Ma thổi đèn - Thiên hạ bá xướng

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 20: Huyệt ma trong biển cát





      Đoạn đường đầu tiên của chuyến này xuất phát từ phía Tây Nam hồ Bostan, men theo dòng Khổng Tước về phía Tây đoạn, cho đến khi tìm thấy dòng sông cổ chảy theo hướng Nam. Bostan dịch nghĩa ra là "đứng dậy", sở dĩ có tên gọi này, là bởi giữa lòng hồ có ba ngọn núi đứng sừng sững. Thời xưa người ta gọi hồ này là biển cá, là hồ nước ngọt lớn nhất của Trung Quốc, sông Khổng Tước phát nguồn từ đây, chảy sâu vào trong sa mạc Taklimakan. Khi chúng tôi qua bờ hồ, phóng mắt nhìn xa, dải nước xanh ngắt mênh mang khiến người ta choáng ngợp, trong lúc hoang mang, có cảm giác dường như đến nơi tận cùng của trời đất.


      Hai ngày đầu, ba học trò của giáo sư Trần hết sức hứng khởi, bọn họ đều rất trẻ, lần đầu vào sa mạc, cảm giác vừa mới mẻ lại vừa thích thú, lúc học lão Anliman huýt sáo chỉ huy lạc đà, lúc lại đuổi đánh nhau, hát ca hớn hở.


      Tôi cũng khấp khởi trong lòng, chỉ giận mình thể ra nhập bọn đùa vui với họ được, có điều tôi là trưởng đoàn, phải nghiêm túc chút, nghĩ tới đây, liền ngồi thẳng lưng lại, cố gắng khiến hình tượng của mình kiên nghị thêm chút nữa.


      Đoạn đường đầu tiên này, theo lời lão Anliman, căn bản vẫn thể coi là sa mạc, lòng sông của số quãng vẫn chưa hoàn toàn khô cạn, cát chung quanh cũng rất nông, khắp nơi đều có các hồ nằm rải rác, mặt nước thỉnh thoảng còn có vài đàn chim âu và vịt mỏ đỏ bơi lôi, ven sông Khổng Tước, có những ốc đảo nho , mọc đầy những cây táo gai, cây dương và số cây bụi.


      Qua đoạn sông này mới thực bước vào sa mạc, sông Khổng Tước bẻ dòng chảy theo hướng Đông Nam, phía ấy có Lâu Lan, La Bố Bạc, Đơn Nhã, chúng tôi theo hướng Tây Nam, tiến vào "sa mạc đen". Ông già Anliman sa mạc đen là do Hutai tạo ra để trừng phạt lũ dị giáo tham lam, chôn vùi vô số thành trì và của cải, nhưng chưa có bất kỳ ai có thể đưa được chúng ra ngoài, cho dù chỉ cầm đồng tiền vàng, cũng mất phương hướng, lạc đường và vĩnh viễn bị gió cát vùi lấp, đừng hòng chạy thoát.


      Đây là sa mạc lưu động, gió thổi bạt đồi cát, địa hình mỗi ngày vẻ, có đặc trưng, dòng sông cổ biến mất từ lâu. Cũng may có lão Anliman, từ những thành trì, nhà cửa, lầu tháp bị cát vàng chôn vùi, chỉ lộ ra nửa nóc; những cây dương bị gió mạnh thổi nghiêng ngả góc ba mươi độ với mặt đất, cho đến mấy cây saxaul (tên cây) nho trong sa mạc, đều thoát khỏi đôi mắt lão luyện của ông già. Những thứ ấy xâu chuỗi lại, lên điều, sông Khổng Tước cổ từng chảy qua đây, nơi tận cùng của dòng sông biến mất này, chính là thành cổ Tinh Tuyệt bị Hutai vất bỏ trong truyền thuyết.


      Gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với chúng tôi trong sa mạc này chính là những cây dương ngàn năm, nếu tận mắt trông thấy, ai mà tin được trong sa mạc cũng có cây cỏ. Mỗi cây dương đều tựa như con rồng dũng mãnh, tất cả cành cây đều nghiêng lệch về phía Đông, tựa hồ như con rồng ấy sải chân lao sa mạc, trong môi trường khắc nghiệt ấy, trải qua hàng ngàn năm, sớm chết khô từ lâu, cành cây bị gió thổi cho gần ép sát mặt đất, thế nhưng vẫn hề đổ xuống.


      Tia nắng đầu tiên xuất nơi đường chân trời, rọi đỏ cả đám mây nơi góc trời, ráng trời rực rỡ phủ trùm lên những cồn cát nhấp nhô trong sa mạc, khóm cây dương cằn cỗi, dải cát vàng như những vạt sóng, tất cả đều được nhuốm màu vàng gạch, sắc màu sặc sỡ, như bức tranh tráng lệ được trải ra giữa trời đất mênh mông.


      Mọi người muốn tránh cái nắng gắt giữa trưa, nên bộ suốt đêm, đương lúc mệt mỏi, được thấy cảnh sắc này, ai nấy đều phấn chấn tinh thần, Shirley Dương thốt lên: "Sa mạc đẹp quá! Lạy Chúa tôi! Mọi người nhìn cây dương kia kìa, trông như con rồng thần vàng óng sa mạc vậy", xong, liền lấy máy ảnh ra, bấm máy liên tục, hy vọng có thể lưu lại được cảnh sắc tuyệt đẹp này.


      Khi mọi người đắm chìm trong cảnh đẹp, tôi phát ra lão Anliman ngây người nhìn vầng mặt trời mới mọc, nét mặt thấp thoáng đôi chút bất an, liền chạy lại hỏi: "Sao vậy hả ông? Có phải sắp trở trời?" Vì hồi ở nhà tôi cũng có nghe "ráng sớm chớ ra đường, ráng chiều muôn dặm", ráng mây đỏ rực buổi sớm, chắc chẳng phải điềm tốt lành gì.


      Hôm nay là ngày thứ năm kể từ hôm xuất phát, và là ngày thứ ba kể từ khi tiến vào sa mạc đen, phía trước là di chỉ thành cổ Tây Dạ, chúng tôi vốn dự kiến ngày mai tới đó, nhưng lão Anliman bảo cơn bão này rất lớn, xây tường cát cũng khó chắn được, nếu mau chóng đến được thành cổ Tây Dạ, chúng tôi đều bị chôn sống trong sa mạc.


      Tôi nghe ông già vậy, biết chuyện này phải trò đùa, chỗ này cách di chỉ thành cổ Tây Dạ còn hơn nửa ngày đường, ngộ nhỡ đường xảy ra chuyện gì làm chậm trễ, chắc rắc rối to, thế nhưng suốt đêm, mọi người đều mệt phờ cả rồi, trong đoàn lại có người già và phụ nữ, liệu họ có tiếp tục kiên trì được hay , điều này khó vô cùng.


      Tôi nhảy lên lưng lạc đà định gọi mọi người mau khởi hành, lại thấy lão Anliman lưng lạc đà chậm rãi bước xuống, lôi tấm thảm ra, từ từ trải cát, quỳ lên , hai mắt nhắm lại, sắc mặt thành khẩn, dang rộng đôi tay hướng lên bầu trời, sau đó bưng mặt, cất giọng tụng kinh.


      Ông ta cầu khấn Đức Allah đây, mỗi buổi sáng đều phải cầu nguyện, tôi thấy ông lặng yên thư thái, tưởng rằng vụ sắp có bão gió tối nay mấy nghiêm trọng, nên cũng nhõm cả người, ra ngắm cảnh với Tuyền béo, Shirley Dương và mọi người.


      Ai ngờ lão Anliman cầu nguyện xong, dường như biến thành người khác, cả người ông già như lên dây cót, hai ba nhát cuộn xong tấm thảm, rồi bật nhảy lên con lạc đà như chiếc lò xo, sau đó huýt tiếng sáo dài: "Uýt... mau chạy mà, chạy chậm rồi bị chôn xuống cát đen à..." Lão thúc những con lạc đà phía dưới rồi chạy trước.


      Tôi chửi câu: "Mẹ kiếp lão già chết tiệt". Tình hình gấp gáp như thế, vừa nãy lão còn khoan thai cầu khấn, giờ lại chạy tót , rồi mới gọi mọi người lên đường.


      Lũ lạc đà cũng cảm nhận được tín hiệu nguy khốn truyền đến từ bầu trời, như phát điên, chúng sải bốn chân chạy thục mạng sa mạc, bình thường ngồi lưng lạc đà chậm bước, lúc la lúc lắc cũng thấy thú vị, nhưng khi chúng chạy xóc kinh khủng, chúng tôi ôm chặt lấy lưng lạc đà, chỉ sợ giữ chắc ngã xuống.


      Đoàn lạc đà chạy nhanh sa mạc, cát vàng bụi mù cuốn lên thành con rồng khổng lồ, mọi người đều đeo kính chắn gió, lại dùng khăn trùm đầu bịt mũi miệng. Tôi nhìn chung quanh, càng lúc càng cảm thấy có gì đó ổn, lũ lạc đà hoàn toàn thể khống chế, trừng mắt, thở phì phò, bám sát theo con lạc đà của lão Anliman, lao như cơn lốc, xem ra việc còn nguy cấp hơn nhiều so với những gì tôi nghĩ.


      Điều tôi lo lắng nhất chính là có thành viên nào đó bị lạc đà hất văng xuống, định hô cho lão Anliman phía trước chạy chậm lại chút, nhưng chẳng kịp mở miệng, mà căn bản là chẳng thể nào mở miệng nổi, bởi hễ mở miệng ra là cát bụi xối vào.


      Tôi chỉ có thể ngừng ngoảnh ngoảnh lại, đếm số người lưng lạc đà, chạy mạch đến giữa trưa, tuy lũ lạc đà dai sức, nhưng cũng mệt đến mồ hôi ròng ròng, thể chậm lại, cũng may là ai rớt đoàn.


      Lão Anliman bảo mọi người tranh thủ ăn mấy miếng lương khô, uống ngụm nước, phải lo hết nước, dưới di tích thành Tây Dạ, có thể tìm thấy mạch nước ngầm, ở đó bổ sung nước sau. Ăn no uống , để lũ lạc đà nghỉ ngơi lấy lại sức, cũng may cũng còn quá xa nữa, có điều vẫn phải lập tức chạy tiếp, nếu kịp.


      Mọi người lấy bánh và thịt khô ra, ăn quấy quá mấy miếng, tôi và Tuyền béo đều lo cho mấy tay trí thức này, lần lượt hỏi từng người xem có bị làm sao .


      Giáo sư Trần có tuổi, ngồi lưng lạc đà xóc lên xóc xuống, giờ thở hồng hộc chẳng được câu nào; nữ sinh Diệp Diệc Tâm trẻ tuổi nhất đoàn nôn ọe, hai người họ chỉ uống chút nước, chẳng ăn được gì.


      Khốn khổ nhất là Hách Ái Quốc, cặp kính cận của ta bị rơi mất, chẳng nhìn thứ gì, cứ cuống hết cả lên, may mà nghiên cứu sinh Táp Đế Bằng cũng cận, đem theo cặp kính đề phòng, độ cận thị của họ gần như nhau, nên mới giải nguy được cho Hách Ái Quốc.


      Shirley Dương và Sở Kiện, chàng cao to, chẳng hề hấn gì, đặc biệt là Shirley Dương, có lẽ có gen di truyền của người cha ưa mạo hiểm, mà cũng có thể vì ta sinh ra và lớn lên đất Mỹ, có tinh thần mạo hiểm mạnh mẽ, cơ địa lại khỏe khoắn, cả đêm ngủ, lại hùng hục rong ruổi sa mạc hơn nửa ngày trời, cũng thấy ta mệt mỏi, ngược lại thần sắc vẫn rất tươi tỉnh, còn giúp lão Anliman gia cố thêm đống đồ đạc lưng lạc đà nữa.


      cơn gió thổi qua đồi cát, cuốn lên những sợi cát mịn, chân trời xa xa, dần chuyển thành màu vàng nhạt, lão Anliman vội hô lớn: "Tín phong đến rồi à, đừng nghỉ nữa mà! Đức Allah phù hộ, chúng ta bao nhiêu người thế này, mau chạy mà!"


      Những thành viên của đoàn khảo cổ lê thân thể mệt nhọc, lần nữa trèo lên lưng lạc đà, lúc này chẳng còn để ý xem sức khỏe của lạc đà thế nào nữa, cứ thúc chạy nhanh.


      Vừa nãy bầu trời vẫn còn sáng trong, dường như trong nháy mắt tối sầm lại, cơn gió ập đến quá nhanh, bụi cát bị gió cuốn lên mỗi lúc nhiều, ba bề bốn bên ngập trong dải cát bụi mù mịt trời đất, tầm nhìn mỗi lúc bị thu hẹp. Trong cơn hỗn loạn, tôi lại đếm nhẩm số người trong đoàn, cộng thêm cả tôi, cả thảy tám người, ai đó rớt lại rồi?


      Gió thổi ngày dữ, cát xối tung trời, khắp nơi rặt màu vàng nhạt, tôi nhìn ai rớt đoàn, có điều đoàn lạc đà vừa mới rời khỏi đồi cát trăm mét, giờ quay lại kiếm người vẫn còn kịp.


      Người tôi nghĩ tới đầu tiên là Shirley Dương, ta tiền của bọn tôi coi như mất, thế nhưng ngay tức khắc tôi vứt ý nghĩ ấy ra khỏi đầu mình, quá ích kỷ, mạng người Mỹ cố nhiên quý báu, nhưng mạng người Trung Quốc chúng tôi cũng đâu phải lấy thóc lấy muối ra mà đổi được, thể để bất kỳ ai rớt đoàn được.


      Bên cạnh tôi là Tuyền béo, cũng là người duy nhất tôi có thể nhận ra, tôi muốn với cậu ta, nhưng gió cát xối xả, thể mở miệng, đành ngồi lưng lạc đà lấy tay ra hiệu, bảo cậu ta chặn lão Anliman phóng phía trước lại.


      Trong khoảnh khắc đó, hai mươi con lạc đà lại chạy xa hơn chục mét, tôi kịp nhận ra Tuyền béo có hiểu ý mình , vừa quay người bị văng khỏi lưng con lạc đà cắm đầu cắm cổ chạy.


      Vết chân của lũ lạc đà giẫm sa mạc bị gió cát thổi mờ, biến mất tức khắc, tôi đội gió đội cát chạy về hướng xuất phát, cảm thấy cơ thể mình mỏng như tờ giấy, mỗi bước đều làm chủ được, bất cứ lúc nào cũng có thể bị cơn gió dữ cuốn phăng , bên tai ngoài tiếng gió ra, nghe thấy bất kỳ thanh gì khác nữa.


      Chạy loạng choạng gần hai trăm mét, cuối cùng cũng thấy người nằm đụn cát ban nãy vừa nghỉ ngơi. Cơ thể người này bị cát phủ nửa, biết sống chết thế nào, tôi vội chạy lại, kéo người ấy ra khỏi đống cát.


      ra là giáo sư Trần, tình hình ông lúc nãy được ổn lắm, có thể lúc mọi người nhảy lên lạc đà, vì quá hấp tấp ông bị con lạc đà hất xuống. Giáo sư Trần vẫn còn sống, chỉ là sợ quá mà ra lời, thấy tôi chạy đến, lại ngất lịm vì quá kích động.


      Gió cát lúc này tuy dữ dội, nhưng tôi biết, đây chỉ là nhạc dạo cho cơn bão sa mạc phía sau, cơn bão dữ dội thực có thể ập tới bất cứ lúc nào. thể chần chừ dù chỉ giây, tôi vác giáo sư lên lưng, quay người lại nhìn, chuỗi dấu chân của tôi ban nãy vẫn nhận ra được, ông trời phù hộ, Tuyền béo chắc chắn phải ngăn lão Anliman chạy nhanh như cắt kia lại mới được.


      Tôi định cõng giáo sư Trần xuống đồi cát, nào ngờ cơn gió phía sau quá mạnh, vừa được bước, chân vững, cả hai cùng lăn tròn xuống dốc, trong gió cát mịt mùng, có người đỡ tôi dậy, Hóa ra Tuyền béo hiểu ý tôi, lấy dao chọc mạnh vào mông con lạc đà, đuổi kịp lão Anliman, kéo lão ta xuống, bầy lạc đà thấy con đầu đàn dừng lại, trong phút chốc đều đứng yên, chỉ có con bị thương ở mông là chạy như điên về phía trước, chớp mắt mất hút trong khoảng gió cát mênh mang.


      Cũng may mà bọn họ chưa chạy quá xa, nếu căn bản chẳng thể quay lại được, lúc này chẳng ai được lời nào, chỉ lấy tay ra hiệu, hiểu được hiểu, cứ làm theo là được, ai nấy đều chuẩn bị trèo lên lạc đà chạy tiếp.


      Nhưng lũ lạc đà dường như quá sợ hãi, chạy nữa, mặc cho lão Anliman có đánh đập thế nào, cũng nghe lời, dàn thành hàng, phủ phục mặt đất vùi đầu vào trong cát.


      đường chúng tôi thấy ít xương lạc đà trắng hếu, lúc chết, tư thế đều y thế này, giống như những tội nhân nhận hình phạt vậy. Lão Anliman bảo lũ lạc đà khiếp hãi trước gió cát đen của Hutai, chúng biết gió cát đen sắp tới, có chạy cũng vô ích, dứt khoát quỳ ở đây đợi chết cho xong.


      việc xảy ra quá đột ngột, chúng tôi bó tay hết cách, chẳng lẽ ngồi đây đợi cát vàng chôn sống hay sao? Mùi vị ấy chắc dễ chịu cho lắm. lúc khoanh tay bó gối, Shirley Dương bỗng kéo tay tôi, chỉ về phía Tây, ra hiệu bảo ra đó xem sao.


      Chỉ thấy trong gió cát ngập trời, cái bóng trắng khổng lồ tiến lại phía chúng tôi, khoảng cách rất gần rồi, nhưng tiếng gió quá lớn, chẳng ai nghe thấy được. Tôi rút súng trường đeo lưng lạc đà xuống theo phản xạ, khẩu súng nòng này được chuẩn bị để đối phó với bầy sói. Tất cả mọi người đều chẳng màng đến gió cát nữa, tập trung hết chú ý vào cái bóng trắng, đó rốt cuộc là thứ gì? Trông giống người cho lắm.


      Cái bóng trắng như hồn ma, trong nháy mắt đến bên cạnh chúng tôi, đó là con lạc đà cao to gấp ba lần lạc đà thường, lưng chỉ có bướu, toàn thân màu trắng tuyết, trong dải cát vàng lại càng thêm nổi bật.


      "Lạc đà hoang!" Mấy người biết loài lạc đà này cùng thầm thốt lên trong dạ.


      Lạc đà thường và lạc đà hoang ngoài thể hình khác nhau ra, điểm khác nhau lớn nhất giữa chúng chính là chiếc bướu lưng, lạc đà được con người nuôi có hai bướu, còn lạc đà hoang chỉ có .


      Qua lớp kính gió, tôi phảng phất như thấy đôi mắt lão Anliman lóe sáng, đó là những tia sáng vui mừng của kẻ tìm được sống trong cái chết, lão phấn khích hươ hai cánh tay lên giời ca tụng Đức Allah, những con lạc đà quỳ mặt đất dường như cũng được gọi dậy, nhấc đầu ra khỏi đống cát.


      Tôi tuy hiểu chuyện gì xảy ra, nhưng dùng trực giác lý giải hành động của chúng, chúng tôi vẫn còn cơ hội sống sót, chỉ cần theo con lạc đà hoang trắng như tuyết này là được, nó là loài động vật trong sa mạc này, chắc chắn biết ở đâu có thể tránh được gió cát đen của Hutai. Tôi lập tức ra hiệu cho những người còn lại trèo lên lưng lạc đà, chạy theo con lạc đà hoang phía trước.


      Lũ lạc đà cúi đầu, chạy sùi cả bọt mép, dốc hết sức lực còn lại, bám sát con lạc đà trắng, vòng qua đồi cát lớn, địa thế của sa mạc nơi đây đột ngột cao ngút, trong nháy mắt bóng con lạc đà trắng kia mất tăm.


      Tôi thầm than ổn, nó chạy mất dạng rồi, chúng tôi lại phiền to, xung quanh ngày tối dần, chẳng thể phân đâu là bầu trời, đâu là mặt đất, chỉ hai phút nữa, bão cát đen ăn sống nuốt tươi mọi sinh mạng ập đến.


      Chúng tôi chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, đoàn lạc đà nháo nhác đổi hướng, vòng qua núi cát cao ngất, tôi nhìn hai bên, thấy ngay cạnh có đoạn tường đổ nát, phía dưới là lô cốt lớn bằng đất đầm, ra đây là di tích của tòa thành cổ cỡ .


      Phần lớn kiến trúc bị cát vùi quá nửa, có những ngôi nhà sụp đổ, chỉ còn bức tường kiên cố sừng sững đứng đấy, mặc cho nắng gió bão bùng , chẳng biết trải qua bao nhiêu năm, chuyển thành màu sa mạc từ lâu. Từ xa nhìn lại, chỉ thấy đây là núi cát lớn, nhìn từ bên cạnh vĩnh viễn thể phát ra được tòa thành cổ này.


      Con lạc đà hoang trắng như tuyết kia vốn chạy vào đây lánh nạn, chẳng qua những bức tường đổ lụp xụp của tòa thành chặn mất tầm nhìn, khiến chẳng ai thấy được nó chạy đâu mà thôi.


      Tường thành là bức tường chắn cát cao ngất, nếu hỏi có thể trông cậy vào bức tường này để chống chọi với trận bão cát hiếm thấy trước mắt hay , theo cách của lão Anliman "còn phải xem ý của Hutai thế nào ". Tóm lại trong tình huống này, có được nơi lánh mình cũng coi như ông trời có mắt lắm rồi.


      Cả đoàn khảo cổ tạm xem như sống sót sau đại nạn, ai nấy mặt mày vàng nhợt, chẳng nhìn là do sợ hãi, hay là do cát bụi bám lên nữa.


      Mọi người leo xuống khỏi lưng lạc đà, lão Anliman ra lệnh cho chúng nằm phủ phục cạnh bức tường, sau đó dắt cả đoàn lần lượt trèo xuống căn nhà lớn qua cái nóc vỡ toang. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Thành cổ tuy có bức tường thành ngăn cản gió cát, nhưng có chỗ bị sập bị đổ, bao năm như thế, lượng cát lớn bị gió thổi vào thành, chất đầy trong những căn nhà vốn hư hỏng, tạo thành lớp cát dày đến hơn hai mét.


      Căn nhà lớn chúng tôi chui xuống lánh nạn, có thể là dạng nha môn hay tòa thị chính, gian tương đối cao rộng, tuy vậy, vẫn phải khom lưng xuống, chỉ cần hơi ngẩng đầu là đụng ngay phải rường nhà phía .


      Diệp Diệc Tâm, Hách Ái Quốc, mấy người sức khỏe tốt, vừa bước vào căn phòng nằm lăn ra đất, lôi bình nước ra uống, những người còn lại dìu giáo sư Trần xuống, thần trí của ông hồi phục, chỉ có điều hai chân mỏi rã. Tuyền béo thở dài tiếng: "Mạng của chúng ta coi như nhặt lại được rồi."


      Lão Anliman vừa vào phòng, lấp tưc quỳ sạp xuống, ma quỷ đến từ địa ngục đen tối thổi bão cát đen, đội ơn Hutai, đội ơn người phái lạc đà trắng may mắn tới, cứu chúng con thoát khỏi cơn ác mộng tai vạ này. Lão Anliman bảo lạc đà trắng bướu là linh vật thần kỳ nhất của miền sa mạc, Thành Cát Tư Hãn, vua Tây Hạ Lý Nguyên Hạo, đều có lạc đà trắng, nhưng chúng đều có hai bướu, tuy hiếm thấy, nhưng thể xem là thần kỳ.


      Nếu trong đoàn có người Hutai thích, chúng ta cũng thể gặp được lạc đà trắng, xem ra mấy người chúng ta đều là những tín đồ trung thành được Đức Allah chiếu cố, từ nay về sau mọi người phải coi nhau như em ruột thịt, đánh gãy xương còn liền gân. Lão Anliman vỗ ngực bảo đảm: "Nếu có nguy hiểm gì nữa, lão bỏ mọi người tự mình tẩu thoát đâu."


      Trong bụng tôi thầm chửi: "Mụ nội nhà lão, hóa ra lão già ngay từ đầu chẳng coi bọn ta ra gì, đảm bảo giờ mà có chuyện lão còn chạy nhanh hơn thỏ ấy chứ."


      Trong lúc chuyện, trận bão cát bên ngoài tới, cuồng phong gào rít, nghiêng ngả đất trời, chúng tôi ở trong di tích thành cổ cũng khó tránh khỏi kinh hãi, chi e ngộ nhỡ bão cát vùi lấp lối ra, chẳng phải chết ngạt ở đây sao? Thế là tôi bố trí cho Táp Đế Bằng, Tuyền béo, Sở Kiện, ba người thay nhau trông lỗ hổng nóc nhà, hễ có tình hình gì, là phải mau chóng thông báo cho mọi người biết để chạy ra ngoài. Nhưng trong lòng ai cũng , nếu cơn bão cát di chuyển cả sa mạc, bức tường thành phía trước bị nuốt trôi, chúng tôi có chạy được ra ngoài, cũng chẳng qua là tìm chỗ khác để chôn mình mà thôi.


      Dưới chân tường ngoài căn phòng mọc đầy cây ngải cát, loài cỏ khô, tôi lách người ra tiện tay ngắt nắm, lấy nhiên liệu rắn ra, nhóm ngọn lửa để mọi người sưởi ấm.


      Căn phòng cổ tối đen như mực, được ánh lửa chiếu sáng, Diệp Diệc Tâm đột nhiên nhảy phắt dậy, đầu đập vào rường nhà, suýt nữa ngất lịm, cây rường rơi xuống vô số bui cát, những người ngồi dưới đều đeo kính chắn gió, ai nấy đều bị bụi rơi đầy mắt.


      Mọi người vừa dụi mắt, vừa hỏi Diệp Diệc Tâm xem bị làm sao, có dở hơi .


      Mắt tôi cũng bị cát bay vào, chẳng nhìn thấy gì, bên tai chỉ nghe thấy tiếng Diệp Diệc Tâm run rẩy bảo: “Có xác chết ở góc tường bên phải!”


      "Xác chết?". Hách Ái Quốc vừa dụi mắt vừa hỏi: "Tâm ơi là Tâm, có cần thiết sợ đến thế ? Dân khảo cổ chúng ta lại sợ xác chết à?"


      Cát cũng bay vào mắt Diệp Diệc Tâm, nàng ôm đầu, xin lỗi : "Xin lỗi thầy Hách! Em... em ngờ trong căn phòng này lại có người chết, chưa chuẩn bị tâm lý kỹ càng... em... em xin lỗi..."


      Tôi nghe có cách chữa mẹo, khi bị dặm mắt, lập tức nhổ nước bọt là đỡ ngay, chiêu này trước đây tôi thử trăm lần cả trăm đều hiệu nghiệm, thế là tôi vội nhổ ngay bãi nước bọt, cảm giác dặm mắt lập tức giảm dần, chảy khá nhiều nước mắt, nhưng cũng có thể mở được mắt ra.


      Tôi vừa mở mắt, liền giật nảy cả mình, ra bãi nước bọt vừa rồi, nhổ đúng lên đầu Shirley Dương, ta là người ưa sạch , cho dù suốt ngày đêm trong sa mạc, nhưng nàng cũng luôn giữ thói quen vệ sinh sạch . Cũng may ta ngừng dụi mắt, trong lúc rối loạn để ý đầu mình bị người khác nhổ nước bọt vào.


      Tôi đành giả bộ có chuyện gì, vội lấy đèn pin trong túi đồ, lại chỗ góc tường, quả nhiên có bộ xương người. Khí hậu trong sa mạc khô nóng dị thường, chẳng thể nhìn ra người này chết bao lâu, chỉ thấy bộ xương trắng bị vùi nửa trong cát, nửa lộ ra ngoài, bình tĩnh xem xét, quả thực cũng rất đáng sợ, thảo nào Diệp Diệc Tâm lại nhảy bắn lên như thế.


      Lúc này những người còn lại cũng lần lượt mở mắt, lấy bình nước, dấp lên mắt rửa cho những người bị cát rơi vào quá nhiều, tôi bảo mọi người đừng lo, đây chỉ là bộ xương người, biết chết bao nhiêu năm rồi, đợi mọi người ăn uống nghỉ ngơi xong, đào cái hố chôn là xong.


      Thành viên đội khảo cổ, ngoài lão Anliman ra, đều là người thường xuyên qua lại với xác chết, chẳng có ai sợ hãi gì, chỉ là có chút nghi hoặc đối với bộ xương nằm đây thôi. Người chết ở sa mạc rất ít khi rữa nát, đại đa số đều bị gió ngoài tự nhiên hong thành xác ướp, nhưng bộ xương trắng này chẳng còn chút da thịt nào, chừng bị sói sa mạc ăn sạch rồi.


      Lão Anliman cho rằng điều này lấy gì làm lạ, lạc đà trắng chẳng phải chạy vào đây tránh bão cát đấy thôi, cũng may chúng ta theo được nó nên mới thoát nạn. Vùng này khác với vùng nửa sa mạc nửa hoang mạc ở Nhã Đơn, Lâu Lan, người ta tiến vào sa mạc đen miền Tây này, chỉ dám men theo đướng sông Khổng Tước cổ, dám rời xa nửa bước, chỉ dựa vào sức mình, căn bản thể tìm được tòa thành hoang phế này, nhưng những loài động vật trong sa mạc lại khác. Tòa thành hoang phế này, chắc chắn là nơi Hutai ban cho các động vật sa mạc để lánh nạn, chúng ta thấy đó thôi, chứ sau tường những căn phòng nát này, chừng có biết bao nhiêu là sói, dê vàng, báo tránh nạn... Bây giờ trời nổi bão cát lớn, động vật đều sợ mất mật, nên chẳng con nào nhăm nhe con nào, đợi khi bão tan, có lẽ xảy ra chuyện sói và dê vàng đều nấp trong căn phòng, khi ấy sói nhe răng ra, còn dê vàng cũng giương sừng đấu lại.


      Nghe trong những gian nhà này có ít thú hoang lánh nạn, mấy người nhát gan như Diệp Diệc Tâm đều hơi căng thẳng, lão Anliman cũng lo cho lũ lạc đà nấp sau tường thành, lão phải đội bão cát ra ngoài cột lũ lạc đà lại với nhau. Xem ra bão cát chấm dứt sớm, cũng biết phải nấp trong căn phòng này bao lâu, vậy là tôi bảo Tuyền béo và Sở Kiện cùng lão ra ngoài, nhân tiện khuân đồ ăn, nhiên liệu và túi ngủ vào đây. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Ba người đeo kính gió, lấy khăn trùm đầu che kín mũi miệng tai, trèo ra theo lỗ hổng nóc nhà. Độ hai tuần hương, bọn họ quay lại, mình toàn đất cát, Tuyền béo tháo khăn và kính, ngồi phệt xuống đất: "Gió thổi dữ lắm, nếu ba bọn tôi giữ chặt nhau, có khi nó cuốn cả ba lên trời rồi. Có điều ông già lừa chúng ta, lúc bọn tôi qua bức tường đổ, đằng sau đó có sáu bảy con dê vàng nấp, đợi lát gió dịu , tôi vác súng ra bắn hai con, mọi người ăn bữa thịt tươi, mấy hôm nay toàn là thịt khô, ăn đến phát ngán rồi."


      Lão Anliman nghe vậy kiên quyết phản đối: " thể được, thể được, cậu mà bắn, tiếng súng ấy mà, khiến lũ thú hoang lánh trong thành chạy hết à, chúng mà chạy, bị chôn sống trong cơn bão của ma quỷ à. Chúng ta và lũ động vật ấy cũng như nhau mà, đều là do Hutai khai ân, mới được trốn ở đây mà, cậu được làm vậy à."


      Tuyền béo đáp: "Được rồi được rồi, ông cứ ngồi yên , tôi cũng chỉ thôi mà, sao ông lắm lời thế, tôi tiếp tục ăn thịt khô, được chưa? Chắc đến nỗi cả thịt khô cũng cho ai ăn chứ?". đoạn liền lấy thịt khô, đồ hộp, rượu trắng phát cho mọi người.


      Chạy thục mạng trong sa mạc hơn nửa ngày, giờ lại bị bão cát vây khốn trong đống đổ nát của tòa thành vô danh này, ngoài Tuyền béo và lão Anliman, những người còn lại chẳng ai có bụng dạ ăn uống nữa. Tôi quan tâm đến giáo sư Trần, ông già cao tuổi nhất, trong sa mạc lại thiếu thuốc thang, tốt nhất là xảy ra chuyện gì bất trắc. Tôi cầm túi da đựng rượu đến cạnh giáo sư, khuyên ông uống vài ngụm cho đỡ mệt.


      Shirley Dương và Hách Ái Quốc đỡ giáo sư Trần ngồi dậy, mấy người học trò ngoài Sở Kiện đến lượt ra trông lỗ hổng nóc nhà ra, ai cũng quan tâm ngồi vây xung quanh giáo sư.


      Giáo sư Trần dường như hồi phục, uống lấy hớp rượu, rồi cười gượng: "Nhớ ngày trước làm công tác bên ngoài, sau đó bị nhốt vào chuồng trâu hơn ba năm, rồi lại đến nông trường cải tạo lao động xẻ núi đào đá, bao nhiêu tội vạ chịu đựng cả rồi, nhưng vẫn đứng dậy được. Giờ già rồi, vô tích rồi, hừ, hôm nay may mà có Nhất đây, , chắc cái tấm thân già này bị chôn sống trong bão cát rồi."


      Tôi an ủi ông mấy câu, bảo tôi thể lấy số tiền của Shirley Dương được, đây đều là chuyện trong phận , nếu ông cảm thấy thân thể khó chịu, chúng ta quay về sớm, vẫn còn kịp, chứ qua thành cổ Tây Dạ, là vùng trung tâm sa mạc đen, môi trường khắc nghiệt hơn đây rất nhiều, đến lúc ấy có hối cũng kịp nữa.


      Giáo sư Trần lắc đầu, tỏ ý kiên quyết tiếp, bảo mọi người chớ lo, bão cát như thế này trăm năm mới gặp lần, xảy ra thường xuyên, chúng ta lánh được, tai qua nạn khỏi, sau ắt có phúc lớn.


      Tôi định khuyên thêm mấy câu, Shirley Dương kéo tôi ra bên, : " Nhất, trước tôi thấy hơi trẻ để làm người dẫn đoàn, cũng lo đủ năng lực và kinh nghiệm, hôm nay tôi biết rồi, đoàn trưởng dứt khoát phải là . Tôi có việc này mong giúp, hôm nay chúng ta nếm mùi uy lực của thiên nhiên, sĩ khí của mọi người giảm sút ít, tôi mong có thể cổ vũ mọi người, khiến cả đoàn phấn chấn lại."


      Việc này dễ, nhưng bà chủ có lời, tôi cũng đành làm theo thôi. Lúc mọi người quây quần ăn uống, tôi mới : "Kính thưa... các đồng chí! khí của chúng ta lúc này có hơi trầm uất, dọc đường hành quân ta hát ca, là truyền thống tốt đẹp của quân ta, chúng ta hãy hát bài được nào?"


      Mọi người nhìn nhau, đều lấy làm khó hiểu, nghĩ bụng chúng ta trở thành quân nhân từ lúc nào vậy? Truyền thống tốt đẹp của quân ta có liên quan gì đến chúng tôi? Hát trong tình cảnh này? Nhất thời chẳng ai phản ứng kịp.


      Tôi nghĩ bụng hỏng rồi, ngớ ngẩn rồi, sao lại lôi cái trò ở đại đội ra đây, thế là vội chữa: " phải thế, là thế này, chúng ta chuyện phiếm được rồi, tôi tổng hợp báo cáo cho mọi người trận đánh ở tiền tuyến."


      Mọi người nghe tôi bảo định kể chuyện, đều thấy hứng thú, ngồi quây lại sát hơn, vừa ăn vừa nghe tôi : "Có lần, chúng tôi nhận được nhiệm vụ hết sức khó khăn, phải chiếm được cao điểm 306, cao điểm này có mấy chốt hỏa lực của quân địch, vị trí của bọn họ rất đẹp, nương dựa với nhau tạo thành góc chết, pháo đạn quân ta thể trực tiếp tiêu diệt, chỉ có thể phái bộ binh tấn công. Đại đội của tôi là đại đội 6, chúng tôi tấn công liên tiếp ba đợt, đều chẳng thành công, hy sinh mất bảy người, và hơn mười người bị thương. Đại đội chúng tôi là đại đội hùng nổi tiếng toàn sư đoàn, xưa nay chưa từng đánh trận nào dở cả, các chiến sĩ đều vô cùng suy sụp, chẳng phấn chấn lại được, tôi cuống lên, bỗng sư đoàn trưởng gọi điện, trong điện thoại chửi mắng té tát, hỏi đại đội có đánh được , nếu rút khỏi vị trí, rút luôn cả danh hiệu đại đội hùng , sư đoàn phái đại đội khác tới. Tôi nghe vậy đâu có được, liền gác máy, nghĩ ra cách, tôi bảo các chiến sĩ rằng, vừa rồi Quân ủy Trung ương gọi điện, bảo rằng bác Đặng Tiểu Bình biết kỳ tích của đại đội Sáu chúng ta ở tiền tuyến, bác khen đại đội Sáu đánh oai hùng, nhất định chiếm được trận địa. Các binh sĩ vừa nghe, liền hỏi, sao? Bác Đặng Tiểu Bình biết đến đại đội chúng ta cơ à? Thế ta thể để mất mặt bác Đặng được, bấy giờ mới lấy lại tinh thần, vừa xung phong lên chiếm được trận địa rồi."


      Mọi người trong đoàn khảo cổ nghe đến đây, đều cảm thấy phấn khích, rối rít hỏi tình hình cụ thể diễn ra ở tiền tuyến thế nào. Tôi với mọi người: "Các đồng chí, tôi kể câu chuyện này có ý rằng, có khó khăn gì có thể cản bước chúng ta, kẻ địch lớn nhất của chúng ta chính là bản thân mình, chỉ cần chiến thắng được sợ hãi của bản thân, chỉ cần khắc phục được nhược điểm của bản thân, nhất định giành được thắng lợi cuối cùng."


      Dưới khuấy động của tôi, bầu khí trầm uất lúc trước, cuối cùng cũng được phá vỡ, bão cát bên ngoài tuy dữ dội, nhưng những con người này còn căng thẳng như ban nãy.


      Ăn xong, đến lượt Táp Đế Bằng thay Sở Kiện đứng gác, tôi và Tuyền béo lo liệu cho bộ xương của người bị nạn, cứ phơi ra đấy, người trong phòng cũng thấy khó chịu, trước khi ngủ, cứ chôn hơn.


      Giờ thời tiết khắc nghiệt thế này, thể chôn bên ngoài được, chỉ có thể đào cát mà chôn thôi. Vừa đào được mấy nhát, xẻng công binh đụng phải đá, tôi cảm thấy có chút cổ quái, nền căn phòng này rất cao, trăm ngàn năm cát thổi vào chất đống lên lại càng cao, mới đào có mấy nhát sao đụng phải đá?


      Hất đất cát ra xem, chỉ thấy khối đá đen thui, đào tiếp sang hai bên lại chẳng thấy có đá nữa. Hách Ái Quốc và mấy người khác thấy vậy, cũng chạy lại giúp, cùng động tay động chân, đào sâu hơn nửa mét, trong cát vàng, lộ ra cái đầu tượng đá màu đen.


      Đầu người này phải to bằng hai cái đầu người bình thường cộng lại, mắt hình quả trám, thuôn dài, tỉ lệ quá lớn so với ngũ quan khuôn mặt, trông rất mất cân đối. Đỉnh đầu có mũ, chỉ vấn hai búi tóc, vẻ mặt hết sức thanh thản, có vẻ hỷ nộ ái ố gì, vừa giống như tượng thần được thờ cúng trong đền miếu, vừa giống như người đá đặt đường núi vào lăng tẩm cỡ lớn, nhưng phán đoán theo vị trí của tượng đá trong căn phòng này, khả năng thứ nhất có vẻ nhiều hơn.


      Tôi thắp ngọn đèn măng sông, giáo sư Trần đến xem, rồi bảo Hách Ái Quốc: "Cậu xem cái tượng đá này, có phải trước đây ta thấy ở đâu rồi nhỉ?"


      Hách Ái Quốc đeo cặp kính cận lên, xem xét cẩn thận: "À, đúng rồi, Tân Cương từng khai quật khu mộ hàng ngàn quan tài, trong ấy cũng có người đá giống y thế này, đôi mắt rất đặc biệt, khác hẳn với người thường, đây chắc là tượng đá mắt to đó đây."


      Ở các vùng Thiên Sơn, A Lặc Thái, lưu vực sông Hòa Điền thuộc Tân Cương cho đến vùng thảo nguyên Mông Cổ, đều phát ra tượng đá mắt to này, về nguồn gốc của chúng, nay thể khảo chứng, từng có học giả chỉ ra đây có lẽ là vị thần nào đó mà người Mông Cổ sùng bái. Theo sử sách ghi chép, ở sa mạc có hành cung bí mật của Hốt Tất Liệt, gọi là "Hương cung", tượng người đá này đầu tiên được thờ trong Hương cung ấy. Nhưng về sau trải qua bao nhiêu năm, theo cùng với phát của những di tích và mộ cổ có niên đại sớm hơn nữa, người ta đều thấy trong đó có tượng người đá mắt lớn, và đánh đổ giả thiết "Hương cung" kia. Có người bảo đây là di vật của người Đột Quyết để lại, nhưng cuối cùng cũng vẫn có cách giải thích xác đáng, đây thành ra trong vô số những bí khôn giải của lịch sử khảo cổ.


      Mấy sinh viên trong đoàn khảo cổ chưa từng thấy tượng đá mắt to, đều lấy bút ra ghi ghi vẽ vẽ vào vở, rồi bàn bạc định đào nốt đống cát phía dưới, để xem toàn thân bức tượng. Hách Ái Quốc giảng cho họ số kiến thức liên quan, bảo hôm nay mọi người mệt cả rồi, nghỉ ngơi trước , ngày mai đợi cơn bão kết thúc, thu dọn đống cát trong căn nhà, xem xem có phát được gì hay .


      Tôi chọn chỗ khác đào cát lên, chôn cất bộ xương của kẻ gặp nạn, mình người này có bất kỳ thứ gì có thể chứng minh được lai lịch và thân phận, ngay cả tấm bia mộ đơn giản cũng chẳng có cách nào làm cho người ta, hừm, ở nhà sống sung sướng có thích hơn , lại lang bạt trong sa mạc này để bị đày đọa, thôi hãy yên nghỉ ở nơi này !


      Tôi coi đồng hồ, xế chiều rồi, cơn bão cát ngoài trời vẫn rít lên ngừng, vả lại có chiều hướng càng ngày càng mạnh lên, chừng thổi cả đêm cũng nên.


      Ngoài Táp Đế Bằng canh gác ra, những người còn lại đều xoa cát mịn vào chân rồi chui vào túi ngủ nghỉ, cách này học được từ lão Anliman, ở sa mạc, nước là vàng ròng, rửa chân chỉ có thể dùng cát mịn. Tôi ra tìm Táp Đế Bằng gác dưới lỗ hổng trần nhà, bảo ta ngủ lúc, tôi gác thay.


      Tôi ngồi ở góc tường, ôm súng trường thể thao vào lòng, đề phòng có thú hoang đột nhiên lẻn vào tấn công, vừa hút thuốc vừa nghe tiếng gió rít ngoài trời, nghĩ chuyện giáo sư Trần và mấy người phải tiếp tục tiến sâu vào trong sa mạc, lại thấy đau đầu, ai mà biết phía sâu trong sa mạc đen kia chứa bao nhiêu nguy hiểm và cạm bẫy. Hôm nay gặp bão cát mà có ai thương vong, đây quả thực có thể coi là kỳ tích rồi.


      Tôi nghĩ đến ngây cả người, hút hết điếu này tới điếu khác, chẳng biết ngồi bao lâu, sắc trời ngoài kia đen kìn kịt, tiếng gió vẫn to như thế, tựa như tiếng gào khóc của vô số ma quỷ, chốc chốc lại có đám cát rơi vào trong các hốc trần, cơn gió này mà ngưng lại, e rằng bức tường đổ ngoài kia bị bão cát nuốt mất.


      Lúc này tôi phát ra Shirley Dương tỉnh giấc, thấy tôi ngồi canh ở góc tường, liền bước lại, xem chừng định chuyện vói tôi. Ngày thường, tôi rất ít khi chuyện với , chủ yếu là bởi và Tuyền béo, hai người hợp nhau, nhìn thấy nhau là thấy chướng mắt, cho nên ngoài những khi cần thiết, chúng tôi chẳng mấy khi chuyện với bao giờ, sai gì ta trừ tiền công, cũng đủ mệt rồi.


      Vì phép lịch , tôi chào , Shirley Dương bước tới hỏi tôi: " Nhất này, cũng nghỉ lúc , tôi trông thay hai tiếng."


      Tôi bảo cần đâu, đợi chốc nữa tôi gọi Tuyền béo ra gác thay, cứ nghỉ tiếp , thế nhưng ta lại ngồi đối diện với tôi, rồi bắt chuyện.


      việc tôi vẫn muốn hỏi ta, vì sao cứ phải tìm đến tòa thành cổ đó, có thể tòa thành ấy biến mất từ lâu lắm rồi, bao năm nay có ai nhìn thấy, bố và mấy nhà thám hiểm khác, chắc gì mất ở trong thành, trong sa mạc có thể gặp bất cứ nguy hiểm gì, muốn tìm lại di thể của những người gặp nạn lạc đường thực rất khó, vả lại trong sa mạc đen kia còn có trăm điều bí chưa lý giải được. Tôi từng đọc vài tờ báo, có ba nhà thám hiểm đến đấy, rồi mất tích, sau rất nhiều năm, người ta mới tìm thấy thi thể của họ bên rìa sa mạc, ba người đó đều chết do mất nước, nhưng kỳ lạ là trong bình của họ vẫn còn hơn nửa bình là nước. Những việc tương tự rất nhiều, hiểu biết của con người chúng ta về sa mạc quả còn quá ít, các loại động vật sa mạc rất nhiều, có những loài còn chưa phát được. Chúng ta cứ gắng sức tìm là được rồi, cho dù tìm được, cũng phải quá trách mình làm gì.


      Shirley Dương gật đầu: " rất có lý, nhưng tôi từ đầu chí cuối vẫn tin chắc đoàn của bố tôi tìm thấy thành cổ Tinh Tuyệt, bởi sau khi ông mất tích trong sa mạc, tôi chỉ lần mơ thấy hang động đen ngòm, miệng hang có treo cỗ quan tài lớn, quan tài khắc toàn chữ Quỷ Động, còn buộc rất nhiều xích sắt lớn, quan tài còn úp thứ gì đó rất lớn, tôi nhìn là thứ gì, mỗi lần định căng mắt ra nhìn cho vật ấy, là tôi lại tỉnh giấc. Hơn nửa năm nay, tôi hầu như đêm nào cũng mơ thấy cảnh đó, tôi tin rằng bố tôi báo mộng, cỗ quan tài ấy nhất định là của nữ vương Tinh Tuyệt."


      Tôi nghĩ bụng sao người Mỹ lại mê tín thế nhỉ, còn tin vào chuyện báo mộng nữa chứ, nhưng thấy vẻ mặt của nghiêm túc, nên dám phản bác, chỉ an ủi vài câu, rồi chuyển chủ đề, hỏi xem nước Tinh Tuyệt kia rốt cuộc là thế nào.


      Shirley Dương kể: "Bố tôi và giáo sư Trần là bạn thân lâu năm của nhau, hồi còn trẻ họ là bạn học, có chung niềm say mê văn hóa cổ Tây Vực. Năm 1948, bố tôi và gia đình di cư sang Mỹ, sau Cách mạng Văn hóa, ông mới lần đầu quay lại Trung Quốc. Hồi ở Mỹ, bố tôi từng mua lô văn vật, đều là văn vật quý giá được các nhà thám hiểm châu Âu khai quật trong sa mạc Tân Cương khoảng đầu thế kỷ 19. Những nhà thám hiểm châu Âu đó từng phát ra di tích thành cổ ở gần ốc đảo Nê Nhã, theo khảo chứng di tích và văn vật ở đó đều từ thời Hán, suy đoán dựa theo số manh mối, nơi đó rất có thể chính là di tích của nước Tinh Tuyệt, quốc gia cường thịnh nhất trong ba mươi sáu nước Tây Vực khi xưa. Bố tôi và giáo sư Trần trải qua nhiều năm nghiên cứu suy đoán di tích Nê Nhã bất quá chỉ là thành phố thuộc nước Tinh Tuyệt, còn thành phố trung tâm nước Tinh Tuyệt phải nằm ở phía Bắc Nê Nhã, hạ du sông Từ Độc. Bố tôi hy vọng trong lúc còn sống có thể đích thân tìm đến di chỉ thành cổ Tinh Tuyệt này, nên mới mạo hiểm tổ chức đoàn thám hiểm tiến vào sa mạc. Còn về thành cổ từng độ huy hoàng bậc nhất này, ghi chép còn giữ được tới ngày nay còn nhiều. Nước Tinh Tuyệt là thủ lĩnh liên minh các quốc gia vùng Tây Vực hồi đó. Những nước đó, nhìn theo con mắt bây giờ bất quá chỉ là vài tòa thành lớn hình thành cách tự nhiên tuyến đường thông thương mà thôi, mỗi thành coi như nước, nước lớn mạnh nhất trong số tất cả các nước kia chính là Tinh Tuyệt. Người Tinh Tuyệt chủ yếu là người dân tộc Quỷ Động, ngoài ra còn xen lẫn dân tộc thiểu số khác, sau khi vị nữ vương cuối cùng của nước Tinh Tuyệt chết , tòa thành này cũng chìm luôn trong biển cát. Là bị hủy hoại bởi thiên tai, hay bởi chiến tranh, đều thể biết được, cứ như quốc gia này chưa từng tồn tại vậy. Cho đến tận trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra, có nhà thám hiểm người , dẫn đoàn thám hiểm của mình tiến vào sa mạc Taklimakan, cuối cùng chỉ còn mình ông ta sống sót trở về. Thần trí của ông ta hoàn toàn suy sụp, nhưng qua mấy tấm ảnh trong máy cùng những dòng nhật ký, chứng thực được tồn tại của thành cổ Tinh Tuyệt là có . Cũng có người từng định tìm dựa theo manh mối này, nhưng ngay sau đó Thế chiến thứ hai bùng nổ, cho đến ba bốn năm gần đây các đoàn thám hiểm mới có cơ hội tiến vào sa mạc tìm kho báu và di tích." Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Shirley Dương lấy bọc đưa tôi xem, tôi đón lấy mở ra, bên trong là mấy tấm ảnh đen trắng hoen vàng, và quyển sổ cũ kỹ toàn tiếng . Nước ảnh rất mờ, thấp thoáng vẫn nhận ra trong bức ảnh là thành phố trong sa mạc, ở giữa là tòa tháp, chi tiết cơ hồ như đều thể nhìn .


      Tôi hỏi Shirley Dương, đây lẽ nào là... Shirley Dương gật gật đầu : "Đúng thế, đây chính là những tấm ảnh và nhật ký của ông Walt, nhà thám hiểm từng đích thân tới thành cổ Tinh Tuyệt, mà bố tôi mua lại từ nước . Những thứ này cũng cho chúng ta ít manh mối, chỉ có điều trong cuốn nhật ký này chỉ viết đến đoạn đoàn người tới hạ du sông Từ Độc và nhìn thấy tòa thành to lớn, chuẩn bị sáng sớm hôm sau tiến vào thám hiểm, sau đó chẳng viết gì nữa, biết họ gặp chuyện gì trong di tích thành cổ, và vì sao cuối cùng chỉ còn lại người may mắn sống sót nhưng thần trí thất thường trở về."


      Tôi và Shirley Dương cứ mải mê chuyện, tình cờ phát , ớ góc tường có đèn măng sông chiếu sáng, con mắt của tượng người đá mắt to có cái đầu to tướng kia hình như động đậy, ngày hai đêm chợp mắt, lẽ nào tôi hoa mắt ư?

    2. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 21: Thành cổ Tây Dạ





      Chiếc đèn măng-sông treo rường nhà bị cơn gió len lỏi qua vách tường thổi lung lay, ánh sáng chập chờn, làm căn phòng lúc tối lúc sáng, tượng đá đen thui tựa như người bị chôn sống, chỉ lộ ra cái đầu, phần còn lại chôn vùi trong cát.


      Tôi đến gần lại nhìn, ra mắt của người đá có con kiến lớn, to bằng đốt ngón tay cái, toàn thân màu đen tuyền, đuôi đỏ như máu, mỗi khi ánh sáng của đèn măng-sông lay lắt chiếu qua, lại lóe lên tia sáng yếu ớt, nhìn từ xa lại, trông như ánh sáng phát ra từ mắt của người đá.


      Tôi thấy chỉ là con kiến, bèn thuận tay búng cái, bắn văng nó xuống đất, giẫm chân lên cái, chỉ nghe tiếng “nhoét”, con kiến bị giẫm cho nát bét, nhưng thấy hơi là lạ, thân thể con kiến này cứng chắc hơn nhiều so với kiến thường.


      Tôi nhìn chung quanh, trong căn phòng nát chỗ nào cũng lọt gió, chẳng biết con kiến bò từ đâu vào, Shirley Dương chạy tới hỏi tôi xem có chuyện gì, tôi bảo chẳng có gì, chỉ là con kiến, tôi giẫm chết rồi.


      Tôi gọi Tuyền béo ngủ say giấc dậy, ra đứng gác, sau đó thêm ít nhiên liệu rắn vào đống lửa, để lửa to hơn chút nữa, rồi tắt đèn măng-sông , chui vào túi ngủ đánh giấc.


      Cơ thể mệt mỏi, liền ngủ ngay lập tức, khi tỉnh dậy hơn chín giờ sáng ngày hôm sau rồi, bão cát ngoài kia hoành hành suốt đêm, vẫn chưa chịu dứt, chỉ có điều sức gió hơn nhiều so với hôm qua, cơn bão quỷ quái này cuối cùng cũng sắp kết thúc rồi.


      Di tích thành cổ này phần lớn vùi trong cát, phần lộ lên khỏi mặt đất nhiều, thêm chừng hai đợt gió cát lớn thế này, chỉ e tòa thành cổ vô danh biến mất trong sa mạc, thế nhưng cho dù toàn bộ bị chôn vùi trong cát, nhưng cũng có nghĩa vĩnh viễn bị chôn vùi, Taklimakan có quá nửa diện tích là sa mạc lưu động, cùng với những dải sa mạc bị gió thổi bạt , biết sau bao năm nữa chúng lại ngoi lên hứng ánh mặt trời.


      Hách Ái Quốc chỉ huy mấy sinh viên đào pho tượng đá ở góc tường, đào được đến phần đùi của pho tượng, mọi người đều xúm lại xem, chỉ có lão Anliman tranh thủ sức gió yếu dần, chạy ra trông lũ lạc đà nấp dưới tường thành.


      Tôi lục túi lấy ít lương khô, vừa ăn vừa xem mọi người đào cát, theo đoàn khảo cổ vào sa mạc lần này, ngoài muốn xem xem có mộ cổ lớn nào , tôi cũng muốn học ít kinh nghiệm khảo cổ từ những chuyên gia này nữa.


      Họ sợ làm hỏng những nét điêu khắc thân tượng, chỉ lấy xẻng công binh gạt cát phía ngoài, sau đó dùng xẻng bằng và chổi làm sạch từng tí , đào lên được phần nào, làm sạch luôn phần ấy, đồng thời còn ghi chép rất tỉ mỉ nữa.


      Giáo sư Trần thấy tôi tỉnh, liền gật đầu chào, xem ra sức khỏe của ông còn ái ngại nữa. Ông bảo tôi giờ để mấy đứa học trò luyện tay luyện mắt chút, thêm ít kinh nghiệm thực tập, học lý thuyết tuy quan trọng nhưng nghề khảo cổ này, thực tập tại trường cũng quan trọng kém, nhìn nhiều, tiếp xúc nhiều, động tay động chân nhiều ở trường, mới có cảm giác trực quan, kết hợp với lý thuyết tiến bộ nhanh chóng.


      Chưa được chốc, mấy sinh viên làm sạch xong phần bệ tượng, tôi lần đầu tiên nhìn thấy loại tượng người đá mắt lớn này, bức tượng mặc quần áo người Hồ, hai cánh tay buông xuống, mình chạm khắc rất nhiều hoa văn, như thứ kinh văn Mật Tông gì đó. Theo giáo sư Trần, những văn tự này xưa nay chưa được giải mã, nhưng theo mở rộng của lĩnh vực nghiên cứu khảo cổ mấy năm gần đây, các chuyên gia cho rằng đây có lẽ là loại kí hiệu hay ám hiệu nào đó, ghi chép những thông tin về tôn giáo cổ xưa. Còn về việc vì sao lại khắc những kí hiệu này lên thân tượng, có lẽ liên quan đến việc cúng tế. Nhưng các tư liệu liên quan, các bức bích họa và cả sử sách đều thấy ghi chép, đến nay tất cả cũng chỉ là suy đoán mà thôi.


      Táp Đế Bằng ngồi bên cạnh nghe giáo sư giảng giải, cung kính hỏi: “Thưa giáo sư! Bức tượng đá này có tạo hình khác xa so với người thường, em cảm giác có thể thời cổ đại có dạng tôn giáo sùng bái người ngoài Trái Đất, sau khi họ thấy người hành tinh khác tới, tưởng họ là Chúa trời, rồi tạo ra loạt bức tượng kiểu này để lễ bái, những kí hiệu mình bức tượng này, có thể là dạng ngôn ngữ của người ngoài Trái Đất.”


      Hách Ái Quốc lập tức phê bình: “Cậu Bằng này, ngày thường cậu học hành chểnh mảng, bảo cậu bao nhiêu lần rồi, cậu là đứa thông minh, nhưng tư duy được lệch, lại còn lôi cả người ngoài hành tinh ra nữa, cần phải nghiêm túc đối với lịch sử, đối với ngành khảo cổ!”


      Giáo sư Trần hề bực tức, ngược lại còn nở nụ cười hiền hòa: “Có trí tưởng tượng phải xấu, thanh niên trai tráng, đầu óc nhanh nhạy, thế là rất tốt. Đoàn kết khẩn trương, nghiêm túc hoạt bát, hề mâu thuẫn đâu nhé! Có điều, chúng ta làm công tác khảo cổ, nghiên cứu lịch sử, nhất định phải tuân thủ nguyên tắc, đưa ra giả thiết táo bạo, nhưng phải chứng thực cách cẩn thận. Trí tưởng tượng phải được xây dựng chứng cứ thực, trí tưởng tượng mà thiếu chứng cứ đáng tin cậy. Chúng ta lấy bức tượng mắt to này ra nhé, người cổ đại thích đoán may rủi họa phúc thông qua các tượng thiên văn, cứ mỗi tối, họ lại dõi đôi mắt lên bầu trời sao, phải chăng họ hi vọng mắt mình có thể nhìn xa hơn nữa ? Khi tạc bức tượng này, liệu họ có gửi gắm ước vọng của mình vào đây ? Khả năng này là rất lớn, ở gò Tam Tinh, Tứ Xuyên cũng từng khai quật được số pho tượng kiểu này, hai mắt dài lồi cả ra ngoài, theo kiểu bảo thủ, điều này rất có thể là gửi gắm khát vọng tìm hiểu, khám phá thế giới của người xưa.


      Tôi nghe đến đây, liền hết sức thán phục, đúng là trình độ của giáo sư có khác, những lí lẽ đao to búa lớn, so với ông, Hách Ái Quốc kia vẫn chưa ăn thua.


      Giáo sư Trần tiếp tục : “Người ngoài hành tinh mà cậu , phải là có khả năng tồn tại, nhưng phải hễ nhắc đến họ lại nghĩ đến những câu chuyện khoa học giả tưởng được hư cấu trong tiểu thuyết nước ngoài, thực ra ghi chép sớm nhất về người ngoài hành tinh, xuất trong bích họa và bút kí của người Trung Quốc chúng ta. Từ bảy ngàn năm trăm năm trước, trong bích họa của bộ lạc nguyên thủy dãy Hạ Lan, xuất hình vẽ những nhà du hành vũ trụ mặc quần áo du hành, ra từ cái mâm tròn lớn, động vật và cư dân xung quanh đều chạy tán loạn khắp nơi, những điều này e rằng phải loài người thuở ban sơ có thể tưởng tượng ra được, đó có lẽ là bức bích họa mang tính ký lục, ghi chép lại kiện, giống như tai nạn to lớn xảy ra. việc tương tự cũng được ghi lại trong đỉnh vạc của thời Hạ, Chu, và số cổ thư khác…” Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Lúc này, ông già Anliman đội gió đội cát, nhảy từ cái lỗ trần nhà xuống, thông báo với mọi người rằng cơn bão cát sắp kết thúc rồi, đầy nửa tiếng đồng hồ nữa, trời nắng ráo, nhờ có Đức Allah phù hộ, cát sắp lấp đầy kín bức tường bên ngoài, nếu gió thổi thêm hai tiếng nữa, chắc hôm nay chúng ta bị chôn sống ở đây mất.


      Vốn dĩ mọi người vẫn có chút lo lắng, tuy thấy sức gió yếu dần, nhưng biết bao giờ mới dứt, giờ có lời này của lão Anliman, hoàn toàn yên tâm. Mấy cậu sinh viên tiếp tục chăm chú nghe giáo sư Trần giảng, tôi ngồi bên cạnh đống lửa đun ấm trà, chuẩn bị cho mọi người uống xong rồi lên đường.


      Trà vừa đun sôi, mấy người ngồi vây quanh bức tượng mắt to đột nhiên hét lớn, nhảy bật cả về phía sau, có người hét: “Ối… sao lắm kiến thế?”, người gào lên:”Ối mẹ ơi, ở đây cũng có này!”


      Tôi vội chạy lại xem sao, chỉ thấy nấm cát dưới chân bức tượng bỗng sùi lên bọc lớn, rồi tuôn ra như suối những con kiến bự, có người dùng xẻng đập, nhát chết hàng trăm con, nhưng cùng lúc ấy dưới cát lại đùn lên hàng nghìn con. Nhung nhúc nhung nhúc, nhìn sởn hết da gà.


      Ban đầu cứ tưởng bọn họ đào cát, đào phải ổ kiến, nhưng giờ lập tức phát ra phải vậy, dưới đất xuất mười mấy cái ổ lớn, càng ngày càng nhiều kiến trong đó bò ra, con nào con nấy đều thân mình đen bóng, đuôi đỏ chót, hai màu đen đỏ, cứ như vỡ đê, nước thủy triều tuôn ra ồ ạt.


      Lão Anliman chỉ nhìn cái rồi vội quay ngoắt đầu chạy ra ngoài, bọn Tuyền béo vẫn định dùng xẻng công binh đập tiếp, trong nháy mắt, lũ kiến nhiều đến nỗi trở tay kịp.


      Shirley Dương là nhiếp ảnh gia của tạp chí National Geographic, nhiều nơi, hiểu biết cũng rộng, chỉ nghe giọng cuống quýt gọi mọi người: “Mọi người mau trèo khỏi đây ra ngoài ngay, đấy là kiến lửa sa mạc, chậm nửa bước thôi chúng gặm ta thành xương đấy!”


      Hàng vạn con kiến lửa sa mạc dồn đầy nửa phòng, dưới đất vẫn ngừng đùn lên nhiều hơn nữa, mà chỉ có dưới đất, rường nhà, trong vách tường, đâu đâu cũng có kiến bò ra. Giáo sư Trần và Diệp Diệc Tâm mấy người khiếp hãi đến run rẩy hai chân, chẳng thể tiến lên được nửa bước.


      Chớ tới mấy tay trí thức, ngay cả tôi và Tuyền béo thế này mà vẫn run cả người, lũ kiến lửa sa mạc kia thực quá đáng sợ, chừng bộ xương người trong căn phòng này cũng chính là kiệt tác chúng để lại, thảo nào mà còn tí da thịt gì.


      Tôi cố gắng trấn tĩnh, nhìn mọi người chung quanh, phát lão Anliman lại bỏ chạy trước, lão già quỷ quyệt này, hễ thấy có nguy hiểm là chạy tót ngay, thế mà tối qua còn thề thốt bảo cùng mọi người đồng cam cộng khổ.


      Xem chừng những cú đập bằng xẻng công binh thể ngăn chặn nổi lú kiến lửa sa mạc ồ ạt như nước thủy triều này được nữa, tôi đá tung đống lửa đun trà lên, dốc nửa bình nhiên liệu rắn ra, tạo thành bức tường lửa trong phòng, bầy kiến chạm phải tường lửa lập tức bị cháy sém, trong giây lát chặn đứng được khí thế lấn át của chúng. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Lũ kiến quá đông, lại lao thẳng vào tường lửa với tinh thần quyết tử, hòng lợi dụng số lượng để dập tắt ngọn lửa, may mà nhiên liệu rắn có sức cháy rất mạnh, có điều việc lũ kiến tràn lên dập lửa cũng chỉ còn là chuyện sớm muộn mà thôi.


      Tranh thủ chút thời gian này, chúng tôi nhặt lấy những hành lý trang thiết bị có thể nhặt được, vừa kéo vừa lôi, chạy cả ra khỏi căn nhà nát, gió cát bên ngoài còn rất , chỉ thấy mấy trăm con dê vàng, lạc đà hoang, sói sa mạc, chuột sa mạc và thằn lằn sa mạc con nào con nấy chạy loạn xạ trong đống đổ nát. chỉ có căn phòng chúng tôi trú chân vừa nãy, mà giờ rất nhiều chỗ khác cũng đều đùn lên hàng vạn kiến, số con vật chạy chậm, lập tức bị cơn lũ kiến nuốt gọn.


      Trong miệng kiến lửa sa mạc có rất nhiều axit sinh học, hàng ngàn hàng vạn con cùng xông lên gặm nhấm, đến cả voi cũng chẳng chịu nổi, dê vàng và sói sa mạc ngã xuống đất ràm rạp, sau khi lũ kiến qua, chỉ còn trơ lại đống xương trắng.


      Số lượng lũ kiến lửa sa mạc trong thành này đâu chỉ triệu con, dường như cả tòa thành cổ là tổ kiến khổng lồ, chúng tôi bị vây khốn nóc nhà, chỉ còn biết vung xẻng công binh đánh bay những con kiến bò lại gần xuống.


      Dưới tường thành phía xa, lão Anliman vội vã cởi bỏ sợi dây thừng cột chặt đoàn lạc đà, tôi ném cây súng cho Tuyền béo: “Bắn vào mũ của lão!”


      Tuyền béo giơ khẩu súng lên, hề chần chừ, nhằm thẳng vào lão Anliman và lẩy cò, “đoàng” tiếng, chiếc mũ da của lão Anliman bị đạn hất bay lên , lão già sợ rụt cả cổ, quay đầu lại nhìn mọi người đứng nóc nhà.


      Tôi quát lớn: “Lão già kia! Lão mà dám bỏ chạy, phát súng thứ hai bắn vào mông lão, Hutai chắc chắn có ý kiến gì đâu.”


      Lão Anliman rối rít khua tay, tỏ ý bỏ chạy nữa. Nhưng dưới nhà ngập đầy lũ kiến lửa, chúng tôi tạm thời xuống được, đương lúc bối rối, bỗng thấy bức tường đổ rầm xuống, con kiến to bằng con dê (ặc ặc ) từ phía sau bò ra.


      Đây chính là kiến chúa, thân nó mọc sáu đôi cánh lớn trong suốt, có lẽ do cơn bão sa mạc kinh động đến con kiến chúa mình trong chốn thâm cung, nó chuẩn bị di chuyển.


      Thấy thanh thế của con kiến chúa, thành viên trong đoàn khảo cổ ai nấy mặt mày biến sắc, Shirley Dương hô lên: “Đánh rắn đánh dập đầu! Mau bắn chết con kiến chúa !”


      Tuyền béo vỗ vào khẩu súng hơi thể thao mấy cái, cuống quýt giậm chân: “Nòng súng này quá, mẹ kiếp, bắn nổi.” Tuy như vậy, nhưng cậu ta vẫn nổ súng bắn hết đống đạn còn lại vào con kiến chúa.


      Tôi gỡ tấm khăn dùng chắn gió cát xuống, bọc hết đống nhiên liệu rắn còn thừa lại, lấy bật lửa đốt góc của chiếc khăn, làm lựu đạn cháy ném xuống con kiến chúa bên dưới.


      Chiêu này thế mà lại đạt được kì tích, lửa cậy sức gió, phủ kín toàn bộ cơ thể con kiến chúa khổng lồ, nó đau rát, giãy giụa lăn tròn bãi cát, càng lăn ngọn lửa càng lớn. Loại nhiên liệu nén thành thể rắn này, chỉ cần miếng thôi có thể cháy mười mấy phút, huống hồ là hơn nửa thùng, cũng phải xấp xỉ ki lô gam. Lửa ngày lớn hơn, lũ kiến bốn phía xung quanh như vỡ tổ, nhao nhao cắm cổ lao về chỗ kiến chúa, hy vọng có thể dựa vào số lượng đông đảo dập tắt ngọn lửa.


      Tôi thấy cơ hội đến, liền vẫy tay bảo mọi người, đoạn vác xẻng công binh nhảy xuống trước đánh đuổi vài con kiến lửa sa mạc lẻ tẻ . Sở Kiện to khỏe cõng lấy giáo sư Trần, bọn Hách Ái Quốc, Diệp Diệc Tâm dìu dắt lẫn nhau , Tuyền béo cắt đoàn ở phía sau, đoàn người lao ra khỏi lỗ hổng.


      Bấy giờ lão Anliman khống chế được lũ lạc đà bị kinh hãi, mọi người leo lên mình lạc đà, thúc chúng chạy ra khỏi thành, xung quanh chốc chốc lại có những con thú hoang chạy băng qua, ngày thường mà đụng phải nhau thế nào cũng quyết phen sống mái, lúc này con nào lo thân con ấy, tất cả đều bỏ chạy thục mạng.


      Đoàn lạc đà chạy được mấy trăm mét, tôi quay đầu lại nhìn, chẳng còn thấy đống di tích đổ nát của thành cổ đâu nữa. Như những đợt sóng biển rặt màu đen đỏ chồm lên ập xuống, vô số kiến lửa sa mạc cuồn cuộn nổi lên khỏi mặt đất. Có điều chỉ cần bị chúng bao vây chẳng còn nguy hiểm gì nữa.


      Lão Anliman giải thích rằng lão định chạy ra trước, cởi dây thừng cột lũ lạc đà, nếu lũ kiến gặm chúng chỉ còn trơ xương, lúc ấy chúng ta có muốn bỏ chạy cũng chẳng thể chạy thoát, chứ phải lão đây định chạy trước.


      Tuyền béo tin, trỏ ngón tay cái vào khẩu súng lưng: “Lão đừng lải nhải với tôi làm gì, sau có muốn giải thích mà giải thích với khẩu súng này này!”


      Lý do của lão Anliman dường như rất thuyết phục, cũng thể nào nhận định rằng lão bỏ mọi người để bỏ trốn mình, về sau ở nơi sa mạc này còn có nhiều chỗ cần đến lão, tôi muốn vì việc này mà đôi bên trở mặt, vậy nên ngăn ngay Tuyền béo, để cậu ta thêm nữa.


      Tôi với lão Anliman: “Chúng ta cùng gặp lạc đà trắng trong cõi sa mạc này, lại thoát khỏi vòng vây của kiến lửa sa mạc, đó đều là ý của Hutai. Hutai cho rằng chúng ta là em, là những tín đồ trung thành, cho nên chúng tôi tin ông, kẻ phản bội em và bè bạn, ắt bị Hutai trừng phạt.”


      Lão Anliman rối rít bảo phải: “Lạy Đức Allah, Hutai là bậc chân chúa duy nhất. Chúng ta mà, đều là em bè bạn tốt nhất, tốt nhất của nhau mà, Đức Allah nhất định bảo vệ cho chúng ta mà.”


      Bản nhạc dài ngắn có xen những thanh kinh hãi đến đây kể như kết thúc, nhưng ai biết được ở thành cổ Tây Dạ tận sâu trong biển cát kia, còn có những rắc rối gì chờ đợi chúng tôi, tôi vẫn gắng nghĩ cách để khuyên đoàn giáo sư Trần quay trở về.


      Chúng tôi cách di chỉ Thành cổ Tây Dạ còn chưa đến nửa ngày đường, gió lặng , vầng dương như quả cầu lửa treo giữa tầng . trong sa mạc, điều quan trọng nhất là phải giữ cho mình có đủ nước, đường ban ngày vốn là điều tối kị, nhưng lượng nước của chúng tôi vẫn còn đủ, đến thành Tây Dạ lại có thể bổ sung nước ngọt, thế nên chúng tôi vẫn đội cái nắng gay gắt như lửa tiến sâu vào sa mạc.


      Ban ngày, cảnh sắc sa mạc cũng có vẻ đẹp riêng, thời thượng cổ, quá trình vận động dãy núi Himalaya hình thành nên bồn địa Tarim, địa hình của cả vùng Tân Cương giống như chiếc bát lớn, trong bát đựng đầy hạt cát vàng óng, còn đoàn chín người với mười chín con lạc đà chúng tôi quả thực quá bé , so ra còn chẳng bằng phần mười nghìn của hạt cát trong đống cát vàng đựng trong chiếc bát này.


      Sa mạc mênh mông, bờ bến, nếu có những vết chân trải dài phía sau, thậm chí còn chẳng thể nhận ra mình ngừng tiến lên phía trước, thế mới biết những nhà thám hiểm mình tiến vào sa mạc Gobi đáng phục nhường nào, có lẽ mình lang thang trong vòm trời đất, họ mới có thể hiểu được ý nghĩa chân chính của cuộc sống. Âu khâm phục khâm phục , song cả đời tôi bao giờ có ý định làm như vậy, cuộc sống tập thể vẫn thích hợp với tôi hơn.


      Bọn Táp Đế Bằng tính rất hiếu kỳ, vừa vừa đòi Shirley Dương kể về loài kiến lửa sa mạc, Shirley Dương cũng chưa từng tận mắt nhìn thấy bọn này, chỉ thấy những xóm làng sau khi bị lũ kiến tấn công, đều bị gặm cho trơ ra xương trắng, thê thảm vô cùng.


      Loài kiến này còn được gọi là kiến quân đội, bởi chúng vốn có tính tổ chức và kỷ luật cao độ, lấy kiến lính làm chủ, so sánh với quân đội của loài người, ngoài khả năng sử dụng hỏa lực và máy móc ra, khả năng tổ chức điều hòa quân đội của con người dẫu được huấn luyện thế nào, căn bản vẫn thể so được với chúng.


      Bọn họ vừa vừa , đồi cát dưới chân chốc thấp chốc cao, độ mấp mô lớn chưa từng thấy, lão Anliman dưới những gò cát chằng chịt này đều là những phố xá cổ bị cát vàng nhấn chìm, lão đẫn mọi người lên đồi cát cao nhất, rồi trỏ tay về phía Nam bảo, đó chính là trạm trung gian của chúng ta, di chỉ thành cổ Tây Dạ.


      Tôi giơ ống nhòm lên, nhìn về phía Nam, giữa biển cát mênh mông lên ốc đảo, thu gọn trong tầm mắt. Ốc đảo trong sa mạc, tựa như hòn lam bảo thạch đính bàn cờ dát vàng, xa xa nhìn lại, tòa thành đen xạm sừng sững giữa vùng.


      Di chỉ thành cổ Tây Dạ được bảo tồn tương đối tốt, niên đại của tòa thành này, cũng khá lâu đời, mãi đến tận cuối thời Đường mới bị ngọn lửa chiến tranh hủy hoại, hoang phế đến tận ngày nay. Đầu thế kỷ 19, các nhà thám hiểm người Đức phát ra nơi này, phần lớn các bức bích họa, tượng điêu khắc cùng các văn vật có giá trị nghệ thuật khác đều bị họ mang hết sạch.


      Giữa sa mạc chỉ trơ lại tòa thành trống rỗng, dòng sông Khổng Tước cổ xưa nhất đến đây là dừng. Vì từ xưa tới nay, quanh năm bốn mùa đều có mạch nước ngầm chảy dưới mặt đát trong thành, thế nên từ lâu nơi đây trở thành điểm cấp nước quan trọng cho những vị lữ khách sa mạc.


      Đoàn lạc đà rời đồi cát, chậm rãi tiến về phía ốc đảo, lão Anliman bàn bạc với chúng tôi, đến thành Tây Dajnghir ngơi hai hôm rồi hẵng tiến vào sa mạc đen, tiến vào rồi khó mà quay trở lại, mấy hôm nay lũ lạc đà cũng kinh hãi ít nhiều, lại phải thồ hàng đống hành lý, nhất thiết phải cho chúng dừng chân lấy sức mới có thể tiếp tục xuất phát.


      Lời này vừa đúng ý tôi, tôi chỉ mong dừng lại thêm vài ngày, còn dễ kiếm cớ khuyên đoàn khảo cổ quay trở về, khỏi phải kiếm tìm thành cổ Tinh Tuyệt gì nữa, đào hai ba cái hố ở gần đó là được rồi, cần gì mệt mỏi. Gần đây tôi càng ngày càng cảm thấy lực bất tòng tâm, nếu cứ tiếp tục sâu hơn nữa vào trong sa mạc, sớm muộn gì cũng xảy ra chuyện lớn, đến lúc đó, e rằng chẳng may mắn như mấy lần trước nữa.


      Tôi cho lạc đà bước chậm lại, song song với giáo sư Trần, với ông: “Giáo sư! Chúng ta tới thành Tây Dạ, cứ nghỉ dăm ba hôm, năm sáu hôm gì đấy rồi hẵng xuất phát có được ? Lão Anliman bảo bầy lạc đà mệt lử rồi, nếu để chúng nghỉ ngơi cho đủ chúng ta chắc phải chuyển sang lái xe số 11 thôi.”


      Giáo sư Trần nghe hiểu, hỏi lại: “Cái gì… số 11 cơ? Lái thế nào”


      Tôi đáp: “Giáo sư ơi có cái số 11 mà giáo sư cũng biết à, tức là bộ bằng hai chân ấy.” đoạn tôi lấy hai ngón tay bắt chước dáng của hai chân, “Đây chẳng phải là số 11 sao?”


      Giáo sư Trần cười lớn: “Chú Nhất ơi là chú Nhất, đâu ra cái từ mới mẻ thế? là thú vị. Được rồi, chúng ta cứ ở trong thành chỉnh đốn mấy hôm, tôi cũng muốn khảo sát di tích tòa thành nổi tiếng này đây.”


      đồi cát thấy ốc đảo cách chẳng bao xa, nhưng phải tận ba tiếng đồng hồ mới tới nơi. Tường thành xây bằng đá đen, có chỗ bị sụt lở phong hóa, tổn hại hết sức nghiêm trọng, chỉ có tòa thành chính nằm ở giữa được xây hết sức kiên cố, đâu đó vẫn còn thấy được dáng vẻ huy hoàng năm xưa. Các công nhân giếng dầu, đoàn thám hiểm, đoàn thăm dò địa chất, từng ngang đây, đều tá túc lại trong tòa thành chính này, chỉ cần lấy đá chặn cửa vào là có thể yên tâm bị lũ sói sa mạc tấn công. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Từ khoảng giữa thập kỷ bảy mươi, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng đều rầm rộ nổ ra phong trào diệt sói, những bầy sói lớn hoàn toàn tuyệt tích, còn lại chỉ có dăm ba con túm tụm thành bầy, hoặc chỉ con đơn độc, đủ tạo thành mối đe dọa. Huống hồ chúng tôi đông người, lại mang theo súng ống, đương nhiên chẳng lo sợ gì lũ sói.


      Bấy giờ đương mùa gió, nơi đây ngoài chúng tôi ra, còn ai khác lai vãng, bèn tìm lấy căn nhà rộng rãi trong thành, đốt lửa trại đun trà nấu cơm.


      Tôi và lão Anliman tìm được cái giếng cổ trong thành, nghe mấy ngàn năm nay, giếng này chưa từng cạn nước, lão Anliman bảo đây là thần tích của Hutai, tôi có ý kiến gì hết. Lấy thùng da múc lên thùng nước giếng, giếng rất sâu, thả sợi dây thừng dài tới mấy mươi mét mới nghe thấy tiếng thùng va xuống nước, sau khi kéo lên tôi uống trước ngụm, dòng nước mát lạnh, thấm vào tim gan, bao cái nóng nực vì bị ánh mặt trời chiếu gắt trong sa mạc bỗng chốc tan biến, trong lòng lâng lâng cảm giác thư thái chẳng được lên lời.


      Mười chín con lạc đà được bố trí cho nằm bên cạnh giếng, để con nào con nấy uống nước no nê xong, lại đem muối và bánh đậu cho chúng ăn, sau đó tôi và lão Anliman múc lên hai thùng nước giếng lớn đem vào gian nhà đoàn khảo cổ nghỉ ngơi.


      Mọi người mệt nhừ tử, nằm xuống đất là khò khò ngủ luôn, có người trong mồm còn cắn nửa miếng bánh, mới ăn nửa lăn ra ngủ rồi. Tôi muốn làm kinh động tới họ, mấy hôm nay họ chịu khổ chịu sở đủ rồi.


      Đun nồi nước lớn, bấy giờ mới gọi đám người giáo sư Trần dậy, bắt họ phải dùng nước nóng ngâm chân, bóc các mảng da tróc ra. Sau khi mọi việc đâu vào đó, tôi mới ngủ, nằm mê man chẵn ngày đêm, cuối cùng thân xác mệt nhoài cũng được phục hồi trở lại, buổi tối mọi người ngồi quây quần bên nhau nghe Tuyền béo bốc.


      Tuyền béo mồm mép như tép nhảy, kể cho mọi người nghe trong rừng già Đông Bắc sản vật phong phú thế nào, sơn hào mỹ vị ngon ra làm sao, đâu có như cái sa mạc này, toàn cát là cát, lại có gió to, bắt dê vàng ăn miếng thấy mồm đầy những cát. Đặc biệt là vùng Đại Tiều Hưng An Lĩnh, thứ gì ngon cũng có, từ xưa có câu thế này “Khua gậy đánh hươu, gầu múc cá. Gà rừng tự động nhảy vào nồi." Mọi người có tưởng tượng được cuộc sống tự do tự tại của những thợ săn là thế nào ?


      Mấy sinh viên còn non nớt, nghe Tuyền béo cứ tin sái cổ, Táp Đế Bằng hẩy gọng kính sống mũi, tò mò hỏi: “Đại ca Tuyền này, cái gì mà ‘khua gậy đánh hươu’ thế? Dùng gậy đánh à?”


      Tuyền béo đáp: “Bốn mắt ơi! Thấy cậu ham học, tôi cho cậu biết vậy, tức là bảo cậu ở trong rừng, cầm gậy khua bừa cái, là đập chết con hươu, ra sông múc nước, cứ vớt bừa cái, thế nào cũng vớt được con cá to, ý bảo là sản vật dồi dào mà!”


      Shirley Dương hừm tiếng, tỏ ra hết sức coi thường câu chuyện của Tuyền béo: “Sa mạc cũng có cái hay của sa mạc chứ, chủng loại động thực vật sa mạc đâu có ít hơn trong rừng, vả lại sa mạc Taklimakan tuy nằm ở nơi thấp nhất bồn địa, nhưng xét ở góc độ nào đó, nơi đây chính là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại, còn trong khu rừng kia ngoài hươu nai, gấu chó ra còn có gì nào?”


      Tôi sợ bọn họ xảy ra chiến tranh, liền bảo trong phòng có phụ nữ, em mình ra ngoài kia hút điếu thuốc, vừa vừa kéo Tuyền béo ra ngoài.


      trời trăng sáng như vẽ, sao giăng tựa gấm, soi khắp mặt đất màu sáng bạc, tôi châm cho Tuyền béo điếu thuốc, khuyên cậu ta nhường nhịn Shirley Dương chút. Tuyền béo bảo tôi cậu ta đương nhiên cháp ta, chuyện người Mỹ bọn họ hiểu, chúng ta cũng hiểu hay sao, huống hồ ta lại là phận nữ nhi, nếu là đàn ông con trai, vặn cổ y xuống đá bóng từ lâu rồi.


      Tôi cười rằng: “Đúng thế, đúng thế, cậu xem cậu là ai chứ! Tè bãi cũng thủng cả đất, là bậc quân tử phải độ lượng, đừng có vặn cổ em Shirley Dương làm gì, nếu thế tiền công của mình đòi ai đây? Hai mươi nghìn đô, con số đâu nhé!”


      Cười vài câu, tôi ngẩng đầu nhả vòng thuốc tròn vo , chỉ thấy giữa trời, ba sao Cự Môn, Tả Phụ, Hữu Bật lấp lánh, sắp thành hình tam giác đều, vùng trung tâm có sao Thái Dương, Thái cùng xuất , đúng là thế Càn Giáp Kim Cát.


      Trước đây tôi chưa từng nghiên cứu môn phong thủy thiên tinh, chỉ vì nhảy vào đoàn khảo cổ kiếm mấy đồng mới cắm đầu cắm cổ đọc qua vài lần, giờ nhìn bầu trời, nội dung của chương chữ Thiên trong quyển Bí thuật phong thủy lập tức lên trong đầu tôi.


      Tôi vội chạy về phòng lấy la bàn, leo lên nóc toà thành, đối chiếu các vì tinh tú trời, nơi cát tinh bao phủ, chính là chỗ cái giếng cổ trong thành. Đây là lần đầu tiên tôi thực hành coi phong thủy thiên tinh, cũng cầm chắc, nhưng quá nửa là thể lầm được, cuốn Thập lục dương phong thủy bí thuật của nhà tôi đâu phải sách tầm thường. Vậy ở gần mạch nước dưới đất thế nào cũng có mộ cổ? Các thế mồ mả cũng có thế ôm nước, nhưng liệu có gần quả hay ?


      Bất kể thế nào, đây cũng là phát trọng đại, tôi phải báo việc này với đoàn khảo cổ, tốt nhất là họ phát được gì đó ở đây, có thu hoạch, đại khái nằng nặc đòi tiến vào sa mạc đen nữa.


      Nghe tôi , giáo sư Trần lấy làm mừng rỡ, liền dắt học trò chạy bổ ra, chỉ chực chui xuống giếng nhìn ngó xem sao. Thành giếng và dây thép đều là do sau này sửa sang vào, chứ dây gầu và thành giếng trước kia chẳng biết bị huỷ từ đời nào rồi.


      Tôi bàn bạc với Shirley Dương, giếng rất sâu, có thể mắc khoá an toàn, đu người xuống dưới xem rốt cuộc có thứ gì.


      Vậy chỉ có thể là tôi xuống rồi. Phía dưới tuy có mạch nước, nhưng tôi vẫn dám sơ ý, bèn đeo mặt nạ phòng độc, cầm theo đèn pin, còi, xẻng công binh, dao găm, rồi ngầm giấu móng lừa đen và bùa Mô Kim vào người, tôi rờ tay kiểm tra độ chắc chắn của dây thừng, bàn cách liên lạc, nếu đèn pin chiếu lên xoay ba vòng, người bên thấy phải dừng thả dây; soi xoay tròn lần thứ hai kéo dây lên, để đề phòng bất trắc, tôi còn cầm cả còi, nếu mọi người thấy tia sáng phát ra từ đèn pin, tôi dùng còi liên lạc.


      giữa đêm, ngoài ánh đèn pin ra, dưới giếng tuyền màu đen kịt, ngẩng đầu lên cũng chẳng miệng giếng ở chỗ nào, càng xuống càng sâu, nhiệt độ của sa mạc về đêm lại rất thấp, lại cộng với độ ẩm trong giếng cao, khiến người ta cảm thấy lạnh thấu tận xương.


      Vách giếng trơn tuột, khó mà bám chân, nghe niên đại của cái giếng này còn lâu đời hơn niên đại của thành Tây Dạ, tức là cái giếng này có trước, sau đó mới có thành Tây Dạ. Bỗng đâu luồng gió lạnh thổi tới, tôi vội lấy đèn pin ra soi, thấy vách giếng có cánh cửa đá.


      Tôi ngẩng lên huýt còi và khua đèn pin, chỗ này cách miệng giếng xa lắm, chỉ độ mười lăm, mười sáu mét, lớn tiếng, người bên có thể nghe thấy. Mọi người nhận được tín hiệu, lập tức ngừng thả dây thừng, tôi vừa vặn cheo leo ở chỗ thấp hơn cửa đá chút.


      Gió lạnh thổi ra từ trong khe cửa đá này, tôi lấy tay đẩy cái, cảm giác cánh cửa rất dày, có khoá đá hay then đá, khe cửa tuy lớn, nhưng đẩy ra được, phài dùng xà beng mới mở ra được.


      Tôi thấy vào được, liền phát tín hiệu lần thứ hai, bảo họ kéo tôi lên. Tôi kể lại tường tận lượt tình hình dưới giếng, giáo sư Trần cứ lấy làm lạ: “Kỳ quái ! Đây có lẽ phải là lăng mộ, chắc là con đường ngầm gì đó, làm gì có mộ nào xây bên giếng, lại còn để lối vào kì bí như vậy nhỉ?”


      Tuyền béo vỗ ngực : “Kệ xác là cái gì, đoán già đoán non loằng ngoằng, chúng ta cứ vào là biết ngay. Mọi người thả tôi xuống, tôi cậy cửa ra cho!”


      Tôi đáp: “Thôi được rồi, nếu xuống vẫn để tôi cầm xà beng xuống, cậu nặng quá, ngộ nhỡ đứt dây, bọn tớ lại phải xuống vớt.”


      Lần này chúng tôi làm cái thang dây, như vậy sau khi cửa đá mở ra, ai muốn xuống cũng có thể bám dây thừng leo xuống, cuối cùng quyết định người xuống gồm giáo sư Trần, Shirley Dương, Táp Đế Bằng và tôi, tổng cộng bốn người, Tuyền béo và những người khác ở cả bên .


      Vẫn là tôi xuống trước, dùng xà beng cậy cửa ra, xem chừng cánh cửa này trước đây thường xuyên được đóng mở, nếu khe cửa chẳng to như vậy, có điều mấy trăm năm trở lại đây có thể chưa được mở lại lần nào, ở thang dây có chỗ tựa để dùng sức, muốn mở cái cửa này thực tốn sức lắm.


      Sau cánh cửa đá là lối bằng đá gạch, rộng rãi bằng phẳng, bên trong sâu tối đen hun hút, tôi vẫy tay gọi mấy người bên xuống, rồi kéo từng người vào trong.


      Shirley Dương phát loại thuốc viên cho mọi người, bảo để dự phòng khi thiếu oxi, đeo mặt nạ phòng độc lên nữa, lúc vào bên trong có gì sơ suất cả.


      Bốn người tiến vào trong chừng năm mươi mét, lần lượt qua hai cánh cửa đá, cánh cửa cuối cùng đóng rất chặt, bên còn khắc nổi những con thú kì lạ biết tên là gì, khe cửa có dán lớp da thú, phải dùng xẻng bằng cứa ra mới mở được cửa.


      sâu tận cùng, là bước vào căn phòng bằng đá rộng rãi khô ráo, diện tích chừng đến sáu bảy mười mét, cao ba mét, bốn người đứng ở bên trong hề cảm thấy bức bí chút nào.


      gian tuy rộng rãi, nhưng bầu khí lại chẳng nhàng, mặt đất chất đầy xương trắng, tìm được chỗ đặt chân, đống xương kia đều là xương động vật, mún xốp, giẫm xuống là vụn, bốn phía xung quanh lại có đến mấy mươi cây trụ gỗ dựng đứng, phía trói ngững thi thể khô đét, trông thể hình đoán chừng toàn là những chàng trai trẻ.


      Ba người tôi, giáo sư Trần và Shirley Dương đều là người từng trải, chỉ cảm thấy nơi này quỉ quái, chứ thấy sợ sệt gì, chỉ có Táp Đế Bằng thấy nhiều xác khô như vậy, sợ hãi được câu nào, giáo sư tới đâu, cậu ta theo đến đó, rời nửa bước.


      Shirley Dương nhìn kĩ những cái xác khô, than thở: “ thảm thương quá! Họ đều là những nô lệ hoặc là kẻ tù tội bị đem tuẫn táng đây mà, quá dã man!”


      Giáo sư Trần với mọi người: “Xem ra nơi đây là nơi tiến hành cung tế người rất quan trọng, đây là phong tục của nước Mặc thời cổ đại, những người này đều là tội phạm, bị trói phơi ở sa mạc cho đến khi chết khát, hoàn toàn khô đét, mới đem đặt ở trong đây, sau đó lại chém giết động vật lấy máu tưới lên mình những xác khô này. Chúng ta tìm tiếp xem, trong đây thế nào cũng có gian mộ.”


      Chúng tôi vòng, tìm khắp chỗ, bốn mặt đều là vách đá, gõ tay mấy cái, ràng là ruột đặc, bên trong chắc gian nào khác.


      Vẫn là Shirley Dương tỉ mỉ, phát ra dưới sàn có vấn đề, tôi gạt đống xương vụn ra, phía dưới liền lộ ra phiến đá chạm khắc phù điêu, hai đầu còn có hai vòng kéo.


      Tôi gọi Táp Đế Bằng lại giúp kéo phiến đá lên, thấy cậu ta run rẩy lập bập, tôi đến phì cười, đành cho cậu ta theo đường cũ trở lên, lại sợ vãi ra quần ở đây mất, tiện thể gọi Hách Ái Quốc xuống đây luôn, chàng này nhất định rất hứng thú đối với ngôi mộ quái dị này.


      Táp Đế Bằng như được ân xá, cuống quýt chạy về, giáo sư Trần vừa bực vừa buồn cười: “Ai dà, thằng nhóc này, nhát gan quá, có chất làm khảo cổ chút nào!”


      Tôi và Shirley Dương hợp sức kéo phiến đá dưới đất lên, kế đó vứt cây pháo sáng xuống, chiếu rọi bên dưới, chỉ thấy đó là hầm mộ rộng gần bằng căn phòng này, ở giữa có đặt cỗ quan tài gỗ hình vuông, có điều quan tài có hơi khác so với quan tài ở nội địa, có trang sức hoa văn, cũng phải hình chữ nhật, mà vuông vắn đều đặn, trông như chiếc hòm lớn.


      Loại hầm mộ cùng với hình thức quan tài này chớ tôi chưa từng thấy, ngay cả kiến thức uyên bác như giáo sư Trần cũng chằng thể nhìn ra đầu cua tai nheo gì cả, đây e rằng là hình thức mộ táng thất truyền của dân tộc nào đó thời cổ, chịu ảnh hưởng tương đối lớn của văn hoá Hán, nhưng rập khuôn, mà pha trộn thêm rất nhiều nét văn hoá tự thân của họ, quả là thực hiếm thấy vô cùng.


      Lúc này Hách Ái Quốc dẫn theo Sở Kiện chạy tới, ta vừa thấy tình hình bên trong, hai mắt liền phát sáng, đeo mặt nạ phòng độc vào, dẫn đầu nhảy xuống trước, xem chỗ nọ, ngắm chỗ kia, trông ra phía sau tíu ta tíu tít. Tôi trước giờ cứ tưởng ta là người nghiêm túc cổ lỗ, nào ngờ lúc này trông ta giống như đứa trẻ con, cứ hoa chân múa tay, vò đầu bứt tóc suốt.


      Chúng tôi cũng lần lượt xuống dưới gian mộ bên dưới, thoạt nhìn chung quanh, đều ghìm nổi kêu “A!” lên tiếng, bốn bức tường của gian mộ, toàn là những bức bích hoạ sặc sỡ, tinh tế vô cùng.


      Giáo sư Trần nhìn bức trong những bức hoạ ấy, xúc động nghẹn ngào: “Bức này… kiện bức hoạ này ghi chép, có liên quan đến nước Tinh Tuyệt đây này…”


      Thứ tôi muốn xem nhất là đồ tuỳ táng đáng giá, cỗ quan tài này , chừng bên trong có thứ gì hay ho, tuy trước mặt mấy người giáo sư thể thó được, nhưng cũng có thêr mở rộng tầm mắt. Lúc này tôi có cảm giác ngôi mộ quí tộc này còn xa hoa hơn ngôi mộ tướng quân ở Hắc Phong Khẩu nhiều.


      Nhưng giáo sư Trần xem bích hoạ ở vách gian mộ, để ý đến chỗ quan tài, tôi đành nhẫn nại chờ đợi, đứng nghe giáo sư Trần giảng giải cho mấy người kia nghe về nội dung bích hoạ.


      Mấy bức phía trước chỉ ra rằng ràng chủ mộ sinh thời là vương tử của nước Mặc. Mặc là nước phiên thuộc của Tinh Tuyệt, chịu đủ chèn ép, mỗi năm đều phải cống lượng lớn châu báu, bò dê, nô lệ, vị vương tử này từng thỉnh cầu nữ vương nước Tinh Tuyệt cho thần dân của ông ta được tự do, cả thảy ba lần, nhưng đều gặp được nữ vương.


      Bức tranh này đại khái rằng ông cam tâm, vị vương tử dũng cảm này là hoá thân của Thái dương Chiến thần, mình lẻn vào Tinh Tuyệt hành thích nữ vương độc ác, nhưng lại phát ra bí mật vô cùng to lớn.


      Tôi nghe lúc rồi cũng bị lời kể của giáo sư Trần cuốn hút, tò mò biết rốt cuộc đó là bí mật gì, vội chạy ra đứng cùng Shirley Dương và mấy người lắng nghe giáo sư giảng giải.


      Giáo sư Trần bước đến cạnh bức bích hoạ, xem xét kĩ lưỡng hồi lâu, rồi : “Bức này ý tứ rất là cổ quái, mọi người xem xem, trong tranh, vương tử nấp vào góc nhìn trộm. Mặt của nữ vương Tinh Tuyệt trong tất cả các bức hoạ đều che bằng mạng mỏng, trong bức này chỉ nhìn thấy sau lưng, bà ta tay vén mạng che mặt lên, người đối diện, hình như là nô lệ gì đó, liền biến thành cái bóng… rồi biến mất?”


      Tôi nghe thấy hồ đồ, định hỏi kĩ hơn, nhưng thấy Shirley Dương : “Nữ vương này là quái.”


      quái!?” giáo sư Trần nghe lời này sững lại trong giây lát, rồi với Shirley Dương, “Hay đấy, thử cách nghĩ của cháu xem!”


      Shirley Dương chỉ vào bức bích hoạ : “Vị hoạ sư vẽ bức bích hoạ này tay nghề rất cao, đường nét hoa lệ mà lại truyền thần, thuật lại những việc quan trọng trong đời của vị vương tử nước Mặc này, tuy có văn tự chú thích, nhưng vẫn rất ràng khúc triết.”


      Tôi vừa nghe Shirley Dương phân tích vừa nhìn bức hoạ kĩ hơn, quả đúng như lời , trong bức hoạ từ nhân vật, phục sức, kiến trúc, thần thái đều sống động như , nếu hiểu văn hoá Tây Vực, có thể dựa vào những thông tin trong tranh mà nắm được cách đại khái bối cảnh kiện bích hoạ miêu tả.


      Shirley Dương tiếp tục trình bày: “Vừa nãy giáo sư có bức hoạ này khó lý giải nhất trong các bức bích hoạ ở đây. Nữ vương vạch tấm mạng từ đầu tới cuối vẫn che gương mặt của mình ra, nhân vật đối diện bà ta, liền hoá thành nét phác mờ. Tất cả các nhân vật trong bức hoạ đều được vẽ bằng bút pháp tả thực, duy có nhân vật đối diện với nữ vương Tinh Tuyệt là vẽ bằng nét mờ, chỉ phác hoạ đường nét thấp thoáng phía ngoại, chỉ dựa vào những đường nét này, chúng ta thể xác minh được thân phận của nhân vật, chỉ có thể đoán nhân vật vẽ mờ này, đại loại là nô lệ hoặc thích khách gì đó, kẻ địch mà nữ vương muốn trừ khử.”


      Tôi nghe đến đây liền buột miệng chêm vào câu: “ Dương này, ý là… người trong tranh thấy mặt nữ vương, liền biến mất luôn?”


      Shirley Dương đáp: “Cũng đại loại như vậy, nếu dùng lời của tôi giải thích, tôi đôi mắt của nữ vương nhìn vào người này, người này liền biến mất luôn.”


      Tôi lắc đầu cười gượng: “Người sống sờ sờ ra, nhìn cái là biến mất luôn? Biệt tăm luôn? Việc này… việc này quá là… thể hiểu nổi, thực dám giấu tôi thấy hiểu chút nào.”


      Giáo sư Trần tựa hồ như hiểu được ý của Shirley Dương, bèn tỏ ý bảo tiếp.


      Shirley Dương : “Tôi vừa rồi tuy chỉ là suy đoán, nhưng phải là hoàn toàn vô căn cứ. Cha tôi sinh thời thích đọc cuốn sách tên là Đại Đường Tây Vực kí, do cao tăng Huyền Trang đời Đường viết, tôi cũng từng xem qua mấy lượt, trong sách ghi chép rất nhiều các truyền thuyết thần thoại, nhưng cũng ít là việc thực, trong đó có thành trì, trong thành là nơi cư trú của dân tộc đến từ lòng đất, bọn họ chinh phục và thống trị những nước xung quanh. Sau mấy trăm năm, vương vị được truyền cho nữ vương, tương truyền đôi mắt của vị nữ vương này, là con đường nối liền giới, bà ta chỉ cần nhìn kẻ địch cái, đối phương lập tức biến mất tăm mất tích, và vĩnh viễn thể quay trở lại, người bị biến mất đâu, e rằng chỉ có bản thân họ mới biết. Nữ vương thống trị rất hà khắc, bà ta bắt dân chúng ở các nước xung quanh, đều phải cung phụng bà ta như thần thánh, những kẻ phản kháng đều nhất loạt bị lột da xử tử, có lẽ hành động của bà ta làm cho đức Allah tức giận, nữ vương chưa hành hạ dân chúng được bao năm mắc phải bệnh lạ mà chết.


      “Những nô lệ kia sợ nhất là nữ vương, bà ta vừa chết , bọn họ liền bắt tay với các quốc gia bị nữ vương đè nén, tổ chức liên quân, tắm máu vương thành của nữ vương. Liên quân chuẩn bị phá huỷ lăng mộ của nữ vương, lúc ấy trời đất đổỉ màu, cơn gió cát đáng sợ nuốt chửng toàn bộ vương thành và liên quân, lăng mộ của nữ vương cùng vô số tài sản bà ta vơ vét được đều bị chôn vùi dưới lớp cát vàng. Qua mấy trăm năm sau, sa mạc lưu động, khiến vương thành lần nữa được trông thấy ánh mặt trời, số lữ khách ngang qua đó, chỉ cần lấy bất kì món của cải nào trong thành, gây ra gió bão, khói bụi mù mịt, và rồi lạc đường, kẻ lấy châu báu của nữ vương vĩnh viễn rời khỏi được nơi ấy.”


      “Nhưng thông tin về toà thành thần bí, nữ vương tàn ác và niên đại, bối cảnh đương thời đều được ghi chép chính xác trong sách, hôm nay nhìn thấy các bức bích hoạ này, đối chiếu với truyền thuyết cổ xưa kia, ngờ lại có nhiều chỗ hết sức giống nhau, khiến người ta có cảm giác đó chỉ là truyền thuyết, có lẽ trong lịch sử phủ kín bụi mù kia, quả thực từng xảy ra những kiện như vậy.”


      Shirley Dương để mọi người xem tiếp mấy bức còn lại: “Sở dĩ tôi dám khẳng định, nữ vương trong bức hoạ lâ nữ vương Tinh Tuyệt, là bởi phục sức của người Tinh Tuyệt rất đặc biệt, còn cả kiến trúc và các đồ trang sức độc đáo khác, những thứ này đều là những thứ có sức thuyết phục nhất. Giáo sư! Nhất! Mọi người tiếp tục nhìn thấy mấy bức bích hoạ phía sau này, chúng càng chứng minh suy luận của tôi là có thể tin cậy, ý tứ biểu đạt trong mấy bức hoạ này đều rất ràng, vương tử hành thích nữ vương thành, trở về nước vẫn bàn mưu tính kế tiếp tục tiêu diệt bà ta, bấy giờ vương tử gặp thầy bói đến từ đất nước xa xôi, thầy bói này bảo vương tử đem thuốc độc mạn tính đặc chế tẩm vào thịt dê vàng, sau đó đem tiến cống cho nữ vương. Quả nhiên lâu sau nhận được tin nữ vương đột tử. Cùng lúc ấy, vương tử cũng bởi lao nhọc quá độ mà qua đời sớm, vương tử và người vợ dấu của ông được hợp táng chung chỗ. Thầy bói thiết kế lăng mộ, an táng họ bên dưới đàn tế trong giếng thánh này.”


      Hoá ra đàn tế ở có trước, rồi mới xây dựng hầm mộ bên dưới, những kiện quan trong bích hoạ đều ăn khớp với những chi tiết ghi chép trong cuốn sách kia. Giáo sư Trần thấy Shirley Dương tuy là nhiếp ảnh gia, nhưng dù sao cũng xuất thân trong gia đình có truyền thống khảo cổ, hiểu nhiều biết rộng, bạn học cũ có đứa con như vậy, thực lấy làm an ủi lắm. Lúc này lại nhớ đến người bạn già mất tích trong sa mạc, bất giác nước mắt nhạt nhòa.


      Shirley Dương với giáo sư: “Bác nên giữ gìn sức khoẻ, đừng quá đau buồn, lần này chúng ta thu hoạch , có những tiến triển mang tính đột phá trong tìm hiểu di tích Tinh Tuyệt, cháu tin rằng lâu nữa, chúng ta nhất định có thể tìm được thành cổ Tinh Tuyệt. Cha cháu trời có thiêng, cũng có thể nhắm mắt được rồi.”


      Tôi nghe mà rầu hết cả lòng, vốn tưởng tìm thấy ngôi mộ cổ này, khiến bọn họ quay đầu trở về, nào ngờ việc chẳng như mong muốn, tình hình thế này, có khuyên họ nữa cũng vô ích, sớm biết như vậy ngay từ đầu cứ giả vờ thấy cho xong.


      Tôi đột nhiên nhớ Shỉley Dương bảo nữ vương của nước Tinh Tuyệt là quái, bèn hỏi: “ Dương này, tôi nhớ lúc trước lúc mấy người đàm luận có nhắc đến chuyện nữ vương Tinh Tuyệt là đệ nhất mỹ nữ của Tây Vực, những người con khác đứng trước bà ta, đều như trăng sao gặp phải mặt trời, lu mờ khuất lấp, giờ sao lại bảo bà ta là quái , chúng ta tìm mộ quái, chẳng phải là đến tìm cái chết hay sao?”


      Shirley Dương trả lời: “Những điều đó chỉ toàn là truyền thuyết, cộng với suy luận của chúng ta, chứ chắc có thể khẳng định đó là thực. Công việc khảo cổ là như vậy, các truyền thuyết, các ghi chép, cổ vật khai quật được, cộng với suy đoán của học giả, nội dung càng nhiều, càng tiếp cận được với chân tướng của lịch sử. Nhưng những gì chúng ta có thể làm, chẳng qua chỉ là tiếp cận chân tướng theo đường tiệm cận vô hạn, bất kì kiện lịch sử nào cũng chẳng thể nào được hoàn nguyên. Thời cổ đại, trình độ nhận thức của loài người đối với thế giới còn rất thấp, số tượng ngày nay coi là rất phổ biến, thời xưa đều bị khuếch đại lên thành ma quỉ quái hay thần tích, cho dù ngày nay, khoa học phát triển cao độ, vẫn còn vô số tượng chẳng cách nào lý giải bằng khoa học, tôi tin những tượng đó phải vì thực có thánh thần hay ma quỉ, mà chẳng qua vì lĩnh vực nghiên cứu của khoa học vẫn chưa đủ, năm tháng sau này, nhất định có thể tìm ra được đáp án của câu đố chưa thể giải được bằng con đường khoa học.”


      Tôi lại tiếp: “Vậy việc nữ vương Tinh Tuyệt trong chớp mắt có thể làm biến mất con người, chuyện này ở thời buổi văn minh và khoa học rất phát triển như ngày nay, phải lí giải như thế nào?”


      Shirley Dương đáp: “ Nhất, biết có nghe đến kiện từng ầm ĩ thời ở nước Mỹ nhỉ. Ở trung tâm nghiên cứu tượng và bệnh lí đặc thù tại bang Kansas Mỹ từng xuất bệnh nhân cực kì đặc biệt, đó là bé trai mười hai tuổi, từ năng lực kì dị, khi cậu ta nhìn chằm chằm lúc lâu vào vật thể có đường kính hơn 5 mm, vật thể đó biến mất, tựa như bốc hơi trong khí vậy. Hàng xóm coi cậu bé như loại dị chủng, bảo cậu ta là quái. Bố mẹ cậu bé cũng khốn đốn theo, nên rất hy vọng các cơ quan hữu quan của chính phủ có thể giúp họ chữa trị cho cậu bé.”


      Điều này quả thực là kì lạ, tôi trước giờ chưa từng nghe đến, chuyện trong nước Trung Quốc chúng tôi còn chẳng biết nhiều, huống hồ là chuyện lạ ở nước Mỹ, loại bệnh đó rốt cuộc là chuyện thế nào? Nghe ra thấy có vẻ giống nữ vương quái kia, thế cuối cùng đứa bé đó có được chữa khỏi ?


      Shirley Dương trả lời: “Trải qua nghiên cứu, các nhà khoa học phát ra sóng não của đứa bé trai khác với người thường, thần kinh não và thần kinh thị giác của cậu ta sản sinh ra loại năng lượng vận chuyển, loại năng lượng này kết nối với gian số ảo (vùng gian thể nhận tri). Khả năng đặc dị này chỉ chiếm phần ba tỉ trong loài người, cuối cùng có nhà nghiên cứu tìm ra cách, họ chế ra chiếc mũ từ tính đội lên đầu cậu bé, năm sau, khả năng đặc biệt của cậu bé liền biến mất. Hồi ấy quân đội Mỹ từng có kế hoạch bí mật đưa cậu bế đến Trung tâm Nghiên cứu Quân Quốc gia, nhưng việc bại lộ, trước làn sóng phản đối rầm rộ của dân chúng, bọn họ thể huỷ bo kế hoạch này.”


      Nghe câu chuyện này, lòng tôi lại thấp thỏm, ả nữ vương tà ác trong truyền thuyết kia, e rằng chẳng đơn giản như thằng bé người Mỹ. Chết tôi chẳng sợ, thảng như chúng tôi tìm được lăng mộ nữ vương, ngộ nhỡ bị bà ta cho biến đến nơi nảo nơi nào hay biết, phải làm sao? Dù sao cứ bước nào hay bước ấy , nếu thực nguy hiểm, tôi dùng thủ đoạn cứng rắn bắt họ lôi cổ về, xem ai dám nghe lệnh? Mẹ kiếp, tôi chẳng tin cánh tay của mấy tên trí thức này có thể vặn được đùi tôi, có mà tôi đập cho bằng chết ấy chứ.


      dông dài, lãng phí kha khá thời gian, các bức bích hoạ xung quanh nghiên cứu hết cả rồi. Tôi hỏi giáo sư Trần, mấy thứ trong quan tài, có xem nữa hay ?

    3. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 22: Sa mạc đen





      Giáo sư Trần xua tay lia lịa: " được mở! Quan tài hợp táng của hai vợ chồng vương tử nước Mặc này là quốc bảo đấy. giờ chúng ta chưa có đủ điều kiện, hoàn cảnh lại chưa thích hợp, mở ra gây hư hại quan tài bịt kín và những vật phẩm bên trong. Mục đích chuyến lần này của chúng ta là để nộp báo cáo đánh giá lên cấp , xin phép khai quật, hoặc xin bảo hộ những di sản văn minh cổ đại này. Khi quay về để Ái Quốc bảo ban bọn Sở Kiện làm tốt công việc ghi chép là được, còn báo cáo tôi đích thân viết lấy." Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Xem ra tôi có cơ hội xem những thứ trong quan tài này rồi, biết rằng giáo sư có lý, nhưng vẫn tránh khỏi thất vọng, cùng bọn họ leo lên căn phòng tế tự tầng .


      Cánh cửa đá gian nhà tế vốn được niêm phong bằng rất nhiều da thú, nhưng bị chúng tôi dùng xẻng cứa nát, giáo sư Trần bảo rằng lớp da này dùng để giữ cho gian cúng tế khô ráo, cách biệt với hơi nước trong giếng thánh. Người Mặc cổ đại dắt gia súc vào gian cúng chém giết, sau đó lập tức lột da chúng ra và dán lớp da còn nhầy nhụa máu nóng lên khe cửa đá, thịt và nội tạng của bò dê bị cắt sạch, chỉ để lại xương, cửa đá chỉ được mở trong lần tế tự sau. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Nghi lễ chém giết gia súc lột da cạo xương, trói xác khô lên cột gỗ, là để gìn giữ nguồn nước của giếng thánh, khiến nó bao giờ khô cạn. Người sống trong sa mạc thời xưa cho rằng linh hồn của cuộc sống đến từ dòng nước thần thánh, điều này đem so với thuyết khởi nguồn sống của Dawin ở góc độ nào đó rất gần gũi.


      Chúng tôi thể dùng lại số da thú kia dán lên khe cửa, ngoài lạc đà ra chung quanh còn loài động vật lớn nào khác, nhưng mười chín con lạc đà đối với chúng tôi,quý báu vô cùng, thể lột da chúng đem dán cửa được, đành dùng băng dính dán lên mấy lớp.


      Đoàn khảo cổ nghỉ ngơi trong thành Tây Dạ tròn ba hôm, rồi bắt đầu lên đường tiến về hướng Nam, cuối cùng cũng tiến vào biển cát mà người dân bản địa gọi là "sa mạc đen", ở đây thấy cây dương sa mạc nào nữa, cũng còn những đồi cát nhấp nhô cao thấp, các ụ cát xung quanh phẳng gần như nhau, giống như những chiếc bánh bao bẹp, mênh mông vô tận, dù nhìn theo bất cứ góc nào hướng nào, cảnh sắc đều giống như nhau, hề có chút dấu vết của sống.


      Tôi hỏi lão Anliman xem trước đây lão từng vào vùng sa mạc này hay chưa.


      Lão già cười gượng đáp: "Đây là địa ngục của cát vàng mà, ngay cả cụ già Hutai cũng muốn đến đó mà. Tôi mà, cũng chỉ có đến qua lần thôi, chính là cái lần này đây mà, nếu phải là mấy ông cán bộ nhà các , với con lạc đà trắng được Hutai dấu mà, tôi có chết trăm lần cũng đến đây đâu mà.


      Than vãn than vãn, dù sao Anliman cũng được người ta gọi là bản đồ sống trong sa mạc, tuyệt đối chỉ có hư danh, sa mạc đối với lão ta quá quen thuộc, giống như phụ nữ quen sắp nồi niêu bát đũa vậy. Tuy đây cũng là lần đầu tiên lão tới vùng sa mạc đen cấm kỵ này, nhưng đôi mắt tinh như cáo của lão, vẫn có thể phát những lùm cỏ dại, những cây táo gai trong vũng cát, dựa vào những lùm thực vật này, cùng với kinh nghiệm lăm lộn trong sa mạc nhiều năm, lão mới có thể dẫn đoàn khảo cổ tiến vào phía trước.


      Trong sa mạc có thủy hệ lớn nhất Trung Quốc, nhưng các hệ thống nước như sông Tarim đều chảy ngầm trong cát. Bề ngoài là sa mạc có cây sinh sống, nhưng sâu trong lòng đất, có lẽ lại là dòng sông ngầm tuôn chảy cuồn cuộn.


      số loài thực vật sinh trưởng trong sa mạc, đều dựa vào chút hơi nước bốc lên từ mạch nước ngầm dưới đất, cố gắng sống sót cách ngoan cường. Thực ra nơi đây ngoài số ít thực vật ra, cũng có rất nhiều động vật, nhưng quá nửa đều chờ đến ban đêm lạnh lẽo mới mò ra kiếm ăn.


      Vào thời Hán thậm chí còn sớm hơn nữa, Taklimakan được gọi là "khu vườn cổ xưa", bấy giờ mức độ sa mạc hóa ở nơi đây còn chưa nghiêm trọng, dòng sông còn chưa chìm xuống lòng đất, khắp nơi đều là những ốc đảo với những thị trấn, thành lũy, chùa chiền, dịch trạm. Vô số đoàn lái buôn đem theo tơ lụa, hương liệu, lá chè qua lại nơi đây, cho tới thời Nguyên, ông Marco Polo người Ý còn theo đoàn buôn qua con đường này tới Trung Nguyên.


      Đến thời Minh, đế quốc Ottoman bắc ngang hai vùng Âu Á trỗi dậy, chiến tranh cản trở con đường thông thương giữa Châu Á và Châu Âu. Thời đại ấy là thời đại của biển cả, các nhà hàng hải mở ra tuyến đường mới, con đường giao thương chủ yếu chuyển từ lục địa ra đại dương, thời vĩ đại ấy còn được gọi là thời đại của những phát địa lý lớn.


      Cộng thêm với việc sa mạc xâm lấn ngày nghiêm trọng, môi trường sống khắc nghiệt, các quốc gia lớn trong sa mạc suy bại hoàn toàn, phồn thịnh và huy hoàng năm xưa bị Chúa trời đem mất.


      Sa mạc đen là nơi bị các thần bỏ rơi trước nhất, nền văn minh nơi đây đến thời Tấn là chấm dứt, cho đến tận ngày nay, sa mạc đen vẫn chìm trong khi u uất của chết chóc.


      Ngày đầu xuất phát, chúng tôi đón những cơn gió cát miên man, sắc trời vàng nhạt, nhưng gió lớn, lại vừa vặn che mặt trời, nên có thể rảo bước vào ban ngày.


      Shirley Dương cầm cuốn sổ nhà thám hiểm người để lại, vừa vừa bàn bạc với lão Anliman về lộ tuyến. Trong cuốn sổ ghi rằng, sau khi rời khỏi thành Tây Dạ, các nhà thám hiểm phát ra nơi gần đó có rất nhiều mộ đá, họ định sau khi quay trở lại tiến hành khai quật, cho nên trong cuốn sổ có vẽ tỉ mỉ đường .


      Kinh nghiệm của lão Anliman cộng với cuốn sổ của Shirley Dương, tuy thể định vị cách chính xác, nhưng về khoảng cách và phương hướng, giúp đỡ chúng tôi rất nhiều.


      Buổi tối khi cắm trại, lão Anliman tìm thấy vùng gồ hẳn lên, mọi người đắp bức tường chắn cát gò, bố trí xong xuôi cho lũ lạc đà, rồi mới đốt lửa sưởi ấm ở phía khuất gió của đồi cát.


      Ngày hôm nay đường vất vả, tuy gió lớn, nhưng khiến ai nấy đều sốt hết cả ruột, lão Anliman lèm bèm bảo giờ là mùa gió, ở sa mạc trung bình hai ngày lần lại có thời tiết thế này, khi có gió, cái nắng gay gắt của mặt trời hong khô cả giọt nước cuối cùng mình lữ khách.


      Tuyền béo bảo: "Nóng chút lại hay, toát mồ hôi giảm béo được, tắm nắng chút cũng sướng chứ cứ gió máy thế này, dọc đường chẳng được câu nào, buồn bực chết mất."


      Lão Anliman bảo cậu ta chẳng hiểu gì hết, đây mới chỉ là rìa sa mạc thôi, thêm năm ngày nữa mới coi như vào sâu, tuy tôi chưa từng vào bao giờ, nhưng cũng quen biết với số người bạn từng đáo qua đây, bọn họ đều là những kẻ may mắn sống sót trở về từ sa mạc đen đó.


      Chỗ đáng sợ của sa mạc đen, phải những bãi cát lún nuốt chửng người ta, cũng phải bầy kiến gặm kim loại có thể tiêu hóa sạch cái ô tô, cũng phải bão cát đen. Tương truyền ở sâu trong sa mạc này có vùng đất mộng ảo, người ta vào đó, nhìn thấy ao hồ, sông ngòi, mỹ nữ, thú thần, núi tuyết, ốc đảo, những người vừa khát vừa mệt đó hiển nhiên chạy thục mạng bám theo những cảnh đẹp đó, nhưng cho đến lúc chết vì mệt vì khát, cũng thể đến đó được. Kỳ thực đó đều là những cạm bẫy của ma quỷ, dụ dỗ con người vào chết ở trong đó. Nhưng Hutai phù hộ cho chúng ta, Allah hu am!


      Shirley Dương rằng: "Thứ mà họ nhìn thấy có thể là ảo ảnh. Những người hiểu biết, quả thực rất dễ bị mê hoặc."


      chuyện, Diệp Diệc Tâm chạy tới kéo Shirley Dương qua bên,hai người thầm vài câu, Shirley Dương quay lại bảo tôi: "Chúng tôi ra sau ụ cát có chút việc."


      Tôi biết có thể là Diệp Diệc Tâm muốn vệ sinh, ta nhát gan dám mình, nên kéo Shirley Dương cùng, liền gật đầu dặn: "Mang theo đèn pin và còi, có việc gì phải ra sức thổi, mau về mau nhé."


      Shirley Dương "ừm" tiếng rồi cùng Diệc Diệp Tâm nắm tay nhau ra phía sau ụ cát xa.


      Tuyền béo hỏi tôi còn rượu . Tôi bảo hết rồi, có đem theo thùng rượu trắng chắc cũng chẳng đủ cho cái miệng tham lam của cậu đâu, uống mấy ngụm nước nóng rồi mau ngủ ,qua năm sáu hôm nữa mà tìm thấy nguồn nước, lượng nước cấp cho mỗi người hàng ngày cũng phải cắt giảm nữa đấy.


      vậy cũng là để dọa Tuyền béo thôi, chứ dù tìm được sông ngầm trong sa mạc, tôi cũng có cách bảo đảm cho tất cả mọi người đều có lượng nước uống tối thiểu.


      Nhưng đó là cách vạn bất đắc dĩ, rất phiền phức, nhưng đúng là hữu hiệu, hồi trong quân đội tôi học được cách cầu sinh trong hoang mạc này.


      Lão Anliman thoạt đầu sống chết cũng chịu vào sa mạc đen, trong đó nguyên nhân chủ yếu là bởi sa mạc đen có nước ngọt, dưới lòng đất tuy có sông ngầm, nhưng căn bản thể đào sâu đến thế được, từ chỗ rễ cây saxaul, loại cỏ hoang mạc, đào xuống dăm ba mét bên dưới cũng chỉ có cát ẩm và nước mặn, càng uống càng thêm khát.


      Cách này lão Anliman cũng biết, tôi và lão tao nghiên cứu tính khả thi của nó nhiều lần, rồi ngầm mặc định với nhau, nếu đến nơi mà ngay cả cây saxaul cũng mọc được, tiến thêm nửa bước, lão ta mới đồng ý.


      Những quân nhân được huấn luyện để sinh tồn trong sa mạc đều biết rằng, phía dưới lớp cát quá sâu của sac mạc Tân Cương, có nhiều nước muối mặn mang hàm lượng chất khoáng lớn, đào dưới gốc các loài thực vật trong sa mạc, có thế lấy được cát ẩm và nước mặn, sử dụng biện pháp chưng cất đơn giản bằng ánh sáng mặt trời rồi lọc lại được ít nước ngọt, tuy ít, nhưng đủ để duy trì sống.


      Lúc này gió cát thổi mạnh hơn, phía sau ụ cát đối diện bỗng có tiếng còi ré len, mọi người thất kinh,v ội tiện tay vơ xẻng công binh, súng hơi chạy thẳng tới nơi xảy ra cố. Cũng may chỗ đó cũng gần, cách chưa tới hai trăm bước, ba bước chạy thành hai bước,phút chốc tới nơi.


      Chỉ thấy nửa thân người Diệc Diệm Tâm chìm trong cát, nàng ngừng giãy dụa, Shirley Dương nắm chắc cánh tay ta, cố sống cố chết kéo ra ngoài.


      Trong lúc rối ren chẳng biết ai hét lớn: "Cát lún"


      Chúng tôi lần theo dấu chân cát xông lên trước, bất chấp tất cả gắng kéo Diệp Diệc Tân lại, có mấy người kịp tìm dây thừng, liền cởi thắt lưng ra, định buộc vào tay .


      ngờ cũng chẳng cần tốn sức lắm, kéo được Diệp Tâm lên, xem ra phải là cát lún rồi. Diệp Diệc Tâm sợ quá đâm bổ vào lòng Shirley Dương khóc nức nở.


      Mọi người vội hỏi xem có chuyện gì, có phải cát lún hay . Shirley Dương vừa an ủi Diệp Tâm vừa kể: "Chúng tôi vừa ra sau ụ cát, Diệc Tâm hẫng chân, trôi cả nửa người xuống dưới, tôi vội giữ chặt tay ấy, rồi thổi còi kêu cứu. Nhưng hình như đây phải vũng cát lún, tốc độ nuốt của cát lún rất nhanh, lực hút lại lớn, nếu đúng là cát lún, sứ tôi căn bản thể nào giữ ấy lại được, vả lại Diệp Tâm trôi nửa người xuống, dừng lại, dường như phía dưới có thứ gì đó chắc chắn. Nếu mọi người nghe báo hiệu chạy đến, cũng phải mất mười mấy giây, muốn cứu người chắc muộn rồi. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Diệp Diệc Tâm cũng bình tĩnh lại, lau nước mắt : "Hình như em giẫm phải phiến đá lớn dưới lớp cát, dưới phiến đá có khoảng trống, em vừa đặt chân lên liền sụt xuống luôn."


      Shirley Dương lấy làm lạ: "Lẽ nào đó là mộ đá? Chúng ta thử xem xem!"


      Chúng tôi dùng xẻng đào chỗ ban nãy Diệc Tâm mắc kẹt, dưới lớp cát vàng dày lắm, song song với triền dốc của đồi cát, quả nhiên lộ ra bức tường đá thoai thoải, tường xuất lỗ lớn do người ta nổ mìn.


      Xem chừng thời gian nổ mìn chưa lâu, chắc cũng trong mấy hôm nay thôi, gió cát phủ lớp cát mỏng lên miệng hố, Diệp Diệc Tâm giẫm phải hố này và bị kẹt ở đó.


      Mọi ngươi ngắm cái hố đá, rồi nhìn nhau, đây ràng là ngôi mộ đá, lẽ nào bị trộm rồi?


      Tôi kiểm tra đá vụn bên miệng hố và hướng của xung lực khi nổ, kíp nổ có định hướng chính xác. Tôi làm lính công binh bấy nhiêu năm, tự cảm thấy trình độ sử dụng thuốc nổ của mình ai bì được, nếu để cho tôi phá nổ mộ đá này, cùng lắm cũng chỉ đến mức này mà thôi.


      Xem ra kể cho nổ mộ rất am hiểu đặc tính chịu lực của chất đá, thuốc nổ chỉ phá vỡ tường đá, bao nhiêu đá vụn bắn hết ra ngoài, hề tổn hại chút nào đến bên trong ngôi mộ.


      Lại xem sức công phá của thuốc nổ, tuyệt phải loại thuốc nổ dân dụng. Rời khỏi quân đội mấy năm, lẽ nào bây giờ quân nhân tại ngũ cũng lao đổ đấu? Chắc chắn phải, có thể đây là thuốc nổ bị trộm. Ngoài ra ở sa mạc mênh mông này, những kẻ đổ đấu kia làm cách nào để tìm được mộ cổ? Xung quanh đây địa hình và địa mạo hoàn toàn giống nhau, lẽ nào đời này ngoài kẻ có trình độ dở ngô dở khoai như tôi ra, còn có cao thủ đổ đấu khác biết xem phong thủy thiên tinh?


      Ụ cát dần được dọn sạch, đây là bức tường đá hình elip, ngoài mặt bị nổ ra, những phần khác đều vùi sâu dưới lớp cát vàng.


      Xem ra đây là ngôi mộ đá điển hình thời Ngụy Tấn, đá núi vừa dày vừa lớn xây thành hình vòng cung, khe hở được dính bởi keo cá mè, loại mộ đá như vậy rất thường thấy ở thành cổ Tây Dạ.


      Đầu thế kỷ 19, nhà thám hiểm châu Âu từng hình dung thế này: "Mộ đá có thể thấy ở khắp nơi trong sa mạc, có mộ lớn mộ bé, đếm kể xiết, các ngôi mộ được chôn quá nửa trong cát vàng, lộ chóp đen ra ngoài, tựa như những chiếc kim tự tháp Ai Cập thu , qua sa mạc giữa nhưng ngôi mộ đá chi chít đó, cảnh vật thực khiến người ta ngây mình đắm đuối."


      Giờ đây những ngôi mộ đá này bị sa mạc chôn lấp hoàn toàn, rất khó truy tìm tung tích, giáo sư Trần đoán rằng có thể là do cơn bão sa mạc cách đây mấy ngày, gió lớn khiến ngôi mộ đá này lộ ra phần, ngờ bọn trộm mộ đến nhanh quá, đoàn khảo cổ vẫn chậm hơn bước.


      dọc được chúng tôi trông thấy vài ngôi mộ cổ bị bọn trộm làm hư hại, chẳng trách giáo sư Trần sốt sắng như thế, liều cái mạng già cũng phải tiến vào sa mạc, nếu ngăn hoạt động trộm mộ ở vùng này lại, e rằng ngày xa, chẳng còn lại thứ gì hết.


      Hố vào mộ huyệt đen hun hút, tôi và giáo sư Trần, Hách Ái Quốc mấy người bật đèn pin vào xem xét. Gian mộ chỉ tương đương với căn nhà mái bằng nho , bên trong đặt rải rác bốn năm cỗ quan tài, nắp quan tài đều bị cậy hỏng cả, quăng sang bên, chỗ nào cũng bị bới vung bới vãi lên hết.


      Quan tài có cỗ to cỗ nhỉ, có vẻ như ngôi mộ hợp táng, xác cổ trong quan tài chỉ còn lại bộ xác khô của trẻ, tóc dài tết dải, chỉ có phần đầu còn giữ tương đối hoàn hảo, thân thể đều bị vỡ nát cả, những cái xác còn lại đoán chừng đều bị bọn trộm mộ khiêng rồi.


      Trong cổ mộ ở sa mạc Tân Cương, thứ có giá trị tương đương với châu báu, chính là xác khô trong mộ. Tôi từng nghe giáo sư Trần kể, xác người cổ có phân làm mấy loại như xác ướp vẫn còn nước, ví dụ như xác phụ nữ ở gò Mã Vương, còn có xác sáp, dạng thi thể được xử lý cách đặc biệt; xác đông bảo lưu trong vùng băng giá có tuyến phủ vạn năm; xác tẩm giống như cương thi; ngoài ra còn có loại xác nhồi như tiêu bản...


      Xác khô cũng phân làm mấy loại, có loại là đem chất hút ẩm như vôi hoặc tro bỏ vào quan tài mà thành, cũng có loại giống như xác ướp Ai Cập cổ, được xử lý bằng kỹ thuật chống rữa đặc biệt.


      Còn xác khô ở Tân Cương được hình thành cách tự nhiên do hoàn toàn ở trong mộ trường đặc biệt có nhiệt độ cao, khô nóng, có nấm mốc, loại xác khô này, niên đại lâu đời chút rất đáng tiền, số bảo tàng, triễn lãm, và các nhà sưu tầm hải ngoài đều tranh nhau mua với giá cao.


      Gíao sư Trần thấy ngôi mộ bị trộm hết xác, lại còn bị phá bừa loạn xị ngậu lên, cứ than thở mãi thôi, đành bảo mấy học trò dọn dẹp những đồ vật còn sót lại trong mộ, xem xem có thể cứu vãn được gì .


      Tôi lo giáo sư quá kích động cơ thể lại chịu đựng nổi, bèn khuyên ông nghỉ sớm, giáo sư Trần dặn dò Hách Ái Quốc mấy câu, bảo ta dẫn người vào ghi chép tỉ mỉ tình hình ngôi mộ, rồi Tuyền béo đưa ông về trại nghỉ ngơi.


      Ngày hôm sau gió vẫn ngưng, cứ thổi khoan gấp như vậy, lúc đoàn khảo cổ xuất phát, giáo sư Trần tìm tôi, ông bảo ngôi mộ thấy đêm qua, thời gian bị trộm cách quá đến năm ngày, có thể có nhóm trộm mộ vào sa mạc đen sớm hơn chúng ta, thể trễ nải, tốt nhất là đuổi theo bắt được chúng.


      Tôi tùy tiện đáp bừa vài câu, nghĩ bụng mặc bu chúng nó, tốt nhất là chớ có đụng phải nhau, đồng nghiệp là oan gia, huống hồ đám người trộm ngôi mộ đá kia có cả thuốc nổ quân dụng, chừng còn có cả vũ khí lợi hại nữa, đụng phải bọn này, tránh khỏi đánh nhau trận sứt đầu mẻ trán. Tôi chẳng vấn đề gì, vấn đề là ở đoàn khảo cổ, ngộ nhỡ có người tử thương, trách nhiệm này lớn quá.


      Nhưng cũng phải lại, sa mạc mênh mông hai đoàn người muốn gặp nhau cũng đâu có dễ gì, nếu phải tối qua chúng tôi thấy đồi cát này là chỗ cao nhất quanh đây, chẳng tới cắm trại, càng chẳng thể nào tìm thấy mộ đá bị trộm, đâu có lần thứ hai tình cờ như vậy nữa, có thể mấy thằng cha ấy trộm xác xong trở về luôn cũng nên...


      Mười mấy ngày sau đó, đoàn khảo cổ càng vào sâu trong sa mạc, cuối cùng cũng để mất dấu sông Từ Độc, liên tục mấy ngày đều vòng quanh chỗ cũ. "Từ Độc" trong tiếng bản địa cổ nghĩa là cái bóng, chẳng thể đuổi bắt được. Đôi mắt lão Anliman trợn lên đỏ au, cuối cùng lão run tay, bảo còn cách nào nữa, xem chừng Hutai chỉ cho chúng ta tới đây thôi.


      Cả đoàn người và lạc đà đều mệt lử, chẳng ai bước nổi nữa. Mấy hôm nay sa mạc chút gió nào, thời gian mặt trời treo trung dài hơn bao giờ hết, để tiết kiệm nước uống, các thành viên trong đoàn ban ngày đào hố cát, bên dựng bạt chống nắng, hít lấy hơi nước mát ở mặt đất, để giữ lượng nước trong người, chỉ đến đêm và sáng sớm mới khởi hành, nửa đường cưỡi lạc đà, nửa đường lái xe số 11.


      tiếp về phía trước, lương thực và nước đều đủ nữa, nếu trong hai ngày tới mà quay trở về đường cũ, lúc trở lại phải giết lạc đà mà ăn mất.


      Tôi nhìn đoàn người mệt nhoài, môi khô nứt nẻ, biết rằng sắp đến cực hạn rồi, thấy mặt trời nhô lên, nhiệt độ ngày cao, bèn để mọi người đào hố nghỉ ngơi.


      Sắp xếp xong xuôi, Shirley Dương tìm tôi và lão Anliman, bàn bạc lộ trình sắp tới.


      Shirley Dương : " Nhất, ông Anliman, trong cuốn sổ tay của nhà thám hiểm người tôi cầm, có ghi chép thế này, nhà thám hiểm người đó cũng để mất dấu dòng sông ngầm Từ Độc khi ở sâu trong sa mạc đen này, ở vùng biển cát chết chóc tấc cỏ đơm mọc này, hai dãy núi từ màu đen khổng lồ đứng song song đón lấy ánh tà dương, tựa như hai võ sĩ áo giáp đen thời viễn cổ, lẳng lặng gìn giữ bí mật cổ xưa, xuyên qua hẻm núi tựa như cánh cửa lớn, tòa thành trong truyền thuyết liền ra trước mắt.

    4. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 23: Hẻm núi Zhaklama





      "Núi từ?", hai hôm nay cái đồng hồ đeo tay chạy cơ của tôi chết máy cũng lúc chạy nhanh lúc chạy chậm, tôi cứ tưởng là đồng hồ giá rẻ chất lượng kém, vào sa mạc hỏng, lẽ nào là do chúng ta ở gần hai ngọn núi từ đó? Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Lão Anliman cũng nhớ ra từng nghe người ta kể, ở vùng rốn sa mạc, có hai ngọn núi thần Zhaklama đỏ trắng, tương truyền là hai ngọn núi thần an táng bậc tiên thánh.


      Shirley Dương lại : "Nếu trong sa mạc quả thực có hai ngọn núi như thế, vậy sông ngầm Từ Độc có thể bị núi từ chặn dòng dưới đất, cách mặt đất quá xa, cho nên chúng ta thể tìm được. Tôi nghĩ, chúng ta nên tập trung chú ý vào việc tìm sông ngầm nữa, nếu truyền thuyết và ghi chép của nhà thám hiểm người là đúng, núi từ chắc ở gần đây thôi. Nhất, tối nay lại phải nhờ đến bản lĩnh xem phong thủy thiên tinh của lần nữa rồi. Đừng quên nhé, chúng ta với nhau từ trước rồi, tìm được thành cổ Tinh Tuyệt, thù lao trả gấp đôi."


      Ngay từ đầu tôi tin vào việc tìm được thành Tinh Tuyệt, nghe như vậy, đành phải đợi đến tối thử xem, thảng như có thể tìm được đến núi Zhaklama, thù lao của tôi chắc được tăng thêm hai mươi ngàn đô, còn nếu tìm được chắc phải đánh trống thu quân rồi.


      thực lòng, tôi cũng mình có mong tìm được thành cổ Tinh Tuyệt hay , sau khi nghe chuyện nữ vương Tinh Tuyệt, cái hình ảnh thần bí mà diễm lệ ma mị ấy cứ ám ảnh trong đầu tôi, xua tan được, nơi sâu thẳm trong sa mạc, dường như có ma lực vô hình hút lấy tôi, chẳng biết giáo sư Trần, Shirley Dương, cho đến những đoàn thám hiểm trở về kia, bọn họ có cảm giác giống như tôi ?


      Ngày hôm nay ban ngày dài dằng dặc, tôi chỉ hận thể lấy súng bắn rụng mặt trời kia xuống. Đào hố cát sâu đến là sâu, mà sao chút hơi mát cũng cảm nhận được.


      Tuy hố có dựng tấm bạt to dày, người nấp trong bóng râm, thân mình nằm trong hố cát, mà sao vẫn cảm thấy như trong lò nướng. Diệc Tâm sức khỏe yếu ớt có lẽ bị say nắng, nằm mê man năng lảm nhảm.


      Mọi người lo sốt cao, lấy tay rờ trán, nóng như cát, căn bản chẳng thể nào phân biệt được liệu có phải sốt cao hay , song dẫu lay thế nào, cũng chịu dậy.


      Chúng tôi vẫn còn ít nước, đủ dùng chừng năm ngày, ngoài ra còn hai túi sữa chua, để đến phút chót dùng. Lúc này cũng còn gì để tiếc nuối, tôi lấy túi, đưa cho Shirley Dương đỡ cho Diệc Tâm uống lấy vài ngụm, rồi cho uống thêm ít thuốc.


      Diệp Diệc Tâm uống thuốc xong, dần dần đỡ hơn, nhưng vẫn hôn mê bất tỉnh, đại khái có lẽ bị mất nước cấp tính, vậy phiền phức rồi, tôi thông báo cho đám người giáo sư Trần biết tình hình đoàn khảo cổ phải đối diện lúc này.


      Cũng chẳng nằm ngoài hai con đường, là đêm nay khởi hành quay lại, đường về mấy ngày cuối cùng phải ăn thịt lạc đà, uống nước mặn trong vũng cát, và xe số 11, dẫu có làm như vậy, cũng chắc có thể bảo đảm được Diệp Diệc Tâm nguy đến tính mạng.


      Con đường thứ hai là cắm đầu cắm cổ tiếp, tiếp tục tìm thành Tinh Tuyệt, nếu trong thành có nước, tính mệnh của coi như được nhặt trở lại khỏi cửa địa ngục.


      Giáo sư Trần , khó khăn chúng ta đối diện là rất lớn, nghiệp khảo cổ tuy cần tinh thần hy sinh và dâng hiến, nhưng Diệc Tâm còn trẻ như vậy, chúng ta phải có trách nhiệm đối với tính mạng của ấy. Con đường thứ nhất tuy có vẻ ổn, nhưng có nguồn nước bổ sung, đường về vô cùng gian nan; con đường thứ hai tương đối mạo hiểm, nhưng chúng ta tới gần Zhaklama rồi, sáu mươi phần trăm là có thể tìm tới thành Tinh Tuyệt, trong các thành cổ đều có mạch nước ngầm, có điều thời gian trải hơn hai nghìn năm, mạch nước liệu có cạn dòng hay đổi hướng, chẳng ai biết được. giờ đâu tìm đâu, mọi người đều quan điểm của mình ra xem sao.


      Tuyền béo đầu tiên: "Vòng eo của tôi teo được hai vòng chẵn rồi đây, nếu cứ tiếp tục vào sâu hơn nữa, về sau mọi người cứ gọi thẳng tôi là Tuyền gầy cho rồi. Tôi đề nghị, dừng giờ phút nào nữa, mặt trời vừa lặn, chúng ta quay trở về, có khi quay về còn có thể giữ được nửa cái mạng đấy."


      Hách Ái Quốc, Táp Đế Bằng hai người này tương đối thận trọng, cũng tán thành quay trở về.


      Tính ra, người nhận thấy con đường tìm thành Tinh Tuyệt tuy có mạo hiểm, nhưng cũng đáng thử, nhiều hơn, suy cho cùng mọi người bỏ ra công sức và trả giá đến thế rồi, dễ dàng gì được đến ngày hôm nay, thực muốn bỏ giữa chừng, cũng hy vọng có thể tìm thấy nguồn nước ngọt ở thành cổ, cứu lấy tính mạng của Diệc Tâm, đường quay trở về uống nước mặn trong vũng cát, người có sức khỏe cũng thấy ớn, huống hồ là Diệc Tâm bệnh nặng như vậy, quay trở về đồng nghĩa với việc khép vào tội tử hình.


      Tôi, Shirley Dương, Sở Kiện và giáo sư đều có chung quan điểm này, ngoài Diệc Tâm hôn mê bất tỉnh ra, chỉ còn lại lão Anliman có thái độ gì, ánh mắt của mọi người đều tập trung cả vào mặt lão.


      Nếu quan điểm của lão ta là quay về, chúng tôi cũng vừa vặn hòa bốn bốn, nhưng Anliman là người dẫn đường, quyết định của lão ta trong việc này là hết sức quan trọng. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Tôi với lão Anliman: "Ông suy nghĩ cho kỹ rồi hẵng nhé, lời của ông quan hệ đến tính mạng của Diệc Tâm đấy, chúng ta giờ phải làm sao?"


      Lão Anliman ngậm tẩu thuốc, đôi mắt lim dim nhìn mặt trời cao, rồi lên tiếng: "Tôi ấy mà, đương nhiên là nghe theo ý của Hutai mà, trời chỉ có mặt trời, đời chỉ có vị chân chúa toàn năng, Hutai chỉ dẫn cho chúng ta mà."


      Tôi chỉ lên bầu trời: "Vậy ông hãy mau hỏi xem xem, ông Hutai thế nào?"


      Ông Anliman gõ tẩu thuốc, gài vào thắt lưng, rồi lấy ra tấm thảm rách, nét mặt thành khẩn cầu nguyện, lòng hai bàn tay hướng vào nhau rồi úp lên mặt, bắt đầu tụng kinh, vẻ mặt thành khẩn và trang nghiêm, hoàn toàn giống vẻ giảo quyệt và đậm mùi con buôn như ngày thường.


      Mồm lão lẩm bẩm đọc kinh, chúng tôi nghe hiểu lão đọc những gì, càng đợi càng thấy lão đọc mãi hết, Tuyền béo đợi sốt ruột, bèn hỏi: "Bố ơi là bố, sao cứ lẩm bẩm mãi thế biết?"


      Ông già mở trừng mắt, cười rằng: "Hutai mà, gợi ý cho chúng ta rồi mà". đoạn liền rút ra năm đồng tiền xu, đưa cho mọi người xem, mặt có chữ nghĩa là cứ tiếp tục tiến về phía trước, mặt có hình vẽ phải men theo đường cũ quay về, mời giáo sư Trần nhiều tuổi nhất trong đoàn gieo năm đồng tiền này lên trời, kết quả tức là ý chỉ của Hutai.


      Cả đoàn dở khóc dở cười, quay nhìn lẫn nhau. Giáo sư Trần nhận mấy đồng xu rồi tung lên cao, tất cả mọi người đều ngẩng đầu nhìn mấy đồng xu, ánh nắng chói mắt, nhưng vẫn thấy đồng xu rơi từ xuống đất, cắm dựng đứng vào trong cát.


      Dẫu có gieo đến triệu lần cũng chưa chắc khéo như vậy, lão Anliman lắc đầu lia lịa, khuôn mặt ê chề trông thấy, quên mất nơi đây là sa mạc đen mà Hutai vất bỏ, Hutai làm sao có thể chỉ đường cho chúng ta được cơ chứ?


      Đúng lúc chúng tôi lấy làm ngạc nhiên, bỗng Shirley Dương chỉ tay về phía xa xa rồi reo lên: "Chúa ơi! Kia chính là núi Zhaklama phải ?"


      Sa mạc mênh mang vô cùng, muôn dặm thu trong tầm mắt, chỉ thấy hướng tay của , thẳng theo hướng mấy đồng tiền xu, ở phía tận cùng trời đất, thấp thoáng có vạch đen, có điều cách xa quá, nếu nhìn kỹ căn bản thể thấy được.


      Chúng tôi vội lấy ống nhòm, điều chỉnh tiêu cự quan sát, dải núi màu đen, lên như con rồng đen nằm bất động giữa muôn dặm cát vàng, dãy núi gãy đứt ở giữa, tạo thành sơn cốc, những đặc trưng này trùng khớp với những gì nhà thám hiểm người ghi chép trong cuốn sổ.


      Năm ngoái cha Shirley Dương cùng đoàn thám hiểm của ông, cũng dựa theo những manh mối này để tìm kiếm thành cổ Tinh Tuyệt, biết họ có đến được ngọn núi thần này , nếu họ từng tới đây, vậy họ gặp phải điều gì? Điều gì khiến họ trở lại?


      Nghĩ tới đây, dưới nắng gắt mà tôi khỏi cảm thấy lạnh người, nhưng cảm giác này mau chóng bị khí hân hoan của mọi người làm cho phai nhạt, chúng tôi đường xa vất vả, thập tử nhất sinh, cuối cùng vào phút chót tìm thấy được cảnh cửa tiến vào đất nước cổ xưa Tinh Tuyệt.


      Nhưng lão Anliman từng , trong sa mạc đen có vùng đất ảo mộng, ở đó thường xuất ảo ảnh dẫn người ta đến chỗ chết, hai ngọn núi thần chúng tôi thấy, liệu có phải ?


      Kế đó lại nghĩ ngay, có lẽ phải, đầu tiên ảo tượng trong sa mạc đều sản sinh do khúc xạ của tia sáng, những cảnh sắc muôn hình vạn trạng kia, phần lớn đều là những cảnh vật bao giờ tồn tại ở sa mạc, còn dãy núi màu đen kia, chỉ lần có người nhắc đến, vậy chắc chắn chân thực.


      cách thành cổ Tinh Tuyệt mấy xa nữa, đợi đến khi trời tối, là có thể xuất phát tiến lên. Nhưng những thông tin chúng tôi nắm được hết sức có hạn, quá nửa là truyền thuyết và suy luận, chứng cứ duy nhất đáng tin chút, chính là bức ảnh đen trắng lờ mờ kia, rốt cuộc có thể tìm thấy thành cổ Tinh Tuyệt , thậm chí hỏi đời này liệu có tòa thành cổ như vậy cũng đều rất khó , có lẽ tất cả là đồn đại khoa trương, truyền thuyết luôn được hình thành như vậy.


      chiến trường Triều Tiên, Mac Arthur từng câu thế này: "Khi bắt đầu, chúng ta tưởng cái gì chúng ta cũng biết, nhưng sau đó mới nhận ra, chúng ta chẳng biết cái gì". Giờ đây tôi dường như cũng có cảm giác ấy.


      Di tích vương thành liệu có bị cát vàng vùi lấp lần nữa? Trong thành liệu có tìm thấy nguồn nước hay ? Cổ mộ an táng nữ vương Tinh Tuyệt nằm trong thành hay ở nơi nào khác? Trong thành thực có châu báu chất cao như núi chứ? Nữ vương quái kia rốt cuộc là thế nào? Sau khi bà ta chết liệu có gây uy hiếp đối với người khác ? Có đúng là cha Shirley Dương chết trong thành cổ Tinh Tuyệt này hay ? Có thể tìm được xác của họ ? Những nhà thám hiểm nước ngoài đó gặp phải chuyện gì trong thành? Tất cả những điều này đối với chúng tôi vẫn chỉ là những điều chưa biết.


      Trời xế chiều, đoàn khảo cổ bắt đầu xuất phát tiến về Zhaklama. Tục ngữ có câu "thấy núi chạy chết ngựa còn chưa tới nơi", chúng tôi cứ đến quá nửa đêm mới tới được khe núi. Lúc này ánh trăng như nước, sa mạc tựa như bờ biển tĩnh mịch, nằm giữa biển cát này, dải núi Zhaklama nhấp nhô lên xuống, toàn thân đều là đá đen ngòm, càng đến gần càng nhìn thấy .


      Gọi là núi, chẳng bằng gọi là hai tảng đá đen khổng lồ thích hợp hơn, hai khối đá khổng lồ này đường kính chừng mấy chục cây số, chỉ lộ đường sống lưng mờ nhạt trong biển cát mịt mùng, phần lớn tảng đá bị chôn trong đất, có thể ở bên dưới, hai khối đá này liền làm , còn hẻm núi này có lẽ chỉ bất quá là khe nứt mà thôi.


      Loại đá đen này chứa sắt từ, hàm lượng bình quân tuy cao, nhưng đủ để ảnh hưởng đến các thứ máy móc định vị phương hướng chính xác, chúng tôi cũng cảm thấy các đồ vật kim loại mình mỗi lúc nặng trĩu.


      Ánh trăng soi những tảng đá đen hề phản quang, trong hẻm núi tối tăm hun hút, ngoài Diệp Diệc Tâm hôn mê bất tỉnh, tất cả mọi người đều xuống bộ, tôi đề nghị mọi người đều bật sáng đèn, đường trong chốn ma quỷ này, thể nào sơ suất được.


      Tôi và lão Anliman trước, Tuyền béo và Sở Kiện cắt đoàn phía sau, Shirley Dương cùng những người khác ở giữa trông nom Diệp Diệc Tâm, cả đoàn thành hàng dọc, khoan bước tiến vào hẻm núi.


      Ngọn núi này được người xưa coi là núi thần, tương truyền nơi đây an táng hai vị tiên thánh, chắc quá nửa là chuyện thần thoại. Nhưng từ phương diện phong thủy mà , nơi đây quả thực cũng được coi là nơi chiếm trọn hình thế, khí thế nuốt cả vạn tượng, núi màu đen tức là hai con rồng đen giữ ải. núi có chôn tiên thánh là giả, nhưng nếu sau núi mà quả thực có lăng mộ của nữ vương Tinh Tuyệt, cũng bất ngờ chút nào.


      Trăng chếch ngang trời, hẻm núi chạy theo hướng Nam Bắc càng trở nên tối om, đến nỗi thể nhìn thấy năm đầu ngón tay, chúng tôi bước thấp bước cao tiến vào bên trong, càng về phía trước, trong lòng càng thấp thỏm yên, ra khỏi hẻm núi này, liệu có tìm thấy thành cổ Tinh Tuyệt ? Tìm được rồi, trong thành liệu còn nguồn nước ? Điều đáng lo ngại nhất lúc này chính là bệnh tình của Diệc Tâm, chứng mất nước cấp tính của phải dùng lượng nước muối lạnh để chữa trị, giả như trong ba hôm tới mà vẫn tìm thấy nguồn nước, tính mạng của đành coi như bỏ lại nơi sa mạc heo hút này vậy.


      Đồng hồ của chúng tôi hỏng từ lâu, biết rốt cuộc phải trong bao lâu nữa, tính toán bằng trực giác, chốc lát nữa thôi trời sáng, nhưng lúc này hơi thở của lũ lạc đà đột nhiên trở nên nặng nhọc, tình hình ràng có điềm bất an.


      Lão Anliman cuống quýt vừa huýt sáo vừa dô hò, gắng hết sức trấn tĩnh lũ lạc đà lại, mười chín con lạc đà này, đều là con đực cường tráng lựa chọn trong hàng trăm con, trong sa mạc bao nhiêu ngày nay cũng chưa bị như vậy bao giờ.


      Bốn phía vốn dĩ tối om, giờ lũ lạc đà lại nháo nhác, càng làm tăng thêm nỗi sợ trong lòng các thành viên đoàn khảo cổ, Shirley Dương lo lạc đà hất Diệc Tâm xuống, vội cùng Hách Ái Quốc đỡ xuống khỏi lưng lạc đà.


      Tôi gọi Tuyền béo lại, cho cậu ta vất vả chút, cõng lấy Diệc Tâm, hẻm núi này quái dị rất mực, phải nơi có thể dừng lại lâu, chúng ta thể chậm trễ, mau thoát ra là tốt nhất.


      Tuyền béo ngờ lại lại vui vẻ chấp nhận, là vì Diệc Tâm vốn dĩ chẳng nặng gì mấy, từ lúc vào sa mạc, nắng nóng mất nước, càng gầy đến nỗi chỉ còn da bọc xương, ngoài ra cõng em xinh xắn, cũng chẳng phải việc xấu xa gì. Cậu ta cõng Diệc Tâm lưng như cõng đứa bé, cứ luôn miệng giục lão Anliman phía trước mau lên.


      Thế nhưng mặc cho lão Anliman có lùa thế nào, lũ lạc đà sống chết cũng dám tiến lên nửa bước, lão bắt đầu bán tín bán nghi, nghi thần ngờ quỷ, rồi lại niệm kinh, e rằng Hutai cho chúng ta tiếp, phải quay về ngay mới phải.


      Trước mắt sắp qua khỏi hẻm núi rồi, những người còn lại đâu có ai chịu quay về, nhất thời cả đoàn nháo nhác, Shirley Dương bảo tôi: "Hay là phía trước có cái gì khiến lũ lạc đà kinh sợ dám tiến lên, cứ đốt pháo sáng ném ra xem sao, nhìn rồi hẵng tính tiếp."


      Tôi đứng đằng trước đáp lại, rồi rút cây pháo sáng đốt ném về phía trước, chiếu sáng quãng trước mặt. Hai bên vẫn là đá núi đen sì, mặt đất là lớp cát vàng dày mịn, núi non tĩnh mịch ngay đến ngọn cỏ cũng có, chẳng hề có bất cứ thứ gì bất thường.


      Bấy giờ tôi lại tiến lên thêm mấy bước, ném cây pháo sáng thứ hai, trước mắt sáng bừng, liền thấy phía xa có người ngồi dưới đất, chúng tôi chạy đến xem, chỉ thấy người này mặc áo khoác trắng, đội khăn chống cát, sau lưng có đeo ba lô, ngồi yên bất động, hóa ra là chết.


      Mọi người đều giật mình kinh ngạc, trong sa mạc gặp người chết hay xác khô, cũng lấy gì làm lạ, nhưng cái xác này lại hàn toàn khác biệt. Người chết là nam giới, khăn trùm đầu che kín mặt, chỉ lộ hai mắt trừng trừng nhìn lên bầu trời, chết nhắm mắt.


      Thời điểm tử vong chắc quá xa, có thể chỉ trong mấy ngày gần đây, phần da lộ ra ngoài của chỉ hơi khô, quái lạ nhất là da thịt trở nên xanh lè, dưới ánh pháo sáng, lại lóe ra những tia xanh lợt.


      Có mấy người định vây lại xem, đều bị tôi cản lại, cái chết của người này quá quái dị, nhất thiết được lại gần, Sở Kiện bỗng hô lên: " Nhất ơi, chỗ này này còn có xác chết khác!"


      Tôi hơi gai gai tóc gáy, hai xác chết liên tiếp, liệu có còn nữa ? Thuận tay lại tung ra mấy cây pháo sáng, chiếu khoảng rộng, quả nhiên chỉ có hai xác chết, phía trước, còn có bốn xác người đàn ông nằm la liệt dưới đất nữa.


      Những tử thi này đều ăn vận giống nhau, cách chết như nhau, đều trợn trừng mắt lên cách kinh hãi, bộ dạng rất cho kỳ quặc. Dưới đất còn vung vãi mấy thanh AK47 của Liên Xô và vài cái ba lô.


      Tôi rút xẻng công binh ra làm vũ khí phòng thân, ra nhặt khẩu súng xem sao, đạn lên nòng, tiên sư sao kỳ quặc vậy, bọn này là bọn nào? Ở Tân Cương có số thợ săn trộm đều sử dụng súng kiểu Remington của nước ngoài, hoặc kiểu 56, sao lại có AK47 của Liên Xô sản xuất được nhỉ? Lẽ nào chúng là bọn đánh trộm mộ đá?


      Tôi lại mở cái ba lô ra xem, bên trong có khá nhiều thuốc nổ quân dụng màu vàng có in chữ Nga, chắc là những thứ súng đạn này đều được nhập từ nước ngoài, bọn trộm mộ mua vũ khí để phá nổ mộ cổ trong sa mạc cũng có gì lạ, có điều vũ trang đến tận răng như vậy rồi sao bọn chúng vẫn chết cách minh bạch ở đây?


      Tôi đưa nòng súng hất khăn trùm đầu của cái xác ngồi dưới đất kia, chỉ thấy há to miệng, tựa như trước lúc chết cố sức kêu gào, tôi muốn nhìn thêm nữa, bất kể thế nào, phải mau chóng rời khỏi hẻm núi ma ám này mới là thượng sách. Số thuốc nổ kia có lẽ còn hữu ích, tôi liền nhặt lấy cái ba lô để thuốc nổ lên, chuẩn bị bảo mọi người rời bước.


      Lúc ấy Hách Ái Quốc bước ra khỏi đoàn người: "Mấy người này có phải bọn trộm mộ hay cũng quan trọng, chúng ta thể để họ phơi xác ở đây được, hãy đưa họ ra ngoài hẻm núi chôn . Tôi thấy những người phơi xác giữa trời như vầy, liền nhớ đến những người bị điều tới lao động ở lò đất, các đồng chí ấy chết đáng thương lắm, ngay đến manh chiếu cuốn người cũng có, ôi, tôi thể đành lòng nhìn những người này..." ta vừa lải nhải vừa bước tới định dịch chuyển cái xác ngồi kia.


      Tôi bấy giờ cuống hết cả lên, lớn tiếng chửi lao ra ngăn cản: "Con mẹ cái thằng mọt sách này, đừng có động vào mấy cái xác rồi cơ mà!"


      Nhưng muộn rồi, trong miệng của cái xác đột nhiên phóng ra con rắn quái dị, lớp vảy mình lấp lánh, đầu có cái bướu màu đen, dài chừng ba mươi centimet, thân rắn búng cái, lao thẳng vào mặt Hách Ái Quốc.


      Mắt Hách Ái Quốc tốt, mà dù mắt có tốt, với phản ứng của ta cũng thể né tránh kịp, trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, tôi chỉ mong cứu người, chẳng kịp nghĩ ngợi gì nhiều, vội vung xẻng công binh chém xuống, cắt đứt con rắn làm đôi.


      Hách Ái Quốc hãi hùng ngồi phệt mông xuống đất, toàn thân run rẩy, gắng cười gượng với tôi: "Quá... quá... nguy hiểm, may mà..."


      Lời chưa dứt, nửa đầu con rắn bị chém đứt đôi đột nhiên phóng thẳng tới, tốc độ như tên rời khỏi cung, há miệng ngoạm chặt vào cổ Hách Ái Quốc, tôi thấy con rắn bị chém đứt đôi, liền thả lỏng người ra, nào ngờ đến diễn biến bất ngờ này, kịp ra tay cứu Quốc.


      Mặt Hách Ái Quốc cứng đơ, cổ họng kêu ụ ụ vài tiếng, muốn nhưng lại nên lời, da ta trong phút chốc trở nên xanh bợt, ngồi bất động chỗ, cứ thế rồi chết luôn.


      Lúc này cả đoàn đều kinh hãi ngẩn ra, giáo sư Trần thấy trước mặt tối sầm lại rồi ngã ngất lịm . Tôi còn chưa kịp buồn thay cho Hách Ái Quốc, bỗng cảm thấy phía sau cổ gai lạnh, nghiêng đầu nhìn, con quái xà y như thế chẳng biết từ lúc nào bò lên vai thè lưỡi xì xì, cơ thịt toàn thân hơi co lại phía sau, há rộng miệng, cong thân trước lên, chuẩn bị cắn tôi nhát, động tác của con rắn rất nhanh, mà cự ly lại gần thế này có muốn né cũng né kịp.


      Trong đoàn chỉ có Tuyền béo là biết bắn súng, nhưng cậu ta cõng Diệc Tâm, tay lại cầm súng, biến cố này quả thực là quá đột ngột, những người còn lại cũng đều có chuẩn bị, tôi như bị dội gáo nước lạnh, mẹ kiếp, chẳng ngờ Hồ Bát Nhất ta giờ lại chết ở đây, còn được ngắm mặt trời buổi sớm nữa rồi.


      Tôi biết tư thế tấn công của loài rắn độc, thân trước ngửa lên, kế đó đầu rắn liền bắn vọt về phía trước, dùng nanh độc cắn vào con mồi, cổ và mặt tôi đều nằm trong phạm vi tấn công của nó, thể né tránh nổi, có muốn đỡ cũng kịp.


      chuẩn bị nhắm mắt chờ chết, bỗng dưng "xoẹt" tia sáng trắng, hẻm núi tối om được rọi sáng, con quái xà vốn bổ vào cổ tôi, nửa chừng bị vệt sáng lóe lên làm cho lóa mắt, giật mình, vội trườn ngay khỏi vai tôi.


      Tất cả việc này chỉ diễn ra trong vòng giây, tôi đợi cho con rắn rơi xuống đất, liền vung xẻng công binh xuống, đập nát bét đầu nó ra, đầu rắn nát bươm chảy ra ít chất dịch màu đen, tôi vội lùi lại mấy bước, thầm thấy mình quá may mắn, chất độc của con rắn này rất ghê gớm, thảng như bị nó cắn phải, nọc rắn tức tốc theo máu lan khắp cơ thể, chắc chắn chỉ có đường chết.


      Ngước mắt lên nhìn, hóa ra vệt sáng trắng cứu mạng kia, phát ra từ đèn flash ở máy ảnh của Shirley Dương, từ trước đến nay luôn như hình với bóng với chiếc máy ảnh, đâu chụp đấy, chẳng ngờ cái mạng này của tôi, lại được cái đèn flash máy ảnh của cứu về, cũng may mà ta phản ứng nhanh, nếu Hồ Bát Nhất này giờ gặp Hutai rồi.


      Nhưng giờ phải là lúc cảm ơn, ai biết được trong hẻm núi này còn có đồng loại của lũ rắn quái dị kia nữa , việc gì cứ ra ngoài rồi hẵng , đoạn tôi vẫy tay gọi mọi người mau chóng tiến ra.


      Lúc này có lẽ lũ lạc đà cảm thấy phía trước còn rắn độc nữa, bình tĩnh lại sau cơn hoảng loạn, Sở Kiện, Táp Đế Bằng liền đỡ Diệc Tâm, giáo sư Trần hôm mê bất tỉnh và xác của Hách Ái Quốc lên lưng lạc đà.


      Lão Anliman huýt sáo ra lệnh cho lũ lạc đà tiến lên, cả đoàn mượn ánh sáng từ đèn pin và pháo sáng, cuống quýt ra khỏi hẻm núi Zhaklama tối tăm.


      Đoàn người chạy thẳng mạch tới khoảng trống trải bên ngoài hẻm núi rồi mới dừng lại, đặt thi thể Hách Ái Quốc xuống đất, trời còn chưa sáng, trăng sao mờ nhạt, khoảnh khắc trước bình minh lúc nào cũng tối tăm như thế, Hách Ái Quốc vẫn giữ nguyên vẻ kinh hãi khi chết, đôi mắt vô thần sau cặp kính còn chưa nhắm lại, khắp người xanh bợt, dưới ánh đèn pin, lại càng trở nên thê thảm và quái dị.


      Giáo sư Trần bị cơn gió lạnh trong hẻm núi thổi ra làm cho sực tỉnh, giãy giụa lao đến bên thi thể Hách Ái Quốc khóc thành tiếng, tôi đỡ giáo sư dậy, người chết thể nào sống lại, muốn khuyên ông nên bớt đau buồn, nhưng lời cứ nghẹn lại trong cổ họng.


      Tôi và Hách Ái Quốc ở với nhau cũng gần tháng, ngày thường tôi hay đùa gọi ta là "đồ cổ lỗ" nhưng thích cái tính mau mồm mau miệng, thẳng như ruột ngựa của ta, nhưng hôm nay ... nghĩ đến đó lại khỏi thấy chua xót, vậy còn khuyên nhủ được ai nữa.


      Những người còn lại ai nấy đều thầm rơi lệ, lúc này, phía chân trời xa xa nứt ra khe sáng màu hồng nhạt, mặt trời cuối cùng cũng sắp ló ra, chúng tôi đều tự chủ được mà nhìn về hướng Đông ấy. Ánh sáng dần chuyển sang màu hoa hồng, màu đỏ ối, sau cùng hóa ra vô số những tia nắng vàng chói lọi, mặt trời nhô lên, khoảnh khắc này, biển cát vô biên tựa như biến thành dải bột vàng trong lò nung của Thượng đế.


      Giữa dải cát như khối vàng nấu chảy này, tòa thành ra ngay trước mắt đoàn người, vô số tường xiêu vách đổ, các loại kiến trúc bằng gạch, bằng gỗ, bằng đá, lầu tháp trong thành nhiều kể, nổi bật nhất là tòa tháp đá màu đen nay ít nhiều xiêu vẹo, nhưng vẫn lẳng lặng đứng sừng sững trong thành.


      Đem so với bức ảnh đen trắng trong tay Shirley Dương, cảnh vật hoàn toàn giống nhau. Trải hai ngàn năm thời gian, di tích thành cổ Tinh Tuyệt quả thực vẫn còn tồn tại ở nơi sâu thẳm trong sa mạc này.


      Quy mô của thành Tinh Tuyệt đủ có thể cho năm sáu vạn người cư ngụ, năm xưa những thành phố cổ nổi tiếng như Lâu Lan, thời kỳ cực thịnh, cũng chỉ có hai vạn cư dân và đội quân hơn ba ngàn người mà thôi.


      Tòa thành này nhìn chung bị hủy hoại gần hết, vùi trong cát dưới ngàn năm, số chỗ rất khó phân là đồi cát hay thành lũy, đại đa số lầu tháp đều bị phong hóa sụt đổ, nhưng chỉ cần có vậy, cũng đủ để tưởng tượng ra cảnh hùng vĩ tráng lệ của nó năm xưa thế nào rồi.


      Nơi đây có từ trường rất mạnh, máy bay khó mà bay thấp được, hơn nữa lại là vùng sâu trong sa mạc, chắc hẳn rất ít người có thể tìm tới được. biết trước chúng tôi, có bao nhiêu nhà thám hiểm và những người lạc đường, từng tới được tòa thành cổ trong truyền thuyết này, chỉ điều duy nhất có thể khẳng định, chín mươi chín phần trăm những người trong số chúng tôi, đều vĩnh viễn thể nào quay trở lại quê hương của mình.


      Giáo sư Trần đỡ thi thể Hách Ái Quốc nằm dưới đất dậy, tay run run chỉ vào thành cổ Tinh Tuyệt, rồi bằng giọng yếu ớt: "Con xem này... chẳng phải con vẫn luôn mong tận mắt thấy tòa thành thần bí này sao... con mau mở mắt nhìn xem, chúng ta cuối cùng cũng tìm thấy rồi đây này!"


      Tôi thầm nhủ hay, thấy ông cụ đau lòng quá mức, hay là đầu óc tỉnh táo rồi, vội kéo giáo sư Trần ra khỏi xác Hách Ái Quốc: “Giáo sư, thầy Quốc rồi, hãy để thầy ấy được yên nghỉ . Chỉ tiếc rằng đến phút chót thầy ấy lại thấy được tòa thành cổ vẫn còn giữ được như kỳ tích thế này, tâm nguyện của thầy Quốc còn cậy chúng ta hoàn thành, xin giáo sư hãy trấn tĩnh và vững vàng lên!”


      Shirley Dương và mấy sinh viên cũng quay lại khuyên nhủ, tôi giao giáo sư lại cho họ, trong lòng cứ áy náy yên trước cái chết của Hách Ái Quốc, lại cảm kích ơn cứu mạng của Shirley Dương, bèn với : "Ơn cứu mạng vừa nãy, tôi cám ơn nữa, coi như tôi nợ mạng... nhưng chuyện nào ra chuyện đó, chúng ta đến Tinh Tuyệt, theo điều khoản trong hợp đồng khi trước, hai mươi nghìn đô."


      Tuyền béo vừa nghe nhắc đến tiền, vội chạy lại bổ sung: "Mỗi người hai mươi ngàn, tổng cộng bốn mươi ngàn đô, tiền mặt nhé!"


      Shirley Dương trừng mắt nhìn hai bọn tôi, bặm môi : "Hai yên tâm, tiền thiếu hào cắc đâu, sau khi trở về tôi lập tức trả các ."


      Tôi nghĩ bụng lúc này nhắc đến chuyện tiền nong quả thực thích hợp, ban nãy đầu óc như lộn tùng phèo lên, chẳng biết lựa lời năng linh tinh, giờ phải mau chóng lảng hơn, nhưng lại chẳng biết nên gì, mở miệng ra cứ lúng ba lúng búng, cái nọ lại xọ sang cái kia: "Cái... thành phố... này... quy mô ..."


      Shirley Dương chăm chăm nhìn chúng tôi : "Qua tiếp xúc bấy lâu nay, tôi thấy hai đều là những người phi phàm, những việc kinh qua cũng đều phi phàm cả, nhưng chẳng ngờ hai chỉ biết có tiền với tiền, xem ra ấn tượng đầu tiên của tôi với hai có sai. Tôi khuyên hai câu này, ở đời ngoài tiền bạc ra còn có rất nhiều thứ quý báu khác nữa."


      Tôi còn lời gì để , Tuyền béo tiếp lời: " Dương của tôi ơi, sống dưới lá cờ sao sọc của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cha lại là tỷ phú ở phố Wall, tôi nghĩ ăn cơm chắc chắn chưa từng phải dùng đến phiếu lương thực, từ chắc chắn cũng chưa phải tiết kiệm lương thực phòng khi thất bát, cho nên hiểu hoàn cảnh sống của chúng tôi, cũng có tư cách bình xét giá trị quan của chúng tôi. Còn nữa, cũng đừng có giở cái giọng ở đời phải sống thế nào để dạy dỗ chúng tôi nữa, người nghèo có cuộc sống, người nghèo sống chỉ để sinh tồn. Dù sao những đạo lý này, với đám người có tiền như , các người cũng hiểu nổi đâu. Hôm nay tôi quả thực nhẫn nhịn được nữa rồi, nếu muốn nghe, cứ coi như tôi chưa gì, giờ chúng ta tìm thấy thành Tinh Tuyệt rồi, tiếp theo phải làm những gì, xin cứ giao phó!"


      Thoạt đầu Tuyền béo hăng lắm, lý lẽ lắm, nhưng về sau nhớ ra Shirley Dương là bà chủ, lại lo bực trả tiền nữa, nên lảng ra, những việc chân tay nặng nhọc.


      Tôi với : "Chuyện của thầy Quốc... tôi cố hết sức, tôi xin lỗi!"


      Shirley Dương gật đầu với tôi, buồn để ý đến Tuyền béo, rồi lấy nước đút cho giáo sư Trần và Diệc Tâm uống. Cái chết của Hách Ái Quốc khiến giáo sư Trần sốc mạnh, đầu óc quay cuồng, uống ít nước vào mới dần đỡ lại. Mọi người bàn bạc vài câu, rồi quyết định chôn Hách Ái Quốc tại khe núi, cả đời ta theo đuổi nghiệp nghiên cứu văn hóa Tây Vực, chôn ở nơi đây, để được vĩnh viễn bầu bạn với tòa thành thần bí này, chắc hẳn ta ắt cũng hy vọng chúng tôi làm như vậy.


      Chúng tôi đào cái hố sâu trong cát, lấy thảm cuốn thi thể Hách Ái Quốc lại, rồi chôn luôn tại chỗ, cuối cùng tôi cắm ngược chiếc xẻng công binh lên mộ, coi như để lại tấm bia.


      Tám người còn lại, nghiêm trang đứng trước phần mộ của Hách Ái Quốc, mặc niệm hồi lâu, rồi mới rời .


      Người chết chết rồi, chúng tôi còn cần phải cứu người sống, cần phải lập tức vào thành tìm nguồn nước ngọt, nếu người thứ hai phải chôn xác ở nơi sa mạc này, chính là Diệc Tâm bị mất nước nghiêm trọng.


      Kế đó mọi người thu dọn trang bị, chuẩn bị xuất phát vào thành, cuối cùng cũng đến đích, hy vọng có gì xảy ra nữa, nếu còn có người xảy ra chuyện, món tiền này dù vào tay, cũng chẳng biết có thể đem tiêu được nữa.


      Thấy mọi người chuẩn bị hòm hòm, tôi hỏi Shirley Dương xem có thể xuất phát hay chưa.


      Trước lúc xuất phát, Shirley Dương có hơi kích động, thân hình hơi run rẩy, nhưng nhận ra là sợ hãi, lo lắng hay hứng khởi, chỉ thấy rút ra cây thập tự thầm cầu nguyện hồi, sau đó lập tức bình tĩnh : "Chúng ta thôi!'


      Ai ngờ lúc này lão Anliman bỗng dưng dở chứng, lắc đầu lia lịa, có thế nào cũng chịu vào di tích thành cổ Tinh Tuyệt. Ông ta bảo bạn đồng hành chết sa mạc, đó là điềm dữ, huống hồ Hách Ái Quốc lại bị rắn độc sứ giả của ma quỷ, cắn chết.


      Chúng tôi bó tay, đành bố trí lại, cho lão ta dựng trại ở cửa núi, trông nom bầy lạc đà và đồ đạc.


      Tôi vốn định để Tuyền béo cũng ở lại trông lão ta, ngộ nhỡ lão già này thấy nguy bỏ chạy, bỏ chúng tôi lại đây... lão bỏ chạy cũng sao, có lạc đà, chúng tôi phải xe số 11 về, mà cái loại xe số 11 này có thể được bao xa trong sa mạc, thực rất khó .


      Nhưng rồi tôi lại nghĩ, lão Anliman chắc tự bỏ chạy mình, cũng được tới bây giờ rồi, huống hồ tiền làm hướng đạo của lão còn chưa vào tay, số tiền đó , đủ cho nửa đời còn lại của lão ta sống trong no ấm.


      Nhưng bởi quá nhiều lần tôi sơ ý, nên chịu ít thiệt thòi, lúc này cứ phải đề phòng hơn, tôi kéo tay lão Anliman hỏi: "Ông này, Hutai trừng phạt thế nào với những kẻ dối và phản bội?"


      Lão Anliman : "Cái này ấy mà, biến tiền của biến thành cát mà, ngay cả muối của cũng biến thành cát mà, cuối cùng chết đói mà, giống như chết ở trong sa mạc đen mà, sau khi chết bị đày xuống địa ngục cát nóng, phải chịu trăm ngàn lần giày vò nữa mà."


      Tôi thấy lão ta rất trịnh trọng, nên yên tâm, tín ngưỡng của lão ta khiến tôi nhận định rằng lão ta dám làm những chuyện có lỗi với lương tâm thiên lý.


      Vậy là chỉ còn bảy người vào thành cổ, trong đó có Diệc Tâm còn hôn mê bất tỉnh, Sở Kiện cõng lưng, chỉ còn lại năm người tay xách nách mang thiết bị và vũ khí, cộng thêm thức ăn và bình nước, mỗi người đều phải mang vác khá nặng.


      Trong quân đội có câu danh ngôn thế này: phải phải quân nhân, mình hai mươi cân. Tức là , khi hành quân, sĩ quan và binh lính trong quân đội thiết bị phải mang vác người tối thiểu là hai mươi cân, còn có số người mang theo súng máy, súng phun lửa hay những vũ khí bộ binh hạng nặng như súng chống tăng còn nặng hơn nhiều.


      Tôi lăn lộn mười năm trong quân dã chiến, vác cả đống đồ này cũng chẳng thấy nhằm nhò gì, nhưng giáo sư Trần và mấy học trò cáng nổi, cuối cùng phải bỏ hết các thứ lại.


      Cửa khe núi cách thành cổ rất gần, tầm bữa cơm là tới trước cổng thành, chiếc cổng sụp từ lâu, hào nước trước cổng thành cũng bị cát lấp bằng, chúng tôi tiến qua bờ tường đổ nát, bầu khí im lìm chết chóc bao trùm đống hoang phế xung quanh.


      Nơi này khác biệt quá lớn so với những gì tôi tưởng tượng, sao tránh khỏi thất vọng tràn trề, đường xá nhà cửa trong thành sụp đổ cũng vỡ nát, đứng nhìn từ xa còn khả dĩ, cũng còn thấy chút khí thế quy mô, nhưng đến khi vào trong nhìn lại, hoàn toàn chẳng có gì, chỉ rặt là cát bụi, gỗ mục và đá vụn, nào có vàng bạc chấu báu gì.


      Chỉ có vài trụ gỗ và rường cột to đùng nhưng tổn hại nặng nề, lớp sơn son thiếp vàng sớm bong tróc từ lâu, là còn toát lên vài phần xa hoa phú lệ năm xưa.


      Chúng tôi định vào mấy gian nhà nát quanh cổng thành xem sao, nhưng phát những gian nhà đổ nát ấy tuy quá nửa lộ ra sa mạc, nhưng bên trong cát vẫn chất đầy lên tận nóc.


      Tương truyền thành này từng bị chiến tranh hủy hoại, khi liên quân tấn công hoàng cung, trong giây phút cuộc chiến gần đến hồi kết, bão cát đen chôn vùi toàn bộ nước Tinh Tuyệt cùng cư dân và quân đội trong thành vào sâu trong cát. Cho mãi đến thế kỷ 19, sa mạc lưu động mới khiến nó lần nữa được trông thấy ánh mặt trời.


      Xem xét tại trường, về cơ bản rất khớp với truyền thuyết, chỉ có điều nhìn thấy xác khô, có lẽ bị chôn vùi hết trong cát rồi. Tôi thấy tất cả đều vô vị, nhưng dường như mấy người đám giáo sư Trần lại rất có hứng thú đối với mọi thứ trong thành, ngay cả bức tường đổ nát, họ cũng có thể nhìn ngắm lúc lâu.


      Tôi đành nhắc nhở, Diệp Diệc Tâm kia còn bệnh kia kìa, cứu người là quan trọng nhất, xem ra khu dân cư trong thành đều bị cát bụi lấp bằng, ngay cái giếng nước cũng tìm thấy, chẳng bằng chúng ta vào hoàng cung xem sao, ở đó chừng lại có nguồn nước.


      Giáo sư Trần vỗ đầu: "Ôi, tôi già lẩm cẩm rồi, cứu Diệc Tâm là việc cấp thiết, chúng ta mau tới hoàng cung thôi. Các vương quốc trong sa mạc đều được xây dựng ở nơi có sông ngầm gần mặt đất, có nơi sông còn chảy ngang dưới cung điện ngầm dưới đất nữa. Hoàng cung thông thường đều nằm ở trung tâm thành phố."


      Mọi người tìm kiếm phương hướng giữa đống đổ nát, rồi tới trung tâm tòa thành, Tuyền béo với tôi: "Nhất này, ông biết giờ tôi muốn ăn gì nhất ? Tôi thích ăn dưa vàng và nho vú ngựa, có quả dưa hấu ăn cũng được đấy, haizzz... nữa, càng càng khát, cổ họng bốc mẹ nó cả khói lên rồi đây, tìm được sông ngầm tôi nhảy xuống trước tắm cái ."


      Tôi đáp: "Mụ nữ vương Tinh Tuyệt này sinh thời sống rất xa xỉ, chắc chắn thường xuyên ăn dưa hấu ngâm trong nước sông ngầm mát lạnh, có điều dưa hấu ấy dẫu được giữ đến ngày nay, quá nửa là thành dưa đá rồi, nho cũng có lẽ biến thành nho khô rồi."


      Tuyền béo oán thán: "Mẹ cái chỗ chim ị *** này, chẳng thể tưởng tượng nổi trước đây lại có người sinh sống ở đây, lần sau có cho hai mươi ngàn đô, núi vàng núi bạc có chất đống trước mặt, ông cũng chẳng thèm đến sa mạc đâu. đời này cách chết khó chịu nhất chắc chắn khát mà chết rồi."


      Vừa nhắc đến chết, tôi liền nhớ đến Hách Ái Quốc, bị con rắn quái đản kia cắn chết, tuy chết rất nhanh, nhưng biết khoảnh khắc trước khi chết ta đau đớn thế nào, hình dạng con rắn cũng đến kỳ quái, đầu có bướu thịt đen, bên trong toàn là nước đen, chặt làm đôi vẫn có thể phóng tới giết người, loài rắn này ngay cả Shirley Dương cũng chưa từng thấy, biết trong thành có loài rắn này hay ?

    5. Skye

      Skye Well-Known Member

      Bài viết:
      747
      Được thích:
      5,671
      Q.1 - Chương 24: Tháp đen





      Bảy người chúng tôi tìm đường tiến lên giữa đống phế tích, gặp chỗ nào sụt lở vòng đường mà , lâu, mới đến được trung tâm thành cổ, đường xá nơi đây tương đối rộng rãi, tuy cát phủ khắp nơi, nhưng đường lối bố cục của phố xá vẫn có thể nhận ra được. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Thế nhưng xung quanh chỗ này ngoài tòa tháp đen xiêu vẹo, chẳng còn kiến trúc lớn nào khác, chớ đến hoàng cung, ngay cả gian nhà dân thông thường cũng chẳng có, chỉ toàn những bức tường đất bị phong hóa.


      Giáo sư Trần hoàng cung nơi đây có khả năng được xây trong lòng đất, trong thành cát bụi quá nhiều, chúng ta hãy lên tháp đen, nhìn từ cao xem có phát ra lối vào địa cung hay .


      Nền tháp và hơn nửa cánh cửa đá hình vòm đều bị vùi trong cát, tòa tháp đen này toàn bộ được xây bằng đá lấy từ núi Zhaklama, tổng cộng có sáu tầng, hơi nghiêng vẹo, nhưng vẫn vô cùng vững chãi. Ngoài vật liệu xây dựng vô cùng hiếm thấy, đỉnh tháp còn có tảng hình quả trám màu đen nữa.


      Giáo sư Trần đeo kính lão lên, ngẩng đầu quan sát hồi lâu, lại lấy ống nhòm ra nhìn, lẩm bẩm mình: “Đúng , sao trước kia mình ngở đến nhỉ?”


      Tôi muốn hỏi xem ông chưa ngờ đến chuyện gì, giáo sư thấp người xuống lách vào trong cửa tháp, dường như ông sốt sắng muốn chứng thực gì đó, chúng tôi mau chóng theo gót giáo sư.


      Vách tường trong tháp khắc chi chít những chữ Quỷ Động kì quái, mỗi tầng đều có pho tượng đá đen, tầng là tượng con dê đá, cũng chẳng có gì đặc biệt. Tầng hai là tượng người đá, to cỡ người thường, mắt sâu mũi cao, quỳ nửa trong tháp. Tầng thứ ba lại là pho tượng người đá mắt lớn mà chúng tôi thấy trong tòa thành vô danh khi tránh bão cát.


      Giáo sư Trần dừng bước lại : “Xem ra tôi đoán nhầm, những bức tượng người đá mắt lớn ở khắp nơi đều có nguồn gốc từ nước Tinh Tuyệt này, vật liệu làm ra chúng đều là đá đen lấy từ núi Zhaklama.”


      Táp Đế Bằng hỏi: “Thưa giáo sư! Vậy tòa tháp này được dùng để làm gì ạ? Sao mỗi tầng lại có pho tượng?”


      Giáo sư Trần trả lời: “Tôi đoán tòa tháp này được dùng để bày tỏ địa vị của người Quỷ Động, tượng đá ở mỗi tầng tượng trưng cho đẳng cấp khác nhau, tầng là giống súc sinh, nếu tôi đoán nhầm, trong lòng đất còn có tầng nữa, bên trong đặt tượng của ma đói dưới địa ngục. Tầng hai là tượng người thường, bao gồm tất cả người Hồ ở Tây Vực, địa vị của họ chỉ cao hơn bò dê, tương đương với nô lệ. Tầng thứ ba là tượng người mắt to, vừa nãy tôi có thấy quả cầu đá ở đỉnh tháp, chính là tạo hình của con mắt, người đá mắt lớn và Totem hình con mắt, tương trưng cho sùng bái của dân tộc này đối với đôi mắt. Chúng ta mau mau lên xem, địa vị cao hơn nữa trong nước Tinh Tuyệt này tiếp theo đây là thứ gì?”


      Tuyền béo đáp: “Ngay trình độ còi của tôi thôi cũng thừa đoán ra rồi, tôi dám cược rằng, tầng nhất định là tượng của mụ nữ vương kia.” chưa dứt câu liền phăm phăm bước lên tầng bốn.


      Tôi theo sát phía sau, lên xem thử, ngờ giống như dự đoán, tượng đá ở tầng này, đầu người mình rắn, lại có bốn chi to chắc, chi sau hình chân thú, chi trước lại giống hình người, tay cầm gươm sắc và thuẫn bài, khuôn mặt của đàn ông, mặt mũi dữ tợn, hai mắt trợn ngược, tựa như tượng Kim Cang vẫn thấy trong đền chùa ở nội địa, sau gáy của pho tượng cũng có quả cầu đen, giống như bướu thịt của con rắn trong núi Zhaklama.


      Lúc này giáo sư Trần và mấy người khác cũng lục tục bước lên, thấy pho tượng tạp hình quái dị, liền tấm tắc khen lạ: “Đây dường như là tượng thần hộ vệ của vương quốc, đầu cũng có quả cầu đen hình con mắt, xem ra người Quỷ Động quả thực tin rằng đôi mắt là khởi nguyên của tất cả sức mạnh. Địa vị của thần hộ vệ còn dưới nữ vương, xem ra nữ vương Tinh Tuyệt đích thực được thần hóa rồi. Nào, chúng ta hãy lên tiếp tầng năm xem xem có phải là tượng của nữ vương ?”


      định lên, Diệc Tâm bị cơn gió sớm tháp thổi cho tỉnh lại, Shirley Dương lấy nước bón cho vài ngụm. Cơ thể vẫn hết sức suy nhược, nhưng so với lúc còn mê man bất tỉnh, giờ mọi người yên tâm hơn nhiều, triệu chứng mất nước của Diệc Tâm hết sức rệt, nhưng tạm thời phải lo cho tính mạng của nữa, tỉnh dậy được rồi, chỉ cần dùng nước muối lạnh điều trị hai hôm là ổn, có gì đáng lo ngại nữa.


      Chúng tôi đều nôn nóng muốn biết xem tháp còn thứ gì cổ quái, nhân tiện kiếm tìm chỗ vào đại cung trong cổ thành, bèn dìu leo lên tầng năm ngọn tháp.


      Trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ tầng bốn lên tầng năm, tôi nghĩ ra mọi loại khả năng, duy chỉ ngờ rằng tầng năm lại trống rỗng có thứ gì, ngay cả bệ đá đặt tượng cũng có, song văn tự khắc tường dày đặc hơn.


      Tôi hỏi giáo sư Trần: “Tầng này bị phá hoại rồi phải giáo sư? Hay là bị trộm?”


      Giáo sư Trần chần chừ lúc rồi đáp: “Điều này khó , lên tầng xem sao rồi mới biết được rốt cuộc đây là chuyện gì.”


      Những pho tượng đá trong tháp đen làm dấy lên tò mò trong lòng mọi người, ai nấy đều sốt sắng chạy lên bậc thang lên tầng cùng, tầng cao nhất này sừng sững chiếc vương tọa màu đen, bên là tượng phụ nữ ngồi ngay ngắn, phục sức hoa mỹ, phần mặt được chạm khắc như thể đeo mạng che, nhìn thấy dung mạo, nhưng nhìn cái là thấy ngay, pho tượng này hoàn toàn giống như nữ vương Tinh Tuyệt vẽ bích họa trong mộ vương tử nước Mặc, đây là tượng đá toàn thân của nữ vương.


      Mọi người rì rầm bàn tán, đều đoán xem vị nữ vương này rốt cuộc mặt mũi ra làm sao.


      Tôi nghĩ ra được duyên cớ, bèn hỏi mọi người: “Mụ nữ vương này rốt cuộc có ý đồ gì đây, Sao ngay cả đến khi đúc tượng cũng để lộ mặt vậy nhỉ?”


      Tuyền béo trả lời: “Theo tớ là cố ý ra bộ huyền ảo thôi, đệ nhất mỹ nữ Tây Vực cái gì, chắc chắn là mụ xấu xí chẳng dám lộ mặt nhìn ai, nếu chẳng giấu giấu diếm diếm như thế này, sợ người ta nhìn chắc? Có điều trông người cũng được đấy, mặt mũi ra gì, nhưng được cái người nuột.”


      Tôi bảo mồm cậu tích đức chút , người ta chết hai ngàn năm rồi, câu vẫn còn soi mói nuột mới chả nuột, cậu nom những thứ trong thành này, nó khớp với những gì trong truyền thuyết đến mức nào, ngộ nhỡ mụ nữ vương này là quái , chừng ở đâu nhảy bổ ra cắn cho cậu phát ấy chứ, thôi chúng ta đừng đoán già đoán non nữa, nghe giáo sư xem sao.”


      Giáo sư Trần từ khi bước lên tầng thứ sáu tòa tháp, từ đầu chí cuối chẳng chẳng rằng, chỉ lẳng lặng xâu chuỗi lại các manh mối trong đầu, lúc này cũng ráp được bức tranh tương đối hoàn chỉnh, nghe chúng tôi đưa lời hỏi, bèn giảng giải: “Lúc trước tôi rồi, tòa tháp đá này rất có thể là loại tượng trưng tinh thần, có đặc trưng đẳng cấp rệt, từ cao xuống thấp, tức là từ sang đến hèn. Người dân nước Tinh Tuyệt chủ yếu là người dân tộc Quỷ Động, dân tộc này diệt chủng từ lâu, nay chưa đào được bất cứ bộ hài cốt nào của họ, cho nên có cách nào suy đoán được nguồn gốc và bối cảnh của dân tộc này. Cho đến hôm nay, phát lớn nhất của chúng ta chính là Totem con mắt của chủng tộc này, đây tuyệt đối là bước đột phá quan trọng trong công việc nghiên cứu nền văn minh cổ Tây Vực., có chứng cứ này, rất nhiều vấn đề khó lý giải nhiều năm nay làm đau đầu các học giả, đến giờ lần lượt được giải đáp.”


      Tuyền béo lại hỏi: “Vậy tầng thứ năm sao lại trống rỗng?”


      Tôi đột nhiên nhớ đến những lời Shirley Dương trong mộ vương tử nước Mặc, buột miệng trả lời: “ gian số ảo!”


      Giáo sư Trần gật đầu, : “Đúng vậy, đầu tượng thần hộ vệ là gian số ảo thể nào hình dung được, mà nữ vương lại ngự tất cả, dường như bà ta hoàn toàn khống chế được gian bất khả tri này. Đỉnh tháp còn có Totem hình con mắt, điều này lên sức mạnh của nữ vương đến từ con mắt của bà ta.”


      Nghe đến đây, mọi người đều tránh khỏi rùng mình, lẽ nào đời này quả thực tồn tại gian vượt qua ngoài thường thức của loài người hay sao? Mà mụ nữ vương kia lại có thể thông qua đôi mắt khống chế thế giới ấy, mụ ta há chẳng phai là quái sao? Cũng may là mụ ta chết rồi.


      Giáo sư Trần thấy mọi người có vẻ lo lắng, bèn tiếp: “Mọi người cần phải căng thẳng như vậy , kẻ thống trị thời xưa phần nhiều là lợi dụng những câu chuyện thần thoại kiểu này để lừa gạt muôn dân, như vậy mới có thể củng cố địa vị thống trị của mình, cũng giống như các vua chúa ở Trung Nguyên thôi, ai nấy đều mình là chân mệnh thiên tử, được trời trao trách nhiệm, nhưng thực tế, chỉ bất quá là thủ đoạn làm ngu dân thôi. Bà nữ vương này lộ mặt , giả thần giả quỷ, cũng có điều gì kì lạ. Nhưng những câu chuyện cổ này có giá trị rất lớn đối với việc nghiên cứu văn hóa lịch sử thời cổ đại, ý nghĩa của tòa tháp đá này cũng vô cùng lớn.”


      Chúng tôi thấy trong tháp đen ngoài tượng đá ra còn thứ gì khác, bèn nhìn xuống tòa thành, chỉ thấy cả đô thành Tinh Tuyệt lẫn vào trong sắc vàng của dải cát sa mạc. Hình dạng của cả dải phế tích, cũng là hình con mắt lớn.”


      Giáo sư Trần xem xong, hỏi tôi rằng: “Chú Nhất này, kiến giải về phong thủy bố cục của chú rất cao minh, thử xem phong thủy của thành này thế nào?”


      Tôi nghĩ bụng việc quan trọng nhất bây giờ là tìm kiếm nguồn nước trong hoàng cung, ông già này sao lại muốn thử mình nhỉ? Lẽ nào ông cho rằng mộ của nữ vương chắc chắn nằm dưới hoàng cung? Nghĩ đoạn tôi bèn xem xét kĩ hình thế địa lý chung quanh.


      Tôi chỉ vào hai ngọn núi Zhaklama phía Bắc rồi : “Giáo sư nhìn xem! Dải núi màu đen, trông gióng như con rồng đen trong sa mạc, chỉ tiếc ở giữa bị cắt đoạn, con rồng liền biến thành hai con rắn. Theo ngu kiến của tôi, hẻm núi ở giữa là do người ta khai phá mà thành, đá lấy trong núi, có lẽ đều dùng để đẽo tượng và xây tháp. Vua chúa thời cổ đại vừa lên đăng cơ lập tức bắt đầu chuẩn bị xây dựng lăng mộ cho mình khi trăm tuổi, tòa thành cổ này nếu quả thực có mạch nước ngầm, tất hô ứng từ xa với dãy núi Zhaklama, hình thành thế tĩnh động. Chắc hẳn nữ vương Tinh Tuyệt kia phải là bậc kì nhân tài trí trác tuyệt, biết rằng rồng đen lành, liền phát động sức người, cho chặt con rồng đen kia ra làm đôi, ghim chặt ở đó để nó vĩnh viễn trấn thủ lăng mộ của mình, tòa thành này liền trở thành huyệt báu quá tuyệt. Nếu lăng mộ của nữ vương đúng là nằm trong thành, quy mô của nó nhất định , cho nên có điểm tôi , giáo sư hoàng cung của bà ta ở trong lòng đất, tôi lại thấy ngôi mộ cổ cũng ở trong lòng đất, như vậy khó tránh khỏi hơi chật chội chút.”


      Giáo sư Trần tán thưởng: “Quả nhiên là cao kiến, tôi nghĩ hoàng cung và cổ mộ đều nằm cả dưới lòng đất trong thành, nhưng phải là chụm vào chỗ, có khả năng là phân làm hai, ba tầng, tầng mặt đất này là thành lũy, tầng dưới đất là hoàng cung, sau hơn nữa mới là lăng tẩm của nữ vương Tinh Tuyệt. Nước Tinh Tuyệt lớn mạnh, sai sử hàng trăm ngàn nô lệ của các nước xung quanh, ngay cả núi Zhaklama cũng bị chẻ đôi, vậy công trình hoàng cung và lăng mộ dưới đất dẫu to lớn, nhưng vẫn có thể làm được.”


      Tương truyền chỉ lần các nhà thám hiểm tới được thành cổ này, nhưng cát vàng ngừng chuyển động, hoàn toàn chẳng thể tìm được tung tích của họ, trong số đó cũng có thể có người vào được địa cung, nhưng hoàn toàn có cách nào chứng thực, đương nhiên cũng chẳng thể nhìn ra được những người ấy vào địa cung từ lối nào.


      Biết ràng hoàng cung ở dưới chân, nhưng lại chẳng thể tìm được lối vào, thực khiến cho người như có lửa đốt trong lòng. Chúng tôi nhìn kĩ từng con đường, từng ngôi nhà nát, cuối cùng phát trong thành có kiến trúc bằng đá cao hơn so với những gian nhà thông thường, bên cũng có lớp cát vàng bao phủ, nếu nhìn kĩ, khó mà phát được.


      Xem ra đây là đầu mối duy nhất, chúng tôi vội chạy lại gần, kiến trúc này dường như là ngôi đền, cũng được xây bằng đá đen núi Zhaklama, cửa đá xây theo hình con thú khổng lồ há miệng, trước cửa chất đầy cát vàng, tôi và Tuyền béo đào cát mở ra lối , mọi người đeo mặt nạ phòng độc, rồi dùng pháo sáng soi đường phía trước. Đền đá vô cùng đồ sộ, tổng cộng tám hai mười sáu cây cột đá to, do ngoài cửa bị cát lấp kín, nên bên trong có cát. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Dưới đất chỗ sâu nhất trong đền có thờ hình con mắt bằng ngọc, trong ngọc còn có những vằn đỏ hình thành tự nhiên, tròng mặt màu lam, tầng lớp ràng, trông y như .


      Tôi xem mà tặc lưỡi thôi, chậc chậc, món này nhất định đáng giá vô cùng, chỉ cần nhìn cái, sờ cái, cũng uổng lần vào sinh ra tử trong sa mạc này, thực là thứ thần vật, nếu tận mắt thấy, sao có thể ngờ được đời này lại có thứ báu vật như thế này.


      Tuyền béo cũng nhịn nổi, định gỡ con mắt ngọc xuống cho vào ba lô, nào hay vận sức đến mấy lần, con mắt vẫn như bám rễ mặt đất, hề nhích động. Truyện "Ma Thổi Đèn "


      Giáo sư Trần sợ Tuyền béo quá mạnh tay, làm hỏng món thần vật cổ đại, vôi kéo cậu ta ra, bảo được làm quấy. Shirley Dương phát ra con mắt ngọc còn có cái rãnh, hình dạng kì quặc, nhưng lại rất khớp với miếng ngọc bội của Tuyền béo, bèn với cậu ta: ‘Lắp miếng ngọc bội gia truyền của lên thử xem, đây hình như là cái chốt khóa.”


      Tuyền béo mừng rỡ, liền lấy miếng ngọc bội trong người ra, đẩy những người bên cạnh dạt sang bên, tự mình nhét miếng ngọc bội vào cái rãnh con mắt ngọc thạch: “Nếu khớp nhau , cái mắt ngọc này là của ông rồi, đứa nào cướp ông liều mạng với nó, đừng trách ông đây khách khí. Mẹ nó, đúng là đồ quý, Nhất ơi, mẹ kiếp lần này em mình phát rồi.”

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :