Ma thổi đèn - Thiên hạ bá xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.3 - Chương 7: BĂNG NÚI VƯỢT SÔNG





      Tiếng lá sắt cọ xát tựa như sóng thuỷ triều nối nhau ngớt xô đến dưới chân chúng tôi. Chiếc bè này được buộc chắc chắn nhưng cũng trụ nổi trước đàn cá rắn viper như lũ ma đói đầu thai này. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Chúng tôi trong lúc hoảng loạn chỉ còn cách dùng xẻng công binh đập đám cá bơi đến gần. Tôi vừa vung xuống nước xẻng, cái xẻng công binh bị bọn cá rắn viper như chó dại ấy ngoạm chặt, tôi vội vung xẻng lên hất văng hai con cá cắn chặt răng vào lưỡi xẻng ra, cúi đầu nhìn cái, mồ hôi khỏi túa ra khắp người, bề mặt lưỡi xẻng bằng thép cao cấp ngờ hằn mấy hàng vết răng cá cắn chồng chéo lên nhau.


      Có điều đây mới chỉ là vài con bơi đến trước tiên, đàn cá rắn viper đông đúc rào rào ập đến, nếu có cách gì hữu hiệu bè của chúng tôi bị chúng gặm nát chỉ trong vòng vài chục giây.


      Bè của chúng tôi vẫn còn cách cửa cái hang khổng lồ này hơn chục mét nữa, giờ bị đàn cá rắn viper bao vây kín, thể chèo chống gì. Chỉ hơn chục mét cuối cùng mà dài chẳng khác gì địa ngục, có lẽ chúng tôi chẳng bao giờ tới đó được.


      Tuyền béo lo lắng kêu lên :" Lần này chúng ta tiêu đời rồi. Mẹ kiếp, tôi muốn làm mồi cho cá đâu. Súng của cậu còn đạn chứ? Mai cho tôi phát giữa tim, tôi thà bị bắn chết còn hơn là bị lũ cá ăn thịt người này xơi tái!".


      Lúc này tôi cũng hơi hoảng loạn, nghiến răng đáp lời :" Được! làm thế. Tôi bắn cậu chết trước, sau đó tự sát. Chúng ta nhất dịnh thể sống mà rơi vào tay kẻ địch".


      Đúng lúc sinh tử chỉ quyết trong đường tơ này, Shirley Dương bỗng hết sức trấn tĩnh với hai chúng tôi :" Kìa hai sao lại hèn thế? Mọi ngày ba hoa tấc đến trời, oái oăm đủ trò, ngang ngạnh hết cỡ, coi mọi đời này là gì. Giờ còn chưa qua núi Già Long, mới gặp chút khó khăn muốn tự sát là thế nào, xem xem mai kia trở về còn mặt mũi nào dài ngắn với người khác nữa . Bây giờ tất cả nghe tôi chỉ huy!". Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Dứt lời Shirley Dương rút súng bắn liền mấy phát vào chỗ đám cá rắn viper tập trung đông nhất. Nước sông thoáng chốc bị máu cá nhuốm đỏ, bọn cá rắn viper thấy máu tươi, bất kể có phải là đồng loại hay , điên cuồng lao đến cắn xé những con cá bị thương, nguy cơ bè bị cắn nát tạm thời bị đẩy lui.


      Shirley Dương thèm cất súng nữa, buông thẳng tay cho khẩu súng ngắn kiểu 64 rơi luôn xuống nước, dồng thời sẵn tay cầm chiếc móc phi hổ ngắm ném về phía nham thạch hình nấm trắng ở phía cửa hang, dây cáp móc vuốt hổ đánh đai mấy vòng quanh tảng đá, vuốt hổ bấu chặt vào đá.


      Shirley Dương bảo tôi và Tuyền béo nắm lấy dây cáp rút lại, kéo cho bè mau chóng ra đến cửa hang, cả ba chúng tôi cùng kéo, tốc độ nhanh gấp mấy lần so với lúc trước chèo bằng xẻng công binh. Khi còn năm sáu mét nữa, Tuyền béo bắt đầu lần lượt quăng lên bờ những chiếc ba lô leo núi đựng chặt cứng trang thiết bị, cả hai cái vợt bắt côn trùng cũng ném lên luôn, mỗi cái ba lô nặng đến hơn hai chục cân, bớt được cái là bè nhanh thêm chút, tốc dộ theo đso càng lúc càng nhanh hơm.


      Tiếng lá thép cọ xát lại rộ lên, đàn cá rắn viper ào ào đuổi đến như lũ dòi bu lấy khúc xương, chúng tôi dám nấn ná bè nữa, lập tức nhảy vọt lên đám nham thạch hình nấm cạnh bờ nước, vừa hạ chân xuống dây buộc bè tre ở phía dau đứt tung, bè vỡ, các thanh tre trôi , và chiếc đèn rọi hỏng cũng chìm nghỉm luôn.


      Đàn cá rắn viper chén sạch đám đỉa bám ở những thanh tre, nhưng vẫn quanh quẩn ở đây chịu bơi , nhìn lũ cá lồng lộn nhao nhao lại, tôi bất giác thở hắt ra hơi, cuối cùng cũng thành mồi cho cá, nếu chưa thấy mộ Hiến vương chết oan ở cái sơn động này rồi.


      Tuyền béo đứng bên cạnh bỗng kêu lên :" ỐI giời ôi, chết rồi, ba lô rơi xuống nước rồi!".


      Tôi thuận mắt nhìn theo và cũng phát hoảng, lúc nãy quăng chiếc ba lô cỡ đại lên bờ, vẫn còn chưa kịp kéo leê, chiếc thứ nhất vì ném từ khaỏng cách xa nên rơi sát mép nước, các thứ nhét trong đó rất nặng, đám đá vụn bên bờ nước giữ nổi, nên lăn ngược xuống nước. Đằng ấy lại có chỗ nào đặt chân, muốn vớt buộc phải lội xuống nước, chiếc ba lô sắp bị nước cuốn đến nơi, mà đàn cá rắn viper vẫn quanh quẩn ở đây để chờ phục kích.


      Trước khi xuất phát, chúng tôi phân loại các trang bị khí giới, trong ba lô này có bình xịt propane, có thể phối hợp với bật lửa để phun ra ngọn lửa lớn gấp hai đến ba lần, vì dễ gì mua nổi, nên chúng tôi chỉ kiếm được bình này, chuẩn bị để đến lúc đổ đấu lấy ra phòng bất trắc. Trong ba lô còn có sáu bình oxy kiểu có thể nạp thêm, to bằng bình nước uống, lại có cả thước đo độ sâu, kính lặn và máy thở nữa ... đều là những thiết bị dưới nước thể thiếu khi đổ cái đấu Hiến vương ở giữa hồ. Vì ba lô ấy chứa ít các thiết bị nạp đầy chất khí nên nó tạm thời chưa bị chìm xuống đáy nước.


      Nếu để mất chiếc ba lô này, chúng tôi chi bằng sớm cúp đuôi, đánh chiêng thu quân, quay về cho xong. Shirley Dương thấy thế cũng rất lo lắng, nàng định quăng móc phi hổ để câu chiếc ba lô kéo về, nhưng móc phi hổ bám chặt vào vách đá, nhất thời thể gỡ xuống được.


      Tôi biết nếu chần chừ thêm nữa, chỗ thiết bị ấy bị nước đẩy mất hút, trong tay chỉ có chiếc xẻng công binh, thấy vách hang chênh chếch có khe nứt, tôi nghĩ ngợi gì nhiều lấy luôn cái xẻng công binh làm nêm, dựng lưỡi xẻng lên chọc thẳng vào khe hở, rồi kéo mạnh sang ngang khiến nó mắc chặt vào khe đá. Đưa tay ra lay thử thấy khá chắc chắn, tôi bèn nhoài ra treo người lơ lửng mặt nước, tay nắm chặt cái cán xẻng hình tam giác, tay kia thò xuống nắm chiếc ba lô vừa khéo trôi đến nơi.


      Ba lô nắm chắc trong tay, tôi mới thấy cả người, nào ngờ bỗng nhiên có con cá rắn viper từ dưới nước vọt lên há cái mồm đầy răng sắc nhọn như lưỡi cưa của nó đớp phát vào mu bàn tay tôi.


      Thịt mu bàn tay tôi lập tức bị rứt luôn miếng, đau đến nỗi toàn thân run lên chặp, suýt nữa rơi xuống sông. Mặc dù bị cú đau, tôi vẫn buông chiếc ba lô ra. Tiếp đó lại có vài con cá rắn viper dùng chiêu "cá chép vượt long môn", đua nhau nhảy vọt lên đợp tôi. Người treo lơ lửng, tay nắm chiếc ba lô quá nặng, tôi căn bản thể nào né tránh.


      May mà được Tuyền béo và Shirley Dương ở phía sau kịp kéo vào, tôi mới thoát bị lũ cá ấy phanh thây xẻ thịt. Tôi lau mồ hôi lạnh túa ra trán, nhìn vết thương tay trái, cũng may là nặng, chỉ bị rứt mất mẩu thịt bên ngoài, mặc dầu máu chảy ngừng, nhưng gân cốt sao hết.


      Shirley Dương vội vàng bôi thuốc và băng bó giúp tôi :" chủ quan, tính mạng quan trọng hơn hay thiết bị quan trọng hơn? Mất đống thiết bị cùng lắm cứ để Mộc trần châu nằm trong mộ Hiến vương vài ngày nữa, chứ mất mạng đâu phải chuyện chơi!".


      Tôi với Shirley Dương và Tuyền béo :" Chỉ bị đau tí thôi, có là gì đâu, nếu hôm nay thằng này thể chút kỹ thuật e cố vấn người Mỹ tôi bất tài, phải Tuyền béo?".


      Tuyền béo cười :" Cậu làm cái trò vặt ấy đâu đáng gọi là bản lĩnh gì? Chờ được vạ sưng, tự để cho cá đớp miếng to. Đại tướng của chúng ta đánh trận sau, lúc nào đến mộ Hiến vương, cậu thấy tài nghệ của Tuyền béo tôi đây, hai người được mở rộng tầm mắt, biết thế nào là 'ra ngoài lắm kẻ còn giòn hơn ta".


      Shirley Dương rắc bạch dược Vân Nam lên vết thương của tôi để cầm máu, rồi dán băng cầm máu lên, sau đó còn dán băng chống nước phủ ngoài vết thương để phòng dính nước bị viêm nhiễm, sau cùng nàng còn định tiêm cho tôi mũi penicillin nữa.


      Tôi vội xua tay :" , ! Tôi chỉ đau , thể rời hỏa tuyến, vả lại nhìn thấy kim tiêm tôi chóng mặt lắm. Chúng ta lại đem theo nhiều thuốc kháng sinh, cứ để dành ".


      Shirley Dương thèm nghe tôi phân bua, bảo Tuyền béo đè tôi xuống đất, ép tiêm bằng được mới thôi. Chúng tôi kiểm tra lại phương hướng, thấy đường men bờ sông vẫn miễn cưỡng được, bèn đeo các trang thiết bị lên người, chuẩn bị bắt đầu xe "căng hải", men theo con sông đào dưới lòng đất này ra.


      Chúng tôi dọc theo sông đào, nhận thấy con đường thủy phục vụ cho công trình lăng mộ Hiến vương này có quy mô phải hạng xoàng. Vốn cho là Hiến vương chỉ là ông vua tép riu tách ra từ nươc Điền cổ đại, quy mô lăng mộ của ông ta thể nào lớn được, nhưng chỉ riêng con sông chảy xuyên lòng núi này đủ cho thấy vị Hiến vương có tài dùng thuật trùng độc này quyền thế che trời, thế lực tầm thường chút nào. Quy mô của lăng mộ xây dựng trong "thủy long huân" chắc hẳn cũng vượt xa sức tưởng tượng của chúng tôi.


      Chúng tôi tiếp tục tiến sâu vào sơn động tối om, bộ gần giờ nữa, bỗng gặp đoạn bờ sông sạt lở, vừa đặt chân đá vụn lăn rào rào xuống nước, căn bản thể được, xem ra con đường này thể tiếp được nữa.


      Chúng tôi đành tìm ngách hang khác, xuyên qua đó. bao lâu sau, bỗng nghe thấy tiếng nước chảy ầm ầm ở phía vách núi đối diện, ràng có tiếng nước chảy mà tìm đâu ra lối, chúng tôi giơ đèn pin mắt sói soi xung quanh để tìm đường, nơi đây là tầng địa mạo hình thành bởi dung nham thiên nhiên nằm trong lòng núi, những mảng đá khổng lồ có rất nhiều hốc lớn hốc .


      Tìm hồi lâu mới thấy cái lỗ vừa đủ người chui lọt, chúng tôi bèn dùng dây thừng leo núi chuyên dụng buộc ba lô kéo lê phía sau, lần lượt chui qua, cuối cùng cũng thấy thác nước rất lớn. Vị trí của cái lỗ mà chúng tôi vừa chui ra nằm dưới chân thác nước, mé đối diện lại có dòng chảy nhập vào con sông dưới chân thác nước. Nhìn theo hướng nước chảy, thấy xa xa có ánh sáng nhàn nhạt, có lẽ lối ra ở chỗ đó. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Shirley Dương với tôi :" Có lẽ dòng chảy đổ về cái thác này mới là đường thủy mà dân địa phương phát ra trong quá trình khai thác đá, nhìn địa mạo lòng sông quanh đây chắc mới hình thành đến vài chục năm đâu, nếu thời xưa con sông thế này khi xây mộ Hiến vương họ khỏi phải đào sông trong lòng núi Già Long làm gì.


      Tôi với Shirley Dương :" Loại địa mạo này là do quanh năm bị nước xói mòn mà hình thành, ngày trước tôi làm lính công trình nên cũng có chút hiểu biết, những nơi như thế này, sâu bên dưới núi bị rất nhiều chi lưu của sông Lan Thương xối qua thủng lỗ chỗ, có chỗ nước sâu đến vài trăm mét. Cho nên dòng chảy trong sơn động rất hay đổi hướng, nếu chảy xuống chỗ thấp, lại xô đổ tảng đá sinh ra dòng chảy mới, cứ đà này sớm muộn gì núi Già Long cũng có ngày sụp đổ".


      Ba chúng tôi vừa vừa chuyện, cứ nhằm nơi có ánh sáng mà tiến bước. Nửa đường nhìn thấy vách đá cao cao có số huyệt động bố trí có hàng có lối, rất giống hang nhân tạo. bên dưới vách đá còn có bậc thang ràng, mặt đất thỉnh thoảng xuất những bộ hài cốt mục ruỗng, còn có cả binh khí, áo giáp nữa, tất thảy đều cũ nát chẳng còn hình dạng gì ra hồn.


      Tình trạng ở đây rất khớp với lời miêu tả của chị chủ quán trọ Thái Vân, có lẽ chính là nơi số loạn dân dùng làm cứ điểm để chống lại quan binh. Vì ở môi trường ẩm ướt cho nên vật dụng đều mục nát hết cả, rất khó nhận ra thuộc thời nào triều nào. Nhìn mức độ mục ruỗng của hài cốt và kiểu dáng của binh khí khôi giáp, chỉ có thể đoán có lẽ thuộc về thời kỳ đầu nhà Thanh.


      Xưa nay chúng tôi vào núi đổ đấu đều bộ, nên quản ngại trèo đèo lội suối, vả lại hay nghỉ có thể tùy ý mình, mặc dù trong lòng núi Già Long này phải bỏ thuyền cuốc bộ, mỗi người còn phải đeo vác rất nhiều trang thiết bị nặng nề, song vẫn chưa hề thấy gian khổ gì, có điều vừa rồi trải qua mấy phen kinh hãi nên ai nấy đều mong sớm ra khỏi sơn động, vì vậy cũng mấy để tâm đến các di tích ấy nữa mà mau chóng qua.


      men theo dòng nước cho đến chỗ tận cùng, nước sông vẫn chảy về phía trước, nhưng lại chảy ngầm dưới đất. Hang động này thấp hơn đáng kể so với mặt đất bên ngoài, cho nên đứng ngoài thể nhìn thấy dòng sông lớn chảy trong lòng núi được, chúng tôi tiếp tục trèo đoạn dốc chồng chất nham thạch, thấy phía trước sáng hẳn lên, vậy là vượt núi Già Long thành công.


      Ra đến bên ngoài, ngoái đầu lại nhìn, mới thấy cả bọn ba người đứng dưới chân vách nhọn cheo leo cao ngất của núi Già Long, ở chỗ cao nhất đỉnh, tầng mây dày nặng mịt mù.


      Nhìn về phía trước, thấy bốn bề đều là những dãy núi trập trùng, ở giữa thấp dần, toàn là rừng nguyên thủy um tùm rậm rạp, có rất nhiều loài kỳ hoa dị thảo biết nên gọi chúng là gì. Lại có những thung lũng sâu với vô số khe lạch, dòng suối hồ đầm hiểm ác. Có thung lũng nhìn vào có thể thấy từng ngọn cỏ cành hoa, nhưng nhìn kỹ rất thâm u khó lường, nhìn sâu hút mãi, mắt lại thấy tối sầm, lại có nơi bị mây mù phủ kín, rất đượm nét mơ màng và thần bí.


      Tôi giở tấm bản đồ da người ra, xác định lại lối vào Trùng cốc.


      Tuyền béo giương ống nhòm quan sát rừng cây bên dưới, nhìn mãi hồi lâu, bỗng kéo tôi cái rồi đưa ống tôi nhòm :" Khỏi cần xem bản đồ nữa, ở mé bên kia có rất nhiều bướm to màu vàng, chắc chắn sơn cốc chúng ta cần tìm là ở chỗ đó".

    2. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.3 - Chương 8: RỪNG RẬM





      Nghe Tuyền béo phát ra lối vào Trùng cốc, tôi và Shirley Dương đều giương ống nhòm nhìn theo hướng tay cậu ta chỉ, thấy ở dưới dốc núi xa xa là vùng rộng lớn những cây hoa rừng vàng trắng đan xen, giữa rừng hoa ấy có đàn bướm phượng vĩ màu vàng dập dờn bay lượn. Loài bướm này có thân mình khá to, chúng kết bầy bay qua bay lại nhưng từ đầu chí cuối cũng bay khỏi rừng cây hoa ấy.


      Shirley Dương trầm trồ :" Những cây hoa kia có lẽ là lan hồ điệp, ngờ lại thu hút được rất nhiều bướm phượng vĩ hoàng kim ... cả bướm kim đới phượng ... còn có cả bướm kim tuyến đại thái rất hiếm gặp nữa, trông như những đám lá của cây vàng bị gió thổi đung đưa trong vườn hoa bên bờ biển Aegean của các vị thần trong thần thoại Hy Lạp ấy".


      Tôi hiểu gì về loài bướm, giương ống nhòm nhìn hồi lâu, ngoài bươm bướm và cây cối hoa lá ra, chẳng thấy dấu hiệu của sơn cốc, khê cốc gì hết. Thảm thực vật ở đây quá dày, che kín mít mọi địa hình địa mạo, thể nhận ra đâu là thung lũng đâu là khe suối, nhìn từ xuống, thấy cao thấp nhấp nhô, tất cả đều là những thực vật rậm rịt đặc trưng của vùng cận Bắc chí tuyến, rất khác với rừng rậm nguyên thủy ở Đại Hưng An Lĩnh mà chúng tôi quen thuộc.


      Vẫn có câu " cây trội giữa rừng, ắt bị gió quật". Tán cây ở Đại Hưng An Lĩnh thường cao xấp xỉ nhau, các loài cây có thể hợp sức để chống chọi gió lớn. Còn đây là vùng đất có nhiều sông núi vây quanh, bồn địa thung lũng nằm giữa có địa thế trũng thấp, mặt khác, Vân Nam bốn mùa như nhau, có khí hậu gió mùa, những nơi càng thấp càng ẩm ướt triền miên, nhiệt độ cả năm đều giữ ở khoảng 25-30 độ C, quanh năm chẳng có cơn gió, cho nên các loài thực vật cứ thả sức mà sinh trưởng. Trong rừng rậm, các loài cây leo thân to, thân gỗ và thân thảo tùy đặc tính của mình mà mọc cao thấp khác nhau, lô nhô xen kẽ, cao nhất là cây chò chỉ nổi tiếng của Vân Nam, cây này vốn chỉ có ở phía Nam chí tuyến Bắc, nhưng địa thế của vùng núi này thấp trũng nên cũng mọc ít cây chò chỉ đội trời đạp đất.


      Chỉ có số ít hồ đầm tương đối lớn mới bị cây cối che phủ, những vùng càng sâu xa heo hút lại càng nhiều mây mù bao phủ, đứng xa nhìn thể nhận ra điều gì.


      Tóm lại là thể chỉ vì nhìn thấy những đàn bướm vàng cỡ đại kia mà chủ quan tiến vào rừng rậm, mức độ phức tạp của rừng rậm nơi đây khó có thể dùng lẽ thường mà suy đoán được.


      Bản đồ bằng da người được vẽ từ thời Hán, truyền đến ngày nay cách hai ngàn năm, những đặc trưng về địa hình địa mạo mà nó ghi chép nay biến đổi khác hẳn, ngoại trừ số vật mốc và địa điểm đặc biệt ra, thể dùng bản đồ này để tham chiếu chính xác được.


      Theo như lão mù cách đây vài chục năm, đoàn lực sĩ Xả Lĩnh của lão mang theo thuốc nổ thô sơ tiến vào Trùng cốc - chính là khu vực phía trước khê cốc hình thành bởi sông Rắn - khi ấy trông thấy đàn bướm rất lớn.


      Nhưng ai dám đảm bảo rằng ngoài Trùng cốc ra các nơi khác đều có bươm bướm, cho nên tạm thời chưa thể xác định nơi ấy chính là lối vào Trùng cốc, nhất thiết phải tìm ra đặc điểm mà lão mù : trong sơn cốc có đoạn tường đổ nát. Đó là di tích của bước tường cổ xây sông Rắn, hình như là cái đập dùng để ngăn nước sông trong khi xây mộ Hiến vương, sau khi Hiến vương nhập liệm, liền bị đập , khôi phục lại "thủy long huân" trước mộ ông ta.


      Chỉ khi tìm thấy đoạn tường đổ ấy mới có thể coi đó là căn cứ để xác định vị trí của Trùng cốc, biện pháp chắc ăn hơn cả là làm như đoàn lực sĩ Xả Lĩnh năm xưa, ra khỏi núi Già Long, đừng vội tiến vào rừng, mà dọc theo mạch núi tiến lên phía Bắc để tìm sông Rắn, sau đó dọc theo sông Rắn tiến vào sơn cốc, như vậy có thể bảo đảm chệch đường.


      Tuyền béo vẫn còn cách khác, đó là lại lần vào nhánh sông đào bên trong núi Già Long, dọc theo đường sông cổ ấy để tìm sông Rắn. Nhưng vì thượng du sông Lan Thương mưa nhiều, các nhánh sông lớn nối liền với nhau, thành ra vô cùng phức tạp, thậm chí còn có khả năng thay dòng chảy xuống lòng đất, con sông cổ sớm bị xác thực vật và bùn đất lấp kín, cho nên phương pháp mà Tuyền béo khả thi chút nào.


      Ba chúng tôi bàn bạc hồi, xem đồng hồ, lúc này là ba giờ rưỡi chiều. Khoảng 9 giờ sáng nay chúng tôi bắt đầu bè tiến vào núi Già Long, cho đến giờ vẫn chưa hề nghỉ ngơi, vì vậy bèn quyết định coi chỗ này là điểm chuyển tiếp, nghỉ ngơi hai mươi phút, sau đó lên hướng Bắc, tranh thủ tìm được lối vào Trùng cốc trước khi mặt trời lặn, rồi cắm trại ở đó, sớm mai tiến vào.


      Chúng tôi tìm chỗ tạm bằng phẳng ở dốc núi ngồi xuống, ăn ít bánh tẻ và thịt bò cho đỡ đói. Tuyền béo nhắc đến lũ cá ăn thịt người, nghĩ đến cái hồ trong núi máu me đỏ lòm chẳng khác gì "huyết trì" ở địa ngục trong truyền thuyết ... tôi phát ớn chẳng thiết ăn gì nữa. Tôi bỗng thấy chột dạ, nghĩ rằng lỡ mà đàn cá răng sắc hơn răng cưa ấy lại xuôi theo dòng rồi bơi vào sông Rắn phải làm sao đây? Nếu dưới nước có lũ cá ấy chúng tôi thể nhảy xuống chui vào mộ Hiến vương được.


      Shirley Dương :" Đừng lo! Trước đây tôi làm phóng viên ảnh của tạp chí địa lý, từng đọc rất nhiều tài liệu về các loài động thực vật, cá rắn viper có mặt ở Ấn Độ, Myitkyina, Lào của châu Á và những vùng sông nước gần chí tuyến Bắc và các khu vực vĩ độ 20 của châu Mỹ".


      Trong đó Ấn Độ cổ là có nhiều nhất, kinh Phật chép rằng Ấn Độ thời A Dục Vương trị vì, từng có năm cá rắn viper trở thành mối đại họa. Năm ấy vừa đúng dịp sông Hằng dâng nước lũ lớn trăm năm chưa từng thấy, dòng sông chảy ngầm dưới dãy núi Ghats Đông tràn vào tòa thành gần đó, vô số người và gia súc bị làm mồi cho cá.


      Tổ tiên của cá rắn viper là cá lợn răng hổ sống vào thời kỳ hậu băng hà. Chúng sống ngoài đại dương, thân mình có bộ phận phát sáng, đàn cá lợn răng hổ có thể trong nháy mắt hạ gục con Basilosaurus, là bá chủ đại dương thời ấy. Về sau, những biến đổi to lớn của thời kỳ kế băng hà khiến loài cá này bị thiên nhiên đào thải cách tàn khốc, hậu duệ của chúng là cá rắn viper cũng dần biến thành cá nước ngọt.


      Cá rắn viper ghê gớm nhưng lại có nhược điểm rất lớn. Chúng chỉ có thể sống ở vùng nước có nhiệt độ tương đối thấp, quanh chí tuyến Bắc chỉ có những vùng nước lạnh trong các hang đá là thích hợp để chúng sinh tồn, ở những vùng nước ấy có loài tôm vỏ cứng mắt, nhiều vô kể, nhưng vẫn đủ cho lũ cá này ăn, cho nên cũng thường xảy ra những cuộc tàn sát nội bộ. đàn cá rắn viper đông đúc, sau tháng Chín hàng năm thường chỉ có 1% sống sót đến thời kỳ đẻ trứng cuối cùng.


      Trung thu trăng tròn mỗi năm là thời kỳ cá rắn viper đẻ trứng, bản thân chúng thể sinh tồn ở nơi quá nóng, nhưng lý do chúng sống ở vùng gần chí tuyến Bắc hơi ấm là bởi chúng phải đến miền nước ấm để đẻ trứng. Đẻ trứng xong, cá rắn viper chết luôn, trứng cá được ủ trong nước ấm để phát triển, nở thành cá con rồi lại bơi về vùng nước lạnh tiếp tục sinh tồn.


      Môi trường sống khác thường của cá rắn viper khiến chúng trở nên ít ỏi, gian sinh tồn rất hẹp.


      Mùa này phải kỳ đẻ trứng của chúng, cho nên khỏi phải lo chúng bơi ra ngoài hang động, nhưng lúc trở về phải thận trọng. Vì lượng mưa quá lớn, đường thủy trong núi Già Long thông nhau như mạng nhện, nếu trở về theo đường cũ chừng gặp phải chúng ở chỗ nào đó trong sơn động cũng nên.


      Nghe Shirley Dương giải thích tường tận về cá rắn viper, tôi và Tuyền béo mới hơi yên tâm. Tuyền béo cảm thấy lúc nãy mình tỏ ra nhút nhát, giờ muốn gỡ lại thể diện, bèn với tôi và Shirley Dương :" Bọn cá tôm thối tha làm được trò trống gì, tôi thấy chúng hơi ... cái gì ấy nhỉ, ấy là vì Mao chủ tịch từng dạy chúng ta rằng, về mặt chiến thuật phải coi trọng kẻ địch".


      Shirley Dương :" Chuyện về đàn cá đáng lo, tôi vẫn nghĩ nghĩ lại mãi, hình như các pho tượng người treo ở giữa dòng sông đơn giản là để nuôi con trăn khổng lồ kia đâu ... Trùng thuật vô cùng quái dị, thực sao đoán thấu được, may mà có đàn cá rắn viper vớ vẩn thế nào lại xông ra, nếu xảy ra những chuyện gì cũng khó mà biết được. Chưa vào đến Trùng cốc mà gặp bao rắc rối rồi, chúng ta nhất định phải hành động cho chắc ăn, hết sức cẩn thân mới được ...".


      Sắc mặt ai nấy đều nặng nề, chuyện đổ đấu lần này là hành động liên quan đến sinh tử tồn vong, chẳng khác nào phi ngựa bên vách núi cao có đường lui, chỉ cho phép thành công chứ được thất bại.


      Ngồi nghỉ lúc rồi, chúng tôi giở bản đồ tuyến độ cao của núi Già Long ra, bản đồ này cực kỳ đơn giản, sai số rất lớn, chúng tôi dùng la bàn so chuẩn hướng, xác định lại độ cao so với mực nước biển và phương vị, chỉnh sửa lại số liệu bản đồ, đánh dấu phương vị của lối ra, xong xuôi đâu đó ba người lại tiếp tục hành trình, lên đường tìm sông Rắn.


      Nhánh nhất của sông Lan Thương chính là sông Rắn mà chúng tôi muốn tìm, đoạn sông chảy vòng qua núi Già Long nước rất xiết, chêch lệch độ cao vô cùng lớn, có khúc sông chảy luồn xuống lòng đất hoặc vũng sình lầy trong rừng, có chỗ lại chảy theo sườn núi rồi đổ thẳng xuống, thác này tiếp nối thác kia, lòng sông toàn là những xoáy nước khổng lồ, thuyền bè thể qua, lại vì dòng chảy quanh co ngoằn ngoèo nên mới có tên là sông Rắn, còn người dân tộc Bạch ở đây gọi nó là "Chê La Lu Lam" nghĩa là " con rồng dữ bị núi tuyết lớn trấn áp".


      Theo lẽ thường tìm ra sông Rắn này khó, nhưng kế hoạch thường khác xa thực tế, thảm thực vật dưới chân núi này quá dày, thể nhìn được ra các con sông, chỉ còn cách men bên núi Già Long, dò dẫm chầm chậm tiến lên vậy. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Đến lúc này tôi mới nhận ra rằng, ở cái chốn quái quỷ này cuốn "Thập lục từ dương phong thủy bí thuật" hoàn toàn có đất dụng võ. Muốn nhận diện hình, thế, lý, khí phải nhìn núi non sông ngòi ra sao, nhưng ở khu vực này đỉnh núi toàn là mây mù, dưới núi toàn là cây cối dày đặc tràn lan, chẳng khác nào cả vùng núi sông bị trát lên bề mặt lớp bùn xanh đặc sệt, bên lại phủ lớp bông trắng, biết đâu mà lần.


      Rừng cây dưới vách núi dựng đứng lại càng khó , bước vào rồi, bướm chẳng thấy con nào, mà chỉ toàn là ruồi muỗi kiến độc to đủ cỡ, lại có đường , đứng cao nhìn xuống là màu xanh rờn, vào mới thấy các loài dây leo chằng chịt đan kín, hầu như có chỗ mà đặt chân, đành dùng xẻng công binh và dao phát mở lối, đồng thời còn phải đề phòng rắn độc và trùng độc tấn công nữa, những gian khổ ấy khó mà chịu đựng nổi.


      Lúc này mặt trời khuất sau núi, mặt đất dần bị bóng tối nuốt chửng, rừng nguyên sinh bị tấm màn đen trùm lấp, mà chúng tôi còn chưa được bao xa, có lẽ thể tìm ra sông Rắn trước khi trời tối, đành phải chọn nơi tương đối an toàn để qua đêm vậy. Đêm tối trong rừng rậm luôn đầy rẫy hiểm nguy, đây lại là khu vực nằm giữa núi cao sông lớn, áp suất khí rất biến động, chúng tôi cần tìm nơi có quá nhiều muỗi, côn trùng, và khô ráo chút để đốt lửa cắm trại mới qua đêm được.


      Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được phiến đá xanh rất bằng phẳng nằm giữa hai cây đại thụ, chiếu đèn pin quan sát, thấy xung quanh có rắn rết sâu bọ gì. Cả ba đều rất mệt, vội lấy nhiên liệu ra nhóm đống lửa, xung quanh xếp đá vây lại. Vì khí quá ẩm, cần châm đuốc hơ khô phiến đá xanh, sấy khô rêu nấm và hơi ẩm ở các kẽ đá, sau đó mới trải các túi ngủ lên, kẻo khi nằm ngủ bị khí ẩm nhập vào người rồi sau này sinh bệnh.


      Shirley Dương ra khe suối gần đấy lấy nước mang về, lọc xong là có thể uống. Tôi lắp đặt cái nồi dã ngoại cỡ đun ít nước sôi, thả mì gia công mua ở quán trọ Thái Vân vào đun lên, thêm gia vị gì hết kẻo mùi thơm thu hút loài động vật nào đó mò đến. Khi mì chín, chúng tôi bỏ thêm vài miếng bánh tẻ vào nồi, thế là xong bữa tối. Vì chưa biết còn phải trong sơn cốc này bao lâu nữa, nên chúng tôi cũng nỡ mở đồ hộp ăn. Truyện "Ma Thổi Đèn " Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tuyền béo ngớt ca cẩm thức ăn quá tệ, chẳng khác nào nhai lông chim. đến chim, cậu ta liền thuận tay cầm lên cây "Kiếm Uy" lên định kiếm chút dã vị, nhưng trời tối hẳn nên đành thôi, rồi lại ngồi xuống, vừa ăn vừa lầu bầu trách tôi nấu chẳng ra sao, nhạt nhẽo vô vị, nhưng vẫn xơi liền ba bát to.


      Ăn xong, chúng tôi quyết định luân phiên ngủ để luôn có người canh chừng, dù sao trong rừng nguyên sinh này ba bề bốn bên đều có hiểm nguy rình rập, ai mà biết được đêm tối có trùng độc mãnh thú mò đến hay .


      Ca đầu tiên do tôi canh gác, tôi ôm "Kiếm Uy", nạp đầy đạn cho khẩu súng ngắn 64, ủ đống lửa cháy ỉ, sau đó ngồi cách đó quãng xa, vừa ê a mấy câu hát quen thuộc cho đỡ buồn ngủ vừa cảnh giác quan sát rừng cây tối đen xung quanh.


      Đối diện với tôi là hai cây đa rất bề thế, thân to tướng như cột đá, tán cây buông rủ nặng nề trùm xuống như cái vung lớn, hai thân cây to xù ôm xoắn vào nhau bốn năm vòng như cái bánh quấn thừng, tạo nên cặp cây phu thê hiếm thấy, thân cành còn có rất nhiều loại hoa và thực vật ký sinh chẳng biết tên gọi là gì, toàn cảnh trông như cái lẵng hoa đủ màu sắc đặt giữa rừng rậm.


      Tôi mải mê ngắm nhìn, chợt bỗng nghe Shirley Dương nằm trong túi ngủ lên tiếng :" Hai cây đa ấy chẳng thọ được lâu nữa đâu, thực vật ký sinh cây nhiều quá, cây già cỗi, dinh dưỡng nhâp đủ xuất để nuôi kẻ ăn bám, quá nửa thân cây rỗng rồi, nhiều nhất là vài ba năm nữa là cây chết khô. Có những vật đến giai đoạn tươi đẹp nhất lại cách thời điểm diệt vong còn xa nữa".


      Tôi nhận ra ý trong câu của nàng, cái cây nhưng hình như lại ngụ ý nhắc đến lời nguyền động Quỷ ám vào chúng tôi. Tôi chẳng muốn nhắc đến những chuyện vui, bèn với Shirley Dương :" Khuya rồi mà chưa ngủ à? Chắc là nhắm mắt lại thấy lên hình bóng khôi vĩ của tôi, nên cứ trằn trọc ngủ được chứ gì?".


      Shirley Dương đáp :" Nếu nhắm mắt lại là nghĩ đến tốt quá, lúc này tôi hễ nhắm mắt, trong đầu lại lên những pho tượng người trong hang động núi Già Long, càng nghĩ càng thấy lợm giọng, cơm cũng chẳng thiết ăn, đến giờ cũng chẳng ngủ nổi".


      Tôi ngáp dài, rồi với Shirley Dương :" ngủ được chi bằng hãy phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa, đổi gác cho tôi, bao giờ thấy buồn ngủ gọi tôi dậy".


      Shirley Dương cười cười :" mơ hão vừa thôi, và Tuyền béo mà ngủ dù sấm vang bên tai cũng tỉnh dậy. Tôi ngủ được cũng đổi gác cho , kẻo sau nửa đêm giả vờ chết chịu dậy gác nữa chết!"


      Tôi lắc đầu thở dài :" làm tôi thất vọng quá, những tưởng chẳng quản ngại đường xa vạn dặm, từ Mỹ sang đây để giúp đất nước chúng tôi xây dựng bốn đại hóa, ban đầu vốn là sùng bái như sùng bái Bethune 1 ấy, trong thâm tâm luôn nghĩ là người có đạo đức và cao thượng, là người có ích cho nhân dân, là người từ bỏ những lạc thú thấp hèn, nào ngờ lại ích kỷ tự tư, chẳng quan tâm đến cảm nhận của chiến hữu gì cả, ra thái độ giản dị dễ gần mọi ngày của đều là giả vờ hết cả!".


      Shirley Dương :" cũng hay lắm, nhưng lại quá là ba hoa khoác lác, cứ phét mãi cũng hay đâu! Đằng nào cũng mất ngủ, chi bằng tiếp chuyện tôi , nhưng cấm được những điều trong Ngữ lục 2 nữa".


      Rừng sâu im phăng phắc, làn gió , dường như mọi động thực vật thảy đều ngủ say, thỉnh thoảng nghe thấy vài tiếng chim kêu lạ lùng từ xa vọng đến. Tôi buồn ngủ díp cả mắt, Tuyền béo nằm trong túi ngủ, rụt cả đầu vào trong, ngáy khò khò, ngủ say tít. Nhưng Shirley Dương chịu đổi gác, tôi đành câu được câu chăng cố gượng chuyện trò với nàng vậy.


      Cũng chẳng hiểu sao, lan man mãi rồi lại đến những con trăn đại tướng ở trong rừng rậm. Tôi , trước đây ở Bắc Kinh tôi có gặp đồng đội cũ cùng đại đội, nghe ta chuyện ngồi hầm tai mèo ở tiền tuyến. Hồi đó chiến tranh tạm bước vào giai đoạn cầm cự giữ miếng, chiến tuyến của cả hai bên đều chi chít hầm tai mèo, thực ra chính là chỗ nấp cho bộ binh phản kích, khi đào hầm tai mèo rất hay gặp trăn núi cỡ đại. ta bảo với tôi, con trăn lớn nhất phải to như con rồng trong truyền thuyết, hồi đó tôi tin, nay gặp trăn trong núi Già Long tôi mới biết rằng phải họ bừa.


      Tuy nhiên, phần lớn các con trăn hay chủ động tấn công người, chúng rất lười, cả ngảy chỉ nằm ngủ. Có số lính ngồi hầm tai mèo nóng quá chịu nổi, cởi trần ra vẫn nóng, bèn tìm chú trăn to ngủ cây tha về hầm, cả mấy nằm nhoài mình trăn mát rượi mà ngủ, phải là còn dễ chịu hơn cả nằm phòng lắp điều hòa.


      Thế rồi con trăn ấy sống luôn trong căn hầm tai mèo, hằng ngày được người ta cho ăn thịt kho đóng hộp, ăn no rồi lại ngủ, về sau, có hôm chiến bỗng trở nên rất ác liệt, đối phương pháo kích liên tục chặn cả đường tiếp tế thức ăn. lần, do vị trí đào hầm bất lợi, bị chùm pháo nã trúng khiến cả tiểu đội ngồi trong chết sạch. Lần khác, pháo bắn liền tuần, xung qaunh trận địa kiến cũng thấy đâu nữa. Trong hầm chẳng còn đồ hộp thịt kho, người có thể tạm nhịn ăn nhưng con trăn to nhịn nổi, nó ở hầm quen, hằng ngày hít khói thuốc lá của các chiến sĩ, nên cũng đâm ra nghiện thuốc, đuổi thế nào cũng , nó đói đỏ cả mắt, nên chỉ lăm le ăn thịt người, cuối cùng họ đành phải nổ súng bắn chết nó. Họ lột da trăn rồi trải trong hầm, ruồi muỗi chuột bọ đều sợ dám vào. Có hôm đối phương lợi dụng đêm tối mò sang đánh khu hầm, chiến sĩ canh gác ngủ gật nên phát ra. Tên địch định ném bộc phá vào hầm, nhưng bỗng thấy mình như bị con trăn quấn chặt lấy cựa quậy gì được, xương cốt gần như bị sức mạnh ghê gớm ghì vỡ vụn nhưng mình ràng là có thứ gì cả. Hôm sau các chiến sĩ trong hầm tai mèo phát ra tấm da trăn đó...


      Tôi kể chuyện phét cho Shirley Dương, về sau cả tôi cũng hiểu mình gì nữa, cơn buồn ngủ xâm chiếm sao gượng nổi, tôi cứ thế ôm "Kiếm Uy" ngủ lúc nào hay. --------------------------------


      1 Henry Norman Bethune, bác sĩ người Canada, chiến sĩ hòa bình sang giúp Giải phóng quân Trung Quốc trong những năm 1938-1939.


      2 Sổ tay ghi những câu châm ngôn của lãnh tụ ( phổ biến trong thời kỳ giáo điều, cách đây chừng bốn chục năm)

    3. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.3 - Chương 9: TÍN HIỆU MA







      Sau khi rời quân ngũ, tôi thường xuyên gặp ác mộng, nếu cũng mất ngủ cả đêm. Từ ngày buôn bán đồ cổ ở Bắc Kinh, tập trung tinh thần vào đó, nên mới dần thấy nhõm hơn, hễ đặt mình xuống là ngủ ngay, ngủ chưa đẫy giấc dù sấm nổ bên tai cũng nhúc nhích.


      Chẳng biết tôi ngủ như thế bao lâu, bỗng có người khẽ lay tôi tỉnh lại.


      Tuy mệt rã rời nhưng tôi vẫn thấy có chút thấp thỏm bất an, bị đẩy cái, liền tỉnh lại ngay. Lúc này tầng mây dày nặng dịch chuyển, ánh trăng lạnh tràn xuống đây. Người vừa đánh thức tôi là Shirley Dương. Thấy tôi mở mắt, lập tức đưa ngón tay trỏ lên môi, ra hiệu đừng to.


      Tôi nhìn xung quanh, Tuyền béo vẫn nằm trong túi ngủ ngủ say như chết, người tôi chẳng biết từ lúc nào được choàng chiếc chăn mỏng. Vừa ngủ say tỉnh lại đầu óc vẫn còn lơ mơ nhưng tôi lập tức hiểu ra ngay rằng có vấn đề.


      Shirley Dương tay lăm lăm khẩu súng ngắn 64, tay kia chỉ vào hai cây đa phu thê, rồi lại chỉ vào tai, nhắc tôi hãy lắng nghe tiếng động ở chỗ đám cây ấy.


      Tôi lập tức ngồi thẳng lên, nghiêng tai lắng nghe. Tuy tôi có công phu Thuận phong nhĩ thính như loài chó canh đêm giống tiền bối Gà Gô, nhưng trong rừng sâu cực kỳ yên tĩnh, khoảng cách lại gần, nên nghe thấy rất ràng những tiếng gõ nhè lúc mau lúc thưa phát ra từ đó.


      thanh lớn, nhưng giữa đêm khuya khoắt, toát lên vẻ kỳ quái khó tả, có tiết tấu gì hết, là thứ gì phát ra vậy? Chắc chắn phải là chim gõ kiến, những thanh truyền ra từ bên trong thân cây, lẽ nào trong ấy có thứ gì đó?


      Nghĩ đến đây tôi tránh khỏi có phần căng thẳng. Tương truyền rằng xung quanh mộ Hiến vương có bồi lăng 1 và hố chôn người tuẫn táng, lại còn cả những tượng người ươm "trùng dẫn" treo lộn ngược lủng lẳng kia nữa, có trời mới biết trong khu rừng già này còn có những của nợ tà dị gì nữa?


      Tôi dám ho he, từ từ kéo quy lát chiếc "Kiếm Uy" về phía sau, rồi đeo túi xách lên người. Trong cái túi này có móng lừa đen kỵ tà trấn xác, có thừng trói thây, có gạo nếp, dù gặp tình huống gì, có mấy thứ này, cũng có thể giao đấu trận.


      Những tiếng gõ trầm đục ấy lại vang lên lần nữa, nghe như tiếng nước rỏ giọt, lại giống như tiếng móng tay gõ vào tấm tôn, lúc khoan lúc nhặt. Tôi nhìn vào chỗ phát ra thanh, nhưng cành lá che phủ kín mít nên nhìn ra gì hết. Ánh trăng lấp lóa chập chờn xen giữa lá cành, càng làm cho phía ấy đượm phần ma mị uy hiếp người ta.


      Shirley Dương ghé tai tôi thầm :" Vừa nãy ngủ thiếp , tôi tĩnh tâm lại nên mới nghe thấy tiếng động này, hình như trong thân cây có người ...."


      Tôi cũng khẽ hỏi :" Người á?Sao khẳng định phải là động vật?"


      Shirley Dương :" thanh , quái dị, lại có quy luật gì, thoạt đầu tôi cũng nghĩ là do động vật phát ra, nhưng mới rồi lắng nghe kỹ, nhận ra trong đó có đoạn tín hiệu Morse, nhưng tín hiệu này chỉ xuất lượt, sau đó lại trở nên bất quy tắc, có lẽ vì thanh tương đối , nên rất có thể tôi nghe bị sót mất phần ..."


      Tôi như người giữa đám sương mù, nhưng cảm giác bất an trong lòng lại càng dâng lên mãnh liệt. Tôi với Shirley Dương :" Tín hiệu Morse? Tức là mã điện báo quốc tế chỉ có hai tín hiệu ngắn và dài ấy à? nghe được điều gì thế?"


      Shirley Dương :" Ba ngắn ba dài ba ngắn, tức là tạch tạch tạch, tè tè tè, tạch tạch tạch. Dịch ra được tín hiệu cầu cứu thông dụng khắp toàn cầu - SOS".


      Tôi với Shirley Dương :" đừng tự hù dọa mình nữa , mã Morse được dùng rộng rãi nhất thế giới , nhưng dù sao nó vẫn là mã điện báo thay thế chữ cái tiếng . Ở chốn rừng rú này, ngoài lão mù và đồng bọn đến đây vào những năm Dân Quốc, chỉ có mấy người thợ khai thác đá mò vào, cũng chỉ vì tò mò mà qua sơn động vào rừng nhìn ngó rồi quay về. Dân địa phương rất mê tín, dám vào rừng rậm sau núi Già Long, vì họ sợ gặp phải ma ... ma ..."


      đến chữ cuối cùng, tôi cũng cảm thấy được tốt lành lắm, vội nhổ nước bọt, lòng thầm nhẩm niệm :"Bách vô cấm kỵ" 2.


      Shirley Dương xua xua tay, bảo tôi đừng nữa để nghe lại kỹ. thanh ấy lại vọng ra từ trong thân cây, lần này nghe rất nét, tiếng dài tiếng ngắn, đúng là ba ngắn dài và ba ngắn, tiếng ngắn gấp gáp, tiếng dài nặng nề. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Shirley Dương lục túi lấy đèn pin mắt sói ra, :" Tôi leo lên xem sao".


      Tôi kéo ngay nàng lại, :" được! nhìn xem, ánh trăng có sắc đỏ, sương mù mỗi lúc nồng đậm, trong cây kia chắc chắn có người chết, thanh đó chính là tín hiệu ma trong truyền thuyết đấy".


      Shirley Dương hỏi :" Tín hiệu ma là gì? Sao tôi chưa từng nghe nhỉ?"


      Tôi mới trả lời nàng rằng :" Chắc biết, trong bộ đội vẫn hay kháo nhau rằng có số đơn vị đóng quân ở miền núi vùng biên, điện đài thường nhận được những tín hiệu khó hiểu, những tín hiệu ấy chấp chới ngắt quãng, lúc cầu cứu, lúc cảnh báo ... toàn là những nội dung hết sức kỳ quặc. Bộ đội nhận được những làn sóng điện ấy, cho rằng có người gặp nạn cầu cứu, đa phần cử người đến địa điểm phát ra tín hiệu để tìm kiếm, nhưng hễ về nữa, cứ như bốc hơi khỏi thế gian này rồi vậy, cả những tín hiệu quái quỷ ấy cũng im bặt thấy gì nữa, cho nên mới gọi là tín hiệu ma trong truyền thuyết".


      Shirley Dương đội mũ bảo hiểm leo núi lên đầu, với tôi :" Những chuyện đồn đại hão huyền vô căn cứ ấy, chính xác sao được? Nơi này nằm trong phạm vi khu mộ Hiến vương, cho nên bất cứ tượng dị thường nào cũng đều có khả năng liên quan đến mộ Hiến vương, chúng ta phải tra cho ngọn ngành việc. Vả lại, lỡ mà có người bị kẹt trong đó cầu cứu , chúng ta thể thấy chết mà cứu được".


      rồi, Shirley Dương dùng cái cuốc chim chuyên dùng leo núi ngoắc lên cành cây to chắc, mượn sức trèo lên, động tác vô cùng nhanh nhẹn, chỉ vài lần đu lên đến lưng chừng cây. Hai cây đa phu thê xoắn vào nhau, cao đến hai chục mét, tán lá xòe rộng đến hơn trăm mét che kín cả ánh trăng, thêm nữa cành lá quá chi chít rậm rạp, đứng dưới gốc cây dùng đèn pin mắt sói chiếu lên chỉ nhìn thấy được chục mét là cùng.


      Đèn pha của chúng tôi bị phá hủy, cách chiểu sáng hữu hiệu nhất lúc này là giở súng bắn pháo hiệu ra bắn quả, nhưng còn chưa vào đến Trùng cốc, dọc đường lại có tiếp tế, cho nên thể sử dụng xả láng ở đây được. Thấy Shirley Dương leo mỗi lúc cao, tôi rất lo cho an toàn của , bèn vội đánh thức Tuyền béo rúc trong túi ngủ, bảo đứng dưới cây tiếp ứng, rồi đội mũ bảo hiểm leo núi, bật ngọn đèn gắn mũ, bám các nhánh cành và trèo lên theo.


      Tuyền béo vừa thức dậy, chưa hiểu tình hình ra sao, tay giương "Kiếm Uy" đứng dưới luôn miệng hỏi tôi xem là chuyện gì. Tôi mới trèo được khoảng phần ba, nhìn xuống thấy Tuyền béo cứ ngơ ngơ ngác ngác cầm súng lại lại, bèn dừng lại, cầm cái cuốc chim leo núi gạt cành lá ra, cúi xuống :" Cậu đừng chĩa súng lên, coi chừng bị cướp cò tôi đời! Hình như bên trong cái cây này có gì đó, chúng tôi trèo lên xem xem rốt cuộc là thế nào. Cậu cứ đứng dưới cảnh giới, chớ có chủ quan".


      Lúc này Shirley Dương trèo lên rất cao, bỗng kêu lên :" Có mảnh thân máy bay mắc kẹt này, hình như là máy bay của quân Mỹ".


      Nghe thấy thế, tôi vội huy động cả tay lẫn chân lần theo ánh đèn mũ của Shirley Dương mà trèo lên, thấy đứng giữa tán cây, tay sờ vào vật thẫm màu, tôi còn cách xa nên nhìn nó là thực vật hay là xác máy bay.


      Khi trèo đến bên cạnh Shirley Dương, tôi mới nhìn , dưới ánh trăng bàng bạc êm dịu như sương, có đoạn khoang máy bay rất lớn cắm xiên vào giữa hai cây đa, cánh và đuôi máy bay đâu, thân bị thủng vài chỗ khá to, bên trong lỗ thủng nhét đầy các thứ gì đó, thể nhìn . Cánh cửa của khoang máy bay đạ bị bật ra, méo mó biến dạng, có rất nhiều chỗ han gỉ loang lổ, bám đầy rêu xanh và dây leo, hầu như trở thành phần của cây gắn liền với cành lá, càng máy bay bị kẹt cứng giữa các cành cây.


      Tôi ngoảnh nhìn về phía ngọn núi Già Long cao vút vươn xa ở đầu kia, thầm nhủ có lẽ chiếc máy bay này đâm phải núi, gãy thành mấy đoạn, phần khoang vừa khéo rơi đúng tán cây đa. Xung lực lớn như vậy, quanh đây chắc cũng chỉ có hai cây đa phu thê cao to hiếm thấy này chịu đựng nổi.


      Shirley Dương chỉ cho tôi đám thực vật màu lục che phủ thân máy bay mà vừa dùng dao lính dù nạo , đó rành rành ra chuỗi ký tự C5X-R1XXX-XX2 ( X là chữ cái bị mờ nhận ra), tôi hiểu các quy tắc trong quân Mỹ, bèn hỏi Shirley Dương :" Là máy bay ném bom của quân Mỹ? Hay là đội Phi Hổ chi viện cho Trung Quốc thời kháng Nhật?"


      Shirley Dương :" Tôi chưa phát thấy biểu tượng của đội Phi Hổ mảnh thân này, chắc là phần còn lại của máy bay vận tải kiểu C của quân Mỹ, có khả năng nó cất cánh từ căn cứ Calcutta ở Ấn Độ trong Thế chiến II, chở vật tư cho quân viễn chinh Trung Quốc chiến đấu ở Myitkyina Mianma. Nếu là đội phi hổ chi viện cho chiến khu Trung Quốc phải có biểu tượng rất ràng". Tôi gật đầu :" Chỗ này cách Mianma xa, tôi xem bản tin thời , thấy bảo rằng vùng Đại Hiệp Cốc của Nộ Giang và núi Cao Lê Cống ở rất gần nơi này lần lượt phát được vài chục xác máy bay vận tải của quân Mỹ. Trong ba năm từ 1942 đến 1945, đường bay Trung Quốc - Mianma và sau đó là đường bay Đà Phong 3, quân đội Mỹ bị rơi dưới sáu bảy trăm máy bay vận tải xuống lãnh thổ Tây Nam Trung Quốc, ngờ ở đây cũng có chiếc". Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tuyền béo đợi dưới gốc cây thấy sốt ruột, ngoác miệng gọi to :" Hồ Bát Nhất! Hai người đứng cây bàn chuyện móc nối làm ăn gì vậy? Lại còn bắt tôi đứng đây canh gác nữa hả, cây ấy rốt cuộc là có cái gì thế?"


      Tôi tiện tay bẻ cành cây ném xuống chỗ Tuyền béo :" Ông lẻo nhẻo cái gì thế? Chúng tôi tìm thấy cái xác máy bay vận tải của Mỹ này, chúng tôi xem xét cho rồi xuống..."


      Tôi mới chợt nhớ đến chuyện lúc nãy có tiếng gõ tín hiệu cấp cứu phát trong thân cây, đưa mắt nhìn mảnh vỡ của chiếc máy bay vận tải, đụng nát ra thế này, sao có thể còn ai sống sót, tín hiệu kia rốt cuộc là thế nào? Chẳng lẽ là hồn của tổ lái chưa tan vẫn ngừng cầu cứu ...


      Tầng mây cao bỗng che khuất mặt trăng, cây lập tức tối sầm, tôi nín thở, vẫy tay ra hiệu cho Shirley Dương cùng áp tai vào thân máy bay nghe xem bên trong có tín hiệu Morse kỳ dị ấy nữa .


      Điều này chẳng khó gì, tôi vừa áp tai vào khoang máy bay liền nghe thấy bên trong vang lên ba tiếng "keng,keng, keng" gấp gáp. thanh vang lên hết sức bất ngờ, tôi giật bắn mình kinh hãi, nếu phải là tay trái nắm cái cán cuốc chim đu vào cành cây có lẽ tôi ngã lộn phộc xuống rồi.


      Tôi và Shirley Dương từ đầu chí cuối đều dám gây ra tiếng động nào đáng kể, ngoài mấy câu tôi quát Tuyền béo đứng bên dưới, hai chúng tôi chỉ khẽ thầm, từ lúc trèo lên cây, chúng tôi nghe thấy cái thứ "tín hiệu ma" kia nữa, giờ bỗng nhiên có thanh vang lên trong thân máy bay, vì khoảng cách quá gần, thanh nghe mồn , làm sao có thể hoảng hồn cho được.


      Tôi và Shirley Dương đưa mắt nhìn nhau, vẻ mặt nàng hết sức nghi hoặc :" Quái đản , chẳng lẽ bên trong có cái gì đó ? Vừa nãy tôi thấy nóc khoang máy bay có chỗ bị vỡ, chúng ta thử nạy ra xem bên trong thế nào".


      Shirley Dương còn sợ, tôi đương nhiên cũng thể tỏ ra sợ sệt, bèn gật đầu tán thành :" Được! Nếu trong đó còn xác phi công Mỹ chúng ta tìm cách chôn tạm họ ở đây, rồi đem giấy tờ của họ về, tiếp đó là thông báo cho lãnh quán Mỹ đến mà lấy hài cốt. Người Mỹ câu nệ cái kiểu " thanh sơn xứ xứ mai trung cốt" 4, chắc chắn phủ quốc kỳ lên tử sĩ mà đưa về quê hương".


      Shirley Dương :" Tôi cũng nghĩ như , chúng ta hành động thôi, nếu chẳng may trong khoang có ... có cái gì đó, dùng móng lừa đen của Mô kim Hiệu úy mà đối phó!"


      Tôi cố tỏ vẻ bình tĩnh, cười rằng :" Dù có cái gì chúng ta cũng sợ, đây là mày bay vận tải quân dụng, chưa biết chừng bên trong lại có vật tư quân dụng gì đó, tốt nhất là có thuốc nổ, đổ cái đấu Hiến vương này chừng cần dùng đến đấy".


      Tôi chọn chạc cây có thể đặt chân, lại đóng cái chốt cố định vào kẽ nứt thân cây, lấy dây thừng leo núi buộc chặt người vào đó, rồi cầm cuốc chim nạy cái mảnh kim loại méo mó biến dạng nóc thân máy bay.


      Shirley Dương ở bên cạnh dùng dao lính dù cắt dây leo bám bò bề mặt mảng sắt, hỗ trợ tôi nạy mảnh kim loại ra. Vì bỏ hoang hơn bốn mươi năm, máy bay lại bị hủy hoại tương đối nghiêm trọng, bị cây đa lâu năm phát triển chèn ép, nên tôi chỉ bật được nửa mảnh kim loại, nửa kia chết cứng ở đó, đứng cây chơi vơi rất khó vận hết sức lực cho nên thể làm gì hơn nữa.


      Tôi nhoài người lỗ thủng, định nhìn xem bên trong rốt cuộc là vật gì ngừng phát tín hiệu, Shirley Dương đứng sau, tay cầm khẩu súng 64 và chiếc móng lừa đen yểm trợ. Ban đêm trong rừng, đèn chiến thuật gắn mũ hiệu quả hơn nhiều so với lúc trong hang động tối om nhìn thấy năm ngón tay, dùng để quan sát tình hình trong khoang máy bay này là cũng đủ rồi.


      Tim tôi như muốn nhảy lên đến tận cổ họng, từ từ ghé đầu vào, lúc này trong rừng yên tĩnh lạ thường, tiếng "tưng tưng tưng" trong khoang máy bay vang lên từng tiếng từng tiếng , mỗi tiếng đều khiến tim tôi thót lên cao chút.


      Ánh đèn đầu chiếu vào trong khoang tối đen như mực, nhìn thấy trước hết là chiếc mũ phi công, hình như xác người phi công vừa khéo treo ở đúng chỗ tôi vừa nạy tấm kim loại ra, người ấy cúi đầu, rất có thể bị gãy cổ khi máy bay rơi, đầu gục xuống trước ngực. Thân máy bay biến dạng tương đối nghiêm trọng, cái hốc này khá hẹp, nên tôi chưa thể nhìn thấy tình trạng của thi thể bên dưới cái mũ, nhưng có thể khẳng định rằng góc gập giữa đầu và thân như thế này thể là tư thế của người còn sống.


      Tôi thò tay vào định nhấc cái mũ phi công lên, ngờ cái mũ gục xuống ấy bỗng khẽ động đậy mấy lần, hình như nó muốn vận sức để ngẩng lên. Mỗi lần động đậy lại phát ra thanh như gõ vào tấm sắt.


      Toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi, thầm kêu lên tiếng :" Khốn nạn thân tôi!". Phen này chắc chắn là gặp phải cương thi rồi, hồi tôi sợ nhất là nghe kể chuyện cương thi nằm trong quan tài gõ nắp quan lộc cộc, hôm nay gặp hàng rồi, chẳng cái móng lừa đen của Mô kim Hiệu úy từ xưa dùng để khắc chế cương thi có được việc nữa.


      Tôi đâm liều, tay cầm cuốc chim nhấc cái mũ phi công nứt vỡ ấy lên, tay kia cầm móng lừa đen dúi vào, nhưng phía dưới chiếc mũ bỗng phóng ra luồng sáng vàng cực mạnh... --------------------------------


      1 Lăng phụ.


      2 phải kiêng kỵ gì hết. Ý " sao, sao cả..."


      3 Đường bay Phong ( tiếng : The Hump) là tên được phi công quân đội Đồng minh đặt cho đường bay từ Ấn Độ sang Trung Quốc qua dãy Himalaya, dùng để vận chuyển vật tư quân cho quân đội Trung Quốc chống Nhật và hỗ trợ lực lượng quân Mỹ ở Trung Quốc. Đây là đường bay cực kỳ nguy hiểm.


      4 Những con người trung liệt mai táng ở chốn núi rừng ( thơ cổ)

    4. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.3 - Chương 10: MÁY ĐÁNH CHỮ





      Phía dưới chiếc mũ xuất đôi mắt khổng lồ màu vàng kim, phóng ra hai luồng kim quang sắc lạnh, dường như còn chói hơn cả ánh đèn gắn mũ leo núi của chúng tôi. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ánh mắt như tia lửa điện phóng thẳng vào mắt tôi, tôi thầm kinh hãi trong lòng, đôi mắt này khiến người ta ba hồn bay tít mấy xanh, bảy vía lăn nhào xuống đất, có điều chắc chắn phải là cương thi phi công Mỹ.


      Trong khoảnh khắc này thời gian dường như bỗng trôi chậm lại, ánh đèn trong đêm nhấp nháy chập chờn, tuy chưa thể nhìn rốt cuộc là mắt của sinh vật gì nhưng tôi cũng nhận ra rằng đây là con mãnh cầm to lớn hiếm thấy. Cái mỏ khoằm khoằm như móc câu của nó ngậm nửa con thằn lằn màu lục, dưới chân nó hẵng còn nửa đầy máu me. Rất có thể nó vào đây qua lỗ thủng ở phía bên kia khoang máy bay, nấp trong này hưởng thụ đại tiệc, ngờ lại bị chúng tôi quấy nhiễu. Có lẽ tín hiệu kỳ quái kia là do nó mổ con thằn lằn này phát ra.


      Tôi chưa kịp định thần nhìn cho kỹ chủ của đôi mắt màu vàng ấy từ trong khoang máy bay lao vọt lên, thốc thẳng vào mặt tôi. Shirley Dương đứng bên tuy chưa nhìn thể là thế nào, bỗng thấy vật màu đen từ bên trong xộc ra, vội đẩy mạnh tôi cái.


      Lúc này tôi cũng có phản ứng, mượn lực cú đẩy giật người về phía sau, nào ngờ để ý phía dưới nên bước hụt chân rơi thẳng xuống, bị sợi dây bảo hiểm buộc từ trước treo lơ lửng bên thân cây.


      vật như tấm vải rộng màu nâu với hai luồng kim quang ở giữa tạt đầu tôi như cơn gió, con chim khổng lồ ấy vồ hụt phát, liền dang đôi cánh bay mất hút vào màn đêm.


      Thấy con chim khổng lồ ấy bay rồi, tôi mới hoàn hồn, ngoắc chiếc cuốc chim vào dây leo cuốn cây đa cổ thụ, trèo trở lại lên tán cây. Shirley Dương đưa tay ra kéo tôi lên :" Chúa phù hộ, may mà sao cả, có nhìn nó là con chim gì ? To lớn như vậy, đúng là hiếm thấy đấy!".


      Tôi trèo lên tán cây, thở hắt ra tiếng, với Shirley :" nhìn , chỉ thấy đôi mắt khá giống chim cú đại bàng. Ở trong rừng này đến đêm rồi mà vẫn còn hoạt động, cũng chỉ có cú đại bàng là lợi hại nhất, có mỏ nhọn vuốt sắc, ở miền Đông Bắc tôi nhìn thấy, chụp xuống cái là quắp được mảng thịt to tướng mình gấu đen. Tôi mà bị nó bổ trúng 'đỏ ngực vinh quang' rồi".


      Shirley Dương :" ra là loài cú mèo khổng lồ. Chúng vốn ưa làm tổ vách núi cheo leo, sao lại rúc vào cái khoang máy bay này nhỉ? chắc chắn bị thương gì chứ?"


      Tôi :" bị làm sao cả, cả sợi tóc nó cũng chưa đụng đến. Có thể là phía sau khoang máy bay còn có cái hốc lớn mà chúng ta chưa nhìn thấy, con cú đại bàng chui qua đó vào bắt thằn lằn ăn. Chuột, thỏ, nhím, rắn ... chúng ăn tất tần tật, mỗi đêm chúng phải đánh chén vài chục con mới đủ. Tiếng gõ chúng ta nghe thấy là con cú này mổ thằn lằn phát ra, lại cứ ra vẻ thông minh, phức tạp hóa vấn đề đơn giản, là mật mã Morse gì gì đó, làm cho chúng ta bị phen hú vía cần thiết".


      Shirley Dương :" Nhưng lúc đó quả là rất giống tín hiệu mật mã điện báo ... OK, coi như tôi nhầm, cũng đừng có mà được nước lấn tới nữa, đợi tôi vào trong khoang máy bay xem có thứ gì ".


      Tôi biết với tính cách của Shirley Dương, gặp xác máy bay của quân Mỹ ở đây rồi nhất định phải xem xét cặn kẽ, mai táng ổn thỏa hài cốt của phi công gặp nạn, rồi mở cuốn Kinh Thánh ra đọc chập rồi mới yên, có muốn cũng thể cản nổi nàng. Chuyện này tôi cũng giữ thái độ tích cực, dù sao trong Đại chiến thế giới thứ hai đám Mỹ này cũng sang giúp chúng tôi kháng Nhật, đành rằng về mặt chiến lược người Mỹ cũng vì lợi ích của chính họ, nhưng , vẫn coi như hy sinh ở đất Trung Quốc, chôn cất di thể của họ ở đây trước, trở về thông báo với chính phủ họ, làm như thế cũng là lẽ đương nhiên.


      Tuyền béo đứng dưới thấy cây lao xao rối mù, nén nổi tò mò, lại ngoác họng ra hỏi :" Hai người có tìm thấy thứ gì đáng tiền ? Có cần tôi lên hỗ trợ ?". rồi cậu ta chẳng đợi chúng tôi trả lời, xắn luôn tay áo, đeo súng sau lưng trèo lên.


      Tôi lấy làm lạ, hỏi :" Mẹ kiếp cậu mắc chứng sợ độ cao kia mà? Sao bỗng nhiên lại dám trèo cây? Hay là dây thần kinh bị chập rồi?".


      Tuyền béo đáp :" Chứng tật cái đít cậu ấy, đêm tối tù mù thế này nào có thấy cao thấp ra sao, với cả khui đồ của Tây đánh rơi, vắng tôi sao được, máy bay ấy ở chỗ nào thế?"


      Tôi với cậu ta :" Nên cẩn thận hơn, chân tay lóng ngóng như con gấu chó, cây cao thế này đâu phải chuyện đùa, lấy dây bảo hiểm buộc cho chắc . Mà cậu đứng xa tôi ra chút, cậu nặng như vậy dễ chừng làm gãy cả chạc cây mất! Vừa nãy tôi suýt bị rớt xuống rồi".


      Dặn dò Tuyền béo xong, tôi ngoảnh sang nhìn, thấy Shirley Dương trèo lên phía lỗ hổng khoang máy bay, sắp sửa chui xuống, tôi vội sang phía đó định vào thay, nhưng lại nhận ra cái hốc ấy rất hẹp, chỉ có nàng mới miễn cưỡng chui lọt vào được.


      Để chui được vào trong khoang máy bay, Shirley Dương phải gỡ bỏ túi đeo và các vật dụng cần thiết khác, kể cả chiếc ô Kim Cang luôn mang theo mình như hình với bóng cũng đưa tôi cầm hộ, sau đó chiếu đèn pin mắt sói cẩn thận soi vào chỗ sâu trong khoang máy bay, xác định có con vật nào khác, rồi chống hai tay vào miệng lỗ hổng thả người tụt xuống.


      Tôi với Tuyền béo ở bên ngoài canh phòng, tôi hỏi nàng :" Bên trong có xác người Mỹ ? Có lấy thừng buộc vào, chúng tôi kéo lên".


      Shirley Dương ở trong đó trả lời :" có. Đầu máy bay bị đâm nát, trong buồng lái có thi thể, chỉ thấy hai cái mũ phi công. Chắc họ kịp nhảy dù trước khi máy bay rơi". Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi với Shirley :" Nếu lên ngay , tôi thấy hai cái cây già cỗi này cứ rung rung, chỉ e kham nổi ngần này trọng lượng, có thể gãy bất thình lình mất".


      Shirley Dương trả lời ngay, chỉ thấy nàng bới tung đống đồ bên trong, lúc lâu sau mới :" Tôi nghĩ mấy cái hòm ở đây chắc là đựng vũ khí đạn dược, để xem xem còn dùng được ... chúng ta may mắn lắm, có số vẫn còn rất nguyên vẹn, ngờ hơn bốn chục năm..."


      Tôi và Tuyền béo nghe trong đó có vũ khí, đều rất phấn chấn, chưa vào đến Trùng cốc mà chạm trán bao nhiêu là mãnh thú, chỉ hận điều rằng trước khi vào núi kiếm được vũ khí lợi hại, thể loại súng hơi bắn đạn bi sắt kia ở trong rừng này đúng là chẳng làm nổi trò trống gì, cái thứ súng ống thể bắn liền hơi khiến người ta sốt ruột muốn chết. Trang bị của Mỹ trong xác máy bay vận tải này dù toàn là kiểu cũ vẫn còn hơn súng bắn chim cả trăm lần !


      Tôi định hỏi trong đó có súng gì, bỗng cảm thấy phía sau lưng có gì đó ổn. Cả khu rừng này từ xuống dưới nãy giờ chưa từng thấy có gió, lúc này lại chợt có gió lạnh lướt qua, cơn gió như nhưng tôi vẫn cảm nhận được. Theo bản năng, tôi bấm ngay cái chốt ở cán ô Kim Cang, xòe ra chặn ở phía sau lưng.


      Cái ô Kim Cang này là cổ vật có tuổi thọ vài trăm năm, làm bằng thứ kim loại quý hiếm cứng như thép tinh luyện cả trăm lần, dù lấy cưa điện ra cắt cũng chỉ tạo được vệt trăng trắng mờ mờ, ở trong tay các vị Mô kim Hiệu úy đời trước, biết che chắn được bao nhiêu ám khí trong mộ cổ rồi, có đây là đồ chơi có giá trị thực dụng nhất mà môn phái Mô kim Hiệu úy truyền lại cho đời sau cũng chẳng sai.


      Chỉ nghe thấy mấy tiếng xèn xẹt như có lưỡi dao thép cạo tán ô. Tuyền béo đứng đối diện tôi giơ tay chỉ phía sau lưng tôi kêu lên :" Mẹ kiếp, con cú to thế!", rồi giương súng lên ngắm bắn.


      Lúc này tôi mới biết đó là móng con cú đại bàng cào vào ô Kim Cang, ra nó vòng trở về đánh trộm. ngờ con chim khốn kiếp này lại thù dai như vậy, nếu tôi phản ứng nhanh, lại có ô Kim Cang hộ thân, bị nó quắp nhát là thủng da toác thịt chứ chẳng chơi.


      Tiếng súng của Tuyền béo cũng vang lên cùng lúc, con cú đại bàng to xác nhưng động tác lại dập dờn linh hoạt như bóng u linh, trời tối nên Tuyền béo bắn trượt.


      Tuyền béo rất hiếm khi bắn trượt, khỏi quýnh hết cả lên, đưa tay lần tìm khắp người, rồi kêu trời, cậu ta quên mang theo đạn sắt, cả khẩu súng lục 64 cũng mang theo người, đành cầm ngược "Kiếm Uy" lên coi như gậy chọc lò, đề phòng con cú đại bàng vừa tạm thời bay vào màn đêm kia quay lại giở trò "hồi mã thương".


      Hai chúng tôi chỉ còn cách dùng đèn gắn mũ chiếu lung tung bốn bề. Mây đen che khuất mặt trăng, hai luồng sáng của chúng tôi quét lia khắp mọi phía, dù sao con cú đại bàng có thể mặc sức bay lượn khắp rừng trong đêm tối, nó có thể ló ra từ bất cứ hướng nào.


      Đúng lúc này sau lưng Tuyền béo bỗng xuất hai luồng ánh sáng vàng chóe, đôi mắt vàng to tướng mở ra, tôi vội hét toáng lên với cậu ta :" Thấp người xuống, nó ở sau lưng cậu ấy!".


      Tuyền béo hoảng loạn nhào ra phía trước mà quên rằng mình cây. Cậu ta kêu rú lên thảm thiết rồi rơi thẳng xuống dưới. May mà trước đó tôi nhắc cậu ta phải cài dây bảo hiểm, nên mới bị ngã xuống nền đá dưới kia, cả người cũng bị treo lửng lơ như tôi khi nãy, có điều với trọng lượng như cậu ta, chẳng cành cây và sợi dây này giữ được bao lâu nữa. Tuyền béo hoảng hồn, hai chân đạp gió lung tung, nhưng càng cựa quậy cành cây càng đung đưa dữ dội, lá cây và dây leo rễ ngắn bị cậu ta lắc cho rơi rào rào xuống đất, cả cây đa già cỗi rung lên, bất cứ lúc nào cũng có thể gãy lìa.


      Tôi còn chưa kịp nghĩ cách kéo Tuyền béo lên trước mặt bỗng tối sầm, cái đèn gắn mũ bị che kín, cón cú đại bàng như bóng u linh từ cao lao thẳng vào đầu tôi.


      Lần này tôi kịp giương ô Kim Cang ra chắn, cũng còn tay đâu mà rút súng bắn, đành giơ cái ô cụp lên để chặn bộ móng vuốt sắc nhọn của con cú đại bàng nhào xuống. Nào ngờ con cú đại bàng hung tợn hết mức, lại dùng luôn móng vuốt của nó quặp chặt lấy cái ô Kim Cang, định tước ô khỏi tay tôi. Sức mạnh của nó thực ghê gớm, tay tôi căn bản thể ghìm nổi, cả người như sắp bị nó nhấc bổng lên.


      giằng co tràng súng máy vang lên, đầu đạn lóe sáng trong đêm tối. Con cú đại bàng bị đạn bắn nát thành đống vải rách rơi thẳng xuống đất, nằm yên bất động. Tên thợ săn đêm hung ác hống hách chốn rừng sâu lúc này ngược lại trở thành con mồi của kẻ khác.


      ra là Shirley Dương xách khẩu súng máy trong khoang máy bay chui ra, nổ súng tiêu diệt con cú đại bàng. Trời tối nên nhìn cầm khẩu súng gì, tôi và Tuyền béo bị treo lơ lửng cây đều nín nhịn được đồng thanh hô lên :" Hỏa lực quá mạnh, súng gì vậy?"


      Shirley Dương vỗ vỗ khẩu súng máy trong tay, đáp :" Súng máy Thompson, đảng Bàn tay đen ở Mỹ hay gọi là máy đánh chữ Chicago. Chỉ hiềm súng này nặng quá".


      Vì đây là máy bay chuyên vận tải thiết bị quân cho quân đội nên các vật tư đều được đóng gói rất kỹ, thêm nữa là loại súng này rất kỵ nước, cho nên cả súng lẫn túi đạn đều được bọc ni lông thành bộ. Súng mới, vẫn nguyên lớp dầu bảo quản, ngờ sau khi máy bay bị rơi vẫn còn phần rất súng đạn giữ được nguyên vẹn trong điều kiện môi trường tồi tệ như thế này.


      Tôi thiết ngắm những thứ trang bị kiểu Mỹ ấy nữa, vội bảo Shirley Dương hỗ trợ thả Tuyền béo bị treo cây xuống dưới. Trải qua ngần ấy chuyện rắc rối, cả đêm hết, chỉ lát nữa là trời sáng, có điều trước lúc bình minh lại là lúc trời tối nhất, câu này đúng với hoàn cảnh ở đây, rừng sâu giờ hoàn toàn tối đen, xòe tay nhìn thấy ngón đâu.


      Trong đêm tối vô tận, bỗng nghe thấy chuỗi những tiếng "tạch tè" phát ra từ bên trong cây đa chúng tôi đứng, tôi và Shirley Dương đều hề chuẩn bị tâm lý, con súc sinh khắp mình đầy lông những lông quấy rối ấy vừa bị giải quyết rồi, sao tín hiệu lại đột nhiên vang lên nữa?


      Nhưng có lẽ đây mới là thanh chúng tôi nghe thấy lúc ban đầu ở dưới gốc cây, lúc này đối chiếu lại, ràng là khác hẳn tiếng con cú đại bàng mổ thức ăn, chẳng qua là lúc nãy phát ra, hiểu lầm là thứ thanh tự nhiên.


      Tôi chửi rủa :" Mả bà nó! Lại là cái gì tác quái nữa đây? thanh này tà ".


      Shirley Dương bảo tôi im lặng để nghe cho kỹ, vừa nghe vừa thầm giải mã, sắc mặt khỏi lộ cái bóng của sợ hãi :" Lần này cũng nghe rồi, lặp lặp lại chỉ có đoạn tín hiệu Morse, nhưng nội dung thay đổi rồi ..."


      Tôi dỏng tai lắng nghe hồi lâu, đúng là lần này phải ba ngắn ba dài gì nữa, so với tín hiệu trước hơi phức tạp hơn, nhưng có thể thấy là lặp lặp lại. Tôi hiểu mã Morse, nhưng lúc này thấy Shirley Dương trịnh trọng như thế, tôi hiểu rằng tình hình lần này phải bình thường, nội dung tín hiệu là gì mà khiến sợ hãi đến thế.


      Shirley Dương nhìn đăm đăm về phía phát ra tín hiệu, miệng chậm rãi nhắc lại :"Tè tạch tạch... tạch... tạch tè ...tè tạch tạch... Đúng là tín hiệu ma, tín hiệu tử vong của vong hồn"

    5. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.3 - Chương 11: LỆNH TÌM KIẾM





      Rừng nguyên thủy trước lúc bình minh chìm trong bóng đen như thể bị đôi cánh của thần chết phủ lên, yên tĩnh đến mức cái kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Tôi ngồi ngọn cây nghe kỹ mấy lần, tuyệt đối thể nghe nhầm, đúng là các tín hiệu cứ lặp lặp lại mãi. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ngay cả Tuyền béo ngồi dưới gốc cây cũng nghe thấy tín hiệu "tạch tạch tè tè" kỳ quái này, cứ nghển cổ nhìn mãi lên cây.


      Chúng tôi tạm thời dám chủ quan manh động, chỉ bật đèn pin mắt sói chiếu vào nơi phát ra thanh ấy, nhưng luồng sáng đèn pin bị cành lá rậm rạp chặn lại, lờ mờ, càng nhìn lại càng thấy sợ, thậm chí có những mảng vỏ cây sần sùi nhăn nheo kỳ quái, nhìn trong bóng tối giống như thây ma với bộ mặt gớm ghiếc.


      Tôi khẽ hỏi Shirley Dương ở bên cạnh :" Chẳng lẽ phi công Mỹ bị rơi vào trong hốc cây, trước khi chết phát sóng điện cầu cứu, hồn tan và vẫn quanh quẩn ở chỗ cái cây này?"


      Shirley Dương lắc đầu :" thể! Lúc nãy chui vào xác máy bay lục soát tôi xem xét rất kỹ mọi ngóc ngách, chẳng những có hài cốt của tổ lái, mà cả ba lô dù cũng , cho nên tôi mới phán đoán rằng họ nhảy dù thoát thân trước khi máy bay rơi. Vả lại, đầu máy bay đâm vào núi bị hủy hoại hoàn toàn, sau đó phần thân này mới rơi xuống ngọn cây, tín hiệu ma quỷ này sao có thể phát ra từ trong thân cây được nhỉ?"


      Tôi với Shirley Dương :" Trước khi bắn hạ con cú đại bàng, chuỗi tín hiệu ấy là SOS, còn đoạn vừa nãy đột nhiên biến thành DEAD, liệu chúng có liên quan gì ? Ngoài lính quân Mỹ điều khiển chiếc may bay vận tải kiểu C này ra, ở chốn thâm sơn cùng cốc này làm gì có ai biết đánh mã Morse đâu?"


      Shirley Dương từng chỉ lần với tôi, con người chết rồi lên thiên đường, đó mới là điểm cuối cùng của hành trình sống, vì vậy xét từ góc độ này, Shirley Dương tin rằng con người có linh hồn. Shirley Dương lại :" Tín hiệu cầu cứu SOS lúc đầu, có thể là do tôi nghe nhầm. Có lẽ đó là thanh con cú đại bàng phát ra khi nó ở trong khoang máy bay mổ con thằn lằn, vì thế các thanh rối loạn, liên tục. Còn đoạn tín hiệu này, cũng nghe rồi đấy, hoàn toàn khác hẳn, thanh dài ngắn rất có quy luật, và lặp lại nhiều lần hề sai sót ..."


      Chính tai mình nghe thấy, lại ràng như thế, tôi cũng thể tin tính chân thực của truyền thuyết "tín hiệu ma". Tôi với Shirley Dương :" Những tín hiệu này tuy rất có quy luật nhưng giống như tiếng của máy phát tín hiệu, nghe hơi giống tiếng giọt nước rơi nhưng trầm hơn nhiều, có lẽ chúng ta đoán đúng, trong thân cây này có người chết".


      Shirley Dương :" Có nhà khoa học từng làm thí nghiệm, thấy linh hồn con người có sóng điện rất yếu, mà năng lượng rất yếu dù vẫn có thể tồn tại lâu dài trong môi trường nhất định hoặc từ trường nào đó, nhưng điều quan trọng nhất là đoạn mật mã tử vong này rốt cuộc truyền đạt ý đồ gì, là để cảnh cáo hay là hù dọa chúng ta?"


      Phán đoán dựa kinh nghiệm của tôi, gặp phải tình huống như thế này, chạy trốn tuyệt đối phải là lựa chọn tốt, cứ nghi thần nghi quỷ mãi, rồi hoang mang nơm nớp đủ điều, dẫn đến tự gây rối loạn tâm lý cho chính mình, càng dễ sinh chuyện. Vào lúc này ta càng nên can đảm để tìm cho ra nguyên nhân, làm thực chất vấn đề mới có thể yên tâm được. Trời sắp sáng đến nơi, đêm đen chẳng mấy nữa kết thúc, có ánh sáng rồi phải sợ sệt gì nữa.


      Tôi bèn bám cành cây đứng lên, với Shirley Dương :" Cứ đoán già đoán non mãi cũng chẳng đến đâu, chi bằng xem thử, rốt cuộc là vong hồn gì tác quái, làm rồi có hành động sau".


      Shirley Dương gật đầu đồng ý, bèn thay băng đạn cho khẩu "máy đánh chữ Chicago" rồi đưa cho tôi. Kiểu súng máy này quá nặng, nàng dùng thuận tay. Hai chúng tôi chỉnh lại tiêu cự của đèn gắn mũ, rồi gia cố lại dây an toàn.


      Tôi rút hộp đạn ra xm xét, thấy bên trong nạp đầy đạn, bèn cầm xóc "cạch cạch" vào mũ bảo hiểm. Tỷ lệ trục trặc của loại súng này có tiếng là cao, càn lèn chặt đạn trong hộp, đề phòng lúc khẩn cấp đạn bị kẹt. Tôi lắp hộp đạn trở lại, kéo lẫy cho đạn lên ổ, vẫy tay ra hiệu với Shirley Dương, chia nhau hai hướng trèo lên cành đa để tìm nguồn phát ra "tín hiệu ma" ở trong xác máy bay.


      Càng đến gần, tín hiệu tạch tè nghe càng , càng nghe càng cảm thấy phải tiếng máy điện tử. Chúng tôi rà soát kỹ bên cạnh xác máy bay, cuối cùng cột ánh sáng của đèn gắn mũ đều tập trung vào chỗ cành cây.


      Để đề phòng chuyện ngoài ý muốn, Shirley Dương trước, tôi sau nửa mét yểm hộ cho nàng. Shirley rọi đèn quan sát tỉ mỉ đoạn thân cây phát ra tín hiệu, rồi ngoái lại vẫy tay ra hiệu cho tôi, có thể xác định rồi, thanh chính là phát ra từ chỗ này, cứ tạch tạch tè tè rất bình thường.


      Tôi chĩa khẩu Thompson vào mục tiêu, đề phòng lại có thứ gì đó như con cú đại bàng xông ra tấn công người. Cái "máy chữ Chicago" cỡ nòng 11,4mm này đâu phải tầm thường, tốc độ bắn như mưa bắn nát nhừ bất kỳ con mãnh thú rừng sâu nào.


      Shirley Dương thấy tôi sẵn sàng, bèn lấy con dao lính dù ra, từ từ cắt đám thực vật bám đầy cành cây đa, gạt bỏ các lớp rêu xanh và dây leo dày cộm, sau vài lượt nhận ra đó là cái hốc cây tự nhiên. Cái hốc này chỉ lớn bằng hai nắm đấm, trải qua bao nhiêu năm tháng, miệng hốc bị các loài thực vật ký sinh bịt kín.


      Shirley Dương thận trọng cắm lưỡi dao vào chỗ sâu nhất của đám rêu, cảm giác nơi đầu mũi dao truyền lại như đụng phải vật cứng.


      Tôi và Shirley đưa mắt nhìn nhau, đều lấy làm nghi hoặc, trước đó nghĩ rằng ở đây lại có cái hốc thế này, mà dù có hốc cây, cũng phải là loại đủ lớn để có thể cho người hoặc động vật ở bên trong phát ra tiếng động, thể bé tí thế này được. cây đa già cỗi này biết có bao nhiêu hốc kiểu này, đều là tổ ấm của các loài động vật , hơn nữa xem ra thể hình thành trong thời gian ngắn.


      Cành cây phía sau bỗng đung đưa hồi, ra Tuyền béo lại trèo lên lần nữa. Lần này cần tôi phải nhắc, cậu ta tự buộc chặt dây an toàn vào người.


      Tôi định hỏi sao đứng dưới kia cảnh giới lại trèo lên đây làm gì, liền để ý thấy vẻ mặt hoảng hốt của cậu ta. đời này đâu có nhiều thứ khiến Tuyền béo phải sợ, chỉ nghe cậu ta run rẩy với tôi :" Nhất ạ, mẹ kiếp ... mười phần chắc tám là cây này có ma rồi, tôi phải lên theo hai người thôi, vừa nãy sợ gần chết".


      Tôi thấy Tuyền béo có vẻ gì là đùa, trong các vấn đề liên quan đến tiền bạc, chỉ có chuyện gì trực tiếp đe dọa đến tính mạng mới khiến cậu ta phải sợ. Tôi vội hỏi Tuyền béo xem xảy ra chuyện gì, có phải nhìn thấy cái gì đó ?


      Tuyền béo định thần, rồi :" Vừa nãy tôi đứng dưới gốc cây nhìn hai người trèo qua trèo lại cành cây, hiềm nỗi trời tối quá, nhìn lúc lâu, chỉ thấy ánh đèn mũ hai người, nhàn nhạt nhìn . Nhìn mãi phát chán, tôi định châm điếu thuốc hút cho đỡ buồn, bỗng chợt nghe có tiếng phụ nữ khóc, khóc rất thảm thiết. Mẹ kiếp, làm lão gia sợ quá, đến nỗi cầm ngược điếu thuốc, suýt nữa bỏng lưỡi. Chắc chắn có ma nữ, cậu nghe mà xem .. đấy đấy ... lại khóc rồi đấy!"


      Shirley Dương dùng dao nạy mảng thực vật mục nát trong hốc cây, cũng làm gần xong, chưa kịp xem xem cái vật cứng bên dưới là gì nghe thấy Tuyền béo quanh đây có ma nữ khóc, bèn dừng lại, cùng tôi lắng nghe động tĩnh ở xung quanh.


      Chúng tôi vốn chỉ để ý "tín hiệu ma", bây giờ im lặng lắng nghe, quả nhiên có tiếng nức nở . Phía sau núi Già Long hề có gió, vì vậy đây tuyệt đối phải tiếng gió rít, thanh này thê thảm khác thường, hơn nữa lại thoắt Đông thoắt Tây phiêu hốt bất định, trong bóng tối càng thêm rùng rợn.


      Tôi, Tuyền béo và Shirley Dương lập tức đứng dàn ra thành hình chữ Đinh, tôi giương khẩu Thompson, Tuyền béo dùng súng hơi "Kiếm Uy", Shirley Dương lăm lăm khẩu súng ngắn 64, như vậy góc phòng ngự của mỗi người đều rút xuống còn 120 độ, hợp nhau tạo thành thế ỷ dốc.


      Tiếng khóc thút thít chạy vây quanh chúng tôi hai vòng, rồi bỗng chia thành ba tuyến, từ lưng chừng trời nhanh chóng áp xuống phía chúng tôi. Lần này tôi nghe , chẳng phải tiếng ma nữ mà là cú đêm rúc. ra đồng loại của con cú đại bàng chết tiệt, có điều lần này phải chỉ là hai con. Nghe tiếng rúc đủ biết chúng phải loại rồi, hẳn là đến tìm chúng tôi trả thù, tuy rằng có súng có đạn trong tay nhưng trong bóng tối phải đối phó với bọn u linh thoắt thoắt bầu trời đêm này quả là hơi có phần thua thiệt.


      Lúc này Shirley Dương cũng nghĩ đến chuyện tiết kiệm pháo sáng nữa, liền lục túi đeo hông lấy khẩu súng bắn pháo hiệu ra, đùng phát, quả pháo sáng vút lên từ ngọn cây đa, ánh sáng trắng nhợt treo cánh rừng hồi lâu tắt, chiếu khắp bốn bề sáng như miền băng tuyết.


      Chúng tôi cũng bị ánh sáng chói lòa của pháo sáng làm cho hoa mắt nhức đầu, cố chịu đựng ánh sáng lóa mắt ấy để tìm kiếm mục tiêu xạ kích rừng cây bỗng im ắng như chết, ngoài tiếng tim đập và tiếng thở của chúng tôi ra, mọi thanh khác đều biến mất.


      Mấy con cú đại bàng mò đến đột kích bị ánh sáng của quả pháo hiệu làm cho sợ hãi, vội lẩn vào bóng tối phía xa, lủi mất tăm mất tích, cả "tín hiệu ma" khiến người ta sởn tóc gáy cũng im bặt theo, thấy động tĩnh gì nữa, ngay tiếng chim hót buổi sớm mai thường có cũng thấy, cơ hồ như các loài động vật đều chết sạch cả rồi vậy.


      Tôi chưa kịp kinh ngạc, dường như đồng thời với biến mất của thanh, từ phía chân trời núi cao chênh vênh, dải ánh hồng bình minh rẽ mây ló ra, rọi chùm tia nắng đầu tiên xuống khắp cánh rừng quái dị này.


      Hình như vào khoảnh khắc rạng đông, các loại quái vật ma đều chạy về hang ổ nấp để lẩn tránh ánh mặt trời.


      Chúng tôi nhớ đến cái hốc cây đa, bèn ngoảnh lại nhìn, chỉ thấy cành cây nằm dưới cái xác máy bay vận tải kiểu C có cái hốc màu xanh lục, dưới đáy hốc có mảnh đá nhẵn bóng màu đỏ sẫm ánh lên những tia sáng yếu ớt trong nắng mai.


      Tôi chưa kịp nhìn là chuyện gì bỗng cành cây dưới chân kêu rắc rắc gãy luôn, ra cành đa chĩa ngang này phải chịu đựng phần lớn trọng lượng của khoang máy bay vận tải kiểu C, mới rồi chúng tôi đứng cụm lại chỗ để chuẩn bị nghênh chiến với lũ cú đại bàng đến tập kích, đây vốn là điều tối kỵ khi hoạt động cây, nhất là có cả cái gã Tuyền béo kia nữa, cây đa già cỗi chịu nổi, phần lớn các cành ở ngọn cây đều gãy làm đôi, thân cây già khú đế hoàn toàn nứt toác ra.


      Vô cùng may mắn là chúng tôi đều buộc dây bảo hiểm vào thân cây chính, cho nên tuy có bị va đập vào thân cây nhưng bị rơi thẳng xuống đất, hôm nay mấy sợi dây bảo hiểm này cứu chúng tôi dưới ba lần. Cành cây chủ yếu đỡ cái xác máy bay vận tải kiểu C bị gãy, khiến nó từ độ cao hơn hai chục mét rơi thẳng xuống đất, phát ra những tiếng động dữ dội và bi thảm.


      Chúng tôi ngẩng đầu lên, liền nhìn trong lòng cái cây đa già cỗi bị toác ra, ai nấy đều há mồm trợn mắt, lát sau Tuyền béo mới :" Cái gì thế kia? Hình như là rất đáng tiền... có lẽ phen này ... mẹ kiếp, chúng ta phát tài rồi!".


      Đúng lúc này, tín hiệu vừa quen thuộc vừa lạ lùng kia bỗng vọng ra từ thân cây bị nứt toác ...

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :