Ma thổi đèn - Thiên hạ bá xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.2 - Chương 17: Long Cốt





      Cuối cùng cũng ra khỏi hang động, tôi định hò reo vui mừng, tự dưng nghe Tuyền béo lưng mọc ra “mặt người”, câu chẳng đầu chẳng đuôi như gáo nước lạnh té thẳng vào mặt tôi, niềm hưng phấn cũng nguội quá nửa, tôi vội ngoẹo cổ nhìn ra sau lưng, rồi mới sực nghĩ ra mình thể nhìn lưng mình được, liền hỏi lại Tuyền béo: “Giời ạ, cậu xì xằng cái quái gì thế? Lưng tôi mọc mặt người á? Mọc chỗ nào? Mặt ai? Đừng dọa rồ kiểu ấy, dạo này tôi suy nhược thần kinh đấy.”


      Tuyền béo kéo Răng Vàng lại, chỉ vào lưng tôi: “Tôi doạ cậu làm gì, cậu để Răng Vàng nhìn xem tôi đúng hay .”


      Răng Vàng đặt ngọc Văn hương ôm trong lòng xuống đất, ở trong hang tối quá lâu, mắt bị lóa, liền đưa tay dụi dụi mắt, đứng sau lưng tôi quan sát: “Ừm… ấy? Nhất này, ở chỗ hai xương bả vai sau lưng ông, quả có vết giống như là vết chàm, to cỡ bàn tay ấy, nhưng… lắm… mà đây là mặt người á? Hình như giống… giống con mắt hơn.” Truyện "Ma Thổi Đèn "


      “Cái gì? Sau lưng tôi mọc ra con mắt?” Đầu tôi như muốn nổ tung, nhắc đến “con mắt”, hình ảnh đầu tiên mà tôi nghĩ đến luôn là tòa thành cổ Tinh Tuyệt ở sa mạc Tân Cương, những hồi ức như ác mộng đó cũng chẳng kém gì những ký ức oanh liệt hồi tôi xông pha nơi chiến trường, đều đáng sợ và đau xót như nhau. Tôi vòng tay ra sau lưng sờ lên lưng mình, cảm thấy gì hết, vội bảo Răng Vàng tả lại kỹ cho tôi xem rốt cuộc vết chàm đó hình thù ra sao, rốt cuộc là “mặt người” hay là “con mắt”.


      Răng Vàng : “Là vết chàm đỏ sẫm hình tròn, nhìn kỹ ra đâu, từng vòng từng vòng ấy, hao hao giống con ngươi, có thể tôi chuẩn lắm, giống nhãn cầu đúng hơn, chứ giống mắt lắm, có mí và lông mi.” Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi lại quay qua hỏi Tuyền béo: “Này béo, cậu vừa bảo giống mặt người cơ mà? Sao Răng Vàng lại bảo giống nhãn cầu.”


      Tuyền béo đứng sau lưng tôi : “Cậu thông cảm, nãy giờ đầu óc tôi toàn nghĩ đến cái mặt người trong hồn mộ, rồi đột nhiên nhìn sau lưng cậu, thấy mọc đâu ra cái dấu tròn tròn, cứ tưởng là mặt người, giờ nhìn kỹ lại rồi, cậu đừng gì vội… trông giống cái kiểu nhãn cầu chúng ta thấy ở thành cổ Tinh Tuyệt lắm cậu ạ!”


      Răng Vàng và Tuyền béo càng tôi càng hoảng, đây chắc chắn phải là vết chàm, nguời tôi có vết chàm hay tôi lại chẳng ? Sau lưng rốt cuộc mọc ra thứ gì? Bực nhất là có gương, chẳng nhìn được sau lưng mình.


      Lúc này Răng Vàng bỗng kêu lên: “ Tuyền béo, lưng cũng có vết chàm giống y như của Nhất này, hai mau xem lưng tôi có ?”


      Tôi liền quan sát lưng Răng Vàng và Tuyền béo, phát ra mé trái lưng Tuyền béo có vết màu đỏ sậm hình tròn, quả có giống vết chàm , trông mờ mờ nhạt nhạt, đường nét quá ràng, to cỡ bàn tay, hao hao hình dạng nhãn cầu, nhưng cũng thể chắc trăm phần trăm, cái màu đỏ sậm như màu máu đông, dưới ánh nắng hiu hắt cuối chiều trông lại càng chối mắt.


      Còn lưng Răng Vàng lại nhẵn thín, ngoài những vết chà xát ra chẳng có gì hết.


      Tôi và Tuyền béo chết đứng người, đây mười mươi phải chuyện trùng hợp gì, mà xem chừng xuất lúc cùng với Răng Vàng, đếm tám mươi phần trăm là có liên quan đến chuyến Tân Cương, lẽ nào những người sống sót trong chuyện thám hiểm đó, đều bị cái động sâu thấy đáy kia nguyền rủa?


      Còn nhớ khi vừa đến Cổ Lam hai hôm trước, chúng tôi gặp nạn sông Hoàng Hà, mình mẩy ướt sũng, rồi vào nhà nghỉ cùng tắm nước nóng, lúc ấy… hình như có thấy lưng ai có vết đỏ kỳ lạ nào đâu, vậy nó mới chỉ xuất trong hai ngày gần đây thôi, hay là bị nhiễm virus gì trong ngôi cổ mộ Long Lĩnh? Nhưng sao lưng Răng Vàng lại có? Hay là có khả năng miễn dịch đối với loại virus này chăng?


      Tuyền béo : “Thôi đừng nghĩ nhiều làm gì, để đầu óc thảnh thơi chút, cũng có gì ghê gớm đâu, chẳng đau chẳng ngứa, về khách sạn tắm rửa, lấy cái cọ người cọ mạnh vào, có khi mất ngay ấy mà. Chuyến này ta vớ được báu vật, nên vui mừng mới phải. À… mà hai người xem đây là đâu? Sao tôi thấy quen quen nhỉ?”


      Tôi mới ra khỏi hang, bị Tuyền béo bảo sau lưng có vết gì lạ, đầu óc hoang mang, chẳng để ý xem cửa hang dẫn ra chỗ nào, chỉ nhớ là cửa hang rất hẹp, toàn những đụn đất vàng trồi thụt, giờ nghe Tuyền béo quang cảnh xung quanh trông quen mắt, liền ngưới mắt lên nhìn, rồi bật cười thành tiếng: “ ra loang quanh cả ngày trời, khéo quá là khéo, lại quay mẹ nó về đúng chỗ cũ.”


      ra cửa hang chúng tôi vừa chui ra, chính là cái đụn đất rỗng lúc tôi leo lên sườn núi để quan sát hình thế phong thủy xung quanh rồi quay xuống giẫm phải ở lưng chừng núi khi vừa mới đến miếu Ngư Cốt, suýt nữa là thụt vào bên trong. Lúc đó Răng Vàng và Tuyền béo nghe tiếng chạy tới, kéo tôi ra, chỗ tôi giẫm phải ấy, đất đá sụt xuống tạm thành cửa hang. Lúc ấy bọn tôi còn nhìn vào trong quan sát, tưởng là khe núi liền với hang đá vôi bên dưới, nhưng giờ xem lại, ra nơi đây nối liền với hang động có đặt đỉnh đồng xanh mặt người, vòng vèo trong hang động cả ngày, cuối cùng ngờ lại bò ra từ cái hố khi trước vô tình giẫm phải.


      Hành lý đồ đạc của chúng tôi đều đẻ cả trong miếu Ngư Cốt cách đây xa lắm, điều quan trọng nhất là lúc này là phải mau tìm quần áo mặc vào, chứ nếu bị chị em nào bắt gặp, thế nào cũng chửi bọn tôi là lũ dâm dê biến thái.


      Vết chàm đỏ bất ngờ xuất lưng như bóng đen phủ lên thắng lợi lần này của chúng tôi, trong lòng đều lấy gì làm thống khoái, lát về phải tìm bác sĩ khám xem sao, mặc dù có cảm giác nào khác thường, nhưng dù sao nó phải là hàng nguyên kiện, bỗng dưng mọc ra lưng, thấy chướng vô cùng.


      Gió trong khe núi thổi mạnh, manh áo che thân, ba thằng vác ngọc Văn hương chạy về miếu Ngư Cốt. Hành lý vẫn nguyên vẹn giấu sau bệ thờ Long Vương, ba người chia nhau tự tìm quần áo mặc vào, lấy rượu trắng ra làm vài ngụm, , ngọc Văn hương nầm trong tay, đem về Bắc Kinh xuất hàng cái, lời lãi mọn đâu.


      Răng Vàng ăn uống no say, ve vuốt phôi ngọc Văn hương, rồi nhất thời khoái chí, chất giọng ngâm nga: “Ta đâu phải ngữ xấu xa trộm cướp, vốn bình sinh thó ngựa cắp thành, lũ tiểu nhân trùm sò nhãi nhép, ta vung gươm ngàn vạn đứa tan tành…”


      Tôi cũng có chút vui mừng vì mối hời trước mắt, nhưng thoạt nghĩ đến vết chàm đỏ lưng, lại mất hết cả hứng, chỉ biết lặng ngồi nhấm từng ngụm rượu.


      Răng Vàng thấy vậy, bèn khuyên giải: “ Nhất, cũng là người nghĩ thoáng, chuyện này cần gì phải để bụng, khi nào về ta vào viện khám xem sao, nếu quả thể phẫu thuật cắt bỏ miếng da đó , thôi dù gì vết đó cũng lớn, trông cũng quá sâu, chắc sao đâu, tốt nhất tìm thầy lang trước, bốc vài thang thuốc uống là tiêu ngay.”


      Tuyền béo : “Bọn tôi có phải bị bệnh ngoài da đâu, tìm bác sĩ để làm gì, thế thà tự tôi lấy đầu điếu thuốc gí vào cho xong…”


      Tôi với cả hai: “Thôi, muốn ra sao ra, dù sao hôm nay còn chưa chết, ta cứ uống cho hẵng, chuyện ngày mai để ngày mai lo.”


      Tuyền béo nhấc chai rượu cụng với tôi, ngửa cổ, tu hơi cạn sạch nửa chai rượu: “Chúng ta vừa mới phát tài, cần chú ý đến cái mạng tí, nửa đời còn lại phải hưởng thụ nữa chứ.”


      Ăn uống đâu đó xong xuôi trời cũng tối, chúng tôi cả đêm về ngôi làng dưới chân dốc Bàn Xà, lại xin tá túc đêm trong làng, hôm sau quay về Cổ Lam chuẩn bị đáp thuyền lên phía Bắc, nhưng lại được thông báo hai ngày nay vùng thượng du có mưa lớn, thế nước lớn lắm, sớm nhất phải chờ đến ngày kia bến đò mới có thuyền .


      Chúng tôi thương lượng hồi, thấy rằng nếu tới bến đò khác bắt thuyền, nhanh nhất cũng phải mất ngày đường mới tới được nơi, vậy chẳng bằng nán lại Cổ Lam hai hôm, nhân tiện nghỉ ngơi thư giãn, ngoài ra có thể lượn lờ quanh huyện, biết đâu lại kiếm được chút hàng, thu thêm được vài món minh khí.


      Vậy là chúng tôi trọ lại quán trọ lần trước, có điều lần này khách trọ ở gần kín, nhiều nguời cũng đợi qua sông. Cổ Lam là địa phương , chỉ có dăm ba nhà nghỉ quán trọ, lựa chọn nào khác, chúng tôi đành trọ lại phòng tập thể dưới tầng .


      phòng trọ tập thể có tám giường, chúng tôi vào năm giường có người, còn ba giường trống, yên tâm để lại đồ quý như ngọc Văn hương vào tủ đề đồ, đành bọc gói lại kỹ trong ba lớp ngoài ba lớp, thay phiên nhau trông trong phòng, ra ngoài là ôm bên mình.


      Tối hôm đó, Tuyền béo và Răng Vàng ở lại trông ngọc, tôi tranh thủ ra nhà tắm phía sau quán trọ tắm rửa, vừa hay gặp được ông Lưu uống rượu với chúng tôi bữa nọ.


      Chào hỏi vài câu khách sáo vài câu, tôi hỏi thăm trong vùng xem có ông lang nào nổi tiếng, có thể chữa bệnh ngoài da .


      Ông Lưu cũng có thầy lang rất mát tay, có thể trị dứt điểm bệnh vẩy nến, sau đó ông lại quan tâm hỏi tôi mắc bệnh thế nào, khó chịu ở đâu.


      Lúc đó tôi chuẩn bị tắm, người chỉ bận mỗi áo lót, bèn tiện tay cởi luôn cúc áo cho ông Lưu xem lưng, bảo lưng mình như bị ghẻ, muốn tìm thầy thuốc khám xem sao.


      Ông Lưu xem xong lấy làm kinh ngạc : “Trời đất, cậu làm sao có cái này vậy? Tôi thấy đây giống bệnh ngoài da, cái vết đỏ như màu máu đông này, hình dạng trông rất giống con chữ, mà con chữ này tôi còn thấy rồi cơ.”


      Tôi vô cùng ngạc nhiên: “Sao? Cái sau lưng cháu là chữ ạ? Bác có biết là chữ gì ?”


      Ông Lưu chậm rãi : “Ấy là hồi năm 80, huyện chúng tôi xây trường tiểu học, lúc đào móng, đào được các mảnh xương động vật rất lạ. Lúc ấy dân quanh đó tranh cướp hết sạch, sau đó do đội khảo cổ đến, réo đài phát thanh huyện thu mua lại toàn bộ. Các chuyên gia của đoàn khảo cổ trọ ngay tại nhà nghỉ này, lúc bọn họ thu mua, tôi thấy bề mặt miếng xương có khắc con chữ này, mà chỉ lần đấy thôi đâu.”


      Nghe đến đây, tôi còn lòng dạ nào mà tắm rửa nữa, liền kéo ông Lưu vào phòng ăn của nhà trọ, kiếm chỗ vắng lặng, xin ông kể lại cho tận tường tỉ mỉ.


      Vết lưng tôi có chỗ nông chỗ sâu, đường nét và tầng lớp rất giống nhãn cầu, hình dạng y như con mắt ngọc tôi đánh vỡ trong thành cổ Tinh Tuyệt. Tôi cứ lo đây là lời nguyền gì đó, chừng chỉ có tôi và Tuyền béo, cả Shirley Dương và giáo sư Trần ở tận bên Mỹ cũng gặp phải tình trạng này cũng nên.


      Giờ nghe ông Lưu đây phải nhãn cầu, mà là chữ, hỏi sao tôi sốt sắng cho được, tôi rút thuốc châm cho ông Lưu điếu. Lúc này nhà bếp hết giờ làm việc, ông già cũng rảnh rỗi, liền kể lại cho tôi toàn bộ đầu đuôi câu chuyện.


      ra việc này xảy ra cách đây chưa lâu, tính ra cũng chưa đến ba năm trước, năm đó các chuyên gia trong đội khảo cổ trọ tại đây, kiểm kê sắp xếp lại số xương thu mua được. Lãnh đạo địa phương cũng hết sức coi trọng việc này, nên cho phong tỏa khu nhà, ngoài những người có nhiệm vụ ra, ai được vào.


      Ông Lưu làm trong nhà bếp quán trọ, vốn là người hay chuyện, lúc thường vẫn nấu cơm cho đoàn khảo cổ, khi rỗi rảnh cũng hay lân la hỏi chuyện, người ta làm việc, ông cũng chạy tới đỡ đần. Các chuyên gia trong đoàn đều ăn cơm ông nấu, dần dần cũng đều quen ông, biết ông vốn là người nhiệt tình tốt tính, nhiều khi cũng nể mặt, chỉ cần ông trộm cắp hay quấy quá gì, mọi người cũng mắt nhắm mắt mở, để mặc ông ngó nghiêng.


      Công việc của đội khảo cổ lần này là thu hồi lượng lớn mai rùa và xương của các loại động vật tên, mỗi mảnh giáp cốt (1) đều khắc rất nhiều chữ và ký hiệu, nhưng phần lớn đều hư hại, những mảnh thu mua được đều còn lành lặn, phải mất nhiều thời gian và công sức mới phục hồi được.


      Tuy nhiên trong đống giáp cốt vụn, có chiếc mai rùa lớn vẫn còn lành lặn, chiếc mai này phải to cỡ mặt bàn Bát tiên (2), khi nhân viên khảo cổ dùng dung dịch hỗn hợp axit acetic lạnh lau chùi mai rùa, ông Lưu vừa hay lại ngồi ngay bên cạnh xem, ký hiệu xuất nhiều nhất chiếc mai, là ký hiệu giống như nhãn cầu này.


      (1) Tên gọi chung của mai rùa và xương thú, vậy nên thứ văn tự khắc đây, được gọi chung là chữ Giáp cốt.


      (2) Bàn Bát tiên: Bàn ăn lớn hình vuông, mỗi cạnh có thể ngồi được hai người.


      Ông Lưu hiểu gì hết, chỉ thấy ký hiệu kia hết sức bắt mắt, chỉ nhìn qua cũng biết là nhãn cầu, bèn hỏi dò nhân viên khảo cổ làm công tác chỉnh lý, ký hiệu này có phải tượng trưng cho nhãn cầu , nhân viên khảo cổ đó với ông rằng: “ phải đâu ạ, ký tự này đại để là dạng văn tự cổ giống như chữ Giáp cốt, phải nhãn cầu…”


      ta chưa hết câu, bị tổ trưởng tổ công tác, vị giáo sư họ Tôn ngăn lại, ông Lưu còn nhớ rất , khi đó giáo sư Tôn cảnh cáo nhân viên khảo cổ kia, bảo đây là bí mật quốc gia, tuyệt đối được tiết lộ cho ai.


      Ông Lưu nghĩ bụng mình là tay đầu bếp nấu cơm nấu nước, quan tâm đến bí mật quốc gia của mấy người làm gì cho mệt? Rồi cũng hỏi dò nữa, nhưng càng nghĩ càng thấy hiếu kỳ, vật từ mấy nghìn năm trước, có gì ghê gớm đâu mà để giờ thành bí mật quốc gia thể tiết lộ ra ngoài? Hay họ cứ ngoa lên thế để bịp mình này? Nhưng người ta muốn giữ bí mật, thích người khác dò hỏi, thôi chẳng hỏi nữa xong.


      Chỉ có điều từ khi chiếc mai rùa kia được thu về, nhà trọ này ba hôm có đến hai trận cháy, lòng người vì thể mà hết sức bất an.


      Mấy ngày sau trận hỏa hoạn, đội khảo cổ thấy giáp cốt thu hồi lại cũng khá đầy đủ, mặt lại thấy nguy cơ hoả hoạn tương đối lớn, thế nên họ cho thu dọn đồ đạc rút về, các mảnh giáp cốt đặt trong rương gỗ lớn, chất đầy xe tải.


      Chuyện về sau bắt đầu có vẻ tà quái, nghe đội khảo cổ vận chuyển số hàng đấy về Bắc Kinh theo đường hàng , kết quả là chiếc máy bay quân dụng bay được nửa đường gặp nạn, ất cả mọi thứ bên trong, bao gồm cả đống giáp cốt có khắc chữ kia, đều bị thiêu hủy toàn bộ.


      Cả tổ công tác mười lăm người chỉ có giáo sư Tôn là người duy nhất may mắn sống sót, ông để quên sổ tay công tác tại nhà trọ, vội vã quay lại lấy, thành thử kịp đáp lại chuyến bay kia.


      Giáo sư Tôn biết tin máy bay khi rơi vẫn ở huyện Cổ Lam, lúc đó ông ta khụy xuống đất thể đứng dậy nổi, tôi phải gọi mấy người cùng chỗ làm đưa ông ta vào viện, có thể tôi được coi như nửa ân nhân cứu mạng ông ta. Sau đó cứ mỗi lần có dịp đến Cổ Lam công tác, giáo sư Tôn lại tạt qua thăm tôi, uống vài be rượu, nhưng mỗi lần tôi gặng hỏi ý nghĩa của những ký tự mai rùa, giáo sư Tôn lại lảng tránh đáp, ông ta chỉ khuyên tôi những ký tự đó đều tượng trưng cho những điều hung hiểm tà ác, nên biết hơn, tốt nhất từ nay về sau đừng tìm hiểu nữa, bởi dù sao cũng bị thiêu hủy hoàn toàn rồi. Sau đó lần nào ông ấy cũng thở dài với tôi, giá mà đời này phải nhìn thấy những ký hiệu đó. Hôm nay vì nhìn thấy vết ban đỏ lưng cậu, tôi mới nhớ ra những ký hiệu đáng sợ đó, cơ hồ giống nhau như đúc. Đây phải bệnh ngoài da gì đâu, rốt cuộc cậu làm gì mà thành ra như vậy thế?


      Tôi nghe đến đây kìm nén lại nổi nữa buột miệng hỏi lại ông Lưu: “Bác Lưu, cả bác cũng biết ý nghĩa của chữ này là gì ư?”


      Ông Lưu cười ha hả, cố làm ra vẻ thần bí: “Chú em ơi, tôi chỉ biết đây là chữ thời cổ đại thôi, chứ nó nghĩa gì tôi chịu. Nhưng có người biết đấy. Người ta vẫn bảo đến sớm chẳng bằng đến lúc, giáo sư Tôn kia ở ngay đầu cậu, mỗi năm ông ấy đều đến Cổ Lam công tác thời gian, giờ cậu lại vừa vặn gặp được nhé.”


      Tôi nắm chặt tay ông Lưu, khẩn thiết : “Bác Lưu ơi, bác đúng là Phật sống bác ơi, nhưng bác thương cho trót, tiễn Phật tiễn đến tận Tây phương, nhất định bác phải giới thiệu cho cháu gặp giáo sư Tôn nhé.”


      Ông Lưu vỗ ngực bảo đảm: “Giới thiệu thành vấn đề, chỉ có điều lão già họ Tôn này kín mồm kín miệng lắm, ông ấy có bằng lòng cho cậu nghe , phải xem xem cậu ăn với ông ta thế nào, lưng cậu tự dưng mọc ra vết chàm đặc biệt như vậy, có khi ông ấy cho cậu biết cũng nên.”


      Tôi bảo ông Lưu ở nhà ăn đợi lát, tôi chuẩn bị rồi cùng ông đến chào giáo sư Tôn trọ tầng hai. Tôi tranh thủ chạy về phòng thông báo tình hình cho Răng Vàng và Tuyền béo biết.


      Để Tuyền béo ở trong phòng trông ngọc, tôi bảo Răng Vàng cùng, buôn bán lâu năm, từ lời ăn tiếng cho đến cách giao tiếp ứng xử đều khéo léo hơn tôi rất nhiều.


      Hai chúng tôi thay quần áo, đến nhà ăn tìm ông Lưu, tôi hỏi ông: “Bác Lưu à, chúng cháu tay thế này phải phép cho lắm, nhưng mà giờ cũng còn sớm, muốn mua hoa quả cũng khó…”


      Ông Lưu đáp: “ cần đâu, có tôi cùng rồi. Mà các cậu là dân buôn đồ cổ phải nhỉ? Nhớ kỹ này, chớ có nhắc trước mặt giáo sư Tôn đấy, ông già này khó tính, lại chúa ghét cái nghề của các cậu.”


      Tôi và Răng Vàng lập tức gật đầu, quyết đả động đến chuyện này, chúng tôi bịa chuyện đến thành Cổ Lam công tác, rồi tự nhiên lưng lại mọc ra vết chàm đỏ trông như chữ Giáp Cốt, nghe giáo sư Tôn thông hiểu chữ Giáp cốt, nên mạo muội tìm đến thỉnh giáo, nhờ giáo sư xem hộ xem lưng tôi rốt cuộc là bệnh ngoài da, hay là cái gì đó khác.


      Sau khi thống nhất cách , ông Lưu dẫn chúng tôi lên tầng hai, gõ cửa phòng giáo sư Tôn, chào hỏi giới thiệu, giáo sư Tôn liền mời chúng tôi vào phòng.


      Giáo sư Tôn độ gần sáu mươi tuổi, thân hình gầy gò, da rám nắng, lưng hơi gù, có lẽ tại nhiều năm phải ngồi xổm làm việc. Khuôn mặt giáo sư Tôn ngang dọc những nếp nhăn, đầu hói khá nghiêm trọng, đỉnh có tóc, chỉ lơ thơ lớp mỏng bên ngoài, có vẻ như nỡ cạo , mà chải vạt tóc ngả về bên theo hình xoắn ốc. Tuy bề ngoài già nua, nhưng đôi mắt ông sáng quắc, rất có thần, mà cũng đeo kính, chung ngoài kiểu tóc ra, giáo sư Tôn trông chẳng khác gì ông nông dân quanh năm làm bạn với đồng ruộng.


      So với giáo sư Trần tôi quen biết, mặc dù đều là giáo sư, nhưng phong cách khác hẳn nhau, khác biệt giữa họ rất lớn. Giáo sư Trần là mẫu giáo sư điển hình của trường phái kinh viện, kiểu cách nho nhã chuyên ngồi trong phòng làm việc; còn vị giáo sư Tôn này, có lẽ là thuộc phái thực tiễn, thường ở tuyến đầu công tác.


      Sau khi nghe tôi kể lại việc, giáo sư Tôn xem xét vết chàm lưng tôi hồi lâu, luôn miệng kêu kỳ lạ, tôi chủ động hỏi xem vết chàm lưng tôi rốt cuộc là cái gì, có nguy hiểm đến tính mạng .


      Giáo sư Tôn : “Cái này quả rất giống với ký hiệu, trong số giáp cốt khai quật ở Cổ Lam hai năm trước, có mảnh mai rùa nguyên vẹn nhất bên có khắc trăm mười hai ký tự, trông giống chữ Giáp cốt, mà lại phải chữ Giáp cốt. Ký hiệu giống với nhãn cầu này, xuất bảy lần trong tổng số trăm mười hai ký tự kia.” Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Mặc dù tôi cùng ông Lưu đến chào giáo sư Tôn, nhưng hoàn toàn là vì có bệnh vái tứ phương, vốn là vẫn nửa tin nửa ngờ lời ông ta kể, giờ nghe giáo sư Tôn cũng xác nhận vết chàn sau lưng tôi giống ký tự cổ, liền vội xin giáo sư chỉ dạy, hỏi xem rốt cuộc là ký tự gì.


      Nhưng giáo sư Tôn lắc đầu, : “Vết chàm đỏ da cậu và ký hiệu cổ kia chỉ là giống nhau mà thôi, mối liên quan nào cả. Lô văn vật kia hai năm trước bị tiêu hủy hoàn toàn trong vụ tai nạn máy bay rồi. đời này vật trùng hợp ngẫu nhiên nhiều lắm, có những hạt đậu nở ra hình dạng giống hệt đầu người, nhưng giữa hạt đậu và đầu người, ngoài giống nhau ra, có bất kỳ mối liên hệ nào khác.”


      Tôi và Răng Vàng nhì nhằn năn nỉ, bao lẽ hay lời ngọt đều ra cả, chỉ muốn hỏi xem văn tự cổ khắc mai rùa kia có nội dung gì, chỉ cần nắm tình, tìm hiểu xem giữa chúng có mối quan hệ nào , tôi khắc có cách suy tính.


      Thế nhưng giáo sư Tôn vẫn hé răng nửa lời, cuối cùng thẳng thừng đuổi khách luôn: “Hai cậu cũng đừng đóng kịch trước mặt tôi nữa, người hai cậu đặc mùi bùn đất, tôi làm việc nhiều năm dưới hầm dất, có nhắm mắt tôi cũng đoán được các cậu làm cái việc gì, chỉ có ba loại người là có cái mùi này được thôi, là người làm ruộng, hai loại còn lại phải dân trộm mộ, cũng là bọn buôn đồ cổ. tôi trông các cậu chẳng có vẻ gì là người làm rụông cả, đến giờ tôi còn chút thiện cảm nào với hai cậu nữa. Tôi biết các cậu kiếm cái chữ này ở đâu ra, rồi ngụy tạo thành vết chàm lưng, chắc là muốn moi móc thông tin của tôi chứ gì, tôi khuyên hai cậu câu nhé: đừng có mơ. Sau cùng tôi chỉ muốn với các cậu hai điều, là, đừng có lôi chuyện này ra làm trò đùa. Thông tin trong những văn tự cổ này thuộc bí mật quốc gia, dân thường có quyền biết đến. Thứ hai, đây là lời cảnh cáo của cá nhân tôi, nhất thiết chớ có tìm cách tiếp cập thông tin chứa trong những văn tự này, đây là thiên cơ, thiên cơ bất khả lộ, bằng bất cứ ai dính dáng đến chúng, đều gánh lấy tai hoạ.”

    2. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.2 - Chương 18: VĂN TỰ MẬT





      xong giáo sư Tôn đứng dậy xua chúng tôi ra ngoài, tôi nghĩ bụng lão già này quái đản, vừa mới đến chẳng phải xởi lởi lắm sao, bảo trở mặt là trở mặt ngay được là thế nào? Nghe cách chuyện lúc đầu, có vẻ như chuẩn bị tiết lộ cho chúng tôi biết, nhưng sau đó chẳng biết bằng cách nào lại nhìn thấu được thân phận của tôi và Răng Vàng, thái độ quay ngoắt, giọng điệu dữ dằn, có khi lại nghĩ chúng tôi là bọn ma , đến lừa bịp bằng. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Theo tính cách của tôi, ngày thường, đến mức phải như vậy, cần người ta đuổi, tôi cũng tự đứng lên ra về, nhưng lần này phải chuyện đùa, chừng còn quan ngại đến tính mạng, vả lại ngoài tôi và Tuyền béo ra, có khi còn liên quan đến chuyện sống còn của Shirley Dương và giáo sư Trần nữa.


      Tôi vội với giáo sư Tôn: "Ơ hay, giáo sư! Giáo sư! Ít nhất giáo sư cũng nghe cháu nốt câu cuối chứ? Cháu cũng biết làm sao giáo sư lại ngửi ra mùi đất người cháu và bạn đây, quả phải dân buôn đồ cổ, chúng cháu có thời gian dài làm cho đoàn khảo cổ. Giáo sư Trần Cửu Nhân ở Bắc Kinh, chắc giáo sư cũng biết tiếng chứ? Chúng cháu làm việc cho giáo sư Trần ấy."


      Giáo sư Tôn hơi ngẩn người khi nghe tôi đến cái tên Trần Cửu Nhân, bèn hỏi: "là ông Trần à? Cậu là hai cậu làm việc trong đoàn khảo cổ của giáo sư Trần?"


      Tôi vội vàng gật đầu: "vâng đúng thế, cháu nghĩ hai giáo sư đều là bậc Thái sơn Bắc đẩu trong giới khảo cổ, trong ngành chúng ta, cứ mỗi lần nhắc đến quý tính đại danh của hai giáo sư, ai nghe mà chẳng rụng rời... "


      Nét mặt của giáo sư Tôn có phần hòa nhã hơn, ông già xua tay : "cái cậu này, khỏi phải nịnh bợ , tôi thế nào, bản thân tôi . Thôi cậu quen biết với giáo sư Trần, cậu ở lại đây, còn để hai người kia tạm lánh lát."


      Nghe giáo sư Tôn vậy, tôi biết là có cửa, vội bảo Răng Vằng và ông Lưu tạm thời ra,để tôi ở lại tiếp chuyện riêng với giáo sư Tôn.


      Đợi hai người kia ra ngoài, giáo sư Tôn liền chốt chặt cửa, hỏi tôi số chuyện liên quan đến giáo sư Trần, tôi liền kể lại ngắn gọn chuyến của tôi cùng giáo sư Trần đến sa mạc Tân Cương tìm cổ thành Tinh Tuyệt.


      Giáo sư Tôn nghe xong, liền thở dài: "tôi và ông Trần là bạn lâu năm rồi, cố ở sa mạc bận ấy, tôi cũng có nghe ít nhiều. Chà, ông ấy chôn xác trong cát kể may lắm rồi, tôi định Bắc Kinh thăm ông ấy, nhưng lại nghe ông ấy qua Mỹ điều trị, biết từ giờ tới cuối đời, có còn cơ hội nào gặp lại được nữa. Năm xưa tôi mang ơn ông Trần, cậu là người quen của ông ấy, có vài việc tôi cũng chẳng giấu cậu nữa."


      Tôi chỉ chờ mỗi câu này của giáo sư Tôn, vội hỏi: "cháu thấy vết chàm đcho nên cháu mới tìm đột nhiên xuất sau lưng, hình dạng rất giống nhãn cầu, dường như có mối liên quan đến thành cổ Tinh Tuyệt trong sa mạc. Bộ tộc Quỷ Động ở nước Tinh Tuyệt sùng bái năng lực của con mắt, cháu cho rằng mình trúng phải lời nguyền nào đó, nhưng lại nghe vết chàm này phải là nhãn cầu, mà là ký hiệu con chữ, cho nên cháu mới tìm gặp giáo sư thỉnh giáo xem, ký hiệu này rốt cuộc nghĩa là gì, để có tự có chuẩn bị về mặt tâm lý. Dĩ nhiên cháu cũng là người chết sống lại nhiều lần, an nguy cá nhân cháu coi trọng lắm, chỉ có điều người giáo sư Trần có lẽ cũng xuất dấu hiệu này, cháu lo nhất chính là ông ấy đấy."


      Giáo sư Tôn : " phải là tôi chịu với cậu, nhưng quả thực là thể được, cho cậu biết rồi, có thể khẳng định điều, vết chàm lưng cậu tuyệt đối phải là lời nguyền hay thứ gì tương tự, ảnh hưởng gì tới sức khỏe của cậu đâu, cậu cứ yên tâm."


      Tôi càng nghe càng nóng ruột, vậy cũng bằng chẳng gì. Nhưng giáo sư Tôn bảo đây phải là lời nguyền, câu này khiến gánh nặng trong lòng tôi giảm quá nửa, nhưng người ta càng mình càng muốn biết, thông tin mà những ký tự mất mấy nghìn năm tuổi này chứa đến nay rốt cục còn có nội dung gì bí mật mà thể công bố cho mọi nguời biết, huống hồ cái chữ ấy lại còn ra ngay lưng tôi nữa chứ.


      Bị tôi gặng hỏi mãi, giáo sư Tôn đành tiết lộ và điều.


      Giáo sư Tôn có nhiều năm nghiên cứu những di tích văn hóa cổ lưu vực sông Hoàng Hà, là chuyên gia trong ngành cổ văn tự, ông rất giỏi giải mã, phiên dịch các văn tự mật thời cổ.


      Thời xưa Thương Hiệt tạo chữ, xuất của chữ viết chấm dứt thời kỳ lịch sử hoang dã khi con người mới chỉ biết bện từng ghi nhớ việc. Văn tự chứa đựng khối lượng thông tin lớn, bao gồm những điều huyền bí về vạn vật trong giới tự nhiên, truyền đến ngày nay cách đọc chữ Hán cả thảy có bốn : bình, thượng, khứ, nhập.


      Nhưng vào thời kỳ xa xưa nhất, chữ Hán có cả thảy tám đọc, khối lượng thông tin chứa đựng trong đó rất lớn, người thường khó thể tưởng tượng được, tuy nhiên những thông tin ngoài định mức này đều bị giới hạn bởi giới thống trị lũng đoạn, bốn còn lại trở thành loại ngôn ngữ mật, chuyên ùng để ghi chép những việc trọng đại thể tiết lộ cho dân thường biết.


      Sau này số mai rùa và tre khai quật được, có rất nhiều chữ cổ gần giống với chữ giáp cốt, nhưng từ đầu chí cuối ai đọc nổi, có người thiên tự vô tự, vô tự thiên thư, ra cũng chỉ là cách xuyên tạc. Thiên thư chính là loại thông tin được mã hóa dưới dạng chữ viết vào thời cổ đại, nhưng nếu biết cách giải mã, có bày ra trước mắt, chúng ta cũng chẳng thể nào hiểu nổi. Giáo sư Tôn dành cả cuộc đời gắn bó với các loại thiên thư ai hiểu được này, nhưng tiến triển nhiều, có thể mỗi bước khó khăn, dốc hết tâm trí mà chẳng nghiên cứu ra thêm được thành quả gì.


      Đến năm 1978, đoàn khảo cổ khai quật được ngôi cổ mộ thời Đường ở núi Mễ Thương, ngôi mộ cổ này nhiều lần bị bọn trộm mộ vơ vét, bên ngoài có đến bảy tám hang trộm, thi thể của chủ mộ bị hủy hoại từ lâu, mộ thất cũng lụp xụp tan hoang, phần lớn đồ tuỳ táng đều bị vét sạch, những thứ sót lại đều ở trong tình trạng mục nát nghiêm trọng.


      Theo nhiều manh mối khác nhau, chủ mộ là Thái sử lệnh Lý Thuần Phong, người chuyên nghiên cứu lịch pháp thiên văn và dương số thuật trong cung đình. Vào thời Đường, các lĩnh vực kinh tế văn hóa, khoa học kỹ thuật có thể coi đạt đến đỉnh cao trong lịch sử văn minh Trung Hoa, Lý Thuần Phong là "nhà khoa học" danh tiếng lừng lẫy thời Đường, trong mộ hẳn có nhiều cổ vật, tư liệu quan trọng, rất có giá trị nghiên cứu, chỉ tiếc là đều bị hủy hoại cả, thể đó là tổn thất hết sức nặng nề, tất cả những người trong đoàn khảo cổ có mặt tại trường đều cảm thấy nuối tiếc vô cùng.


      Nhưng công việc thu dọn vẫn phải tiến hành. Có điều, trong quá trình thu dọn, bên trong quan tài mục nát xuất hịên niềm vui lớn bất ngờ, các nhà khảo cổ tìm thấy tầng bí mật bên trong lớp ván ở đỉnh đầu chủ mộ.


      Trong phần chóp quan tài lại có lớp bí mật, là điều ai nghĩ tới, kể cả những chuyên gia giàu kinh nghiệm nhất cũng chưa từng thấy quan tài nào có ngăn ả. Mọi người thận trọng mở lớp ngăn trong ván quan tài ra, bên trong có gói bọc bằng da trâu, sau khi mở ra loại thấy bên trong có gói bọc bằng vải dầu quét sơn đỏ, ngờ trong gói lại là chiếc hộp ngọc trắng muốt tì vết, hộp được khảm vàng nạm bạc, có khắc họa tiết linh vật có cánh, chốt khóa nắp hộp được làm từ vàng nguyên chất. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Vì được giấu bên trong ngăn bí mật của quan tài, chiếc hộp bấy nhiêu năm nay thoát khỏi tay biết bao kẻ trộm mộ, còn nguyên đến ngày nay.


      Những chuyên gia có kinh nghiệm nhìn qua chiếc hộp liền biết ngay là báu vật của hoàng gia Đại Đường, rất có thể vật do hoàng đế ban cho Lý Thuần Phong, và dược ông ta giấu vào vách ngăn trong ván quan, thế mới thấy tầm quan trọng của chiếc hộp là thế nào, sau đó chiếc hộp ngọc được chuyển ngay về bản doanh của nhóm khảo cổ.


      Trong chiếc hộp được làm từ nguyên phiến ngọc mỡ dê (bạch ngọc), người ta phát ra rất nhiều vật phẩm quan trọng, trong số đó có miếng long cốt ( loại mai rùa), bên khắc đầy thiên thư, được đặt tên là Long cốt di văn phá, ngoài ra còn có tấm vàng ròng, kích cỡ lớn, bốn góc được tạo hình đầu thú, hai mặt tấm vàng được đúc chi chít những chữ là chữ, nhìn như bảng biểu, có chữ đọc được, có chữ , bấy giờ người ta đặt cho nó cái tên Thú giác mật văn kim bản. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Thế rồi người ta mời giáo sư Tôn, chuyên gia văn tự cổ cùng người của ông đến phụ trách việc phá giải những bí mật khắc miếng long cốt cùng tấm kin bản này, giáo sư Tôn nhận nhiệm vụ, liền giam mình trong phòng nghiên cứu, bắt đầu chuỗi ngày làm việc quên ăn quên ngủ.


      Giáo sư Tôn từng thấy Long cốt dị văn phá nhiều lần, chữ viết cổ đó, có nhắm mắt ông cũng nhớ làu làu, chỉ có điều mãi vẫn thể phân tích ra được đó rốt cuộc là văn tự gì, có hàm ý gì, nội dung được ghi chép thông qua loại văn tự cổ quái này là gì.


      Loại văn tự được coi là thiên thư này là trở ngại lớn mà các nhà nghiên cứu văn tự cổ Trung Quốc phải đối mặt, nếu bước qua, có chút tiến triển nào; nhưng chỉ cần có được chút đột phá, những vấn đề còn lại dần dà được giải quyết, song chướng ngại này quả thực quá lớn.


      Có học giả cho rằng thiên thư là văn tự của nền văn minh mất, song lập luận này chưa cần ai công kích tự sụp đổ, bởi có số văn tự cổ được khai quật cùng lúc với thiên thư, lại có thể dễ dàng giải đọc, sau khi thử đo bằng carbon phóng xạ đều thuộc thời Ân Thương, hẳn là cùng được sản xuất trong cùng thời đại, tuyệt đối thể là di vật sót lại của nền văn minh tiền sử nào cả.


      Giáo sư Tôn mất hơn tháng trời nghiên cứu tìm toài, cuối cùng cũng phá giải được bí mật thiên thư. Thông qua đối chiếu với tấm Thú giác mê văn kim bản tìm thấy trong mộ Lý Thuần Phong, ông phát ra thiên thư cổ nhân dùng để ghi chép long cốt là loại văn tự được mã hóa.


      Ngay từ thời Đường, Lý Thuần Phong phá giải được loại văn tự mã hóa cổ đại này, để biểu dương công tích của ông, hoàng đế cho đúc kim bài ban thưởng, nhằm ghi nhớ kiện này, các ký hiệu và chữ viết kim bài chính là bảng đối chiếu thiên thư mà Lý Thuần Phong giải đọc được.


      thực tế thiên thư rất đơn giản, quy tác của nó là cách chú của bốn thanh điệu còn lại, phải dựa theo văn tự khác long cốt, nhưng chỉ có số ít người có thể đọc được cách phát bí mật này mới đủ khả năng lý giải nội dung mà văn tự truyền đạt.


      Ngày xưa Lý Thuần Phong nhờ cuốn Bát kinh chú sớ tường khảo mà có linh cảm, từ đó tìm ra phương pháp thấu hiểu thiên cơ, phá giải câu đó thiên thư. Giáo sư Tôn nhờ gợi mở từ Thú giác mê văn kim bản, cũng tham ngộ ra cách giải đọc thiên thư, gây chấn động giới khả cổ, phần lớn văn tự cơ mật cổ đại được giả đọc, vô số thông tin khiến người thời nay phải há mồm kinh ngạc, ít kiện lịch sử vốn định luận, giờ đều sắp đem ra viết lại.


      Sau khi xem xét các nhân tố, lãnh đạo cấp cao ra chỉ thị đối với những thông tin mà giáo sư Tôn gải mã ra, đó là: giữ thái độ thận trong, trước khi có kết luận chuẩn xác, tạm được công bố ra bên ngoài.


      Giáo sư Tôn với tôi: "vết chàm lưng cậu, nếu là văn tự mã hóa thời cổ đúng lắm, bởi đây phải chữ trong thiên thư, ký hiệu này tôi cũng mới nhìn thấy lần đầu miếng mai rùa tìm thấy ở Cổ Lam. Nó tượng trưng cho vật đặc biệt nào đó, mà người thời đấy vẫn chưa nghĩ ra từ gì chuẩn xác để hình dung, tôi nghĩ gọi nó là đồ ngôn là thích hợp hơn cả, đồ ngôn là loại ký hiệu mang tính tượng trưng, có điều ý nghĩa của ký hiệu này là gì tôi vẫn chưa lắm, nó xuất xen kẽ trưong văn tự mã hóa thiên thư. long cốt tìm thấy ở cổ Lam, có mảnh khắc thiên thư, dường nhưu ghi chép về tai hoạ, hồi đó mới khai quật, thời gian gấp gáp, tôi mới chỉ xem xét qua loa, còn chưa kịp phân tích xem ký hiệu này có ý nghĩa gì, ai ngờ đường vận chuyển về Bắc Kinh, máy bay quân dụng gặp nạn, chỉ sợ từ giờ ai biêt được những bí mật ấy nữa rồi."


      Tôi thắc mắc: "thứ quan trọng như vậy, lẽ nào giáo sư ghi chép lại bản sao nào sao? Tuy là giáo sư cho rằng lưng cháu có dấu hiệu của lời nguyền nào hết, nhưng cháu vẫn cảm thấy chuyện này rất là kỳ quái, nếu biết tình, cháu chẳng thể nào mà an tâm cho được. Giáo sư cứ cho cháu biết xem, đoạn văn tự được ghi chép mảnh giáp cốt kia rốt cuộc có nội dung gì ạ? Liệu có liên quan gì đến Động Quỷ ở Tân Cương ? Cháu thề có Mao chủ tịch, tiết lộ nửa lời!"


      Giáo sư Tôn đứng phắt dậy như mắc bệnh thần kinh: " được! ra kinh thiên động địa mất!"

    3. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.2 - Chương 19: HồI TƯỞNG





      Sau mấy ngày trời chịu đựng cái nóng oi bức đến độ, chỉ ngồi chỗ cũng đổ vã mồ hôi, cuối cùng ông trời cũng tức nước xả xuống trận mưa lớn, mưa khiến đất bốc hơi, rốt cùng cả cái thành phố bỏng rẫy này cũng được hạ nhiệt. Truyện "Ma Thổi Đèn " Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Phan Gia Viên sau cơn mưa trở nên nhộn nhịp lạ thường, những tay sưu tập đồ cổ nghiệp dư hay những kẻ đam mê cổ ngoạn sau mấy ngày chết dí trong nhà giờ đều lũ lượt đổ tới săn hàng.


      Răng Vàng bận tiếp chuyện khách quen, Tuyền béo ma két tinh chiếc giày thơm cho cặp vợ chồng Tây mắt xanh mũi lõ, cậu ta với hai người khách: "Ông bà thấy sao? Ông bà cứ đánh mũi ngửi thử phía trong xem, đây là giày thơm của Marilin Monroe thời Minh ở Trung Quốc chúng tôi, là danh... danh kỹ các vị hiểu ?"


      Đôi vợ chồng người nước ngoài có biết chút ít tiếng Trung này ràng là rất thích chiếc giày thuê tinh xảo mang đậm nét phương Đông này. Tuyền béo mượn gió bẻ măng hét giá lên tới hai vạn tệ, cái giá cắt cổ này khiến cặp vợ chồng phát hãi định quay đầu bỏ . Những người nước ngoài thường xuyên đến Trung Quốc đều biết mặc cả, Tuyền béo thấy cặp vợ chồng này mặc cả, liền biết ngay họ đến Trung Quốc lần đầu, vội kéo họ lại, viện cớ rằng để thúc đẩy giao lưu giữa Trung Hoa với các nước bạn, lại dựa năm nguyên tắc hòa bình cơ bản, có thể giảm giá cho họ.


      Tôi ngồi bên cạnh trầm ngâm hút thuốc, hề hứng thú với bầu khí náo nhiệt nơi đây, sau khi từ Thiểm Tây trở về, tôi có qua bệnh viện kiểm tra, song vết chàm lưng tôi và Tuyền béo ó bất cứ biểu gì đặc biệt, khiến các bác sĩ cũng chuẩn đoán ra được gì.


      Hơn nữa tôi cũng có cảm giác gì lạ. Thời gian gần đây làm ăn phát đạt, tiền vào như nước, phôi ngọc Văn hương mang ở Thiểm Tây về mang lại cho chúng tôi khoản tiền có nằm mơ cũng phải bật cười tỉnh giấc, ngoài ra chúng tôi còn thu mua được mấy món minh khí rất có giá trị, gần như sau mỗi vụ buôn bán, tiền lãi lại nhân lên gấp mấy lần. thế nhưng cứ nhớ đến lời giáo sư Tôn , tôi là có cảm giác như cõng quả núi lưng, sao thở nổi, mỗi lúc như vậy lòng tôi lại thấp thỏm yên, chẳng còn hứng thú gì đối với mọi chuyện nữa.


      Lão giáo sư Tôn đáng ghé, giả nhân giả nghĩa kia, sống chết cũng chịu cho tôi ý nghĩa của ký hiệu này, mà chỉ có mỗi lão ta nắm được kỹ thuật mã hóa văn tự cổ, còn tôi chẳng thể nào dùng biện pháp mạnh để ép lão ra được.


      Mặc dù giáp cốt tìm được ở Cổ Lam bị hủy hoại, nhưng chắc chắn là giáo sư Tôn có giữ lại ít. Làm sao để nghĩ ra cách, Thiểm Tây tìm ông ta chuyến nữa mới được, chỉ khi nào xác định được ký hiệu lưng tôi liên quan gì đến nhãn cầu trong động Quỷ ở thành cổ Tinh Tuyệt, tôi mới yên tâm. Nhưng lần trước chuyện, tôi vừa nhắc đến hai chữ động Quỷ cái, ông ta dã như phát điên phát rồ lên, đến nỗi sau đó tôi đám đả động gì đến nơi ấy nữa.


      Khổ nỗi giáo sư Tôn càng lảng tránh giấu giếm, tôi lại càng thấy chuyện này liên quan đến thành cổ Tinh Tuyệt. Nếu ông ta quyết cho tôi biết, đành phải giở chút thủ đoạn ra thôi, dù sao cũng thể để cái vết chàm hình nhãn cầu này lưng suốt đời được.


      Mùa hè là cái mùa rất dễ khiến nguời ta ngủ gật, tôi vốn ngồi ghế trông hàng, canh chừng mấy ông Bụt (bọn trộm) tịên tay thó vài món, nhưng đầu óc lại nghĩ ngợi lung tung, rồi cứ thế thiếp lúc nào hay.


      Tôi mơ chuỗi giấc mơ kỳ lạ, đầu tiên, tôi mơ thấy mình lấy câm làm vợ, ấy giơ tay huơ huơ vẽ vẽ tỏ ý muốn tôi đưa xem phim. Cũng chẳng biết bằng cách nào mà chúng tôi đến rạp chiếu phim, chẳng cần mua vé cứ thản nhiên vào, bộ phim ấy đầu đũa, cũng chẳng đâu vào với đâu, chẳng phải là cảnh cháy nổ là cảnh núi lở. Bộ phim cứ thế chiếu, tôi và vợ câm chợt phát ra rạp chiếu phim biến thành hang động, bên trong bóng tối mịt mùng, hình như có vực thẳm sâu hun hút, tôi kinh hãi, cuống cuồng với vợ câm, xong rồi, đây chính là động Quỷ đáy ở sâu trong sa mạc, chúng ta mau chạy thôi. Nhưng vợ tôi lại đứng im bất động, bất thình lình đẩy tôi xuống động Quỷ, tôi rơi xuống đáy động, ở đó có con mắt khổng lồ chằm chặp nhìn tôi...


      Đột nhiên đầu mũi buôn buốt như bị ai đó véo, tôi choàng tỉnh giấc, thấy lờ mờ trước mắt hình bóng quen thuộc. Người đó lấy ngón tay véo mũi tôi, tôi vừa mở mắt ra liền gặp phải ánh mắt của đối phương, vốn mơ đến con mắt to đáng sợ, lại chưa tỉnh hẳn, đột nhiên thấy có người nhìn mình, tôi giật thót người, suýt nữa ngã từ ghế xuống.


      Định thần nhìn lại, hóa ra là Shirley Dương đứng trước mặt tôi, Tuyền béo và Răng Vàng đứng bên cạnh cười ngặt nghẽo, thằng béo cười lớn: "Nhất, mơ giữa ban ngày hả? Mẹ cha, nước dãi chảy ròng ròng kìa, chắc mơ lấy em nào hả?"


      Răng Vàng : "tỉnh chưa Nhất? Tiểu thu Dương ở bên Mỹ bay sang đây này. ấy bảo có chuyện gấp múon gặp đây."


      Shirley Dương đưa cho tôi chiếc khăn mùi xoa: "mới có mấy ngày gặp thêm tật xấu rồi. Nước dãi sắp chảy thành sông rồi đấy, mau lau !"


      Tôi nhận khăn của Shirley Dương, đưa tay áo lên quẹt ngang miệng, sau đó vươn vai, dụi mắt, xong ngáp ngắn ngáp dài với Shirley Dương: "mắt của ... à, đúng rồi!" Lúc này cơn ngái ngủ hoàn toàn bíen mất, chợt nghĩ đến vết chàm đỏ hình nhãn cầu lưng, tôi vội : "đúng rồi, mấy hôm nay tôi cũng nghĩ cách tìm đây, có vài việc quan trọng lắm."


      Shirley Dương : "tôi cũng có vài việc quan trọng cần bàn với . Ở đây ồn quá, chúng ta tìm chỗ nào yên tĩnh chuyện !"


      Tôi vội đứng lên, bảo Tuyền béo và Răng Vàng trông hàng, rồi cùng Shirley Dương ra công viên Long Đàm gần khu chợ đồ cổ.Công viên Long Đàm hồi ấy còn chưa xây lại, lớn lắm, dù là ngày lễ tết, nhưng người đến đây cũng nhiều, Shirley Dương chỉ tay về băng ghế đá yên tĩnh bên hồ : "chỗ này đựoc đấy, ta ngồi đây chuyện nhé."


      Tôi với Shirley Dương: "thường chỉ có các đôi nhau, tán tỉnh nhau mới ngồi đây thôi, nếu ngại, tôi cũng chẳng sao. Cái chốn nhắn này cũng hay đấy, hẹn hò ở đây thích hợp quá còn gì." Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Shirley Dương sinh ra và lớn lên ở Mỹ, tuy sống thời gian dài trong khu người Hoa, nhưng cũng hiểu tôi gì lắm, liền hỏi: "sao cơ? Ý là những đôi tình nhân nhau mới được ngồi bên hồ thôi à?"


      Tôi thầm nghĩ bối cảnh văn hóa hai nước khác biệt quá lớn, chuyện này muốn giải thích cũng khá phức tạp, đành : "đất nước của nhân dân nhân dân ngồi, ghế đá trong công viên ai ngồi chẳng thế, hai ta cứ mặt xác nó ." xong liền ngồi xuống.


      Tôi hỏi Shirley Dương: "bệnh tình giáo sư Trần đỡ chưa?"


      Shirley Dương ngồi xuống cạnh tôi, thở dài : "giáo sư Trần vẫn ở Mỹ điều trị, ông bị sốc nặng quá, tình hình trước mắt vẫn có tiến triển gì nhiều."


      Nghe Shirley Dương bệnh tình của giáo sư Trần vẫn có gì biến chuyển, tôi cũng thấy buồn buồn, thêm dăm ba câu rồi vào việc chính, đương nhiên phải việc tôi trả tiền cho ,đúng như tôi dự đoán, việc đó liên quan đến vết chàm đỏ hình nhãn cầu đột nhiên xuất lưng.


      chỉ có tôi và Tuyền béo, cả lưng Shirley Dương và giáo sư Trần cũng xuất thứ quái đản kia. Chuyến Tân Cương lần đó, tổng cộng có năm người sống sót, ngoài bốn chúng tôi ra, còn có người hướng đạo, lão cáo già sa mạc Anliman, biết lưng ông ta có xuất vết chàm đỏ này nữa?


      Shirley Dương : "ông Anliman chắc có đâu, bởi ông ta chưa thấy động Quỷ. Tôi nghĩ dấu ấn này chắc có mối liên quan nào đó với con mắt của bộ tộc Quỷ Động."


      Có quá nhiều điều bí mật liên quan đến bộ tộc thần bí này chưa được vén lên, nhưng nghĩng bí mật ai biết đến đó cùng với cái động Quỷ hiểu thông đến tận đâu kia đều vĩnh viễn chôn vùi dưới cát vàng lớp lớp, bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời nữa rồi.


      Tôi kể lại cho Shirley Dương nghe những điều biết dudược từ giáo sư Tôn ở Cổ Lam, hy vọng có thể đưa ra phán đoán nào dó, rốt cuộc dấu hiệu đó có phải lời nguyền mà Quỷ Động ám vào achúng tôi hay .


      Shirley Dương nghe xong liền hỏi: "giáo sư Tôn... có phải tên ông ấy là Tôn Diệu Tổ ? VỊ giáo sư này rất có tiếng trong giới khảo cổ phương Tây, là trong số vài chuyên gia giải mã văn tự cổ thế giới, rất giỏi đọc hiểu ký hiệu, ám hiệu cho đến những hình vẽ được mã hóa từ thời cổ đại. Tôi từng đọc sách ông ấy viết, cũng biết ông ấy và giáo sư Trần là chỗ thân quen, nhưng từ trước đến giờ chưa có dịp nào tiếp xúc cả. Năm 1981 trong ngôi mộ của Pharah Gallora ở Ai Cập, người ta khai quật được số văn vật, trong đó có cây quyền trượng khắc rất nhiều những ký hiệu tượng hình, nhiều chuyên gia chịu bó tay với loại ký hiệu này. chuyên gia người Pháp trong đoàn quen biết giáo sư Tôn Diệu Tổ viết thư nhờ ông giúp đỡ và nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của giáo sư Tôn, cuối cùng phán đoán ra cây quyền trượng này là cây trượng Hoàng Tuyền có khắc rất nhì những văn tự cõi trong truyền thuyết Ai Cập. Bấy giờ phát này làm chấn động cả thế giới, từ đó danh tiếng của giáo sư Tôn vang khắp năm châu. Nếu như giáo sư Tôn ký hiệu này phải là hình nhãn cầu, mà là loại đồ ngôn tượng trưng nào đó, tôi nghĩ chắc chắn kết luận đó có đủ lý lẽ."


      Tôi thầm tặc lưỡi, nhờ ông giáo sư tính tình cổ quái trông chẳng khác gã nông dân kia lại là người có vai vế đến vậy, thể xem mặt mà bắt hình dong được. Tôi hỏi Shirley Dương: "tôi thấy cái vết ấy là ký hiệu hay chữ viết gì cũng đựoc, nhưng quan trọng nhất là nó là điềm lành hay dữ? Liệu có liên quan gì đến cái di chỉ chết tiệt kia ?"


      Shirley Dương : "chuyện này lúc ở Mỹ tôi cũng tìm được số manh mối rồi, còn nhớ cuốn sách tiên tri ở núi Zhaklama ? đó trong bốn người sống sót chúng ta, có người là hậu duệ của nhà tiên tri, người đso quả đúng là tôi. Ông ngoại tôi qua đời năm tôi mười bảy tuổi, ông tô ra rất đột ngột, lời dặn lại. Đợt vừa rồi về Mỹ, tôi lục tìm những di vật của ông, trong đó có cuốn nhật ký, rồi phát ra rất nhiều đầu mối hết sức bất ngờ, chứng minh cách thuyết phục cho tính chân thực của lời tiên tri."


      Xem ra việc phát triển theo chiều hướng tôi lo ngại nhất, đúng là ghét của nào trời trao của ấy, cái động quỷ ác mộng kia, càng tránh nó, nó lại càng như miếng cao da chó bám chặt lấy da thịt mình. Có chúgn tôi bị thành cổ Tinh Tuyệt nguyền rủa? Nhưng ngôi thành cổ ấy cùng dãy núi Zhaklama, chẳng phải đều vĩnh viễn vùi sâu dưới lớp cát vàng rồi sao?


      Shirley Dương : " phải lời nguyền, nhưng còn phiền phức hơn thế, Zhaklama... tôi kể từ đầu cho nghe những gì tôi biết."

    4. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.2 - Chương 20: BAN SƠN ĐẠO NHÂN





      Núi Zhaklama nằm sâu trong sa mạc Taklimakan, bên dưới ngọn núi đen này chôn vùi vô số bí mật, có lẽ đúng như cái tên của nó, Zhaklama


      Trong tiếng Duy Ngô Nhĩ cổ có nghĩa là "thần bí", cũng có người giải thích là "núi thần", tóm lại những người dân thường sống quanh khu vực núi Zhaklama đều rất khó thấy được những huyền bí chứa trong ngọn núi này!


      Vào thời kỳ viễn cổ, nơi đây từng sản sinh ra bộ lạc vô danh được xưng tụng là "thánh giả", tạm thời ta gọi đó là "bộ lạc Zhaklama". Bộ lạc này di cư từ đại lục châu Âu xa xôi đến nơi đây, chung sống yên bình quanh ngọn núi Zhaklama biết bao nhiêu năm, cho đến ngày họ vô tình phát ra động Quỷ sâu hun hút trong lòng núi. Các thầy mo trong bộ lạc với mọi người rằng, ở phương Đông xa xưa, có con mắt ngọc khổng lồ màu vàng kim, có thể nhìn thấy động Quỷ, vì vậy họ phỏng theo đó tạo ra con mắt ngọc thạch, dùng để tế bái động Quỷ, kể từ giờ phút đó đại họa đổ xuống đầu những người dân trong bộ tộc này.


      Về sau, bộ lạc Zhaklama bị thánh thần ruồng bỏ, tai vạ ập xuống liên miên. Bậc Thánh giả, vị lãnh của bộ tộc cho rằng nỗi oan nghiệt này ắt hẳn có liên quan tới động Quỷ, cánh cửa tai họa khi mở ra, muốn đóng lại là rất khó. Để tránh những tai họa đáng sợ đó, họ buộc phải rời khỏi ngôi nhà quen thuộc mình sinh sống nhiều năm, tiến sâu vào vùng đất phương Đông xa xôi, dần dần hòa vào nền văn minh Trung nguyên.


      "Tai họa" đó là gì? Giải thích theo quan điểm đại, có thể gọi đó là loại bức xạ, phàm những ai đến gần động Quỷ, sau thời gian, cơ thể xuất vết phát ban mày đỏ như hình con mắt, suốt đời thể xóa được.


      Những ngườii có vết ban đỏ này, sau năm bốn mươi tuổi, nguyên tố sắt trong máu dần giảm . Máu trong cơ thể người sở dĩ có màu đỏ, là do trong máu có chứa sắt, nếu nguyên tố sắt trong máu dần dần mất , máu cũng từ từ đông đặc, lượng ô xy cũng giảm xuống, hô hấp ngày càng khó khăn, cuối cùng khi chết, máu trong người đều biến thành màu vàng.


      Quá trình đau đớn này diễn ra trong vòng mười năm, con cháu đời sau của những người này, tuy cơ thể còn vết ban đỏ, nhưng vẫn mang trong mình bệnh thiếu sắt di truyền, cuối cùng cũng phải chịu đựng cái chết trong đau đớn đến cùng cực giống như cha ông họ, cho nên họ chỉ còn cách rời bỏ quê hương. Sau khi di cư đến Trung Nguyên, qua nhiều thế hệ quan sát, họ phát ra quy luật, cách động Quỷ càng xa, thời gian phát bệnh càng chậm, nhưng bất luận thế nào, chứng bệnh này vẫn mãi tồn tại, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, lúc lâm chung đều khổ sở vật vã, có từ nào có thể diễn tả cảm giác đau đớn khi toàn bộ huyết dịch chuyển thành khối đông đặc màu vàng.


      Để tìm giải pháp phá giải nỗi thống khổ này, mỗi thành viên trong bộ tộc nghĩ đủ mọi cách. Bao nhiêu năm sau, mãi đến thời Tống, cuối cùng họ cũng tìm ra được đầu mối quan trọng, trong lớp bùn nhão dưới hạ lưu sông Hoàng Hà, phát ra chiếc đỉnh đồng lớn, có lẽ là vật đời nhà Thương. Chếc đỉnh ấy rất lớn, bụng sâu đáy lớn, dưới có bốn chân, trông hết sức nặng nề bề thế, lại còn được chạm khắc hoa văn hình ve sầu hết sức tinh xảo. Đỉnh vốn là thứ lễ khí quan trọng trong xã hội cổ đại, đặc biệt vào thời kỳ đồ đồng thanh, các mỏ đồng đều nằm trong tay chính quyền, công nghệ luyện đúc đồng là thước đo giàu mạnh của đất nước, các vị đế vương cho đúc đỉnh đồng để tế trời đất tổ tiên, còn cho khắc lên đỉnh những bài minh văn, bẩm báo với trời đất những kiện trọng đại. Ngoài ra hoàng đế cũng thường đem đồng thanh ban tặng cho các công thần quý tộc, người được hưởng ân huệ, sau khi về cho người dùng đồng được ban tặng đó, đúc ra đồ vật để kỷ niệm những kiện trọng đại bấy giờ.


      Hậu duệ của bộ tộc Zhaklama phát ra chiếc đỉnh đồng có khắc ghi kiện hết sức quan trọng như vậy, năm xưa vua Võ Đinh nhà Thương từng có viên ngọc hình nhãn cầu màu vàng kim, nghe viên ngọc này được tìm thấy trong ngọn núi bị sụt, đồng thời còn tìm tháy chiếc áo bào đỏ.


      Vua Võ Đinh cho rằng mắt ngọc cổ này là đồ vật của Hoàng Đé để lại sau khi ngài thành tiên, vô cùng trân quí liền đặt tên cho ngọc này là "Mộc trần châu", sau đó cho người đúc đỉnh để ghi nhớ, bài minh văn thân đỉnh chỉ có vậy, ngoài ra có thêm bất cứ thông tin nào.


      Mộc trần châu, Tị trần châu, Xích đơn, từ xưa là tam đại thần châu nhiều lần được nhắc đến trong sử sách của Trung Quốc, trong đó Mộc trần châu được làm từ nguyên liệu thần bí gần giống với ngọc, tương truyền là do Hoàng Đế tế trời mà có được, có lời đồn rằng về sau viên ngọc được đem là đồ tùy táng theo Hán Vũ Đến, về sau Mậu lăng 1 bị dân quân phá hoại, viên ngọc từ đó có tung tích. Tị trần châu có thể coi là vật chất mang tính phóng xạ được phát sớm nhất thế giới, ngọc này tìm thấy ở Thiểm tây Trung Quốc, nhưng khi phát do xảy ra cướp giật, nên cũng thất lạc mất; Xích đơn có lẽ là viên ngọc có tính truyền kỳ nhất, tương truyền Xích đơn nguồn gốc ở núi Tam Thần, có công hiệu thần kỳ thay xương đổi cốt, vẫn luôn được giấu kín trong cung đình, cuối thời Bắc Tống mất tích.


      Hậu duệ của bộ tộc Zhaklama ít người giỏi thuât chiêm bốc, nhờ bói toán, họ cho rằng con mắt ngọc vàng kia chính là mắt thiên thần, chỉ có cách đem con mắt ngọc này cúng tế động Quỷ, mới có thể tiêu trừ được tai ương do những thầy mo trong bộ tộc rước đến vì để mắt ngọc nhìn trộm bí mật bên trong quỷ động. Nhưng viên ngọc từng là vật sở hữu của Võ Đinh thất lạc trong chiến tranh, nay rất có thể trở thành vật bồi táng trong địa cung của vị vua chúa quý tộc nào đó, song do phạm vi bói toán có hạn, chẳng thể nào biết được vị trí chính xác lăng mộ kia ở đâu.


      Bộ lạc Zhaklama bấy giờ từ năm nghìn người lúc mới di cư vào Trung Nguyên, giảm xuống chỉ còn hơn nghìn người, họ bị văn minh Hán tộc đồng hóa, ngày cả tên họ cũng theo thời gian mà Hán hóa. Để thoát khỏi gông xiềng tai ác, bọn họ thể tản ra sinh sống ở khắp nơi, chia nhau truy tìm Mộc trần châu trong các cổ mộ, những người này trở thành phần chi trong tứ đại môn phái đạo mộ bây giờ.


      Từ xưa những kẻ trộm mộ chuyên nghiệp, dựa theo thủ đoạn hành khác nhau, mà phân ra làm bốn phái Phát khâu, Mô kim, Ban sơn, Xá lĩnh. Hậu duệ của bộ lạc Zhaklama, quá bán học theo "Ban sơn phân giáp thuật", lúc thường cải trang thành đạo sĩ, tự xưng "Ban sơn đạo nhân".


      "Ban sơn đạo nhân" và "Mô kim hiệu úy" khác biệt rất lớn, mà có thể nhận ra ngay từ tên gọi của hai phái, "Ban sơn" trộm mộ theo cách thức kèn đồng, là dạng thức chủ yếu lợi dụng vào ngoại lực phá hoại, còn "Mô kim" lại chú trọng tới kỹ thuật và kinh nghiệm hơn.


      Những Ban sơn đạo nhân của bộ tộc Zhaklama trong những năm tháng sau đó tìm kiếm biết bao nhiêu cổ mộ, song manh mối tìm kiếm được chỉ ra những đoạn đứt nối rời rạc.


      Tìm kiếm theo kiểu lần mò ấy, Mộc trần châu vẫn tuyệt vô tung tích, và rồi theo thời gian, thuật Ban sơn ngày suy yếu, nhân tài rơi rụng, đến những năm Dân quốc, toàn quốc chỉ còn lại duy nhất vị Ban sơn đại nhân trẻ tuổi cuối cùng, người này là kẻ trộm mộ nổi tiếng nhất vùng Giang Triết, bởi có tài năng bắt chước tiếng các loài vật, nên được tặng cho biệt hiệu Gà Gô. Lâu dần, tất cả mọi người đều quên mất tên của ta, chỉ gọi bằng tên Gà Gô. này biết khinh công, rất thông thạo việc hóa giải cạm bẫy trong cổ mộ, hơn nữa lại bắn sung như thần, chỉ trong giới đổ đấu, mà ngay cả trong phường lục lâm thảo khẩu, ta cũng rất có tiếng tăm.


      Gà Gô tuân theo di huấn của tổ tiên, lần tìm theo những manh mối mơ hồ, khắp nơi tìm kiếm tung tích Mộc trần châu, cuối cùng ta đặt mục tiêu vào kho báu của nước Tây Hạ xưa. Tưong truyền kho báu đó cách thành Hắc Thủy hoang phế của nước Tây hạ cổ xa, vốn là mộ xây cho vị trọng thần của Tây Hạ, nhưng vì Tây Hạ bị Mông Cổ tiêu diệt, còn chưa kịp nhập liệm cho vị vương công đại thần kia, người ta đem hết số ngọc ngà châu báu quý giá trong hoàng cung, cất giấu cả vào trong đó, rất có thể Mộc trần châu cũng nằm trong số đó, chỉ có điều mặt đất còn để lại bất kỳ dấu tích lấp mộ nào, thành thử hết sức khó tìm.


      Ban sơn đạo nhân như Gà Gô đều biết coi phong thủy thiên tinh, xét về mặt kỹ thuật thể nào tìm ra đựoc kho báu. Lúc này, người cùng bộ tộc với còn nhiều nữa, nếu còn tìm ra Mộc trần châu , bộ lạc cổ xưa này có thể tuyệt diệt. Đứng trước thảm cảnh của bộ tộc mình, Gà Gô thể cầu cứu Mô kim Hiệu úy am hiểu thuật phong thủy phân kim định huyệt.


      Thế nhưng bây giờ thiên hạ đại loạn, tứ đại môn phái Phát khâu, Mô kim, Ban sơn, Xá lĩnh gần như thất truyền, người biết "Ban sơn thuật" có lẽ chỉ còn lại duy nhất mình gà Gô mà thôi, còn như phái Phát Khâu và Xả lĩnh ngay từ nhiều triều đại về trước còn tồn tại nữa rồi.


      Thời bấy giờ cũng còn nhiều Mô kim Hiệu Úy lắm, tính đầu ngón tay cả nước cũng còn quá mười người, thời đại đó, người làm nghề trộm mộ đa phần đều là bọn quan quân dưới trướng quân phiệt, hay như những kẻ trộm mộ lặt vặt trong dân gian.


      Gà Gô dùng trăm phương nghìn kế mới tìm ra được mộ vị Mô kim Hiệu úy xuất gia làm Hòa thượng, cầu xin ông này truyền cho bí thuật phân kim định huyệt, vị hòa thượng, có pháp hiệu là Liễu Trần , năm xưa sư hòa thượng Liễu Trần cũng là Mô kim Hiệu úy, từng đổ biết bao nhiêu cái đấu, về già ông nhìn thấu cõi hồng trần, nên quyết định xuống tóc tu.


      Pháp sư Liễu Trần khuyên Gà Gô "Việc đời bỏ qua, lòng chỉ thêm phiền não, riêng Phật tử an nhiên , cừoi muốn hão". Thí chủ sao nhìn thoáng ra được vậy, lão tăng năm xưa từng làm Mô kim Hiệu úy , mặc dầu cổ vật có được đa phần đều đem ra giúp dân, nhưng nhiều khi ngồi ngẫm trong lòng sao thanh thản được, để những minh khí quý giá kia lần nữa thấy ánh mặt trời, thế gian lại vì những thứ đó mà nảy sinh bao tranh giành đẫm máu. Cái thứ minh khí này, bất kể dùng cho bản thân hay bán làm điều thiện, đều phải việc tốt, tóm lại nghề đổ đấu này, nhiều oan nghiệt lắm..."


      biết phải làm sao, Gà Gô đành kể ra , pháp sư Liễu Trần biết được nguyên do liền động lòng trắc , đồng ý truyền lại kỹ thuật của phái Mô kim cho Gà Gô, nhưng theo quy củ, Gà Gô phải lập được công trạng, mới được truyền cho bùa Mô kim.


      Hoạt động đổ đấu từ trước tới nay, đều tiến hành trong bóng tối, bất kể động cơ là gì cũng đều đựoc phơi ra ánh sáng, cho nên nội quy trong ngành thể nào qua loa đại khái cho được, pháp sư Liễu Trần với Gà Gô: "Khi ta tới đây xuát gia, từng thấy gần đây có ngôi cổ mộ, chưa bị đổ đấu, địa điểm cách chân núi dưới chùa mười dặm về phía Tây Bắc, trong vùng núi đồi hoang dã. Ở đó có nửa tấm bia đá chữ, phía dưới là ngôi cổ mộ thời Nam Tống. Đặc điểm bên ngoài ngôi mộ chỉ là nửa tấm bia mộ, dưới bia là mộ đạo, ngôi mộ nằm ở chỗ hẻo lánh, mãi đến giờ vẫn chưa bị đổ đấu lần nào, có điều huyệt mạch được tốt, dáng như kiềm gẫy. Ngươi cứ chiếu theo những lời ta , tối nay vào trong ngôi mô lấy bộ áo liệm của mộ chủ vể đây, coi đó là công trạng của người. Có lấy được hay , còn phải xem sư tổ liệu có muốn ban cho người kỹ thuật của bản phái !" Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Sau đó pháp sư Liễu Tràn đưa cho Gà Gô bộ dụng cụ, đều là các vật dụng của Mô kim Hiệu úy, đồng thời dặn dò phải ghi nhớ nội quy của phái Mô kim. Mô kim là phải đổ đấu coi trọng kỹ thuật nhất, hơn nữa lịch sử lâu đời nhất, các tiếng lóng thông dụng trong ngành này quá bán đều được truyền ra từ miệng Mô kim Hiệu úy. Lấy ví dụ, những kẻ trộm mộ ngày nay đều tự gọi mình là nghệ nhân đổ đấu, nhưng vì lẽ gì mà gọi trộm mộ là đổ đấu, có lẽ có rất nhiều người trả lời được. Từ này vốn bắt nguồn từ cách miêu tả sinh động về việc trộm mộ của Mô kim Hiệu úy. Các ngôi mộ lớn ở Trung Quốc, ngoài xây trong lòng núi ra, đa phần đều vun đất thành gò, lấy Tần lăng làm ví dụ, hình dạng của gò đất đó giống như mọt cái đấu đông gạo, úp ngược lên mặt đất, minh khí và địa cung đều nằm ở trong đấu, cách đơn giản nhất để lấy được minh khí, chính là đổ đấu ra, cho nên gọi là đổ đấu!


      Những điển cố kiểu này và rát nhiều điều cấm kị khác, trước đay Gà Gô chưa từng được nghe, Ban sơn đạo nhân có nhiều quy định đến vậy, sau hồi nghe Liễu Trần trưởng lão giảng giải, cảm giác như thế vào làn mây mù nhìn thấy ánh dương vậy.


      Pháp sư Liễu Trần cuối cùng còn dặn dặn lại, nội quy của nghề này là phải thắp cây nến ở góc Đông Nam hầm mộ, nến cháy mở văn quan mò bảo vật, bằng như nến tắt phải tức tốc rút lui, ngoài ra được lấy thừa thãi, được phá hoại quan quách, ngôi mộ chỉ được ra vào lần, khi rời khỏi phải gắng lấp hang trộm lại ...


      Ngay đêm hôm đó, Gà Gô mình đến chỗ có tấm bia võ của ngôi mộ thời Nam Tống, lúc này đêm về khuya, mây trôi bồng bềnh , trăng thoắt thoắt sau những đám mây đen, gió đêm khua khoắng cành lá khô xào xạc trong rừng, nghe như tiếng ma kêu quỷ khóc.


      Lần này Gà Gô sử dụng Ban sơn phân giáp thuật nữa, mà theo chỉ dạy của Liễu Trần pháp sư, tín dụng thủ pháp của Mô kim Hiệu úy đào đường hầm thẳng vào minh điện.


      Sau đó chuẩn bị đấu mục, dây buộc xác, thảm trảo, nến, hương nhuyễn thi, móng lừa đen và gạo nếp, uống viên Hồng liêm điệu tâm hoàn, mò lấy khẩu Mauser băng đạn hai mươi viên nhập khẩu từ Đức ra, dắt vào bên sườn, cuối cùng dùng chiếc khăn ướt bịt vào miệng và mũi.


      Liễu Tràn pháp sư huyệt mộ này hình thế hỗn loạn, phong nghịch khí hung, hình như kiềm gẫy, thế tựa thuyền lật, loại huyệt dữ điển hình này rất có thể ươm tà, song Gà Gô bao lần xông pha trận mạc, dẫu cổ mộ có hung hiểm hơn nữa cũng chẳng nhằm nhò gì. Những loại oan quỷ am hồn, bánh tông sát hay hắc trung bạch trong cổ mộ này, bao năm nay Gà Gô giết chục tên cũng khử tá rồi.


      Gà Gô thầm nghĩ : "Lần này có lẽ là Liễu Tràn pháp sư muốn thử thách lòng can đảm và kỹ thuật của mình, quyết thể làm hỏng thanh danh "Gà Gô" trong giới đổ đấu được". Nghĩ đoạn, chuẩn bị sẵn sàng, ngẩng đầu nhìn ánh trăng mờ ảo, cầm cây đèn bão, hít hơi sâu, rồi chui vào trong hang trộm.


      Với thân thủ mau lẹ, Gà Gô chẳng tốn bao nhiều thời gian chui vào đến bên trong minh điện, ngôi mộ này lớn, độ cao hạn chế, cảm giác hết sức bức bối. Dưới đất chất đống khá nhiều minh khí, nhưng Gà Gô mảy may để mắt đến những thứ lặt vặt này, sau khi vào đến nơi, liền tìm đúng đến góc Đông Nam mộ thất, thắp lên ngọn nến, quay người kiểm tra quan quách của chủ ngôi mộ, phát ra ở đây có quách, chỉ có quan tài , là cỗ kim quan đồng giác, toàn bộ đều được làm bằng đồng. Trong đời trộm mộ, đây là lần đầu tiên nhìn thấy cổ quan tài như thế, trứoc dây chỉ nghe loại kim quan đồng giác này được thiết kế nhằm đề phòng trường hợp biến xác, rất có khả năng thi thể của chủ mộ từ trước khi nhập quan có những dấu hiệu biến xác rối.


      Song vốn là kẻ nghệ cao gan lớn, Gà Gô vẫn dùng thảm trảo mô vân quan nặng nề lên, thấy bên trong là xác của phụ nữ, mặt mũi còn như lúc sống, cũng chỉ đọ ba mươi tuổi, dáng vẻ như quý phụ, hai má bị phồng, chứng tỏ miệng có ngậm ngọc chống rữa, đầu cắm rất nhiều đồ trang sức ngọc ngà, mình được đắp lớp chăn thêu. Nhìn nửa thân , cho thấy xác mặc chín lớp áo liệm, giờ chỉ cần lấy lớp áp ngoài cùng mang về là được. Gà Gô lăn mình nhảy phắt vào trong quan tài, rút cuộn dây buộc xác ra, quấn quanh thân mình hai vòng, thắt nút ở trước ngực, đầu dây còn lại thắt thành vòng thòng lọng, choàng vào cổ xác chết.


      Gà Gô nín thở áp xuống quan tài, mặt đối mặt với xác chết, đốt nén hương nhuyễn thi, rồi tiện tay đặt cạnh mặt xác chết Nam Tống, thứ hương nhuyễn xác này có tác dụng làm xác chết cứng đơ mềm ra. Xong rồi lúi húi ngồi lên đùi xác chết trong quan, điều chỉnh lại dây buộc xác, sau đó thẳng lưng dạy, do chịu lực tác đọng của sợi dây choàng quanh cổ, xác chết cũng ngồi dậy theo Gà Gô.


      Các Mô kim Hiệu úy dùng đầu dây buộc xác quấn quanh ngực mình, đầu còn lại kết thành thòng lọng choàng vào cổ xác chết, là để cho xác ngồi dậy, mà hai tay mình vẫn rảnh rang cởi bỏ quần áo thi thể người chết. Vì Mô kim Hiệu úy cưỡi lên nên khi xác chết được kéo dậy thấp hơn so với Mô kim Hiêu úy khoảng, cho nên dây buộc xác mới buộc vào trước ngực Mô kim Hiêu úy, đầu kia cột vào cổ xác chết, như vậy mới giữ được thăng bằng. Về sau phương pháp này được lan truyền trong giới trộm mộ dân gian, nhưng lại tường tận, dây buộc xác dây thường, được tẩm mực, những tay trộm mộ dân gian lại khong nắm cách thức buộc dây, đầu dây phải buộc vào ngực mình, mà lại buộc vào ở đầu dây cột vào cổ xác chết, nhiều trường hợp chỉ vì cách buộc dây dúng, để rồi chết cách lãng nhách trong quan tài.


      Gà Gô dùng dây buộc xác kéo thi thể ngồi dạy, vừa định đưa tay cởi lớp áo liệm ra, đột nhiên cảm thấy sau lưng có mọt cơn gió lạnh ập đến, quay đầu lại nhìn cây nến ở góc Đông Nam hầm mộ, ngọn lửa bị gió thổi lay lắt, dường như có thể tắt lụi bất cứ lúc nào. Gà Gô lúc này buộc mình với xác chết, thấy ngọn nến sắp tắt đến nơi bèn thầm nghĩ : "Hỏng rồi!" Xem ra bộ áo liệm này lấy được rồi, song cái xác đàn bà trứoc mặt đột ngột há miệng, trong cái miệng ban trước ngậm chặt bỗng rơi ra viên ngọc màu tím ngắt. Gà Gô nhìn cái xác ở ngay trước mắt, thấy mặt nó dần dần mọc ra lớp lông tơ màu trắng rất mảnh, xem chừng chỉ cần ngọn nến ở góc hầm mộ tắt , cái xác này lập tức biến thành bạch hung ngay, song dù có thực xảy ra biến xác nữa, cuộn dây buộc xác này cũng có thể khắc chế được nó rồi.


      Có điều quy định của Mô kim Hiệu úy là, nến tắt đồng nghĩa với việc được phép lấy bất cứ minh khí nào trong minh điện, Gà Gô từ năm mười lăm tuổi bắt đầu theo nghiệp Ban sơn đạo nhân, trải qua mười hai năm gian nan hiểm khó, gặp phải biết bao tình cảnh phức tạp mà người thường khó tưởng tượng nổi, buông tay bỏ cuộc, bản thân có thể thóat ra dễ dàng, thế nhưng vừa thấy khó rút lui, đấy tuyệt đối phải tác phong hành của Gà Gô.


      Gà Gô tính toán, vừa thể để nến tắt, cũng thể cho xác chết có cơ hội biến xác, đồng thời lại phải cởi bỏ cổ áo liệm đem về trình Liễu Trần pháp sư, nếu như làm vậy, thể nào tỏ được tài nghệ của mình.


      Gà Gô liếc mắt nhìn viên ngọc tím vừa rới từ trong miệng xác chết ra, biết đại khái đây là dạng đan dược chế từ chu sa và ngọc tím, đây chính là "Định thi đan" trong phái Trùng Lao sơn, chuyên dùng để chống cho thi thể xảy ra biến xác. Tầng lớp quỷ tộc cổ đại Trung Quốc rất hiếm người chấp nhận hỏa táng, nếu người chết có biểu xảy ra biến xác, người ta liền mời đạo sĩ đến dùng đan dược khắc chế, sau đó vẫn cho hạ thổ liệm táng, tuy nhiên việc này ngoài người thân trong gia đình biết, tuyệt đối ai được hé lộ nửa câu ra bên ngoài.


      Ngọn nến ở góc Đông Nam hầm mộ, hiểu bị cơn gió lạnh từ đâu thổi tới, khiến cho lập là lập lòe, tắt lụi trong chớp mắt. Gà Gô ngồi xác chết, tay trái kéo sợi dây buộc xác, xác chết bị hun trong hương nhuyễn thi lâu, cổ lại bị kéo, lập tức ngửa đầu ra sau miệng há hốc.


      Gà Gô vội láy tay phải nhặt viên Đinh thi đan rơi trong quan tài, nhét vào miệng cái xác.


      Ngay sau đó, Gà Gô rút khẩu súng giắt bên hông, bóp cò, "đoàng" lên tiếng, bắn rơi phần ngôi mộ thất xuống. Gian mộ thất này có kết cấu gạch gỗ, để bảo vệ rui gỗ, khi xây dựng người ta phủ lớp ngói hình trụ tròn lên rui gỗ, bị viên đạn bắn phải, mảng ngói lớn rơi xuống, vừa vặn rơi xuống gần chỗ cây nến, bị hơi gió bên tạt xuống, ngọn nến chỉ khẽ lụi chút, nhưng lụn tắt, phát súng vừa rồi nhắm góc độ rất chuẩn xác, nửa miếng ngói rỗng ruột hình tròn tựa như lá chắn gió, vừa vặn che chắn hai hướng Đông Nam của ngọn nến, phía Đông vốn là lối vào mộ đạo, như vậy cũng chặn luôn luồng khí lưu thông từ bên ngoài thổi vào, chỉ cần ngói bị đổ, nến cũng bị thổi tắt! Truyện "Ma Thổi Đèn " Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Vì phải kéo dây buộc xác, tay trái Gà Gô dám lỏng ra, lại sợ ngọn nến bị thổi tắt bất cứ lúc nào, nên mới phải ra chiêu mạo hiểm, dựa vào thân thủ phi phàm của mình, bắn rơi ngói làm vật cản gió.


      Chỉ cần nến tắt, là coi như vi phạm vào quy định của phái Mô kim, dẫu có xảy ra biến xác nữa, cũng phải dốc hết toàn lực lấy bộ áo liệm của cái xác thời Nam Tống này.


      Thời gian còn nhiều, cần phải rời khỏi nơi đây trước khi gà gáy sáng. Các điều cấm kị trong phái Mô kim rất nhiều, "gà gáy lấy vàng" là trong số quy định đó, bởi bất luận động cơ là gì, là thay trời hành đạo, cho dân, hay cứu nguy tế bần nữ, trộm mộ cho cùng vẫn là trộm mộ. Đổ đấu là nghề tuyệt đối được đưa ra ánh sáng, thảng như phá bỏ giới luật, đến khi trời sáng mà vẫn còn nán lại trong hầm mộ, ngay cả sư tổ cũng chẳng thể phù hộ cho được.


      Lúc này tuy Liễu Tràn trưởng lão truyền cho Gà Gô đủ các nội quy cũng như thủ pháp của phái Mô kim, đòng thời còn đưa cho bộ dụng cụ đầu đủ của môn phái, nhưng lại chưa trao cho vật quan trọng nhất , bùa Mô kim. Nếu đeo bùa Mô kim,mà lại đổ đấu dựa vào thủ pháp của phái Mô kim nguy hiểm vô cùng, trong hoàn cảnh khó khăn ấy mà vẫn lấy được minh khí trong cổ mộ, mới đủ tư cách tiếp nhận bùa Mô kim.


      Việc đào đường hầm dẫn vào mộ thất vốn mất rất nhiều thời gian, để lâu sinh chuyện, phải lấy áo liệm của người chét quay trở ra càng sớm càng tốt. Gà Gô đoán thời gian còn nhiều, liền lập tức triển khai tư thế Khôi tinh dịch đấu, ngồi lên đùi xác chết, dùng chân và dây buộc xác quấn ngực cố định xác chết trong quan tài, giữ yên tư thế ngồi của xác người phụ nữa, rồi nhanh tay cởi lớp áo liệm ngoài cùng người xác chết ra.


      Bỗng nhiên, Gà Gô thấy ngứa ngáy nơi cổ, giống như có vật gì đó lông lá đầy mình đậu vai, dù là to gan lớn mật, nhưng Gà Gô cũng khỏi rợn da gà, cố giữ yên động, quay đầu lại nhìn xem rốt cuộc cổ mình có thứ gì. --------------------------------


      1 Lăng mộ của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, nằm ở Tây An

    5. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.2 - Chương 21: MÈO HOANG





      Chỉ thấy con mèo hoang lông vằn to tướng, biết từ lúc nào lần theo đường hàm lẳng lặng mò vào hàm mộ, con vật bò vai Gà Gô, trợn đôi mắt lớn nhìn chằm chặp vào kẻ trộm mộ,


      Gà Gô lảm bẩm chửi "đen đủi", dân đổ đấu bất luận theo môn phái nào, đều rất kị gặp phải các giống mèo, cáo, sói trong minh điện, đặc biệt là mèo hoang, tương truyền mèo là giống động vật có luồng điện sinh vật rất thần bí, mèo sống mà chạm phải xác chết, chính là tác nhân dễ gây biến xác nhất.


      Con mèo hoang mời mà đến này dường như hề sợ người lạ, nó bám lên vai Gà Gô, lườm lúc, rồi cúi đầu nhìn về phía quan tài. Con mèo có vẻ như rất hứng thú với những minh khí được bày biện xung quanh xác chết, trong mắt nó những thứ lấp lánh ánh vàng kia như những món đồ chơi hết sức hấp dẫn, nó có thể nhảy bổ vào trong quan tài bất cứ lúc nào.


      Tim Gà Gô như bắn ra khỏi lồng ngực, sợ con mèo hoang này nhảy từ vai mình vào trong quan tài, mà để nó chạm vào xác chết, dù cho trong miệng cái xác ấy có ngậm Định thi hoàn chăng nữa, cũng vẫn xảy ra biến xác, biến thành bạch hung, mặc dù bản thân sợ, nhưng chỉ e xảy ra xung đột, nhỡ đâu lại làm tắt nến, thứ nữa là thời gian còn nhiều, sợ kịp lấy được áo liệm về cho Liễu Trần trưởng lão, gà gáy lấy vàng, cũng giống như nến tắt lấy vàng, đều là những quy định thép mà bất cứ Mô kim Hiệu úy nào cũng phải tuân thủ.


      Mặc dù với thân thủ của Gà Gô, cho dù có phạm phải quy củ của phái Mô kim, lấy cái áo liệm kia vẫn dễ như lấy đồ trong túi, song người trong đạo rất trọng tín nghĩa, quy tắc này còn được coi nặng hơn cả tính mạng, cao thủ như Gà Gô lại càng hết sức coi trọng. Đổ đấu vốn là cái nghề dễ, nghe theo khó, nếu phá bỏ những quy tắc vốn là chỗ dựa để nghề được tồn tại này, Mô kim Hiệu úy cẳng khác nào tên ăn trộm vặt vãnh chốn dân gian. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      chậm nhưng diễn biến việc rất nhanh, những suy nghĩ này cũng chỉ lướt trong óc Gà Gô, cho thời gian đắn đo, con mèo hoang lông vằn, chống cự nổi mê hoặc của những minh khí láp lánh kia nữa, liền cong người, định nhảy khỏi vai Gà Gô xuống dưới.


      Gà Gô mưốn đưa tay chộp lấy con mèo, nhưng lại sợ mình nhúc nhích làm kinh động đến nó, ngược lại khiến nó chạm phải cái xác từ thời Nam Tống, thấy con mèo sắp nhảy vào quan tài, trong cái khó bỗng ló cái khôn, Gà Gô vội huýt lên tiếng. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Nguyên do có biệt hiệu Gà Gô, xuất phát từ khả năng nhại thanh. Gà Gô có thể mô phỏng các thanh của động vật, máy móc thậm chí là tiếng ngáy, mô phỏng tiếng gì là giống y tiếng ấy, giống đến nỗi thể phân biệt được giả. Lúc này để thu hút chú ý của con mèo, Gà Gô chu miệng huýt vài tiếng, sau đó bắt chước tiếng mèo kêu, kêu lên mấy tiếng "meo meo".


      Con mèo chực nhảy vào quan tài, quả nhiên bị tiếng kêu của đồng loại thu hút, tai nó vểnh lên, bám vào vai Gà Gô dáo dác tìm xem tiếng mèo kia phát ra ở đâu, có vẻ như con mèo cũng thấy rất kỳ quặc, có thấy con mèo nào đâu? Trốn đâu rồi nhỉ? Nghe tiếng có vẻ như ở ngay đây ấy!


      Gà Gô thấy con mèo trúng kế, lập tức tính cách nhử con mèo ra xa cỗ quan tài, chỉ cần có chút thời gian, cởi bỏ lớp áo liệm là đại công cáo thành rồi. Đến lúc đó con mèo chết tiệt này có muốn vào trong quan tài chơi mặc xác nó, nhưng làm thế nào mới nhử được con ôn vật ra chỗ khác đây?


      Để phân tán chú ý của con mèo, Gà Gô khẽ huýt mấy tiếng chim kêu, con mèo có lẽ mấy ngày có gì vào bụng, nghe tiếng chim, bụng dạ cồn cào, cuối cùng nó phát , tiếng chim sẻ kêu kia phát ra từ bên dưới đôi mắt của kẻ ở ngay bên cạnh, mặt người này còn có tấm vải, đoán tấm vải đen này chắc hẳn phải có gì , có khi lại là con chim sẻ chăng?


      Nghĩ đến chim sẻ, mèo ta lập tức đói xanh mắt, liền giơ vuốt cào cào vào tấm vải đen bịt miệng Gà Gô, cũng mừng thầm trong bụng: "Con mèo ngu đáng chết, đời rồi con ạ!"


      Lợi dụng lúc con mèo tập trung chú ý vào miếng vải đen, Gà Gô nhàng đưa tay nhón lấy món minh khí trong quan tài, đó là chiếc xuyến vàng. Để làm kinh động đến con mèo, gắng động đậy cánh tay, chỉ dùng ngón cái búng phát, chiếc xuyến vàng văng về phía đường hầm đằng sau. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Chiếc xuyến vàng văng lên vẽ đường parabol , rơi xuống gần cửa hầm. Hầm mộ tĩnh lặng như tờ, cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy, chiếc xuyến vừa chạm đất, quả nhiên thu hút chú ý của con mèo. Lúc này, Gà Gô cũng dùng khẩu kỹ nữa, con mèo hoang tường chim sẻ kia nhân lúc nó chú ý chạy ra phía sau, liền kêu "meo meo", phóng mình về hướng phát ra thanh để bắt mồi.


      Gà Gô chỉ chờ cơ hội này, con mèo vừa nhảy khỏi vai mình, liền tức khắc rút khẩu Mausser của Đức ra, định quay ra bắn chết con mèo, đề phòng nó quay lại gây rối. Nhưng ai ngờ vừa quay lại, bỗng phát ra trong hầm mộ ngoài con mèo hoang lông vằn lúc trước, giờ còn có thêm bảy tám con mèo hoang nữa chui vào, có con còn đứng ngay sát miếng ngói chắn gió chỗ cây nến, chỉ cần chạm vào cái ,miếng ngói kia đổ ụp ngay lên cây nến.


      Mồ hôi trán Gà Gô chảy ròng ròng, bao lần vượt qua phong ba bão táp, nào ngờ trong ngôi cổ mộ bé tẹo này lại gặp phải cái tình thế quái gở nghe chưa từng nghe, thấy chưa từng thấy này, lẽ nào do tiếng chim mình huýt ra lúc nãy dụ bọn mèo hoang quanh đây lại. Tai mèo rất thính, chắc chúng nghe thấy tiếng chim sẻ kêu trong động, liền kéo nhau chui vào định đánh chen bữa no nê. Mà trời có thể sáng bất cứ lúc nào, giờ phải làm sao đây?


      Theo lẽ thường, mèo hoang là loài động vật đa nghi, rất ít khi chủ động chui qua đường hầm vào trong cổ mộ. Gà Gô ngoái nhìn lũ mèo bé mèo lớn sau lưng, mà dở khóc, dở cười, tối hôm nay làm sao vậy hả trời, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, ngờ chỉ việc đơn giản là lấy bộ áo liệm trong ngôi cổ mộ này, thường ngày có lẽ chỉ loáng cái là xong, vậy mà tối nay sao lại lắm gian truân trắc trở đến thế.


      Lần này đúng là "thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà", sử dụng khẩu kỹ tuyệt thế, xua được con mèo , nhưng ai ngờ cùng lúc lại gọi lô xách những con khác tới.


      Bằng tài nghệ bắn súng bách phát bách trúng của Gà Gô, hoàn toàn có thể giải quyết lũ mèo này trong chớp mắt, nhưng chỉ hơi chậm trễ chút, bọn mèo bỏ chạy hoặc bị thương làm ngọn nến tắt mất.


      Nếu trước khi gà gáy nến tắt mà lấy được bộ áo liệm, học được thuật phân kim định huyệt của Mô kim Hiệu úy, nghĩ đến chuyện lúc lâm chung người trong bộ tộc mình phải gánh chịu nỗi đau đớn khổ sở sao kể xiết, Gà Gô liền cảm thấy có khó khăn nào đời này có thể ngăn được mình, nghiến răng quyết định , trong tình huống thế này quyết thể lần khần, phải đánh nhanh thắng nhanh, trước khi lũ mèo đáng chết lại gây , liền tức tốc cởi bỏ áo liệm mình nữ thi.


      Gà Gô tay nhanh như chớp, sau khi cố định laị xác chết, liền giật đứt khuy áo, đưa chân nâng tay trái của người chết lên, chuẩn bị kéo ống tay áo ra khỏi cái xác, nhưng, vừa mới hành động, thấy hai con mèo nhảy lên thành cỗ quan tài kim loại, sao lũ mèo hoang này lại chẳng hề sợ người vậy? Nguyên nhân bởi gà Gô làm nghề đổ đấu lâu năm, nên người khí nặng, dương khí yếu, thêm vào đó là bộ quần áo đen, thân thủ lại nhàng, trước đó lại vừa uống viên Hồng liêm điệu tâm hoàn để phòng hít phải khí độc do xác ngừoi phân hủy, cho nên, trong mắt lũ động vật này, người trộ mộ chẳng khác nào xác chế, mà đối với lũ mèo hoang người chết hề nguy hiểm chút nào.


      con mèo mun và con mèo khoang bị màu óng ánh của cỗ kim quan đồng quách thu hút, tung mình nhảy lên mép quan tai, hai con tranh giành cắn xé, cuộn tròn vần nhau rồi cũng rơi vào trong.


      Thấy hai con mèo hoang sắp chạm vào xác chết đến nơi, bấy giờ trong miệng nữ thi ngậm Định thi đan, lớp lông trắng mình cũng bớt , cái xác trở lại trạng thái ban đầu, song nếu bị lũ mèo chạm phải, chắc chắn lập tức xảy ra biến xác. Trong lòng Gà Gô rất , khi biến xác, bạch hung rất mạnh mẽ, chẳng phải là thứ có thể khắc chế trong chốc nhát. Đoán chừng độ tuần hương nữa, gà báo sáng, mặc dù gà gáy, bạch hung cũng thể làm nổi trò gì, nhưng cũng chẳng thể nào lấy được cái áo liệm mình nó nữa.


      việc sau đó chứng minh thân thủ phi phàm của Gà Gô, trong khoảnh khăc trước khi lúc mèo chạm đến xác chết, Gà Gô liền giật mạnh sợi dây buộc xác, khom lưng buốc dây, lăn người nhảy ra ngoài, kéo theo cả cái xác ra khỏi cỗ kim quan đông giác, người xác nhàng tiếp đất.


      Lúc này có ba bốn con mèo hoang nhảy vào trong quan tài mà vui đùa đuổi bắt tán loạn, Gà Gô thầm nhủ đúng là hút chết. ra khỏi quan tài, lại càng thể chần chừ nữa. mau chóng đẩy xác chết ngồi dậy, vẫn co chân nâng cánh tay xác chết, toan lột áo liệm ra, nhưng mượn ánh sáng leo lét của ngọn nến, Gà Gô bỗng phát ra miệng xác chết há hốc ra tự lúc nào, có lẽ là do lúc nãy cắp cái xác nhảy ra khỏi quan tài, động tác mạnh quá, làm miệng thây ma tự động bẩy ra.


      Chỉ thấy người nữ thi lại bắt đầu nổi lên lớp lông nhung trắng muốt, trông giống như nấm mốc mọc đồ ăn để lâu ngày biến chất, mỗi lúc dài, miệng xác chết há hốc phà thẳng vào mặt Gà Gô làn khói đen. giật thót người, hít phải luồng khí lạnh, luồng khí đậm đặc, nếu như lúc trước uống viên Hồng liêm diệu tâm hoàn, bị khí độc của xác chết này hun cho cái, ắt trúng độc chết ngay tức khắc.


      Gặp phải loại thi khí như khói đen này, Gà Gô dám khinh suất, lập tức cúi đầu né tránh, phát ra viên Định thi đan màu tím vốn nằm trong miệng xác chết người phụ nữ thời Nam Tống giờ lăn ra bên cạnh miếng ngói chắn gió cho ngọn nến. Đối mặt với thây ma sắp biến xác này, nếu cứ bất chấp tất cả lột áo liệm mình nó ra, chỉ trong nháy mắt nó biến thành bạch hung. Gà Gô đành buông bàn tay túm chặt vạt áo liệm ra, , cũng phải nhân lúc quá trình biến xác còn trong giai đoạn đầu, lấy viên Định thi đan nhét vào miệng nó cái .


      Thế rồi Gà Gô lộn vòng dưới đất, và cái xác sẵn buộc chặt vào nhau bằng sợi dây trói xác, nên thây ma người đàn bà thời Nam Tống dần mọc ra lông trắng kia cũng bị Gà Gô kéo lê về phía góc Đông Nam hầm mộ.


      Góc Đông Nam của hầm mộ là góc chết duy nhất được chiếu sáng trong mộ, lúc này trong hầm mộ có hai nguốn sáng, là cây đèn bão treo nắp quan tài, hai là từ cây nến được miếng ngói vỡ che chở ở góc Đông Nam. Bóng của miếng ngói và cỗ kim quan đồng giác đan xen vào nhau tại góc Đông Nam hầm mộ, viên Định thi đan lại khéo rơi vào giữa khoảng giao nhau giữa ánh sáng và tối, trong ánh sáng lay lắt, viên thuốc lúc nhìn thấy, lúc lại bị bóng tối nuốt mất.


      Gà Gô lăn lộn lại gần, đưa tay nhặt viên Định thi đan dưới đất lên, bỗng con mèo lớn lừ lừ thò ra trong bóng tối sau góc cụt, nó chính là con mèo hoang đầu tiên chui vào trong minh điện làm loạn, có vẻ con mèo đói bèn thấy gì ăn nấy, nó há miệng cắn lấy viên Định thi hoàn mặt đất.


      Gà Gô nhìn con mèo như muốn ăn tươi nuốt sống, nhưng lúc này muốn nhặt lại viên Định thi hoàn cũng muộn, trong lúc gấp rút đành phải giở ngón cũ, sử dụng khẩu kỹ đệ nhất thiên hạ của mình bắt chước tiếng chuột kêu. COn mèo vằn quả nhiên lại trúng kế, ngây người ra lát, trừng đôi mắt nhìn Gà Gô, chỉ có điều nó hiểu vì sao con chuột to tướng trứoc mặt lại giống như những con chuột khác, nên chưa vồ tới ngay.


      Gà Gô nhân lúc con mèo chần chừ, nhanh tay chộp viên Định thi hoàn dưới đất, nhét vội vào miệng cái xác, đồng thời tung cước đá văng con mèo như đá quả bóng, cú đá của Gà Gô vô cùng ghê gớm, lại gây ra tiếng động, con mèo kịp đề phòng, bị đá cho đập đầu vào vách từong, gân cốt gãy lìa, óc vỡ bắn tóe ra, chưa kịp kêu lên tiếng đời nhà ma.


      Gà Gô đá chết con mèo, nghĩ bụng : "Tao cũng muốn giết mày đâu, có điều mày năm lần bảy lượt làm hỏng đại của rao, tao thể cho mày sống được, thôi hóa kiếp cho mày nhé!"


      Gà Gô có khả năng nắm bắt đồng hồ sinh học của mình, bằng vào trực giác biết, trong khỏang thời gian đủ để hút chừng nửa điếu thuốc nữa, gà trống trong ngôi làng gần đây cất tiếng gáy. thể chần chừ được nữa, Gà Gô kéo mạnh sợi dây buộc xác, kéo cái xác nữ thời Nam Tống ngồi thẳng lên, lớp áo liệm ngoài được cởi ra, chỉ còn vướng hai ống tay áo. mình cái xác mặc chín lớp áo, mỗi lớp độn vào chật khít, nhưng chỉ cần kéo áo xuống dưới theo chiều cơ thể, động tác thích đáng là có thể cởi áo mà cần tốn quá nhiều công sức.


      Gà Gô dựng xác chết lên, chuẩn bị lật ngược ra sau, cố cần phải nhấc hai tay xác chết mà chỉ cần kéo áo từ sống lưng xuống, là mọi việc xong xuôi.


      Nhưng Gà Gô chưa kịp lật xác chết ra sau, cảm thấy từng cơn gió tanh ập đến, bọn mèo hoang chui vào hầm mộ đều nghe thấy tiếng chuột kêu, mà thanh đó lại phát ra từ phía Gà Gô, lũ mèo đều đói ngấu, giờ nghe thấy tiếng chuột, liền nháo nhác mò ra chỗ , hòng tìm xem con chuột nó ở chỗ nào.


      Mười mấy con mèo lớn đồng thời nhảy bổ tới, lúc này có mọc ra ba đầu sáu tay cũng chẳng thể cùng lúc giải quyết bọn chúng được, Gà Gô thấy ớn lạnh cả người: "Thôi xong rồi, xem ra ý trời định, ông trời cho ta học bí thuật phân kim định huyệt của Mô kim Hiệu úy rồ."


      Song ý nghĩ chán nản ấy chỉ lóe qua trong đầu rồi lập tức biến mất, lũ mèo lao đến nhanh, nhưng Gà Gô nhanh hơn bước, giả tiếng mèo kêu: "mi ...eo..mi...eo..."


      Lũ mèo làm sao biết được Gà Gô có bản lĩnh này, vốn người có tiếng chuột kêu, giờ lại phát ra tiếng mèo hoang, nhất thời cả bọn đều hiểu xảy ra chuyện gì, mèo hoang tính vốn đa nghi, liền đứng khựng lại giương mắt nhìn chòng chọc vào Gà Gô.


      Trong hầm mộ tối om, mắt lũ mèo hoang như mấy chục cái bóng đèn , phát ra thứ ánh sáng man dại . Gà Gô mặc xác lũ mèo tính toán thế nào, tức tốc quay cái xác lại, dùng sợi dây buộc xác cố định lấy nữ thi, giật áo liệm mình xác chết xuống.


      Dường như đúng lúc ấy, lũ mèo đói khát cũng đưa ra quyết định, tựa hồ chúng bàn bạc từ trước vậy, bất kể là chuột hay là người chết, đều là thứ có thể ăn được, giờ mặc kệ là tiếng gì nữa, cứ vồ tới ngoạm miếng rồi tính sau, cả lũ mèo hoang như tên rời khỏi cung, bổ nhà tới.


      Gà Gô cũng ý thức được rắng , thời điểm này là những dây phút cuối cùng của đêm dài quái gở, có thành công hay , là phải xem mấy giây cuối cùng này. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, phải cùng lúc hoàn thành ba việc, để cho lũ mèo hoang chạm vào xác chết, kích thích quá trình biến xác; thứ hai, cũng được để con mèo nào làm tắt ngọn nến ở góc hầm mộ; thứ ba, trước khi có tiếng gà gáy phải lột bỏ được áo liệm mình xác chết, quyết được phạm luật " gà gáy lấy vàng" của phái Mô kim.


      Gà Gô lùi về phía sau bước, giẫm lên mảnh ngói vỡ dưới chân, mũi chân đá xéo miếng ngói vào con mèo lao lên đầu tiên, miếng ngói vừa vặn cứa phập vào sống mũi con mèo đen, nó kêu "éo..." lên môt tiếng thảm thiết, lăn sang bên.


      Lúc này Gà Gô cũng ôm cái thây mà lăn người xuống, tránh khỏi cú vồ của hai con mèo, tiện tay chộp lấy cây gậy, tay phải cầm nến đốt cháy sợi dây buốc giữa ngực và xác chết, tay trái giữ chắc vạt sau áo liệm. Cà Gà Gô và thây ma đều ngã xuống, co chân đá cái xác của nữ nhi về phía trước, giật bung chiếc áo liệm ra, động tác vừa rồi có hơi mạnh bạo chút, tay Gà Gô cầm chiếc áo liệm, cây nến ở tay kia cũng tắt, tiếng gà gáy văngvẳng vào trong mộ theo luồng gió sớm.


      Mèo ăn xác chết là chuyện hiếm thấy, vậy mà trong mộ thất mười mấy con mèo hoang như rồ như dại, đồng loạt nhảy bổ vào cái thây thiếu phụ cắn xé điên cuồng

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :