Ma thổi đèn - Thiên hạ bá xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 15: Căn cứ bí mật ngầm của quân Quan Đông





      Tôi ngồi bệt xuống đất thở dốc, cầm đèn pin soi khắp chung quanh, cái kho này thực chút nào, các loại hàng hóa chất cao thành núi, gian lớn như vậy, sao ở bên ngoài phát ra bất cứ dấu vết gì nhỉ? Tôi dựa phương hướng và khoảng cách tháo chạy khi nãy tính toán lúc, mới sực hiểu ra, hóa ra cả vùng đồi núi phía Tây Dã Nhân Câu đều bị đào rỗng bên dưới để xây hầm cứ điểm. Càng nghĩ càng thấy đúng, có thể Nhật Bản dốc hết quốc lực cho vụ ở Mãn Châu, duy trì cả cơ sở công nghiệp nặng cho toàn bộ cuộc chiến, dường như tất cả đều tập trung ở Mãn Châu cả, nhất là sau khi quân Mỹ kích Nhật Bản, Mãn Châu liền trở thành hậu phương lớn chiến lược của Nhật Bản, để củng cố phòng ngự, đặc biệt là đối phó với Liên Xô ở phía Bắc, quân Quan Đông tại Mãn Châu cho xây vô số căn cứ ngầm dưới đất, đều là những công trình phòng ngự mang tính lâu dài. Nơi đây tuy thuộc Nội Mông, nhưng năm xưa cũng là vùng quân Nhật chiếm đóng, lãnh đạo cấp cao của Nhật cho rằng giữ Mãn giữ Mông, cũng như canh sông mà canh bờ canh bãi, xây dựng hàng rào phòng ngự ngoại vi cho Mãn Châu ở biên giới Trung Mông cũng là điều hết sức tự nhiên.


      Hắc Phong Khẩu là vùng đất quân đội các bên đều muốn tranh giành, nếu đại quân của Liên Xô tấn công từ thảo nguyên, bắt buộc phải qua nơi này, có điều cuối cùng quân Liên Xô lại chọn tấn công thẳng vào Mãn Châu, cả khu căn cứ ngầm nhọc lòng gây dựng này còn bất kỳ ý nghĩa chiến lược nào nữa. Chắc quân Nhật ở căn cứ này nghe thư gửi toàn dân của Thiên Hoàng qua điện đài, biết tin Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện, lòng quân tan tác, kẻ tự sát tự sát, người bỏ chạy bỏ chạy hết cả rồi.


      Tuyền béo đứng dậy phủi mông, cú trượt ngã lúc trong hầm mộ quả thực , cậu ta xé áo ra hai mảnh vải, nhờ Tử băng lại vết thương tay mình, Tuyền béo đau ê ẩm khắp mình mẩy, cao giọng chửi bới con xích hống ngoài kia.


      Tuyền béo rút ra hai miếng ngọc bích lấy được trong tay cái xác: "Còn lâu ông mới trả lại cho nó, muốn lấy lại hả, cũng được thôi, đem hai vạn tệ đến đây, có tiền đưa phiếu lương thực cũng được, ối... Nhất ơi, cậu xem miếng ngọc sao thế này?"


      Tôi đón lấy miếng ngọc xem thử, miếng ngọc vốn màu xanh cánh trả, giờ biến thành màu vàng nhạt, tôi cũng chẳng sao lại như vậy, thế mới cảm thấy kiến thức và từng trải của mình thực có hạn, thời gian trước vênh vang vỗ ngực ta đây, giờ xem ra còn phải tiếp tục học nhiều.


      Có điều thứ này lấy cũng lấy rồi, sợ cũng vô dụng, tôi đứng dậy gọi hai người bọn họ hành động: "Chúng ta vào trong xem xem, có súng ống đạn dược gì hay , mà có cái xe tăng là tốt nhất, lái ra nghiền con quái lông đỏ kia thành ruốc cho bõ tức."


      Tuyền béo hỏi tôi: "Cậu có chút thường thức quân nào thế? Ở đây thể có xe tăng được."


      Tôi đáp: "Có hay cứ xem , thực ra nếu có xe tăng nữa e cũng khởi động được nữa, gần bốn chục năm rồi còn gì, lâu như thế, cho dù ngày nào cũng bảo dưỡng cũng phải báo hỏng từ lâu rồi."


      Lối trong kho Gena loằng ngoằng phức tạp, y như mê cung, để khỏi lạc đường, chúng tôi men theo rìa tường tiến lên phía trước dò tìm lối thoát.


      Đường hầm và cả kho Gena đều có mái vòm, rất cao, đây là cấu tạo phòng chống ngấm nước, soi đèn pin lên , có thể trông thấy hàng loạt bóng đèn dùng khi khẩn cấp và vô số đường dây, nếu tìm được máy phát điện, chắc là có thể nghĩ cách làm mấy cái đèn này sáng lên.


      thêm quãng xa, nhìn thấy tường có tấm bản đồ mặt cắt của căn cứ, bên có ghi chú số công trình phụ trợ như các tuyến đường chính, giao thông hào, kho vật tư, hang giấu binh, phòng tắm, khu ở, phòng nghỉ, kho lương thực, ống thoát nước, trạm phát điện... còn các vị trí quan trọng như nơi đặt pháo, lỗ thông khí, lỗ quan sát, lỗ phản kích, phòng chỉ huy tác chiến, hầm trú đều được ghi chú, phần ở sâu trong lòng núi còn chia làm ba phần, kết cấu cực kỳ phức tạp, quy mô cực kỳ hoành tráng, có thể thấy quân Quan Đông năm xưa coi trọng căn cứ quân này đến mức nào.


      Tôi dỡ tấm bản đồ tường xuống, với kinh nghiệm làm lính công trình xây dựng căn cứ quân trong núi Côn Luân của tôi, nay lại có bản đồ trong tay, chẳng lo tìm ra cửa thoát.


      Quy mô của căn cứ ngầm bí mật này vượt quá sức tưởng tượng của tôi, sâu vào trong tới ba mươi cây số, tuyến phòng ngự chính diện chẵn chện sáu mươi cây số, hóa ra toàn bộ đồi núi hai bên Dã Nhân câu đều bị đào rỗng, tạo thành hai công vĩnh cửu hỗ trợ lẫn nhau, ở giữa có ba con đường cắt ngang qua Dã Nhân câu, nối liền căn cứ trong lòng núi hai bên thành chỉnh thể. Đường hầm chúng tôi phá tường mộ cổ của tướng quân nước Kim nhảy vào, chính là con đường dưới cùng trong ba con đường kể . Căn cứ này phình ra hai đầu, thóp lại ở giữa, quy mô ở hai đầu tuy lớn, ở giữa lại chỉ có ba đường hầm nối liền hai bên, đây có thể là tính toán dựa cầu chiến thuật, khi trong hai bên bị quân địch công hãm, vẫn có thể chặn đường hầm lại, cố thủ ở đầu bên kia.


      Tính từ vị trí chúng tôi đứng, cửa ra gần nhất cũng còn xa nữa, chỉ có điều biết khi quân Quan Đông rút có phá hủy lối ra hay , bằng chỉ có thể trở ra theo đường mộ cổ, cũng có thể thử trèo ra từ mấy chỗ như cửa thông gió chẳng hạn. Tôi bỗng liên tưởng đến việc triền núi tối qua, ngựa bị con quái vật dưới hố xé rách bụng, cái hố ấy lẽ nào chính là cửa thông gió của căn cứ này? Và con quái vật chưa tường mặt mũi kia dùng móng vuốt đào nó rộng ra để nương mình? Nếu như cái hố ấy quả là cửa thông gió, vậy đừng mong trèo ra từ đó được, cái hố quá hẹp, đồng thời cũng có thể đoán định con quái vật kia chắc chắn phải là con xích hống to lớn chúng tôi vừa gặp ban nãy.


      Tôi với Tử và Tuyền béo suy nghĩ của mình, để bọn họ cố vấn xem bước tiếp sau đây thế nào?


      Tuyền béo trả lời: "Đấy, cậu nhắc là tớ quên khuấy mất đấy, con quái vật tấn công ngựa của chúng ta có khả năng coi căn cứ ngầm này là hang ổ rồi, em mình cứ lòng và lòng vòng trong đây, đúng hướng thế nào cũng đụng phải nó, phải nghĩ cách kiếm mấy thứ vũ khí phòng thân cái ."


      Tôi bảo: "Đúng thế, cẩn tắc vô áy náy, ngộ nhỡ lối ra bị phá hủy rồi, mình vẫn phải quay lại mộ cổ trèo ra, vậy lại phải giáp mặt với con xích hống kia lần nữa. Kho Gena chắc có khu tàng trữ vũ khí và trang thiết bị, ta qua xem xem có thứ nào thuận tay , mỗi người lấy mấy thứ, tốt nhất là kiếm được lựu đạn Tango của quân Nhật, loại lựu đạn ấy thời hạn sử dụng rất lâu, sức công phá cũng , dùng đối phó với con quái thú lông đỏ kia là thích hợp nhất."


      Trong kho Gena chất đầy những vật tư quân đội như áo khoác, thảm, hộp cơm, pin khô, mặt nạ phòng độc, khí tương đối khô ráo, những vật dụng này được giữ khá là hoàn hảo, tôi tiện tay vớ vài chiếc mặt nạ phòng độc kiểu Haruda của Nhật cất vào ba lô, cuối cùng cũng tìm thấy chỗ cất giữ vũ khí ở bên phải kho Gena.


      giá sắt đặt khá nhiều hòm gỗ đựng súng ống, có súng máy, nhất loạt là súng trường kiểu Arisaka, cũng chính là loại mà chúng ta vẫn thường gọi là "nắp lớn ba tám" hay "kiểu ba tám". Cạnh tường còn có mấy khẩu pháo sáu ly, nhưng xung quanh có viên đạn pháo nào.


      Tuyền béo nạy hòm gỗ đựng súng trường ra, lấy cây, kéo chốt "rắc rắc", soi đèn pin vào chốt súng, với tôi: "Nhất này, súng vẫn còn dùng tốt, toàn súng mới còn chưa bóc tem, các bộ phận cơ khí đều tra dầu, đạn còn chưa lắp nữa."


      Tôi và Tử mỗi người cầm lấy cây, tôi giơ súng lên ngắm thử, rồi lại ném trở lại: "Loại súng rởm của bọn Nhật này chỉ bắn được năm phát thôi, phải loại súng trường tự động vào đạn đâu, loại này lên đạn chậm lắm, lại giật mạnh, tôi dùng cóc quen!"


      Tử hỏi tôi: "Súng của bọn Nhật tốt thế còn gì, mạnh bỏ xừ, hồi xưa bác em mới gia nhập Liên quân Dân chủ Đông Bắc cũng dùng súng kiểu này, sao Nhất lại thích dùng nhỉ?"


      Tôi còn chưa trả lời, Tuyền béo chen vào: "Đừng để ý đến , thằng cha này hồi trong quân đội hôm nào mà chẳng nghịch súng bán tự động, quen rồi, loại súng lỗi thời này để mắt tới cũng là đương nhiên thôi. Lát nữa dại nếu lại gặp phải quỷ quái ma gì hai đứa mình cứ nấp phía sau , xem tay bắt rắn ra làm sao nào". Vừa cậu ta vừa cúi xuống ngăn dưới cùng kéo hòm đạn ra, mở nắp ra, bên trong toàn là đạn bọc trong giấy dầu, đèn pin chiếu vào liền lấp lóe ánh vàng ròi rọi.


      Tuyền béo được ông già chiều chuộng từ bé, lúc mới bắt đầu tập được cho chơi súng, khi cậu ta vào cấp hai thành chuyên gia súng ống rồi. Nguyên lý của súng trường về cơ bản là giống nhau, trước đây Tuyền béo tuy chưa từng sử dụng súng trường kiểu Arisaka này, nhưng hề thấy lạ lẫm, thấy có đạn, liền lấy lên lắp vào cách điêu luyện, tiện tay khóa chốt, đưa lên ngắm thẳng vào tôi.


      Tôi vội đẩy nòng súng của cậu ta ra: "Đạn lên nòng, cậu đừng có ngắm bậy bạ, súng phải dùng để chĩa vào đồng đội của mình, chỉ có súng của kẻ phản bội mới nhắm thẳng vào bạn bè mình. Tôi thích dùng loại súng này, bởi súng kiểu 38 này căn bản thích hợp cận chiến, lực xuyên thấu của đạn quá lớn, trong cự ly ba mươi mét, phát súng có thể bắn xuyên ba bốn người, trừ phi lắp lưỡi lê đánh giáp lá cà, bằng rất dễ khiến người phe mình bị thương, vả lại trong căn cứ này có rất nhiều công trình bằng sắt thép, đạn mà bắn phải những tấm sắt thép ấy, ắt nảy lung tung theo theo quy tắc nào hết, làm tử tế có khi chưa bắn trúng kẻ địch xử lý hết cả người mình rồi."


      Tuyền béo vỗ ngực tự tin : "Tài bắn súng của tớ ấy à, phải bốc phét, bao năm nay, chắc cậu cũng biết rồi, bách bộ xuyên dương (1), cưỡi ngựa bắn đèn, tớ đều bắn dễ như bỡn, sao có thể bắn lệch vào ván thép được? tin lát tớ đặt quả trứng lên đầu cậu rồi thử xem sao..."


      Tôi ngắt lời cậu ta: "Càng càng ra sao cả, tớ có cái đầu này dễ chắc? Đầu tớ là dùng để suy ngẫm cuộc đời, phải để đặt trứng gà làm bia cho cậu bắn đâu, đừng có hoạnh nhau nữa được nào, xem xem có còn vũ khí nào khác dùng được ? Tớ cứ thấy loại súng này ổn, dù gì cũng là thứ vũ khí bị đào thải bao năm rồi, súng trường để lâu cực kỳ dễ cướp cò, hồi tớ còn ở trận tuyến biên giới, có tay dân công vận chuyển vật tư chi viện cho tiền tuyến, thó được khẩu súng trường Đức kiểu cũ của dân binh đối phương mà bọn tớ tịch thu được, kết quả khi leo núi súng bị cướp cò, vừa hay bắn gãy lưng trung đoàn phó, cái thứ này phải đùa được đâu."


      Chúng tôi nạy hết hòm này đến hòm khác giá, muốn tìm mấy quả lựu đạn Tango, nào ngờ kiếm được mười mấy khẩu tiểu liên trong thùng gỗ có vẽ hình quốc kỳ Nhật Bản. Súng này tạo hình rất quái, có mấy phần giống súng tiểu liên Stern của , băng đạn cắm ngang bên trái thân súng, điểm khác biệt ở chỗ, băng đạn của súng này cong cong, đằng sau lại có thêm báng gỗ.


      Tử hỏi tôi: " Nhất này, đây là súng gì thế? Sao hình dạng lại thế này? Kiểu cong à?"


      Tôi thử kéo chốt súng tiểu liên, rồi tháo hộp đạn ra xem: "Đây chắc là súng tiểu liên kiểu Hyaku của Nhật, đến cuối cuộc chiến mới bắt đầu trang bị cho quân lính, sản xuất tương đối ít, nên ít gặp, có lẽ là được trang bị để đối phó với quân Liên Xô. Súng này dễ dùng hơn kiểu 38 đặc biệt thích hợp cận chiến, dẫu có cố, cùng lắm cũng là giắt đạn, chứ đến nỗi cướp cò hay bắn giật ra sau, em và Tuyền béo đừng dùng súng trường nữa, lấy tiểu liên mà phòng thân."


      Tử chưa dùng súng tiểu liên bao giờ, biết sử dụng thế nào, bèn đứng bên cạnh cầm hai cây đèn pin soi cho chúng tôi, Tuyền béo tìm hòm đạn tiểu liên, rồi hai thằng cùng nạp đầy băng đạn.


      Tôi vừa nhét từng viên đạn vào băng vừa ngân nga điệu hát, tâm trạng của tôi lúc này rất tốt, mẹ nhà nó, lần này mới làm sao, từ hồi xuất ngũ đến giờ có được chạm vào súng tiểu liên lần nào đâu, nhớ lại cảm giác hồi còn tại ngũ dùng khẩu kiểu 56, chân tay lại thấy ngứa ngáy râm ran. Tôi đắc ý, Tử đột nhiên vỗ lên vai khẽ: " Nhất, hình như em... thoáng thấy có đứa trẻ chạy qua sau lưng ."


      Đứa trẻ? thể thế được. Đây là chốn thâm sơn cùng cốc hiếm người đặt chân, huống hồ căn cứ bí mật này lại ở sâu trong lòng đất thế này, vô duyên vô cớ sao có thể tự dưng mọc ra trẻ con được?


      Chúng tôi đều ngồi xổm dưới đất lắp đạn, Tử cầm đèn pin cũng ngồi xổm đối diện với tôi, nàng vô ý khua đèn pin cái, tự dưng thấy sau lưng tôi có bóng đứa trẻ chạy vụt qua.


      Tôi quay đầu lại, soi đèn pin bốn phía, sau lưng là lối chữ T, màu đen thẳm, yên lặng đến kỳ lạ, làm gì có bóng đứa trẻ nào, tôi hỏi lại Tử: "Có đứa trẻ nào đâu? Em dọa hả, hay là hoa mắt rồi?"


      Tử tuy bạo gan, nhưng rốt cuộc vẫn là sơn nữ, tư tưởng phong kiến mê tín rất nặng nề, bấy giờ sợ hãi đến nỗi sắc mặt tái nhợt: "Em nhìn lầm mà, đấy... có đứa trẻ chạy vụt qua sau lưng , thể nhìn nhầm được, có tiếng chân, em chỉ nhìn thấy bóng nó, nhanh lắm, vèo cái chạy vụt qua rồi... hay là có ma nhỉ?"


      Truy hỏi Tử cho tường tận, nhưng nàng lại ràng, chỉ bảo rằng hình như mang máng thấy có đứa bé , nhưng cũng dám chắc, nó mặc quần áo gì cũng nhìn , chừng năm sáu hay sáu bảy tuổi gì đó, hướng đứa trẻ chạy vừa hay lại chính là hướng lối ra được chú bản đồ.


      Lối phía sau cách tôi chưa đầy hai mét, ở nơi im ắng thế này mà có đứa trẻ chạy qua, tôi thể nào nghe thấy, tăm tiếng thế này, trừ phi nó là ma quỷ. Căn cứ ngầm này là thế giới cách biệt với bên ngoài, mấy chục năm nay có người bước vào rồi, ai biết được nơi đây chứa những gì, chuyện hôm nay quần cho chúng tôi mệt đứt hơi rồi, thêm việc chẳng bằng bớt việc, gây nhưng liệu có tránh khỏi ?


      Tôi liền đề nghị cứ đường vòng tới lối ra, nên theo đường đứa bé vừa chạy qua đó.


      Tử sợ nhất là quỷ thần, gật đầu đồng ý ngay: "Leo dốc mười dặm còn hơn chạm phải tường ma xây!"


      Tuyền béo nghĩ vậy: "Nhất này, tớ thấy cậu thay đổi nhiều quá, từ sau khi phục viên, cậu còn ngạo nghễ coi trời bằng vung như hồi trước nữa rồi, co ro cúm rúm dám tiến bước đâu có giống tác phong của cậu! Sao hôm nay nghe Tử bảo nhìn thấy đứa ranh con chạy qua, cậu phải đường vòng rồi? Tớ cho cậu biết, muốn đường vòng, hai người mà vòng, tớ nhấc nổi chân nữa đâu, tớ cứ đường thẳng thôi. Nhớ năm xưa chúng ta làm Hồng vệ binh, lên núi về quê, cậu xem cậu có sợ gì ? Hồi ấy ngoài Mao chủ tịch ra, cậu bảo xem cậu phục ai chứ?"


      Tôi nhất thời cứng họng, hình như đúng như Tuyền béo , tôi trước kia là loại trời sụp xuống vẫn nghĩ như đắp chăn bông, từ hồi nhập ngũ, cho đến cuộc chiến năm 79, đồng đội bên cạnh hy sinh hết người này đến người khác, tôi tận mắt trông thấy vô số lần đổ máu và chết chóc, cách thực cầu thị, tôi của ngày hôm nay quả có hơi đàn bà, làm việc gì cũng tránh khỏi suy trước tính sau. Lẽ nào năm tháng trôi , cũng cuốn theo lòng can đảm và dũng khí của tôi sao?


      Tôi với Tuyền béo: " em mình giờ nhiều tuổi rồi, so được với trước kia nữa đâu, những năm làm Hồng vệ binh, bọn ta quả thực gan dạ dũng mãnh, thấy thằng nào ngứa mắt là đập thằng ấy, nhưng ấy là thời trai trẻ bồng bột, giờ nghĩ lại thấy vừa đáng cười nhưng cũng vừa đáng thương."


      "Nhưng chí ít hồi ấy, cậu cũng chiến đấu, xông lên, mẹ kiếp, tôi **** chịu được cái bộ dạng khúm núm nhút nhát của cậu bây giờ. Cậu còn nhớ sinh nhật năm mười sáu tuổi, bản trường ca trong cuốn vở tớ tặng cậu ?". Tuyền béo .


      Cuốn vở ấy có lẽ bị tôi đem làm giấy chùi từ lâu rồi, vả lại hồi ấy Tuyền béo tặng tôi rất nhiều vở, vì mẹ cậu ta là cán bộ hậu cần, trong nhà đầy các loại vở, tôi thực nhớ nổi bản trường ca nào cả.


      Tuyền béo thấy tôi nhớ ra, bèn : "Để tớ đọc lại vài câu cho cậu nghe!". Tiếng phổ thông của Tuyền béo rất chuẩn, cậu ta đậm người, hơi cũng đầy, khi cất tiếng đọc vang, nghe cũng giống phát thanh viên của Đài tiếng Nhân dân Trung ương, chỉ nghe cậu ta cao giọng ngâm:


      "Vào công viên "đánh trận giả", lên trước lớp cùng học thuộc làu.


      Đường Hàm Dương "quét phăng Tứ cựu", núi Tỉnh Cương tiếp nối chuỗi xâu.


      Đêm trước khi chôn cất chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xét lại, và bè lũ phản động cơ cầu, và trước khi tiến quân vào thế giới u sầu...


      Bên cạnh radio ta lắng tai nghe, Bộ Quốc phòng dõng dạc tuyên chiến từng chữ từng câu..."


      Sau khi Tuyền béo khẳng khái hùng hồn đọc câu đầu tiên, tôi lập tức nhớ ra ngay, đây là bài trường thi tự , tên là "Kính chào các dũng sĩ trong cuộc đại thế chiến thứ ba". Chúng tôi quá quen bài thơ này rồi, hồi cả hai còn làm Hồng vệ binh, từng cùng nhau ngâm vang cả trăm ngàn lần, đó là những vần điệu chúng tôi thích nhất, những từ ngữ thân thương nhất, và là những mộng tưởng tráng lệ trẻ trung nhất... tâm trạng tôi kích động, quên luôn hoàn cảnh trước mắt, nắm chặt bàn tay, cùng Tuyền béo cao giọng ngâm vang:


      "Trong cuộc thế chiến thứ ba tiêu diệt chế độ bóc lột cuối cùng, sư đoàn hai ta nương nhau. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tình bạn của đôi ta từ khi ấy bắt đầu, chẳng thể tính được bao lâu, chỉ biết rằng hơn núi thẳm biển sâu.


      Trong chiến hào, ta cùng chia chiếc bánh mì, cùng nắm muối, uống nước chung gầu.


      Ngân nga cùng giai điệu, đắp chung tấm chăn cho ngon giấc đêm thâu.


      Từng dòng, từng chữ, ta học hết lần này qua lần khác, tư tưởng của lãnh tụ, chân lý của nhiệm màu.


      ...


      Nhớ chăng ? Chúng ta từng uống nước sông Macedonia, băng qua thảo nguyên Ukraine, rồi tới điện Kremli thắp sáng vì sao đỏ trong lầu.


      Chúng ta từng men theo vết chân của công xã, xuyên qua mọi phố xá ở Paris, bay lên từ bài ca "Quốc tế", gột sạch từng ngôi làng, góc phố, bến cảng của Âu châu.


      Chúng ta từng sử dụng bức tường nước mắt của thành Jerusalem, ngăn chặn những viên đạn độc ác của tín đồ Cơ Đốc, tại bờ kênh Suez ta cắm ngọn cờ đào.


      Nào nước hồ Thụy Sĩ, ánh đèn Pisa, Yemen ráng chiều tà, Phnom Penh điện Phật, rồi kia hoa đào núi Phú Sĩ, khói bếp thoảng Havana, rượu nho Tây Ban Nha, trong vắt suối ngà Phi châu...


      Tất cả những điều đó đều chưa từng khiến chúng ta dấu.


      Bởi với chúng ta, súng ống trong tay, trách nhiệm nặng đầu.


      Biết bao đêm ngày ngủ, Nam chinh Bắc chiến, huyết lệ dãi dầu.


      Là vậy đấy, đội quân ta bất khả chiến bại, theo sát mặt trời hồng, thẳng bước tiến mau.


      Này nghe: tiếng gọi lớn của huynh đệ năm châu, như cơn lũ cuồn cuộn vỗ sóng tung ngầu.


      Này nhìn: cờ khởi nghĩa của nô lệ bốn biển, như ngọn lửa của những ánh sao bập bùng, thiêu đốt đồng bằng biến bãi bể thành nương dâu.


      Ôi! Thế giới màu hồng! Nhà Trắng chỉ còn dấu chấm câu!"


      ...


      Tử thấy hai chúng tôi mãi thôi, cũng hiểu chúng tôi gì, đợi mãi đâm ra sốt ruột, liền ngắt lời: " gì thế hở hai ? Giờ là lúc nào rồi mà vẫn cứ liên mồm thế biết? còn sớm đâu ạ, đường nào cũng phải xuất phát thôi, hai muốn nữa ra ngoài rồi hẵng , được ?"


      Tuyền béo cầm khẩu tiểu liên đứng dậy, giắt vào lưng bốn năm băng đạn, vẻ mặt kiên nghị, hươu tay chỉ về phía trước: "Các đồng chí! Thắng lợi ở ngay phía trước, hãy cùng tôi tiến lên nào!"


      Thế rồi, Tuyền béo dẫn đầu trước, Tử giữa, tôi sau cùng, ba người thành hàng dọc theo lối Tử có đứa trẻ chạy qua. Lối này hơi dốc lên , được hơn trăm mét thành bậc thang lên, xem ra chúng tôi tiến sâu vào lòng núi Dã Nhân câu. Đường mỗi lúc hẹp dần, hơn nữa độ ẩm cũng cao hơn bên dưới, hô hấp thông, có cảm giác ngột ngạt như bị chôn sống vậy. Ba người sát vào nhau, chẳng hiểu vì sao Tuyền béo đầu bỗng đứng sựng lại. Cậu ta đột nhiên dừng bước, khiến Tử phía sau để ý, va luôn vào lưng , ngã ngửa ra sau, tôi vội đỡ lấy nàng, đoạn hỏi Tuyền béo: "Sao thế? Sao đột nhiên sững lại nữa?"


      Tuyền béo quay người lớn: "Quay lại nhanh lên!". Dường như cậu ta trông thấy phía trước có gì đó đáng sợ lắm, lạc cả giọng, hào tình tráng chí khi nãy giờ tan biến đâu hết.


      Tuyền béo hét lên bảo chúng tôi mau chóng quay người bỏ chạy, tôi bị hai người chặn đằng trước, phạm vi chiếu sáng của đèn pin lại có hạn, chỉ thấy bên bốn năm bậc thang là gian rất lớn, cũng hiểu rốt cuộc cậu ta nhìn thấy thứ gì, nhưng Tuyền béo như vậy, chắc chắn có cái lý của cậu ta, nên tôi cũng lập tức chuẩn bị xoay người bỏ chạy.


      Ngay lúc ấy, bỗng tôi cảm thấy như sau lưng bị mấy chục cây kim thép lạnh toát đâm vào, buốt đến thấu xương, khắp mình như gặp phải luồng điện băng giá bắn trúng, toàn thân run rẩy, thể khống chế, nhảy vụt cái lên phía trước, cũng hiểu lấy đâu ra sức mạnh lớn thế, đẩy Tử và Tuyền béo ngã bổ về phía trước, lối tối tăm vừa dài vừa hẹp này thoai thoải dốc lên , ba người vừa lăn vừa bò cuối cùng rơi vào cái hang ở cuối bậc thang.


      Tôi bị luồng điện kỳ lạ giật cho cái, dòng điện dường như chạy cả sang hai người còn lại, lạnh đến răng va vào nhau cầm cập, chẳng ai biết rốt cuộc là chuyện gì, muốn mở miệng , nhưng thể cất giọng lên được, nếu bảo là vô ý giẫm phải dây điện hở, vậy phải tê dại toàn thân, sao lại có cảm giác lạnh buốt từ tận trong xương tủy ra đến bên ngoài như vậy được?


      May nhất là ba khẩu tiểu liên lên sẵn đạn bị cướp cò trong lúc hoảng loạn. Chúng tôi nằm sóng soài dưới đất, đèn pin trong tay vẫn bật sáng, tôi mượn ánh sáng của ba chiếc đèn pin quan sát, mới biết vì sao Tuyền béo lại quay người hô chạy, hóa ra căn hầm đá đồ sộ nửa thiên nhiên nửa nhân tạo này, chỗ nào cũng mọc đầy rêu xanh, tường đá và trần hang ẩm ướt là vô số con dơi khổng lồ treo ngược mình. Loài dơi này thân hình lớn hơn rất nhiều so với dơi bình thường vẫn thấy, hai cánh khép lại treo mình chi chít vách đá, bọn chúng bị ba kẻ xâm nhập làm kinh động, nhao nhao tỉnh giấc, nhe những chiếc răng trắng ởn đầy trong mồm, nhìn mà rợn tóc gáy.


      Phần mặt lũ dơi trông rất kỳ quái, hai cái tai to hình củ ấu dựng đứng, đầu tròn, mũi cũng tròn, chi trước rất phát triển, xương khuỷu , khuỷu dưới và xương ngón đều rất dài, nanh nhọn vuốt sắc. Hồi tôi còn làm lính công trình ở Côn Luân từng thấy thứ dơi to như thế, tên khoa học gọi là dơi mồm lá răng sáng, hay còn gọi dơi mặt lợn, bản tính thích máu tanh, cũng ăn thịt, là loại hung ác nhất hiếm thấy trong họ nhà dơi, chúng thích sống trong các hang động dưới đất ở đồng cỏ khu chăn nuôi, ban đêm bay ra hút máu trâu, dê và gia súc khác, đặc biệt là ở thảo nguyên Ngoại Mông, từng thời thành họa, mười mấy năm trở lại đây loài động vật này ít thấy hơn nhiều rồi.


      Còn tưởng chúng tuyệt chủng, ai ngờ được lại có nhiều dơi mặt lợn thế này coi khu căn cứ ngầm của quân Quan Đông thành hang ổ của mình, chúng ngày đêm , lợi dụng cửa thông gió trong hầm căn cứ làm lối bay ra, đúng là có sào huyệt nào an toàn mà thoải mái như nơi này .


      Có mấy con dơi mặt lợn vách đá sà xuống, tôi cựa quậy định bò dậy, nhưng tay vừa chống lên trượt oạch cái ngã nhào, mặt đất toàn là phân dơi và xương động vật, vừa dính vừa trơn, mùi tanh hôi xộc lên tận mũi. Phân dơi còn được gọi là "dạ minh sa", vốn là vị thuốc Bắc rất quý, người thường có được hai lạng là khó khăn lắm rồi, vậy mà giờ đây thấy thứ của nợ này lại có cảm giác ghê tởm đến khó tả.


      Tôi bỏ ý định bò dậy, ngoắc ngón tay vào cò súng, giương khẩu tiểu liên về phía bọn dơi mặt lợn bay tới quét đường, tôi nổ súng, hai người còn lại cũng có phản ứng, ba khẩu tiểu liên dệt thành lưới đạn, ánh lửa phụt ra nơi nòng súng, ánh sáng lóe lên viên đạn, khiến cả hang đá lúc mờ lúc tỏ, tiếng súng và tiếng tháo đạn, tiếng vỏ đạn rơi xuống đất hòa quyện vào nhau.


      Cả nghìn con dơi mặt lợn đều bị kinh động, loài sinh vật sống trong bóng đêm này sợ nhất lửa và ánh sáng, ngoài những con bị trúng đạn rơi xuống đất ra, những con còn lại như mây đen giăng kín, số bay qua đầu chúng tôi, số men theo cửa thông gió bay lên ra ngoài.


      Súng tiểu liên bắn được loáng hết sạch đạn, căn bản kịp nạp thêm, lũ dơi mặt lợn bay phạch phạch lướt qua người, quần áo chúng tôi đều bị vuốt sắc và răng nhọn của chúng bấu xé tả tơi, cũng may mọi người đều mặc quần áo dày dặn, tuy bị cứa phải da thịt mấy nhát, nhưng vết thương cũng sâu lắm.


      Lúc này nỗi sợ trong lòng lại càng tăng lên gấp bội, tôi sợ mắt bị thương, dám mở mắt, tay che đầu, tay còn lại cầm súng tiểu liên, rồi khua loạn lên như khua gậy, hai chân cố sống cố chết giãy đạp, đá văng những con dơi mặt lợn lao bổ xuống người mình. Truyện "Ma Thổi Đèn " Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Cũng biết bao lâu sau, trong hang dần dần yên ắng trở lại, chắc lũ dơi mặt lợn kia bay hết rồi, tôi lần tìm chiếc đèn pin văng đất, định cất tiếng hỏi bọn Tuyền béo có bị thương , đột nhiên trước mặt tối sầm, con dơi mặt lợn to nhất lẳng lặng áp xuống đầu tôi, có lẽ nó là thủ lĩnh của lũ dơi này, mình ở nơi sâu nhất trong hang, hậu phát chế nhân, hai cánh dang rộng, sừng sững như bức tường.


      Trong tay tôi chỉ có khẩu súng hết đạn và chiếc đèn pin, khó mà chống đỡ được, con dơi chỉ còn cách tôi trong gang tấc, cái mặt nó như mặt lợn, thịt nhăn nheo, lông thô cứng, răng nanh nhọn hoắt đều trông mồn , tưởng chừng tôi sắp bị con dơi chúa cắn đến nơi rồi, bên cạnh bỗng vang lên tiếng súng tiểu liên nhả đạn tạch tạch, loạt đạn ấy găm cả lên mình con dơi mặt lợn, con dơi lớn rơi bịch xuống đất, chết ngay tức khắc.


      Hóa ra Tuyền béo cạnh đó thấy tình hình khẩn cấp, thay băng đạn nổ súng bắn luôn, cứu tôi thoát chết. Tôi thở phào hơi, đảo mắt nhìn quanh, ngoài mấy con dơi trúng đạn chưa chết ngay giãy giụa dưới đất ra, còn những con khác nữa.


      người tôi bị bấu xé mấy chỗ, máu tươi đầm đìa, Tử và Tuyền béo cũng bị thương , nhưng nghiêm trọng. Tử xé mấy miếng vải vụn quần áo băng bó cho tôi.


      Vết thương người đau kinh khủng, tôi liền chửi rủa liên mồm, bố mày đây năm xưa chiến trường, đánh cái trận ấy chứ, mưa bom bão đạn, da thịt cũng đâu có hề hấn gì, hôm nay lại bị mấy con súc sinh chúng mày bấu xé cho bị thương nhiều thế này... Đau quá!


      Tuyền béo hỏi tôi: "Nhất, mẹ kiếp, vừa nãy tớ bảo bọn cậu quay đầu chạy, sao cậu lại đẩy bọn tớ thế hả?"


      Tôi kể lại lượt chuyện vừa nãy, chỉ rằng có lẽ lưng chạm phải dây điện hở, nên bị giật, chứ chẳng dám cho bọn họ nghe , bởi việc này ngay cả bản thân tôi cũng cảm thấy thể tin nổi.


      Tôi bảo Tử kiểm tra lưng tôi, xem có vết cháy xém hay , Tử vạch áo tôi ra, chiếu đèn pin vào: "Ôi giời mẹ ơi, Nhất, sao lại thế này? giống điện giật đâu!"


      Thằng béo cũng ngó đầu lại nhìn cái: "Cậu bị điện giật đấy hả? Lưng cậu ràng có vết tay màu đen, ừm... Bàn tay rất , hình như là của trẻ con."


      Chết bỏ mẹ gặp phải ma rồi, chắc là ba bọn tôi bị con tiểu kia đầy vào hang dơi đây? Đừng để ông gặp nó, ông mà thấy nó, ông lột da nó ra.


      Tuyền béo với tôi, bỗng chiếc đèn pin trong tay rơi xuống đất "Ối mẹ ơi, lão Nhất, Tử, vừa nãy ở kho Gena hai người mà tớ tin, vừa rồi... tớ cũng thấy có đứa trẻ chạy qua đây này."


      Tôi và Tử vội cầm đèn pin soi khắp chỗ, ngoài phân và xác dơi ra, lấy đâu ra đứa bé nào.


      Tuyền béo chỉ tay lên trời thề: "Nó vụt qua sau lưng hai người, tổ mẹ nó, tớ dối tớ làm cháu nội cậu, đây... nó chạy vào phía trong này này, tớ nhìn mồn , con trai, thằng oắt con, mặc bộ xanh, năm sáu tuổi, mặt trắng bệch... giống người sống."


      Ngoài tôi ra, cả hai người họ đều thấy có trẻ con trong căn cứ ngầm này, sao mỗi tôi là chưa trông thấy? Nhưng dấu tay trẻ con lưng tôi, thực thể làm người ta nổi da gà. Tuyền béo bảo thấy đứa bé trai, Tử lại bảo trông thấy đứa bé trong kho Gena, rốt cuộc là ai nhìn lầm? Đây là nhà trẻ mở dưới căn cứ ngầm này chắc?


      Chúng tôi chỉnh đốn chút, đứng dậy, thay băng đạn mới cho súng tiểu liên, Tuyền béo chỉ vào bức tường trong hầm đá: "Thằng ranh con ấy, nó chạy vào trong này này". đoạn, dùng báng súng cạo rêu mốc và phân dơi tường, bên trong lộ ra nửa cánh cửa sắt, bên gỉ hoen gỉ hoét, đồng thời có bốn chữ lớn viết bằng sơn dầu màu đỏ sẫm rất bắt mắt: "Cấm chỉ đứng vào" (2)


      "Cấm ... chỉ... đứng ... vào", Tuyền béo chỉ tay vào dòng chữ cửa sắt đọc lượt. "Có hiểu là ý gì ? Câu này tức là bảo được đứng mà bước vào, muốn vào phải nằm mà vào, chỗ này chắc chắn là nhà xác, hoặc cũng là lò thiêu xác."


      Tử nghe Tuyền béo giải thích, liền hỏi: "Gì cơ? Nằm mà vào? Hóa ra đây là phòng chứa người chết à? Nghe các ông các bác có tuổi trong làng kể bọn Nhật có xây cái lò thiêu xác gì đấy, cánh cửa này chín chín phần trăm là cửa lò thiêu rồi."


      Tôi dùng đốt ngón tay gõ vài cái vào cửa sắt, cảm giác cửa rất nặng nề: "Béo này, cậu đừng có hiểu còn bày đặt ta đây, nghĩa bốn chữ này đại khái là cấm vào thôi. Tuy tớ biết tiếng Nhật, nhưng các thiết bị quân tớ quen thuộc lắm, hai người nhìn cái cửa này nhé, phía dưới có cái rãnh rất to, bên trong có ren hình lục giác, cái này chắc là loại có đĩa quay, lỗ phía dưới cửa là rãnh thải khí, đây chắc là loại cửa chống lọt khí, khi đóng cửa sắt này lại, lỗ thải khí tự động hút khí trong phòng ra, bên trong hình thành môi trường bán chân , là nơi cất trữ các đồ quý giá, trong căn cứ quân của quân đội chúng ta cũng có những nơi thế này."


      Đĩa quay của cánh cửa bị tháo ra từ lâu rồi, nếu có công cụ phù hợp, muốn mở được cánh cửa này ra còn khó hơn lên trời. Còn chuyện trong phòng kín này cất giấu những gì, điều này rất khó , có thể là vũ khí vi khuẩn, vũ khí hóa học gì đó, khả năng này rất lớn, để đề phòng cố vũ khí hóa học rò rỉ, thông thường đều cất giấu trong loại phòng kín như vậy.


      Vũ khí hóa học và vũ khí vi khuẩn của quân Nhật, tuy xưa nay tiếng xấu đồn xa, nhưng uy lực thể xem thường, cho dù để trong môi trường tự nhiên, cách biệt nhiều năm, vẫn có thể khiến người ta mất mạng như thường. Tôi hoàn toàn có hứng thú với những thứ sau cánh cửa này, xem bản đồ, nhanh chóng tìm lối thoát mới là việc chính lúc này.


      Tuyền béo vẫn hết sức hiếu kỳ với cái cánh cửa, đặc biệt là sau khi nghe tôi có thể bên trong cất giấu những thứ quý giá, cậu ta lại càng ngứa ngáy khó chịu, cùng với Tử lúc gõ mấy phát, lúc đá vài cái lên cánh cửa, có vẻ như vào trong xem thử ngừng vậy, hai người bọn họ còn làu bàu: "Bên trong biết có thứ gì thế nhỉ? Giời ơi, nhìn được là khó chịu."


      Tôi để ý đến bọn họ, tự mình đối chiếu vị trí lối ra bản đồ, định tìm lối ra trong hang đá từng bị lũ dơi mặt lợn chiếm đóng này, dựa theo bản đồ trong hang đá này, chắc phải có con đường dẫn đến lối thoát ở đỉnh núi.


      Nhưng tìm dò lại, chỉ phát đầu của hang động có đống đá núi, đúng như dự đoán trước đó, khi quân Nhật rút lui cho nổ sập lối ra của căn cứ ngầm.


      Vị trí giờ, đầu đại khái chính là chỗ chúng tôi dựng lều sườn núi Dã Nhân câu, soi đèn pin có thể thấy mấy miệng lỗ lớn ở trần, những lỗ thông gió cỡ lớn này, phải thẳng tắp từ xuống dưới, để đề phòng kẻ địch tấn công từ bên ngoài vào, các lỗ thông gió đều xây theo đường gấp khúc, lũ dơi chính là thông qua những lỗ này để bay ra ngoài. Tiếc rằng chúng tôi có cánh, đứng dưới ngước mắt lên nhìn khan, chứ lên được, cho dù có lên được cũng chẳng ích gì, cơ thể người lớn vừa hay to hơn cái lỗ vòng. Bọn Nhật này quá tinh quái, sợ kẻ địch theo lỗ thông gió chui vào căn cứ, nên cố ý làm những cái lỗ này to chẳng to, cũng .


      Tôi gọi Tử và Tuyền béo lại, bảo với bọn họ hết lối ra rồi, giờ hoặc tiếp tục tìm lối ra khác, hoặc trực tiếp cầm súng tiểu liên quay lại mộ cổ, xử lý con xích hống, thể lề mề trong này mãi được. người mang lương khô, cũng tìm thấy thực phẩm bọn Nhật để lại, cứ lung tung thế này, đến khi đói lê người được chỉ có nước đợi chết.


      Tử đá chân vào xác con dơi chúa dưới đất: "Nếu hết cách, ăn thứ này cũng được, toàn thịt cả ấy mà."


      Tuyền béo lắc đầu lia lịa: Muốn ăn các cậu mà ăn, tớ chết đói cũng ăn đâu, buồn nôn bỏ mẹ, tớ đoán cái thứ thịt ấy thối cũng chua lét, ngon được đâu. À, Nhất này, cậu thử xem, sau cánh cửa sắt này liệu có đường ra ? Chắc cũng có khả năng này chứ, mình nghĩ cách mở ra xem sao!"


      Tôi nghĩ lúc rồi : "Đúng là cũng có khả năng này, vì bản đồ hề có ghi chú gì về căn phòng kín này, chỉ vẽ lối tới cửa ra ngoài, có điều rất khó định vị chính xác, thể khẳng định sau cánh cửa là lối . Thực ra, muốn mở cánh cửa này cũng khó, trong kho Gena tớ thấy có công cụ, bọn mình có thể tìm được cái cờ lê lục giác đúng cỡ."


      Tử đứng bên cạnh bảo: "Quay lại cái kho Gena ấy tiện tìm luôn mấy bộ quần áo mà thay, em thấy người bọn mình bẩn quá, cứ như cả năm trời tắm ấy."


      Nghe Tử nhắc, chúng tôi mới để ý, cả ba đều bẩn thỉu nhếch nhác, khắp quần áo đầu tóc, mặt, tay đều dính nhớp nháp những phân dơi, máu, bùn, mùi hôi nồng nặc.


      (1) Trăm bước xuyên lá: tích thời Xuân Thu, Dưỡng Do Cơ người nước Sở giỏi bắn tên, có thể bắn trúng lá dương liễu ngoài cự ly trăm bước.


      (2) Đây là chữ Kanji, nghĩa là CẤM VÀO

    2. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 16: Mật thất





      Chúng tôi liền quay trở lại kho Gena ở tầng dưới, trước tiên tìm mấy bộ quân phục và áo khoác của quân Quan Đông mặc vào, lau qua loa vết máu và bùn nhớt mặt, mỗi người còn tìm cái mũ thép đội lên đầu.


      Tử vốn xinh xắn, mặc quân phục lên người trông càng đẹp hơn, Tuyền béo đứng bên cạnh xuýt xoa: "Ấy chết, em mặc quân phục Nhật vào trông lại giống Yoshiko Kawashima mới chết chứ!"


      Tử biết Yoshiko Kawashima là người thế nào, tưởng Tuyền béo khen mình, còn lấy làm đắc ý nữa, tôi với Tử: "Cậu ta bảo em giống nữ gián điệp Nhật Bản đấy"


      Tử nghe xong, mày liễu dựng ngược, Tuyền béo vội vàng : "Ấy, nhầm, ý định Tử mặc quân trang, tay cầm súng, khiến liên tưởng đến bài thơ của Mao chủ tịch: "Tha thướt dáng hoa, năm thước súng. Lơ thơ nắng mới chiếu thao trường. Nữ nhi Trung Quốc nhiều tài trí. Chỉ thích quân trang chẳng phấn hương."


      Tôi đứng bên cười cười: "Tay béo này sắp thành nhà thơ đến nơi rồi, hơi tí là lại ngâm ra được hai ba câu."


      Trong lúc chuyện, tôi tìm được chiếc cờ lê lục giác giá để thùng dầu: "Đủ cả rồi, thứ cần lấy đều lấy, tranh thủ thời gian hành động thôi!"


      Ba người mặc quân phục của quân Quan Đông, khoác súng tiểu liên, quay lại chỗ cũ, tôi vẫn sau cùng. Lần này Tuyền béo và Tử chẳng ai bảo nhìn thấy bóng đứa trẻ nào nữa, tôi hỏi, nhưng trong lòng cũng nghĩ vu vơ, khỏi có chút nghi thần nghi quỷ.


      Tôi nghĩ bụng: "Tuyền béo bảo đứa trẻ đó chạy vào trong cửa sắt, thằng tiểu ấy rổt cuộc muốn gì? Có phải định chỉ lối ra cho chúng tôi? Liệu có chuyện béo bở thế ? Hay nó có mưu gì khác? Con mẹ nó, ông đây vừa hay vẫn còn ít gạo nếp, nghe bảo ma sợ gạo nếp, thằng tiểu đấy mà dám gây phiền phức, nhất định chỉnh cho nó trận tơi bời, thế cũng thể được thủ đoạn của Hồ Bát Nhất này." Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi vừa theo họ, và tự cổ vũ tinh thần, vết thương sau lưng gần như còn đau nữa, chẳng mấy chốc, chúng tôi trở lại hang đá có cánh cửa sắt.


      Để đề phòng bất trắc, chúng tôi đều đội mũ thép và đeo mặt nạ phòng độc, mở chốt súng, lên sẵn đạn. Trước khi mở cửa, tôi bảo Tử vốc lấy nắm gạo nếp chuẩn bị ném, đồng thời bảo Tuyền béo cầm súng ngắm sẵn, nếu bên trong cánh cửa có thứ gì, mặc kệ ba bảy hai mốt, cứ thịt nó trước rồi tính sau. Ngoài ra còn dặn Tuyền béo phải phối hợp với tôi, lần lượt nổ súng, được để thời gian nạp đạn bị trống.


      Sau khi sắp xếp ổn thỏa, tôi khoác súng lên vai, đặt cờ lê lục giác vào ốc vít cửa rồi gắng sức vặn, cánh cửa này mở mấy chục năm rồi, ốc vít bị gỉ chặt lại.


      Tôi dốc hết sức bình sinh, cờ lê suýt nữa bị tôi vặn gãy, cuối cùng cũng nghe thấy tiếng "cạch cạch cạch", ba rãnh thông khí phía dưới kêu "phụt" tiếng, khí ùa vào bên trong, cửa sắt bắt đầu kêu "kẹt kẹt rình rình..."


      Rãnh thông khí thông, cánh cửa sắt nặng nề uỳnh uỳnh mở ra, tôi vội lùi về sau hai bước, giơ súng và đèn pin lên ngắm vào cửa, nhưng bên trong lại yên lặng như tờ chút động tĩnh.


      Tình hình nằm ngoài dự tính, chỉ thấy trong cửa tối om om trông gì, ánh sáng đèn pin rọi vào, liền bị bóng tối bên trong nuốt trọn.


      Tôi ra hiệu cho Tử, Tử hiểu ý, tựa như tiên nữ rải hoa, ném nắm gạo nếp vào trong, nhưng căn phòng kín vẫn có động tĩnh gì hết, dường như tất cả mọi thanh thế giới này đều biến mất cả, chỉ nghe thấy tiếng thở gấp gáp của chính mình trong tấm mặt nạ phòng độc mà thôi.


      Xem ra chúng tôi lo quá xa rồi, đúng là thần hồn nát thần tính chưa có gì mà tự dọa mình đến gần chết rồi.


      Cuối cùng, Tuyền béo nhẫn nại được hơn, mình lên trước, bước vào căn phòng kín, tôi và Tử theo sát phía sau, thành hàng dọc.


      Căn phòng kín này diện tích chừng bốn mươi mét vuông, chỉ mỗi gian duy nhất, ngoài cánh cửa sắt kia, còn lối ra nào khác nữa.


      Trong căn buồng này phải vũ khí vi khuẩn, cũng phải vũ khí hóa học, trước khi tiến vào, tôi dường như tính tới mọi khả năng, duy nhất điều ngờ tới, trong phòng lại đặt mười mấy cỗ quan tài lớn. Quan tài để rải rác khắp nơi trong phòng, gỗ quan tài để nhiều năm, có cái mục nát, kiểu dáng, thủ công đều khác nhau, thậm chí còn có cỗ quan tài đá cực lớn, trong đó xa hoa nhất là hai cỗ quan tài gỗ chò dát sợi vàng, dưới đất còn vô số mảnh vỡ gốm sứ rơi vãi.


      Tôi quay đầu nhìn bọn Tuyền béo, Tử, cả hai đều lắc đầu, tuy đeo mặt nạ phòng độc nhưng tôi vẫn cảm nhận được vẻ hoang mang mặt họ.


      Tuyền béo hỏi tôi: "Nhất ơi, chuyện gì thế nhỉ? Con mẹ nó, trông cứ như viện bảo tàng ấy, đâu ra lắm quan tài thế?"


      Tôi suy nghĩ lúc, kỳ thực việc này cũng khó đoán, chẳng qua chúng tôi có sẵn định kiến, ngờ tới những thứ này mà thôi. Dã Nhân câu vốn là khu mộ cổ từ thời Kim Liêu, quân Quan Đông xây dựng căn cứ ngầm bí mật này, đặc biệt là ba đường hầm nối liền hai đầu căn cứ, cắt ngang khe núi Dã Nhân câu, khi thi công, nhất định quật lên ít mộ cổ, đồ tùy táng và cả quan quách của quý tộc Kim Liêu ở trong các ngôi mộ này, đối với người Nhật đều là bảo bối, bọn chúng mang hết những thứ đào lên được trong mộ cổ, cất giấu trong căn phòng bán chân này, quân Quan Đông rút vội quá, trước khi chỉ kịp mang đồ bồi táng theo, còn quan tài để cả lại đây.


      Tuyền béo bảo: "Người Nhật cũng biết tiện tay vơ của, chẳng để lại cho mình thứ gì, xem xem trong quan tài liệu còn gì đáng tiền , cũng đỡ uổng công từ nãy đến giờ". đoạn liền vung chân đá vào nắp cỗ quan tài lớn ra, nắp quan tài vốn bị người Nhật nạy ra sẵn, vẫn chưa đóng đinh lại, bị đá cái, văng sang bên.


      Tử dám lại gần nhìn: "Em đứng ở cửa đợi hai nhé, tiện thể trông chừng luôn, kẻo có người nhốt mình vào đây chết". Tử dứt lời liền ra cửa, chân bên ngoài, chân đặt trong, canh gác của ra vào.


      Tôi ngoảnh ra với Tử đứng canh cửa: "Vẫn là em cảnh giác, quên khuấy mất việc này, lính bao năm nghĩ cũng uổng , cửa này chỉ có thể mở từ bên ngoài, chúng ta mà bị nhốt trong này, e chỉ có khóc cũng tìm đâu ra lỗ thoát nước mắt nữa."


      Tuyền béo chỉ phăm phăm lục lọi trong quan tài: "Mả mẹ, toàn xương với xẩu, bọn Nhật này đúng thất đức bỏ mẹ, đến đâu cũng giở chính sách ba sạch (giết sạch, đốt sạch, phá sạch) ra hả, đến cả cái vại còn nguyên lành tử tế cũng để lại nữa."


      Lục lọi ba bốn cỗ quan tài tiếp theo cũng vẫn y như vậy, Tuyền béo tức tối chửi rủa luôn mồm, tới đẩy nắp cỗ quan tài gỗ chò dát vàng sơn đỏ kia.


      Tôi chú ý lắm đến mấy cỗ quan tài thường đó, mắt tôi cứ bị cỗ quan tài đá đồ sộ kia hút lấy, trực giác mách bảo tôi, bên trong đó có đồ...


      Cũng hiểu sao tôi lại có suy nghĩ đó, bỗng nhiên thấy bị kích động, thấy buộc phải mở cỗ quan tài đá này ra xem sao. Tôi gọi Tuyền béo lại giúp tay, hai người hợp sức đẩy phiến đá bên , phiến đá vừa dày vừa nặng dị thường, gắng sức đẩy mãi cũng chỉ hở ra kẽ .


      Tuyền béo thở hổn hển, xua tay: "Thôi mệt quá... nghỉ tí , nặng thế hả giời... bụng rỗng tuếch đẩy chẳng nổi rồi."


      Tôi cũng đói cồn cào, bụng kêu lục bục, vừa dùng sức cái, mắt hoa lên, đành phải ngồi xuống nghỉ ngơi, chúng tôi bỏ mặt nạ phòng độc xuống, mỗi người châm điếu thuốc.


      Tuyền béo nhả ra khuyên khói: "Nhất này, cậu bảo xem, người ngày xưa dở hơi hay sao mà làm quan tài đá thế, lần đầu tiên tớ thấy người ta dùng đá làm quan tài đấy."


      Tôi sờ lên phiến đá bảo: "Đây phải quan tài, mà gọi là quách đá, quan quách, quan quách, quan tài gỗ đặt bên trong cái quách đá này. Có thể hưởng đãi ngộ như vậy, chắc hẳn phải là tay to đấy, chừng là vương gia cũng nên."


      Tuyền béo gãi gãi đầu: "À, ra là vậy, mẹ, phức tạp thế, đều chôn ở Dã Nhân câu, thế tướng quân trong ngôi mộ mình đào được với chủ nhân cỗ quan tài đá này, đem so ra quan tước ai to hơn?"


      Tôi lắc đầu: " biết được, chuyện này cũng khó lắm, em mình đều am hiểu lịch sử mấy, có điều trong mấy trăm năm thời Kim-Liêu-Nguyên, dân du mục phương Bắc lớn mạnh chưa từng thấy, bọn họ đoạt thiên hạ đều lưng ngựa cả, tớ đoán là trọng võ khinh văn, cho nên quý tộc có công lao chiến trường nhất, mới được chôn ngôi mộ chính giữa khu đất phong thủy rất đẹp này, những mộ quý tộc chôn xung quanh gần đó, có lẽ còn nhiều đồ tùy táng hơn mộ tướng quân ấy chứ. Sở thích của chủ nhân lúc sinh thời khác nhau, đồ tùy táng chắc chắn cũng giống nhau. Cứ lấy ngôi mộ cổ mình đào được kia làm ví dụ, chủ nhân là tay vũ phu, có thú vui gì cao nhã, thế nên vật phẩm trong mộ toàn ngựa với binh khí."


      Tuyền béo : "Thực ra số ngựa kia khẳng định là thiên lý mã, nếu còn sống thể nào cũng đáng tiền lắm, có điều giờ chỉ còn lại mỗi đống xương, đem bán đồng nát cũng chẳng đứa nào thèm. Cũng may còn hai miếng ngọc bích, nếu mình công toi rồi, hai miếng ngọc này mang về bảo Răng Vàng kiếm người mua, thế nào cũng được tám nghìn vạn."


      Trong lúc chuyện, điếu thuốc cũng hút hết, hai chúng tôi đeo lại mặt nạ phòng độc, vận hết sức đẩy phiến đá lần nữa, Tử cũng chạy lại giúp, cuối cùng cũng đẩy được phiến đá sang bên. Trong quách đá lộ ra cỗ quan tài gỗ đen tuyền, cỗ quan tài này phải to gần gấp đôi quan tài bình thường, hơn nữa độ cao cũng cao ngang nửa người rồi.


      Thủ công mỹ nghệ của cỗ quan tài rất tinh tế, quyết phải vật tầm thường, hai đầu, bốn bên, cho tới nắp quan tài đều có tranh ngũ sắc mạ vàng, vẽ đủ những loài thú thần may mắn như tiên hạc, kỳ lân, rùa đầu rắn, để phù hộ chủ nhân sau khi chết xác hóa thành tiên. nắp quan tài còn vẽ nhị thập bát tú tinh đồ, bốn phía dưới chân quan tài được chạm trổ vân mây màu vàng, chẳng là dùng cách bí mật gì, trăm ngàn năm sau sắc màu vẫn tươi như mới, khiến người ta phải thán phục.


      Chúng tôi đều lần đầu thấy cỗ quan tài rực rỡ sành điệu thế này, nếu chẳng phải tận mắt trông thấy, làm sao ngờ được đời lại có cỗ quan tài đồ sộ đẹp như tác phẩm nghệ thuật thế này.


      Tuyền béo hí hửng: "Dù bên trong có gì, ta khuân quan tài về bán, thế nào cũng kiếm được món lớn đấy!" đoạn liền xắn tay áo đẩy nắp quan tài ra.


      Cả Tử cũng nén nổi ý định xem trong cỗ quan tài lớn này có gì, ba người chụm đầu vào nhau, soi đèn pin vào trong, mảnh gấm trải lót phía dưới mục nát từ lâu, chỉ e chạm phải là mủn ra thành bụi, lớp gấm mục là bộ hài cốt, trải qua ngàn năm, quần áo, da thịt sớm tiêu tan, chỉ còn đầu lâu là giữ tương đối hoàn chỉnh, miệng mở to, lộ ra hai hàm răng mủn đen sì, nếu thấy đầu lâu, chắc chẳng thể nhận ra được đây là bộ xương người.


      Tử quét ánh đèn vào góc chiếc quan tài khổng lồ, bỗng kinh hãi hét lớn: "Ối mẹ ơi, chính là đứa bé này!"


      Chỉ thấy hai đầu quan tài, mỗi đầu có đứa bé hở mông, trai , xem chừng khoảng năm, sáu tuổi, mặt mũi sống động, tóc bé trai tết bím xung thiên, tóc bé vấn thành hai bím, tuyệt đối phải kiểu tóc của thời cận đại, mà lại giống như người thời cổ trong bích họa, lẽ nào là đồng nam đồng nữ bị tuẫn táng? Xác chủ nhân quan tài sắp tiêu hế rồi, sao đôi đồng nam, đồng nữ này vẫn được gìn giữ hoàn hảo như thế? Truyện "Ma Thổi Đèn "


      "Hai đứa trẻ ranh này, chín phần là người giả, làm y như vậy." Tuyền béo vừa vừa thò tay định bấu đứa trẻ trong quan tài, "Ông béo mày hôm nay lại muốn xem xem, thành tinh con mẹ gì chưa?"


      Tôi tóm tay Tuyền béo lại: " đeo găng tay tuyệt đối được đụng vào! Đây phải người giả đâu, khả năng có độc đấy, mọi người nhìn kỹ mình hai đứa trẻ này xem, toàn là đốm màu tím xanh, chính là đốm thủy ngân đấy."


      Hồi những năm năm mươi, ông nội Hồ Quốc Hoa của tôi từng ở trong bệnh viên lớn ở Bắc Kinh để khám bệnh. Trong thời gian ấy, vừa hay gần bệnh viện có công trình xây dựng lớn, ở công trường người ta đào được ngôi mộ cổ, ông nội cũng trốn viện xem náo nhiệt, chui cả vào hầm mộ coi lượt.


      Ngôi mộ ấy nghe là của vương gia đời Minh, xung quanh mộ là vòng nước đen ngòm, hầm mộ ngầm dưới đất chia làm ba bộ phận trước, giữa, sau, cửa có treo thiên cân hạp (1), qua cửa này, đầu tiên là gian "Minh điện", bố trí như trong nhà chủ mộ lúc còn sống, có bày biện đủ các đồ gia dụng, những thứ ấy gọi là "Minh khí" (2). sâu vào trong, gian mộ giữa gọi là "Tẩm điện", là nơi đặt quan quách. Ngôi mộ này là mộ hợp táng, hơn nữa điều đặc biệt là, quan tài của vợ chồng chủ mộ, cũng chính là vương gia và vương phi, đều dùng xích sắt, khuyên đồng, và khóa đồng móc vào, treo lơ lửng giữa tẩm điện. Sau cùng là "Phối điện", là nơi đặt các đồ tùy táng.


      Chưa được mấy hôm, ở khu Hải Điện cũng đào được ngôi mộ cổ thời Nguyên, cả hai ngôi mộ này đều có đồng nam đồng nữ tuẫn táng, lúc xuất thổ vẫn giống y như người sống, chỉ có điều đồng nam đồng nữ trong ngôi mộ thời Nguyên, vừa chạm cái quần áo người tan ra thành bụi.


      Về sau ông nội đem hai việc này coi thành chuyện kể mà kể tôi nghe, ông bảo những đứa đồng nam đồng nữ ấy khi còn sống, ngoài bị bắt uống thủy ngân ra, còn bị khoét lỗ đỉnh đầu, sau lưng, lòng bàn chân, đổ đầy thủy ngân vào, sau khi chết lại lấy bột thủy ngân bóp đều khắp người, giống như làm tiêu bản vậy, sau hàng vạn năm, da thịt cũng rữa nát được. Kỹ thuật này còn tiên tiến hơn nhiều so với thuật ướp xác của Ai Cập cổ đại, nhưng bối cảnh của hai nền văn minh khác nhau, định hướng giá trị cũng có nhiều khác biệt, hơn nữa phép đổ thủy ngân giữ bề ngoài thi thể, cần phải dùng người sống, người chết máu huyết còn lưu thông, chẳng thể đổ vào trong được, cho nên kỹ thuật này xưa nay đều dùng thi thể của bất kỳ chủ mộ nào.


      Chuyện tàn nhẫn nhất đời e rằng chính là dùng người sống tuẫn táng, Tuyền béo đeo găng tay ẵm xác đứa bé ra, kiểm tra kỹ lưỡng, quả nhiên các chỗ như đỉnh đầu, sau lưng, lòng bàn chân đều phát có lỗ khoét. Các lỗ hổng thi thể này, đều được người thợ khéo tay dùng xi gắn chặt, xác có ít chỗ xuất những vết đốm màu tím đen, người và đồ vàng bạc châu báu tùy táng thường được phết lớp bột thủy ngân, trải qua thời gian dài xảy ra các phản ứng hóa học, niên đại gần thành màu đỏ nâu, niên đại xa hơn chuyển thành màu tím đen, những vết lốm đốm ấy thường gọi là "đốm thủy ngân" hay "tẩm thủy ngân", cũng có số nơi gọi đốm xác chết là "lạn tử" hoặc "thủy ngân xanh".


      ràng Tuyền béo hơi căng thẳng, cậu ta cố ra vẻ bình tĩnh, thở hắt hơi : "Trước kia đọc tiểu thuyết Lỗ Tấn, có đoạn tả cảnh 'tẩm thủy ngân' lên đồ cổ, xem ra ông này cũng phải viết bậy đâu, đúng là có việc đó thực."


      Tử hỏi: "Vậy cũng đáng thương quá, Nhất, bảo hai đứa đồng nam đồng nữ này, sao cho chúng mặc quần áo nhỉ? Em nhớ lúc trước thấy đứa bé chạy vụt qua có mặc quần áo cơ mà, lẽ nào là hồn ma sao?"


      Tôi trả lời: "Có phải là hồn ma hay chỉ có bản thân chúng mới thôi, chỉ có điều phải hai đứa bé này mặc quần áo, đồng nam đồng nữ tuẫn táng, chắc chắn đều được khoác quần áo rực rỡ, trải qua gần ngàn năm, đến giờ quần áo ấy cũng mục cả rồi. Quan tài này e là từ thời Nguyên, từ khi quân Quan Đông đào quan tài này lên, quần áo gặp phải khí mủn thành tro bụi rồi."


      Tử tiếp: "Chẳng phải vẫn nhân nhập thổ vi an đấy sao? Hay là mình giúp chúng , đáng thương quá mất!" Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tuyền béo gật đầu đồng ý: "Tớ chỉ muốn phát tài chứ chẳng muốn nhúng tay đến mấy thứ việc ba lăng nhăng làm gì, nhưng lần này tình huống đặc biệt, mình làm việc thiện, đem chúng ra ngoài đào lấy cái huyệt mà an táng tử tế, đừng để chúng trần truồng hớ hênh ở đây nữa, chúng canh gác cho chủ mộ cả ngàn năm nay rồi, cũng đến lúc nghỉ ngơi rồi."


      Trong xác chết toàn là thủy ngân, có đốt cũng tan được, chỉ còn cách đào hố chôn , những gì chúng tôi làm được cũng chỉ vẻn vẹn có vậy, mong rằng đời bớt những thảm kịch như vậy.


      chần chừ thêm nữa, tôi và Tuyền béo cởi áo khoác của quân Quan Đông người xuống, lần lượt bọc hai đứa trẻ vào trong, buộc chặt cõng lưng. Thi thể bị đổ đầy thủy ngân nặng trình trịch, cũng may là trẻ con, nếu là người lớn, người cõng chắc là sụm lưng mất.


      Tuyền béo thấy chưa lấy được món nào đáng tiền, trong lòng ít nhiều cũng ấm ức, chỉ muốn làm mồi lửa thiêu sạch chỗ quan tài này, tôi và Tử vội vã can ngăn, cậu ta mới chịu thôi.


      Chúng tôi trở lại hang đá bàn xem thoát ra bằng cách nào, lúc này ai nấy đều đói khát khó chịu, chỉ hận rằng trong căn cứ ngầm này có thức ăn nước uống, cũng có thuốc nổ bom mìn, muốn trở lên mặt đất, chỉ còn cách qua ngôi mộ tướng quân, nhưng nghĩ đến sức mạnh của con quái vật lông đỏ, thực khiến người ta đau đầu, ăn no uống đủ cũng chắc là đối thủ của nó, huống hồ giờ đói đến nỗi bủn rủn chân tay.


      Ba người nhìn nhau, trong đầu gần như chung suy nghĩ, dưới đất có mười mấy con dơi chết, việc đến nước này, cũng chỉ có thể đem mấy chàng ra cúng cụ dạ dày thôi.


      Loài người vốn là động vật ăn tạp, khi đói hoa cả mắt, thể ăn được. Tử kể hồi còn , từng cùng với ông nội ăn thịt dơi trong hang động tận sâu trong rừng, năm ấy cháy rừng, lại gặp phải nạn đói, động vật lớn trong núi đều chạy mất tăm mất tích, người ta phải ăn thịt chuột đất, thịt dơi, ăn cào cào, châu chấu, gân và sụn dơi ăn rất ngon, nhai sướng mồm.


      Lũ dơi mặt lợn trong hang xương lởm chởm, trông lại hung ác dữ tợn, giống y như những cái xác khô của bọn ma cà rồng, đối với câu thịt chúng ngon, tôi và Tuyền béo giữ thái độ "bảo lưu ý kiến chờ xem xét".


      Nhưng để sinh tồn, cũng chẳng thể nghĩ ngợi nhiều như thế được, muốn đốt lửa nướng phải về kho Gena, ở đó nhiều hòm gỗ có thể làm củi, đương nhiên ván quan tài cũng có thể đốt, nhưng ăn thịt nướng bằng gỗ quan tài, chuyện này ít nhiều cũng khiến người ta khó thể chấp nhận. Vậy là Tuyền béo dùng dây thừng người, lựa năm sáu con dơi béo mẫm buộc chân lại thành chuỗi, kéo lệt xệt , trong đó có cả con dơi chúa to nhất.


      Về kho Gena, đặt hai chiếc áo bọc đứa đồng nam đồng nữ sang bên, Tử lấy dao găm chặt cái đầu xấu xí của con dơi và móng vuốt có thịt , rồi mổ bụng bỏ nội tạng, sau cùng lột da qua quýt cho xong.


      Tôi tìm đống hòm gỗ, lấy chân đạp bung ra thành từng tấm, lại rút dao cạo lấy ít mạt gỗ, đánh diêm đốt mạt gỗ để làm mồi, Tuyền béo bên cạnh trợ giúp, ngồi chồm hỗm, tay đưa ngang miệng thổi hơi cho lửa bùng lên.


      Bọn tôi lại tìm mấy lưỡi lê gắn súng trường, xuyên qua con dơi rồi bắc lên nướng, Tuyền béo cau cau đôi mày, ra vẻ rất muốn ăn cái món này.


      Tử khuyên bảo: " khó ăn đâu, đừng nghĩ đây là thịt dơi, nhai thêm mấy cái, mùi vị y như thịt dê ấy."


      Tôi lại để ý lắm, dơi chẳng phải cũng giống chuột hay sao, hồi làm bộ đội tham gia diễn tập ở Thiểm Tây, tôi ăn thịt chuột biết bao nhiêu lần rồi, đủ các loại từ chuột đất, chuột bay, chuột chũi, chuột đồng đến chuột hoa ly, mùi vị cũng tàm tạm, nạc nạc mỡ mỡ từng lớp từng lớp , quả thực cũng khác gì thịt dê, có điều thịt dơi đúng là chưa ăn bao giờ.


      Dơi mặt lợn là động vật máu nóng, có nhiều mỡ, nên nướng lâu, thấy màu thịt có vẻ chín, tôi thử miếng trước, thịt bả vai rất giòn, bên trong có khá nhiều gân với sụn, quyết thể nào ngon như thịt dê, song quả nhai cũng rất sướng miệng.


      Tuyền béo thấy tôi ăn rồi, cũng bịt mũi ăn miếng, thấy cũng đường được, liền lập tức ăn như gió cuốn mây bay vèo hết con, vẫn còn thòm thèm, lại xọc lưỡi lê vào con dơi chúa bắc lên nướng tiếp.


      Lúc chúng tôi ăn được khoảng nửa con, trần nhà đầu Tuyền béo rớt xuống chuỗi chất lỏng dinh dính, óng ánh, vừa hay rơi đúng vào mặt cậu ta. Tuyền béo hăm hở ăn, thấy mặt ướt nhơm nhớp, lập tức đưa tay quẹt cái, ngạc nhiên thốt: "Mẹ kiếp nước rãi thằng nào rớt ra nhiều thế? Chảy bố nó xuống mặt ông mày rồi". Lời vừa ra khỏi miệng, bản thân cậu ta cũng thấy câu này hỏi có vẻ đúng lắm

    3. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 17: Lười đất thảo nguyên





      Trong căn cứ ngầm này chỉ có ba người, tôi và Tử đều ngồi đối diện với cậu ta, hai bọn tôi có bản lĩnh gì chăng nữa, cũng thể nào làm nước bọt nhểu lên đầu Tuyền béo được.


      Ba người đều cảm thấy kỳ lạ, cùng ngẩng đầu nhìn lên, rốt cuộc là cái gì nhểu chất lỏng ấy xuống? Ngọn lửa đốt bằng gỗ vụn từ các thùng đạn, chiếu sáng xung quanh đấy, những chỗ xa, ánh lửa rọi tới, vẫn là vùng đen tối lặng yên phăng phắc.


      Đúng chỗ ngay đầu chúng tôi, ánh sáng của ngọn lửa và bóng tối giao nhau, chìa ra mặt người cực lớn. Gương mặt này ít nhất là to gấp đôi mặt người thường, trắng như trát phấn, vẻ mặt trơ lỳ, nhìn ra được là mừng hay giận, mũi khoằm như mỏ diều hâu, đôi mắt đỏ sọc như máu, nhìn chằm chặp vào miếng thịt dơi nướng tay Tuyền béo, cặp môi vừa dày vừa thô, chìa ra phía trước, cái miệng to tướng há ra đen ngòm, nửa cái lưỡi đỏ au chìa ra ngoài mép, nước dãi chảy ròng ròng, từng giọt từng chuỗi từ bên rớt xuống.


      Chủ nhân của bộ mặt ấy, có cái cổ rất dài, da đen mà cứng, trần kho Gena rất cao, nên cả người nó đều giấu trong bóng tối, nơi ánh lửa soi tới, chỉ có thể trông thấy mặt và đoạn cổ mà thôi. Dường như nó rất hứng thú với thịt dơi nướng chúng tôi ăn, định bổ xuống cướp lấy, nhưng lại sợ ngọn lửa cháy bùng bùng bên dưới, nên cứ chần chừ do dự quyết.


      Nhưng coi bộ có lẽ sức hấp dẫn của mùi thịt nướng đối với nó quá lớn, thể kiềm chế được hơn, bất cứ lúc nào cũng có thể bổ nhào trần xuống.


      Đây rốt cuộc là người hay quái vật? Ba chúng tôi ngẩng đầu lên thấy vậy, đều vừa kinh hãi vừa ngạc nhiên, tôi hiểu cái thứ này ở đâu ra, nhưng cũng nhìn ra được nó thèm ăn thịt dơi nướng.


      Chúng tôi mang trong hang đá vào đây cả thảy năm con dơi to, Tử và tôi mỗi người ăn nửa con, Tuyền béo mình ăn cả con, còn lại ba con, lúc nãy Tuyền béo xả thịt con dơi chúa ra làm ba phần, phần xiên vào lưỡi lê, nướng ngọn lửa.


      Có điều trong lúc này, đâu thể suy nghĩ được nhiều, tôi thấy Tuyền béo bị bộ mặt vô hồn đầu làm cho đờ cả người, vội giật lấy lưỡi lê xiên thịt dơi nướng tay cậu ta, giơ lên phía bộ mặt quái đản kia, huơ huơ nửa vòng, rồi dùng sức văng sang bên.


      Tôi dùng sức quá mạnh, ngược lại làm miếng thịt văng ra xa được, mà tuột khỏi lưỡi lê, rơi xuống chỗ cách lưng Tử xa lắm, Tử còn chưa kịp quay đầu lại nhìn, con dã thú thân hình đồ sộ nóc nhà nhảy xuống, ngoạm cả miếng thịt dơi vào mồm, chẳng nhai chẳng nghiến nuốt luôn vào bụng.


      Nhờ có ánh lửa, chúng tôi nhìn mồn , hóa ra nó là động vật chứ phải người, mặt nó như mặt khỉ đầu chó, rất giống mặt người, cái cổ cực dài, hình dáng và kích thước thân thể hao hao gấu chó, nhưng lù khù chậm chạp như gấu chó. Thân hình nó hơi bèn bẹt, chi sau cong cong, vừa ngắn vừa thô, chi trước dài đến bất thường, lúc hành động, nó có thể bám vào các khe tường, treo ngược bên , nhìn động tác của nó, xem chừng leo trèo tường còn thành thạo hơn dưới đất nữa.


      Tử chưa từng thấy loài động vật này, còn tôi và Tuyền béo từng xem ảnh nó trong vườn bách thú, nó vừa lộ nguyên hình, bọn tôi lập tức nhớ ra ngay, là con lười đất thảo nguyên, đúng rồi, chính là nó.


      Lười đất thảo nguyên sống trong hang động dưới đất ở sâu trong thảo nguyên, chủ yếu phân bố ở vùng thảo nguyên Nam Mỹ, châu Phi, Ngoại Mông. Cũng là lười đất, nhưng chúng giống với loài lười đất sống trong rừng, lại càng khác với loài lười cây họ hàng xa của chúng. Lười đất thảo nguyên kế thừa nhiều đặc tính của tổ tiên lười đất băng hà khổng lồ hơn cả, thể hình đặc biệt to lớn, thức ăn chủ yếu là thịt, rất ít hoạt động dưới ánh mặt trời, thích nhất là ăn những động vật sống dưới lòng đất như dơi lớn, chuột đất hay mãng xà...


      Phương pháp bắt mồi của lười đất thảo nguyên là lấy tĩnh chế động, rất ít khi chủ động tấn công, chỉ lẳng lặng nấp trong bóng tối, hề động đậy, có khi mai phục đến mấy ngày liền, ăn uống, đợi khi có động vật nào ngang qua, mới đột nhiên há miệng như chớp, miếng nuốt trọn luôn đối phương.


      Hồi thành lập nước, các nước em châu Phi từng tặng vườn thú Bắc Kinh con, nhưng nó thích nghi được với môi trường sống ở Bắc Kinh, chẳng được bao lâu chết. Tôi, Tuyền béo và số người bạn cùng lớp ngày xưa Bắc Kinh tập trung, đội Hồng vệ binh Bắc Kinh hội quân với chúng tôi, dẫn chúng tôi chơi khắp nơi, lúc vào vườn thú có trông thấy cái cũi khổng lồ nhốt lười đất thảo nguyên. Con lười đất trong chiếc cũi chết, chỉ còn lại chiếc cũi trống rỗng, chúng tôi thấy cái cũi to tướng để , lấy làm lạ, bèn để mắt đến hơn, cũi có dán ảnh và lời giới thiệu về loài vật này. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      bao năm trôi qua, việc vẫn còn để lại trong chúng tôi ấn tượng sâu sắc, nhưng chẳng ai ngờ được, trong căn cứ của quân Quan Đông tận sâu dưới lòng đất này, chúng tôi lại gặp phải con như thế, mà còn là con to nữa chứ.


      Chắc hẳn nó đuổi theo bọn dơi mặt lợn đến đây, lũ dơi trong căn cứ này nhiều đếm xuể, chúng tôi chỉ thấy cái ổ trong hang đá, có đến hàng ngàn con, căn cứ này rộng hàng chục cây số, có khi ở nơi nào đó, còn có vài cái ổ khác nữa chừng.


      Lười đất da thô thịt dày, dưới da còn có rất nhiều mảnh xương , y như mặc áo giáp, khi trưởng thành lớp áo giáp này rắn chắc lại, thể phá vỡ.


      Loài dơi mặt lợn hung dữ có móng vuốt sắc nhọn, tuy dễ dàng xé rách được da bụng của trâu, dê, nhưng lại thể làm tổn thương lười đất thảo nguyên, dù có cào cấu được mấy cái, nó cũng chẳng mảy may đau ngứa, ở đây có loài thiên địch của nó, lại có vô số dơi mặt lợn cho nó bắt ăn, đúng là hài lòng hả dạ rồi.


      Có điều, loài vật thể hình lớn như lười đất thảo nguyên làm sao mà xuống được căn cứ ngầm này, khả năng là có động đất hay sạt núi, khiến căn cứ xuất số lỗ hổng lớn, nó chính là trèo vào đây kiếm ăn từ đó, nếu tìm được lối vào này, chúng tôi chắc cũng có thể thoát ra theo đường ấy.


      Con lười đất thảo nguyên nhảy trần nhà xuống ăn hết miếng thịt dơi nướng, liền thè cái lưỡi dài của nó ra liếm mấy vòng xung quanh miệng, ràng chỉ miếng thịt như vậy, lấp đầy được dạ dày nó, hơn nữa còn khơi dậy ngọn lửa thèm ăn hừng hực trong nó, con vật nhìn chằm chằm vào ba chúng tôi, biết có chủ ý gì. Ở thế giới lòng đất này, nó chính là bá chủ.


      Trong khoảnh khắc hai bên đối mặt ấy, đầu óc tôi xoay chuyển mấy lần, địa hình khu căn cứ và đối phó mãnh thú hoang dã, những chuyện này đối với tôi quả hơi lạ lẫm, có nên ra tay trước ? Súng tiểu liên ở trong tay, nhưng sức sát thương của súng tiểu liên loại này rất giới hạn, da xương của lười đất thảo nguyên kia có thể chống đỡ được, chớ để đánh rắn xong, lại để rắn cắn, chọc tức nó rồi, chắc thoát thân được.


      Súng trường Arisaka của quân Nhật lực xuyên thấu lớn, chắc có thể giải quyết được lười đất thảo nguyên, chỉ có điều chúng tôi chỉ cầm mấy lưỡi lê, hai khẩu súng trường nạp đầy đạn lúc nãy đều để cách đó tầm hai ba chục mét, cần phải có người đánh lạc hướng con lười, tôi mới có thể chạy ra lấy súng được, chạy chạy lại như vậy, cần khoảng thời gian ngăn ngắn, khoảng cách giữa con lười đất thảo nguyên và chúng tôi quá gần...


      Nghĩ liền mấy hướng, chẳng hướng nào là chắc chắn cả, lúc này Tuyền béo đứng nguyên tại chỗ, với tôi: "Nhất à, tớ nhớ cái giống này chỉ ăn động vật máu nóng và máu lạnh, ăn thịt người, theo tớ chắc sao đâu". đoạn lấy chân đá mấy cái xác dơi về phía con lười, ra ý rằng, số thịt này đều cho mày cả, mau ra mà ăn , đừng làm phiền bọn tao.


      Ai ngờ con lười chẳng thèm liếc mấy con dơi chết cái, ngược lại còn nhìn bọn tôi chằm chằm, dớt dãi ngừng chảy xuống.


      Tuyền béo quay đầu lại hỏi tôi: "Sao nó ăn thịt dơi, lại cứ chằm chặp nhìn mình thế hả nhỉ, hình như có ý tốt đâu."


      Tôi dám phân tâm chuyện với Tuyền béo, mực theo dõi sát sao nhất cử nhất động của con lười đất thảo nguyên, chỉ cần nó có ý định tấn công, vậy tôi đành phải xông tới trước mặt nó, nhặt súng tiểu liên, cho nó vài phát đạn.


      Tử : "Bọn mình đều ăn khá nhiều thịt dơi rồi, lẽ nào nó... coi mình là dơi..."


      Lời còn chưa dứt, con lười đất thảo nguyên kia thể nhịn được trước mùi thịt dơi nướng thơm nồng, từng bước áp sát chúng tôi, động vật hoang dã, chủ yếu đều ăn thịt sống, bởi từ khi sinh ra chúng chưa từng ăn thịt chín, ăn miếng rồi, mùi vị thịt chín hấp dẫn lớn nhất đối với chúng.


      Tôi phát ra nó hành động rất chậm chạp, cảm thấy nhất định phải tranh đấu làm gì, cứ chạy hơn. Tôi gọi hai người còn lại tiếng, cả ba quay người bỏ chạy, vừa chạy ra được hai bước, đúng lúc ấy, dưới chân mắc phải vật cứng, khiến tôi ngã dập xuống, suýt mữa vỡ của đầu gối, cả Tuyền béo, Tử cũng đồng thời ngã đập mặt xuống đất.


      Tôi lấy làm lạ, thứ gì vướng vào chân tôi? Lúc ngã xuống đó, tôi có liếc cái xuống dưới, mặt đất bằng phẳng, lấy đâu ra thứ gì có thể làm người ta vướng chân ngã nhào, bèn sực nhớ ra: "Chỉ lo thoát thân, quên mất mang theo hai cái xác đứa trẻ, lẽ nào là hồn ma quậy phá?"


      Lười đất thảo nguyên có lẽ trước nay chưa từng gặp loài động vật bằng hai chân như con người, nó ngửi thấy mùi thịt dơi nướng người chúng tôi, coi chúng tôi là dơi rồi, chỉ có điều tạm thời nó vẫn chưa thể chấp nhận loài dơi có hình dạng thế này, vả lại cũng sợ ánh lửa, dám manh động tiến lên, suy tính xem làm sao để nuốt trọn cả ba con mồi ngon dâng lên đến tận miệng này, thấy ba bọn tôi ngã nhào xuống đất, liền "vụt" cái nhảy bổ tới chỗ chúng tôi.


      Chi sau của nó vừa to vừa khỏe, nhảy cái tới ngay trước mặt Tuyền béo, có lẽ nó thấy "con" này thịt nhiều, nên chuẩn bị đưa Tuyền béo vào mồm tế bộ răng trước. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tuyền béo thấy vậy đanh phải liều mạng chống cự, hai tay vơ loạn dưới đất, định tìm thứ vũ khí, vừa vặn mặt đất có lưỡi lê dùng nướng thịt dơi, Tuyền béo thuận tay cầm lên, đâm thẳng lưỡi lê vào cánh tay con lười, sâu lút tới cán.


      Lưỡi lê để lửa lúc lâu, tựa như thanh sắt nóng bỏng, đâm trúng con lười, mũi liền ngửi thấy mùi hôi khét lẹt. Con lười đất thảo nguyên này hoành hành vô địch dưới căn cứ ngầm này lâu, nào chịu thiệt thòi như vậy bao giờ, vừa đau vừa giận, nhưng lại dám cắn Tuyền béo nữa, đành chầm chậm lùi lại mấy bước, chờ thời cơ tấn công.


      Lưỡi lê nóng bỏng đâm được con lười phát, nhiệt đô tức khắc giảm xuống, máu tươi của nó khiến thân dao bốc khói trắng "xì xì". Tuyền béo vừa rồi đòn thuận lợi, toàn dựa vào nhiệt độ của lưỡi lê, bằng căn bản chẳng thể đâm nó bị thương được.


      Tôi nhân khoảnh khắc ngắn ngủi Tuyền béo đẩy lui được con lười, liền cùng với Tử, mỗi người cõng bộ áo bọc hai đứa trẻ lên lưng, chỉ mong hai đứa tiểu này tiếp tục quấy phá nữa.


      lưng cõng xác đứa trẻ bị tuẫn táng, tôi lại khom lưng nhặt khẩu súng tiểu liên, biết rằng sức sát thương của loại súng tiểu liên kiểu này còn lâu mới đủ để bắn chết con lười, nhưng trong những khoảnh khắc quyết định, cũng chỉ có thể dựa vào nó mà cầm cự thêm chút nào hay chút đó.


      Tôi chưa kịp kéo chốt súng, vách tường sau lưng đột nhiên thò ra bộ móng vuốt, vỗ thẳng xuống đỉnh đầu tôi, cú vỗ đó quá nhanh, lại mang theo sức mạnh kinh người, tôi kịp cúi đầu, đành giơ khẩu súng trong tay lên đỡ, bị móng vuốt quét phải, tay tôi nắm chắc, súng tiểu liên văng ra xa, rơi hút vào trong chỗ tối ánh lửa soi tới được.


      ra, ai để ý, tường lại có tới bốn con lười đất thảo nguyên trèo xuống, hai to, hai , con nhất cũng phải cao bằng người lớn, rất ràng, bọn chúng cũng giống như con đầu tiên, đều bị mùi thịt dơi nướng thu hút, chạy đến tìm ăn.


      Năm con lười đất thảo nguyên vây tròn ba người chúng tôi vào giữa, chỉ cần con cầm đầu lao tới, những con còn lại ập lên theo sau, xé xác chúng tôi thành trăm mảnh.


      Chỗ dựa duy nhất của chúng tôi lúc này chính là đống lửa, ba người dựa lưng vào nhau, Tuyền béo cầm lưỡi lê, Tử cầm súng tiểu liên, chỉ có tôi là chơi tay .


      Đống lửa đốt bằng ván gỗ kia xem ra mỗi lúc yếu dần, chẳng mấy chốc rồi tắt, đến lúc ấy, chúng tôi chắc trở thành miếng mồi ngon đặt sẵn đĩa của lũ lười đất thảo nguyên rồi, nghĩ đến đây tôi khỏi thầm than vãn: " con thôi mà con mẹ nó chẳng dễ đối phó rồi, giờ vui chưa, lũ lười trong căn cứ ngầm này kéo cả họ hàng hang hốc ra rồi, người trong tuyệt cảnh, phải làm sao mới mở ra con đường máu đây?" Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Cứ để thế này cũng phải cách, tôi nhặt thanh gỗ cháy trong đống lửa, hươu về phía con lười nhất đứng cản đường, nó quả nhiên sợ hãi, bị ngọn lửa dọa cho nép sang bên, vòng vây liền xuất chỗ hổng.


      Ngọn lửa thanh gỗ vốn lớn, vừa hươu cái suýt nữa tắt ngóm, chúng tôi dám chần chừ, nhất loạt xông thẳng ra, mấy con lười nước dãi ròng ròng hơi tần ngần chút, rồi cũng nhất tề bổ tới.


      Khẩu tiểu liên trong tay Tử liên tiếp bắn ra từng loạt đạn, con lười dẫn đầu trúng đạn, máy tươi tóe ra người, nhưng khắp mình chúng toàn là da dày chai cứng, tuy đạn găm được vào người, nhưng xuyên qua được lớp giáp xương bên trong, trái lại càng khiến chúng tức giận hơn, từng bước đuổi sát, nhất định phải nuốt ba chúng tôi vào bụng mới xong.


      Trong ba bọn tôi chỉ mỗi Tử có súng, mỗi khi nàng thay đạn, tôi và Tuyền béo lại hươu thanh gỗ bốc cháy chặn lấy lũ lười, cho chúng có cơ hội lại gần. Vừa đánh vừa rút, do lúc đột phá vòng vây thể chọn phương hướng, chúng tôi cách chỗ để vũ khí càng lúc càng xa, ngược lại thành ra rút về phía cửa sắt kho Gena lúc đầu.


      Bên ngoài cửa sắt là con xích hống, chúng tôi vốn định sau khi ăn uống no nê, bàn mưu tính kế kỹ càng, tìm cách thoát ra theo lối cửa sắt này, nhưng lũ lười đất thảo nguyên đột nhiên tấn công, khiến chúng tôi trở tay kịp, chạy về đây trong lúc gấp gáp, ngọn lửa thanh gỗ ngày yếu dần, cuối cùng chỉ còn lại thanh gỗ bị lửa đốt đen thui đầu, bên lấm tấm vài đốm lửa , đạn cũng còn nhiều nữa.


      Lười đất thảo nguyên thể hình to lớn, mấy con chụm lại với nhau, trông như bức tường thành khó thể vượt qua, bị móng vuốt của chúng vỗ phải, nhất cũng đứt gân gãy xương. Vòng vây của lũ lười dần dần hẹp lại, chúng tôi bị ép đến trước cửa sắt, còn chỗ nào lùi thêm được nữa.


      Chuyện đến nước này đành phải liều xông ra thôi, tôi và Tuyền béo ném thanh gỗ còn lấm tấm mạt lửa vào lũ lười, Tử quét súng tiểu liên lia loạt đạn, dùng nốt chút khả năng chiến đấu cuối cùng ép mấy con lười đất lùi lại mấy bước, Tuyền béo quay người mở cánh cửa sắt khóa chặt sau lưng, tôi lấy móng lừa đen ném văng ra ngoài.


      ngờ con xích hống kia còn ở đó nữa, chúng tôi chẳng có thời gian nghĩ ngợi gì nhiều, vội nhanh chóng rút ra đường hầm bên kia cửa sắt, Tuyền béo định đóng cửa sắt lại, bỗng luồng sức mạnh kinh hồn ập húc thẳng vào cánh cửa, sức khỏe của lũ lười này đáng sợ, ba bọn tôi dốc hết sức đẩy cửa, nhưng gắng thế nào cũng làm nổi.


      Bỗng luồng gió lạnh thốc tới, tôi vội né người, ra con xích hống vẫn loanh quanh gần đó, chỉ số thông minh của xích hống cao lắm, ngửi thấy mùi vật sống là bổ tới vồ cắn luôn.


      Con xích hống tới là tới luôn, hơn nữa còn lặng lẽ im lìm như tia chớp, nếu phải tôi từng trải cả trăm trận chiến, có rất nhiều kinh nghiệm đối phó quân địch tấn công bất ngờ, chắc bị nó vồ phải rồi. Tôi lăn người xuống đất, định đứng dậy nhảy tránh , cửa sắt bị húc mở toang ra, con lười to nhất dẫn đầu nhảy bổ tới.


      Con lười đất thảo nguyên dùng chi sau to chắc, tựa như con ếch lớn, từ trong cửa nhảy xổ ra, vừa vặn húc bổ nhào con xích hống, xích hống ngã lộn ra đất, thân thể nó thể uốn cong, lập tức bật ngay lại, mười cái móng như mười con dao thép đâm vào ngực con lười.


      Con lười đất gầm lên tiếng, há miệng cắn bừa, sau đó mấy con khác cũng trong kho Gena tràn ra, chúng thấy đồng bọn bị thương, liền nhao nhao tới cắn xé con xích hống.


      Con lười nhất bị xích hống giật đứt đầu, mình xích hống cũng bị hai con lười cắn chặt, đôi bên sức mạnh ngang nhau, nhất thời quấn chặt lấy nhau quần thảo, trong phút chốc, tường, dưới đất, cửa sắt, đâu cũng vung vãi những vệt máu lớn của lũ lười, thịt bắn tung tóe, đồng thời, con xích hống cũng bị cắn đứt cánh tay.


      Chúng tôi nhìn cảnh tượng kinh hoàng trước mắt, đều thầm sợ hãi, nếu con xích hống và lũ lười hợp sức tấn công, vậy ba chúng tôi chắc khó mà thoát cảnh chết đất chôn thây. Cả bọn chạy bừa chạy bãi thế nào tự dưng lại dẫn đến tình thế hai hổ đánh nhau, đúng là may mắn hết sức.


      thể để lỡ thời cơ, chúng tôi cõng xác hai đứa trẻ, chạy ra chỗ cái lỗ tường ngôi mộ cổ, chỉ hận sao cha mẹ sinh ra thêm đôi chân nữa, hớt hải như chó nhà có đám, hoảng hốt như cá mắc lưới, tình cảnh nhếch nhác thảm hại thế nào, cần phải kỹ cũng biết.


      Lỗ hổng sập ra tường, vẫn còn nguyên như lúc chúng tôi nhảy ra, lúc đầu tẩu thoát từ đây, giờ lại chạy trở về chỗ này, đúng vòng lớn, mà nào kiếm được thứ gì đáng giá, dưng gặp phải biết bao phiền phức, còn thêm cả hai cái xác trẻ con đổ đầy thủy ngân này nữa, khiến người ta dở khóc dở cười. Có điều trong căn cứ ngầm này tuy có thứ gì giá trị, nhưng lại có ít vũ khí và trang phục, có thể còn tìm được mấy chiếc máy phát điện ở đâu đó, kể chuyện này với mọi người trong làng, cũng đỡ uổng công chúng tôi vào sinh ra tử vật lộn với lũ quái lâu như thế.


      Giờ chỉ cần trèo ra cái lỗ chúng tôi đào bên ngoài là thoát, lúc này tinh thần và thể lực của tất cả đều đến cực hạn rồi, nhưng người đến nước liều, chó cùng rứt giậu, đối mặt với tuyệt cảnh, tiềm năng được đánh thức. Tử lấy súng tiểu liên lia nguyên hai băng đạn vào tấm ván quan tài chặn cửa, mạt gỗ tung lên lả tả, nắp quan tài vốn gắn chặt vào tường, đạn bắn nát cả phần giữa, Tuyền béo nhảy lên, đánh vai cái làm nắp quan tài gãy đôi. Tôi đẩy Tử leo lên trước, sau đó hợp sức với Tuyền béo đưa xác hai đứa trẻ lên, Tử ở bên đón lấy, rồi đưa tay kéo tôi ra khỏi mộ.


      Cuối cùng chỉ còn lại Tuyền béo, bởi chúng tôi cần phải kéo, cậu ta mới leo lên được. Cậu ta định trèo lên. hai con lười đất thảo nguyên máu me khắp mình xông vào hầm mộ, chúng trở nên cuồng dại vô cùng, gầm lên như sấm, có lẽ những thành viên còn lại trong gia đình chúng đều bị con xích hống giết chết, con xích hống đó tuy lợi hại, nhưng cầm chắc là thể chống lại đám lười cùng vây đánh, bị cắn nát thành thịt vụn.


      Hai con lười đất thảo nguyên thương tích đầy mình, đuổi mãi tha, lao theo chúng tôi vào hầm mộ, Tuyền béo quay lại nhìn, vội vàng leo lên, nhưng càng cuống lại càng leo lên được. Lũ lười tới trước cái lỗ, cũng may cái lỗ này quá đối với chúng, thể chui ra được, con lười ngừng lấy móng vuốt cào đất, muốn mở rộng cái lỗ, để chui ra ngoài. Tôi thấy tình thế khẩn cấp, vội cầm súng tiểu liên của Tử ném cho Tuyền béo, Tuyền béo hiểu ý, bắn vài phát đẩy lui hai con lười chụm lại ở cửa hang, rồi lập tức ngắm vào đỉnh lưu ly lửa rồng giữ báu nổ súng, ngói lưu ly vỡ ra, từng túi dầu lửa hỏa long Tây Vực vãi xuống, cả hầm mộ và cả hai con lười đất thảo nguyên đều bị ngọn lửa bốc lên nuốt trọn.


      Cùng lúc ấy, tôi và Tử dốc hết chút sức lực cuối cùng kéo giật Tuyền béo ra khỏi đó, dù kịp thời kéo ra, quần của cậu ta vẫn bị ngọn lửa liếm mất mảng lớn, Tuyền béo ngừng vỗ mông để dập lửa, đau đớn kêu ầm ĩ như lợn bị chọc tiết, Tử vội cầm bình nước hắt vào đám lửa mông cậu ta, cái quần cháy sạch, lộ cả mông trắng hếu.


      Những con chó săn trung thành ngồi chồm hỗm bên cạnh, nhìn ba vị chủ nhân trong hầm mộ chui ra, trời giữa trưa, ánh mặt trời chói lóa, tôi dụi dụi hai mắt, so với căn cứ ngầm tối tăm kia, đúng là như hai thế giới hoàn toàn cách biệt.


      Tuyền béo tay ôm mông, tay giơ hai miếng ngọc bích lấy từ trong mộ lên xem, nhịn được thi hứng tuôn trào, lại ngâm nga mấy câu nổi tiếng trong Trường thi Thế giới đại chiến:


      "Lửa chiến tranh tắt, khói tan biến đâu!


      Ơi vầng dương! Chưa từng như hôm nay, ấm áp bầu,


      Ơi vòm trời! Chưa từng như hôm nay, bát ngát xanh trầu!


      Ơi nụ cười nở môi những đứa em thơ, chưa từng như hôm nay, lúng liếng ngọt ngào!"


      Tôi và Tử đều nhịn được phá lên cười ha hả, bạn bao giờ thấy nhà thơ vừa ôm đít vừa ngâm thơ chưa? Có điều lại xảy ra chuyện bất ngờ nữa, khiến nụ cười của chúng tôi lập tức đông cứng lại..

    4. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 18: Nga thân li văn song ly bích





      Trong khu rừng cuối hẻm núi, bỗng vang lên tiếng sấm ì ùng, "uỳnh uỳnh uỳnh", buổi giữa trưa ban ngày ban mặt, bầu trong vắt, gợn mây đen, sao tự dưng lại có sấm? Lòng chúng tôi như trầm xuống, khó khăn lắm mới thoát khỏi ngôi mộ cổ đó, giờ lại gặp thứ gì tác quái nữa đây?


      Chú ý lắng nghe lần nữa, dường như giống tiếng sấm lắm, thanh mỗi lúc gần, tựa hồ tiếng loài dã thú nào đó rất lớn, lao về phía hẻm núi, bước chân nặng trịch, lúc chạy thân hình nó lại ngừng húc đổ cây rừng, thoạt nghe có vẻ giống như tiếng sấm dội vang dứt, trong đó còn vẳng lên cả mấy tiếng chó sủa nữa.


      Tôi nghe tiếng chó sủa, mới phát ra chỉ có năm con chó săn nằm dưới đất, ba con ngao đâu biết. Vừa nãy sức cùng lực kiệt, cũng chẳng để ý nhìn mấy con chó, có thể chúng tôi lâu quay lại, bọn chúng tự động thay nhau kiếm mồi. biết lũ chó ngao đuổi con gì mà inh ỏi như vậy?


      Tử nghe lúc, rồi cười bảo có gì đâu, lũ ngao đuổi lợn rừng thôi, chúng ta cứ lên dốc xem cho vui, lát nữa là có thịt lợn rừng ăn rồi.


      Chúng tôi leo lên được nửa cái dốc, trông thấy cây lớn trong rừng bị húc đổ liên tiếp, lũ chó săn cũng ngồi im được nữa, lẳng lặng tản ra thành hình quạt, chặn con lợn rừng lại trong khe núi.


      Chỉ thấy cây thông đỏ ở đầu khe núi gãy rắc làm đôi, phía sau lao vù ra con lợn rừng to tướng, nếu phải con lợn rừng này có cái vòi dài, tôi suýt nữa tưởng nó là con voi mới lớn. Con lợn phải hơn năm trăm cân, bờm vừa đen vừa dài, răng nang hai bên mép cong vút lên , trông như hai con dao găm, đôi răng nanh này là tượng trưng cho giống đực kiêu ngạo, đồng thời cũng chứng tỏ nó là con lợn chúa trong khu rừng này, mình con lợn béo tròn quay, bốn chân vừa ngắn vừa to, bốn vó tung lên, lao vào khe núi như cơn lốc.


      Đằng sau con lợn rừng, ba con chó ngao lớn nhịp nhàng đuổi sát, bổ tới cũng lao vào cắn xé, cách quá xa cũng đuổi quá gần, trước ba sau, đều chạy cả vào Dã Nhân câu.


      Da lợn rừng so với da tê giác, cũng vào loại chín mười, nó ở trong rừng có việc gì làm lại cọ thân thể béo ịch vào thân cây thông, là để gãi ngứa, hai là để dính ít dầu thông lên người, sợ muỗi hay côn trùng gì đốt. Mùa hè, muỗi trong rừng to bằng con chim sâu, người vùng núi có câu "ba con muỗi, đĩa thức ăn", lời ấy chẳng ngoa chút nào, ngay cả trâu bò cũng chịu được muỗi rừng châm đốt, duy nhất chỉ có lợn rừng sợ muỗi, da nó như lớp giáp sắt, muỗi gì cũng cắn được. Cặp răng nanh và thể trọng nặng nề, chính là bảo bối khiến lợn rừng có thể hoành hành nơi đây, công thủ kiêm toàn tuyệt đối, hổ, gấu người, báo kim tiền cũng thể làm gì nổi nó.


      Nhưng chó ngao được thợ săn nuôi dạy, lại có tuyệt chiêu riêng để đối phó lợn rừng. Thể hình của chó ngao cũng ngang ngửa với con nghé, có điều so với con lợn rừng này, vẫn hơn nhiều. Ba con ngao định dồn con lợn vào sâu trong hẻm núi rồi mới xử lý, vì trong rừng cây cối um tùm, khó triển khai tấn công, hơn nữa con lợn rừng còn lao hùng hục cứ như cỗ xe tăng vậy.


      Trong Dã nhân câu có lớp lá rụng cực dày, con lợn chạy chưa được nửa, vì cơ thể quá nặng, bốn chân tụt sâu vào trong lớp lá đó, ba con ngao vây quanh nó, đây cắn phát kia cắn phát, làm tiêu hao thể lực và ý chí của con lợn, năm con chó săn còn lại cũng chạy tới bao vây phía ngoài, chúng dám xông vào tranh công với lũ chó ngao, chỉ đứng bên làm lâu la sủa ầm ĩ trợ uy mà thôi.


      Con lợn rừng to vừa tức vừa cuống, vụng về giãy giụa trong đống lá cây, dốc toàn bộ sức lực nhảy lên, ngờ nhấc được bốn chân lên, nhảy vụt lên cao. Đây chính là cơ hội lũ chó ngao chờ đợi từ lâu, khi lợn rừng nhảy lên tới điểm cao nhất, con ngao to nhất cũng nhảy vụt lên, như viên đạn pháo húc thẳng vào con lợn, dùng sức và góc độ đều hết sức chuẩn xác, khiến lợn rừng bị lật nghiêng, phơi bụng lên , rơi bịch xuống lớp cành khô lá nát vừa sâu vừa mềm.


      Hai con ngao còn lại đợi sẵn thời cơ, cho con lợn cơ hội lật người, nhảy bổ vào hung hăng cắn xé bụng nó, bụng và phần dưới mông là điểm yếu duy nhất của lợn rừng, lộ ra cho kẻ địch thấy cái là toi đời, huống hồ kẻ địch của nó lại là lũ chó ngao hung dữ nhanh nhẹn như sư tử, chưa đến ba bốn giây, tim gan phèo phổi của lợn rừng bị moi ra hết.


      Ba chúng tôi thấy lợn rừng đời, liền chậm rãi xuống, Tuyền béo và tôi thấy ba con ngao phối hợp ăn ý như vậy, lại còn biết vận dụng địa hình, nén được ý nghĩ muốn ra xoa đầu chúng, tỏ ý khen ngợi, tươi cười hỉ hả bước tới gọi chúng lại.


      Nào ngờ cả chó ngao lẫn chó săn đều vòng qua hai bọn tôi, quây cả quanh mình Tử. Tử lấy thịt khô ra cho chúng ăn, lũ chó thấy chủ nhân vui vẻ, cũng vẫy tít đuôi lấy lòng.


      Tôi và Tuyền béo bị bỏ mặc bên chỉ biết đưa mắt nhìn nhau, lắc đầu : "Con mẹ nó, mình hồ hởi đón nó, nó lại dán ngay cái đít thối vào mặt mình."


      Tuyền béo hậm hực bảo: "Nhất này cậu có nhớ Lỗ Tấn nhỉ? Ông ấy bảo: nhổ vào mặt chúng mày, lũ chó cậy quyền thế. Loài chó mới có kiểu ấy, mắt chó nhìn người thấp, mặt chó nhận người, mẹ kiếp, em mình chấp với chó làm gì."


      Tuyền béo về lều lấy dao, cuốc chim và súng săn rồi quay lại, cậu ta giúp Tử xẻ thịt lợn, tôi khoác súng săn dắt hai con chó to, ra chỗ chân núi tìm chỗ chôn xác hai đứa trẻ, để chúng khỏi kiếm chúng tôi gây phiền phức nữa.


      Tử hỏi: " Nhất đói ? Hay ăn vài miếng rồi hẵng !"


      Tôi đáp: "Thôi khỏi, cơm ngon đến tối vẫn ngon, lát ăn sau, thể để tối mới chôn người chết được, thế ghê lắm!"


      Tôi để hai con chó to kéo hai cái xác trẻ con bọc trong áo khoác quân đội bằng nỉ màu vàng, đào cái hố ở chỗ đầu khe núi mặt hướng ra thảo nguyên. Xẻng công binh của tôi đánh rơi trong mộ, dùng cuốc chim đào đất rất tốn sức, mặt trời ngả bóng về tây mới đào được cái hố sâu hơn mét, tôi mệt lử người, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, bụng kêu lục bục liên hồi.


      Tôi nhìn cái hố sâu hơn mét, nghĩ bụng chắc thế là được rồi, trẻ con mà, đào sâu chôn chặt cũng chẳng để làm gì, cơ thể chúng toàn là thủy ngân,cũng chẳng phải lo có mối mọt chuột bọ gặm gì cả.


      Vậy là tôi bế hai đứa trẻ ra khỏi áo, rồi lấy hai chiếc khác bọc lại cẩn thận, xếp cho nằm song song dưới hố, chắp tay vái hai vái: "Hai bạn cổ đại, rất tiếc cho hai bạn được sống trong xã hội mới tràn ngập ánh sáng chói lọi của văn minh dân chủ, cũng nhận được quan tâm của xã hội, nhưng ấy là do số phận an bài, hai bạn cũng nên quá cố chấp. Số có có, số nên quên, ngàn vạn lần nên tính toán, đều ở trong số định rồi. Người chết rồi, nhập thổ là yên, nhập thổ mà yên, là cương thi. Điều kiện của tôi có hạn, có quan tài an táng, cũng có hương đèn cúng tế hai bạn, tôi trở về nhất định đốt thêm cho hai bạn ít tiền giấy, cầu mong hai bạn sớm về cõi Tây thiên cực lạc, chớ nên quay lại quấy rầy chúng tôi, chúng tôi cũng rất bận, những gì có thể làm được cho hai bạn cũng chỉ có từng đây, người nào tham lam vô độ phải là trẻ ngoan."


      Khấn xong, tôi cùng hai con chó lấp đất vào hố, vài nắm bùn đất chôn cất xong hai đứa trẻ xấu số, quay đầu nhìn về phương xa, chỉ thấy tàn dương tựa máu, trong lòng cảm khái muôn trùng.


      Thời gian còn sớm, Tử đứng xa xa vẫy tay gọi tôi về, tôi liền dẫn chó về nơi chúng tôi cắm trại, Tuyền béo khuân đến tảng đá lớn, bịt chặt cái lỗ thông gió mà lũ dơi mặt lợn bay ra tấn công ngựa, thịt lợn rừng nướng, còn có cả canh lòng lợn mộc nhĩ nấm hương, mùi dầu thông với mùi thịt quyện vào ập tới mặt, tôi nhịn nổi liền nhảy tới, lấy dao cắt miếng thịt cho vào miệng. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ăn xong, chúng tôi uống trà Tử nấu, bàn bạc xem làm sao quay về, mất ngựa thồ hành lý, muốn quay trở lại trại Cương Cương chẳng dễ dàng, nồi niêu bát đĩa với cả lều trại thể vác về, da động vật chúng tôi săn được dọc đường chẳng thể mang theo, tổn thất thực là quá lớn. Cuối cùng Tử nghĩ ra cách, để cho hai con chó về trước đưa thư, gọi người trong làng tổ chức đội người ngựa tới khai quật căn cứ ngầm của quân Quan Đông luôn, bao nhiêu thứ như vậy mang về chẳng nhẽ vất hết, hơn nữa chó cũng là hướng đạo tốt nhất, có thể dẫn đường cho người trong làng, giờ cứ tìm lấy nơi an toàn gần đây ở lại trước , đợi mọi người đến, rồi cùng chuyển đồ về.


      Việc đến nước này, cũng chỉ còn cách như vậy, Tuyền béo chẳng quan tâm chuyện này lắm, cậu ta lại lấy hai miếng ngọc bích ra ngắm, tôi liền mắng: "Tiên sư nhà cậu được nước mẹ gì cả, chịu nghèo chịu khổ bấy lâu rồi mà giờ đợi thêm được đến sáng mai à. Đừng có nhìn hai miếng ngọc này nữa, ngày xem cả trăm lần, cậu sợ nhìn mãi mòn à, từ nay để ở chỗ tôi ."


      Tuyền béo giơ miếng ngọc trước mắt tôi, vẻ mặt vừa kinh ngạc vừa nghi hoặc: "Nhất này, cậu bảo đây có phải miếng ngọc mình lấy trong mộ ra ? Nhìn này, hình như có chỗ nào đó ổn phải?"


      Từ lúc lấy hai miếng ngọc trong mộ ra, tôi chưa lúc nào kịp xem cho kỹ cả. Tuyền béo kinh ngạc đưa miếng ngọc cho tôi: "Màu sắc sao lại thay đổi nữa thế này?" Tôi vươn tay đón lấy hai miếng ngọc xem kỹ.


      Hai miếng ngọc đều được chạm khắc thành hình con ngài, đủ mọi bộ phận, sống động tự nhiên, thân còn có hoa văn trang trí, khắc loài động vật cổ quái, loài vật này chắc tồn tại trong thực tế, mập mập, thân thể hao hao giống con sư tử rất gầy, lại giống giao long vẩy, còn có móng vuốt và cái đuôi cuộn cong lên, tóm lại là quái dị, có lẽ phải là động vật, mà là hoa văn mây trời hay sóng nước gì đó.


      Thủ công của hoa văn thân miếng ngọc tinh tế tỉ mỉ như thủ công tạo hình, chỉ là vài nét điểm xuyết, có điều tuy thô sơ song lại lột tả được cái thần khí tàng trong giản đơn cổ phác. Đôi khi đơn giản cũng là nét đẹp.


      Nhưng con mẹ nhà nó cũng quái , nhớ lúc lấy trong quan tài ra, đôi ngọc bích này màu xanh thắm, vậy mà lúc ở trong căn cứ dưới đất, nó thành màu vàng nhạt. Còn giờ đây lại là sắc vàng sẫm, trong ngày chuyển màu tới mấy lần, chuyện này là sao chúng tôi chẳng nữa, lẽ nào đời này có loại ngọc đổi màu ư? Chúng tôi chẳng hiểu gì về đồ cổ, xem ra chỉ có cách trở về Bắc Kinh tìm Răng Vàng nhờ mở mắt cho vậy.


      Kể ra hành động đổ đấu lần này, đúng là thuận lợi cho lắm, chưa chuyện đường xa vất vả, đầu tiên là ngôi mộ cổ ở vị trí đẹp nhất trong Dã Nhân câu là mộ tướng quân, ai mà ngờ được đồ bồi táng lại ít đến khốn khổ, thứ duy nhất may ra đáng tiền, chính là đôi ngọc bích này, để đem được nó ra suýt nữa ba người phải đổi mạng, thực là lên núi vượt biển khó so sánh bao điều gian khó, kề vực giẫm băng chẳng hình dung được nỗi hiểm nguy. Nếu kết quả giám định cho thấy chúng chẳng đáng mấy đồng, chắc tôi phải tìm lấy chỗ mà đâm đầu chết mất.


      Việc này dạy cho tôi bài học, mộ cổ của quý tộc chưa chắc có nhiều đồ bồi táng quý giá, phải tìm hiểu nhiều hơn về bối cảnh văn hóa lẫn bối cảnh lịch sử của mộ, hơn nữa còn phải tận dụng hết khả năng nắm bắt kiến thức giám định đồ cổ, như vậy mới có phương hướng ràng, bị uổng công.


      Tuyền béo lại tỏ ra rất có lòng tin, cậu ta cá với tôi đôi ngọc này chí ít cũng đáng giá hai ba vạn tệ, chừng còn là quốc bảo, thế bán cho bọn Đài Loan, Hồng Kông nữa, trực tiếp hiến tặng Bảo tàng Cố cung, nhà nước hứng lên có khi thưởng cho tám vạn chục vạn chứ chẳng chơi, rồi phân cho hai căn nhà ở Bắc Kinh, lại cho đeo dải hoa đỏ khắp cả nước phát biểu báo cáo, đến lúc đó muốn bốc phét thế nào bốc phét, xong xuôi các em sinh viên nữ dưới khán đài cảm động đến đầm đìa nước mắt kia, chạy tới rối rít tặng hoa, đưa thư tình...


      Tôi bảo cậu ta đừng có mơ hão, còn đòi báo cáo thành tích? bắt hai thằng chui vào lò gạch ngồi xổm là may lắm rồi đấy. Nhưng nếu đúng như Tuyền béo , có thể kiếm được dăm ba vạn gì đó, cũng bất ngờ lắm rồi, hai chúng tôi chạy đôn chạy đáo bán băng cát xét, năm giời, nhiều nhất cũng chỉ được ba bốn nghìn tệ, gặp phải năm xui tháng ế, trừ sinh hoạt phí ra, về cơ bản là chẳng kiếm được đồng nào.


      Hai ngày nay tôi được chợp mắt, ăn no uống đẫy rồi trò chuyện với Tử, Tuyền béo vài câu, là đặt lưng xuống ngủ luôn, dù gì cũng có lũ chó săn trông chừng, chẳng lo thú hoang tấn công. Giấc này tôi ngủ đến trời mờ đất ám, trong mơ tôi trở về với chiến trường xưa mịt mùng khói đạn, bầu trời trận địa toàn là những khuôn mặt của đồng đội tôi, khuôn mặt nào cũng đều rất trẻ, họ chỉ có khuôn mặt mà chẳng có thân thể, những khuôn mặt đều ngừng máu, chầm chậm bay lên trời cao, tôi ở dưới đất gào khóc muốn nắm lấy họ, nhưng chân tay chẳng chịu nghe lời, cứ cứng đơ bất động.


      Đêm hôm ấy chẳng có chuyện gì xảy ra, lũ dơi dưới đất biết bỏ đâu, xung quanh hoàn toàn còn dấu vết gì của chúng, có lẽ chúng bị tiếng súng làm cho sợ hãi, tìm hang động mới an cư rồi.


      Tôi ngủ mạch đến trưa mới dậy, Tử sai ba con chó săn quay về đưa thư, cổ mỗi con đều đeo túi da , bên trong để mảnh giấy Tuyền béo viết, ghi dặn dò người làng mang theo nhiều người ngựa công cụ, tốt nhất là cả thuốc nổ, đến Dã Nhân câu đào các thứ quân Quan Đông bỏ lại.


      Trưa ăn ít thịt lợn rừng, dẫn chó săn rời lều trại ra gần lối vào khe núi, chọn tảng đá lớn khuất gió, dựng lều trại bên dưới, chỗ này nằm ở vùng ranh giới giữa rừng rậm và thảo nguyên, người làng đến dễ dàng tìm thấy chúng tôi.


      Sau đó Tử dắt chó vào rừng tìm rau dại, tôi đào đất chôn chân bếp xuống, rồi đặt nồi đun nước, chúng tôi có mang theo bột mì, Tuyền béo ra tay, gói bữa bánh chẻo nhân thịt lợn, chúc mừng thắng lợi bước đầu. Tuy lần này có kinh hãi nhưng cũng đến nỗi nguy hiểm, mà thế nào , ba bọn tôi cũng đâu bị sao, còn ít nhiều cũng thu hoạch được đôi chút, đặc biệt trong căn cứ ngầm của quân Quan Đông có rất nhiều vật tư vật liệu, rất có ích cho cuộc sống của dân làng, vì điều này cũng đáng nâng dăm cốc rồi.


      Cứ như vậy, hàng ngày dắt chó săn, liên tục hơn chục ngày, tôi cảm giác mình sắp biến thành thợ săn thực rồi, cuối cùng người trong làng cũng đến, tổng cộng hơn bốn mươi người, do bí thư chi bộ và Kế Toán dẫn đầu. Đàn ông trong làng đều tới núi Tim Trâu làm thuê cả, lần này tới đây gần như toàn đàn bà con và trẻ con nhơ nhỡ tuổi, ngựa trong làng nhiều, tổng cộng quá mười con, bọn họ thấy bảo có nhiều đồ bỏ sót, sợ ngựa đủ, nên dắt cả la cả lừa tới, cộng thêm chó săn từng nhà dẫn , ồn ào náo nhiệt tiến vào Hắc Phong khẩu.


      Mọi người muốn bắt tay vào việc ngay, tôi bảo rằng mọi người phải trèo đèo lội suối, vất vat nhiều rồi, chi bằng nghỉ ngơi hôm, đợi sáng mai sức lực dồi dào hẵng làm. Với lại cũng thể làm bừa được, tôi từng làm lính công trình, đành tự đề cử mình làm trưởng đoàn, phân công nhiệm vụ cho mọi người, phải áp dụng vận trù học, đặt ra kế hoạch rồi từng bước thực , thể làm ăn quấy nhằng như bọn ô hợp được


      Cả đám người nháo nhương, vừa hứng khởi lại vừa thấy thích thú, kề vai áp má trò chuyện rì rầm, át hết cả tiếng tôi , chẳng ai nghe , cuối cùng đành phải nhờ đến bí thư chi ủy lên quát lớn: "Yên lặng! Yên lặng cả nào! Tất cả mọi người nghe cháu tôi , lời của nó là lời của tôi, cũng là lời của tổ chức. Bận này làng ta tới đây lượm đồ của bọn Nhật bỏ lại, là nhờ có hai thằng cháu này và con bé Tử, chúng bảo làm sao, ta nghe theo làm vậy!


      Tôi nhắc lại lần nữa, bảo mọi người dựng trại bắc nồi, nghỉ ngơi ăn uống, sau đó bàn bạc với bí thư chi ủy và Kế Toán, có thuốc nổ, muốn đào xuống căn cứ ngầm cũng quá khó, có thể bắt tay ở chỗ mộ tướng quân, nơi đó rất gần lối trong căn cứ, chỉ cần năm người, đến nửa ngày, là có thể đào thông ngôi mộ bị sụp. Nhưng trong căn cứ có thể có dã thú, điểm này mọi người cần phải chuẩn bị tinh thần, động vật sống dưới lòng đất đều sợ lửa, cần có nhiều đuốc. Phải đặc biệt nhấn mạnh điều, sau khi xuống đó, ai được phép tự ý hành động, vũ khí bên trong được lấy, chỉ lấy những vật tư cần thiết cho sinh hoạt như áo khoác, giày mũi lớn của Nhật, thảm, máy phát điện, dây điện dây cáp, có bao nhiêu chuyển về bấy nhiêu, chuyển xong lấp lại, được để lộ tin tức ra ngoài.


      Bí thư chi ủy vỗ ngực đảm bảo: "Thằng cháu cứ yên tâm, chỉ cần mấy người họ đều có đồ, bảo đảm giữ mồm giữ miệng kín bưng. Huống hồ làng ta hẻo lánh, cả năm giời cũng có người lạ nào tới đâu, bận này ta phát tài ngầm rồi."


      Đêm hôm ấy bắc nồi nấu cơm, dựng trại ngơi nghỉ, sớm hôm sau dậy, tôi phân hơn bốn chục người bao gồm các các chị và các chú nhóc choai choai thành bốn tốp, tốp thứ nhất là mấy em tuổi nhất, Tử dẫn đầu tốp này, vào rừng săn bắn; tốp thứ hai ngược lại, toàn là những những chị lớn tuổi, Kế Toán quản lý tốp này ở lại trại nấu cơm cho mọi người; tôi và Tuyền béo mỗi người dẫn theo tốp những chị em trẻ khỏe lần lượt xuống khai quật ngôi mộ tướng quân bị thiêu sụt, bí thư chi ủy làm tổng chỉ huy toàn cục.


      Người trong làng đem theo rất nhiều dụng cụ, nào cuốc, nào xẻng, thậm chí có người còn mang theo cả lưỡi cày chẳng biết dùng để làm gì, tôi lại chia tốp mười người của tôi thành hai nhóm, nhóm đào bới, nhóm kia vận chuyển đất đá nơi khác, công việc sắp xếp đâu ra đấy.


      Bận bịu cả buổi, đến gần tối mới xong.


      Ngày hôm sau, trời vừa bừng sáng, chúng tôi đốt đuốc dầu thông, hơn hai mươi người dắt mấy con la men theo đường mở ra tường ngôi mộ cổ tiến vào khu căn cứ ngầm, chỗ cửa sắt kho Gena, vết tích của cuộc ẩu đả lên rệt, con xích hống bị xé tan tành, ngoài ra còn có xác mấy con lười đất thảo nguyên, vết máu khô thành màu đỏ sạm, nhìn lại vẫn khỏi nổi gai ốc.


      Nơi đây chắc còn nguy hiểm gì nữa, hơn nữa chúng tôi mang theo nhiều đuốc thế này, đuốc dầu thông cháy rất lâu, lại dễ bị gió thổi tắt, cho dù trong căn cứ này còn động vật hung dữ nào nữa, thấy ánh lửa cũng dám đến xâm phạm.


      Bí thư chi ủy thấy có vật tư của quân Nhật bỏ lại nhiều hơn rất nhiều so với dự đoán lạc quan nhất của mình, vui mừng ra mặt, vội vàng gọi mọi người cùng xúm tới lượm đồ, chất từng bó áo khoác, giày dép, vải chống mưa, pin khô, hộp cơm dã chiến lên lưng la lưng ngựa, lũ lượt chuyển ra ngoài.


      Làng trong núi sâu, thứ thiếu nhất là chế phẩm công nghiệp, lúc này mọi người đua tranh, ai nấy hồ hởi, cùng hô cùng hò, người người đáp tiếng, dường như quay trở về thời Trung Quốc thực Đại Nhảy vọt năm xưa vậy.


      Tôi và Tử lại dẫn theo mấy người dò tìm ở bên kia đường hầm, nhìn lên bản đồ, chỗ đó còn có nhà kho to hơn, theo bản đồ mà tìm, cũng khó kiếm lắm.


      Cửa kho đóng rất chặt, phải tìm mấy con ngựa mới kéo được ra, mọi người vào trong đều lác hết cả mắt, từng hàng từng hàng , toàn là súng pháo, từ pháo bắn núi, pháo dã chiến, súng phóng lựu kiểu 91, pháo 60 ly, pháo truy kích loại lớn loại , lại còn cả đống thùng đạn chất cao như núi, nhìn ngút mắt.


      Xem ra những khẩu pháo này đều được chuẩn bị cho cuộc vận động chiến. Toàn bộ quân đội Nhật, có thể phân thành sáu bộ phận. Quân bản địa, tức là quân đóng ở bốn hòn đảo của Nhật, gồm cả quân đội đóng ở các vùng đất thuộc địa như Đài Loan, Triều Tiên; ngoài ra còn có quân phái sang Trung Quốc, cũng chính là quân xâm lược Trung Quốc đại lục; quân phương Nam, tức là quân đội tác chiến ở các nước Đông Nam Á và Úc; cộng thêm quân, hải quân và quân Quan Đông đóng ở Mãn Châu và Mông Cổ, cả thảy có sáu quân khu lớn.


      Trong đó quân Quan Đông được Thiên Hoàng và đại bản doanh sủng ái nhất, được gọi là tinh trong tinh , người Nhật coi ba tỉnh miền Đông Trung Quốc còn quý hơn đất đai nước mình, vị trí chiến lược, sản vật phong phú, khoáng sản trong rừng nhiều kể xiết, còn có thể huy động từ xuống dưới, bất cứ lúc nào cũng có thể tấn công Trung Quốc đại lục. Rất lâu về trước, ở Nhật có bản tấu Tanaka rất nổi tiếng, trong đó tỏ thèm thuồng đối với vùng Đông Bắc Trung Quốc, đến Thế chiến thứ hai, lại nảy ra ý tưởng Tanaka, tức là thà bỏ lãnh thổ, cũng thể mất Mãn Châu, từ đó có thể thấy người Nhật ham muốn Mãn Châu tới mức nào.


      Vậy nên vật tư trang bị của quân Quan Đông, xếp thứ nhất trong toàn bộ lục quân của quân đội Nhật, chỉ có hạm đội liên hợp hải quân mới so bì được. Nhưng dã tâm của chủ nghĩa quân phiệt sớm trở thành trò cười trước bánh xe của lịch sử. Chúng tôi cũng chẳng cần khách khí với quân Quan Đông làm gì nữa, hồi trước bọn chúng cũng có khách sáo với chúng tôi đâu, mọi người đều xắn cao tay áo, hô hào chất đống khuân về.


      Tôi bảo họ cẩn thận đèn đuốc, nên để gần hòm đạn, chỗ này mà nổ, đừng ai hòng chạy thoát, tất cả đều bị chôn sống dưới này. Phía sau đống súng pháo, có rất nhiều thùng gỗ lớn, bên có in dấu thép màu đỏ, cậy ra xem, toàn bộ đều là máy phát điện cỡ , nhưng chẳng cách nào khuân được lên, thứ này nặng quá, ngựa lừa căn bản thể thồ được, đành phải dỡ ra, từ từ chia đợt vác về.


      Khuân trọn ngày mà mới được phần mấy chục số đồ trong căn cứ, Kế Toán vội vã tính toán, lần này phát lớn rồi, dùng hết còn có thể bán lấy tiền, mấy thứ này cũ chút, nhưng cũ cũng đáng tiền của cũ chứ.


      Lúc ăn cơm tối, bí thư chi ủy tìm tôi, thương lượng lúc, cứ khuân về thế này cũng chẳng hết được, mấy con ngựa cũng thồ nổi nhiều đồ như thế, giờ sắp hết mùa thu rồi, nếu để lại đội trông coi, còn lại chở đồ về làng, đường núi khó , về về cũng phải mất đến nửa tháng, chưa được hai lượt cả ngọn núi đóng băng rồi, chi bằng lấp cửa vào căn cứ trước , mọi người đều về làng, đợi đến xuân năm sau, quay lại khuân tiếp.


      Tôi nghĩ thế cũng phải, rời khỏi Bắc Kinh cũng hơn tháng, cứ ở mãi trong núi cũng ổn, "sản phẩm" của hành động đổ đấu lần này đến lúc nhờ Răng Vàng ra tay, liền tán thành ý kiến của bí thư chi ủy. Tôi và Tuyền béo chắc thể quay lại cùng mọi người, bèn nhờ ông bí thư sang xuân năm sau, tới Hắc Phong khẩu đốt tiền cho hai đứa trẻ kia giùm tôi. Ngoài ra phải nhất thiết nhớ rằng, được đụng tới súng ống trong căn cứ, những thứ ấy bà con thể dùng được.


      Để hôm sau có thể lên đường, đêm hôm ấy dường như chẳng ai chợp mắt, cả đêm bận rộn chất đồ đạc, đến khi xong xuôi, mặt trời cũng mọc, cũng may đêm rồi tuy hơi hỗn loạn, nhưng cũng có vụ việc gì xảy ra.


      Dọc đường chẳng chẳng rằng, về tới Trại Cương Cương, cả làng rộn rã như ăn Tết, ai nấy đều gọi những người đàn ông làm công trong núi Tim Trâu trở về, nhà nhà đều làm món miến thịt lợn hầm.


      Ngày hôm sau, tôi và Tuyền béo muốn ở lại lâu hơn, từ giã mọi người, quay trở lại Bắc Kinh sau bao ngày xa cách.


      Chúng tôi xuống tàu, chân ướt chân ráo chạy thẳng tới Phan Gia Viên, Răng Vàng vẫn như trước, thô tục hết mức, rặt mùi con buôn, lại hết sức kín kẽ, thực ra trong khu Phan Gia viên này thuộc loại nhà nghề có thâm niên và giàu kinh nghiệm.


      Răng Vàng vừa thấy chúng tôi tới, vội gác lại chuyện làm ăn trước mắt, sấn sổ hỏi chúng tôi: “Hai ông , sao bao lâu giờ mới về? Tôi nhớ hai ông chết được!”


      Tuyền béo bấy giờ định lấy luôn hai miếng ngọc ra cho xem, coi thử rốt cuộc đáng giá bao nhiêu, việc này cứ vướng mắc trong lòng chúng tôi mãi, hôm nay coi như cũng biết được rồi.


      Răng Vàng vội đưa mắt ra hiệu, bảo chúng tôi đừng bỏ hàng ra vội: " em mình cứ qua Đông Tử nhỉ, quán dê tái đợt trước ngon đấy, lại yên tĩnh, Phan Gia viên này vàng thau lẫn lộn, người đông, tai mắt cũng lắm, phải là nơi chuyện, 'minh khí ' để lộ ra ở đây được. Hai ông đợi giây lát, tôi xử lý nốt vụ này rồi ta ."


      "Minh khí" mà Răng Vàng ở đây, là từ lóng, đoạn trước có nhắc tới, từ này là từ đồng đồng nghĩa với từ "minh khí" (tức đồ phủ), chữ "minh" ở đây có ý chỉ đồ cổ thời Minh, mà để chỉ đồ tùy táng, cũng như mấy từ "đồ cổ", "cổ ngoạn", thực ra đều là nghe cho hay, che giấu tai mắt người đời, cứ kỳ thực xuất xứ của những từ ấy đều có liên quan tới việc "đổ đấu", hồi trước gọi là "đồ cốt", "cốt ngoạn" (1), đều là chỉ những di vật sót lại của triều đại trước.


      Trong lúc chuyện, Răng Vàng thanh lý chiếc "tủ lạnh" đầu thời Thanh và chiếc ấm trà Tế Hồng kiểu gốm Quan dao thời Ung Chính, chủ mua là người Tây, dắt theo cả phiên dịch viên tiếng Trung. Thực ra thứ hàng này, cũng có là gì đâu, chỉ là đồ vặt vãnh thôi, cụ thể bán được bao nhiêu, chúng tôi , nhưng tôi đoán ông Tây kia tám chín phần là bị chém ác.


      Giải quyết xong vụ làm ăn, Răng Vàng đếm lại tiền: "Ba hôm mở hàng, hôm nay vừa mở đủ ăn no ba năm. Bọn Tây ngố, mua hai món hàng giả mà cứ như bảo bối ấy, về mà khóc gọi bu nhé!" Đếm xong tiền, liền quay đầu lại với tôi: "Hồi năm Canh Tý, Liên quân tám nước tiến vào thành Bắc Kinh, vơ vét của giả nào có ít, hôm nay coi như thay trời hành đạo, Nhất, thử xem tôi làm vậy có lý ?"


      Tôi và Tuyền béo giờ có việc nhờ , đương nhiên phải dựa theo , tôi vội dựng ngón tay cái lên khen: "Xưa có Hoắc Nguyên Giáp tỉ võ đánh bại đại lực sĩ nước Nga, nay lại có ông Kim khéo lấy tiền bất nghĩa của người Tây, giành vinh quang cho tổ quốc, cao kiến, quả thực là cao kiến!"


      Thu dọn đồ đạc, chúng tôi tới quán lần đầu ngồi chuyện với nhau, hôm nay Răng Vàng chắc kiếm được kha khá, lại được hai chúng tôi tâng bốc nên hơi phê, vừa nhắm rượu vừa xướng lên hai câu Kinh kịch:" Thằng bồi Tây, ta cầm roi sắt đánh mày đây, hây a hây a hây..."


      Tôi nhìn quanh, lúc này phải là giờ ăn cơm, trong quán vắng tanh vắng ngắt, chỉ có mỗi bàn ở góc của chúng tôi là có khách, nhân viên phục vụ cũng nằm bò ra bàn ngủ gật, hai tay bồi bàn phụ trách châm lửa nồi lẩu ngồi xổm trước cửa tán gẫu, chẳng ai để ý đến ba chúng tôi cả.


      Vậy là tôi bảo Tuyền béo đưa ngọc ra, để Răng Vàng giám định, nhân tiện kể sơ qua chuyến Đông Bắc vừa rồi. Răng Vàng xem xét tỉ mẩn, chốc chốc lại đưa lên mũi ngửi, còn le lưỡi liếm, rồi hỏi cặn kẽ chúng tôi về ngôi mộ cổ.


      Răng Vàng : "Món giám định cổ vật này, tôi cũng biết sơ sơ, chỉ là chút nghề gia truyền thôi, hôm nay để hai bác đây chê cười rồi. Giám định cái thứ này, cũng như bắt mạch trong Đông y vậy, cũng có bốn phép 'vọng' (nhìn), 'văn' (ngửi), 'vấn' (hỏi), 'thiết' (bắt), đặc biệt là với đồ 'minh khí', bởi minh khí giống cổ vật thông thường, đồ cổ gia truyền, thường được đem ra lau chùi ngắm nghía, lâu ngày, bề mặt đều nhẵn bóng. Còn minh khí là thứ do đổ đấu mà ra, vẫn luôn được chôn trong mộ cổ, mà mộ cổ lại phân ra làm mộ mới, mộ cũ, mộ dơ, mộ nước, mộ lâu năm. Đầu tiên là 'vọng', phải coi xem kiểu dáng và thủ công, hình dạng màu sắc. Tiếp đến là 'văn', đây là khâu quan trọng bậc nhất trong việc giám định minh khí, miền Nam có người làm đồ giả, đem thứ đồ dởm ngâm vào hố phân, rãnh nước tiểu để làm cũ, màu sắc quả có cũ , còn mùi vị khác hoàn toàn, mùi ấy hôi thối hơn nhiều so với ngọc nhét hậu môn của người chết (ngọc cổ nhét trong hậu môn xác chết, tránh khí toát ra khiến xác mục rữa), làm như vậy nhìn bề ngoài có vẻ cũ kỹ , nhưng ngửi cái là ra ngay, bịp được lỗ mũi nhà nghề đâu. Tiếp theo nữa là 'vấn', vật này lấy từ đâu, có xuất xứ gì , người đổ đấu người đó đổ ra từ cái đấu nào, vậy là tôi có thể đoán được hay là bịa, có gì sơ hở , từ đây cũng có thể phán đoán giá trị và giả của món đồ từ mặt khác. Cuối cùng chính là cầm lên tay để tìm cảm giác, đây là cảnh giới mà chỉ có thể cảm nhận chứ chẳng thể thành lời, đồ cổ qua tay tôi nhiều đếm xuể, hai bàn tay này ấy à, nối liền với tim, đồ cổ đích thực, tức là bảo bối ấy, bất kể to nặng , tôi dùng tay sờ cái nắn cái, là có thể cảm nhận được phân lượng ngay, phân lượng ở đây phải trọng lượng thực tế của món đồ đâu, tự thân cổ vật có linh tính, cũng có cảm giác nặng nề chắc chắn tích lũy lại sau trăm ngàn năm, hàng giả có làm giống thế nào nữa, cũng thể tạo ra cảm giác này được."


      Tuyền béo : "Ông ơi, ông nhiều như vậy, tôi chẳng hiểu câu nào, ông mau xem, hai món minh khí này của bọn tôi, đáng giá bao nhiêu nào?"


      Răng Vàng cười lên ha hả: " béo sốt ruột rồi đây, vừa nãy tôi lắm mồm rồi, cũng chỉ là có ý tốt, mong rằng hai sau này có thể học được nhiều kiến thức giám định cổ vật hơn thôi. Các ngôi mộ lớn ngày xưa, có ngôi nào tới hàng trăm hàng ngàn món đồ tùy táng, hiểu biết chút ít về mặt này, về sau cũng khó hành phải ? Giờ tôi qua về hai món đồ này, tên của chúng tôi cũng biết, ta cứ tạm thời đặt cho nó cái tên, nhìn bề ngoài có thể gọi là nga thân li văn song ly bích (2), còn về giá trị của nó ...


      Mấy thứ đồ cổ này, làm gì có giá cả nào cố định, đâu phải là đường, là sữa mà bảo bao nhiêu tiền cân bấy nhiêu tiền cân, giá cả của đồ cổ hết sức tùy ý, chỉ cần có chủ mua, chủ mua chấp nhận món hàng, nó đáng tiền. Bằng hàng có tốt hơn nữa, chẳng ai mua, nó cũng chẳng đáng xu.


      Hai món minh khí này, tôi cứ ước chừng cho cái giá gốc, riêng lấy giá trị bản thân của nó ra mà , ở trong nước cũng đáng giá khoảng bốn năm vạn tệ, đương nhiên ở hải ngoại chắc chắn còn cao hơn giá này nhiều, nhưng giờ trong nước ta giá cả thị trường nó thế. Lúc bán, có chủ mua xứng đáng, còn có thể đưa ra giá cao hơn, điều này khó , phải xem tình hình lúc ấy thế nào . Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Răng Vàng kể trước kia người quen, cũng buôn bán ở Phan Gia viên, toàn mấy thứ lặt vặt như ngói, tượng, mũi tên, tiền cổ, con dấu, bút mực, lọ thuốc hít, về sau ông này chơi mấy món ấy nữa, Tân Cương bán xác khô, giờ phát tài to rồi.


      Tuyền béo lấy làm lạ hỏi: "Mẹ, xác khô phải là bánh tông à? Thứ ấy cũng đáng tiền á?"


      Răng Vàng trả lời: "Sai rồi! Trong mắt em ta nó là xác khô, nhưng ra nước ngoài nó là báu vật, theo giá thành ở Bắc Kinh, cứ trước thời Minh, nhất loạt hai vạn tệ, đem ra nước ngoài giá là trăm ngàn đô la Mỹ. Ông nghĩ xem, bọn Tây chẳng phải thích xem những thứ cổ quái kỳ quặc đó ư? Trong mắt người Tây, đất nước phương Đông cổ lão chúng ta, tràn đầy màu sắc thần bí, chẳng hạn trong Viện Bảo tàng Tự nhiên New York, có dán quảng cáo, hôm nay triển lãm xác ướp mỹ nữ phương Đông thần bí, có chấn động ? Cơn sốt xác ướp này, bắt nguồn từ xác của thiếu nữ Lâu Lan khai quật trong quần thể mộ ở Lâu Lan Tiểu Hà. Kể cả ở nước mình, giờ tìm bừa lấy chỗ làm triển lãm, cũng khối người xếp hàng tham quan đấy, cái đó gọi là cơ hội kiếm tiền ông ạ!"


      Tôi và Tuyền béo nghe xong liền hiểu ra, gật đầu lia lịa, hóa ra câu chuyện lại lắm lý lắm lẽ như vậy, là "đèn có khêu mới tỏ, lời có mới ", lại thêm được biết hai miếng ngọc trị giá năm vạn tệ, cảm giác thỏa mãn vô cùng. Nhổ răng trong miệng cọp, cuối cùng cũng chẳng uổng công.


      Tôi lại hỏi tiếp: " Kim này, ông bảo món minh khí của hai thằng em gọi là ngọc bích gì gfi ấy nhỉ? Sao tên gọi trúc trắc thế?"


      Răng Vàng rót đầy cốc bia cho tôi:" Vội gì nào, hôm nay em ta còn nhiều thời gian, cứ nghe tôi kể từ từ, cái này gọi là 'nga thân li văn song ly bích'. Trong nghề buôn đồ cổ của chúng tôi có quy định thế này, các món đồ có tên gọi chính thức, nhất loạt đặt tên theo đặc điểm của chúng.


      Cũng như chuông tết Tăng Hầu Ất nổi tiếng được xếp vào hàng văn vật quốc bảo ấy, trước kia loại nhạc cụ ấy đâu có gọi thế, nhưng cụ thể gọi là gì, thời nay khó mà khảo chứng được rồi, thế là các bác ngành khảo cổ dựa vào ngôi mộ nó được khai quật và chủng loại của nhạc cụ mà đặt cho cái tên như vậy thôi.


      Nga thân li văn song ly bích, cái tên ấy miêu tả đủ đặc điểm của hai miếng ngọc này rồi. Nga thân là sao, tạo hình của nó giống như con ngài, miếng ngọc được đổ đấu trong mộ tướng quân nước Kim, thời xưa ngài bay (3) là tượng trưng của người dũng sĩ xả thân quên mình, chẳng phải có câu "ngài bay dập lửa" ấy thôi, có về, biết rằng chết, mà vẫn khẳng khái ung dung lao vào ngọn lửa.


      ***


      (1): Từ "cổ" (xưa, cũ) đồng với từ "cốt" (xương cốt) trong tiếng Hán đại.


      (2): Hai miếng ngọc thân hình con ngài hoa văn con ly.


      (3): "Ngài bay" tức là con thiêu thân.


      Đương nhiên giờ chúng ta đều biết lũ này nhìn thấy gì, hễ thấy ánh sáng là lao vào, nhưng người xưa lại cho là vậy, họ vô cùng sùng bái tinh thần của giống ngài này, lấy hình dạng của nó để làm số đồ trang sức, để cho những người lập chiến công hiển hách đeo lên mình, coi như niềm kiêu hãnh.


      Hai lại coi tiếp hoa văn miếng ngọc này, nó cũng có tên, gọi là "ly văn", đầu giống sư tử, mình lại giống hổ, kỳ thực đều chẳng phải. Ly là loài rồng, có hai sừng đầu, những vật có chạm trổ hình con ly đều có tác dụng tránh tà. Cách đây lâu ở núi Mộc Gia Vân Nam, có đào được ngôi mộ vương gia thời Minh, chắc hai bác nghe Bình sách (4) đều nghe qua "Đại Minh liệt truyện" rồi chứ, Chu Nguyên Chương có viên đại tướng, họ Mộc tên , ngôi mộ đợt ấy khai quật được chính là mộ của vị Mộc vương gia này, trong mộ cũng tìm được Phỉ thúy song ly bích, trông cũng giống hai miếng ngọc mà hai bác đổ đấu được đấy, theo ngôn ngữ đại loại huân chương, huy chương quân công gì đó.


      Ta lại tiếp đến chữ "song", nghe tên là , chính là đôi. Ở đây rất coi trọng đấy nhé, thứ trang sức này treo ở hai bên mũ sắt, thế nên nhất định phải là đôi, nếu chỉ có miếng chẳng đáng giá nữa.


      Còn vì sao lại gọi là "ly" (5)? Ấy tức là về công nghệ chế tác ra chúng. Ngoài ra giá trị của hai miếng ngọc này, chủ yếu nằm ở giá trị lịch sử và giá trị thưởng thức của chúng, chứ chất liệu chẳng quý hiếm mấy. Nguyên liệu này là "đá ngói Càn Hoàng đổi màu" ở vùng Kavkaz, thực ra phải ngọc, đương nhiên nếu cứ gượng ép quy chúng vào loại ngọc, cũng phải được. Loại đá ngói Càn Hoàng này giờ rất đáng giá, nhưng hai miếng này cũng phải là loại thượng phẩm, loại thượng phẩm trong hai mươi tư tiếng đồng hồ lần lượt đổi thành mười hai màu sắc khác nhau cơ.


      À, bên còn có chữ, chữ Triện, là tên người, "Quách Hà Mô", xem ra chủ nhân của đôi ngọc chính là ông ta. Người này hình như là Tả đô giám nguyên soái cuối thời Kim, trong lúc giữ thành, chỉ dùng cây cung, bắn chết hơn hai trăm binh tướng Mông Cổ, vũ dũng hơn người, cuối cùng tử chiến sa trường, cũng coi như là vị hùng, tương truyền vua Kim phải dùng mười vạn lạng vàng, để đổi lấy thi thể ông ta từ tay người Mông Cổ đấy.


      Tôi cảm giác như nghe Bình sách vậy, cũng có chỗ nghe hiểu, nhưng nhiều lắm, Tuyền béo mặc chẳng thèm nghe nữa, cứ đổ lần lượt từng đĩa sách bò, thịt dê, thịt gà, rau, nấm vào nồi lẩu, dạo này toàn ăn thịt nướng đâm ra ngấy, giờ lại được ăn thịt dê tái, nhai sướng quai hàm, nên chỉ biết ăn với ăn.


      Tôi hỏi Răng Vàng xem gần đây thị trường mặt hàng nào sốt, bán được nhiều tiền.


      Răng Vàng trả lời: "Người Tây gọi nước mình là China, tức đồ sành sứ, có thể đồ gốm sứ mãi mãi vẫn là sốt nhất thị trường đổ cổ, những loại gốm sứ sản xuất vào thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc, ngay đến cả công nghệ tiên tiến thời nay cũng khó sánh được. Ví như sứ Thành Hóa, ông nghe chưa? Đặc biệt là loại sứ màu, đắt khủng khiếp, chẳng cần to tát gì, chỉ mụn tí xíu như cái chim thằng cu ba tuổi thôi, đem đến Phan Gia viên, cũng phải mười vạn tệ, đều cần mặc cả gì hết. Ông vừa kể trong mộ cổ ở Hắc Phong khẩu đoạn biên giới Trung Mông có nhiều đồ gốm sứ, tiếc là lại đổ ra, những thứ ấy chắc đều là đồ cuối thời Bắc Tống cả, là đáng tiếc lắm. Tôi câu chối tai, mong ông đừng phật ý, chứ quả thực lần này ông coi như lé mắt rồi, những chiếc bình chiếc chậu hai ông đổ ra ấy, giá tiền còn đắt hơn hai miếng ngọc này nhiều. Cho nên mới bảo con mắt hai ông vẫn cần phải rèn luyện nhiều, đợi cơ hội nào , bận sau tôi về quê thu dọn ít đồ, ông theo tôi phen, xem xem bí quyết nhà nghề, các chuyến sau này, chí ít cũng phải kiếm được mấy trăm vạn."


      Tôi vâng vâng dạ dạ, rồi bảo Răng Vàng: "Thằng em đây cũng có ý ấy, giờ có ý tưởng hơi bạo dạn thế này, lần sau hai thằng em định đổ cái đấu to hơn, đổ lần là phải giải quyết xong vấn đề. Cái nghề quật núi mò vàng này, hành nơi rừng sâu núi thẳm chẳng bằng ở nội địa, rủi ro lớn quá, cho dù có thêm mấy cái mạng, cũng chịu đựng được giày vò như thế. thằng em chuẩn bị tìm ngôi mộ lớn có phong thủy thuộc hàng đỉnh để ra tay, có điều việc này phải trò đùa con nít, trước tiên phải chuẩn bị đầy đủ , nếu sợ rằng thể ứng phó nổi."


      Răng Vàng hỏi: " Nhất này, muốn làm to sao? Chọn mục tiêu chưa nhỉ?"


      Tôi đáp: "Chưa, tôi đột nhiên nảy ra ý định ấy thôi, mộ lớn mà ở vùng hẻo lánh kiểu ấy cực kỳ khó tìm, vả lại giờ tôi cứ như nông dân, ngoài biết xem phong thủy tìm mộ, những chuyện lịch sử, khảo cổ, giá trị, giám định... đầu tôi tối như hũ nút, chẳng hiểu cái gì cả, về mục tiêu lựa chọn cũng mù tịt. Cũng muốn vội hành động ngay, lần hành động vừa rồi, chứng tỏ có hơi hám lợi trước mắt, từ giờ thể làm những vụ gấp gáp như vậy nữa. Có điều cũng phải lại, tuy lần Đông Bắc này đổ được thứ gì nhiều, nhưng ít nhiều cũng tích lũy được số kinh nghiệm và tiền vốn, cứ coi là lần diễn tập đổ đấu ." Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Răng Vàng trả lời: "Nghe ông vậy, tôi đột nhiên nhớ đến chuyện, ở Tân Cương ấy mà..."

    5. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 19: Đoàn khảo cổ





      ra Răng Vàng vừa hay lại quen biết vị giáo sư ở Học viện Khảo cổ Bắc Kinh, họ cũng thường xuyên qua lại với nhau, gần đây xảy ra chuyện, tình hình cụ thể là thế này. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Các hoạt động khảo cổ cũng như bảo hộ văn vật bị buộc dừng lại trong mười năm Cách mạng Văn hóa, sau cải cách mở cửa, được triển khai trở lại, ba năm gần đây, là thời kì đỉnh cao của ngành khảo cổ, lượng lớn mộ cổ và di tích dồn dập xuất .


      Giao dịch, giao lưu trong giới sưu tầm đồ cổ cũng cực kì sôi nổi, những nhóm trộm mộ lớn cũng nghe hơi nồi chõ, cứ thấy nấm đất là cắm cổ đào bới, nhất là các vùng Thiểm Tây, Hà Nam, Hồ Nam, hơn nữa càng làm lại càng dữ dội.


      Từ khi quần thể mộ bên bờ sông Tiểu Hà (Lâu Lan) Tân Cương được phát người ta dường như mới bừng tỉnh ngộ, trong sa mạc Tân Cương, Con đường Tơ lụa từng vang bóng thời, ba mươi sáu nước Tây Vực ven sông Khổng Tước, Hồ Hồ, Lâu Lan, Mễ Lan, Nê Nhã, Luân Đài, Bồ Loại, Mặc, Tây Dạ… những khu lạc viên của người mê mạo hiểm, biết bao nhiêu của cải và phồn hoa bị chôn vùi dưới dải cát vàng mênh mông vời vợi.


      Nhất thời, vô số đoàn thám hiểm, đoàn khảo cổ, cả các nhóm trộm mộ tranh nhau tiến vào sa mạc Taklimakan tìm kho báu. Đây là cơn sốt thám hiểm rầm rộ thứ hai sau tiếp theo cơn sốt thám hiểm sa mạc đầu thế kỉ 19, nhưng đối với đại đa số những nhà thám hiểm non nớt đủ kinh nghiệm, vùng sa mạc mênh mông này quả đúng như Folke Bergman, nhà thám hiểm lớn gốc Thụy Điển, viết về nó, là nơi chỉ có có về. “Tử vong chi hải” – biển tử vong, cái tên này cũng từ đó mà ra.


      Việc bảo vệ di tích mộ cổ Tân Cương vô cùng cấp bách, nhưng nhà nước đủ sức người, sức của để tiến hành khai quật, bảo vệ các di tích trong sa mạc Taklimakan, hầu hết nhân viên khảo cổ đều tập trung ở Hà Nam gấp rút khai quật những ngôi mộ cổ bị trộm viếng hoặc tổn hại trong quá trình thi công các công trình khác.


      Vị giáo sư mà Răng Vàng quen biết, nghiên cứu văn hóa Tây vực lâu, ông hết sức lo lắng việc mộ cổ Tân Cương bị phá hoại, mực làm đơn xin lãnh đạo, mong được tự dẫn đoàn vào sa mạc để làm cuộc khảo sát trường, đánh giá các di tích, sau đó cầu các cơ quan hữu quan tiến hành khai quật hoặc bảo vệ.


      Cấp viện cớ kinh phí đủ, thoái thác hết bận này đến bận khác, chứ thực ra kinh phí chỉ là thứ yếu, chủ yếu là vì gần đây có quá nhiều người gặp chuyện trong sa mạc rồi, chỉ lo mấy người giáo sư gặp điều gì bất trắc. Chốn quan trường có quy tắc ngầm, cầu lập công, chỉ mong vô tội, phạm sai lầm chính là lập công lớn, thăng quan tiến chức chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi.


      Cho tới mãi gần đây, người Mỹ gốc Hoa xuất , tài trợ toàn bộ kinh phí cho đoàn khảo cổ của giáo sư, cái đoàn đó mới được hình thành. Trước mắt đoàn thám hiểm khảo cổ này vẫn tiến hành chuẩn bị bước đầu, họ cần tìm người dẫn đầu đoàn giàu kinh nghiệm sinh tồn sa mạc, ngoài ra còn thiếu người biết thuật phong thủy chiêm tinh, vì phần đông đoàn khảo cổ đều là những tay mọt sách, có người dẫn đoàn, có cao nhân biết coi phong thủy chiêm tinh, dựa vào bọn họ cũng chẳng thể nào tìm được vị trí mộ cổ hay di tích.


      Tìm người như vậy đâu dễ, có số người đến dự tuyển, quá nửa là bọn đạo danh lừa gạt, đôi bên chuyện là lòi đuôi chuột ra ngay, thế nên vị giáo sư kia cũng nhờ Răng Vàng giúp tìm cho người như thế.


      Răng Vàng hỏi tôi có muốn tham gia , giá người Mỹ kia trả cũng tương đối cao, đồng thời còn có thể vào sa mạc xem xem, rốt cuộc có mồ mả gì lớn hay , coi như là thăm dò địa bàn, sau này có hành động cũng dễ bề tham khảo.


      Tôi trả lời: “Chuyện này rất tốt, đối với bọn này có thể coi là cơ hội thực hành hiếm có, trước giờ hai thằng em nào có qua lại với người làm khảo cổ bao giờ đâu, nếu có thể cùng với họ, chắc hẳn học được ít thứ hay ho. Sa mạc thằng này từng rồi, trước ở bộ đội từng hai lần sâu vào sa mạc diễn tập quân . Người dẫn đoàn vẫn dẫn đoàn, nhưng muốn vào sa mạc, vẫn phải tìm lấy người dẫn đường bản địa giỏi. Ngoài ra, về thuật phong thủy tinh tượng, tôi đây nắm chắc, chỉ cần trời có sao, tôi có thể dẫn họ tìm được tới chỗ họ cần tìm. Chỉ có điều, tôi hiểu lắm, người Mỹ kia vì sao lại bỏ tiền tài trợ cho hoạt động thám hiểm của Trung Quốc chúng ta? Mục đích của là gì? Người Mỹ phải là Lôi Phong, họ rất thực dụng, coi trọng lợi ích thực tế nhất, những chuyện có lợi lộc, họ làm đâu."


      Răng Vàng đáp: “Tình hình tường tận thế nào tôi cũng lắm, chỉ biết đại khái thôi. Người Mỹ xuất tiền tài trợ kia là phụ nữ, gốc Hoa, bố ta là tỉ phú ở phố Wall, thường ngảy rất thích các hoạt động thám hiểm khảo cổ. Năm ngoái, bố ta cùng đám nhà thám hiểm Trung Quốc tới Tân Cương thám hiểm, hình như ông ta rất hứng thú với cái văn hóa Tinh Tuyệt gì đấy. Lần ấy họ là để tìm thành cổ Tinh Tuyệt vùi sâu trong lòng biển cát, kết quả rồi chẳng quay về, người cũng , doanh trại quân đội đóng gần đó huy động cả máy bay đến tìm, nhưng cuối cùng vẫn chẳng thấy, chút manh mối cũng có. ta thừa kế tài sản kếch sù, có lẽ là vẫn cam tâm chấp nhận chuyện của ông bố, lần bỏ tiền tài trợ này, chắc là muốn tận dụng hết khả năng lớn nhất của mình để tìm kiếm người thân lần nữa. ta tuy là người Mỹ, nhưng suy cho cùng vẫn là Hoa kiều, theo truyền thống của người Trung Quốc, người ta chết , phải chôn ở quê mà, vất vưởng nơi sa mạc cho nắng gió xối xả, lại lìa xa người thân mình, vậy đâu được yên lòng.” Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ba người chúng tôi uống tới tận tối mới giải tán, hẹn Răng Vàng liên lạc bên mua hai miếng ngọc, đồng thời giới thiệu chúng tôi với giáo sư Trần, người tổ chức đoàn khảo cổ sắp lên đường, chúng tôi có thể gia nhập , còn cần phải chuyện trực tiếp với giáo sư Trần .


      Hai ngày sau, Răng Vàng dẫn chúng tôi Thiên Tân, đường Thẩm Dương, có cửa hàng đồ cổ nho , chủ quầy là phụ nữ trắng trẻo hơn ba mươi tuổi, chúng tôi đều gọi là chị Hàn. Chị Hàn là tình nhân của tay chủ lớn, tay chủ này là trong mấy nhà sưu tầm đồ cổ đếm đầu ngón tay của Hồng Kông, y mở cho chị Hàn cửa hàng ở Thiên Tân, thứ nhất là để chị ta có việc để làm cho cuộc sống đỡ nhàm chán, thứ hai cũng là để thu mua đồ cổ minh khí nữa.


      Chị Hàn là phụ nữ ưa năng, nhưng khả năng giám định đồ cổ cực cao, xem đồ của chúng tôi xong, chị ta hào phóng trả luôn sáu vạn: “Tình hình nay, cùng lắm cũng chỉ năm vạn, trả thêm cho các chú vạn, gọi là làm bạn với nhau, sau này có món nào hay, nhờ các chú lại mang đến chỗ chị!”


      Tôi nhận xấp tiền dầy cồm cộp, tâm trạng kích động, tay cũng hơi run run, tôi thầm chửi bản thân ra trò trống gì: “Nhất ơi là Nhất, mày cũng được coi là loại từng trải đời, năm xưa Mao Chủ tịch đứng Thiên An Môn kiểm duyệt Hồng vệ binh, mày có kích động ?


      Thẳng thắn mà lúc ấy cũng kích động, nhưng đâu thể kích động như bây giờ. Xấu tốt gì mày cũng từng trèo cây trong rừng sâu, từng đào hầm núi Côn Luân, từng tham gia chiến trận, sao hôm nay lại xúc động đến nỗi cầm được chắc cả mấy đồng tiền thế này? Ôi, đây chính là sức mạnh của đồng tiền đây sao! Cũng chẳng còn cách nào khác, mày có thể tôn trọng tiền, nhưng có tiền, mắc dây điện cho dân làng trong núi được, cải thiện đời sống cho người thân của đồng đội hi sinh của mày được, tiền quá vĩ đại, ra sống vào chết, vì cái gì, chính là vì tiền mà thôi!”


      Quay về, tôi chia tiền ra làm bốn phần, phần cho Tử, phần cho Tuyền béo, còn phần đưa bí thư chi ủy chia cho mọi người, còn lại phần, tôi giữ lấy mua trang bị và làm kinh phí cho đợt hành động sau.


      Tuyền béo muốn nhận phần của mình, cậu ta : “Số tiền lần này bảo ít cũng chẳng phải ít, nhiều cũng chẳng nhiều, đem sửa đường cho trại Cương Cương chắc chắn đủ, chia ra cũng chẳng còn bao nhiêu nữa, nghe các liệt sĩ trong đại đội của cậu còn nhiều gia quyến dưới quê, nhà lại đông người, tuy có trợ cấp của nhà nước nhưng cuộc sống vẫn hết sức khó khăn, thậm chí có bà mẹ, con trai hi sinh, cũng chẳng có tiền mà mua vé tàu Vân Nam thăm mộ con.


      Nghe cậu nhắc chuyện ấy, mắt tớ cay hết cả, cũng thấy khó chịu trong lòng, cậu cứ gửi hết phần của tớ cho gia đình các liệt sĩ và em thương binh . Đời tớ, tâm nguyện lớn nhất chính là làm lính ra chiến trường đánh trận, nhưng ông già mất sớm, chẳng có cơ hội ấy, cậu giúp tớ hoàn thành nguyện vọng này , sau này mình có nhiều tiền, chia cho tớ cũng muộn.”


      Nhắc đến việc này, tôi cũng rưng rưng nước mắt, vỗ vai Tuyền béo: “Được! Cậu càng ngày càng giác ngộ đấy. Cơ hội kiếm tiền sau này còn nhiều, lần tranh thủ Tân Cương, kiếm của người Mỹ !”


      Nghỉ ngơi dăm ngày, Răng Vàng có tin báo, bảo hẹn gặp giáo sư Trần rồi, đoạn dẫn tôi và Tuyền béo tới nơi làm việc của ông.


      Giáo sư có tuổi, tôi vừa gặp khỏi lo lắng thay cho ông, bộ xương già này mà còn muốn vào sa mạc cát chảy lớn thứ hai thế giới hay sao?


      Cùng ngồi với giáo sư Trần, còn có trợ thủ của ông, Hách Ái Quốc, đây là trí thức trung niên độ bốn mươi tuổi, đầu tóc rối bù như tổ quạ, thoạt nhìn là biết thiếu kinh nghiệm xã giao, chiếc kính cận dày cộp của ta cho người ta biết rằng, là người có thái độ học hỏi nghiêm túc cẩn thận, cầu thực chất, say mê nghiên cứu, và chú trọng đến hình tượng của mình lắm. Loại người như ta thời Cách mạng Văn hoá hiếm, nhưng sau cải cách mở cửa, cùng với trào lưu tri thức mới, phong trào mới, giá trị mới, những người cổ lỗ như thế còn nhiều nữa.


      Hách Ái Quốc chăm chú nhìn chúng tôi lượt, cũng hề khách sáo, thẳng thấn luôn: “Hai đồng chí, hai vị tới đây làm gì chúng tôi biết, chắc hẳn cầu của đoàn khảo cổ chúng tôi, hai vị cũng , lần này phải là phá lệ trong phá lệ, ngoại lệ trong ngoại lệ đấy. Chúng tôi cần nhân tài, hai vị đây có kinh nghiệm thám hiểm, sinh tồn trong sa mạc, hay là thông thạo thuật phong thủy tinh tú? Điều này thể qua loa đại khái được, nếu hai vị có bản lĩnh về mảng này, đừng hòng mà cửa sau chạy chọt!” xong lại nhìn Răng Vàng cái, “ nể mặt ai hết”.


      Giáo sư Trần cảm thấy Hách Ái Quốc thẳng quá, ông rất thân với bố Răng Vàng, thường xuyên thỉnh giáo cha con họ về các vấn đề giám định thưởng thức đồ cổ, muốn làm căng quá, bèn đứng lên khỏi sofa dàn hòa, mời chúng tôi ngồi xuống, chuyện trò vài câu, hỏi tôi và Tuyền béo mấy chuyện lặt vặt, nghe xong mỉm cười gật đầu: “ đơn giản đâu nhỉ, từng làm Đại đội trưởng giải phóng quân, còn có kinh nghiệm chiến đấu, lại từng tới sa mạc, là hiếm có, làm người dẫn đoàn cho lũ mọt sách chúng tôi, chắc là thừa khả năng rồi. Di tích và mộ cổ trong sa mạc, đại đa số đều lấp vùi trong biển cát vàng, sông Khổng Tước xưa kia nay cạn khô từ lâu, khó mà tìm được, nếu nắm chắc thuật phong thủy thiên tinh, e rằng khó mà tìm được, chẳng hay thuật phong thủy này hai vị có thông hiểu hay ?”


      Tôi biết thuật phong thủy thiên tinh còn gọi là “Thiên cùng thanh nang thuật”, chính là thuật được chép trong chương chữ Thiên của Thập lục tự dương phong thủy bí thuật, là chương khô khan khó hiểu nhất, tôi chưa từng áp dụng trong thực tế lần nào, có điều, lúc này cũng đành cắm đầu bốc lên vậy. Tôi gật đầu đáp: “Thưa giáo sư, phải tôi bốc đâu, chứ thuật phong thủy tinh bàn nguyệt khắc này, tôi nắm trong lòng bàn tay, có điều chuyện này nên bắt đầu từ đâu nhỉ…”


      Để có được công việc được trả lương bằng đôla Mỹ này, tôi dốc hết hàng tồn trong bụng ra, hy vọng bỏ bùa mê được mấy người này. May nhờ cuốn sách gia truyền kia, lúc đầu Hách Ái Quốc thấy tôi non trẻ, tưởng tôi là họ hàng của Răng Vàng, định đến chạy chọt kiếm bữa ăn, tôi mới vài câu, đâu ra đấy, ta cũng khỏi nhìn tôi bằng con mắt khác, ngồi bên vểnh tai chăm chú lắng nghe.


      Môn phong thủy này, được gọi là tối cao của địa học, đất phong thủy có thể khái quát cách đơn giản là: tàng phong chi địa, đắc thủy chi sở (đất có gió, được nước). Trong Táng thư (1) viết rất hay: “Táng, ấy là giữ gìn sinh khí vậy. Khí theo gió mà tán, gặp nước ngưng. Cổ nhân tụ khí để tán, hành khí để cho dừng, vậy nên gọi là phong thủy.”


      ***


      (1) Táng thư: tương truyền do Quách Phác, thuật sĩ nổi tiếng thời Tấn (365-420) viết.


      Đời sau lại mở rộng phong thủy học ra vô hạn, chẳng những chỉ dừng ở huyệt vị mạch đất của mồ mả, mà còn dần mở rộng thành thuật kham dư. Kham dư, thiên địa vậy, trắng ra tức là môn phân tích quan hệ giữa trời, đất và con người.


      Nhưng nay tôi chỉ với giáo sư và các thầy giáo ngồi đây chút về phân nhánh “Phong thủy thiên tinh” trong thuật phong thủy mà thôi. Đế vương quý tộc thời xưa, hết sức coi trọng việc hậu , lúc sống hưởng thụ thế nào, chết cũng phải sở hữu thế ấy, chẳng những thế, họ còn cho rằng thiên hạ hưng vong, đều bắt nguồn từ long mạch, cho nên lăng mộ đều phải đặt ở đất phong thủy đẹp. Hoàng đế Ung Chính (1) từng tổng kết cách thấu đáo về lăng mộ đế vương, ông : Nơi càn khôn chung tú, đất tụ hợp dương, huyệt rồng sông báu, thu tận cái đẹp, thế vững khí thiêng, trăm may thảy vượng, mạch non phép nước, lối lối ràng, ấy là đất thượng cát.


      Tuy chỉ có mấy câu ngắn gọn, nhưng quả miêu tả cách trực tiếp nhất, hình tượng nhất, sinh động nhất về việc chọn đất làm lăng tẩm cho Hoàng đế, nhưng Ung Chính cũng chỉ mới nửa chừng, cảnh giới trời người hợp nhất mà cổ nhân theo đuổi, chẳng những chú trọng đến phép nước mạch non, mà còn cần trông thiên tinh nhật nguyệt.


      ***


      (1) Ung Chính: vị vua thứ sáu đời Thanh, con vua Khang Hy, bố vua Càn Long, trị vì từ năm 1723 đến năm 1736.


      Từ thời thượng cổ, người ta thường coi thiên trọng, nghiên cứu biến hóa của tinh tú, suy đoán họa phúc rủi may, khi lựa chọn đất phong thủy đẹp, cũng áp dụng đến tinh túy của thiên văn học, trời đất cách nhau tám vạn bốn ngàn dặm, tim thận con người cách nhau tám tấc bốn phân, cơ thể chia làm kim mộc thủy hoả thổ, ứng với ngũ thiên tinh nguyên, lại có hai mươi tư vì sao đối ứng với địa lý núi sông trong thiên hạ, sao có lành ác, đất có tốt xấu.


      Phàm là đất thượng cát, ắt hô ứng với thiên tinh nhật nguyệt trời, thuật Thanh Ô định huyệt dựa vào lưu chuyển của tinh vân, chính là môn phong thủy thiên tinh khó nắm bắt nhất trong phong thủy học.


      Trời có hai mươi tư sao, ngày có hai mươi tư giờ, năm có hai mươi tư tiết, ấy nên phong thủy cũng có hai mươi tư hướng, hai mươi tư vị (1). Có thể hiểu sắp xếp hung cát của các vì sao này, rồi dùng la bàn định vị, khắc có thể tìm được chỗ chúng ta cần tìm, có điều thuật phong thủy thiên tinh này có rất nhiều hệ phái, phương pháp khác nhau, trong đó cũng ít những điều mâu thuẫn, di tích trong biển cát mịt mùng, cách đây ngàn năm, hai hay ba phần trăm cơ hội tìm thấy rồi.


      ***


      (1): "Hai mươi tư hướng" hay "hai mươi tư vị" trong thuật phong thủy bao gồm: Thiên hoàng, Thiên cang, Thiên quan, Thiên uyển, Thiên thị, Thiên trù, Thiên hộc, Thiên hán, Thiên lũy, Thiên phụ, Thiên cứu, Thiên quỷ, Thiên ất, Thiếu vi, Thiên quan, Thiên đế, Nam cực, Thiên mã, Thiên bình, Thái ất, Thái vi (nguyên văn trong truyện, nhưng mà hình như đủ 24 phải, lại còn trùng lặp nữa)


      Giáo sư Trần nghe đến đây, mừng rỡ đứng bật dậy : “ Nhất hay quá, ông trời có mắt, cuối cùng cũng phái nhân tài như đây đến cho chúng tôi. Trong sa mạc Tân Cương, thời gian trải qua ngàn năm, thậm chí là mấy ngàn năm, bao cuộc bể dâu, ốc đảo và thành thị ngày xưa giờ biến thành biển cát mênh mông, dòng sông mạch núi cũng mất tăm mất dạng, nếu chúng ta muốn tìm lăng mộ con đường tơ lụa cổ xưa, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất chính là dựa vào thuật phong thủy thiên tinh. Tôi tuyên bố, bắt đầu từ ngày hôm nay, hai vị chính thức gia nhập đoàn khảo cổ của chúng tôi.”


      Hách Ái Quốc cũng lại gần thân thiết bắt tay chúng tôi, tỏ ý xin lỗi vì thái độ lạnh lùng ban nãy: “Xin lỗi xin lỗi, thành phần trí thức bọn tôi đây toàn lũ hủ nho, bao nhiêu năm Cách mạng Văn hóa, chịu khổ chịu sở mãi, đâm ra ngây cả người, biết chuyện, mong hai vị chớ để bụng.”


      Tôi mừng thầm: “Khà khà, mình cũng chỉ biết có từng ấy thôi, thêm nữa thế nào cũng lòi đuôi chuột. Thuật phong thủy thiên tinh khó đến mức chẳng thể nào tưởng tượng được, mình đây thực ra cũng hiểu lắm, nhưng chắc hẳn đám trí thức đeo kính cận các người, cũng khó mà chịu nổi thử thách khắc nghiệt của sa mạc, tiến vào chưa đến dăm hôm là phải quay về thôi. Mà ngoài ra mình còn khoa trương lên, đem xác suất tìm được di tích giảm xuống hết cỡ, tìm thấy, cũng đâu thể trách mình biết coi phong thủy thiên tinh, tiền công vẫn chẳng thể thiếu đồng.”


      Tôi nghĩ tới chỗ đắc ý, bỗng trẻ bước vào, giáo sư Trần vội giới thiệu với chúng tôi: “Đây là Dương, người tài trợ kinh phí cho chuyến của chúng ta lần này, ấy cũng với chúng ta luôn, các chớ thấy Dương là nữ mà lầm tưởng, ấy là nhà nhiếp ảnh của tạp chí nổi tiếng National Geographic đấy.”


      Tôi liền ra vẻ lịch lãm, bắt tay nàng tỏ vẻ tôn trọng, tôi nghĩ đối phương là người Mỹ, phải tiếng với người ta, mà xin chào thế nào nhỉ? Hình như là: “Hê…hê…hê lô!”


      Dương kia mỉm cười: “ Nhất ạ, tôi cũng biết tiếng Trung, chúng ta cứ chuyện với nhau bằng tiếng Trung . Từ sau cứ gọi tôi là Shirley Dương là được.” ngờ tiếng phổ thông của ta lại giỏi thế, chẳng có chút khẩu Mỹ nào, mà thực ra khẩu Mỹ ra làm sao, tôi cũng chẳng biết nữa, dù sao cũng cảm thấy ta chẳng khác gì người Trung Quốc cả.


      Shirley Dương bắt tay Tuyền béo, sau đó đưa ra nghi vấn, Vương Khải Tuyền (Tuyền béo) cùng đến với Nhất, bản lĩnh của Nhất ghê gớm rồi, từng làm chỉ huy trong quân đội, lại còn biết thuật phong thủy thiên tinh, còn Tuyền đây có bản lĩnh gì, chúng tôi vẫn chưa được lĩnh giáo. Lần thám hiểm sa mạc này hết sức hệ trọng, chúng tôi cần người có khả năng đặc biệt đâu.


      Tôi ngờ người Mỹ lại thẳng thắn như vậy, mọi người đều nhìn cả về phía Tuyền béo, tôi vội đỡ: “Ở sa mạc được an toàn cho lắm, người bạn này của tôi, có tài xạ thủ.”


      Tuyền béo thấy con bé người Mỹ coi thường mình, bĩu môi, tức khí : "Tân Cương làm sao, năm xưa Tuyền béo này tới sa mạc Tân Cương càn quét bọn phỉ, đánh lũ thổ phỉ ở ốc đảo Nê Nhã chạy vãi phân vãi đái, còn tự tay giết chết tên cầm đầu nữa. Các vị xem , đây chính là chiến lợi phẩm.” đoạn, lấy miếng ngọc đeo trong người ra hươ huơ trước mặt mọi người, " thấy bao giờ chưa?”


      Tôi đứng bên cạnh nhếch mép cười thầm, nghĩ thằng ngốc này có bịa chuyện thôi cũng biết cho kín kẽ, lại còn vơ lấy tích hùng của đời ông già cậu khoác lên mình nữa chứ, Tân Cương quét phỉ cái mẹ gì, cái hồi ấy cậu còn mặc quần hở đũng đấy, cậu từng ăn thịt dê nướng Tân Cương xem ra còn chấp nhận được. Việc đến nước này tôi cũng chỉ còn cách tung hứng theo cậu ta, nếu Tuyền béo , tôi cũng , chắc là cuối cùng họ cũng đành phải thỏa hiệp thôi.


      Ấy thế mà chẳng ai phản bác câu nào, ánh mắt giáo sư Trần và Shirley Dương đều bị miếng ngọc tay Tuyền béo thu hút, bàn tay cậu ta đưa đâu, ánh mắt của mọi người dịch theo tới đó, đến cả chớp mắt cũng chớp lấy cái.


      Shirley Dương vốn đồng ý cho Tuyền béo tham gia đoàn khảo cổ, có điều nhìn thấy miếng ngọc bội của cậu ta xong, ta hề do dự bằng lòng trả công chúng tôi mỗi người mười ngàn đô, nếu tìm được thành cổ Tinh Tuyệt lòng sa mạc, trả thêm gấp đôi. Nhưng món tiền này phải đợi chúng tôi trở về từ Tân Cương mới thanh toán.


      Răng Vàng cũng từng thấy miếng ngọc bội của Tuyền béo, sành sỏi như vậy, mà cũng thể nhìn ra được lai lich miếng ngọc này. Về mặt này biết nhìn hàng bằng mấy người như giáo sư Trần, suy cho cùng Răng Vàng cũng chỉ bán mấy đồ lặt vặt, còn giáo sư Trần vùi đầu nghiên cứu văn hóa cổ Tây Vực mấy chục năm, cha của Shirley Dương là bạn thân của ông, từ ta được hoàn cảnh gia đình hun đúc, cũng có thể coi là nửa chuyên gia về lịch sử Tây Vực, cho nên hai người họ vừa nhìn thấy miếng ngọc là nhận ra ngay lai lịch của nó. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Giáo sư Trần cho rằng miềng ngọc này chí ít cũng có tới ngàn năm trăm năm cho đến hai ngàn năm lịch sử, chữ khắc đó là văn tự Quỷ Động. Quỷ Động là dân tộc thiểu số ở Tây Vực thời cổ đại, dân tộc này diệt vong từ lâu, trong thư tịch cổ khai quật ở Đôn Hoàng có ghi chép, nữ vương nước Tinh Tuyệt chính là người tộc Quỷ Động, mười chữ Quỷ Động miếng ngọc này rốt cuộc có ý nghĩa gì, còn cần khảo chứng thêm mới biết được.


      Giáo sư Trần và cha của Shirley Dương đều là người say mê văn hóa Tây Vực. Tinh Tuyệt, tòa thành từng độ phồn hoa rực rỡ, có thể thuộc hàng nhất nhì trong ba mươi sáu nước Tây Vực, thời kì đỉnh cao, cả Tây Vực hiếm có thành nào bì được, sau đó hình như xảy ra tai ương gì rất lớn, nữ vương qua đời, sau đó cả tòa thành cũng biến mất luôn.


      Vinh quang của quá khứ nay bị cát vàng vùi lấp, manh mối chứng minh nó từng tồn tại, chỉ có những ghi chép vụn vặt trong thư tịch cổ, tương truyền nữ vương Tinh Tuyệt là đệ nhất mỹ nhân của Tây Vực, nàng giống như vầng dương bầu trời, mỗi khi xuất đều khiến trăng sao phải lu mờ khuất lấp.


      Cha Shirley Dương cũng chính vì tìm kiếm lăng tẩm của vị nữ vương này, tổ chức đoàn thám hiểm gồm năm vị học giả Trung Mỹ, mang theo các trang thiết bị tối tân, tiến sâu vào biển cát, để rồi mãi mãi bao giờ trờ lại.


      Chuyến lần này, thứ nhất là để tiến hành khảo sát và đánh giá trạng mộ cổ trong sa mạc, thứ hai là thử vận may, xem liệu có thể tìm lại được di thể của năm nhà thám hiểm, để còn an táng cho tử tế.


      Shirley Dương muốn mua lại miếng ngọc cua Tuyền béo, tôi và cậu ta nhận thấy đây là hàng quý cần giữ, nên nghiến răng bán, trong bụng toan tính xem có thể chém ta bao nhiêu đô.


      Chúng tôi gia nhập đoàn thám hiểm gồm các học giả và nhiếp ảnh gia, tôi làm người dẫn đoàn, Tuyền béo làm đoàn phó. Việc sa mạc, cứ quyết định như vậy.


      Đoàn tàu lao vút dải đất miền Tây rộng lớn, tôi và Tuyền béo ngủ trong toa nằm biết trời đâu đất đâu, trạm đầu tiên là Tây An, ở đó tập trung với mấy học trò của giáo sư Trần, rồi tới Urumchi, trang bị của đoàn thám hiểm được vận chuyển thẳng đến đó.


      Hách Ái Quốc bước vào, liền bị mùi thối thối chân của Tuyền béo xộc lên suýt nữa ngã nhào, ta lay tôi dậy: “Đồng chí Nhất, mau dậy, dậy , giáo sư tìm bàn chút chuyện, qua đây lát!”


      Tôi ngó qua ngoài song cửa, trời vẫn còn sáng, cũng chẳng biết là mấy giờ nữa, ngủ mê mệt hết cả, khoác áo theo Hách Ái Quốc sang phòng bên cạnh.


      Giáo sư Trần : “Sáng sớm mai chúng ta tới Tây An, đón ba học trò của tôi, thành viên coi như là đủ. là đoàn trưởng, nên muốn bàn bạc trước với số vấn đề về lộ trình.”


      Shirley Dương ngòi bên cạnh cũng : “Đúng thế, Nhất, tôi và giáo sư bàn rồi, dự định xuất phát từ hồ Bostan, về hướng Nam tìm kiếm sông Khổng Tước, sau đó, băng qua con sông này sâu vào sa mạc, rồi men theo sông ngầm Từ Độc xuôi Nam, tìm di tích thành cổ Tinh Tuyệt, chúng tôi muốn hỏi ý kiến thế nào.”


      Tôi thấy tức cười, đám trí thức và người giàu này, toàn đánh trận giấy nghĩ ngợi xa xôi, các người vậy khác nào vòng sa mạc, ở sa mạc có ai dám hình chữ Z bao giờ đâu, cho dù chết đói, chết khát, chết nóng, cuối cùng cũng chết mệt. Có điều tôi luôn nghĩ mấy người này thuộc loại ăn no rửng mỡ, thừa giấy vẽ voi, sống an nhàn vui vẻ thích, nằng nặc đòi vào sa mạc chịu khổ chịu sở, chắc chắn quá hai ba ngày cũng khóc mếu đòi về, cho nên lộ trình thế nào quan trọng, về đến nơi trả tôi tiền là được.


      Tôi nới với Shirley Dương: “ Dương này, tuy tôi là người dẫn đoàn, nhưng tôi có tư cách tham gia quyết định sắp xếp lộ trình, các vị cứ xác định lộ tuyến và mục tiêu, tôi phụ trách đưa mọi người tới đó, cách khác, chị là người quản lý, còn chúng tôi là culi.”


      Lời vừa ra, tôi lại thấy hơi hối hận, vẫn có câu, cầm tiền người ra giúp người tai qua, người ta bỏ tiền thuê mình, mình đương nhiên phải làm tròn bổn phận, thế nên tôi tiếp với họ, vấn đề lộ trình phải đợi đến Tân Cương, tìm người dẫn đường bản địa hỏi ý kiến rồi mới quyết định được, bây giờ gì cũng vẫn còn sớm, việc tìm người dẫn đường đó để tôi lo liệu.


      Mọi người lại bàn bạc thêm số chi tiết, sau đó ai nấy đều về nghỉ, sau cuộc chuyện tàu này, tôi lờ mờ cảm thấy, mấy người này quyết tâm rất lớn chưa chắc vào sa mạc mấy hôm đòi về như tôi vẫn nghĩ.


      Ở Tây An, chúng tôi gặp các thành viên còn lại của đoàn khảo cổ, họ đều là học trò của giáo sư Trần, Tát Đế Bằng chân chất, Sử Kiện cao cao, và Diệp Diệc Tâm là nữ nữa.


      Cộng với năm người lúc đầu, tổng cộng tám người. Đến Tân Cương, tôi liên lạc với Lưu Cương, đồng đội ngày trước, ta đời sau của lữ đoàn 359 Tân Cương, sinh ra và lớn lên ở Tân Cương, nhưng cũng quen thân lắm với người bản địa, muốn tìm người dẫn đường bản địa quen thuộc địa hình sa mạc dễ dàng gì, cuối cùng phải thông qua bạn bè của Lưu Cương, mới tìm được ông già buốn bán súc vật.


      Giờ chẳng ai gọi tên của ông già này nữa, mọi người đều gọi ông ta là Anliman, tức là bản đồ sống trong sa mạc.


      Lão Anliman ngậm cái tẩu thuốc, lắc đầu lia lịa: “ được à, được à, bây giờ mà, là mùa gió máy mà, vào sa mạc, ông già Hutai (ông trời), giáng tội vạ xuống à…”


      Chúng tôi đành giở chiêu vừa đánh vừa xoa, tôi bảo giáo sư Trần lấy giấy tờ ra, giải thích cho ông ta biết chúng tôi là cán bộ nhà nước cử đến công tác, các đồng chí ở địa phương phải phối hợp làm việc, nếu ông mà dẫn đường cho chúng tôi, chúng tôi gọi cảnh sát, thu hết lạc đà và lừa, cho ông buôn bán nữa.


      Shirley Dương lại , chỉ cần ông đồng ý dẫn đường, tất cả gia súc của ông, tôi mua giá gấp đôi, sau khi từ sa mạc trở về, gia súc vẫn là của ông, tiền cũng vẫn của ông.


      Ông giá Anliman chẳng còn cách nào khác, đành chấp thuận, nhưng đưa ra cầu: “Đừng lái cái xe hơi mà, Hutai thích cái máy móc à, con lạc đà mà, phải mang theo nhiều nhiều, Hutai thích lạc đà mà.”


      Về khoản này, tôi nhất trí với Anliman, trong sa mạc lạc đà đáng tin cậy hơn xe hơi nhiều.


      Ông Anliman chọn lấy hai mươi con lạc đà, ngày xuất phát, đem hết hành lý trang bị của mọi người chất lên lưng chúng, ngoài ra còn mang theo số lượng lớn bánh đậu và muối, Tuyền béo vừa giúp ông ta chuyển đồ vừa hỏi: “Ông ơi, trong sa mạc, mình toàn ăn bánh đậu với muối sao? Thế chẳng phải càng ăn càng khát à?”


      Ông Anliman cười to: “Ai dà, u li an jiang ( bạn to khỏe) của tôi, cái này mà, cậu muốn ăn cũng được, nhưng Hutai bảo mấy thứ này này, là để cho lạc đà ăn à.”


      Ông Anliman bảo mọi người, mùa này là lúc nguy hiểm nhất trong sa mạc, đường đầu tiên từ hồ Bostan đến di tích Thành Tây Dạ, có sa mạc và có cả hoang mạc, cũng may có sông Khổng Tước cổ nối liền, nên khó nhận ra, nhưng muốn sâu nữa, liệu có tìm thấy sông ngầm Từ Độc hay , còn phải xem xem ý của Hutai thế nào.


      Đoàn chín người chúng tôi gọi là đoàn khảo cổ, chi bằng gọi là đoàn lạc đà còn hơn, thực phẩm mang theo, chắc đủ tháng, nước sạch đủ dùng hơn chục ngày, có thể bổ sung nước ngọt ở các ốc đảo và sông ngầm dọc đường. Ngoài ra còn có mấy túi da lớn đựng sữa chua, lúc nào khát chịu được nữa, uống ngụm giải khát, hiệu quả hơn gấp uống chục ngụm nước ngọt. Cộng thêm các loại thiết bị, khiến mỗi con lạc đà đều phải chở rất nặng, khi lên đường, mọi người chỉ có thể dựa vào đôi chân, nửa đường bộ, nửa đường cưỡi lạc đà

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :