Ma thổi đèn - Thiên hạ bá xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.4 - Chương 6: Hồ Tiên Nữ





      Tôi đưa mắt nhìn bọn Shirley Dương, nhún vai, cũng chẳng còn cách nào khác, Tuyền béo chẳng mảy may bận tâm, cảm thấy càng đông càng vui, Răng Vàng nhếch mép lộ cái răng vàng ởn của vào mặt tôi, ý rằng mấy của nợ này coi như các cậu phải tự đèo bòng thôi. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi thầm nghĩ mả mẹ thằng khọm Hồng Kông, định đưa cả nhà nghỉ mát chắc, từ vợ đến con, cả thằng bảo kê cũng có mặt tề tựu, đương tính xem phải tìm lời thoái thác thế nào, để cho lão khọm quên cái mùa xuân ấy , lắm thầy thối ma, lắm thằng tham gia càng thêm rối, hàng bao người như vậy, thế nào cũng xảy ra chuyện.


      Bấy giờ Minh Thúc đưa tất cả thành viên còn lại trong đoàn lần này ra mắt, giới thiệu từng người cho cả hai bên. Mụ vợ Hàn Thục Na của lão ta chúng tôi quen biết rồi, mụ này rất quyến rũ, chẳng trách lão lại say như điếu đổ. Răng Vàng mở miệng chào bà Minh, Hàn Thục Na vội chớ có gọi như thế, nghe già lắm, mọi người với nhau xưng hô thế nào chẳng được, miễn trang trọng , cứ như trước là được.


      Sau đó Minh Thúc lại giới thiệu con nuôi A Hương. bé trông rất nhát, có khi còn chưa đầy hai mươi tuổi, thấy người lạ là dám chuyện. Minh Thúc bảo A Hương là trợ thủ đắc lực nhất của lão ta, có thứ gì sạch là con bé phát ra ngay.


      Tôi tò mò hỏi việc này là thế nào, chẳng lẽ bé có "mắt dương" hay là có "thiên nhãn" chắc?


      Minh Thúc đắc ý kể cho chúng tôi biết, khi vừa được sinh ra, bố mẹ A Hương đem bé bỏ vào trong lồng kính có thiết bị làm sạch khí hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài, cho đến tận năm bé hai mươi tuổi mới thôi. Làm như vậy là để tránh cho phải chịu ô nhiễm và ảnh hưởng của khí, khiến hệ thần kinh của bé trở nên hết sức mẫn cảm, có thể cảm nhận được số thứ mà người bình thường thể nhận biết.


      Về sau A Hương trở thành trẻ mồ côi, Minh Thúc liền nhận bé về nuôi. A Hương cứu mạng lão ta chỉ lần, cho nên được lão nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, đặc biết là khi tiếp xúc mới những thứ khí nặng nề như quan tài, xác khô, lão ta toàn phải mang theo mình. Shirley Dương đứng bên cạnh bảo tôi, lão này bừa đâu, ở Mỹ có giáo phái, người trong phát đều hành như vậy. bé tên A Hương này có lẽ giúp được chúng ta, nhưng mà tốt nhất đừng đưa Tây Tạng, người có sức khỏe tốt còn cảm thấy khó chịu trước phản ứng cao nguyên, A Hương mỏng manh như vậy, chỉ e xảy ra việc ngoài ý muốn.


      Minh Thúc muốn đưa ai cùng, tôi quả thực chẳng có cách nào can thiệp, bèn giọng với Shirley, xem ra lão dốc hết cả vốn liếng vào vụ khai quật Băng xuyên thủy tinh thi lần này, lại đem tính mạng của cả gia đình ra đanh cược, ý muốn nhất định phải thành công rồi. Có khuyên chắc cũng được đâu, dẫu lời lẽ có hay đến mấy cũng khó mà lay chuyển được kẻ cố chấp, ta gắng chăm lo cho họ chút, cứ tận lực mà làm, cuối cùng sống hay chết, liệu có vác được Băng xuyên thủy tinh thi hay , đành trông chờ vào số mệnh của họ thôi.


      Sau cùng lão giới thiệu cho chúng tôi vệ sĩ của lão ta, Peter Hoàng, người Campuchia gốc Hoa. Trong những năm chiến tranh ở Campuchia, gã ta lưu lạc từ vung Tam Giác Vàng đến khu vực Malacca làm hải tặc. Về sau gặp bão, được Minh Thúc cứu về, từ đó gã liền làm vệ sĩ riêng cho lão. Trông dáng vẻ gã chừng hơn bốn mươi tuổi, da rất đen, mặt lạnh như tiền, ánh mắt dữ tợn, nhìn là biết chẳng phải hạng hiền lành lương thiện gì. Nổi bật nhất là thể hình, hoàn toàn khác với dáng vẻ gầy nhỏng của người Đông Nam Á, trông gã ta vạm vỡ vô cùng, như cái thùng sắt di động vậy.


      Tuyền béo vừa nhìn thấy Peter Hoàng khoái chi, với Minh Thúc: "Tên mà chẳng giống người tí nào, sao gọi là Peter Hắc nhỉ? Mà có bọn tôi theo tháp tùng bác còn lo cái lỗi gì, chẳng cần đến vệ sĩ, sợi lông cũng mất của bác đâu."


      Minh Thúc : "Cái thằng béo cậu chỉ thích đùa, ta họ Hoàng, sao lại gọi là Peter Hắc được? Mà các chú chớ có coi thường, con người này đối với đây mức trung thành, hết sức đáng tin cậy, vả lại từng tham gia chiến tranh , giết người chớp mắt."


      Tuyền béo với lão: "Cho ta mau về vườn thôi, mấy ngón võ của hội du kích ấy đáng kể gì, đồng chí Hồ Bát Nhất của chúng tôi đây, năm xưa còn chỉ huy cả tiểu đoàn quân chính quy, còn cả tôi nữa, bác nghe đến tích của Tuyền béo này chưa? Thành viên chủ chốt của quân cộng hòa Bắc Ireland, năm xưa tôi ở... "


      Tôi vội ngắt lời Tuyền béo, để cậu ta tiếp tục ba hoa bốc phét, rồi với Minh Thúc, thành viên và lộ trình đều xác định rồi, vậy mỗi người chúng ta chia nhau ra chuẩn bị thôi, hội nhà bác phải bệnh viện kiểm tra sức khỏe xem sao, nếu vấn đề gì sau năm ngày nữa ta khởi hành.


      Minh Thúc OK, lộ trình và trang thiết bị đều do chú Nhất đây toàn quyền phụ trách, chú bảo xuất phát lúc nào xuất phát lúc ấy, suy cho cùng trong đoàn chúng ta, chỉ có chú am hiểu đất Tạng nhất thôi.


      Tôi dẫn bọn Tuyền béo tạm biệt ra về. Ngay sau khi về nhà, tôi liền thu dọn đồ đạc, chuẩn bị mình Tây Tạng trước, tới ven hồ Lhamo Lhatso tìm Thiết bổng Lạt ma, nhờ ông tìm giúp hướng dẫn viên hiểu phong tục và môi trường địa lý Tây Tạng, tốt nhất là người hát sử thi thiên bẩm, nếu thể tìm được người kiêm được cả hai việc ấy, tìm ha người cũng được.


      Tôi giao phó nhiệm vụ dẫn đoàn vào đất Tạng cho Shirley Dương. nàng tuy chưa lên cao nguyên Thanh Tạng bao giờ, nhưng từng thám hiểm ở những vùng có môi trường tự nhiên khắc nhiệt như Sahara, Taklamakan, rừng Amazon... , tố chất tâm lý vững và kinh nghiệm đều có vấn đề gì cả. Chúng tôi bàn bạc suốt hồi, quyết định Shirley Dương dần đoàn tới sông Sư Tuyền họp mặt với tôi. Cố gắng mang vác gọn , những trang thiết bị hỗ trợ tạm thời để lại Bắc Kinh cho Răng Vàng trông coi, khi nào tìm ra manh mối tháp mộ trong di tích Cổ Cách giữa hai ngọn Kangrinpoche và Sengezangbu, Răng Vàng phụ trách vận chuyển các thứ ấy tới địa điểm chỉ định.


      Sau khi trở về từ Vân Nam, Shirley Dương trông gầy , mắt gợn những vân đỏ. Trong thời gian này, chúng tôi đều lao tâm khổ tứ, lại vất vả, vừa từ Vân Nam về lâu, giờ lại Tây Tạng, người thường thực khó mà chịu nổi. Tôi khuyên Shirley Dương cần phải lo lắng quá, Tây Tạng nguy hiểm lắm, trang thủ mấy ngày trước khi lên đường nghỉ ngơi cho khỏe, sớm muộn thời gian cũng trả lời cho chúng ta thôi.


      Shirley Dương : "Tôi lo việc Tây Tạng có nguy hiểm hay , cái chính là mấy ngày nay tôi phân vân, sau khi kết thúc vụ Quỷ động đáy đâu làm gì, mà muốn tiếp tục làm cái nghề đổ đấu tôi tuyệt đối bằng lòng đâu, nghề này quá nguy hiểm. Nhất ạ, cũng nên lo nghĩ việc sau này , chúng ta cùng quay về Mỹ được ?" Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi Mỹ thú vị gì đâu, lại chẳng biết tiếng, mùi vị của cà phê pha cũng na ná như mùi thuốc bắc, bắt tôi ngày nào cũng uống tôi xin chịu. Song nếu cứ bắt tôi bằng được tôi cũng hết cách, thôi cứ thử mấy năm xem sao , nếu thấy quen tôi về, điều tôi đau đầu nhất là Tuyền béo, chẳng biết phải làm thế nào, bỏ mặc cậu ta mình ở lại Bắc Kinh, chắc chắn chuốc vạ vào thân.


      Tuyền béo xen vào: "Tôi bảo này Nhất ạ, cậu thế nào ấy nhỉ, cứ làm như cậu giác ngộ hơn tôi nhiều lắm ấy, vạ cậu chuốc vào còn nhiều hơn tôi nhiều, về điểm này, cậu cần khiêm tốn đâu. Hai người Mỹ, chẳng lẽ tôi lại ? Chúng ta đến địa bàn của tham mưu trưởng Shirley, chẳng lẽ ấy lại nỡ cho được con xe hay sao, tôi thấy con xe của gã cảnh sát trưởng Hunter rất ổn, chắc là Mercedes Benz hả. Tôi nào có cầu cao gì đâu, lái con Benz đấy là được rồi, Detroit, San Francisco, eo biển Đông Tây gì ta cũng cho mở mắt, hợp tác cùng giai cấp vô sản ở Mỹ, đại đoàn kết nhân dân thế giới muôn năm!"


      Tôi với Tuyền béo: "Cảnh sát Mỹ xe Đức, đến điều này còn chẳng biết, với cái tố chất của cậu, cậu Mỹ có khác nào gây thêm phiền nhiễu cho nhân dân Mỹ chứ?"


      Ba người chúng tôi bàn tán trêu chọc nhau hồi, tâm lý cũng thoải mái lên nhiều.


      Ngày hôm sau tôi mình khăn gói Tây Tạng trước.


      Ở Trung Nam bộ Tây Tạng, giữa dãy Himalaya và Nyenchen Tanglha có rất nhiều hồ to chi chit, số lượng phải đến hàng nghìn, chỉ cần hơi lớn chút đều được người dân Tạng coi là hồ thần, nếu cạnh hồ còn có núi tuyết, vậy càng thần thánh hơn nữa. Trong tên của những hồ này, đều có chữ "co", tương đối nổi tiếng có hồ Ngangla Ringco, hồ Tangra Yumco, hồ Namco, hồ Dagze Namco vân vân, nhiều kể xiết, mỗi hồ đều có vô số những câu chuyện truyền thuyết thần kỳ, hồ Tiên Nữ mà ông bạn già Thiết bổng Lạt ma của tôi trú ngụ, chính là trong những hồ này.


      Xuống xe ở Hese, hướng Nam còn đường , chỉ có thể bộ hành, hoặc bỏ tiền thuê ngựa của dân du mục mà cưỡi. Nơi đây phải vùng núi, nhưng độ cao so với mặt nước biển cũng gần bốn nghìn năm trăm mét, nhờ dân du mục dẫn đường, tôi ngừng về phía Nam, đến nơi phân nhánh của dòng Bocang zangbo. Trong tiếng Tạng "zangbo" có nghĩa là sông.


      Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi tiến sâu vào trung tâm đất Tạng, ánh nắng cao nguyên khiến người ta chóng mặt, trời xanh đến nỗi như sắp rỏ nước xuống. Hướng dẫn viên kiêm chủ ngựa tôi thuê là người dân tộc Tạng trẻ tuổi, tên là Vượng Đôi. Vượng Đôi đưa tôi tới vùng đất cao, chỉ xuống hai cái hồ lớn xanh như ngọc bích, : "Cái hồ to bên trái, là hồ Yongma zhozhaco, hồ Long Cung; còn hồ bên phải, hơn chút, là hồ Tiên Nữ Lửng Lơ Bên Trời."


      Bấy giờ bầu trời sáng trong, nước hồ xanh ngắt, song biếc lăn tăn in bóng núi tuyết, ráng mây, quanh hồ còn thấp thoáng dáng dấp những rặng núi xa. Qua cuốn Đại Đường Tây Vực ký, có thể thấy cao tăng Đường Huyền Trang hết sức xúc động trước cảnh đẹp này, ông gọi hai khoảnh hồ nhìn sát nhau này là "Tây Thiên Dao Trì song bích".


      Súc vật do con người nuôi dưỡng được vào thánh địa, tôi và Vượng Đôi tìm chỗ dốc bộ đến bên hồ. Vượng Đôi bảo tôi ở đây có truyền thuyết, kể rằng dưới đáy hồ có cung điện của Quang tài Long vương, chất chưa vô số châu báu quý hiếm, người có duyên chỉ cần vòng quanh hồ, nhặt con cá , viên đá , hoặc chỉ cần sơi lông của con chim nước nào đó trong hồ, là có thể được Quảng tài Long vương ban phước, cả đời tiền của dồi dào. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Những những kẻ hành hương đến chốn thánh địa này đều thích vòng quanh hồ Tiên Nữ hơn, bởi tương truyền dòng nước xanh biếc trong hồ là nước mắt của tiên nữ, những có thể làm tiêu tan mọi vết nhơ nhuốc, bệnh tật nơi người trần, mà còn có thể gội sạch làm tham sân si, đố kị, khiến tâm hồn con người trở nên thuần khiết. Rặng núi tuyết đối diện với hai khoảnh hồ chính là tượng trưng cho quảng đại vô biên của Phật pháp.


      Tôi với Vượng Đôi, chúng ta hãy tới gội sạch tâm hồn trước , dạo quanh hồ Tiên Nữ vòng, tiện thể tìm Thiết bổng Lạt ma trong số những tín đồ dạo quanh hồ. Hai người cất bước men theo bờ hồ, chúng tôi có ý đến chốn thánh địa này chầu bái, cho nên cần phải bước, rập đầu lần. ven hồ, chốc chốc lại có thể nhìn thấy hài cốt của những tín đồ kiền thành, họ hòa lẫn cơ thể mình vào vùng đất thánh.


      Từ phía xa, dáng người lom khom xuất trong tầm mắt của chúng tôi. Nhìn chiếc thiết bổng hộ pháp màu đen nổi bật phía sau lưng liền có thể đoán ngay được người ấy là ai, song cử chỉ của ông lúc này rất kỳ cục, ràng phải nghi thức vòng quanh hồ mà chúng tôi vẫn thấy, ngay cả người Tạng như Vượng Đôi cũng chưa từng thấy động tác như thế, dường như ông tiến hành nghi thức cổ xưa thần bí nào đó vậy.


      vòng quanh núi hoặc quanh hồ, là phương thức sùng bái có ai trong cuộc sống ở vùng nóc nhà thế giới đặc thù này, là dạng tín ngưỡng sùng bái tự nhiên cho rằng vạn vật hữu linh, và là hình thức biểu có tính kế thừa từ tôn giáo nguyên thủy của dân tộc Tạng. Động tác thông thường có thể phân làm hai dạng, dạng thứ nhất phổ thông nhất, là bách bộ; dạng thứ hai kiền thành hơn, hai tay đeo tấm gỗ, giơ cao quá đầu, sau đó thu về trước ngực, toàn thân đổ xuống, trán chạm đất, rạp người vái lạy, dùng cơ thể mình đo từng chút chiều dài của núi thần hồ thánh, mỗi vòng quanh, tội nghiệt được tiêu trừ, công đức được tích lũy, nếu như chết đường quanh hồ, đó cũng là thuận theo tạo hóa.


      Cử chỉ của Thiết bổng Lạt ma giống như quanh hồ, mà khiến tôi nhớ đến động tác nhảy đồng vùng Đông Bắc. Hồi còn cải tạo ở Nội Mông, mấy trò lên đồng của bà cốt hay saman tôi đều thấy, phải chăng lạt ma tiến hành nghi thức đuổi tà? Nhưng ở chốn đất thánh này làm gì có tà ma? Nghĩ đến đây tôi liền rảo bước tiến lên.


      Thiết bổng Lạt mà cũng nhận ra tôi, liền ngừng động tác, bước lại gặp mặt. Xa nhau hơn mười năm, lạt ma dường như mấy thay đổi, chỉ là quần áo cũ kỹ hơn. Tôi kể với lạt ma tình hình tại của hai chiến hữu. Ông nghe xong liền cảm khái nguôi: "Phàm người đụng độ với ma trong mộ, có thể sống sót là Phật tổ khai ân rồi, mong rằng trong những năm ta còn sống, có thể tích góp nhiều công đức ở bên hồ, cầu phúc cho bọn họ."


      Mấy năm gần đây lạt ma hề rời khỏi hồ Lamlaco, hàng ngày đều quanh hồ tụng kinh, cơm ăn áo mặc đều cậy nhờ những tín đồ tới ven hồ chầu bái bố thí cho. Kỳ thực những tín đồ hành hương tới đây chầu bái, đường cũng nhận của bố thí, bố thí các thánh đồ cũng là cách tích góp công đức.


      Tôi hỏi vừa nãy lạt ma làm gì, Thiết bổng Lạt ma liền kể lại ngọn nguồn, ra ông cầu xin ý chỉ của đức Dược Vương Bồ Tát. Bởi vì có hai tên săn trộm từ nội địa đến đây săn, song hai người này đều là lính mới,, rình năm ngày liền cũng chẳng thấy có con vật nào ra hồn, cuối cùng bắt gặp con thú xưa nay chưa từng thấy, liền nổ súng bắt chết ngay tại trận, tranh thủ lúc nó còn tươi, lột da luộc lên ăn.


      Sau khi ăn xong, hai kẻ đó lập tức đau bụng, lăn lộn ra đất, khi người Tạng phát ra mép sùi bọt trắng, bất tỉnh nhân rồi. Nơi đây vốn dĩ có bệnh viện gì, chỉ có Dược sư Lạt ma trong chùa Tây Tạng phụ trách khám bệnh cho người dân, Thiết bổng Lạt ma tuy là lạt ma hộ pháp, nhưng thời trẻ từng giữ chức Dược sư Lạt ma, thường xuyên chữa bệnh cho dân chúng cùng kẻ đến chầu bái ven hồ, cho nên người dân Tây Tạng mới thỉnh ông đến cứu người.


      Thiết bổng Lạt ma nghe là bọn săn trộm, vốn định để mặc, nhưng đức Phật từ bi, thấy người sắp chết thể cứu, bèn nhận lời, dặn dò người dân đưa hai kẻ đó đến đây, đồng thời tụng niệm thần chú "Cam chu nhĩ" cầu xin đức Dược Vương Bồ Tát chỉ cho phương pháp cứu người.


      Chúng tôi chuyện, sáu người dân Tạng cõng hai tên săn trộm tới. Lạt ma lệnh cho đặt hai kẻ đó nằm thẳng xuống đất, chỉ thấy hai người mặt vàng như nghệ, hơi thở thoi thóp, khóe miệng ngừng sùi ra bọt trắng, bụng trướng to kềnh. Theo tôi triệu chứng này lấy gì làm lạ, thường khi ăn phải đồ bẩn, hoặc ngộ độc thực phẩm ác tính đều có phản ứng như vậy, tình trạng hết sức nguy hiểm, cần phải đưa vào viện cấp cứu ngay, biết mất viên thuốc Tây Tạng của Thiết bổng Lạt ma liệu có chữa trị được cho họ hay .


      Lạt ma xem xét chứng trạng của hai người này, lập tức cau mày, với người dân bản địa: " kẻ ăn quá nhiều, cứu được nữa, kẻ còn lại cứu được, các người ra ven hồ thánh, tìm lấy ít vảy xác cá thối rữa về đây!"


      Người dân liền theo lời dặn của lạt ma, chia nhau ra ven hồ tìm kiếm. Khi ấy, bọt mép trắng phớ sùi ra trong mồm trong hai tên săn trộm chuyển sang màu đỏ tía, chỉ trong chốc lát tắt thở. Lạt ma vội nhờ hai chúng tôi cạy miệng của tên còn lại ra, đổ thuốc và nước vào cho nuốt xuống. Người đó thần trí hoảng hốt, gắng gượng cũng chỉ uống được nửa.


      Loại thuốc Tạng này có hiệu quả kỳ diệu là giữ lấy mạng sống cho người ta, sau khi uống lập tức nôn thốc nôn tháo, miệng hộc ra toàn nước đen. Tên săn trộm vừa được cứu sống, tuy ruột vẫn đau như cắt, nhưng ý chí hồi phục, lạt ma liền hỏi rốt cuộc ăn phải thức gì.


      Tên săn trộm kể cùng với tên đồng bọn chết kia, ở trong nội địa nghe là tới Tây Tạng săn bắt, chỉ cần đem bán bộ da thú thôi cũng kiếm được khối tiền, thế nên đầu óc mụ mị cả , cũng muốn đến kiếm lấy món hời. Song hai tên đều có kinh nghiệm, những chỗ người muôn thú nhiều lại dám mạo hiểm tiến vào, đành loanh quanh dưới chân núi tuyết đợi vận may, bắn được con gấu ngựa Tây Tạng cũng tốt.


      Cứ như vậy năm ngày trời mà chẳng săn bắt được gì, ngược lại lương khô mang theo ăn hết cả, đành chuẩn bị khăn gói quay về. Nào ngờ vừa định rời , liền thấy con mèo rừng màu đen, cỡ như con sơn dương, trông rất xấu xí, lại chẳng hề sợ người, đến nối lúc đầu cứ lầm là con báo. Hai người cậy sung đạn nhạy bén, bắn liền mấy phát, giết con vật tại chỗ. Đúng lúc bụng đói cồn cào, liền mặc xác thịt mèo có ngon , cứ lột da, bắc nồi luộc ăn nửa con, thớ thịt thô dày, có luộc thế nào cũng chín nổi, cho nên đành phải ăn thịt tái.


      Tên săn trộm nước mắt nước mũi đầm đìa, rằng hai em, tuy nhất thời có ác niệm, muốn săn trộm kiếm tiền, nhưng suy cho cũng ngoài con mèo đen này ra cũng chưa săn được con vật nào khác, cầu xin lạt ma phát lòng từ bi, cứu lấy tính mạng, sau này nhất định sửa sai, làm lại từ đầu. câu được câu mất kể lại tình, cơn đau bụng dữ dội lại ập đến, lần nữa lại lịm trong cơn sống dở chết dở.


      Tôi còn nhớ hồi ở núi Côn Luân có nghe được truyền thuyết của đất Tạng, con mèo rừng lớn màu đen ấy phải là mèo, mà là linh hồn của người vừa chết hóa thành, đương nhiên thể ăn được. Tôi hỏi lạt ma xem phải làm thế nào, liệu người này có cứu được ?


      Lạt ma : "Thứ họ ăn phải chừng là loài chuột xạ tuyết. Loài này có thể ăn được, nhưng họ ăn nó sớm quá. Người Tạng bao giờ ăn động vật giết trong ngày hôm ấy, bởi vì linh hồn của chúng còn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi xác, ăn vào có kết cục tốt. Ta trước kia hầu hạ Phật sống, từng học được mật phương, còn như có hiệu nghiệm hay , phải xem số mệnh của họ thế nào nữa."


      Những người tới ven hồ tìm vảy cá chết lục tục quay lại, gộp vào ước chừng cũng được vốc lớn. Thiết bổng Lạt ma đen vảy cá rải quanh người bệnh, rồi tìm lấy đoạn gỗ tước đốt cháy ra tro, rồi quấy với vảy cá mục ruỗng thối hoắc, cho tên săn trộm ăn.


      Sau loạt những động tác kỳ quặc, tên săn trộm lại lần nữa nôn ồng ộc ra. Lần này dữ dội hơn lần trước, tất cả mọi thứ trong bụng đều nôn ra cho bằng sạch, đến tận khi nôn ra chỉ toàn là nước trắng, lạt ma mới cho uống thuốc chống nôn.


      Lạt ma xem thứ ô uế tên săn trộm nôn ra, bảo rằng mạng coi như giữ lại được rồi, song cả đời này được ăn thịt nữa, hễ ăn thịt ắt nôn ọe ngừng. Tôi lách người vào nhìn, thấy trong bãi nôn to tướng kia hình như có thứ gì đó động đậy, nhìn kỹ lúc, thấy giống như đống chuột con có lông.


      Tên săn trộm quỳ sụp xuống khấu tạ ơn cứu mạng, rồi hỏi lạt ma liệu có thể chôn xác người em của bên bờ hồ hay . Lạt ma tuyệt đối được, người dân tộc Tạng cho rằng chỉ có tội đồ mới phải chôn vào đất, linh hồn bị chôn trong đất vĩnh viễn thể giải thoát. Ban ngày mặt trời chiếu rọi, linh hồn cảm thấy như bị luộc trong chảo nóng; ban đêm ánh trăng soi tỏa, cảm thấy như rơi xuống hố băng, lạnh lẽo vô cùng; nếu như trời mưa, cảm thấy như có vạn mũi tên xuyên thấu tim gan; lúc trời nổi gió, lại cảm thấy như có nghìn con dao đẽo xương róc thịt, nổi khổ ấy thực là khôn tả. ngọn núi cách bờ hồ xa, có mười tám đài thiên táng, cứ đặt thi thể ở đó, cho linh hồn được giải thoát !


      Tên săn trộm bằng lòng làm vậy, dẫu sao cũng khác xa so với phong tục trong lục địa quê . Lạt ma giải thích, ở Tây Tạng, tất cả mọi cách xử lý xác chết, ngoài thổ táng ra, cách nào cũng thịnh hành cả, nhưng vì thiếu chất đốt để hỏa táng, cho nên thông thường người ta đều vác xác chết đặt đài thiên táng ở đỉnh núi, rồi lóc thịt ra vứt cho chim thú chia nhau, nếu người chết chết bở bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nào đó, thổ táng cũng chỉ là trường hợp cá biệt.


      Cuối cùng tên săn trộm cũng bị lạt ma thuyết phục, thôi coi như nhập gia tùy tụng vậy. Được mấy người dân Tạng giúp đỡ, xác chết của tên đồng bọn được đưa lên đài thiên táng đỉnh núi. Tôi thấy hành lý của hơi dài hơn bình thường, bên trong chắc chắn có vũ khí đạn dược. Lần Tây Tạng này chúng tôi còn chưa chuẩn bị vũ khí, giờ có cơ hội đương nhiên thể bỏ lỡ, liền níu tên săn trộm lại, bàn chuyện mua lại hành lý.


      Tên săn trộm bảo tôi, hai cây súng này mua lại của thợ săn ở Thanh Hải, sau khi sử lý xác chết của đồng bọn xong, về quên sông an phận thủ thường, giữ súng cũng chẳng có tác dụng gì, tôi là bạn của Thiết bổng Lạt ma, súng này xin tặng lại, coi như chút tâm ý đáp tạ ơn cứu mạng.


      Tôi xem thử hai cây súng trong bao, ra là loại súng săn bắn đạn chùm, hiệu Remington, kiểu dáng hơi cũ chút, loại 870, đường kính nòng 12mm chuyên trang bị cho xe cảnh sát này là sản phẩm của thập niên 50, song được bảo dưỡng rất tốt, chẳng trách con chuột xa nhanh nhẹn như thế mà vẫn bị bắn chết. Ngoài ra còn có hơn 70 viên đạn, chia ra đựng trong hai túi đeo chéo. Trong vòng bán kính 15 mét loại súng này có uy lực khủng khiếp, song dùng để săn xem chừng thích hợp cho lắm, công kích mục tiêu ở cự ly xa vẫn phải dùng loại vũ khí có tầm bắn dài như súng trường mới được, súng này có thể dùng phòng khi cận chiến.


      Sau cùng tôi vẫn nhét tiền vào tay tên săn trộm, súng, đạn cho tới hành lý đóng gói, tôi đều giữ cả lại

    2. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.4 - Chương 7: HANG PHẬT LUÂN HỒI





      Đợi sau khi những kẻ nhàn rỗi giải tán, tôi mới trình bày mục đích đến đây, bảo rằng muốn tìm cổ mộ của Tà thần Ma quốc, mong lạt ma Ake giới thiệu cho đoàn thám hiểm chúng tôi người hát sử thi kiêm hướng dẫn am hiểu Ma quốc và lịch sử của nước ấy.


      Thiết bổng Lạt ma rằng khai quật mồ mả vốn là việc làm tổn hại lẽ trời, song khai quật mộ cổ của Ma quốc khác. Trong mộ của Ma quốc có yểm ma, đố là uy hiếm to lớn đối với dân chúng, trong lịch sử từng có rất nhiều vị cao tăng đạo hành cao thâm, đều muốn trừ ma diệt , san bằng tất cả cổ mộ của Ma quốc, tiêu trừ cái họa Tà thần quay lại nhân gian, nhưng khổ nỗi lại có bất kỳ manh mối nào, giờ các cậu lại chịu tìm, đó là việc thiện, công qua vô lường vậy. Những người hát sử thi am hiểu các chuyện xưa tích cũ của đất Tạng này, đều do trời phú, chứ có chuyện con nối cha, trò học nối thầy đâu, đa phần đều là sau khi trải qua cơn bệnh nặng hoặc sau khi ngủ dậy đột nhiên có thể xướng tụng những bài thơ hàng mấy trăm vạn chữ. Trước khi xuất gia, ta cũng chính là người được trời phú cho khả năng ấy, song gần ba chục năm hát xướng lại rồi, những áng thơ về Thế giới Chế địch Bảo châu Hùng sư Đại vương, rồi cả về Chuyển sinh Ngọc nhãn nữa, ôi chao... sắp quên hết cả rồi.


      Thiết bổng Lạt ma lập tức quyết định cùng chúng tôi phá hủy mộ phần của vua Ma quốc. Chẳng gì cũng thân là Thiết bổng hộ pháp của Phật sống, diệt trừ tà ma đương nhiên là việc lớn hàng đầu. Tuy hơn ba mươi năm nay còn ngâm hát những áng thơ về Chế địch Bảo châu vương, song khả năng trời phú này phải là từ học tập mà có được, cố gắng hồi tưởng lại, ông vẫn có thể nhớ ra nhiều điều.


      Tôi lo lạt ma tuổi tác cao, dẫu gì cũng sáu mươi tuổi rồi, so với ngày xưa được. Cứ theo manh mối trong kinh văn, tòa tháp mà thờ Băng xuyên thủy tinh thi nằm tít đỉnh núi tuyết, vạn nhất lạt ma gặp phải việc gì bất trắc biết làm thế nào. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Thiết bổng Lạt ma : "Ta quanh hồ cầu khấn rất nhiều, vậy mà bệnh tình của Cơ Ma vẫn chưa thuyên giảm, hy vọng lần này có thể làm được việc có công đức lớn, đưa linh hồn của Cơ Ma từ phủ trở về (người Tạng cho rằng việc con người mất thần trí là do họ mắc phải chứng ly hồn), sau khi việc xong xuôi, còn phải tiếp tục quay về vòng quanh hồ cầu nguyện. Người tu hành có cách nhìn về cái chết và nhân sinh hoàn toàn khác người thường, chết trong lúc thi hành công đức ắt được vãng sinh chốn cực lạc."


      Tôi thấy lạt ma quyết chí muốn , cũng cảm thấy khó có được cơ duyên này, ông là người am tường phong tục Tây Tạng, lại nắm y lý Mật tông, có ông chỉ dẫn giúp đỡ, nhất định có thể đẩy mạnh tiến độ công việc. Vậy là chúng tôi sắp xếp thu dọn hồi, vẫn để Vượng Đôi dẫn đoàn, tới cực Tây của đất Tạng là vùng A Lý dưới chân núi Himalaya.


      Chúng tôi cùng bọn Tuyền béo, Minh Thúc hội quân ở Semge zangbo, bọn họ cũng vừa mới đến chưa được bao lâu. Tôi điểm lại quân số, thấy hình như có nhiều hơn người, ngoài bốn người tôi, Tuyền béo, Shirley Dương và Thiết bổng Lạt ma ra, bên phía Minh Thúc có Peter Hoàng, Hàn Thục Na, A Hương, ra cả thằng A Đông chạy xe cho Minh Thúc cũng theo đến.


      Tôi hỏi Tuyền béo sao A Đông cũng theo đến đây. Tuyền béo bảo thằng ranh A Đông ngày thường vẫn làm chân lon ton cho Minh Thúc, lần này biết lão đánh vụ lớn, cho nên cả ngày lẻo nhẻo van lơn lão cho cùng. Sau nữa lại chạy ra cầu xin chỗ Răng Vàng, nhờ đỡ vài câu. Răng Vàng nhận hối lộ xong xuôi, liền rỉ tai Minh Thúc, rằng nơi thấp nhất ở Tây Tạng cũng phải bốn nghìn mét so với mặt nước biển, cần đem theo người mang vác cung cấp bình dưỡng khí mới ổn, đấy, chẳng phải A Đông vác bình dưỡng khí cho họ còn gì.


      Tôi nghĩ bụng lần này đúng là nhốn nha nhốn nháo bỏ mẹ, người càng lúc càng đông, còn chưa tới vương thành Cổ Cách mà chín người rồi, những cũng chẳng có cách nào khác, khi tìm thấy manh mối về vùng đất chuyển sinh của Ma quốc trong lầu ma chín tầng phải chia nhau ra mà hành động, thể cứ túm năm tụm ba vào chỗ được.


      Bấy giờ vẫn chưa có đường thông tới di tích Cổ Cách, tôi đành nhờ Vượng Đôi thuê mấy con bò Yak, để mấy người bị phản ứng cao nguyên tương đối nặng cưỡi , cũng may có đồ đạc gì nặng. Chúng tôi nghỉ ngơi hai ngày tại thị trấn chỉ hơn trăm hộ gia đình bên dòng Semge zangbo, sau đó khởi hành tiến về di tích vương thành tìm kiếm mắt bạc Cổ Cách.


      Dọc đường hết sức hoang liêu, có bất kỳ hộ dân nào, chỉ có những vạt cỏ vàng thưa thớt rải rác cát, có gió, nhìn lên bầu , màu xanh ngợp mắt, choáng ngợp khiến cả đất khô, cỏ dại đường cũng trở nên chói nhức. Những dãy núi bang bạc ở phía xa cũng trở nên nguy ngại đến quái gở, khiến người ra chẳng dám nhìn lâu.


      Tốc độ cảu chúng tôi nhanh, tôi dắt bò cho lạt ma, còn ông ngồi lưng bò kể cho tôi nghe những áng sử thi năm xưa ông được trờ phú cho, nội dung toàn là những trận chiến kinh hồn bạt vía, tướng đến binh .


      Lúc này bên đường xuất số cột gỗ nhô lên từ mặt đất, Shirley Dương những vật này trông chừng hơi giống di chỉ mộ cổ. Thoạt nghe đến mộ cổ, ngay cả Minh Thúc vốn nằm vắt lưng bò hít thở còn khó khăn cũng thấy hồ hởi, ngóng cổ nhìn ra bên đường.


      Tay hướng đạo rằng những cổ mộ này bỏ hoang lâu, bên tring chẳng còn thứ gì nữa rồi. Các vị chớ thấy nơi đây hoang liêu heo hút, kỳ thực chừng vào khoảng thời Đường, chỗ này từng mọc đầy cả rừng cây kỳ liên viên bách đó 1. Kết cấu của cổ mộ đều dùng nguyên cả cây này mà ghép thành. Đây là loại cây quái dị thích khô cằn, ưa ẩm ướt, chỉ có núi mạn giao nhau giữa Thanh Hải và Tây Tạng. Về sau Thổ Phồn xảy ra nổi loạn, những ngôi mộ này đều bị hủy hoại hết, chỉ có di tích là còn giữ lại được cho tới ngày nay.


      Qua bãi tha ma hoang phế này, lại chừng ngày đường, mới tới được thành cổ. Nơi đây được phát lâu, ngoài lượng lớn bích họa, tượng điêu khắc ra, chỉ còn lại đống đổ nát của thành phố cổ, bấy giờ chưa được chính quyền khu tự trị coi trọng, cũng chưa có cửa sắt rào quanh, chưa có người canh giữ như mấy năm sau này. Khi ấy, cũng chẳng có ai vượt ngàn dặm xa xôi tới tham quan cả.


      Chúng tôi đứng núi nhìn xuống, sườn núi cách đỉnh núi chừng hơn ba trăm mét, khắp nơi đều là những quần thể kiến trúc và hang động màu đất bùn. Ngoài ngôi chùa có kết cấu tương đối vững chắc ra, những ngôi nhà dân còn lại đều sụp đổ, có căn chỉ còn trơ lại chút tường đất, vòng phía ngoài có di tích tường thành và lầu đá. Cả tòa vương thành được xây dựa vào núi, nơi cao nhất là cung vua đỉnh núi, tầng giữa là chùa chiền, dưới chân núi là nhà dân và các kiến trúc mang tính phòng ngự ở ngoại vi.


      Tôi với Minh Thúc: "Di tích Cổ Cách cũng lớn lắm, nhưng ở đây có hàng trăm căn nhà dân và hang động thế này, chúng ta cũng mất thời gian tìm kiếm đấy. Mắt bạc Cổ Cách mà bác cụ thể là ở đâu, chúng ta cứ theo mục tiêu trực tiếp tìm là được."


      Vì bị phản ứng cao nguyên, tư duy của Minh Thúc trở nên vô cùng trì độn, lão nghĩ mãi mới nhớ ra, đại khái là ở trong chùa miếu, chứ phải trong cung vua. Dựa theo ghi chép trong kinh sách, nơi đây hình như có ngôi miếu Luân Hồi, mắt bạc Cổ Cách chắc là ở chỗ đó.


      Trong đống đổ nát của vương thành, có mấy ngôi chùa vẫn đứng sừng sững, thoạt nhìn qua là có thể biết ngay, dĩ nhiên trong đó có cả di tích của chùa miếu Hồng giáo, chùa miếu Bạch giáo, miếu Luân Hồi, nhưng cái này là cái nào chúng tôi phân biệt nổi, đành thỉnh giáo Thiết bổng Lạt ma. Nhìn bên ngoài, lạt ma đương nhiên có thể nhận ra đâu là miếu Luân Hồi, đoạn liền chỉ phương hướng, qua thần điện hộ pháp, di tích ngôi miếu có mấy cây trụ đổ phía đằng sau, đó chính là miếu Luân Hồi thờ mắt bạc Cổ Cách.


      Những từ những năm 30 đầu thế kỷ có nhà thám hiểm tìm đến nơi đây, chưa từng nghe có nguy hiểm gì, song để cho an toàn, tôi vẫn phát cho Tuyền béo khẩu Remington, tôi giữ khẩu, dẫn cả đoàn vòng qua mấy lớp tường đất, leo lên lưng chừng núi. Trong đống phế tích này, hầu như chẳng có căn nhà nào còn nguyên vẹn, nếu chỉ là khí hậu khô nóng thôi chẳng làm gì, đằng này vào mùa mưa, nơi đây cũng mưa như trút. Năm này qua năm khác bị phong hóa xâm thực, chất đất xưa từng rắn xốp nay lại trở nên vụn mủn, hễ có ngoại lực tác động vào, liền biến ngay thành đống bụi. Những phần tường đổ nát nhô ra đều bị mài mòn cả, thành phố từng thời tràn đầy sức sống, bị tự nhiên thầm hủy hoại.


      Chúng tôi sợ bị trụ tường trong các căn nhà sụt lở đổ vào người, cho nên cố gắng vòng qua những nơi rộng thoáng. Minh Thúc và mụ vợ thôi cũng gắng gượng được, chứ còn A Hương gầy yếu thể chịu đựng được hơn, nếu tiếp tục leo lên cao nữa chắc chắn nguy hiểm đến tính mạng, lão đành bảo Peter Hoàng ở lại dưới núi chăm nom , những người con lại tiếp tục tiến lên, khi leo tới thần điện hộ pháp, hầu hết mọi người đều thở hồng hộc.


      Tôi vốn dĩ cũng thích ứng với khí loãng ở đây, nhưng lúc dựa vào tường nghỉ ngơi, trông thấy những bức bích họa trong điện, hơi thở liền lập tức trở nên nặng nề. Tuyền béo vừa thở hổn hển vừa : "Nhất này, ngờ ở đây lại là chốn có nền văn mình tinh thần phong phú đến thế này. Nếu mà đắm đuối xem những loại tranh này ở Bắc Kinh, thế nào cũng bị bắt giam cho mà xem."


      Các bức bích họa ở đây đều vẽ nam nữ quấn lấy nhau theo kiểu Mật tông, bút pháp mạnh mẽ, màu sắc mãnh liệt, khiến ai nhìn cũng thấy đỏ mặt tía tai. tiếp vào trong, nội dung của bích họa đột ngột thay đổi, toàn vẽ những nỗi khổ cực khi luân hồi xuống địa ngục, miêu ta tầng tầng lớp lớp những cực hình chốn ty, cảnh tượng thảm khốc tột cùng. Lạt ma mấy trăm năm trước ngôi thần điện này là chốn cấm địa, thường dân cùng lắm cũng chỉ đến được cổng, thể tiếp vào bên trong, ngoài những kẻ phụng thần linh ra, ngay cả quốc vương cũng thể tùy tiện ra vào.


      Chốn cấm địa vàng son năm xưa sụt lở phong hóa, chúng tôi gắng thở đều, nối nhau vào trong. Đằng sau thần điện, miếu Luân Hồi lõm hẳn vào bên trong, mức độ bào mòn đáng kể, trông cũng tương đối nguyên vẹn. Nổi bật nhất trong miếu là mấy cây trụ lớn màu đỏ, thân trụ có gắn nhiều lớp đèn bát, chóp miếu phía bị hủy hoại, trơ ra mấy lỗ hổng lơn, cũng chẳng còn tượng hay đồ thờ cúng gì, là do trộm thó , hay đều mục nát thành đất cả rồi.


      Tôi nhìn bốn phía xung quanh, nơi đây chỗ nào cũng nát bươm hết cả, làm gì có bức phù điêu mắt bạc Cổ Cách nào. Minh Thúc trỏ lên phía đỉnh đầu: "Chắc là chỉ tác phẩm điêu khắc này đây."


      Chúng tôi cùng ngước lên , bấy giờ ánh mặt trời gay gắt rọi qua những lỗ hổng chóp miếu chiếu thẳng xuống, đưa mắt lên nhìn liền cảm thấy chói lòa, hoa mắt, song có thể nhận ra toàn bộ trần nhà là bức tranh rực rợ xán lạn, nửa phù điêu nửa vẽ màu, tuy có chỗ bong tróc, lại có chỗ bị tổn hoại do cả khối kiến trúc khác đổ xuống, nhưng vẫn giữ được chừng bảy tám mươi phần trăm.


      Chính giữa bức bích họa chóp miếu này là cái nhãn cầu khổng lồ, vòng phía ngoài là totem hình các tia phóng xạ, chia làm tám màu, mỗi tia màu là loài thú thần khác nhau, phía ngoài cùng còn có vòng nữa vẽ mấy chục vị Hành Mẫu(2), tất cả đều muôn hình vạn trạng, chẳng vị nào giống nhau, ngoài dự đoán, đây chính là mắt bạc Cổ Cách, bản đồ tọa độ của phong thủy Mật tông cổ đại.


      Tôi với Minh Thúc, lần này phải xem cuốn cổ thư ra cho chúng tôi xem thôi, nếu xem cho , chỉ dựa vào tọa độ, cũng khó mà xác định phương vị cụ thể của tháp ma ở nơi nào.


      Minh Thúc lần ra chỗ cây trụ lớn màu đỏ dựa lưng vào thở dốc, A Đông cầm ống dưỡng khí tới cho lão ta hít thở mấy hơi, bấy giờ mới có thể mở miệng chuyện. Lão thò tay vào trong ba lô tìm cuốn kinh kia. Bỗng đột nhiệt nghe thấy tiếng "rắc", cây trụ đổ sập xuống, mọi người cùng hét lên, cuống cuồng tản ra bốn bên né tránh. Cây trụ lớn đổ xuống đánh uỳnh, trong cơn hỗn loạn cũng thấy có ai bị đè phải .


      ra cây cột Minh Thúc dựa người vào mục hết cả chân đế, lúc thường trông tưởng chẳng làm sao, song vừa tựa lưng vào, liền đổ rầm xuống, may mà nó đổ ra phía ngoài, bằng trong điện chật hẹp, lại va vào những cây trụ khác, chắc chắn đè chết người. Thấy chóp miếu thiếu cây trụ chống, tuy chưa sập ngay, song cả bọn cũng dám nán lại lâu, ai nấy đều muốn ra trước, kiếm chỗ an toàn ở bên ngoài rồi tiếp tục tính.


      Lúc chạy ra ngoài, chúng tôi đột nhiên phát dưới bờ tường đất bị cây trụ đè đổ, lộ ra khoảng gian to rộng tối om, tựa như căn mật thất bị bịt kín, bờ tường vừa đổ xuống, mùi ẩm mốc bên trong liền xộc thẳng ra. Nghe người Ý tìm thấy vô số hàng động trong di tích này, công dụng hết sức phong phú, trong đó có hàng động tương đối nổi tiếng, gọi là hang Xác khô đầu, lại còn có hang vũ khí cất giữ binh khí, song đều cách miếu Luân Hồi này hơi xa. Vậy rốt cuộc trong hang động bị mật dưới ngôi miếu này có gì?


      Tuyền béo rút đèn pin ra, bật lên soi xuống phía dưới. Ánh mắt của mọi người lập tức bị những thứ dưới hang thu hút. Phía ngoài cùng là pho tượng đồng ba mắt sáu tay, đầu đội mũ báu, ngự đài sen, ba con mắt sáng màu bạc long lanh lấp lánh nền sắc vàng kim của tượng Phật.


      Phía sau pho tượng Phật ba mắt này, còn có cánh cửa màu đen đóng kín mít dán vô số bùa chú kinh văn, hình như bên trong giam cầm thứ gì đó thể phóng thích ra ngoài.


      Mọi người đều bị cái hang cổ quái thần bí này hấp dẫn, vây cả quanh miệng hang rút đèn pin soi xuống phía dưới ngó nghiêng, đằng sau cánh cửa sắt màu đen kia là thứ gì? Tại sao lại phải treo bùa dán chú nhiều như thế?


      Shirley Dương năm xưa nhà nghiên cứu Tạng học kiêm nhà thám hiểm người Ý, giáo sư Dodge sau khi phát ra di tích Cổ Cách, làm phép tính, tính ra rằng quy mô di tích còn giữ lại được gồm có nhà cửa đèn chùa ước chừng năm trăm ngôi, lầu thành đá khoảng sáu mươi tòa, các loại tháp khoảng ba mươi tòa, tường phòng vệ, tường thấp còn độ mấy lớp, trong đó khu có số lượng di chỉ lớn nhất chính là hang động phía dưới vương thành, ánh chừng hơn nghìn hang.


      Điều này chứng tỏ diện tích và quy mô phía dưới lòng đất của vương thành Cổ Cách thậm chí vượt xa những gì xây mặt đất. Mọi người thỉnh giáo lạt ma, trong hang này đặt tượng Phật mắt bạc, rốt cuộc đây là hang cất giữ kinh sách, hay là am thờ dạng hang động.


      Lạt ma trả lời, bước thẳng qua đống tường đổ nát, vào trong gian mật ấy, tôi lo phía trong có nguy hiểm, bèn cầm chắc khẩu Remington theo sát phía sau.


      Pho tượng Phật trong hang lớn, chỉ cao tầm thước, màu sắc bóng loáng, ánh vàng chói mắt, song cũng phải được đúc bằng vàng ròng hay đồng nguyên chất, mà lần lượt luyện bởi năm loại hợp kim, hơn nữa còn liền thành khối. Chỉ có người Cổ Cách sở hữu công nghệ này, nay phương pháp bí mật đó thất truyền, tượng Phật mắt bạc mình vàng còn lại rất ít, vậy nên pho tượng này rất có giá trị.


      Thiết bổng Lạt ma bái lạy tượng Phật xong, mới tiếp tục xem xét thêm. Tượng Phật mắt bạc này dường như gắn liền với chân cửa sắt phía sau, bị người ta cố định chặt, còn cánh cửa sắt màu đen đóng kín dán đầy những câu lục tự chân ngôn "Án ma ni bát minh hồng" của Phật giáo Mật tông.


      Tuy loại lục tự chân ngôn này rất thường thấy, những tôi hề biết ý nghĩa của nó, chỉ cảm thấy na ná như câu A Di Đà Phật, cửa ra thông thường hình như chẳng cần phải dán loại bùa chú này làm gì. Tôi hỏi lạt ma xem câu lục tự chân ngôn này tượng trưng cho điều gì, phải chăng dùng để trấn tà đuổi ma, xem chừng cánh cửa sắt này thể mở được rồi.


      Lạt ma với tôi: "Ý nghĩa của lục tự chân ngôn này quả thực hết sức vô cùng, đệ tự thông thường niệm chân ngôn này, có thể khiến Tâm hòa vào Phật. Có điều công lực Mật tông cao thâm hay , phải dựa vào việc tích lũy tu dưỡng pháp thuật hàng ngày, cũng giống như chất lượng của bánh trà sữa, phải dựa vào việc quấy trộn bơ sữa ngừng vậy, những cũng thể chỉ trông mong vào việc tụng niệm lục tự chân ngôn để tựu thành chính quả được. Sáu chữ này nếu dịch ra tiếng Hán của các cậu, đại loại có ý nghĩa là 'Án! Thứ chân quý trong bông sen hồng!' "


      Lưu phái tôn giáo ở Tây Tạng có rất nhiều, dẫu rằng cùng là đạo Phật, những lại chia thành vô số phân chi, cho nên kiến văn của Thiết bổng Lạt ma về Luân Hồi tông cũng có hạn. Theo những gì ông suy đoán, hang động bí mật bên cạnh điện Luân Hồi này, có thể tượng trưng cho địa ngục của Luân Hồi tông. Những kẻ phạm tội đại ác, sau khi chết linh hồn được giải thoát mà bị nhốt bên trong cánh cửa đen này, nếm trải đày đọa giày vò trong địa ngục, thành thử cánh cửa này thể mở ra, bên trong có lẽ là ma chốn địa ngục, hay quỷ quái dưới tào.


      Tôi cùng lạt ma xem xét trong hang, bỗng bàn chân giẫm phải thứ gì đó. "Sột" tiếng vụt qua, tôi cuống quýt nhảy lên. Những người ở ngoài cũng chiếu đèn pin soi xuống. Hóa ra là con chuột xạ đen be bé, to chừng con mèo con, thấy ánh đèn pin khua khoắng, nó liền hoảng hốt chui tọt xuống phía dưới cánh cửa đen.


      Chúng tôi giờ mới phát , dưới chân cửa sắt đen có kẽ hở rất lớn. Tôi lấy đèn pin rọi vào bên trong, sâu quá, chẳng nhìn thấy gì cả. Tôi và Thiết bổng Lạt ma muốn nán lại lâu hơn, liền men theo đường cũ trở ra phía ngoài hang. Hang động bí mật này liên quan gì đến tọa độ mắt bạc, thêm việc chi bằng bớt việc, còn như trong đó rốt cuộc có thứ gì, thôi cứ để cho những đoàn khảo cổ và đoàn thám hiểm sau này đến tìm hiểu vậy.


      Tuyền béo và Minh Thúc đều them dãi pho tượng Phật mắt bạc kia, song Thiết bổng Lạt ma có mặt ở đây, cũng dám làm bừa, cố gắng nín nhịn lòng tham sân. Minh Thúc dường như tự an ủi mình, loáng thoáng nghe thấy tiếng lão ta lẩm bẩm mình: "Phàm là những kẻ làm nên đại , đều câu nệ tiểu tiết, lần này ta đến khai quật Băng xuyên thủy tinh thi, ấy là vụ buôn bán tày trời rồi, pho tượng Phật mắt bạc này tuy cũng đồng tiền, song đem so ra, cũng chẳng đáng ra tay."


      Thiết bổng Lạt ma bảo mọi người cùng hợp sức vào, di dời đất đá lấp lên chỗ bức tường đổ kia, sau đó đều đứng bên ngoài miếu. Do trong điện thờ miếu Luân Hồi thiếu mất cây trụ, mọi người ai dám mạo hiểm tiền vào trong, chỉ đứng ngoài thăm dò lượt, phát ra các cây trụ còn lại đều hết sức kiên cố, cây bị đổ kia chỉ là cây trụ hờ, được đặt ở đó để cho bố cục đều đăn, kiểu như việc quạt lò trước gió, có cũng được, có cũng sao, chẳng hề ảnh hưởng gì đến an toàn của kiến trúc ngôi miếu.


      Minh Thúc rút cuốn kinh cổ lấy của viện bảo tàng ở hải ngoại ra, đối chiếu với bức bích họa mặt bạc trần miếu, suy ngẫm những điều bí mật bên trong. Có Thiết bổng Lạt ma giúp đỡ, cộng thêm nguyên lý phong thủy tôi nắm trong tay, về cơ bản có gì trở ngại, chẳng hề tốn sức thổi tro, chúng tôi có thể kết hợp bản đồ trong cuốn kinh cổ với tọa độ và mắt bạc chỉ ra lại với nhau. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Luân Hồi tông hết sức sùng bái nhãn cầu, nguồn gốc xa xưa nhất có lẽ xuất phát từ Ma quốc. Ma quốc sau khi diệt vong, vẫn còn để lại ít di họa cho thế gian. Luân Hồi tông rồi cũng dần dần tiêu vong trong lịch sử, di tích mắt bạc đặc thù của tông phái này chỉ còn giữ lại được chỗ trong vương thành Cổ Cách, nếu như nơi đây cũng bị hủy hoại nốt, vậy dù cho có bản đồ trong cuốn cổ kinh kia, cũng chẳng thể nào tìm tới tháp ma của Ma quốc được.


      Tác giả và xuất xứ của cuốn kinh cổ này nay thể khảo chứng, chỉ biết rằng vào những thập niên 20, 30 đầu thế kỷ, đoàn thám hiểm nước ngoài nào đó đào nó lên từ hang chưa kinh sách ở Tây Tạng. Ban đầu cuốn kinh này hề được coi trọng, bị đem cất dưới tầng hầm viện bảo tàng để dính đầy bụi bặm, sau đó được người quản lý dày công nghiên cứu về vấn đề tôn giáo vô tình phát ra, tuy nhiên nội dung hết sức kỳ bí, trước sau vẫn khó mà lý giải được. Cho tới mãi mấy năm gần đây, cùng với tích lũy về mặt tư liệu, người ta mới phân tích ra nội dung trong quyển kinh đó, rất có thể là những thông tin ghi chép về tòa lầu ma chín tầng. Tòa lầu ma chín tầng này là mộ phần, bên trong cất giữ xác thủy tinh của Tà thần mà Ma quốc vẫn hằng sùng bái và thờ phụng. Nếu như tìm thấy nó, đố chắc chắn là phát đình đám vang dội trong giới khảo cổ. Lịch sử huyền bí khó hiểu như câu chuyện thần thoại của Tây Tạng thời viễn cổ cũng có thể dựa vào đây mà được phá giải.


      Qua nhiều lần khảo chứng, cuốn kinh cổ này rất có khả năng được hậu duệ của Ma quốc viết ra, độ tin cậy có lẽ rất cao. Khi ấy chỉ tiếc điều duy nhất là, tuy có bản đồ cương vực của Ma quốc, nhưng núi non sông ngòi đều được đánh dấu bởi hình dã thú hoặc thần linh, so với bản đồ thường thức chung khác biệt quá xa, vả lại niên đại hết sức xa xưa, rất nhiều tên và ý nghĩa tượng trưng của các nguồn sông mạch núi đến nay đều thay đổi, thành thử càng khó xác nhận hơn. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Bức bích họa lớn trong tòa miếu của Luân Hồi tông này chính là chìa khóa để giải đọc phong thủy Mật tông thời cổ đại, bởi phương vị trong bức họa đó cực kỳ chuẩn xác, mỗi màu sắc, thú thần, hoặc thiên thần, đều chỉ ra những vị trí địa lý tương ứng. có dấu mốc phương hướng này, bước tiếp theo đối chiếu bản đồ cổ kim, dẫu ràng thể chuẩn xác như thuật phân kim định huyệt, nhưng cũng coi như có phạm vi đại khái, vẫn còn hơn là đáy bể mò kim.


      Phong thủy học lưu truyền ở Trung Nguyên cho rằng thủy tổ long mạch trong thiên hạ là ở núi Côn Luân, điều này khác biệt rất lớn so với quan điểm phong thủy Mật tông của Tây Tạng, song truy về ngọn ngành, bản chất cũng na ná như nhau. Quan điểm phong thủy Mật tông hình dung núi Côn Luân là đất Phượng hoàng, hai mạch núi lớn còn lại, lần lượt là đất Khổng tước và đất Đại bàng.


      Tòa lầu ma chín tầng quan trong nhất của Ma quốc, chính là ở Phượng hoàng thần cung. Trong kinh sách viết, Phượng hoàng thần cung là dãy núi do bốn loại bảo thạch của thiên giới là vàng, bạc, thủy tinh, lưu li chồng chất lên mà thành, sườn núi chia ra làm bốn ngọn núi tuyết, lần lượt tượng trưng cho bốn vị thần hộ vệ của Ma quốc.


      Thiết bổng Lạt ma , nếu núi Côn Luân được hình dung là phượng hoàng, vậy chắc chắn phù hợp với lời thơ trong bản trường ca tụng công huân của Thế giới Chế định Bảo châu Đại vương. Vậy vị trí của Phượng hoàng thần cung, theo những miêu tả trong bản trường ca, chính là ở miệng núi Kelamer, khu vực giao nhau giữa ba vùng Thanh Hải, Tây Tạng, Tân Cương, còn hướng núi tương ứng với hai vị Hành Mẫu màu trắng và màu bạc, sao màu trắng tượng trưng cho núi tuyết, sao màu bạc tượng trưng cho sông băng.


      Tôi kết quả đánh giá của tôi cho Minh Thúc và Thiết bổng Lạt ma nghe, vùng đất có bốn ngọn núi vây quanh, thuật phong thủy Thanh Ô gọi là "Thù mậu", quyết chú tầm long gọi là "Long đỉnh" (đầu rồng), là xương sống của trời đất, tổ của long mạch phát nguồn từ đất này, hình thế vô cùng hiếm thấy. Chỉ cần có thể xác định được vị trí đại khái là ở cửa núi Kelamer, cộng thêm giúp đỡ của hướng dẫn viên bản địa, chắc khó tìm ra.


      Minh Thúc thấy cuối cùng cũng xác định được địa điểm, vội kéo tôi lại bên, rút giấy bút ra. Còn chưa đợt lão ta mở lời, tôi biết lão định gì. Tôi : "Cứ yên tâm, chúng tôi chắc chắn bỏ rơi đám người ngựa của bác đâu, chúng ta tuy chưa ký kết gì, nhưng tôi nhận hai tấm Nhuận hải thạch của bác làm tiền đặt cọc, quân tử hứa bằng mồm, tiểu nhân hứa bằng giấy, quân tử hứa suông, cũng thất ước, tiểu nhân hứa hẹn đủ điều, những vẫn thất ước như thường, liệu có tuân thủ lời hứa hay là ở người, chứ phải ở giấy bác ạ!"


      Minh Thúc bấy giờ mới yên tâm, vui vẻ ra mặt, phản ứng cao nguyên dường như thuyên giảm nhiều, tựa hồ ôm được Băng xuyên thủy tinh thi vào trong tay. Tôi khuyên lão chớ có vội mừng, đây mới là bước đầu tiên của cuộc vạn dặm trường chinh, đợi khi nào tới được khe núi Kelamer ở Côn Luân, đào được lầu ma chín tầng, lúc ấy hẵng mừng cũng chưa muộn, trước khi sờ tận tay day tận mắt, chẳng ai dám bảo đảm nội dung cuốn kinh sách đó có đáng tin hay ? Có khi sách ấy chi là do thằng cổ nhân nào đó ăn no rửng mỡ, viết ra chơi chơi thôi cũng chừng.


      Shirley Dương lại chụp mấy bức ảnh làm tư liệu tham khảo sau này. Lần này tới tìm tọa độ của phong thủy Mật tông thuận lợi hơn nhiều so với dự kiến của chúng tôi, ngoài cây trụ và bờ tường sụt lở khiến mọi người phen khiếp vía ra, cơ hồ có bất kỳ trắc trở gì, hy vọng quãng đường tới đây cũng suôn sẻ như vậy.


      Lúc chúng tôi xuống núi, mặt trời chếch Tây, đêm cao nguyên rất lạnh, cần thiết phải quay về ngay trong đêm, thế là cả bọn nghỉ lại trong pháo đài đá phòng vệ tiền tiêu cách vương thành Cổ Cách độ vài dặm. Tay hướng đạo cùng đoàn chuẩn bị bữa tối và trà sữa cho chúng tôi, sau đó lại cho mấy người thể chất hơi yếu uống bát thuốc phòng cảm mạo, trong môi trường tự nhiên thế này, điều đáng sợ nhất là bị cảm, bị cảm cao nguyên, có khi còn nguy hiểm đến cả tính mạng cũng chừng.


      Đêm đó ai nấy đều mệt mỏi rã rời, nơi đây lại có nguy hiểm gì, lũ sói bị đánh đuổi từ lâu, cho nên cũng chẳng để ai thức canh gác, dăm ba người ních vào gian vọng gác ngủ chung. Đám đàn bà con Shirley Dương, Hàn Thục Na và A Hương ngủ ở gian phòng trong cùng, tôi và Tuyền béo ngủ ở phòng đá ngoài cùng.


      Trời về khuya, chúng tôi lần lượt chợp mắt. Mấy năm nay hằng đêm tôi chỉ toàn ngủ chập chờn, ban ngày còn đỡ, đêm đến dẫu có nằm mơ tôi cũng vẫn mở trừng mắt. Shirley Dương bảo tôi đó là "hội chứng căng thẳng thần kinh hậu chiến tranh", cần phải uống thuốc an thần. Tôi lo uống thư đó đầu óc nó ngây dại cả , cho nên mãi uống.


      Trong lúc nửa thức nửa ngủ ấy, bỗng nghe bên ngoài có tiếng bước chân hết sức rón rén, tôi lập tức mở trừng hai mắt, nhờ vào ánh sáng mỏng mảnh lạnh ngắt của trăng sao rớt qua khe hổng của lầu đá, chỉ thấy bóng người màu đen, tức tốc chạy vụt qua cửa.


      --------------------------------


      1 Sabina przewalskii.


      2 Hóa thân của Bồ Tát trong Phật giáo Tây Tạng

    3. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.4 - Chương 8: RÌNH RẬP BAN ĐÊM





      Bóng người đó thoắt cái vụt qua, kẻ nào lại lén la lén lút như vậy? Tôi kịp nghĩ nhiều, lẳng lặng bước tới cửa, lén nhìn ra bên ngoài. Ngoài trời trăng sáng vằng vặc, ánh bạc trải khắp đất, có kẻ rón rén về phía vương thành Cổ Cách, mình còn địu cái túi, chẳng phải ai khác, đó chính là A Đông, thằng ôn chạy xe cho Minh Thúc.


      Tôi sớm biết thằng A Đông chẳng phải tốt đẹp gì, đầu tóc trơn bóng, mày la mắt lét, nửa đêm nửa hôm mò về di tích Cổ Cách, chẳng cần hỏi cũng biết, chắc chắn để ý đến pho tượng Phật mắt bạc ấy rồi.


      Minh Thúc, ông chủ của A Đông là tên trộm lớn, cái thứ vặt vãnh đấy lão đoái hoài đến làm gì, chắc phải lão phái thằng này . Ban ngày lắm người nhiều tai mắt, tiện ra tay, nên mới đợi đến đêm để hành động đây. Thằng này kể cũng chơi rất khéo, nhưng đời này làm gì có chuyện báu bở đến thế, ông bắt gặp mày, mày xúi quẩy rồi con ạ.


      Nghĩ đến đây tôi lập tức quay lại, bịt mồm Tuyền béo, lay cậu ta dậy. Tuyền béo ngáy vang như sấm, bỗng dưng bị bịt mồm bịt mũi, thể dậy được. Tôi thấy Tuyền béo mở mắt, tức khắc ra hiệu để cậu ta nín tiếng.


      Tuyền béo phải mất mười giây đồng hồ đầu óc mới tỉnh táo lại, khẽ tiếng hỏi tôi có việc gì. Tôi dắt cậu ta khẽ khàng ra khỏi phòng đá, vừa dõi theo bóng thằng A Đông ở phía trước, vừa kể lại tình cho Tuyền béo nghe.


      Tuyền béo nghe vậy cả giận :" Cái pho tượng ấy đến ông béo nhà mày đây còn ngại lấy, thằng nhãi con mày lại dám nẫng tay à, con mẹ mày thất đức đến thế là cùng. Tư lệnh Nhất, cậu xem phải làm thế nào, hai em ta dạy cho nó bài học chứ, cậu xem nên xử trí thằng nhãi này ra sao, vất xác nó giữa đường, hay xẻ ra tám miếng cho kền kền ăn?"


      Tôi cười đểu, với Tuyền béo :" Hai năm nay em mình chẳng có cơ hội chơi trò gì ác ác rồi, hôm nay vừa vặn có thằng oắt con này nộp mạng. em mình hù dọa nó cái , sau đó ...". Tay tôi chém xuống dưới, ý là đánh cho nó ngất , vất lên núi, cho thằng nhãi ranh này ngày mai tơi tả trở về. Tuyền béo lại tưởng ý tôi là chém chết luôn, bèn đưa tay lần tìm con dao găm lính dù, song lúc ra vội vàng, ngoài chiếc đèn pin mang theo bên mình ra chẳng đem theo thứ gì khác. Cậu ta liền có dao cũng sao, với mông của tôi cũng có thể đè chết nó, nhưng mà trước tiên mình cứ phải dạy cho nó bài học , xong cũng khì khì cười đểu.


      Tôi càng nghĩ càng thấy việc hù dọa thằng A Đông hết sức thú vị, trong lòng chẳng nén nổi sung sướng, song vẫn phải dặn dò Tuyền béo ra tay thôi, cho nó bài học nhớ đời là được rồi, chứ xảy ra án mạng hay, vả lại việc này chỉ cậu biết tôi biết, tuyệt đối được tiết lộ cho người thứ ba, kể cả Shirley Dương cũng được .


      Tuyền béo gật đầu lia lịa :" Đương nhiên thể cho ả ta được, nếu đoàn cố vấn Mỹ lại chúng ta làm việc nghiêm túc. Nhưng mà trước khi hành động cho tôi giải quyết nỗi buồn cái ".


      Tôi bảo giờ có thời gian đâu, đường có cơ hội ta thả buồn sau, nhanh bám sát, nó biến mất tăm mất dạng bây giờ.


      Chúng tôi hứng khởi, nương theo bóng trăng to đến phát hãi treo bầu , lẳng lặng bám theo sau thằng A Đông. Vì sợ bị phát , nên chẳng dám bám sát quá, rồi cũng đến bên dưới quả núi có di tích vương thành Cổ Cách.


      Thể lực của thằng A Đông hơi đuối, cả ngày bôn ba lại, còn phải địu bình dưỡng khí cho Minh Thúc mệt lử rồi, đến đêm lại thậm thà thậm thụt, tất tả mạch dừng, cộng thêm áp lực tâm lý cũng , thành thử khi đến chân núi, mệt đứt hơi, đành ngồi nghỉ bên bức tường, trông chừng thằng này định bụng ngồi lát cho đỡ mệt, rồi chạy thẳng tới miếu Luân Hồi thó pho tượng Phật mắt bạc đây.


      Tôi nghĩ bụng thằng nhãi này chẳng biết ngồi nghỉ đến lúc nào, chẳng bằng chúng tôi chạy vòng qua phía trước mà mai phục, đoạn liền ra hiệu cho Tuyền béo men theo mé bên của đống đổ nát, vòng lên phía trước thằng A Đông.


      đến giữa chừng, hai đứa tôi liền hối hận, ra di tích vương thành này chỉ có đường lớn là dễ , những khu vực khác đều bị hủy hoại hết sức nghiêm trọng. trong đống đổ nát của nhà dân, dường như giẫm bước nào lún bước ấy, lại chẳng dám phát ra tiếng động lớn, thành thử hết sức chậm chạp, cũng may cuối cùng tìm ra được con phố, chúng tôi vội mau chân chui vào trong thần điện hộ pháp.


      Chúng tôi còn chưa kịp ngắm nghía những bức vẽ sexy của Phật giáo Mật tông thêm lần nữa, nghe thấy tiếng bước chân từ phía sau vọng tới. Kẻ đến từ hơi thở cho đến bước chân đều rất nặng nhọc, nghe liền biết ngay là thằng A Đông. ngờ chạy tới đây nhanh thế, có lẽ tại chúng tôi mất quá nhiều thời gian để đường vòng.


      Tôi và Tuyền béo vội lẻn vào trong đại điện miếu Luân Hồi, nhưng trong này trống hơ trống hoác, căn bản có chỗ nào nấp, trong lúc khẩn cấp, đành phải giẫm lên mấy bát đèn gắn cây trụ đỏ, chia nhau leo lên.


      Ngoài cây trụ bị đổ kia ra, những cây trụ lớn màu đỏ còn lại đều rất chắc chắn, vả lại cũng cao quá, loại người sợ độ cao như Tuyền béo cũng vẫn có thể gắng gượng leo lên được.


      Chúng tôi vừa leo lên , thằng oắt A Đông mò vào. Ánh trăng sáng trắng hơn tuyết xuyên qua mấy lỗ hổng lớn đỉnh điện rọi xuống, cả gian đại điện sáng trưng, nhìn mồn . Tôi ra hiệu cho Tuyền béo nín thở, gắng nhẫn nại xem xem thằng A Đông này tự giày vò thế nào , đợi khi nó lao lực di dời pho tượng, hẵng ra tay hù dọa nó, như thế mới hay ho.


      Trong đại điện hết sức yên tĩnh, chỉ nghe thằng A Đông ở phía dưới thở phì phò, ngực phập phồng dữ dội, trông chừng mệt lắm rồi. lại nghỉ chốc, sau đó mới ra tay dời tảng đá, mở hốc tường vốn bị chúng tôi bịt chặt ra, vừa làm vừa cất giọng hát cho thêm phần can đảm. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi và Tuyền béo đu người cây trụ gắng gượng nín cười, cảm giác như sắp quặn cả ruột lại, có điều nom thân thủ của thằng A Đông cũng hết sức nhanh nhẹn, di dời ngói đá đều mảy may gây tiếng động. Trong đại điện này có ai khác, thằng này đâu cần thiết phải cẩn thận thế, di chuyển đất đá mà ngay đến tiếng động cũng dám phát ra, trừ phi đây là thói quen nghề nghiệp của . Tôi đoán thằng này là "ông bụt" dỡ tường, người Bắc Kinh gọi thằng ăn trộm là "ông bụt". ra thằng này cũng là tay lành nghề, hơn nữa còn nắm yếu lĩnh trộm chẳng về , chẳng ngại xa xôi vòng, cũng chỉ vì pho tượng mắt bạc này thôi.


      Vốn dĩ chúng tôi chỉ lấp đất đá đại khái lên bức tường vỡ bịt lỗ hổng xuống mật động, nên chẳng mất nhiều thời gian, thằng A Đông dọn sạch cửa hang, bấy giờ ánh trăng cũng vừa vặn chiếu thẳng vào, ngay cả đèn pin cũng chẳng cần phải bật, phía trong đó còn sáng hơn ban ngày.


      A Đông thoạt tiên ở bên ngoài cung kính rập đầu lạy pho tượng, miệng lẩm bẩm đọc gì đó, chắc là những lời mào đầu xin xỏ của bọn trộm, nào là nhà có mẹ già con cọc, mình lại đơn thương độc mã, tài hèn sức mọn, thể phụng dưỡng được, bất đắc dĩ lắm mới làm cái nghề này, cầu xin Phật tổ từ bi hỉ xả, chớ làm khó kẻ mệnh khổ ...


      Tuyền béo thể nhịn nổi hơn, buột miệng cười lên tiếng "ha", rồi vội lấy tay bịt miệng lại. Tôi chửi thầm trong bụng, thằng ngốc này sao thể nhịn được lúc nữa nhỉ, giờ mà bị thằng kia phát , cùng lắm mình đấm nó mấy phát vào mõm, thế có ý vị gì nữa.


      Hai đứa tôi nấp cây trụ, góc độ ngược với phía thằng A Đông, ở vị trí của thể thấy chúng tôi, song nghe được rất có người đột nhiên cười lên tiếng. Thành cổ này vốn dĩ sau khi cư dân bị thảm sát mới trở thành di tích, giờ lại giữa đêm khuya, dưới ánh trăng lạnh lẽo, trong điện đường của miếu Luân Hồi đột nhiên bật ra tiếng cười, thằng nhãi A Đông kia lẽ nào sợ, giật bắn cả mình, thiếu chút nữa là ngã ngửa ra đất.


      Tôi thấy A Đông chưa phát ra, liền mừng thầm. thân cây trụ tay tôi ôm có rất nhiều mảnh gỗ bong tróc do khô nóng, tôi tiện tay bấu ra miếng gỗ tương đối cứng, ném về phía góc tường, làm phát ra tiếng vang khe khẽ, ngay sau đó liền nín thở, áp sát mình vào thân trụ, dám động đậy. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Hướng chú ý của thằng A Đông quả nhiên rời khỏi cây trụ, song thằng này quả thực nhát gan, dám qua xem xem rốt cuộc là thứ gì phát ra tiếng, chỉ run rẩy ngồi nguyên chỗ, lẩm bẩm mình :" Chắc chắn là chuột, có gì phải sợ, có gì phải sợ ..."


      Thằng A Đông cứ lải nhải mình dám rời chỗ, khiến tôi và Tuyền béo cũng dám khinh suất thò đầu ra nhìn trộm , lúc này ánh trăng sáng vằng vặc, ở đằng sau cây trụ thò đầu ra chắc chắn bị lộ ngay.


      Tôi hơi nghiêng đầu, đưa mắt nhìn Tuyền béo ôm cây cột kế bên. Dưới ánh trăng, chỉ thấy cậu chàng nhoẻn miệng nhe răng nhìn tôi. Tôi biết ý cậu ta là quả thực mót đái quá rồi, mau dọa thằng kia cho xong, nhịn thêm chút nữa thế nào cũng tè ra quần.


      Tôi vẫy tay với Tuyền béo, bảo cậu ta gắng kiên trì đợi thêm vài phút nữa, song cứ ôm cột mãi thế này đúng cũng chẳng thú vị gì. Bỗng nghe thấy tiếng xích sắt cọ xát vang lên, đành bất chấp rủi ro bị phát , thò đầu ra quan sát, thoạt nhìn liền biết việc chẳng lành.


      ngờ thằng A Đông lấy hết can đảm, chuyển được bức tượng ra ngoài. Bệ tượng vốn dĩ gắn liền với khóa cửa sắt đen ở phía sau, tôi đoán chừng thằng này mà mạnh tay ... giả như dùng cuốc xẻng hay gậy gộc gì đó căn bản thể nào nhấc tượng Phật ra được. ngờ cái loại "ông bụt" nhà nó giỏi nhất là trò nạy cửa bẻ khóa, loại khóa to cổ lỗ kia, đối với chỉ là thứ vặt vãnh, còn chưa nhìn cho kỹ, bẻ được khóa rồi.


      Thằng A Đông ôm tượng Phật chui ra khỏi hang động bí mật, song lại nghe tiếng xích sắt va vào nhau lanh canh, ra phần dưới bệ tòa sen của tượng Phật mắt bạc còn gắn xích sắt dài nối với cánh cửa sắt màu đen. Thằng A Đông bấy giờ bị lòng tham khiến cho mờ mắt, quên cả sợ hãi, tìm ra lỗ khóa, bèn ra sức kéo, ngờ chưa gắng hết sức, cánh cửa sắt trong động mở bật ra.


      Tôi từ đằng sau cây trụ nhìn ra, dưới ánh trăng vằng vặc, chỉ thấy cánh cửa sắt đen mở ra trống hốc, song góc chỗ tôi thuận lắm, tuy rằng trăng sáng như nước, nhưng cũng chỉ nhìn được cánh cửa thôi, còn bên trong có thứ gì, hoàn toàn nhìn . Nhưng ở chỗ thằng A Đông đứng vừa vặn có thể thấy những gì bên trong. Tôi nom nét mặt của , dường như do kinh hãi quá độ, cơ hồ chết đứng, ngây ra như trời trồng.


      Tôi và Tuyền béo nhìn nhau, trong lòng cũng thấy gai lạnh. Thằng nhãi A Đông tuy nhát gan, song rốt cuộc là thứ khủng khiếp gì khiến đứng như chết rồi ở đó, động đậy, có đến cả tiếng hét lên vì khiếp vía?


      Bấy giờ chỉ nghe thấy rầm tiếng, chúng tôi vội nhìn xuống, ra thằng A Đông ngã lăn ra đất, hai mắt trợn trừng, toàn thân cứng đơ, chết vì phát khiếp. Áng mây vừa trôi ngang qua bầu trời che khuất ánh trăng khiến trong động lúc mờ lúc tỏ. Dưới thứ ánh sáng lờ nhờ này, tôi thấy bên trong cánh cửa đen có cánh tay trắng ởn thò ra.


      Dưới ánh trăng, có thể thấy những vạt lông trắng cánh tay, những cái móng sắc nhọn còn ánh lên tia sáng yếu ớt. Cánh tay đó thò ra quá nửa, đột nhiên dừng lại, năm ngón xòe ra chộp lấy hòn đá mặt đất, dường như dò xét động tĩnh bên ngoài.


      Tôi nghĩ bụng quả này xong rồi, lần này gặp cương thi rồi, lại còn là bạch hung nữa chứ, nhưng ngoài đèn pin ra có mang theo thứ gì nữa đâu, có điều ngón tay của cương thi hình như là bẻ cong được cơ mà. Lạt ma cánh cửa sắt đen dưới miếu Luân Hồi này, tượng trưng cho địa ngục là những kẻ phạm tội đại ác bị ném vào, cái thứ chui ra từ bên trong ấy, cho dù phải là cương thi, chắc chắn cũng phải loại dễ dàng đối phó.


      Tôi nhìn Tuyền béo ở bên cạnh ôm chặt cây trụ, dám thở mạnh, trán ướt đẫm mồ hôi, lúc ấy biết đó là do cậu ta mót đái quá, lại cứ tưởng cậu ta cũng căng thẳng quá độ như thằng A Đông. Tôi tay ra hiệu cho Tuyền béo, bảo cậu ta bỏ cái che mặt ở mũ xuống, để khỏi lộ hơi thở, khiến thứ của nợ trong cánh cửa kia phát ra.


      Tôi cũng kéo cái che mặt giữ ấm mũ leo núi xuống, giống như đeo cái khẩu trang lớn, như vậy cho dù là cương thi, cũng dễ phát ra chúng tôi được. Giờ chỉ cần giữ yên quan sát động tĩnh, đợi thời cơ thích hợp mà bỏ chạy.


      Lúc này những áng mây mỏng trời dạt qua bên, ánh trăng lại càng sáng, chỉ thấy từ sau cửa có con gì đó bò ra, trông giống như dáng người, cơ thể trần truồng, khắp mình mẩy đều là những vạt lông trắng mịn, rậm dài hơn lông tơ của người, song lại dày và dài giống như lông dã thú, ánh trăng tuy sáng, nhưng lại nhìn diện mạo của vật ấy.


      Tôi nấp cây trụ, lập tức thấy rét mà run, bắt đầu có chút căng thẳng, nhưng ngay sau đó tôi liền phát , thứ bò ra bên trong cánh cửa sắt ấy có lẽ phải cương thi, chỉ thấy ánh mắt nó lấp lánh tia sáng như có điện. Tuy tôi chưa từng thấy cương thi, nhưng qua kinh nghiệm truyền miệng mắt của cương thi chỉ như thứ trang sức, căn bản nhìn thấy gì, trong khi đó đôi mắt của con vật này lại lóe lên như có điện trong bóng tối ... Rốt cuộc nó là cái thứ gì? Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi sợ bị nó phát , dám khinh suất nhìn trộm nữa, liền co người lại núp phía sau cột, áp sát tai vào thân cột, lắng nghe động tĩnh trong miếu đường, chỉ nghe có tiếng bước chân sột soạt. Cái thứ vừa giống người vừa giống cương thi vừa giống động vật kia hình như vòng quanh cái xác của thằng A Đông.


      Tôi biết ý đồ của nó thế nào, chỉ hy vọng con vật này mau mau rời khỏi đây, đâu cũng được, chỉ cần nó rời khỏi di chỉ miếu Luân Hồi này, là chúng tôi có thể lập tức thoát khỏi đây rồi. Bỗng nhiên trong miếu phát ra chuỗi thanh gớm ghiếc nghe như tiếng kền kền cười, khó nghe hơn cả tiếng gào khóc của lũ mèo đêm, nếu như phải hai tay ôm chặt vào thân cột, quả thực chỉ muốn đưa tay bịt chặt lỗ tai lại, để thứ thanh khủng khiếp này lọt vào.


      Tuyền béo nấp mình phía sau cây trụ bên kia, chỉ vào bụng mình, nhìn tôi nhăn mặt cau mày, ý rằng thanh này chói tai quá, nếu cứ để nó tiếp tục gào lên, bất luận thế nào cũng khó mà nín nhịn được hơn, chắc chắn tè ra quần mất.


      Tôi vội xua tay về phía Tuyền béo, bảo nhất thiết chớ có tè ra bây giờ, mùi nước tiểu người rất nặng, cậu mà tè ra bây giờ, chúng ta lập tức bị con quái vật như bạch hung kia phát . Cái thứ thanh quái dị như tiếng kền kền này quả thực rất giống tiếng kêu của cương thi trong truyền thuyết, biết con vật kia giở trò gì, tôi kìm cho hơi thở mình chậm lại, lần nữa thò đầu ra nhìn trộm.


      Chỉ thấy con vật trông như bạch hung kia cúi nhìn xác chết mặt đất, vỗ tay cười như điên dại, chừng như vớ được bảo bối gì, sau đó lại chạy quanh điện vòng, rồi tới phía dưới lỗ hổng lớn trần điện, trông lên mặt trăng trời, cất lên những tiếng u u biết là cười hay khóc.


      Tôi và Tuyền béo thi nhau than khổ. Chúng tôi treo người cột ít cũng phải nửa tiếng đồng hồ rồi, chân tay đều tê mỏi, bát đèn thân cây trụ cũng phải chắc chắn lắm, khiến cả hai dám manh động, vạn nhất đạp rơi vật gì, lập tức bị phát ngay, tay tấc sắt thử hỏi đối phó với con bạch hung ra làm sao? Mà thứ của nợ này lại cứ lề rề mãi trong điện, biết rốt cuộc nó định làm gì?


      Cục diện đương hồi căng thẳng, lại bất ngờ xảy ra kiện. Tôi trông thấy con nhện tuyết to tướng, thân mình vằn vện đan xen, từ từ hạ xuống theo sợi tơ buông đung đưa nóc đại điện, vừa vặn rơi xuóng trước mặt tôi, khoảng cách còn chưa tới nửa centimet, gần như dính lên mặt tôi rồi.


      Nhện tuyết là loài có độc tính mạnh nhất cao nguyên, thông thường đều màu trắng, vậy mà cái con đột ngột xuất trước mặt tôi, tuy chỉ bé bằng đốt ngón tay, song mình mọc ra những vằn đỏ tươi, hai màu trắng đỏ rạch ròi, chứng tỏ sống hơn trăm năm rồi, độc tính có thể cướp tính mạng của con bò Yak Tây Tạng chỉ trong nháy mắt.


      Con nhện tuyết lúc lắc mạng tơ của nó mấy cái, rồi rơi ngay xuống mũ trán tôi, chệch đâu khác. Trong khoảnh khắc đó tôi gần như nín thở, trợn mắt gắng nhìn lên cũng chỉ thấy cái chân vằn vện của con nhện. Nó dường như thích chiếc mũ len, liền bò xuống quãng giữa hai mắt tôi. Phần đầu tôi chỉ có hai mắt và sống mũi lộ ra bên ngoài, mắt thấy con nhện tuyết sắp sửa bò xuống mặt, vạn bất đắc dĩ, đành phải nghĩ cách đối phó con nhện tuyết trước, song lại dám dùng tay búng nó ra, bởi có găng tay, e là trúng độc.


      Trong lúc nguy kịch, mặc xác con bạch hung có phát giác ra , tôi liền ngẩng đầu, giơ trán nhằm thẳng vào cây trụ đập cái. tiếng "bép" vang khẽ, con nhện bị tôi đập vào cột nát bét. Tôi lập tức lắc đầu về phía, hất xác con nhện còn chưa kịp chảy độc tố ra ngoài sang bên.


      Song tiếng vang khẽ khàng ấy vẫn thu hút chú ý của con dở hơi kia, đôi mắt nó lóe lên những ánh nhìn lạnh lẽo, tức tốc xoay về phía cây trụ đỏ nơi tôi náu mình, từng bước từng bước tới.


      Tôi thầm chửi, mẹ kiếp hôm nay gặp phải vận đen rồi, định bụng bảo Tuyền béo chuẩn bị sẵn sàng, sau khi tôi đánh lạc hướng con vật ra chỗ khác, cậu ta bất ngờ lao ra, nhặt viên gạch lớn dưới đất giáng cho nó cú, song thằng Tuyền béo nấp sau cây trụ bên kia như thằng chết rồi, giờ phút này hề thấy có phản ứng gì cả.


      Tôi nghiến răng nghiến lợi, trong lòng ngừng chửi rủa, giờ đành phải chơi trò cũ, giở cái chiêu ban nãy trêu thằng A Đông ra, đưa tay bấu lấy miếng gỗ vụn thân trụ, nhắm thẳng vào xác thằng A Đông ném qua, hy vọng có thể lái chú ý của con vật kia chỗ khác.


      Vì lo tiếng vang đủ lớn, tôi cố ý tìm lấy miếng gỗ tương đối to, vừa vặn ném trúng mặt thằng A Đông, trong Phật đường tĩnh mịch, vang lên tiếng "bốp". Con lông trắng dở hơi kia quả nhiên nghe thấy động tĩnh, cảnh giác quay đầu lại nhìn.


      Lúc này việc bất ngờ nhất lại xảy ra, thằng A Đông vốn dĩ tưởng chết vì sợ rồi, đột nhiên bật lên những tiếng ho sặc sụa, nằm thở hồng hộc dưới đất. Hóa ra thằng này hãy còn sống, chỉ có điều vừa nãy kinh hãi quá độ, vả lại cao nguyên thiếu oxy, thở ra hơi, nên ngất lịm .


      Quãng thời gian thằng A Đông ngừng thở quá lâu, chẳng qua trong khí quản bị tắc hơi, bấy giờ vẫn ở trong trạng thái hôn mê. Cái con quái vật vừa bò ra từ sau cánh cửa thấy thằng A Đông vẫn còn sống, bất đồ giận dữ, gào rống liên hồi.


      Còn chưa đợi tôi kịp hiểu ra nó định làm trò gì, con vật cầm lấy viên đá ngói, nhằm thẳng đầu thằng A Đông đập dữ, máu me tức thời bắn ra tung tóe, nhưng con vật vẫn chịu thôi, mãi đến khi đập nát óc thằng A Đông nó mới chịu ngừng tay.


      Sau đó nó búng búng móng tay vào xác thằng A Đông, để xác định xem ta chết chưa, sau đó thái độ từ giận dữ chuyển sang vui mừng, phát ra chuỗi tiếng cười quái đản, rồi khom mình xuống, ôm chặt lấy cái xác, giật phăng cái đầu lâu vừa bị đập nát bét ra, xé rách áo xống, miệng nhằm thẳng vào cổ cái xác, cắn cổ uống máu.


      Tôi núp sau cây trụ mà thấy rùng rợn toàn thân, cảnh tượng quả thực thảm quá, đặc biệt là trong di tích thành cổ im lìm như chết này lại còn nghe tiếng răng gặm xương "rộp rộp" vang lên ngừng. Trước tôi từng thấy cảnh mèo bắt chuột sau đó nhai ngấu nghiến, so với cái cảnh tượng trước mắt này cũng chẳng khác gì mấy.


      Trời tạo ra oan nghiệt còn có thể tha thứ, chứ người mà tạo ra oan nghiệt khó mà sống nổi. Thằng A Đông ham hố pho tượng Phật mắt bạc, nếu phải vậy cũng chưa chắc mở cánh cửa sắt kia ra. Tuy ta tự làm tự chịu, song vẫn khiến người ta cảm thấy báo ứng này quá ư thảm khốc.


      Tôi bỗng nhiên nhớ tới từng bức bích họa miêu tả những cực hình dưới địa ngục trong đường nối từ thần điện hộ pháp đến phía trước miếu Luân Hồi, trong đó có bức vẽ cảnh tượng tàn khốc nơi ngục tối, loài dã thú đầu mèo, thân thể gần giống con người, có đuôi, gặm xé ăn thây xác của kẻ có tội. Còn nhớ lúc đó lạt ma bảo rằng đó là con Balo 1 ăn tội lỗi của Luân Hồi tông. Luân Hồi tông tuyệt tích thế gian, cho nên hậu thế cũng chẳng có cách nào phán đoán loài Balo ăn tội lỗi này là ma đói hư cấu dưới địa ngục, hay là loại dã thú có thực được cơ quan chấp pháp tôn giáo huấn luyện nuôi dưỡng, dùng để trừng phạt phạm nhân?


      Bức bích họa miêu tả cực hình dưới địa ngục kia rất giống với những gì tôi nhìn thấy lúc này, rất có thể con vật bò ra khỏi cánh cửa kia, chính là "kẻ hành hình gặm nhấm tội lỗi" mà Luân Hồi tông gọi. Trốn cột trụ mãi cũng phải cách hay, chân tay dần dần tê cứng, đoán chừng chỉ chốc nữa thôi, chúng tôi phải tụt xuống vì thể kiên trì lâu hơn nữa, song nhất thời có đối sách, đành tạm thời kéo dài được phút nào hay phút ấy.


      Tôi định vẫy tay ra hiệu gọi Tuyền béo rút lui, con Balo xây lưng về phía chúng tôi đột nhiên quay phắt đầu lại, hếch mũi hít liên hồi, dường như ngửi thấy mùi gì đó dị thường, ngay lập tức liền trở nên cảnh giác.


      Tôi vội co người lại náu . Ánh trăng từ chóp miếu rớt xuống, soi chếch lên mình Tuyền béo, trán cậu ta chảy vã mồ hôi, ngớt chớp mắt về phía tôi, dường như có ý gì đó muốn , tôi cũng chớp mắt với cậu ta, ý là hỏi xem cậu ta có ý gì, vừa nãy làm gì mà như chết rồi thế.


      Tuyền béo dám ho he, đành làm động tác hết sức vô vọng, nhún vai, cúi đầu nhìn xuống phía dưới cột. Tôi men theo ánh mắt cậu ta cúi nhìn xuống, thấy thân trụ màu đỏ có vệt nước lớn, liền lập tức chửi thầm :" Mẹ cái thằng, thế mà vẫn vãi đái ra quần".


      --------------------------------


      1 Balo, loài ma đói hoặc tội nhân trong truyền thuyết Tây Tạng.

    4. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.4 - Chương 9: KẾ HOẠCH B





      Nét mặt của Tuyền béo khoan khoái như trút bỏ được gánh nặng, tôi nghĩ việc này cũng khó trách cậu ta, nhịn lâu như vậy, vỡ bọng đái là còn may rồi. Lại thấy Tuyền béo nháy nháy mắt với tôi, cái lối giao tiếp này của hai chúng tôi, người ngoài nhìn hiểu, chỉ có tôi mới hiểu được, cậu ta định hỏi tôi nếu bị phát rồi, giờ phải làm thế nào. Tôi đưa ngón tay chỉ lên , tỏ ý bảo Tuyền béo trèo lên chỗ cao hơn nữa, leo lên thêm đoạn, đợi tín hiệu của tôi bất ngờ hành động. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ngay sau đó tôi cũng đổi góc ôm phía sau trụ của mình, con ma đói Balo theo mùi tìm đến. Tôi nấp sau cây trụ nhìn thấy rất , miệng con vật này toàn là những vết máu loang lổ, mặt nó giống y như mặt con mèo, thậm chí trông hao hao con báo, cơ thể nó hơi giống con người, duy chỉ có điểm là thể đứng thẳng lên mà lại.


      Tôi thầm quan sát, cảm thấy nó rất giống loài chuột xạ thường thấy ở Tây Tạng, song lại phải loài chuột xạ thông thường có hình dạng như con mèo đen, nó những to hơn nhiều, mà khắp mình cũng tuyền màu trắng. Ở trong nội địa, có truyền thuyết kể rằng, có số loài thú sống lâu, lông tóc cũng biến thành màu trắng giống như loài người.


      Song lúc này tôi chẳng còn thời gian mà nghĩ ngợi nhiều nữa, con Balo trắng như con ác quỷ tới dưới chân trụ nơi Tuyền béo náu mình, chăm chú hít ngửi vết nước tiểu, nhưng do Tuyền béo tè ra quần, cho nên mùi nước tiểu người cậu ta nặng hơn, con Balo cảm thấy mùi bên đậm đặc hơn, liền định ngẩng đầu nhìn lên.


      Tôi nghĩ bụng nếu con điên này mà ngẩng đầu lên nhìn thấy Tuyền béo, vậy kế hoạch tấn công bất ngờ của chúng tôi thất bại. Thế là tôi liền thò người ra khỏi cây trụ, bất thình lình hét tiếng về phía con Balo :" Này...! Chưa thấy đái ỉa bậy bao giờ hả?"


      Con Balo có lớp lông trắng mịn bị tiếng động bất ngờ ấy làm cho giật bắn mình, liền quay ngoắt đầu lại, dưới ánh trăng hai mắt nó như hai tia lửa điện. Tôi nghĩ bụng :" Mắt mày sáng nhỉ, xem liệu có sáng bằng thứ này ?". Đoạn giơ chiếc đèn pin mắt sói cầm trong tay lên, chùm sáng mạnh chiếu thẳng vào hai mắt con quái vật. Đèn pin mắt sói ngoài việc có thể dùng để chiếu sáng, ngắm chuẩn ra, còn có đặc tính nổi bật nhất, đó là chiếu trong cự ly gần và chính diện có thể khiến mắt thường bị lòa trong giây lát.


      số loài động vật có đôi mắt hết sức nhạy với nguồn sáng, chính nhờ thế mà trong đêm tối chúng mới có thể nhìn hoàn cảnh xung quanh, tuy nhiên cũng vì thế mà phản ứng của mắt khi bị chùm sáng của đèn pin mắt sói chiếu thẳng trong cự ly gần càng mạnh hơn. Con Balo bị luồng sáng rọi thẳng vào mắt, lập tức mất thị lực, phát ra những tiếng kêu quái đản như tiếng chim kền kền già.


      Chiêu này chỉ có thể sử dụng lần, thể sử dụng lần hai, tôi thấy thể bỏ mất thời cơ liền gọi Tuyền béo :" Còn đợi gì nữa thế? Thả bom thịt mau!"


      Tuyền béo nghe tôi phát tín hiệu, liền nhắm mắt nhảy thẳng xuống, rắn rỏi đổ ập lên mình con Balo. Nếu người thường mà dính phải cú này của Tuyền béo, thế nào ruột cũng hộc ra khỏi mồm, song loài dã thú Balo này lại hề hấn gì, vùng vẫy vài cái chực bò dậy. Tuyền béo kêu lên :" Tư lệnh Nhất ơi, chiêu này của ta ăn thua, mả mẹ thằng này cứng cáp quá...". Chưa dứt lời, cậu ta bị hất văng ra. Tuyền béo lộn mấy vòng, né tránh những chiếc móng sắc nhọn điên cuồng vồ đến tới tấp.


      Chúng tôi định nhân cơ hội đôi mắt con vật tạm thời mất thị lực để tìm đường tháo chạy, song vị trí thời tiện lắm, lối ra thông với thần điện hộ pháp bị con vật chặn lại, mà nếu muốn ra khỏi vương thành Cổ Cách, chỉ có cách theo con đường đó xuống núi thôi. lối thoát khác trong miếu Luân Hồi là bức tường đổ bị mưa gió xói mòn, cao những mười mấy mét, trong lúc luống cuống chắc chắn thể leo xuống được. Nếu tiếp tục bị tấn công thế này, kể cả có vũ khí, chúng tôi cũng chẳng nề hà gì học theo năm tráng sĩ núi Lang Nha năm xưa, dùng đá mà chiến đấu, song chỉ sợ làm như vậy thể xử lý triệt để được con thú, đợi khi mắt nó hồi phục lại, ắt lỡ mất thời cơ.


      Tôi đá mắt quanh bốn phía, trong bụng có kế sách, liền vẫy tay gọi Tuyền béo, chỉ vào cánh cửa sắt màu đen trong mật động, đóng cánh cửa sắt lại, chặn nó ở phía ngoài trước .


      Hai đứa tôi dám ho he nửa tiếng, khẽ khàng lẻn ra hướng mật động, nhưng lại quên mất điều, con ma đói Balo này tuy bị ánh sáng mạnh của đèn pin mắt sói làm cho lóa mắt, song khứu giác vẫn hết sức nhạy bén, mùi nước tiểu khai hoắc người Tuyền béo gần như trở thành thiết bị định vị chúng tôi.


      Con Balo bấy giờ hồi phục lại sau cơn hoảng loạn vì bị lóa mắt, thấy người sống là tức tối điên cuồng, liền lao ngay về phía Tuyền béo. Tôi và Tuyền béo thấy tình hình khả quan, bèn sải bước bỏ chạy, song vì chạy ngược sáng, phía trước tối om như mực, tôi vấp phải đoạn tường đổ nát, ngã lộn cổ xuống, vội chống tay xuống đất, đình bò dậy chạy tiếp, lại cảm thấy dưới tay phải như có thứ gì đó đầy lông, thuận tay liền tóm lên xem, ra là con chuột xạ đen.


      Tuyền béo hớt ha hớt hải chạy phía sau tôi, tôi ngã lăn ra đất, cũng khiến cậu ta vấp phải, cả người loạng choạng. Tôi túm lấy cổ áo của Tuyền béo, gắng đứng dậy, lại thấy sau lưng lóe lên hai tia sáng lạnh lẽo, mắt con Balo hồi phục, tôi liền vung tay ném luôn con chuột xạ vào nó, con quái vật bắt lấy, năm đầu ngón tay siết lại, tức thời bóp chết con chuột, bỏ vào mồm nhai ngấu nghiến.


      Tôi nghĩ cái ngữ còn chưa là cương thi hay dã thú này, đại khái có thói quen là ăn vật còn sống, nhất định phải giết chết sau đó mới ăn. Khu di tích vương thành tuy có vẻ tĩnh mịch rặt mùi chết chóc nhưng lại náu vô số sinh vật hoạt động về đêm hoặc trong chỗ tối tăm như chuột xạ, nhện tuyết. Ban nãy nếu chạm vào con nhện, có khi trúng độc rồi. Hang động phía sau cửa sắt đen biết sâu hay , song lúc này nó trở thành lối thoát duy nhất, chỉ còn cách bạo dạn bước vào đó rồi hẵng hay.


      Tôi và Tuyền béo rút vào phía trong cánh cửa, cũng chẳng để ý xem gian phía sau như thế nào, cuống quýt giở ngược tay đóng cửa sắt lại. Tuyền béo thấy kết cấu cửa sắt, lập tức kêu khổ ầm ĩ, cửa này đóng mở phía ngoài, bên trong có then chốt gì, vả lại cũng thể lấy thân mình chặn cửa lại được, chỉ có thể kéo cửa vào trong,có sức cũng giở ra hết được.


      tiếng qua tiếng lại, cửa sắt bỗng bị luồng lực rất lớn giật mạnh ra phía ngoài, tôi và Tuyền béo dồn hết sức giữ chặt hai cánh cửa. Tuyền béo :" Chiêu này cũng xong đâu, tư lệnh Nhất ơi, cậu có kế hoạch phòng bị khẩn cấp nào ?"


      Tôi :" Cũng có kế hoạch B đấy, nếu như tháo chạy được ra ngoài, cũng chẳng chặn được nó, em ta quyết phen sống mái với con quái này ".


      Tuyền béo :" Tôi bảo rồi mà, ban nãy nhân lúc nó nhìn thấy, phải ra tay luôn rồi chứ, vậy giờ tôi thả tay cho nó lao vào, em ta xông ra, mất đầu cũng chỉ như việc gió thổi bay mũ, ta cứ lao ra quyết sống mái với nó ...", đoạn định buông tay mở cửa.


      Tôi vội ngăn cậu ta lại :" Cậu thà như thế từ bao giờ vậy? Tôi cũng chỉ thế thôi mà. Ta phải giữ sức, thể rắn với nó được". Tôi đá chân vào hai dây xích sắt mặt đất lúc nãy tiện tay lôi vào từ lúc vừa vào cửa. Hai dây xích sắt vốn khóa liền với tượng Phật mắt bạc, dùng cố định cửa sắt, lúc này đều bị tôi kéo vào, coi như là có thêm hai điểm vận lực vào để đóng chặt cửa sắt.


      Song tôi chưa hề nghĩ đến việc đóng cửa sắt từ bên trong để chặn con Balo ở phía ngoài, cánh cửa sắt này chính là cái gọng kềm sẵn có. Tôi bảo Tuyền béo lát nữa để chừa ra khe hở, bất kể con vật kia thò bộ phận nào vào, cậu quấn dây xích quanh eo, rồi cứ việc dốc sức kéo mạnh về sau, cần phải tay nể nang làm gì, kẹp chết nó .


      Con Balo bên ngoài cho chúng tôi thời gian bàn bạc cụ thể, móng vuốt của nó lách vào khe cửa, nạy cho rộng thêm ra, rồi thò đầu và cánh tay vào.


      Thời cơ chín muồi, tôi và Tuyền béo cùng lúc hét lên tiếng :" Hò dô ta nào!", rồi dốc toàn bộ sức lực, căng cứng cơ bắp, kéo mạnh dây xích, khiến cửa sắt lập tức kẹp chặt lại. Tiếng gân cốt bị kẹp gãy kêu lên răng rắc, con Balo đau đớn định giãy giụa thoát ra mà được, cổ nó bị kẹp chặt, dẫu có sức ngàn cân cũng khó mà thi triển được, nhưng nó vẫn cam tâm, tay vẫn ngừng cào cấu cửa sắt, còn nửa cánh tay thò vào trong cửa, vẫn hươ loạn xị ngậu về phía chúng tôi.


      Để có thể dốc hết sức, Tuyền béo ôm lấy tượng Phật mắt bạc, quấn dây xích sắt quanh bụng, song như vậy khoảng cách lại bị rút ngắn, khiến móng vuốt của con Balo vươn được tới bụng Tuyền béo, chỉ cách độ mấy milimet thôi là nó rạch được bụng Tuyền béo ra. Tôi cuống quýt móc bật lửa ra đốt cánh tay con quái. Con Balo bị lửa đốt, đau đớn vô cùng, song khổ nỗi thể vùng vẫy được, chỉ còn cách rống lên cách tuyệt vọng.


      Tôi và Tuyền béo từ được gọi là Bạt Mạng Tam Lang 1, lúc này bất giác dấy lên bản năng chiến đấu nguyên thủy. Đối xử với kẻ địch phải tàn khốc lạnh lùng như mùa đông, đối phương càng kêu la thảm thiết, chúng tôi lại càng máu me hơn. Đến khi bật lửa hết sạch gas, con Balo bị nướng khét; đầu, nửa vai và cánh tay con Balo thò vào trong cửa, gần như bị kẹp đứt đôi, chết đến thể chết hơn được nữa, chúng tôi mới chịu thôi.


      Tôi và Tuyền béo vừa nãy dốc hết sức, làm như vậy ở vùng cao thế này hết sức nguy hiểm, cảm giác như hít thở bắt đầu trở nên khó khăn. Hai chúng tôi dám di chuyển nửa bước, liền nằm luôn xuống đất, vất vả thở hồng hộc.


      Tôi nằm dưới đất, ngửi thấy có mùi thối rữa, mật động này nếu quả thực là địa ngục của Luân Hồi tông bọn tôi cứ mau chóng chuồn là hơn, có trời mới biết ở đây còn thứ quái quỷ gì nữa hay . Nhưng giờ sức cùng lực kiệt rồi, nếu trong tình trạng hít thở khó khăn mà tùy tiện lại, e phản ứng cao nguyên rất ghê gớm, vậy là đành phải dùng tay bật đèn pin soi xung quanh.


      Mặt đất bên trong cửa sắt chất đầy xương trắng, có xương người, xương động vật, vách tường lỗ chỗ nhiều hang động, to khác nhau, hang có thể cho những loài động vật như chuột xạ qua, còn hang to đủ cho con gấu ngựa Tây Tạng chui vào, song vị trí đều rất cao, người thường khó mà leo lên được. Thẳng đỉnh đầu tôi cũng có hang lớn, cửa hang tròn xoe, giống như cái giếng, có khả năng là hang này thông tói vương cung đỉnh núi, kẻ nào mạo phạm vương quyền bị vệ binh ném từ bên xuống.


      Tôi quan sát địa hình, chợt nghe thấy Tuyền béo nằm bên cạnh :" Nhất này, cậu xem đây là da gì vậy?"


      Tôi ngạc nhiên hỏi :" Da? Da gì? Da của ai?". Liếc mắt nhìn sang, thấy Tuyền béo giật ra miếng da lông đen sì bên dưới chỗ cậu ta nằm. Tôi đón lấy xem thử, thấy giống như da gấu ngựa Tây Tạng, cũng giống da người, có quá nhiều lông, chắc là da của người rừng?


      Tiện tay lắc , từ trong đống da lông ấy rơi ra mảnh xương trông giống xương sọ người, tựa như nửa chiếc đầu lâu, song mảnh xương dày đến kỳ lạ, thể có người xương dày như vậy được, đoạn lấy tay miết, cảm giác rất mềm, lại giống xương lắm. Tôi và Tuyền béo càng nhìn càng thấy kỳ quái, liền soi đèn pin lên, thấy mảnh xương có khắc chi chít chữ, tuy phải là loại chữ quái đản kiểu như long cốt thiên thư, song chúng tôi vẫn thể đọc ra được chữ nào.


      Vòm miệng của cái xương sọ này to hơn miệng người thường rất nhiều, tôi xem lúc lâu, cảm giác đây rất có thể là chiếc mặt nạ, nhưng sao lại dùng mảnh da còn cả lông của người rừng bọc lại, vứt vào trong địa ngục sau cánh cửa sắt này? Điều này tôi và Tuyền béo sao hiểu nổi. Trông túm lông tóc kia có vết tích của bàn tay con người, cũng chẳng có bán được giá hay .


      Chúng tôi thở đều lúc, thấy góc phòng chuột xạ con chạy loăng quăng mỗi lúc nhiều, dám nấn ná lại lâu hơn, bèn tức tốc rời khỏi cái nơi đầy rẫy xương xẩu này. Cánh cửa sắt vốn dĩ phải dùng để ngăn chặn con Balo, mà là đề phòng trường hợp tội phạm rơi từ núi xuống chết chạy ra khỏi cửa. Mấy cái hang lớn chếch phía trong đỉnh hang mới là chỗ cho loài ác thú kia ra vào, nếu lại có hai con nữa nhảy xuống, dễ đối phó chút nào.


      Tuyền béo dùng mảnh da lông người rừng gói chiếc mặt nạ kỳ quái lại kẹp vào dưới nách, rồi cùng với tôi lần lượt leo ra khỏi hang động bí mật. Lúc này bên ngoài trăng sáng lơ lửng giữa bầu , vừa đúng nửa đêm, mặt đất trong miếu Luân Hồi loang lổ vết máu, rải rác tứ chi bị cắn đứt còn thừa lại của thằng A Đông, cảnh tượng thực vô cùng thảm khốc.


      Tôi bàn bạc với Tuyền béo, bất kể thế nào cũng cùng nhau chung đường tới đây, chớ để chết trơ xác thế này, nhưng đào hố chôn phiền phức quá, thôi cứ nhặt những phần còn lại của , đem vứt vào trong hang động bí mật vậy.


      Hai chúng tôi mỗi người tay chân gom nhặt những gì còn lại của A Đông vứt vào bên trong cánh cửa sắt đen, sau đó đặt lại pho tượng Phật mắt bạc về chỗ cũ. Thó trộm cái thứ này, chắc chắn gặp báo ứng, cứ để nó trong ấy hơn. Thứ nữa liền đóng cánh cửa sắt, dùng đá và gỗ vụn lấp cho chặt, rồi mới men theo đường cũ trở về.


      đường về, Tuyền béo vẫn mực thở vắn than dài, hết sức thông cảm cho số mệnh bi thảm của A Đông :" Tôi phát ra chân lý thế này Nhất ạ, hùng hảo hán có phải ai cũng có thể làm được đâu. Lời của cậu vẫn có lý , càng vào những lúc quyết định, càng phải dám giở các ngón tiểu nhân".


      Tôi với Tuyền béo :" Cũng thể cứ giở trò tiểu nhân mãi được, lão mù có câu rất hay, sống ở đời có rất nhiều tai bay vạ gió, giang hồ lắm mối hiểm nguy, song cũng chỉ toàn sóng gió, nhưng cái chính là khi đối mặt với những mối nguy hiểm tính chất khác nhau, chúng ta phải áp dụng các đối sách khác nhau. Từ xưa cổ nhân , đánh vào thành trì là hạ sách, đánh vào lòng người mới là thượng sách, về sau chúng ta nên đẩy mạnh công tác tuyên truyền tư tưởng, gắng hóa giải mối thù hằn ngay từ trong tâm lý địch ..."


      Chúng tôi vừa vừa chuyện phiếm, lúc ba hoa đâu, đột nhiên lại nghe thấy phía sau có tiếng bước chân, dường như có người theo đuôi chúng tôi, tôi bắt đầu cảnh giác, liền lập tức dừng câu chuyện, ngoảnh đầu lại nhìn phía sau. Dải núi rừng tĩnh mịch, dưới ánh trăng soi, in cái bóng đen sì ngả xuống mặt đất, dáng dấp tựa như mặt mũi của con mãnh thú há miệng nhe nanh. Cơn gió giận dữ gầm vang cao nguyên hoang lạnh, gió nổi lên, có lẽ vừa nãy chỉ là ảo giác. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tuy phát ra điều gì dị thường, song trong lòng tôi vẫn lo nơm nớp, cứ cảm thấy có gì đó ổn, bèn cùng Tuyền béo rảo nhanh bước chân, vội vàng chạy về chòi gác nơi đoàn thám hiểm ngủ lại qua đêm. Nhân chưa có ai phát giác, chúng tôi liền chui vào trong túi ngủ đánh giấc say sưa.


      Ngay sớm hôm sau, Minh Thúc hỏi chúng tôi xem có thấy thằng bố láo A Đông đâu , tôi và Tuyền béo đều lắc đầu lia lịa, thấy. Tôi bảo chắc thằng A Đông ấy thấy khuân vác bình dưỡng khí vất vả quá, chịu nổi cực nhọc chuồn về trước rồi.


      Tuyền béo giả vờ còn giỏi hơn :" A Đông á? phải ở lại Bắc Kinh sao? Sao lại ở đây nhỉ? Bác lẩm cẩm rồi à? Hay thiếu oxy? Mau đeo ống dưỡng khí vào !"


      Minh Thúc đành bảo Peter Hoàng tìm xung quanh xem, song cuối cùng vẫn có kết quả gì, bèn hỏi lại nữa, dù sao cũng chỉ là thằng lăng xăng, sống hay chết, hoàn toàn chẳng liên quan gì đến đại cuộc.


      Hôm đó, tay hướng đạo thông báo với chúng tôi hôm nay thể được, cuối đêm qua, trời nổi gió suốt, xem chừng hôm nay chắc chắn có mưa lớn. Đoàn chúng ta lại có quá nhiều bò Yak, bò Yak cao nguyên sợ sói, cũng sợ gấu ngựa, nhưng lại sợ nhất sấm, dọc đường mà gặp sấm chớp, chắc chắn chạy loạn cả lên, thôi đành nán lại ngày, đợi mai hẵng xuất phát quay lại Semge zangbo.


      Chúng tôi nghĩ, dẫu sao cũng biết được vị trí đại khái của khe Kelamer núi Côn Luân, dẫu có tới được đấy tạm thời cũng chẳng thể vào trong núi, bởi đồ đạc và trang thiết bị đều chưa tới, ít nhất cũng phải nửa tháng nữa tất cả mới chuẩn bị xong xuôi được. Vả lại từ vùng A Lý đến núi Côn Luân, dường như phải băng qua cả Tây Tạng, đường xá xa xôi, nhất thiết phải tranh thủ hai ngày làm gì, thế là cả đoàn nán lại trong di tích thành lũy. Quả nhiên chưa đến trưa, trời mây đen kéo đến dày đặc, cuối cùng cũng trút mưa xuống.


      Đoàn người uống trà bơ trong tòa lũy cổ đợi cho mưa ngớt, trời mưa, khí áp càng thấp, A Hương cảm thấy hít thở khó khăn, cứ ở phòng trong ngủ suốt, những người còn lại bàn bạc kế hoạch hành động tiếp theo. Sau đó Tuyền béo kể lại cuộc đời đổ đấu hoành tráng của mình cho bọn Minh Thúc nghe, khiến cả đám người đó đều rùng mình khiếp sợ.


      Tôi nhân cơ hội đó gọi Thiết bổng Lạt ma và Shirley Dương vào trong buồng đá nơi tôi ngủ, lấy miếng da lông người rừng cùng với chiếc mặt nạ bồi giấy hồ đưa cho hai người họ xem, đồng thời kể vắn tắt câu chuyện tối hôm qua. Song nhắc nhở họ rằng, tốt nhất cho Minh Thúc biết về cái chết của A Đông để khỏi hiểu lầm, lão ta có thể nghĩ tôi và Tuyền béo lập mưu cướp của rồi giết thằng A Đông, cho nên chớ tự mình chuốc lấy phiền phức làm gì.


      Shirley Dương nghe xong hơi bực mình :" Các cũng to gan lớn mật đấy, tay tấc sắt, đêm hôm lại dám vào trong thành cổ bày trò dọa nạt, uổng cho từng làm trung úy mấy năm, thế mà chẳng có chút chín chắn gì hết, nếu xảy ra điều gì bất trắc biết tính sao?"


      Tôi với Shirley Dương :" hùng nhắc chuyện năm xưa, nhớ buổi vàng son ánh nguyệt mờ. Việc tối hôm qua và cả những việc trước kia đều trở thành lớp bọt sóng trôi khuất dòng sông lịch sử rồi, chúng ta nên quẩn quanh với cái quá khứ tồn tại khách quan ấy nữa. xem mấy cái chữ chiếc mặt nạ này xem, có biết chữ nào ? Đây là vật duy nhất có chữ viết trong miếu Luân Hồi đấy, Luân Hồi tông và tín ngưỡng của Ma quốc có rất nhiều điểm tương đồng, chừng lại có thông tin gì có giá trị trong đây cũng nên".


      Shirley Dương bó tay :" mồm mép lắm, có lẽ nên bộ đội, mà nên làm luật sư, hay chính trị gia gì đó hơn". đoạn, đón lấy chiếc mặt nạ xem, rồi lấy làm lạ :" Đây là Kinh Thánh viết bằng chữ Bồ Đào Nha".


      Ngoài tinh thông quyết chú Tầm long ra, tôi còn có sở trường nữa, đó là nếu như người khác hỏi những vấn đề tôi muốn trả lời, tôi giả vờ như nghe thấy. Thế là tôi liền hỏi Shirley Dương :" biết cả tiếng Bồ Đào Nha cơ à? Tôi bảo rồi mà, mấy cái chữ này sao trông lại giống mấy chùm nho thế kia chứ" 2.


      Shirley Dương lắc đầu :" Chỉ đọc hiểu được ít thôi, nhưng Kinh Thánh tôi thuộc lòng rồi, đây chắc chắn là Kinh Thánh, thể nhầm được". Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Cộng thêm lạt ma ở bên cạnh trợ giúp, cuối cùng có thể đoán định, mặt nạ này là loại hình tượng ma quỷ của Luân Hồi tông. Dùng Kinh Thánh để chế ra chiếc mặt nạ khủng khiếp thế này, e là có liên quan đến việc xung đột tôn giáo ở Tây Tạng trước đây. Da và lông của người rừng Himalaya là thứ của báu mà quý tộc Tây Tạng cổ khi xưa thích, nghe có tác dụng giữ nhiệt, nếu đem thi thể gói vào bên trong, còn có thể chống mục rữa. Khi các vương tôn quý tộc săn, thường thích khoác sau lưng làm áo choàng, có thể giấu mùi người trong gió; còn có thuyết khác rằng, loại da còn nguyên lông này có thể gói chặt linh hồn, khiến nó vĩnh viễn được giải thoát.


      Shirley Dương muốn xem trong chiếc mặt nạ chứa đựng huyền cơ gì, bóc từng lớp giấy khô ra, liền phát những trang giấy có chép Kinh Thánh này lại có vẽ vô số đường nét ngoằn ngoèo, hóa ra là tấm bản đồ, có mạch núi đường sông, lại có cả thành lũy lầu tháp, nhưng biết là bản đồ nơi nào.


      Do có bất kỳ cứ liệu nào khác, chỉ dựa vào địa hình trong bản đồ để suy đoán đây có thể là bản đồ của vương triều Tượng Hùng cổ xưa ở vùng đất Đại Bàng, cũng có thể là bản đồ của Phượng Hoàng thần cung ở núi Côn Luân, bởi vương triều Cổ Cách diệt vong có mối liên hệ rất chặt chẽ với hai nơi này, rất có thể họ còn giữ lại thông tin về hai di tích cổ đại ấy. Có người Tây nào đó chép trộm, chuẩn bị tìm kho báu, hoặc giả làm gì đó khác, song chưa kịp mang ra, gặp phải tai họa bị ném xuống ngục cho con Balo ăn thịt, còn những trang Kinh Thánh có bản đồ vẽ trộm bị bồi thành chiếc mặt nạ ác quỷ, dùng da người rừng bọc lại, cùng ném xuống địa ngục. Song những việc cụ thể bên trong, chúng tôi thể suy đoán được, tóm lại tấm bản đồ với diện mạo thay đổi hoàn toàn này ắt có giá trị nhất định của nó.


      Nhân lúc Shirley Dương bận phục chế tấm bản đồ, tôi ra ngoài rót cốc trà bơ uống. Trời mưa hạt nhiều, nhưng sấm chớp vẫn đùng đùng, tựa hồ còn ủ cơn dông lớn hơn nữa, tối sầm sì như đêm, ngày mai liệu trời có hửng lên hay cũng chưa biết chắc. Tuyền béo ở buồng ngoài, ngồi bên đống lửa cao hứng phét lác, Minh Thúc, Peter Hoàng, Hàn Thục Na, và cả tay hướng đạo tên Zhaxi, có nghĩa là may mắn, đều há hốc mồm ngồi bên cạnh chăm chú lắng nghe.


      Chỉ nghe cậu ta văng cả nước bọt :" Tuyền béo tôi đây xé phăng cái bánh tông già trong cỗ quan tài lớn thành tám mảnh, đầu đem chôn rìa đường, chân tay lần lượt chôn ở Đông sơn và Tây sơn, còn lại khúc thân, đá phát cho bay xuống sông".


      Tuyền béo với Peter Hoàng, chính là cái vị thân vương già gì ấy ở nước cậu, lại đúng lúc đó tới Trung Quốc chúng tôi, khắp đường đâu đâu cũng có đội kèn trống hoan nghênh. Bộ Ngoại giao cứ nằng nặc mời tôi gặp ông ấy, mà tôi chẳng thích, sợ chỗ ồn ào mà, vậy là đành phải lánh về dưới quê, tìm được căn nhà hung lắm, nghe có đến mười bảy người chết trong ấy rồi cơ đấy. Cái tính của Tuyền béo tôi đây là thế, tin mấy thứ đó, trạch hung trạch tôi đây vẫn ở như thường hết. Đến đêm bắt đầu ngồi đếm lại số minh khí mò được từ cái bánh tông già kia, cộp cộp cộp ... vừa ngồi đếm, bác đoán xem thế nào?


      Minh Thúc lắc đầu :" Có lẫn thế, chú cho chúng tôi, sao chúng tôi đoán được? Mà chú rốt cuộc vơ được bao nhiêu minh khí?"


      Tuyền béo :" Thôi khỏi phải nhắc, lại còn minh khí gì nữa, vừa đếm được nửa, cửa phòng bị đẩy bật ra, bên ngoài cứ sấm nổ đùng đùng ấy, cửa phòng cứ thế tự mở, từ bên ngoài lăn vào thứ, chính là cái đầu người bị tôi chôn ở rìa sông ấy".


      Bọn Minh Thúc rỗi hơi ngồi nghe Tuyền béo phét lác, tuy biết là cậu ta nhăng cuội, nhưng bấy giờ tiếng sấm ngoài trời nổ liên hồi, trong tòa lũy cổ hoang phế lại u tăm tối, thành thử ai nấy đều căng thẳng sợ hãi.


      Tôi thấy buồn cười, nghĩ bụng thằng béo này cũng hay hớm , cứ bốc phét , tốt nhất là nạt cho Minh Thúc tái phát bệnh tim ra, chúng ta có cớ dắt lũ bâu nhâu này đến Kelamer tìm Long đỉnh nữa.


      Tôi bước đến bên bình trà, vừa nhấc bát lên định rót, bỗng nghe thấy tiếng hét kinh hãi của con , hình như là A Hương, chẳng phải ngủ sao? Tất cả mọi người trong phòng đều đứng bật dậy, ngay cả Thiết bổng Lạt ma và Shirley Dương cũng bước ra.


      Mọi người lo A Hương xảy ra chuyện gì, định vào xem bé thế nào thấy A Hương chân đất chạy ra, gục đầu vào lòng Minh Thúc. Lão vội an ủi :" Con ngoan đừng sợ, xảy ra chuyện gì hả con?"


      A Hương trợn trừng đôi mắt vô hồn, nhìn mọi người trong phòng lượt, rồi với lão :" Ba ơi, con sợ lắm, con thấy A Đông máu me đầy người, cứ lại dật dờ trong căn phòng này mãi".


      Người khác có khi thấy gì, nhưng tôi, Tuyền béo và mấy người biết A Đông chết, đều cảm thấy lạnh ớn sống lưng. Lúc này Thiết bổng Lạt ma bước lên phía trước :" thành 'thân trung ấm' rồi, phải mau mau làm lễ độ vong, bằng hại chết những người sống ở đây".


      Thiết bổng Lạt ma "thân trung ấm" phải là oan hồn, nhưng lại rất giống oan hồn. Mật tông cho rằng, người sau khi chết, khoảng thời gian từ đó cho đến khi được đầu thai, trạng thái linh hồn gọi là "trung ấm".


      Lạt ma hỏi A Hương, giờ có thể nhìn thấy "thân trung ấm" ở đâu ?


      A Hương run rẩy giơ ngón tay, mọi người đều lùi lại bước theo phản xạ, thấy ngón tay bé chỉ thẳng vào Thiết bổng Lạt ma. --------------------------------


      1 Bạt Mạng Tam Lang: tên hiệu của Thạch Tú, trong 108 vị hùng Lương Sơn.


      2 Bồ đào trong tiếng Trung nghĩa là quả nho

    5. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.4 - Chương 10: ĐÔI MẮT BẲN NĂNG





      Lạt ma đột nhiên biến sắc mặt, chỉ kêu lên tiếng :" xong rồi", liền ngã bật ngửa ra sau. Tôi nhanh tay nhanh mắt, vội đỡ lấy lưng ông, ngoảnh lại nhìn thấy lạt ma mặt mày vàng vọt, hơi thở thoi thóp, tôi lo tính mạng ông gặp nguy hiểm, liền vội bắt mạch, vừa bắt cổ tay, phát ra mạch tượng của ông lúc lúc , tựa hồ bất cứ lúc nào cũng có thể về chầu Tây thiên cực lạc.


      Tôi hoàn toàn hiểu "thân trung ấm" là gì, dường như phải ma quỷ ám vào, nhất thời cũng biết phải làm thế nào mới được.


      Minh Thúc đứng đối diện với chúng tôi :" A Đông làm sao lại chết được? Lẽ nào các người mưu sát nó?". Vừa vừa đánh mắt cho tên thủ hạ Peter Hoàng, tỏ ý bảo bảo vệ mình.


      Tuyền béo đứng cạnh hiểu lầm, tưởng Minh Thúc bảo Peter Hoàng động thủ, liền rút con dao lính dù ra, phi lên phía trước, định hạ lão. Peter Hoàng cũng rút dao găm lao ra đứng chặn trước mặt Minh Thúc như tòa tháp sắt.


      Trong tòa cổ lũy, nhất thời rặt mùi đao kiếm, khí căng thẳng tựa như có thùng thuốc nổ khổng lồ, chỉ cần hơi có tia lửa là bùng nổ. Hàn Thục Na lo con nuôi bị thương, vội kéo A Hương ra xa.


      Thấy Tuyền béo và Peter Hoàng lăm lăm con dao sắp lao vào nhau, tôi thầm nghĩ nếu động thủ, bọn tôi cũng chẳng bị thiệt, đối phương có lão khọm và hai ả đàn bà, cho dù Peter Hoàng có tài cán đến mấy, sức của cũng chỉ là đội viên du kích quèn thôi. Tuyền béo xử lý chắc chắn thành vấn đề, chỉ có điều chớ xảy ra án mạng là được.


      Shirley Dương tưởng tôi khuyên giải, song thấy tôi cứ tưng tửng, như muốn xem trò hay ho, bèn lấy tay đẩy tôi. Tôi giật mình tỉnh ra, chẳng hiểu làm sao, từ đầu chí cuối tôi đều coi hội Minh Thúc là người bên mình, song giả như có chuyện xảy ra , cả hai bên cũng đều chẳng có ích lợi gì.


      Vậy là tôi đành lên tiếng :" Các đồng chí! Mong các đồng chí bình tĩnh lại chút, đây chỉ là hiểu lầm thôi, việc gì cũng có thể bình tĩnh bàn bạc trong hòa bình cả mà". Đoạn tôi liền kể lại việc A Đông vào di tích vương thành ăn cắp tượng Phật mắt bạc, bị tôi và Tuyền béo phát , và cái chết thảm thương của .


      Minh Thúc liền xuống nước :" Chú Nhất có lý lắm, có việc gì cứ bàn với nhau. Thằng ranh A Đông là thằng tham lam ngay đến cả cái lợi bằng đầu con ruồi, nó đáng chết từ lâu rồi, chớ vì nó mà làm tổn thương hòa khí ...". Ngừng vài giây lão lại tiếp :" Việc cấp bách trước mắt là vị lạt ma này sắp tịch rồi, mau hỏa táng thi thể ông ta, bằng chúng ta đều chuốc vạ theo đấy. Tôi đọc trong cuốn cổ kinh kia, có phần viết về 'thân trung ấm' đấy".


      Minh Thúc bảo chúng tôi, các cậu hiểu thằng A Đông này đâu,chớ thấy nó thường làm những việc lén lút, bẻ khóa nạy cửa, song nó nhát hơn thỏ đế, nó có biến thành ma cũng dám làm khó các vị đâu, nhưng vấn đề là cái "thân trung ấm" chắc chắn bị thứ gì đó ám vào, bởi quá trình trung ấm trong cuốn kinh miêu tả rất khủng khiếp, phải trải qua bảy bảy bốn mươi chín ngày, trong thời gian đó, nhìn thấy nữ thần màu trắng đầu gấu mình người, tay cầm xác người làm gậy, hoặc bưng chiếc bát làm bằng sọ người bên trong đựng đầy máu, đại loại thế, tóm lại rất kinh khủng. Thân trung ấm khi tan ra, biến thành cái gì "cấu" ấy, đốt nó, nó hại chết người khác.


      Về chuyện này Minh Thúc cũng chỉ biết qua loa đại khái thôi, tuy lão ta cả ngày giở xem cuốn cổ kinh của Luân Hồi tông ấy, nhưng toàn xem nội dung liên quan đến Băng xuyên thủy tinh thi, những phần khác đều đọc lướt qua, vả lại những đoạn viết về "thân trung ấm" trong cuốn kinh thư cũng được tường tận lắm cho cam.


      Tôi cúi đầu kiểm tra tình trạng của Thiết bổng Lạt ma, phát mống mắt lạt ma dường như hằn lên vài đường huyết quản màu đen, banh mắt ông ra xem, thấy đầy những gợn đen, giống như những tia máu đỏ xuất trong mắt khi thiếu ngủ, song tia máu trong mắt của ông lại toàn màu đen. Quan sát kỹ hơn nữa, phát ra những tia máu đen trong mắt ông kéo dài ra cả phần mặt, huyết quản dưới da và các dây thần kinh đều biến thành màu đen kéo dài đến tận cánh tay.


      Mọi người thấy tình trạng của lạt ma đều bất giác toát mồ hôi lạnh, thứ gì lại ghê gớm đến thế? Giờ phút này Thiết bổng Lạt ma bất tỉnh nhân , thể cho chúng tôi biết phải đối phó với tình hình này thế nào.


      Lúc này trong đám chúng tôi, hình như chỉ có Shirley Dương là hiểu được số tình của Mật tông, song khi hỏi ra, Shirley Dương cũng phải cứu lạt ma thế nào. " Thân trung ấm" là bí mật bất truyền của Mật tông, chỉ có số nhà sư ở Sikkim nắm bắt được ảo diệu thực bên trong, chỉ e cho dù Thiết bổng Lạt ma thần trí tỉnh táo cũng chưa chắc có cách giải quyết.


      Lòng tôi như lửa đốt, lẽ nào lại trơ mắt ra nhìn lạt ma chết hay sao? Ông vì giúp đỡ chúng tôi nên mới chẳng ngại ngàn dặm xa xôi đến đây, ông mà có gì bất trắc ... thà để tôi chết thay ông cho xong.


      Shirley Dương khuyên :" Bình tĩnh Nhất! Có khi A Hương có thể giúp chúng ta đấy. Tôi nghĩ có khả năng A Hương có con mắt bản năng, hãy để bé xem thử tình hình bên trong của lạt ma, chừng có thể tìm ra cách giải quyết". Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Hai hôm trước, đường , Thiết bổng Lạt ma có với chúng tôi, bé A Hương này có " đôi mắt bản năng". Trong Phật giáo Mật tông, các lạt ma cho rằng, đôi mắt có thể phân làm sáu cảnh giới, loại thứ nhất là mắt của người thường, chỉ những người trần mắt thịt, có thị lực bình thường. Loại mắt thứ hai gọi là "bản mục", tức đôi mắt bản năng. Đó là đôi mắt sở hữu trực giác nhạy bén như mắt các loài động vật hoang dã, do dính phải ô nhiễm của thế tục, cho nên phạm vi quan sát rộng hơn rất nhiều so với mắt của loài người, phạm vi này phải chỉ độ sâu của thị lực, mà là chỉ khả năng có thể nhìn được vài thứ người thường nhìn thấy. Thứ đến là "thiên nhãn" có thể nhìn thấy quá khứ và vị lai cho đến nhiều đời nhiều kiếp của chúng sinh. Loại thứ tư gọi là "pháp mục", như mắt của Bồ Tát và A La Hán, có thể nhìn thấu việc của hàng trăm kiếp trước sau. Loại thứ năm là "thánh nhãn", có thể nhìn thấu việc của hàng triệu kiếp trước sau. Cảnh giới tối cao là " Phật nhãn", vô biên vô tận, có thể nhìn thấu cõi vĩnh hằng vô thủy vô chung.


      Tôi nghe Shirley Dương nhắc, mới nhớ ra lúc này có lẽ chỉ có A Hương là chiếc phao cứu sinh duy nhất, bèn lập tức trưng ra bộ mặt hòa nhã thân thiện của chú bộ đội giải phóng, ôn tồn niềm nở nhờ A Hương giúp xem rốt cuộc Thiết bổng Lạt ma thế nào rồi.


      A Hương nấp sau Minh Thúc :" Cháu chỉ thấy bóng người đầy máu, trông như A Đông, bị thứ gì đó màu đen quấn chặt vào với sư phụ lạt ma, chỗ tay phải là chằng chịt nhất". A Hương cùng lắm cũng chỉ thấy có vậy, hơn nữa nhìn lâu bị đau đầu, nên dám nhìn nhiều.


      Tôi bĩu môi, thế làm gì? Thứ gì màu đen? thế thà còn hơn, song lại thể ép A Hương, đành ngoảnh đầu tìm Shirley Dương bàn cách đối phó. Shirley Dương vén ống tay áo Thiết bổng Lạt ma lên, xem xét tay phải của ông, đoạn với tôi :"Ban nãy khi xem tấm da còn nguyên cả lông của người rừng, ngón tay lạt ma bị chiếc dằm trong mớ lông tóc đâm phải. Lúc ấy chúng tôi đều để ý, lẽ nào đây phải là do ' thân trung ấm' tác quái, mà là tấm da còn cả lông kia có vấn đề?"


      Tôi nghe vậy lại càng cảm thấy lạ hơn, bèn ngồi xổm xuống quan sát ngón tay lạt ma, ngón giữa của ông quả nhiên bị rách lỗ , song chảy máu, bèn vội với Tuyền béo :" Mau vào phòng đốt ngay miếng da kia , cái thứ ấy quái gở lắm".


      Tuyền béo hùng hục chạy vào trong phòng chúng tôi, thoắt quay trở ra :" Mất rồi, vừa nãy ràng còn ở trong phòng, lẽ nào nó có chân tự chạy à? Chỉ còn lại vài sợi lông của người rừng thôi..."


      Mọi người nhìn nhau thất sắc, tôi với Shirley Dương :" Có khả năng chúng ta nhìn lầm chăng, đó vốn dĩ phải là da người rừng Himalaya, mà là da cương thi sau khi xảy ra thi biến, chừng là da của cha cố người Bồ Đào Nha kia cũng nên. Có điều nếu đấy là lông da của hắc hung có thể chúng ta vẫn còn tia hy vọng cứu sống được lạt ma".


      Từ xưa tới nay, bài học đầu tiên mà các Mô kim Hiệu úy phải học là làm thế nào đối phó với cương thi và thi độc. Chúng tôi chưa từng gặp phải cương thi, nhưng trước khi rời Bắc Kinh, tôi và Răng Vàng cùng lão thầy bói mù họ Trần chuyện trò hồi lâu trong quán bánh bao. Lão có đến rất nhiều vật mà tôi hiếm khi nghe thấy, hiếm khi nhìn thấy, ví như vài công dụng của móng lừa đen ...


      Lão mù họ Trần tuy hay khoác lác, nhưng cũng có chuyện phải là bịa đặt lung tung. Ngày thường chẳng thắp hương, đến khi có vạ lại nương cửa chùa, thôi đành phải thử xem sao. Mấy cái móng lừa đen của chúng tôi vẫn là do Yến Tử kiếm cho từ hồi còn đổ đấu ở Hắc Phong Khẩu kia. Trong thôn có rất nhiều lừa, bấy giờ cả thảy chuẩn bị được tám chiếc, sau đó cứ dùng cái nào rồi lại vứt cái đấy, cũng chẳng bổ sung thêm nữa. Độ từ Vân Nam trở về đánh mất bảy chiếc, chỉ còn cái dự trữ để lại nhà ở Bắc Kinh, lần này cũng may Tuyền béo cầm .


      Tuyền béo lần mò túi hành lý hồi, mới tìm ra chiếc móng lừa đen đưa cho tôi. Tôi lấy tay tâng chiếc móng lên hai phát, có tác dụng gì cũng chẳng , cứ tạm thời thử xem sao , nếu được, âu cũng là ý trời.


      Tôi định động thủ, lại bị Shirley Dương ngăn lại :" định cho người sống ăn móng lừa đen à? Tuyệt đối thể làm vậy, như vậy mất mạng đấy, cần phải áp dụng biện pháp y học hiệu quả để chữa trị cho lạt ma mới được".


      Tôi :" Tôi đố tìm ra được tay dân du mục nào trong vòng tám trăm dặm quanh cái di tích Cổ Cách này đấy, lại còn đâu tìm bác sỹ nữa chứ? Cái cách này của tôi tuy nhà quê, nhưng cũng có lai lịch của nó, vả lại đâu phải nhét hết cả cái móng lừa này vào bụng lạt ma Ake. Trước mắt cứu người là quan trọng, giờ kỹ cho biết, nếu như mau chóng trừ khử thứ da lông của hắc hung , những tính mạng lạt ma giữ được, mà còn chết nhiều người hơn nữa đấy".


      Câu cuối cùng của tôi khiến mọi người đều câm lặng, bầu khí bỗng chốc trở nên căng thẳng, rồi đột nhiên cũng biết là ai phát ra, hét lớn, bảo mọi người xem khuôn mặt lạt ma. Ngoài tòa cổ lũy hoang phế, mưa ngớt từ lâu, song tiếng sấm trầm đục vẫn vang lên đùng đùng, như chưa từng dứt. Đống lửa trong căn buồng đá mãi có ai bỏ thêm phân trâu khô vào nên sắp tắt, ánh lửa lay lắt hắt lên mặt Thiết bổng Lạt ma, mọi người nhìn xuống, ai nấy đều lạnh toát người, cơ thể của lạt ma cứng đơ, mặt mọc ra lớp lông đen cực mịn.


      Vốn dĩ là người sống yên lành, giờ phút này bỗng giống như cỗ cương thi xảy ra thi biến.


      Tôi với mọi người :" Bình tĩnh! Mới bắt đầu thôi, vẫn kịp cứu. Mọi người mau đốt đống lửa hơn chút .... cho tôi bát nước sạch, cọng rơm chừng hai mươi centimet, càng nhanh càng tốt".


      Minh Thúc cũng biết Thiết bổng Lạt ma là nhân vật quan trọng trong chuyến này, có ông, vô số vấn đề liên quan đến phong tục tập quán Tây Tạng cổ xưa đều có thể lần ra được hết, lạt ma lại tinh thông y lý Tạng dược, được ông giúp đỡ, khi đến Kelamer tìm lầu ma chín tầng Long đỉnh, ắt đỡ tốn công tốn sức hơn nhiều. Xét việc công việc tư, đều thể cứu, đoạn liền đẩy Peter Hoàng và Hàn Thục Na vào giúp.


      Tôi kiểm tra lại bàn tay phải của lạt ma, tình hình ở chỗ đó nghiêm trọng nhất, sưng phù lên tới cùi chỏ, cái lỗ bị rách ngón tay to bằng hạt đậu, nửa cánh tay chuyển thành màu tím đen, dùng tay ấn , da thịt giống như bùn nhão, như thể rữa từ trong ra ngoài vậy.


      Thấy tình hình lạt ma nguy trong gang tấc, tôi nắm chặt móng lừa đen trong tay, trong lòng thầm suy tính, nếu có thêm vài chiếc nữa tốt, chiếc móng lừa đen quả thực quá ít. Vừa nãy tuy với mọi người là vẫn còn kịp cứu lạt ma, song giờ xem ra, phần mười cũng chắc chắn, nhưng nếu làm gì cả, chỉ còn biết trơ mắt nhìn ông dần dần chết ...


      Tôi cân nhắc mặt lợi mặt hại, thậm chí hơi do dự chưa quyết, Shirley Dương bước lên vỗ vào vai :" Chuẩn bị xong cả rồi, nhưng mà cao nguyên Thanh Tạng tìm đâu ra cọng rơm cơ chứ, hướng đạo Zhaxi gỡ cái ống hút thuốc của ta ra rồi đây, xem có dùng được ?"


      Tôi đón lấy cái ống hút tay Shirley, là chiếc ống hút thuốc lào bằng đồng, dài rỗng ruột, vừa vặn rất hợp dùng. Tôi đưa lạt ma ra cạnh đống lửa mọi người vừa đốt, đổ nửa bát nước, rồi đặt phía dưới tay phải lạt ma, sau đó rút dao, cắt ra vài lát mỏng móng lừa đen vừa già vừa dai.


      Tuyền béo cũng thấy hoài nghi, :" Nhất này, chú lạt ma còn chưa tắt thở, cậu thực định coi chú ấy là bánh tông để đối phó đấy à?"


      Minh Thúc cũng hỏi :" Móng lừa đen có thể trị bệnh được sao?"


      Tôi chép miệng, với mấy người vây xem xung quanh :" Các đồng chí đừng có lắm mồm nữa được ? đời này vật nọ khắc vật kia, cái lẽ tạo hóa nó vậy. Thiết bổng Lạt ma đương nhiên phải cương thi, song tình hình của ông giờ chừng như bị khí độc của thây ma ám vào, chỉ có cách đốt móng lừa đen cho phả ra khói đặc, xông vào vết thương mới có thể cứu chữa được. Các người nếu có cách gì khác mau mau ra, nếu đừng quấy rầy việc tôi cứu người".


      Shirley Dương, Tuyền béo và bọn Minh Thúc cảm thấy khó hiểu, mấy cái miệng đồng thanh hỏi :" Xông khói á?"


      Tôi tranh luận với họ nữa, trước tiên nhấc trong đống lửa ra cục phân trâu khô cháy bừng bừng, sau đó đặt mấy lát móng lừa đen lên đốt, móng lừa đen gặp lửa, quả nhiên tức khắc bốc lên ít khói xanh. ra cũng thấy lạ , loại khói này phải màu đen cũng phải màu trắng, lởn vởn nhè , khói dần dần bốc lên trong đống lửa, ngoài mùi lá cây mục cổ quái, cũng có mùi vị gì khác lạ, ai nấy đều nước mắt cay xè.


      Tôi hươ hươ tay, bảo mọi người lùi lại phía sau mấy bước, đừng vây chặt như thế, để khỏi bị hun hỏng mắt, sau đó ngâm ngón tay giữa của lạt ma vào trong bát nước, khiến máu mủ ven vết rách tan ra.


      Tôi đột nhiên nghĩ ra, ngón tay giữa của con người thuộc tâm, nếu khí từ xác chết ám vào tâm mạch, dẫu tìm ra móng lừa của Trương Quả Lão trong Bát tiên, sợ cũng cứu được tính mạng lạt ma mất thôi.


      Tôi cho thêm vài lát móng lừa nữa, thấy khói càng lúc càng dày, tôi bèn ngậm ống hút, hút lấy khói bốc lên phả vào vết thương ngón tay ông. Chưa tới nửa phút, thấy vết rách ngón tay kia ra từng giọt nước, chảy đầy ra cả bát. Tôi thấy quả nhiên có hiệu quả kỳ diệu, trong lòng mừng rỡ, rối luôn tiết tấu hô hấp, miệng lập tức nuốt vào luồng khói lớn, ho sặc sụa, nước mắt nước mũi đầm đìa, lồng ngực cảm thấy hết sức tởm lợm, đầu óc quay cuồng xoay chuyển, thế là vội giao ống hút cho Tuyền béo, bảo cậu ta tạm thời thay chân.


      Tôi chạy ra cửa nôn thốc nôn tháo, hít thở vài hơi sâu khí sau mưa, lúc ấy mới thấy đỡ hơn phần nào, đợi khi tôi quay vào trong căn buồng đá, ngón tay lạt ma còn chảy nước nữa, vết thương dường như có vật gì đó ở bên trong chẹt lại, bật đèn pin soi vào, dưới da hình như có vật thể màu đen. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Shirley Dương vội tìm cái nhíp, khử trùng qua rồi kẹp lấy vật thể ấy, nhè gắp ra, vừa nhìn thấy chính là cuộn lông tóc kết thành búi, hiểu vì sao lại chui vào trong đó được. Lại dùng móng lừa đen hun khói, rồi vết thương lại chảy nước, lúc sau lại lấy bên trong ra được búi lông tóc rối bời nữa.


      Tôi thấy mỗi lần gắp ra được ít lông đen, lông mặt lạt ma dường như lại bớt được phần, lạy trời lạy Phật, xem chừng cuối cùng cũng cứu được, chỉ cần mau chóng dọn sạch toàn bộ số lông đen của cương thi trước khi dùng hết nửa chiếc móng lừa đen còn lại, chắc chắn là có thể cứu được lạt ma.


      Tính mạng của lạt ma giữ được rồi, mối lo nơm nớp cuối cùng cũng được thả lỏng, tôi châm điếu thuốc, vừa hút vừa ngồi nhìn Shirley Dương và mọi người tiếp tục cứu chữa. Lúc này Minh Thúc tranh thủ chạy lại hỏi han, lão muốn tìm hiểu chút, vì sao khi đối phó với cương thi, móng lừa đen lại có công hiệu kỳ lạ như vậy. lâu nữa cả đoàn thám hiểm tiến vào Kelamer ở núi Côn Luân, chắc nên bổ sung số móng lừa để phòng những lúc cần thiết, sau khi về Hồng Kông, cũng đặt ở nhà trăm cái.


      Những điều tôi biết về móng lừa đen, đầu tiên là thông qua những câu chuyện ông nội tôi kể. Bấy giờ ông nội tôi thường xuyên kể chuyện thế này, giả như chàng trai nọ, hay đêm, nửa đường nghỉ lại trong ngôi miếu cổ hoang tàn bóng người, ban đêm ngủ được nửa chừng, từ trời ngoài kia, có con cương thi bay vào, loại đó gọi là cương thi bay, cương thi ôm , có lẽ bắt từ nơi khác về đem vào miếu định ăn thịt, uống máu. chàng này kiến ngãi dũng vi, nhét móng lừa đen vào mồm cương thi, cương thi toi đời. Chàng trai và vừa nhìn thấy nhau liền nảy sinh lòng luyến ái, sau đó chuyện gì phải xảy ra xảy ra.


      Sau này khi lớn hơn, tôi chẳng còn hứng thú với những câu chuyện ngớ ngẩn ấy nữa, ông tôi bắt đầu kể cho tôi số câu chuyện ông thực trải qua, hoặc là những truyền thuyết dân gian, song ông cũng biết tường tận lắm về lai lịch của móng lừa đen, chỉ biết đó là thứ đồ nghề chuyên dụng của các Mô kim Hiệu úy làm nghề trộm mộ, có thể đối phó với cương thi trong mả hoang mộ cổ. Cương thi có từ lâu, truyền thuyết liên quan rất nhiều, sở dĩ nó có thể bắt được người sống, hoàn toàn là bởi đám lông mịn mọc mình, theo quan điểm của Shirley, có khả năng đó là dạng biến đổi xảy ra do vi khuẩn xác chết gặp phải kích thích như điện sinh học vậy. Song có đúng vậy , chúng tôi cũng chẳng thể nào biết, chỉ biết rằng có số thứ được dùng để khắc chế thi biến, đều có hiệu quả rất tốt, chứ chỉ riêng thứ này. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Minh Thúc sực hiểu ra :" À, chú kể như vậy là hiểu ngay, cũng giống như Mao sơn thuật dùng gỗ đào, còn Mô kim Hiệu úy các chú chơi móng lừa đen, theo kiểu lần trước ấy, đúng là giết trâu chọc tiết lợn, mỗi người có mỗi cách khác nhau".


      Tôi :" Trí nhớ của bác đúng là tồi, kỳ thực chúng ta đồng chí mà đồng đạo. Đều có chí ở việc đổ đấu phát tài, song thủ pháp kỹ thuật sử dụng muôn vàn khác biệt, cũng như cái ngón nghề cõng xác chui lỗ của tổ tiên nhà bác, chẳng phải trước khi ra khỏi nhà phải lạy con mèo sứ hoa mười ba ria, lại phải mang theo ba cặp trứng gà rồi mới dám động thủ đó hay sao?"


      Trước kia tôi chỉ là hạng ếch ngồi đáy giếng, tưởng là móng lừa đen chỉ có thể đút vào miệng cương thi, thực ra còn nhiều cách dùng khác mà nghe tôi cũng chưa từng nghe tới nữa. Mãi về sau, mới nghe lão mù họ Trần cho biết các cách dùng của mấy thứ như móng lừa đen này trong quán bánh bao ở Bắc Kinh.


      Tương truyền thời xưa, có Mô kim Hiệu úy hành nghề ở núi Nhạn Đăng. Bỗng trời đổ mưa, sấm chớp ầm ầm, trong núi nứt ra cái khe, thò vào nhìn, trông hang động như căn nhà, ngờ lại là cổ mộ, dựa theo kinh nghiệm của ông ta, bên trong ắt có của báu. Thế rồi vị Mô kim Hiệu úy ấy ròng dây thừng leo xuống, thấy trong địa cung dưới đất có cỗ quan tài vô cùng lớn, bật nắp ra nhìn, xác chết nằm bên trong râu trắng dài chấm bụng, dung mạo khôi vĩ, nhìn là biết phải kẻ tầm thường. Vị Mô kim Hiệu úy này lấy được trong miệng xác chết viên ngọc, và thanh kiếm cổ trong quan tài. định xem tiếp, bỗng luồng gió núi thốc tới, quan tài và địa cung bèn biến hết thành tro bụi, chỉ còn sót lại hai chữ Hán cổ "Đại Nghiệp" có thể nhận ra được tấm bia đá trong huyệt, từ đó có thể phán đoán, đây có lẽ là mộ cổ thời Tùy.


      Mô kim Hiệu úy thấy trong mộ còn vật gì khác, bèn để thanh kiếm cổ lại, gói viên ngọc đem , lúc ra khỏi mộ, gót chân sơ ý giẫm phải vật cứng, lúc ấy cảm thấy hơi đau, nhưng lưu ý, sau khi về nhà, dùng nước ấm rửa chân, thấy ngoài vết xước có mọc lên bọng nước , dần cảm thấy vừa ngứa vừa đau, cả bắp chân bắt đầu chuyển sang màu đen thối rữa. Vừa may lúc ấy ông ta lại có người bạn già đến thăm, người bạn này là y sư, nắm trong tay nhiều phương thuốc bí truyền, thấy vết thương chân của vị Mô kim Hiệu úy, liền biết là do lông tóc của xác chết cứa vào, vội sai người tìm *** chó đen, mà chỉ cần loại khô mà ngả sang màu trắng, nhưng tìm khắp nơi mà thấy, lúc rối rít tít mù, phát trong nhà Mô kim Hiệu úy có chiếc móng lừa đen. Trong cổ phương có ghi rằng, vật này cũng có công hiệu đối với những thứ tà khí, ma chướng, vậy là ông ta liền đốt cho bốc khói rồi đem hun, sau đó lấy được rất nhiều lông tóc màu trắng tựa như sợi râu ra khỏi vết thương. Từ đó về sau mật phương này mới bắt đầu được các Mô kim Hiệu úy sử dụng.


      Tôi kể cho Minh Thúc những điều này, chủ yếu muốn phân tán chú ý của mình , bởi vì tính mạng của Lạt ma ngàn cân treo sợi tóc khiến áp lực tâm lý của tôi hết sức nặng nề, nếu như móng lừa đen đủ dùng cũng biết phải làm thế nào, những ý nghĩ bi quan như vậy, đến nghĩ tôi cũng chẳng dám nghĩ nữa.


      Bấy giờ Shirley Dương dường như phát ra lạt ma có điều gì đó ổn, vội quay đầu lại gọi tôi :" mau lại đây xem, đây là cái gì?"

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :