trăng cảnh vật tĩnh lặng, bóng người.

      Điếu bát hỏi: “Thấy gì ? Có đứa bé nào ?”

      Tôi quay đầu vào: “Bên ngoài có ai cả...”

      Điếu bát lại : “Hay mình ra ngoài xem sao?”

      Tôi nhìn vào ba cỗ quan tài trong góc nhà, : “ được ra ngoài. Nơi này có chút tà ma, nửa đêm ra ngoài ổn, tốt nhất là đừng mở cửa, đợi trời sáng là ổn thôi.”

      Điếu bát cũng yên tâm mấy cỗ quan tài trong phòng, lại hỏi: “Theo cậu có phải là... mấy con ma trong cỗ quan tài kia giở trò ?”

      Tôi : “Tôi thấy mấy cỗ quan tài kia phải là quan tài trẻ con, đừng nghi ngờ linh tinh.”

      Điếu bát : “Tại sao trong quan tài có người chết mà lại để ở đây lâu như vậy, tới tận bây giờ vẫn dời vào nghĩa trang của dòng họ sao?”

      Tôi : “Mới đầu tôi cứ nghĩ là của gia đình giàu có nào đó để quan tài ở đây chờ đưa vào nghĩa trang, nhưng nhìn kỹ gỗ quan tài là loại gỗ rẻ tiền, chắc là người chết có ai đến nhận, chỉ là tạm thời đặt ở đây. Nghe đất vùng Hùng Nhĩ ở Dự Tây vừa sâu vừa cứng, người chết thể chôn ngay, nếu thi thể biến thành “bạt” gây hạn hán, vì vậy người chết phải để trong quan tài vài năm mới đem chôn. Tôi nghĩ nơi đây sau đó bị bỏ hoang nên chẳng ai quan tâm những cỗ quan tài này nữa.”

      Lúc này Mặt dày ngồi dậy, lấy tay dụi mắt, mơ mơ màng màng hỏi xảy ra chuyện gì?

      Tôi hỏi ta: “Ông có nghe thấy tiếng trẻ con khóc ?”

      ta trả lời: “Chẳng nghe thấy gì cả, chỉ thấy hai người tới lui trong phòng làm tôi ngủ chẳng yên. Đêm hôm giữa rừng núi hoang vu lấy đâu ra trẻ con, cậu mơ đấy à? phải là tôi xấu cậu đâu, nhưng mà cậu hơi căng thẳng quá đà rồi đấy, có thể cậu phát ra, nhưng cậu ngày nào cũng gặp ác mộng, sắc mặt ngày kém . Đợi lúc nào về, tôi kiếm cho cậu cái bầu dục của lừa, đừng có ngại ăn sống, cái món đó phải ăn sống mới có hiệu nghiệm, cắt lát ra trộn với tỏi ăn, đảm bảo có hiệu quả.”

      Tôi nghe giật mình, trong lòng hiểu dạo này tôi bị ác mộng hành hạ, Saman có khi cũng chết trong tình trạng như vậy. Tôi kể chuyện này cho Điếu bát và Mặt dày nghe nhưng hai người họ tin, tôi định tiếp chuyện của mình bên ngoài lại vọng vào tiếng trẻ con khóc, lần này càng gần hơn, tiếng khóc ngay ngoài cửa, đứa trẻ đó dường như gặp phải chuyện gì đáng sợ, tiếng khóc nghe rất thê thảm.

      Mặt dày : “Đúng là có tiếng trẻ con khóc , con cái nhà ai mà lại lạc vào trong núi thế này?”

      Tôi : “ đúng, từ lúc chúng ta lên núi, dọc đường có nhà dân, ngoại trừ quán trọ hoang này.”

      Mặt dày : “ ràng là tiếng trẻ con khóc mà, tôi phải ra ngoài xem thể thế nào.”

      Tôi với Mặt dày: “Ông đừng mở cửa, chừng bên ngoài là thứ gì khóc cũng nên, bọn mình cứ mặc kệ nó .”

      Mặt dày nào có chịu nghe lời tôi, xong là rút then cài cửa, trận gió lạnh thổi vào bên trong, tôi nổi hết cả da gà. Mặt dày đạp cửa thò đầu ra ngoài nhìn trái nhìn phải. Bên ngoài quán trọ bỏ hoang chỉ có lá khô cỏ dại chứ thấy ai. ta có to gan mấy cũng thấy ớn lạnh, câu “Lạ ” rồi định đóng cửa. Bỗng trong đám cỏ phát ra tiếng kêu the thé.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,954

      6


      Chúng tôi nghe thấy tiếng đứa bé khóc phát ra từ trong đám cỏ dại nơi chân tường, ánh trăng sáng vằng vặc nhưng vì cỏ mọc cao um tùm nên cũng chẳng nhìn thấy gì.

      Mặt dày lắm chuyện, màng tới lời khuyên của tôi và Điếu bát, cứ đòi ra đó xem thế nào.

      Tôi phát ra tiếng khóc của đứa bé giống như sợ hãi, nhưng vừa the thé vừa lạ, thông thường tiếng trẻ con khóc lúc to lúc , khóc lâu rồi hơi thở đều đặn nữa, nhưng tiếng khóc trong bụi cỏ kia phát ra đều đều như nhau, dường như có cảm xúc gì cả mà như giả vờ.

      Lúc Mặt dày chạy ra ngoài xem xét, tôi mới nhớ ra súng săn vẫn để dưới túi đồ, định vào trong lấy thấy đám cỏ xào xạc lay động, con vật trông như rắn nhưng có bốn chân bò ra, con vật đó dài gần mét, đầu hình tam giác, đầu lưỡi chẻ đôi thò ra thụt vào, miệng phát ra tiếng kêu như tiếng trẻ con khóc, cả ba người chúng tôi đều giật mình kinh hãi, lão Mặt dày hét lên tiếng: “Rắn mối!”

      Người dân vùng núi gọi loài rắn có bốn chân là rắn mối chỉ vì nó có hình thù giống rắn, nó có dây thanh quản, phát ra tiếng kêu, nhưng trong đêm người ta vẫn nghe thấy rắn phát ra tiếng “xì xì” đó là tiếng kêu phát ra từ thân họ nhà rắn mối, điều đó có gì là lạ, có điều con rắn mối này có tiếng kêu như trẻ con khóc đúng là hiếm thấy. Tôi nghĩ trong bụng, giữa nơi hoang vắng người này, rắn mối phát ra tiếng kêu như tiếng khóc để dụ người tới chẳng khác gì quái, con rắn mối này toàn thân bạc thếch, hai mắt đỏ ngầu, hề giống so với những con rắn mối khác, ràng người nó có độc, nghĩ vậy tôi bất giác lạnh người.

      Trong tay Mặt dày vẫn cầm thanh gỗ cài cửa, thấy con rắn mối há miệng bò ra liền giơ thanh gỗ lên đánh. Con rắn mối phản ứng nhanh đến kinh ngạc, thanh gỗ của Mặt dày đánh hụt vào khí.

      Tôi thấy trước mắt mình mờ , làn khói bay thẳng vào bên sườn Mặt dày, tôi vội túm lấy tay ta giật về phía sau. Con rắn mối đớp ngay vào thanh gỗ, độc dịch chảy ra thấm vào khúc gỗ phát ra tiếng kêu xèo xèo. Nếu để con rắn mối cắn phải giờ này toàn thân Mặt dày đen sì nằm vật ra đất rồi, ta kinh hoàng vứt vội thanh gỗ xuống đất. Điếu bát kêu lên: “Mau... Mau vào trong nhà !”, ta còn chẳng kịp quay người lại, lộn vòng lăn thẳng vào trong nhà. Tôi và Mặt dày vừa lùi vừa đóng cửa, cứ nghĩ con rắn mối đó có ghê gớm đến mấy đóng cửa phòng lại rồi là yên tâm. ngờ mới đóng cửa chưa kịp cài then con rắn mối nhả ra làn khói màu vàng, hôi thối kinh khủng, tôi và Mặt dày thấy tình hình ổn vội vàng lùi lại né tránh, may mà lùi kịp bị làn khói đó phả vào mặt nhưng vẫn ngửi thấy mùi hôi thối như cá chết, máu mũi lập tức chảy ra thành dòng, lấy tay bịt lại cũng được, trước mắt bỗng tối sầm. Chỉ chậm vài giây vậy thôi mà chúng tôi kịp đóng cửa, chỉ nghe thấy tiếng khóc lại thét lên, con rắn mối vào bên trong, dưới ánh trăng thấy nó vẫn ngừng nhả ra từng làn khói, trông thấy mà ớn lạnh cả sống lưng.

      việc xảy ra quá đột ngột, tôi chưa kịp lấy súng ra con rắn mối bò vào bên trong, chúng tôi ngừng lùi lại, nhưng gian phòng này chỉ có cửa, tiếp tục lùi nữa là tới chỗ mấy cỗ quan tài và cũng là đường cùng. Con rắn mối tiến lại gần, vẫn tiếp tục nhả khói vàng, mặt Điếu bát xám xịt: “Xong rồi! Xem ra hôm nay... qua khỏi kiếp nạn này rồi!” Tôi bịt lấy mũi vẫn ngừng chảy máu, với Mặt dày: “Vừa nãy ông mà nghe lời tôi bọn mình đến nỗi chết ở đây.” Mặt dày cãi lại: “Cậu đâu phải là người ra lệnh, việc gì tôi phải nghe cậu?”, rồi lại quay sang với Điếu bát: “Đại ca thấy chưa, chết đến nơi rồi mà nó còn tranh giành quyền lực”. Điếu bát : “Hai người có ân oán gì đợi kiếp sau giải quyết được ?”

      Phía sau lưng tôi là cỗ quan tài, còn chút đường lui nào, nhưng cam tâm chịu chết, trong đầu bỗng vụt qua ý nghĩ, tôi vội gọi hai người kia: “Mau đẩy mấy cỗ quan tài kia ra!”, Mặt dày : “Đúng rồi, đẩy mấy cỗ quan tài này ra đè chết nó !” rồi ba người chúng tôi vội đẩy những cỗ quan tài đó ra. Vì để ở đây nhiều năm, trần nhà lại dột, gỗ quan tài mục từ lâu, chúng tôi ai cũng cố hết sức để đẩy. Nhưng con rắn mối này rất nhanh nhẹn, tránh được cỗ quan tài đổ xuống, nháy mắt vòng sang phía chân tường, há miệng chực đớp Mặt dày. Bọn tôi vì đẩy quá mạnh nên đều bổ nhào ra trước cùng với cỗ quan tài. Con rắn mối bò nhanh như bay, đớp trượt vào khí nhưng nó quay đầu lại, xoay vòng quanh cỗ quan tài chạy ra phía trước mặt chúng tôi, ngẩng đầu lên lại chuẩn bị nhả khói vàng. Tôi đành phải tiếp tục đẩy quan tài, có điều cỗ quan tài để lâu, mưa gió vùi dập nên gỗ mục, mới đẩy cái chỉ nghe thấy tiếng kêu răng rắc rồi cả nắp quan tài bật ra gãy làm mấy khúc. Tôi cầm lấy khúc nắp quan tài, chẳng kịp nghĩ ngợi gì ném thẳng vào mặt con rắn mối. Con rắn mối nhanh nhẹn tránh được chiếc nắp quan tài bay tới, rồi nó bất ngờ trèo lên cỗ quan tài, đứng đối diện với chúng tôi, miệng ngừng phát ra tiếng kêu như tiếng trẻ con khóc. Khoảng cách gần trong gang tấc, cho dù nó nhả khói vàng hay là cắn chúng tôi cũng còn chỗ mà tránh.

      Ai ngờ lúc con rắn mối trèo lên quan tài chuẩn bị nhả khói bỗng thét lên tiếng dài kinh hãi rồi quay đầu bỏ chạy nhanh như cơn gió, chớp mắt nhìn thấy bóng dáng đâu nữa, đám khói vàng nó nhả ra cũng tan hết.

      Ba người chúng tôi vẫn đứng đờ tại chỗ, miệng há to mãi vẫn ngậm lại được, hiểu vì sao con rắn mối đó lại đột ngột bỏ .

      Tôi nghĩ chắc là khi nắp quan tài bị bật ra, con rắn mối nhìn thấy người chết trong quan tài, nên sợ quá mà bỏ chạy tháo thân. Nhưng trong quan tài là người chết nhiều năm, đâu có gì đáng sợ, tại sao lại khiến con rắn mối thành tinh kia hoảng hốt dường vậy. Nghĩ tới đó, tôi bất giác ngó vào cỗ quan tài.

                  7


      Tôi nhớ lại, có xem hát ở Độc Thạch Khẩu, tích “Trương thiên sư chém xà tinh”, đó là loại rắn có bốn chân, đêm đến phát ra tiếng kêu như tiếng con để dụ chàng thư sinh trong ngôi miếu cổ vào trong núi rồi ăn thịt, đúng lúc Trương thiên sư ngang qua, thấy xà tinh ăn thịt người liền rút chiếc thước thần ra để trừ . Con rắn tinh dài mười trượng, mỗi lần bị đánh roi đều ngắn thước, cho tới khi rút hết số năm mà nó tu luyện, sau đó bị Trương thiên sư hàng phục, nhốt trong chiếc hộp sắt bên ngoài có dán lá bùa rồi đem chôn xuống đất. Nhiều năm sau, người nông dân cuốc phải trong lần làm đồng, rắn tinh lại thoát ra gây hại cho bách tính. Có thể hình thù các loại quái trong truyền thuyết dân gian cũng bắt nguồn từ các loại động vật như rắn mối chúng tôi gặp phải ngày hôm nay, gọi nó là rắn tinh cũng quá lời chút nào. Điếu bát và Mặt dày gì, có thể họ cũng nghĩ như tôi, ba người cùng nhìn vào trong quan tài, lúc này mặt trăng lại bị mây đen che khuất, trong phòng tối thui, nhìn được thi thể bên trong quan tài.

      Bốn bề tĩnh mịch, đến tiếng tim của tôi và hai người kia đập thình thịch đều nghe mồn , trước mắt lại tối đen như mực, nhìn được gì đó có khi lại tốt hơn, càng nhìn thấy lại càng nghĩ ngợi nhiều, trong lòng yên chút nào, tôi càng sợ con rắn mối kia quay trở lại, hẫng lúc mới mò ra được hộp diêm bật que lên, tôi ra đóng cửa, thanh gỗ vừa rồi vứt ở bên ngoài, chúng tôi tìm thanh khác cài cửa. Nghe loại rắn mối này chỉ xuất vào ban đêm, sau khi trời sáng cần phải sợ nữa. Lúc này, hai người kia cũng tìm thấy đèn pin, trong phòng sáng hẳn lên, mọi người đều cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều. Điếu bát nhìn thấy tôi và Mặt dày vẫn chảy máu cam, trong lòng sợ hãi: “Nghe bọn rắn mối này hay giao phối mái nhà, nếu người nhà biết ngang qua phía dưới bị tinh dịch của nó rơi trúng toàn thân tan chảy thành máu, người dân miền núi sợ rắn mối như sợ cọp. Bọn mình gặp phải con rắn mối này cũng quá kinh khủng, ngửi mùi hôi nó thở ra mà chảy máu mũi rồi, may mà nó đột ngột bỏ , nếu ... hậu quả khôn lường!” Mặt dày : “Hình như nó nhìn thấy xác chết trong quan tài sợ quá nên bỏ chạy.” Điếu bát : “Rắn mối có nhìn được đâu, làm sao mà thấy xác chết trong quan tài được? Chắc là khi bọn mình mở nắp quan tài, nó ngửi thấy tình hình ổn nên bỏ chạy, trong quan tài có thứ gì mà khiến nó hoảng sợ như vậy?”. Mặt dày : “Rắn mối nhìn được mà chỉ ngửi được thôi à?” Điếu bát : “Đương nhiên rồi, cậu nhìn thấy trước mũi nó có hai cái lỗ à?” Mặt dày lại: “Nhưng nó cũng có mắt cơ mà, phải nhìn được mới đúng chứ?”

      Lúc tôi vẫn cùng Sách Ni Nhi đào vàng trong núi, từng nghe ấy kể rắn mối rất giống rắn, có thể thè lưỡi ra để nhận biết mùi vị trong khí, cũng chẳng có gì phải suy luận cả. Tôi vừa lấy súng trong ba lô ra vừa với Điếu bát và Mặt dày: “Giờ nắp quan tài bị bật ra rồi, nhân tiện xem bên trong có gì mà khiến cho con rắn mối đó sợ như vậy, chắc là có gì đó rất cổ quái.” Mặt dày : “Đúng! chừng có bảo vật, truyền thuyết xà tinh trộm bảo trong dân gian được nghe rồi, nhưng chỉ mới nghe chứ chưa được tận mắt thấy, hôm nay đúng là được mở mang tầm mắt...” Lão ta tới đó, nhận thấy làm sao để tiếp lời được nên đành im miệng, cầm lấy đèn pin trước tới chỗ cỗ quan tài.

      Tôi cầm chắc lấy khẩu súng lên nòng, cũng tiến về phía trước. Điếu bát dù dám tiến tới quá gần nhưng vẫn hiếu kỳ, nấp phía sau lưng chúng tôi thò đầu ra nhòm, còn quên nhắc nhở chúng tôi: “Khéo máu vào trong quan tài đấy!”

      Tôi và Mặt dày bịt lấy mũi, ngửa cổ lúc để cầm máu. Vừa nãy mất máu tương đối nhiều, giờ hơi choáng váng chút. Thay bộ quần áo dính đầy máu, sau đó tôi cầm đèn pin mạnh dạn soi vào trong cỗ quan tài, bên trong là xác chết có khuôn mặt màu xanh lét rất kỳ quái, dài gần gấp đôi mặt người bình thường. Tôi thấy đầu nổi da gà, tóc dựng đứng: “Thi thể trong quan tài này có phải là người ?”

                  8


      Điếu bát và Mặt dày cũng lộ vẻ sợ hãi, ngờ mặt của xác chết trong quan tài lại có màu xanh, khuôn mặt những dài mà diện mạo lại mờ mờ rất kỳ quái, nhìn thế nào cũng giống người, nhưng xác chết vẫn có hai tay hai chân, toàn thân đen thùi lùi. Chúng tôi soi đèn nhìn lúc lâu phát ra người chết đeo chiếc mặt nạ bằng vỏ cây, do để quá lâu nên chiếc mặt nạ dính vào với thi thể, thể lấy ra được nữa.

      Mặt dày hỏi: “Mặc dù bộ dạng người chết trong quan tài trông rất khó coi, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi, làm sao có thể khiến con rắn mối kia sợ bỏ chạy được?”

      Điếu bát : “ chừng ông cụ này có đạo hành!”

      Tôi : “Người chết cũng như ngọn đèn tắt, còn đạo hành gì nữa. Theo tôi, con rắn mối đó sợ chiếc mặt nạ này.”

      Điếu bát : “ mặt xác chết là mặt nạ à? Hình như là... vỏ cây khô.”

      Tôi giải thích: “Dùng vỏ cây làm mặt nạ, bên gắn thạch hoàng, là loại hùng hoàng mà loài rắn sợ nhất.”

      Điếu bát giờ mới vỡ lẽ: “Hóa ra là thạch hoàng, chúng ta lên núi trộm mộ cũng nên mang theo thứ này, có gặp phải rắn cũng sợ nữa.”

      Chúng tôi nhận ra xác chết trong núi phần nhiều phải chết rồi mới đưa vào quan tài, vì khi mở quan tài thấy có mùi tử khí bốc ra, có thể là được đào từ trong mộ cũ núi. Nhưng người chết đeo mặt nạ vỏ cây này là ai? Tại sao lại để trong núi hoang ở Thảo Hài Lĩnh?

      Tôi chợt nhớ ra, lúc ngồi tàu, Lư mặt rỗ có kể cho tôi nghe chuyện. Trước giải phóng, năm đó trời hạn hán, động Hoàng Sào ở Thảo Hài Lĩnh cạn nước, những nơi trước đây tới được giờ đều vào được, người dân phát trong động có cương thi. Khi trong động còn nước chẳng ai tới đó, chắc là lúc lũ lụt, nước hồ Tiên Đôn dâng lên đẩy thi thể vào đây, biết chìm trong nước bao nhiêu năm, người dân lo sợ đây là “bạt” nên dám chôn xuống đất, cho hết vào quan tài để vài năm rồi mới đem chôn. Lúc đó, nghe Lư mặt rỗ kể tôi cũng mấy chú ý, giờ nghĩ lại thấy ở đây có ba xác chết, cũng có thể là do người dân đào được trước giải phóng, do bị ngâm trong hồ nhiều năm nên vỏ cây mới biến thành màu xanh.

      Nghe cương thi đeo mặt nạ vỏ cây này có rất nhiều dưới lòng hồ, có thể là người tùy táng trong lăng tẩm ở hồ Tiên Đôn. Chỉ cần nhìn độ dốc của núi, nhìn ngọn núi là biết được hầm mộ nông sâu thế nào, xung quanh địa cung của Tần lăng, Hán lăng đều có hố chôn tượng đất mang ngựa xe, binh lính, nhưng chôn nhiều người đeo mặt nạ vỏ cây như thế dưới vòm trời tuyệt chưa thấy bao giờ. Trước đây, mỗi lần đào mộ trong núi đều phải huy động lực lượng rất lớn, dùng trâu dùng ngựa để kéo từng khối đá to ra khỏi đường hầm, rồi dỡ bỏ nhiều tầng cửa mới tới được hầm mộ lấy bảo vật. Sau thời Dân quốc, lại thịnh hành dùng thuốc nổ, nhưng dẫu vậy với khối lượng công việc lớn như vậy chỉ dăm ba người thể nào làm được. Cho dù có khả năng tìm được long mạch việc đào núi Hùng Nhĩ để vào được hầm mộ còn khó hơn lên trời. Tôi ý thức được ba chúng tôi nghĩ việc quá đơn giản, đúng là lực bất tòng tâm, khác nào rắn nuốt voi, nhưng khi giương cung lên rồi thể hạ xuống được nữa, chưa tới Hoàng Hà chưa nhụt chí, chỉ cần ngôi mộ đó ở dưới nước chưa chắc có cơ hội ra tay. Còn việc chủ nhân ngôi mộ dùng quan ngọc tượng vàng này là ai chúng tôi vẫn chưa có manh mối gì. Tôi định ngày mai khi tới động Hoàng Sào có khi lại tìm được thông tin gì đó. Đêm đó, tôi cùng với Mặt dày đóng lại nắp quan tài, ba người thấp thỏm ngồi trong quán trọ cho tới khi trời sáng.

      Đêm đó, tôi nhẩm lại lượt cuốn “ dương bảo kíp” về phương pháp đào mộ cổ và những kiến thức mà lão Nghĩa mù truyền lại. Khi trời vừa hửng sáng, chúng tôi cạy mấy miếng thạch hoàng mặt nạ vỏ cây xuống mang theo bên mình để đuổi rắn, sau đó đào mấy cái huyệt sau núi chôn ba cỗ quan tài kia rồi lên đường. Theo hướng dẫn trong bản đồ, chúng tôi tìm ra hang động Thảo Hài Lĩnh, cửa hang rất hẹp, nhưng khi vào bên trong lại rất sâu.

      Thảo Hài Lĩnh được đặt tên theo địa thế ở đây, dốc núi hiểm trở, có chắp thêm cánh cũng bay được, trong núi lại có động Hoàng Sào xuyên suốt trong lòng núi thông ra tận hồ Tiên Đôn, mấy chục năm trước trong động vẫn có nước nên tạo thành kỳ quan “các động thông nhau, trong động có động, trong động có núi, trong núi có sông”, mặc dù thời đó có cách : “Thượng hà thông thiên, hạ hà nhập địa [2] ”, nhưng vì nước quá sâu nên ai vào được, từ xưa nơi này hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài. Giờ nơi đây thành động cạn, chứng tỏ mực nước ở hồ Tiên Đôn cũng còn sâu nữa. Tôi đưa cho Mặt dày khẩu súng săn phòng gặp thú dữ, ba người chuẩn bị xong xuôi đốt đuốc vào bên trong động. Đoạn đầu, trong hang chật hẹp, uốn khúc, lại rất khó khăn, trước mắt toàn là những nhũ đá hình thù kỳ quái. Theo truyền thuyết, năm xưa con cá thần biến thành ông lão cứu Hoàng Sào chính là ở trong động này, cuối cùng bị người ta quăng lưới đánh lên mổ bụng làm thịt, chết rất thê thảm. Trong động vọng lại những tiếng kêu như tiếng khóc, chẳng trách người dân còn gọi động này là động Ngư Khốc.

      [2] “Thượng hà thông thiên, hạ hà nhập địa”: Nghĩa là thượng nguồn sông lên trời, hạ nguồn xuyên xuống đất.

                  9


      Điếu bát giơ cao bó đuốc, vừa vừa lẩm bẩm: “Động Hoàng Sào sâu như vậy, trong này có ma quỷ quái, thần tiên cũng chẳng có gì là lạ.”

      Tôi : “Trong dân gian truyền rằng trước đây có cá thần ở trong động đây là nơi ở của thần tiên, làm gì có quỷ quái.”

      Mặt dày : “Cậu thế cũng đúng. Thần tiên phải ở trời chứ, con cá biến thành ông lão cùng lắm cũng chỉ là quái núi thôi.”

      Tôi : “Ai bảo với ông cứ ở trong hang động đều là ma quỷ quái. Các đạo sĩ đều tu luyện trong động phủ, rời khỏi sơn động sao còn gọi là động phủ được?”

      Điếu bát : “Đúng là có cách lý giải như vậy. Chưa kể đến thứ khác, riêng Tử Tiêu cung, động phủ của Hồng Quân lão tổ, người đứng đầu trong các vị tiên, chính là ở khuỷu núi Tạ Gia vùng Đông Bắc. Hai năm trước, tôi tới đó thu mua đồ, đó là ngọn núi đồ sộ ở vùng Liêu Ninh, Hồng Quân lão tổ tận dụng hang động núi làm cung điện. Sở dĩ Hồng Quân lão tổ chọn nơi đây làm động phủ là có nguyên nhân. Nghe , Hồng Quân lão tổ là con Khúc Thiện tu luyện đắc đạo, sinh ra và sống trong đất nên thể rời hang động được, nếu xảy ra cố, trốn trong động mới có cơ hội thoát thân.”

      Mặt dày hỏi: “Sinh ra trong đất và sống trong đất... lão ta là thứ gì thế?”

      Điếu bát : “ trắng ra Hồng Quân lão tổ là con giun đất, trải qua kiếp nạn khai thiên lập địa, sau đó đắc đạo.”

      Mặt dày : “Nếu vậy Hồng Quân lão tổ là do con giun đất biến thành, chẳng phải là lão quái tu luyện thành tinh sao?”

      Tôi : “Thực ra tiên cũng là quái, đắc đạo thành tiên hay thành tinh cũng chỉ là cách của con người thôi, chưa nguyên hình là tiên, nguyên hình rồi ma quỷ quái.”

      Điếu bát : “ vậy cũng đúng! Thần tiên hay quỷ quái đều trong ý nghĩ của con người, nhưng động Hoàng Sào khô cạn nhiều năm, vậy mà sâu bên trong lại có tiếng u u, chẳng lẽ là bọn cá khóc sao?”

      Động Hoàng Sào còn có tên là động Ngư Khốc. Tương truyền, cá thần trong động bị người ta giết thịt nên thường nghe thấy tiếng con cháu của con cá thần đó khóc. Điếu bát nhớ lại chuyện tối qua, nên trong lòng vẫn thấy sợ hãi. Tôi và Mặt dày nghe ngóng thấy như tiếng gió, có gió có gì là lạ. tới đây gian trở nên thoáng đạt rộng rãi hơn, tôi phát đỉnh động có thứ gì đó phát ra tiếng động, giơ đuốc lên soi nhìn thấy gì, đó quá cao, ánh sáng soi tới nơi, chỉ màu tối đen, tôi cố mở to mắt ra nhìn bỗng thấy phía đỉnh động đen ngòm có hàng loạt những đốm xanh lè, tiếng u u phát ra càng lúc càng mạnh hơn.

      Ngẩn ra lúc, chúng tôi mới nhìn thấy quanh thành động cũng chi chít những đốm xanh lè, đó là hàng ngàn hàng vạn con dơi. Chúng tôi vội vàng ôm lấy đầu nằm rạp xuống. Lúc này đàn dơi bị kinh động, kêu ré lên nháo nhác bay ra ngoài, đuốc đều bị chúng tạt cho tắt hết. Dơi trong động Hoàng Sào đều màu trắng, to bằng lòng bàn tay, số lượng nhiều kể xiết, chúng tôi nhắm mắt ôm đầu nằm im, lúc sau, lũ dơi mới bay hết ra ngoài. Tôi và Mặt dày lôi Điếu bát dậy, thắp đuốc lên, trong này là hang động mọc đầy măng đá, cứ như đứng giữa rừng măng, trong lòng động có nước, sâu khoảng thước, nước trong nhìn thấu đáy, rất nhiều con cá mình trong suốt bơi lội.

      Tôi nghĩ truyền thuyết cá khóc trong động chắc là bắt nguồn từ tiếng kêu của lũ dơi, may mà bọn này tấn công người.

      Mặt dày : “Mấy ngày núi, mồm miệng nhạt quá rồi, hay là bắt vài con cá ăn tạm, còn tiết kiệm được lương khô nữa.”

      Điếu bát : “Dân trong vùng còn dám ăn cá ở đây, vì dưới hồ có cương thi, bọn cá này đều ăn thịt người đấy.”

      Mặt dày : “Toàn mấy lời đồn mê tín của dân bản địa, có bao nhiêu cương thi cho bọn cá này ăn bao nhiêu năm như vậy chứ.”

      Tôi : “Bọn cá dưới hồ Tiên Đôn có ăn xác người chết hay biết, nhưng bọn cá trong động này ràng là được tiếp xúc với ánh mặt trời, nếu trở nên trong suốt thế kia, chỗ này lại chẳng có thứ gì khác mà ăn, chắc là chỉ ăn xác chết và phân dơi thôi. Ông mà muốn ăn cá cứ xơi tự nhiên, bọn tôi chẳng dám hưởng phúc đó đâu.”

      Mặt dày nghe thấy buồn nôn, ngay lập tức từ bỏ ý định ăn cá, lại lý luận: “Hai người đừng tưởng , tôi cũng chỉ thế thôi, tiết kiệm là đương nhiên nhưng nhất thiết phải mạo hiểm tính mạng.”

      Động Hoàng Sào là dòng sông chảy ngầm trong lòng đất thông ra tới hồ, dài mấy cây số, nối thông với rất nhiều lòng động to khác nhau, trong đó vài nơi vẫn còn nước, nhiều lúc tới những vị trí tương đối cao còn nhìn thấy những bức họa vẽ hình thiên cẩu ăn mặt trăng, nội dung còn nguyên vẹn, hình thù kỳ dị, thậm chí còn có phần khủng khiếp chúng tôi, đứng trong lòng động hàng vạn năm, u lạnh lẽo này mà dám tiến lên.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :