Tắt Đèn Kể Chuyện Ma - Loan Bảo Quần (Tập 1)

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
           Chương 7: Sơn Bát Cảnh




      Bất luận thế nào, chốn gian phải là nơi thích hợp để ngao du, thăm thú. Thế nhưng, trong cuộc sống phải có người từng nảy sinh mong ước được lần dạo chơi chốn gian u ám này.

      Nếu tôi nhớ lầm hình như cách đây năm, cậu bé con trai của bạn tôi có lần đề xuất ý tưởng độc đáo này với tôi. Cậu bé hồn nhiên lên suy nghĩ của mình: “Người nước ngoài có thể làm được du lịch vũ trụ, vậy tại sao chúng ta thể làm về du lịch địa phủ nhỉ? Người nước ngoài từng đem rao bán sao Hỏa, vậy tại sao chúng ta thể mở rộng ngành bất động sản ở dưới phủ?” ràng, tinh thần nước dám so sánh, thậm chí đối đầu với nước ngoài của cậu bé hồn nhiên kia thể làm cho người khác động lòng trắc . Nhưng nếu như chịu khó suy nghĩ chút cậu bé khờ dại kia chắc hẳn tự đưa ra được câu trả lời trước những băn khoăn được cho là có sáng kiến của cậu. Bởi lẽ dẫn đoàn khách du lịch xuống thăm quan phủ, kinh phí đầu tư và kỹ thuật chắc hẳn khó khăn hơn nhiều so với việc đưa con người bay vào vũ trụ.

      Đương nhiên chốn phủ tới ở đây chỉ là chế tạo theo mô phỏng, với giá vài đồng bạc mẫu đất, mua ngọn núi hoang, sau đó tạo phong cảnh ở dưới gian, để những nhà văn có tài viết vài câu quảng cáo, mùa xuân là Đáo sơn khán hoa khứ [1] , mùa hạ là sơn cảnh hậu hảo thừa lương [2] . Nếu làm như vậy cũng chẳng mấy khó khăn, lại còn có thể thêm vào vài danh mục như “Dạ đài xuân mộng”, “Nai tân tàn chiếu”, ngay cả việc mời hoàng đế Càn Long từ trong Đông Linh ra đề họa ngâm thơ cũng phải là việc làm được. Còn việc đem chuyện lữ khách mà làm “Dạ thẩm Phan Hồng” [3] , cảnh tượng ảm đạm, mê mê tỉnh tỉnh giống như người bị say rượu, uống thuốc mê hoặc tiêm thuốc tê, dùng bút tẩy gõ vào sọ não, sau đó cho vào máy quay xi măng, quay ba mươi vòng, tiếp đến là chuyến xe xuyên qua khe núi”. Nếu có thiếu chỗ nọ, hỏng chỗ kia lập tức sửa sang lại rồi liệt vào khu vực tham quan ngắm cảnh. Những việc như vậy hoàn toàn có thể làm được. Tôi cái khó khăn về kỹ thuật đây phải là những thứ này, mà là có cách nào để làm cái nồi khổng lồ, cho ngọn núi vào đó để cả năm u, mù mịt có ngày đêm, người vào đó cảm thấy đầu óc mơ màng, thảm thương như chẳng có cách nào thoát khỏi. Vì theo như người đến thế giới phủ lại ở đó toàn là bão cát: “Dài như khi tháng Mười , tháng Mười hai tuyết rơi” [4] , hoặc là “sắc trời ngưng lại, gió hoàng hôn thổi rào rào” [5] , hay như “Hoàng sa rộng mênh mông, nhìn thấy nhật nguyệt” [6] .



      [1] Nghĩa là: đến núi ngắm hoa.

      [2] Nghĩa là: phong cánh phía sau núi rất

      [3] Nghĩa là: ban đêm điều tra Phan Hồng.

      [4] Ghi trong Thông ký của Trần Thiệu, đời Đường.

      [5] Trong Thanh tỏa cao nghị của Lưu Phủ, thời Bắc Tống.

      [6] Trong Tử bất ngữ của Viên Mai.

       
      <img class="aligncenter" alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Quỷ môn quan


      Quỷ môn quan, hiểu mặt chữ có thể gọi đó là cửa khẩu đưa đến thế giới phủ. Linh hồn của người ở bên ngoài cửa, danh nghĩa vẫn là hồn sống, qua Quỷ môn quan mới chính thức nhập hộ khẩu và trở thành người nơi phủ. Nhưng ở thời cổ, việc miêu tả về địa ngục hoặc thế giới phủ hầu như nhắc đến vấn đề này. thực tế, việc phân chia hai thế giới - dương cũng thể xác định ràng được, vì vậy ba chữ “Quỷ môn quan” về cơ bản vẫn là mang ý nghĩa tượng trưng. Cuốn Lưu chức y dược ngữ [7] của Hồng Mại thời Nam Tống, trong tập Di kiên chi canh có viết, hồn ma bị lang băm trị bệnh mà chết : “Cả nhà tôi có hơn mười người già trẻ, tất cả đều dựa vào tôi mà sống. Nay tôi chỉ lần uống nhầm thuốc mà chết, ngũ tạng của tôi giống như có dao cắt, dạ dày thối rữa, làm thế nào để có thể sống lại đây? Nay phải đến Quỷ môn quan ngồi chờ!” Ý nghĩa của câu này là ngồi ở quan phủ dưới gian để chờ gặp, sau đó cùng toàn thể oan gia khởi kiện lên để tính sổ với tên lang băm, chứ phải đó là nơi ngồi đợi đến lượt gia nhập vào cõi gian. Nơi ngồi chờ được tới đây chắc hẳn là có nha đầu và chó canh cửa, vì thế đó thực cũng phải là địa điểm lý tưởng để hẹn hò hoặc chờ đợi người khác.

      [7] Nghĩa là: thầy thuốc họ Lưu lấy nhầm thuốc.

      Nhưng xuất của chữ “Quỷ môn quan” có từ trước thời Nam Tống. Bởi lẽ, vào triều Đường người ta gọi những nơi nguy hiểm, dã man, hoang tàn là “Quỷ môn quan” rồi. Trong Cựu đường thư, địa lý chí tứ có viết:



      Ba trăm dặm về phía nam huyện Bắc Lưu có hai tảng đá đứng đối mặt vào nhau, ở giữa rộng đến ba mươi bước chân, tục gọi là “Quỷ môn quan”. Tướng quân Hán Phục Ba khi đánh giặc, đến đây là hết đường, liền lập bài vị bằng đá, điều này có ghi trong trang tám tám, đoạn cuối. Phía nam đặc biệt nhiều bệnh chướng khí, người vào đó cơ hội sống sót vô cùng mong manh, ngạn ngữ có câu: “Quỷ môn quan, thập nhập cửu bất hoàn.” [8]



      [8] Nghĩa là: Quỷ môn quan, mười người vào chín người có đường quay trở lại.



      Bắc Lưu nay thuộc Quảng Tây, nơi đây nổi tiếng nhất là Quỷ môn quan, nhiều đời nay trong thơ ca đều có người nhắc đến địa danh này. Có cách gọi tên này là bởi vì địa hình nơi đây giống như cửa ải của thiên nhiên, và điều quan trọng hơn nữa là vào Quỷ môn quan này “thập nhập cửu bất hoàn”, chướng khí bốc lên gây bệnh hại người, người mặc giáp nam chinh, triều thần bị giáng chức đưa đến nơi này đều khó mà quay về phương Bắc được.

      Ngoài ra, theo như Viên Tử Tài, Đam Nhĩ (nay là Hải Nam) cũng có nơi như thế, bốn bề núi non trùng điệp, ở giữa có con đường, vách viết ba chữ “Quỷ môn quan”, bên cạnh khắc thơ của Lý Đức Dụ đời Đường, vì lúc ông ta bị giáng chức đến Nha Châu, qua nơi đây liền : “ khi tới hàng vạn dặm, mười người đến chín người về. Quê hương ở nơi đâu, muốn sống phải vượt qua Quỷ môn quan này.” Chữ viết rộng khoảng năm thước, nét bút khỏe khoắn. Qua nơi đây mây độc cỏ ác, động vật kỳ quái, thời tiết nóng lạnh thất thường, giống như đến thế giới của ma quỷ, chứ phải nơi của con người nữa.

      Những nơi khác như Quỳ Châu - Tứ Xuyên, Bình Lương - Cam Túc cũng đều có địa danh là Quỷ môn quan. Ở đây hàm ý của nó là chỉ nơi nguy hiểm, chứ có nghĩa là trở về nữa. Nhưng đến thời nhà Thanh, Quảng Tây phá “Vương hoa”, Bắc Lưu còn là “thập nhập cửu bất hoàn”, đồng thời vì được phát là “nơi chứa đầy bạc”, Bắc Lưu trở thành vùng đất béo bở, kiếm được nhiều tiền, bởi thế lúc này có người cho rằng, về mặt chữ nhầm lẫn, cái gọi là “Quỷ môn quan” chính là để chỉ “Quế môn quan”. Quảng Tây được gọi tắt là Quế, cách này cũng có thể được xem là trường hợp ngoại lệ.

      Nhưng chắc hẳn dân gian phải có quan niệm về Quỷ môn quan ở dưới phủ mới có so sánh với Quỷ môn quan ở dương thế. Mà Quỷ môn quan ở dưới phủ cũng chỉ là cách mang ý nghĩa tượng trưng. Mãi đến sau thời Nguyên - Minh, trong kịch mới xuất hình ảnh Quỷ môn quan và từ đó trở thành cách gọi tắt của dân gian đối với phủ. Trong Tây du ký, hồi thứ mười làm hơn chút về khái niệm Quỷ môn quan, nhưng lại giống như tưởng tượng của chúng ta, đó là quan ải lớn như Sơn Hải Quan, như Nương Tử Quan, mà lại là đại môn của ngôi Thành Từ.



      Thái Tông Trúc và Thôi Phản Quan, hai đồng tử bộ về phía trước, bỗng nhìn thấy tòa thành, cổng thành có treo tấm biển lớn, bên đề bảy chữ: “U minh địa phủ Quỷ môn quan.”



      Bởi vì là cổng thành nên sau khi vào đó thấy người bộ đường, tiếp là đến trung tâm chính trị Lâm La Bảo Điện của thế giới phủ. Nhưng đến hồi thứ mười , khi Lưu Kim chui vào quả dưa lạ bỗng nhiên được đến thẳng Quỷ môn quan.



      Quỷ sứ gác cổng hỏi: “Ngươi là ai? Sao dám đến nơi đây?” Lưu Kim đáp: “Tôi phụng hoàng đế Đại Đường - Đường Thái Tông mang dâng tặng loại dưa quý bao đời Diêm Vương rất thích dùng.” Quỷ sứ vui vẻ tiếp nhận. Lưu Kim đến Lâm La Bảo Điện, gặp được Diêm Vương.



      Như vậy ta thấy, Quỷ môn quan được miêu tả cũng chỉ giống như cổng lớn của cung phủ mà thôi. Có thể thấy tác giả của Tây du ký đối với những tiểu tiết này quả thực dụng tâm sáng tạo cho lắm nên chỉ mượn hình ảnh Quỷ môn quan để thể ý đồ vào thế giới phủ mà thôi.

      Từ Khánh Tân - gia nhân của Khang Hy biên soạn cuốn Tín chính lục, trong đó có lấy bài Hồi dương ký của Hải Xương Trần Thục Văn, về việc sau khi vào thế giới phủ, trước tiên phải uống canh của Thi bà bà, sau đó mới được vào Quỷ môn quan. Nhưng cửa ải này lại giống như Nhạn môn quan của “Tứ Lang thăm mẹ”, thể tùy tiện ra vào. Cửa lúc nào cũng đóng kín, có hơn mười con ma mặt xanh, nanh vàng, lông lá đầy mình, chân đất, tay cầm giáo đứng canh, phải có giấy thông hành mới được mở cửa cho vào. Nếu có giấy thông hành “người có Đạo pháp gọi Thái Thượng Lão Quân, kẻ có Phật pháp gọi Tam Thế Như Lai, người hành thiện gọi Quan cứu khổ”, chỉ cần là môn đồ của “hội đạo môn” [9] có thể tùy ý ra vào.



      [9] Nghĩa là: Tụ hội của các đạo.



      Nếu như theo ý thức của người bây giờ, “hảo tử bất như lại hoạt trước” (thà dựa vào mà sống, còn hơn là chết đẹp), Quỷ môn quan vào thôi. Thực tế phải như vậy, bởi trước khi linh hồn đến Quỷ môn quan thể xác cũng sắp hỏng rồi, đường quay về cũng bị ngắt đoạn, muốn trở về phải là điều đơn giản, vì thế, ngoài việc nhập hộ khẩu vào thế giới u minh chẳng còn con đường nào khác có thể .

      Ngoài ra, trong Tử bất ngữ của Viên Mai, cuốn hai mươi Quỷ môn quan cũng đưa ra những kiến giải tương tự như thế này, nhưng hơn chút, Chu Tú Tài của Thái Vương vì lâm trọng bệnh, thể cứu chữa chấp nhận để Nhị Thanh Y dẫn vào thế giới phủ:



      hơn mười dặm, đến cửa thành, song môn cao to sừng sững, đóng kín, phía cổng thành viết ba chữ “Quỷ môn quan”. Nhị Thanh Y gõ cửa mà có người trả lời, lại gõ tiếp, bên cạnh đột nhiên xuất con ma, diện mạo rất hung ác, có vẻ như muốn gây gổ với Nhị Thanh Y. Nhìn từ xa thấy có hai chiếc đèn màu đỏ, trong chiếc kiệu có vị trưởng quan, ông ta được truyền đến. Khi nhìn gần, trông giống như Hoàng Thần của Thái Dương Châu Thành, thần hỏi: “Ngươi tên họ là gì?” Ông ta đáp: “Ta là học trò của Khoáng Thương Châu.” Thần lại : “Ngươi đến quá sớm, nơi đây được ở lại lâu.” Sau đó ông ta được chỉ dẫn con đường trở về.



      ra Chu Tú Tài chưa phải chết, còn Nhị Thanh Y có thể là tà ma gì đó, vì thế mà ma giữ cổng cho vào bên trong. Và trưởng quan cũng lắc đầu từ chối. Họ làm thế hoàn toàn sai. Nhưng nếu như gặp Thành Hoàng của Thái Thương, hồn sống của Chu Tú Tài chỉ có thể đợi ở trước cửa mà có đường về, thậm chí tình hình có thể còn tồi tệ hơn nữa. Đương nhiên, hồn ma nhập Quỷ môn quan cần phải có giấy thông hành, xuất quan càng thể hồ đồ được. Trong Tín chính lục của Từ Khánh Tân, phần Thẩm Lục Phi phục sinh có viết, sau khi Thẩm Lục Phi xuống phủ mới phát là bị bắt nhầm, được quan ở phủ thả về. Ở đây chỉ là quan, tuy là “Quỷ môn quan”, nhưng đối với việc phân biệt - dương có lẽ có vấn đề gì.



      Có sứ lĩnh ra, đến quan thứ nhất, hỏi: “Có văn thư ?” Ông ta đáp: “ có!” Quan giữ cổng : “ phải đến phủ rồi, nếu có văn thư thể xác bị hỏng. Ta cho người mang văn thư đến, ngươi lập tức phải điền vào.” Ông ta liền đặt bút chạm mực thành chữ kim.



      Nhân đây xin thêm chút về Quỷ môn quan của Phong Đô Quỷ Thành tại Tứ Xuyên (nay thuộc thành phố Trùng Khánh). Giáo sư Vệ Huệ Lâm có bài “Điều tra về tập tục tôn giáo ở Phong Đô”, trong bài viết có : “ núi ở huyện Phong Đô có Điện thái tử Diêm La, cổng sau của điện gọi là Quỷ môn quan. Từ Quỷ môn quan xuống theo hướng tây nam là Vọng hương đài.” Quỷ môn quan này vốn dĩ là cảnh quan nhân tạo, biết chính xác được xây dựng từ khi nào, nhưng trong Tử bất ngữ của Viên Mai, cuốn thứ năm Tẩy tử hà xa có đoạn ghi lại việc này, đồng thời cho rằng Quỷ môn quan là có :



      Huyện Phong Đô, Tứ Xuyên, sai dịch Đinh Khải đưa văn thư về Quỳ Châu. Qua Quỷ môn quan, phía trước có tấm bia đá, thư viết ba chữ “ dương giới” [10] . Ông ta xuống phía dưới tấm bia, say sưa thăm thú hồi lâu mà hề hay biết mình ra thế giới bên ngoài.

      [10] Nghĩa là: thế giới và dương



      “Thế giới bên ngoài”, chỉ bước chân mà đến được thế giới phủ, thế là gặp lại thê tử sau nhiều năm xa cách.

      Ngoài ra, trong dân gian có “ Dương hà” [11] , thương khách Trương Mậu Thâm muốn đến huyện Phong Đô để tìm hiểu về phong tục của địa phương, tiểu nhị với ông ta: “ ra cửa quán, theo hướng nam gặp con đường lớn, rồi gặp đèn thờ bằng đá, đó chính là “ dương giới”. Ở bên này giới cảnh làm ăn buôn bán rất náo nhiệt, đông vui, nhất thiết được qua phía bên kia của dương giới, nơi đó là đất của ma.” Ở đây đến đền thờ “ dương giới”, chính là Quỷ môn quan mà Viên Mai .



      [11] Nghĩa là: sông Dương



      Nghe nay “Quỷ môn quan” ở Phong Đô vẫn còn, nhưng tôi chưa đến đó bao giờ, theo dự đoán chắc hẳn được như Sơn Hải Quan hoặc Nương Tử Quan, và cũng giả như “ thành kế” trong kịch . Mà vào Quỷ môn quan vẫn còn các điểm như “Đường đến hoàng tuyền”, “Vọng hương đài”… chỉ cần thu vé vào có thể yên tâm mà qua.


      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Cầu sông Nại


      Thực chất phủ là nhân bản của chốn nhân gian, vì thế cảnh núi, sông, cây, cối ở dương gian khi xuất dưới phủ cũng là rất hợp lý. Duy chỉ có sông Nại lại giống như các con sông khác, nó là dòng sông bẩn, có máu. Nghiêm khắc mà , “sông Nại” là chỉ “địa ngục” (hay Naraka) trong kinh Phật - biến hóa của từ, do vậy “sông Nại” chính là địa ngục! Nhưng địa ngục trong tiếng Trung Quốc dịch ra cách văn nhã lại biến thành “sông Nại”, vậy cũng có thể để nó trở thành “hà lưu” rồi.

      Ở đây, trước tiên chúng ta xem xét biến đổi của sông Nại từ thời Đường trở , cùng với xuất của “hà lưu” nơi dương thế, lâu ngày sông Nại từ con rạch biến thành dòng sông lớn. Trong Tuyên thất chí của Trương Độc thời nhà Đường cho rằng đó là con sông rộng đến mức “ đếm được bao nhiêu thước”.



      Tổng quan xuất phát từ Dương Thành về phía tây. Họ qua nơi có rất nhiều cỏ cây mọc dày san sát, trải rộng đến khôn cùng, nước có hai màu đỏ và xanh ngọc bích, giống như tấm thảm lớn. hơn mười dặm thấy nguồn nước rộng đếm được bao nhiêu thước, chảy về hướng tây nam. Quan hỏi Linh Tập, Tập đáp: “Dân gian gọi đây là sông Nại, có nguồn gốc từ địa phủ.” Quan liền nhìn xuống nước, thấy có cả máu đỏ, vô cùng kinh hãi dám lại gần. Lại nhìn thấy bờ có người đem đến vài trăm bộ quần áo, Tập : “Đây là quần áo của người mất, họ vào phủ từ đây.”



      Sông suối kiểu như thế này cần phải có cầu, vong hồn đến đây phải cởi bỏ quần áo, để lại tất cả ở bờ, sau đó lội chân trần qua sông, thế là chính thức bước vào phủ rồi. Con sông Nại này là ranh giới - giống như giới phủ thứ hai, gọi là “ dương giới”. Trong Đại Mục Càn Liên u gian cứu mẫu biến văn [12] cũng miêu tả với nội dung tương tự:



      [12] Nghĩa là: biến đổi trong bài Mục Càn Liên đến phủ cứu mẹ mình.



      Mục Liên nghe thấy thế, liền từ biệt đại vương ra , được vài bước đến gần sông Nại, gặp vô số người cởi áo mắc lên cành cây, nhưng lại thể qua được, cứ lại lại, sau đó ôm đầu khóc thảm thiết.



      Con sông Nại này chảy từ đông sang tây, nước chảy siết, còn là con suối trong Tuyên thất chí miêu tả trước đó. Hai bên bờ sông đều có cây cối, vong hồn mắc quần áo lên đó, sau đó phải lội qua sông, trước khi vượt qua dòng nước cần điểm danh, “ngưu đầu đem theo gậy xích đến bên bờ sông, giở sổ gọi tên, ai muốn qua sông cũng được.”

      Trong Tục mặc khách huy tê của Bành Thừa, thời Bắc Tống, cuốn thứ năm, Hiến hương tạp kịch cũng nhắc đến sông Nại, theo hiểu biết của con người, dòng nước đó chắc hẳn rất sâu.

      Tăng : “ đến địa ngục, gặp điện Diêm Vương, bên cạnh có người áo đỏ ngồi câu cá, nhìn kỹ đoán rằng đó là người giám sát dòng nước, tay giơ lên vật, nhìn trái nhìn phải rồi : “Nước sông cạn thế này hiến kế gì được, chắc chỉ còn cách khơi thông dòng nước mà thôi.” Để mong nhận được ân thưởng từ triều đình, Thúc Hiến bóc lột sức dân bằng mọi cách nhằm cải thiện công tác thủy lợi. Từ đó, bách dân trăm họ rơi vào cảnh khốn cùng, đâu đâu cũng thấy vang lên tiếng khóc than thảm thiết.

      Trong tác phẩm Tam bảo thái giám tây dương ký ở phần Kế Kim Bình Mai hồi thứ tám mươi bảy, có dẫn ra câu chuyện, Đinh Thư , tuy sông có ba chiếc cầu nhưng vong hồn có tội thể qua được, chỉ có thể lội qua dòng sông Nại này để vào thế giới phủ.

      Con sông Nại này là từ phương Bắc u minh đại hải chảy ra dòng nước vô cùng kinh tởm, chạy vòng quanh phủ Đông Nhạc, phàm là người thường đều phải qua nơi này. Nước đen mênh mông, chảy cuồn cuộn, mùi tanh hôi, hoặc là lạnh như băng tuyết, hoặc là nóng như lửa thiêu, tùy thuộc vào nghiệp chướng của từng người, có độ nông sâu khác nhau, cũng có người bị nước ngập đến đầu, có người đến eo, đến mu bàn chân, nơi đó có rắn độc, quái thò đầu, há to miệng, tùy nó thích gặm thịt hay thích hút máu, nơi đó đừng nghĩ chuyện quay lại.



      ra con sông Nại đối với những linh hồn có tội là hình phạt ghê gớm. Về việc nước nông, sâu, nóng, lạnh còn phụ thuộc vào nghiệp tội các hồn ma mắc phải mà tự động biến hóa. Có thể thấy, từ thời nhà Đường đến thời nhà Thanh, cổ nhân tưởng tượng ra nhiều câu chuyện có ý nghĩa to lớn trong việc điều chỉnh nhân cách và hành vi của con người.

      Thời nhà Thanh có biên soạn cuốn Ngọc lịch bảo sao, trong đó cũng nhắc tới dòng sông, nhưng nó đưa đến phủ mà lại là nơi giam phạt những người phạm tội chịu qua mười điện, uống canh của Mạnh bà bà trước khi vào lục đạo luân hồi, cũng có nghĩa là cách phủ xa trước khi được luân hồi chuyển thế. Mặc dù vậy, ý nghĩa của đoạn văn rất khó hiểu, người đọc khó có thể hiểu hết dụng ý của tác giả giống như cũng được uống thứ canh mê hồn vậy.



      Các linh hồn buộc phải uống thứ canh mê hồn do người đầy tớ bê ra. Ở phía dưới có dòng nước chảy siết, màu đỏ máu, thịt người mắc cạn đầy khe suối. Nhìn theo hướng cây cầu, bờ bên kia có bốn hàng chữ lớn màu đỏ, viết: “Vi nhân dung dịch tác nhân nan, tái cần vi nhân khổng canh nan, dụ sinh phúc địa vô nan xứ, khẩu và tâm đồng tịnh bất nan.” [13] Khi các linh hồn chăm chú đọc, bất chợt ở bờ bên kia nhảy ra hai con ma lớn, tách nhau ra nhảy bổ xuống mặt nước, hai bên đứng vững, rơi xuống dòng nước đỏ chảy xiết, tùy theo nông, sâu, yếu, mạnh mà may mắn giữ được thân người lành lặn… Các linh hồn như tỉnh như mê, chia nhay vào các phòng xá, dương biến đổi, khí ảm đạm, mơ màng, điên đảo, thể tự do đặt chân lên Tử Hà Xa mà chạy thoát khỏi thai nương…



      [13] Nghĩa là: Thành người dễ mà làm người khó, muốn làm người mà để người khác phải nể sợ e rằng càng khó hơn, nơi đất có phúc có hạn, nếu biết đồng tâm đồng chí việc gì là khó khăn.



      Các đoạn khác trong Ngọc lịch bảo sao còn thấy nhắc đến sông Nại, biết con sông này có phải là sông Nại hay , hoặc cũng có thể là khúc sông Nại chảy vòng qua ngọn núi nào đó.

      Điều đặc biệt hơn, trong Liêu trai, sông Nại lại biến thành cống nước thải trong thành, tất cả rác rưởi của cửu u thập bát ngục đều quy tụ về nơi đây. Trong cuốn Vương thập cũng nhắc đến điều này: “Nước sông vô cùng hỗn độn, mùi thối thể ngửi”, trầm tích còn lại chỉ là “thịt nát xương tan”, mà trong Tửu cuồng lại cho thêm vào đó vài tình tiết khác: “Trong dòng nước có vật rất sắc, đâm thẳng vào bắp chân, cử động rất khó, đau đớn vô cùng, nước đen bẩn, hôi thối, tự nhiên chảy vào trong cổ họng, khó có thể chịu đựng được.” Đây chỉ là tùy ý chỉ ra vài điểm mà thôi, tất cả có trong tiểu thuyết của Bồ Ông. Chỉ vài tiểu tiết ấy cũng đủ cho ta thấy, thành thị từ thời xa xưa cũng có cảnh ô nhiễm như thế này, còn khoảng cách của nó đến sông Nại xa gần ra sao có lẽ cũng cần thiết phải kiểm tra độ chính xác.

      Tiếp đến, chúng ta cùng tìm hiểu về cầu sông Nại, tức cây cầu bắc qua sông Nại. Trong Dậu dương tạp trở của Đoàn Thành Thức người đời Đường, đầu cuốn thứ hai Minh kinh Triệu Nghiệp có viết về Triệu Nghiệp bị bệnh nặng phải đến phủ.



      Lúc đầu tinh thần du tản, tập trung, đứng như trong mộng, có Chu Y Bình Trách dẫn đường đến phía đông. Ra khỏi núi, đến nơi bị cắt đoạn, thấy có rất nhiều người. Đứng đó quan sát hồi lâu, lại tiếp tục đến phía đông, thấy có cây cầu được sơn son thiếp vàng. Bước qua cây cầu là vào trong thành, đến được Tào Tư, người dân sinh sống ở đây rất đông.



      Con sông này chính là sông Nại và dùng vàng bạc để trang trí thành cây cầu bắc ngang. Cây cầu đó tuy có tên gọi cụ thể nhưng người xưa vẫn gọi nó là cầu sông Nại. Về sau, trong bút ký của người đời Tống, còn được gọi là “cầu U Tư” [14] . Chỉ đến cuốn thứ ba Đàn nguyên đường tể trong tập Di kiên chí bổ mới hơn về “cầu sông Nại”. Đồ tể Đường Phúc chỉ vì giết chết con nhện mà bị dẫn đến sông Nại chịu tội, Đường Phúc cầu xin: “Tôi tự ngẫm cả đời giẫm đạp lên côn trùng, chỉ nhớ là giết mười ba con trâu, hai mươi con lợn, nếu như được thả ra, xin thề cải tạo” và:



      [14] Theo Hồng Mại, cuốn thứ tư, Thái dương bộ Vương thị phụ, trong Di kiên chi mậu.



      Viên lại : “Đây thuộc thẩm quyền quyết định cùa ta, đến đầu cầu sông Nại, đích thân nhà ngươi hãy với Phán quan về ý nguyện của mình.” Và cả hai cùng tới đó. Khi đến bên bờ sông, ngước nhìn lên cây cầu cao bắc ngang qua sông, vị quan áo mũ chỉnh tề đứng chờ ở đó, tay còn cầm cuốn sổ. Viên lại ghé vào tai người kia : "Đó chính là Phán quan!” Hai con chó dữ sủa vang khắp vùng, hung dữ lao ra ngăn cản cho ai qua. Thấy vậy, người đồ tể cung kính vái chào. Vị quan áo đỏ đọc trong cuốn sổ cầm tay, : “Có lẽ nhầm lẫn ở đây, kẻ giết Hi Tử là Bành Phú, liên can đến ngươi, tức là tuổi thọ của ngươi vẫn chưa hết, ngươi có thể quay về dương thế!”



      Những tài liệu này những xuất trong các tác phẩm văn học, mà còn là những tài liệu đầu tiên lý giải ràng sông Nại chính là cánh cổng dẫn vào thế giới phủ. Chỉ những hồn ma và những người đáng chết mới phải vào bên trong còn những người đáng chết ngay lập tức phải quay về dương thế, ngay cả khi muốn nhìn mặt Diêm Vương cũng được (đây có thể là để khống chế những người dân xảo trá ở dương giới đến, giống như kiểu Tịch Phương Bình đến kiện phủ), bởi ở đó luôn có hai con ác cẩu sẵn sàng chặn lại, điều này trước và sau nhắc lại nữa. Nhưng hai con ác cẩu này phải là có lai lịch, nó có nguồn gốc từ trong truyền thuyết cổ của Ấn Độ, về hai con khuyến bốn mắt Saladida của thần cai quản địa phủ Diêm Ma.

      Trong Di kiên bính chí, cuốn mười, Hoàng pháp sư tiếu [15] gian có “con sông có màu xám”, giống như đời Đường có người về sông Nại, có thể có hiểu nhầm đó là sông Nại. “柰” (nại) " (khôi), hai chữ gần giống nhau về nét (địa ngục trong kinh Phật có “khôi hà ngục” [16] , có thể do đó mà hiểu nhầm, điều này cũng thể khẳng định chắc chắn được). Trong tác phẩm ấy có nhắc đến cầu sông Nại, nhưng chỉ là để cho những người vô tội qua sông, ở đó hoàn toàn có Minh sứ hay chó dữ đứng trông, còn về người bị trọng tội, vẫn giống như trước đây có ghi lại, phải cởi áo lội qua sông, mà bờ có nhiều cây cối phải cởi áo ra và mắc lên đó. Nhưng có cái giống như trước đây, đó là những chiếc áo này khi mắc lên đều phải viết tên của mỗi người, sau đó đặt lên xe, chuyển qua cầu, khi qua được sông người đó lại mặc vào. người mảnh vải đến gặp Diêm Vương cũng mất mặt, có thể thấy quan dưới phủ cũng dần dần trở nên “nhân tính hóa”. [17]



      [15] Nghĩa là: lễ tế rượu của Hoàng pháp sư.

      [16] Nghĩa là: ngục ở sông Khôi.

      [17] Cây này trong Tuyên thất chí là móc dùng để cho vong hồn treo quần áo, nhưng trong Thanh tỏa cao nghĩa Lưu Phủ thời Bắc Tống, tự nhiên cho nó biến thành cây cao trăm thước, thân gỗ khô rộng tới sáu mươi vòng. Cây to như thế này thể mắc quần áo, chỉ có thể làm nơi vong hồn ngồi nghỉ dưới gốc cây. Chỉ là cái cây này cao trăm thước, thân gỗ rộng tới sáu mươi vòng, đây là cây ở đâu, ràng đó là những tảng đá to lớn có hình dạng giống như cây mà thôi.



      Tiểu thuyết và kịch của hai đời nhà Minh và nhà Thanh nhiều lần có nhắc đến cây cầu bắc qua dòng sông Nại, nhưng mỗi người lại mỗi kiểu khác nhau. nhất là trong Tây du ký, khi Đường Thái Tông vào phủ được qua cầu sông Nại. sông để vào phủ có ba cây cầu, là cầu vàng, hai là cầu bạc, ba là cầu sông Nại. Dưới chốn gian cũng có phân biệt đối xử, cầu vàng chỉ để chuẩn bị cho các bậc hoàng đế, vương, tướng, những người trung hiếu, hiền lương, công minh chính đại cũng chỉ được qua cầu bạc, còn lại những hồn ma vô công, vô đức chỉ có thể qua cầu sông Nại mà thôi. Đó là cây cầu “gió mùa đông thổi liên tục, sóng bằng máu chảy cuồn cuộn và ngừng vọng lại những tiếng khóc than.”



      Cầu dài vài mét, rộng chỉ bằng ba cái mụn đầu mũi, cao những trăm thước. Bên có lan can để bám, bên dưới có kẻ cướp tác oai tác quái. Gông quấn quanh người. Ngươi hãy nhìn xem, thần tướng ở cây cầu đó rất hung ác, ngang tàng, những hồn ma ác nghiệt dưới lòng sông lại vô cùng khốn đốn, nhánh cây có treo những chiếc áo đủ màu xanh, đỏ, vàng, tím... phía đầu tường quay về bờ, người phụ nữ quỳ phục xuống chính là hạng dâm đãng, khi còn sống luôn miệng mắng chửi bố mẹ chồng. Rắn đồng, khuyển sắt tranh nhau xông lên cắn xé, ăn thịt, vĩnh viễn có đường thoát khỏi dòng sông Nại.



      Cuốn Kế Kim Bình Mai của Đinh Xán Khang cũng đến ba cây cầu, nhưng là vàng, bạc, đồng, chung đều gọi là cầu sông Nại. Nhưng đến tư cách của những hồn ma qua cầu, bọn họ chỉ có thể bơi qua sông:



      Con sông Nại này bắt nguồn từ phía Bắc chốn u minh đại hải, chảy ra dòng nước vô cùng bẩn thỉu, chạy vòng quanh phủ Đông Nhạc, phàm là người thường đều phải qua nơi này. Có ba cây cầu, là cầu vàng, là đạo Phật, đạo Thánh, đạo Tiên về nơi đây, hai là cầu bạc, là thiện nhân, hiếu tử, trung thần, nghĩa sĩ, tiết phụ, trinh phu đến nơi này, còn lại là cây câu đồng, dành cho những người bình dân tốt bụng, hoặc có quan thanh, hoặc có hương bình, tích đức rượu tiền, hoặc luân hồi có trọng tội, hoặc sinh ra trong gia đình giàu có, chuyển sinh quan tước, hoặc nữ hóa thành nam, có nhiều công lao... mới được cây cầu này. Tất cả đều có phân biệt ràng. Cây cầu thần xuất có ma, xứng đáng cây cầu nào, đến bên bờ sông, cây cầu đó xuất , liền sau đó có đồng tử dẫn đường, xứng đáng cây cầu xuất , chỉ có dòng nước đen ngòm mênh mông, chảy cuồn cuộn như sóng biển...



      Nhưng trong Tam bảo thái giám tây dương ký hồi thứ tám mươi bảy, sông Nại lại có duy nhất cây cầu, chỉ người tốt mới được qua.



      Chỉ nhìn thấy đằng trước có con sông máu, ngang qua, bên có duy nhất cây cầu gỗ, rộng quá thước, vừa tròn vừa trơn. Vương Minh đến bên cầu, chỉ nhìn thấy cầu cũng có người , tràn phan bảo cái (cờ dài và cái lọng quý, còn gọi là tàn quý), tiền hô hậu ứng. Dưới cầu cũng có chỗ ngập máu, có những người buộc phải qua đó, bên cạnh lại có nhất đẳng Kim Long Ngân - con bọ cạp, chó sắt, rắn đồng tập trung bên những người đó, người bị cắn, kẻ bị thương. Vương Minh hỏi Phán Quan: “Tỉ phu, đây gọi là cầu gì mà sao thấy nguy hiểm vậy? Có người được, nhưng lại có người được?” Phán Quan đáp: “Đây gọi là cầu sông Nại, làm ma đều phải qua đây. Nếu như khi làm người trần, tâm thuật quang minh, hành động chính đại, trong đời có gì là dám với người khác, có gì là dám để trời biết, những người chính nhân quân tử chết xuống phủ, Diêm quân đều rất khâm phục và kính trọng, dám lãnh đạm, lập tức dặn dò kim đồng ngọc nữ, trường phan bảo cái, hướng dẫn quân tử trước, người ủng hộ theo sau, qua cây cầu này giống như dưới đường bằng phẳng vậy. Còn nếu ở trần gian tâm thuật ngu muội, hành động quỷ quyệt, làm trái luân thường đạo lý, làm ngược với lẽ trời, những hạng người này thuộc dạng tà tiểu nhân, chết xuống phủ, Diêm quân quát mắng người qua cây cầu này, có khi còn bị ngã xuống dòng sông máu, có Kim Long Ngân - con bò cạp, chó sắt, rắn đồng đến cắn và làm ta bị thương.”



      Trong tiểu thuyết Thanh lầu mộng, hồi thứ ba mươi sáu có đến cầu sông Nại cao trăm trượng, rộng chỉ có ba phân, giống như khe núi hẹp có kẹp dây sắt, vong hồn dù là thiện hay ác đều dễ dàng qua nơi đây. Mà dưới chân cầu lại là “ao máu bẩn”, ở đó có biết bao nhiêu nam nữ bị chết chìm. Đều là cầu sông Nại mà có đến bao nhiêu cách khác nhau, làm cho người ta biết phài tin vào đâu.

      đến nỗi băn khoăn, đắn đo, chọn lựa, trong Hồi dương ký của Trần Thúc Văn có : “Vào trong Quỷ môn quan liền nhìn thấy cây cầu, nhưng cầu lại chia làm ba con đường, trong số đó có đường tên là “sông Nại”. Dòng sông dưới cầu rộng khoảng hơn mười dặm, dòng sông ấy được gọi với cái tên “sông Nại”, mà lại định danh là “khổ hải” [18] . ràng kể chuyện về ma luôn phải biết cách sáng tạo những điều mới lạ, có như vậy mới thu hút được chú ý của người nghe. Nhưng về sáng tạo, mỗi người đều tùy theo cảm hứng của mình mà viết thành chuyện, kết quả thường giống như kéo của Vương Mã Tử, làm cho người đọc biết phải theo ai, chỉ cảm thấy tất cà những chiêu trò đó là lừa người mà thôi.



      [18] Nghĩa là: biển khổ.



      Ma ở thành Phong Đô canh giữ Trường Giang hầu như chưa bao giờ nghe về cảnh ở sông Nại. Sông Nại ở nhân gian phải đến chân ngọn núi Thái Sơn để tìm kiếm, bởi vì thực tế muộn nhất là đến đời Nguyên - Minh, con người quy ước sông Nại trở thành ký hiệu của phủ, còn tính vị trí, cảnh quan dịch chuyển xuống chân núi rồi. Trong Tân biên liên tương sưu thần quảng ký - Hậu kỳ có đoạn viết:



      Lý Cư vốn là người tài ba vùng Vệ Châu. Ông là tướng quân triều Chu Thế Tông, có tài cưỡi ngựa, bắn cung, lập nhiều công lớn cho đất nước. Sau này ông mắc trọng bệnh, nhiều người đến hỏi ông về bệnh tình, nhưng ông , chỉ với đám đông rằng: “Ta truyền lại cho tướng quân Nại Hà.” xong, ông ngừng thở. Hậu nhân lập đền thờ ông tại đây. Đến năm Khai Nguyên triều vua Đường Huyền Tông, phong ông là Linh phái tướng quân, năm Đại Trung Tường Phù triều vua Tống Chân Tông phong ông là Linh Hầu.



      Cách “Nại Hà tướng quân” là đời thứ năm cũng được, Tống Chân Tông phong hầu cũng có gì cần bàn cãi, tất cả những cái đó chỉ là do hậu thế truyền miệng, nên tin tưởng hay cũng cần xem xét kỹ lưỡng. Có thể tin tưởng tuyệt đối có lẽ chỉ có người viết và biên tập Sưu thần quảng ký là Tần Tự Phổ, người đời Nguyên mà thôi. Mà điều tra hơn trong cuốn chín, Đại sử cùa Chí Long, thực là có tìm thấy vị trí của sông Nại:

      “Miếu của Linh Phái Hầu nằm tại Châu Thành, phía đông con sông Nại. Tên thần gọi tên cũ là Nại Hà tướng quân, đời sau thông Tuyền Hầu.”



      Sơn Đông khảo cổ lục của Cố Viêm Vũ cũng nhắc đến “Biện Nại hà”:



      “Nhạc từ tây nam, có nước chảy từ trong cốc ra, thành kênh rạch phía tây, từ đại dụ khẩu đến phía tây Châu Thành gọi là sông Nại, bên trái núi Cao Lý, có cầu bắc qua, gọi là“cầu sông Nại”, truyền thuyết truyền từ đời này sang đời khác về hồn ma người chết được phép qua cầu gọi là “Nại hà” (phải làm sao). Việc này cũng giống như Hán Cao Đế “bá nhân giả, bách vu nhân dãvậy.



      Núi Cao Lý cũng chính là Cao Lý Sơn, tại núi Cao Lý nằm trong khu vực Thái An, giờ trở thành công viên, từ bến tàu bộ theo hướng đông nam chỉ vài phút là tới nơi. Bởi vì miếu Phong Đô đại đế ở đó bị thiêu hủy từ lâu, còn người đến đó để thăm quan, chiêm ngưỡng. Quả thực đến nay tôi cũng chưa thực nhìn thấy cái gọi là ngọn núi phía bên trái sông Nại. Mà Thái Sơn khai hợp vạn tượng, thư thái nghìn phương, ở đó cũng cần thiết phải dùng đến những thứ của ma giới để mời chào, có lẽ sông Nại và kênh Phong Đô, Vọng Hương Sầm dần dần rồi bị du khách lãng quên thôi.



      về cầu ở sông Nại, trong cuốn Thiết địch hưởng tỏa ký, Lâm Thư - tác giả thời cận đại có viết:



      Người Mãn (Phúc Kiến) cho rằng, muốn người chết được hưởng phúc dưới phủ phải mời đạo sĩ đến làm lễ tưới rượu cầu phúc. Đến ngày thứ bảy người ta lấy các tấm gỗ chống lên thành cây cầu, dưới cầu có đốt đèn hoa sen, bên gắn rất nhiều lọng mành, người ta gọi đó là cầu sông Nại. Người ta làm hình nộm giấy tượng trưng cho xác người chết, sau đó đặt hình nộm đó vào trong chiếc xe giấy, con cháu dắt chiếc xe ấy qua cầu, rồi đem hóa bên ngoài cổng. Sau đó, hỏi đạo sĩ làm như vậy người chết được tới đâu, đạo sĩ đáp: “Cái đó ta chịu


      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Bác y đình


      Lúc đầu xem mấy chữ “bác y đình” này lại cho rằng là để thuận tiện cho các linh hồn cởi áo bên sông Nại mà lập ra cái đình để che mưa che nắng. Nhưng chữ “bác” lại làm cho người ta nghi hoặc, ví như cướp bóc, bóc lột... hay đại loại như vậy, đều ám chỉ bên mạnh ào đến chèn ép bên yếu. Vì thế nơi đây đơn thuần là chỉ nơi hồn ma tự sửa sang dung mạo của mình (hay chính là chỗ để hồn ma cởi bỏ trang phục), mà nó giống như cách mà các đồ tể thường dùng để lột da. Mặc dù vậy, địa điểm của nó rất cụ thể và dễ bị phát . Bác y đình này được khẳng định cũng từ sông Nại mà ra.

      Vong hồn trước khi vào phủ cần phải cởi bỏ trang phục, cách này từng được đến trong Tuyên thất chí của Trương Độc, học giả đời Đường. Và nguyên nhân của hành động kỳ lạ đó dễ dàng cắt nghĩa, có thể là cuộc đời con người, khi đến như con nhộng, còn khi lại mảnh vải che thân, mà sau khi con người chết, xuống dưới phủ cũng chỉ là linh hồn, con người có linh hồn nhưng quần áo có hồn, vậy từ lúc ta thoát khỏi cái vỏ đó linh hồn trở thành linh hồn mảnh vải che thân. Nhưng bất luận thế nào đó cũng là cách của dân gian về việc phải cởi bỏ trang phục trước khi qua sông Nại. Và cũng chính từ cách này mà đến đời nhà Thanh lại biến thành cách diễn đạt tinh tế hơn - “Bác y đình” dưới phủ. Cũng giống như việc những kẻ phạm tội ở trần gian, khi vào tù cũng phải cởi bỏ quần áo của mình và khoác lên quần áo phạm nhân. Điều này cách vu vơ cũng có thể là nguyên nhân để tạo nên “bác y đình” trong thời đại. Trong Chỉ trung nhân ngôn của Thanh Trình Chỉ Tường, quyển hai, Ngô mưu có đoạn:



      Quỷ tay sai dẫn Ngô Du thập điện, uy phong lẫm liệt, cần phải đợi, mà cầu sông Nại, Bác y đình, Vọng hương đài đều được nhìn thấy.



      Trong Bắc đông viên bút ký kế biên của Lương Cung Thần, quyển bốn, U du xác ký [19] có ghi chép câu chuyện kể lại việc tương tự như vậy cách cụ thể, tỉ mỉ hơn.

      [19] Nghĩa là: ghi lại chuyến du lịch dưới phủ.

      Nhìn thấy ngoài trung đường quần áo chất thành núi, người đứng bên cạnh đây là Bác y đình, bất luận là có tội hay vô tội, quần áo mặc lúc lâm chung đến nơi đây đều phải cởi bỏ hết.



      Ở đây về Bác y đình thay đổi, bất luận là có tội hay vô tội, chỉ cần là quần áo mặc người đều phải cởi ra. Nhưng theo các trường hợp trước đây ở phủ, đó là nơi để bắt tù binh, phải nơi tiếp đón của triều đình, có lẽ là nơi chỉ để hỏi tội, hỏi phúc của hồn ma, bất luận họ là hoàng thân quốc thích hay là bách dân trăm họ. Đương nhiên ý nghĩa của nó ở đây là việc thay đổi phong tục tang lễ để vượt cấp.



      Thanh lâu mộng, hồi thứ ba mươi tư lại đưa ra cách hoàn toàn khác, ý nghĩa của Bác y đình là để cho những linh hồn có tội mặc da cầm thú lên người.



      Đến đầu cầu Tiên, rộng đến mười phân, nhìn thấy ở giữa có ngôi đình, có rất nhiều người ở đó. Ấp Hương đến gần để xem, thấy nhiều người vây quanh người con giặt quần áo ở đằng xa, trong khoảnh khác cởi sạch , người mảnh vải che thân. Ấp Hương nhìn thấy vậy, đột nhiên rất tức giận, : “Chốn phủ là vô phép tắc, vì sao bắt người con đoan trang lột bỏ hết quần áo như vậy?” Quỷ tay sai đáp: “Nơi đây là Bác y đình, phàm những phụ nữ ở dương thế hiếu thuận với cha mẹ đều phải lột bỏ hết quần áo, để cho họ thay phận đổi kiếp, làm súc vật.” Quỷ tay sai vừa xong, thấy người con đó bò dưới đất, tướng quỷ liền đem tấm da dê đặt lên người đó, mặt người thân vật, kêu khóc thảm thiết. Lại tướng quỷ khác đem mặt của con dê ấn vào mặt của , rồi chỉ nghe thấy tiếng kêu của con dê, diện mạo xinh đẹp lúc trước còn.



      Bất kể là người hay là ma, bị lột trần như nhộng qua công đường, chỉ cần nghĩ đến thôi cũng thấy bất nhã lắm rồi, cho nên phong tục tang lễ ở số nơi đưa thêm điều khoản vào. Trung Hoa toàn quốc phong tục chí, tập ba, Hồ châu vấn tục đàm cũng có đoạn ghi chép về Bác y đình như sau:



      Tất cả mọi người sau khi chết đều phải qua đình này, nếu bị ác quỷ lột bỏ. Về quần áo mặc lúc lâm chung, người nhà khi tụng kinh niệm phật siêu độ cho người chết cũng có câu: “Quần áo người của ngươi ở đâu mà có, quần áo người của tôi ở nhà có, văn võ vá thái lâm, Quan nương nương khai lĩnh làm vòng dây cài khuy áo, khi mặc rồi quay trở lại.” Vừa mặc vừa niệm, họ nghĩ rằng như vậy người chết bị lột quần áo nữa.



      Vẫn còn điển tích rất độc đáo thể tới ở đây, đó là trong tiểu thuyết chương hồi viết về hàng rào phòng vệ núi của Sơn Đại Vương, hề có Bác y đình [20] , làm gì cũng bị “Ngưu tử” mổ lồng ngực moi tim. Việc làm này biết có nhằm mục đích hòng đạt được linh cảm từ dưới phủ hay ?



      [20] Theo Thuyết nhạc toàn truyền của Tiền Thái, người đời Thanh, hồi ba mươi ba.

       
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Vọng hương đài [21]




      [21] Nghĩa là: đài cao nhìn về cố hương.



      Vọng hương đài cũng là trong những cảnh dưới phủ mà nhiều người biết đến, tên gọi có ý nghĩa du nhập từ nhân gian vào. Vương Bột, người đời Đường từng có lời thơ gợi nhắc: Cửu nguyệt cửu nhật Vọng hương đài, với Đỗ Phủ đó là Cộng nghênh trung sứ Vọng hương đài, hay Giang thông thần nữ quản, địa cách Vọng hương đài. đến Vọng hương đài ở Thành Đô, nơi Vương Dương Tú thời Tùy - Thục xây dựng nên, Ngô Dung, đời Đường có câu thơ: Thích liên hoang thú tần tần hỏa, thiên tuyệt khiên vân vọng vọng lôi, tạc dã thu phong dĩ dao lạc, ná kham canh thượng Vọng hương đài, Trương Thuấn Dân, người đời Tống viết: Bạch cốt tự sa sa tự tuyết, tướng quân hưu thượng Vọng hương đài. đến Vọng hương đài ở ngoài biên giới, truyền lại rằng xây dựng nơi đây là vì tướng quân nhà Hán, Lý Lăng, cũng có nghĩa là lão võ leo lên đài cao, vì leo lên đài cao để hoài niệm về cố quốc, nên đặt tên là “Vọng hương đài”, nhưng hoàn cảnh của ông ta như vậy là vì có tiền để tự xây cho riêng mình vọng đài kiên cố.

      Vọng hương đài này du nhập vào phủ có thể là từ thời nhà Tống, nhưng cũng chưa chắc chắn lắm. Hồng Mại, người thời Nam Tống khi viết cuốn Di kiên bính chí, quyển chín, Nhiếp Bôn Viễn thi có ghi lại việc hồn ma của Nhiếp Bôn Viễn làm bài thơ thất luật, câu cuối cùng là: “Hồi thủ lâm xuyên quy bất đắc, u trung hư khủng vương vọng đài.” (Nhiếp Bôn Viễn ở thời Bắc Tống những năm cuối làm sứ giả đến nước Kim để cầu hòa bình, ông đem cả ngọn núi Tây Sơn cắt cho Kim Lỗ, vì thế khi ông ta quay trở về, qua Giáng Châu, người ở Giáng Châu vô cùng tức giận, liền bắt ông ta kéo lên tường thành, “quyết kỳ mục nhi phụ chi” rồi.) Nhưng “u trung hư khủng vương vọng đài”, cần phải dùng cách đọc thơ để lý giải, cũng có thể là dùng câu chuyện Vọng hương đài của Lý Lăng, chưa hẳn lúc đó dưới phủ có tục Vọng hương đài, nhưng dù thế nào nữa, ở đây liên kết Vọng hương đài ở trần thế với phủ làm .

      Đến thời Nguyên, Vọng hương đài chính thức có ở phủ, ngoài những vở Kinh kịch thời Nguyên thường thấy nhắc đến ra, trong Thủy hử: “Răng cắn chặt, ba hồn đến trong uổng (oan) tử thành, cuống họng khô rát, bảy hồn tập trung Vọng hương đài”, nổi danh từ rất sớm cùng với uổng tử thành và trở thành đại danh từ dưới phủ. Đến thời Minh Đại, Vọng hương đài thường xuyên được gặp trong văn thơ, tiểu thuyết, và nổi tiếng nhất đương nhiên là Mẫu đan đình hoàn hồn ký, sau khi Đỗ Lệ Nương chết, linh hồn được thần Hoa Lĩnh đưa đến Vọng hương đài, từ đó có thể nhìn thấy phụ mẫu ở Dương Châu. Còn Tam bảo thái giám tây du ký, hồi tám mươi bảy, miêu tả càng cụ thể, tỉ mỉ hơn:

      Vương Minh theo Thôi phán quan, hồi, chỉ nhìn thấy bên trái có tòa đài rất cao, bốn phía xung quanh được xếp bởi đá, cao tầm mười trượng, hai bên trái phải là đường bộ, bên trái là đường lên, bên phải là đường xuống. Dưới đài có vô số người, người lên, người xuống, người lên đều có tâm trạng ưu phiền, người xuống nước mắt hai hàng. Vương Minh liền hỏi : “Tỉ phu, tòa đài kia có tên là gì? Vì sao có nhiều người ở đó khóc vậy?” Phán quan đáp: “Cậu cả, người có điều biết, đa số người phàm trần khi chết, ngày đầu tiên đều tập trung ở miếu thổ địa nơi mình sinh sống. Ngày thứ hai được giải đến miêu Đông Nhạc, gặp Thiên tề nhân thánh Đại Vương, đặt số trước. Ngày thứ ba mới đến chỗ chúng ta là Thành Đô quỷ quốc. Khi đến đây, tâm của ta vẫn chưa chết. Diêm Quân vốn có hiệu lệnh, đồng ý cho ta lên đài này, hướng về phía quê nhà, mọi người khóc trận to, lúc đó tâm mới chết, vì thế tòa đài này có tên là Vọng hương đài.”

      Lại có Vọng hương đài khác do Địa Tạng Bồ Tát tạo ra, Bồ Tát vốn có tấm lòng nhân ái, đài này được dựng lên cũng là vì thấy thương xót cho những hồn ma nhớ quê hương. Hồng lâu phục mộng, hồi bảy mươi bảy có đoạn viết:

      Chân phán quan chỉ đạo: “Nơi đây có tên thôn Cao Lý, Địa Tạng Phật từ bi tạo nên cao đài, chính là nơi mà gọi là Vọng hương đài. Những người phàm chết sau bảy ngày, đến đài nhìn về phía quê nhà, cũng là kết thúc mọi việc của đời, từ đây biệt ly gia đình mãi mãi.

      Chỗ này là Vọng hương đài ở thôn Cao Sơn, đó là điều tự nhiên mà tác giả cuốn tiểu thuyết tùy ý cho thêm vào. Nhưng rốt cuộc Vọng hương đài ở phương nào dưới phủ, ở mỗi cuốn sách lại có cách khác nhau. Huyện Sơn Tây Bồ, miếu Đông Nhạc có Vọng hương đài, được đặt tại Bát điện đô thị Vương ở bên cạnh cầu sông Nại. Đó chỉ là tính hình tượng hòng thu cảnh quan lại, thu cách tối đa có thể. Dự đoán đặt ở khu vực Bát điện (thập điện Diêm La ở đó là nơi “tập hợp làm công chế”, năm vị ngồi vào phòng rộng đủ ba mươi mét vuông, còn phải dành ra chỗ để khảo vấn hồn ma), phủ thể có Vọng hương đài, vì thế tìm nơi đất trống đặt ở đó, thực tế cũng nhất thiết phải đặt ở Bát điện.

      Trong Liêu trai chí dị có câu chuyện Canh thập bát, Vọng hương đài là nơi vào cửa phủ, nhưng cầu tất cả hồn ma đều phải ở đó. Ở đây có chút khác biệt so với người trần thế, nên có tên gọi là “tư hương địa” cách này có vẻ hợp lý hơn:

      Nhìn thấy có đài cao, người đến đó rất đông, kẻ lên người xuống, nghe người ta đây chính là “Vọng hương đài”. Tập trung nhiều người ở đây, đứng lộn xộn chờ đến lượt mình vào. Nếu có người chống lại hoặc bị đạp xuống, hoặc mất cơ hội lên đài. Chỉ khi nào đọc đến canh, mới được vào, số lượng mười cấp, từ người đầu tiên cho đến người cuối cùng. Ngẩng đầu nhìn, cửa nhà, khuôn viên của gia đình ở ngay trước mặt. Nhưng bên trong nhà u, giống như mây phủ, đau thương, buồn khổ đến khôn cùng.

      Trong Thuyết nhạc toàn truyền, hồi bảy mươi mốt cũng đề cập đến nội dung tương tự như ở Liêu trai, cả hai đều cho rằng: Vọng hương đài nằm trong Quỷ môn quan, nếu nhảy xuống Vọng hương đài thể quay lại trần thế:

      Hà Lập qua Quỷ môn quan, nhìn thấy tòa đài cao, Hà Lập hỏi: “Xin hỏi, đây là nơi đâu?” Người hầu nhanh nhảu đáp: “Đây chính là Vọng hương đài.” Trong phút chốc đến trước đài, Hà Lập hỏi: “Ta lên nhìn chút, biết có được ?” Người hầu lại đáp: “Tôi lên cùng ông.” Hai người lên đài, Hà Lập nhìn chút, quả nhiên là thành Lâm An ở ngay trước măt. Người hầu hỏi: “Ông nhìn thấy quê nhà rồi, sao còn về?” Có người chen lấn ở phía sau, Hà Lập chỉ kịp kêu lên tiếng rồi trượt chân ngã xuống đài, bỗng nhiên bừng tỉnh, ra đó chỉ là giấc mộng, cơn ác mộng!

      Trong Ngọc lịch bảo sao cũng có nhắc tới Vọng hương đài, nhưng việc sắp xếp Vọng hương đài hợp tình, hợp lý. đem đài đặt ở Ngũ điện Diêm Vương, đồng thời lại phải tất cả các hồn ma đều được phép vào:

      Ngũ điện Diêm La Vương thiên tử , hôm nay đến bổn điện, quỷ phạm tội, tạo nghiệp chướng, chuyên làm việc ác, cần phải nhiều lời. Ngưu đầu mã diện, dẫn ra cao đài nhìn chút là được. Thiết kế đài này có tên gọi “Vọng hương đài”, mặt giống như cái lưng còng, nhìn về ba hướng đông, tây, nam, độ cong tám mươi mốt dặm, đằng sau giống như dây cung. Ngồi bắc kiếm thúc làm thành, đài cao bốn mươi chín trượng, xây sáu mươi ba bậc, người hiền lương vào đài này, có công hai bình, nhưng chết, chỉ có ác quỷ, đứng từ đó nhìn về cố hương rất gần, có thể nghe thấy giọng, nhìn thấy hành động của người thân, từ người già đến trẻ , từ nam đến nữ, thấy họ thực di chúc, dạy dỗ được, khổ vì tranh chấp tài sản, nam muốn lấy vợ mới, nữ muốn lấy chồng khác, tài sản ruộng điền bị che giấu, phân chia bè phái...

      Đằng sau vẫn còn rất nhiều, đại ý là gọi đám tội hồn xem tình cảnh gia đình mình sau khi mình chết, nhà tan cửa nát, sau khi để họ phải chịu cực hình cơ thể, trong lòng lại chịu thêm lần giày vò nữa. Tâm lý tác giả Ngọc lịch bảo sao có vẻ có chút biến thái, chuyên dùng cách khủng bố nhân thế làm nhiệm vụ của mình, đối với việc cải tạo Vọng hương đài cũng vậy. Nhưng nhân gian cũng có biện pháp để đối phó. Trung Hoa toàn quốc phong tục chí, trong phần Thọ xuân mê tín lục: “Người chết sau ba ngày lên Vọng hương đài cấm người nhà khóc lóc. Tục cho rằng người chết biết vì sao mà chết, đến Vọng hương đài mới biết mình làm quỷ, nếu khóc lóc làm cho người chết càng đau khổ hơn.” thực tế, người nhà khóc ròng ba ngày liền, nếu thay đổi chút khí cũng chịu nổi!

       
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Ác cẩu thôn [22]


      [22] Nghĩa là: thôn chó dữ.

      về chuyện ác cẩu dưới phủ, xuất sớm nhất có lẽ là ở lời dẫn trong tập Di kiên chí bổ, đem hai con ác khuyển đứng canh giữ bên cạnh cầu sông Nại. Căn cứ vào nguồn gốc từ thần thoại Ấn Độ, Diêm Vương vốn có bốn mắt khuyển, nhưng ở cổng phủ lại thường có ác cẩu canh cổng, đó mới là điều quan trọng. Sau này, do trạm kiểm soát của cầu sông Nại bị tháo dỡ, ác cẩu thất nghiệp, có nơi nào để ở, liền được đem đến nuôi tại thôn ác cẩu, để nó tự tìm kế sinh nhai.

      Thôn ác cẩu chỉ gặp trong tiểu thuyết thời nhà Thanh, nhưng trong các tác phẩm lại có cách thống nhất. Trong đó, câu chuyện được nhiều người biết đến nhất là Thuyết nhạc toàn truyền của Tiền Thái, người sống ở đầu đời Thanh, hồi thứ bảy mươi mốt có đoạn viết về việc làm thế nào để xuống phủ:

      Gặp cảnh gió bão thê thảm, mây đen kéo đến ùn ùn, nghe trong làng kia có ác cẩu, hình dáng giống như sói, tính tình hung dữ như hổ. Nếu thấy quỷ tay sai áp giải những người phạm tội qua, chúng lao lên mà cắn, có người bị cắn mất tay, cũng có người bị cắn mất bụng... Chứng kiến cảnh tượng ấy chẳng ai run sợ mà bám chặt lấy người cùng, vừa vừa cầu khấn cho qua nhanh thôn ác cẩu.

      Trong cuốn Hồng lâu mộng, hồi mười bảy có đoạn viết: “Giả mẫu chơi ngắm cảnh ở thôn ác cẩu, Phong tỷ tỷ hướng về phía Vọng hương đài mà ngắm nghía với vẻ rất tò mò.” Trong chuyện có nhắc đến thôn ác cẩu nhưng có vẻ như có gì đáng sợ cả, ngược lại, còn tạo cho người đọc cái cảm giác giống như du lịch trong vườn thú vậy.

      Khi mọi người xem rất vui vẻ, bỗng từ trong ngôi nhà tranh có con chó chạy ra. Con chó này từ trước đến giờ chưa gặp những người này bao giờ, nó đứng từ đằng xa sủa lên, chó nhà này sủa làm cho chó của các nhà khác nghe thấy, cũng chạy ra ngoài đường mà sủa theo, chỉ lát tụ họp cả trăm con chó to, bao vây Giả mẫu đứng đợi ở cây cầu. Giả mẫu và Phong tỷ tỷ đều cảm thấy vô cùng sợ hãi, Giả Châu liền gọi người đem những chiếc bánh bao hấp sẵn tới, có khoảng hai trăm chiếc, ném ra khắp tứ phía cho chó ăn. Những con chó đó lập tức tranh giành đồ ăn và còn sủa nữa. Giả mẫu hỏi: “Các ngươi chuẩn bị sẵn những chiếc bánh bao hấp, ra biết ở đây có chó à?” Giả Châu đáp: “Nơi đây có tên là thôn ác cẩu, vốn là địa danh có tiếng, nếu muốn qua đây phải chuẩn bị sẵn đồ ăn, nếu cho dù có đánh, có quát nó cũng sợ, nếu đánh nó nhiều quá, nó xông lên cắn lại. Ở đây vốn là nơi có phong cảnh đẹp nổi tiếng và có tên gọi là “ác cẩu thôn đạp thanh”, trong tám cảnh đẹp ở dưới chốn phủ này.”

      Mang tâm thái của người say sưa hòa mình vào những trò chơi dân gian thuở xưa mà viết thành thơ, thành truyện nhưng bên trong lại phản ánh về đám tang truyền thống của đời Thanh, Trung Hoa toàn quốc phong tục chí cho thấy sinh động, hấp dẫn khi đề cập đến phong tục trong đám tang ở Nam Kinh và trong đó có nhắc đến đặc sản độc đáo là “bánh đánh chó”: “Tục truyền rằng người chết nhất định phải qua thôn ác cẩu, nhất định phải đeo bảy tấm long nhãn vào cổ tay, mặt quay về phía cầu là được. Làm theo phong tục này, tránh bị ác cẩu cắn.” Những chiếc bánh đánh chó này ở nơi khác có thể là bánh bao, chính là những thứ mà Giả Châu chuẩn bị khi qua nơi đây.

      Có sách đến việc qua thôn ác cẩu, ngoài việc gặp ác cẩu còn có “Loạn quỷ trang”, tức là có đám quỷ đói lôi kéo đồng bọn đến đòi tiền, ở đây chúng tôi xin phép nhắc đến vấn đề này, tránh việc độc giả liên tưởng, cho rằng đó chỉ là vài chiêu trò để thu thêm tiền vé vào cửa khu du lịch.

       
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Phá tiền sơn




      Lang tích tam đàm của Lương Chương Cự, quyển bốn có viết về việc dưới phủ có “Phá tiền sơn”, nhưng câu chuyện mới chỉ dừng lại ở chỗ gợi nhắc ra việc mà chưa dụng tâm trong việc giải thích cụ thể hơn:

      Phục dẫn linh nữ thăm địa phủ, người phàm có nghe đến dao sơn hàn lạnh, kiếm gỗ giường sát, gặp chiếc cối giã gạo, nước chảy đá ép đó là những tầng địa ngục, lại như Quỷ môn quan, Vọng hương đài, Mạnh bà quán, Phá tiền sơn... có nơi nào là qua.

      Dung Nột, văn nhân thời nhà Thanh trong tác phẩm Chỉ văn lục, quyển năm, Tất phát có giải thích về việc dùng Phá tiền sơn, đồng thời cũng nhắc đến nơi gọi là Lạn ngân sơn khác:

      Dưới phủ dùng giấy làm tiền, cũng giống như ở trần gian người ta dùng đồng đúc tiền vậy. Tiền ở trần thế có to, có , tiền dưới phủ cũng có đẹp, có xấu. Trần thế tạo ra tiền, đồng bảy chì ba, và có thể cho vào lò tái chế, tiền dưới phủ là do người trần thế tạo ra, nếu như tiền bị rách, nát, đồng thời giấy nhiều, thiếc ít, bạc thỏi, tuy có hóa nhiều tiền vàng xuống, nhưng dưới phủ dùng đến, tiền bị bỏ vào Phá tiền sơn, bạc được bỏ vào Lạn ngân sơn. Mà vàng thỏi, bạc thỏi trong nhân gian, dưới phủ cũng như vậy, nhưng màu sắc khác, thỏi bé tính làm ba phân, thỏi nhỡ tính làm năm phân, thỏi to cũng chỉ là đồng tiền mà thôi.

      ra những cảnh đó cũng chẳng khác nào đống rác có màu sắc chói lóa của tiền vàng, chuyên dùng để tích lũy những đồng tiền, thỏi bạc mà trần gian hóa xuống nhưng hợp quy cách. Những thứ đó ở trần thế hóa thành bụi, đến phủ đều biến thành bạc, đồng, nhưng do tình trạng bị rách nát, hoặc do thành sắc đủ, thể lưu hành thị trường đều trở thành phế phẩm, vì vậy cũng có thể coi những thứ phế phẩm chất thành đống này là kho nguyên liệu. Dưới phủ có bộ phận chuyên đúc tiền cho các quan lớn trần thế, nguyên liệu có thể được lấy từ Phá tiền sơn.

      Trong Độc dị chí của Lý Nhũng có kể câu chuyện như sau: Tể tướng Lô Hoài Thân mắc bệnh mà chết, con cái của ông vô cùng đau đớn, thương xót, khóc than thảm thiết. Phu nhân của ông là bà Thôi thị, vì

      muốn thấy các con mình quá đau khổ, liền : “Ta biết, số của lão gia nhà ta vẫn chưa tận, bởi ông là người thanh liêm chính trực, rất nhiều người hối lộ cho ông, mà ông hề tơ hào lấy đồng. Còn có người tên Trương Thuyết cùng làm tể tướng như ông, ta nhận hối lộ nhiều đến mức của cải có thể chất thành núi, nhưng tại vẫn sống khỏe mạnh. Trương Thuyết chết mà lại bắt lão gia nhà chúng ta chết trước, ông trời đúng là có mắt rồi!” Khi màn đêm buông xuống, Lô Hoài Thân quả nhiên sống lại, : “Phu nhân à, lý do phải như vậy đâu, dưới phủ có đến ba mươi cái lò lớn, phân biệt ngày đêm, họ ngừng nghỉ đúc tiền bạc cho Trương Thuyết, bản thân tôi đến cái cũng có, làm sao có thể so bì với họ được chứ!” rồi dặn dò phu nhân, ông liền nhắm mắt và vĩnh viễn bao giờ tỉnh lại nữa.

      Nghe những câu chuyện như vậy chắc hẳn khiến cho nhiều người hả hê, đắc ý. Nếu như tiền bạc trong nhà tham quan có được là do dưới phủ tạo ra cho ông ta, vậy lai lịch số “tài sản bất minh” kia cũng cần phải truy cứu làm gì nữa. Từ trần gian hóa vàng hối lộ phủ, dưới phủ lại đúc tiền cho quan tham trần gian làm phúc. Cách rửa tiền vô cùng sạch , kiểu hai bên cùng có lợi, điều quá diệu kỳ.

       
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Huyết ô trì [23]
       

      [23] Nghĩa là: ao máu bẩn.

      Huyết ô trì còn có tên huyết hà trì, bắt nguồn từ “huyết hà” [24] trong kinh Phật. Trong Phật thuyết hóa thủ kinh, quyển bảy có ghi lại: “Người chết hóa thành bốn ao máu lớn, bên trong đầy máu, và ao bên cạnh chảy bốn dòng sông máu.” Việc này liên quan đến địa ngục, vào cuối đời Đường, trong Lăng nghiêm kinh, quyển tám cũng dẫn ra câu chuyện: “Câu chuyện có huyết hà, khôi hà, nhiệt sa, độc hải, dung đồng, quan thiệt chí .” Trong đó huyết hà trở thành cực hình dưới địa ngục. Trong Chính pháp niệm xử kinh, quyển mười có nhắc đến việc: gọi to mười sáu xứ nhò dưới địa ngục, cái thứ sáu có tên “Huyết hà phiêu”, đồng thời những người vào địa ngục là người tự làm hại bản thân mình và tu hành ngoại đạo kiểu như “ vào trong rừng, chân treo lên cành cây, đầu dốc xuống dưới, dùng dao bổ mũi, hoặc tự đập vào trán mình, tự làm chảy máu mình rồi dùng lửa đốt máu, hy vọng được thăng thiên”. Những kiểu người tu theo đạo đối xử tàn nhẫn với chính mình, nhưng cuối cùng vẫn đắc đạo thành tiên mà ngược lại còn “bị nhốt vào nơi dành cho kẻ ác, rồi đến huyết hà phiêu dưới địa ngục, chịu nhiều khổ cực”, đều là ngu muội.

      [24] Nghĩa là: sông máu.

      Nhưng biết bắt đầu từ khi nào, chốn địa ngục này khi du nhập vào Trung Quốc biến thành nơi dành riêng cho phụ nữ. Lương Cung Thần, người thời nhà Thanh trong cuốn Bắc đông viên bút lục kế biên, quyển năm, Phật mẫu háo đạo có viết: “Trước tiên gặp dòng sông máu mênh mông thấy bờ bến, có vài người phụ nữ hoặc ngâm mình trong nước, hoặc đầu tóc bồng bềnh, hoặc nằm nghiêng người để ngủ, máu chảy vây quanh thân mình.” Những người phụ nữ này phạm tội gì mà bị rơi vào dòng sông máu, điều này dễ . Nhưng trong Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển hai mươi hai, Ngô sinh lưỡng nhập phủ có trích dẫn đoạn, từ đó ta có thể lý giải phần nào nguyên nhân xảy ra việc này. Trong thời gian rất dài, con người cho rằng phụ nữ bị vào dòng sông máu bẩn là vì người phụ nữ đó từng sinh con, trong câu chuyện này, Viên Mai mượn lời của cụ bà để phản bác:

      Ngô hỏi: “Nương tử của tôi chưa hề sinh con, hà tất phải vào nơi đây?” Cụ bà đáp: “Trước đây ta , ao này phải để cho những người từng sinh con đến. Sinh con là điều thường tình ở nhân gian, hà cớ gì phải chịu tội!”

      Cách nhìn sai lầm bị Viên Mai phản bác, trong Đàm chân dật sử cũng có bản, hồi sáu trong sách , người phụ nữ sinh con, bản thân có tội “huyết chủng tam quang”, còn nếu khó đẻ mà chết, tội cộng thêm tội: “Lúc đó oan nghiệt theo người, linh hồn phải chịu tội, Diêm Vương lão tử rất lợi hại, tra trong cuốn nghiệt bạc, gọi những tên quỷ đầu trâu mặt ngựa dẫn vào ao máu bẩn, được lộ đầu. Lại có chim ưng và rắn đến mổ, có ác khuyển đến cắn.” Cũng đều là máu trong cơ thể con người, nhưng máu từ dưới cơ thể của người phụ nữ chảy ra là loại ô uế, thậm chí còn có chút tà lực và đó chính là lý do vì sao mà mặt trời được sáng chói như trước nữa cũng là kết quả của “huyết trung”. Cách nhìn sai lầm của các thầy mo hầu như có liên quan đến tính thần mật của đạo học. Đạo học lưu đến hạ tầng, thường sinh thành nghiệt, trong mắt họ, phía dưới cơ thể của phụ nữ có lực ô uế rất lớn, những có thể làm ô nhiễm môi trường, làm tam quang mất màu, mà chiến trường vào thời đó có thể làm vũ khí hồng dịch đại bác của đạn nguyên tử mà biến thành câm. Đầu đời nhà Thanh, Đổng Hàn cũng nhắc đến điều này trong cuốn Tam phong thức lược:

      Trước tiên là cầm chân kẻ xâm lược ngoài thành, trong thành được bảo vệ hết sức cẩn thận, dùng lực tấn công ba lần, nhưng thể khắc phục được. Kẻ địch yếu thế, tìm kiếm hàng trăm người phụ nữ, để lộ bộ phận dưới thân, đặt lộn đầu lại, hướng về phía cổng thành trêu ghẹo, rồi : “ môn trận ”, pháo thành đều thể nổ được. Trần Vĩnh Phúc tướng quân vội vàng tìm tăng nhân, thuật lại chuyện xảy ra, lệnh xích thân lập trận đối khâu, và "dương môn trận ”, pháo của kẻ địch đúng là phải lùi lại phía sau dám bắn nữa.

      Cách đấu dương giữa quan và “phỉ” đều cùng sư truyền. Đồng Hàn còn : “Sau đó đám cướp còn dùng lại vài lần cách đánh này, và thường rất linh nghiệm.” Qua đó có thể thấy, uy lực của các thầy mo trong nhân gian nhiều khi cũng khiến cho đại phu tin tưởng.

      Nhưng còn kiểu người đần độn bỗng chốc quên mất chính bản thân mình bắt đầu từ đâu mà có. ràng đó chỉ là số ít và những người như thế chỉ ra những lời ngu muội, vậy là truyền thuyết về dòng sông máu bẩn chuyên dùng làm nơi dành cho người phụ nữ sinh con cũng còn hợp thời nữa. Từ đây lại xuất cách khác, tất nhiên vẫn là nơi lập riêng cho phụ nữ. Như trong Tề công toàn truyện, hồi trăm năm mươi lại cho rằng:

      Những người phụ nữ này, có người kính bố mẹ chồng, có người tiếc ngũ cốc, có người tín thần phật, có người tôn trọng chồng... sau khi chết đều phải vào ao bẩn uống máu.

      Còn Viên Mai cho rằng, phải vào ao máu bẩn là những người phụ nữ có hành động độc ác, tàn nhẫn với tì thiếp:

      đến nơi, gặp vũng máu lớn, người phụ nữ ở bên trong khóc than ai oán. Thường : “Đây là nơi Phật gia tạo ra có tên gọi “huyết ô trì”. Những người vào ao này là những người lúc sinh thời rất độc tàn với tì thiếp, phàm là những tì thiếp già gặp máu ngưng, đều vào từ này.”

      Theo như Kỳ Vân giải thích trong Việt vi thảo đường bút ký, quyển chín: “Có người ra cách bất thường, đến cõi hỏi sứ, nhân gian niệm tụng “huyết bồn kinh sám” [25] , có tác dụng gì ? sứ mực phủ nhận, trong cõi hề có ao máu bẩn, cách về dòng sông máu hoàn toàn là lừa bịp, mục đích là để lừa tiền của phụ nữ.”

      [25] Nghĩa là: đọc kinh sám hối bồn máu.

      Kẻ điều này chủ yếu là với những người phụ nữ cả tin, mà phụ nữ tránh khỏi việc sinh con đẻ cái, lại tưởng rằng như vậy là có tội, mà có tội thể xám hối, và có bao nhiêu tiền tài đều ra sức làm công đức hết thảy.

      Trong Ngọc lịch bảo sao lại có nhiều cách lập luận rất hoang đường, trái với đạo lý, duy nhất có việc này là có vẻ hợp tình hợp lý hơn cả, thậm chí cả đàn ông cũng vào ao máu, đương nhiên bên trong vẫn có ít những lời ngu muội:

      Lập ra cái ao bẩn này, bất luận là nam hay nữ, phàm khi ở trần thế chăm thần trước phật sau, kiêng nhật thần, như là ngày Mười bốn, Mười lăm tháng Năm, ngày mồng Ba, Mười ba tháng Tám, mồng Mười tháng Mười, vào những ngày này nam nữ phạm điều giao cấu, thần giáng bệnh nặng mà chết, phải chịu nỗi khổ dưới địa ngục, ngóc đầu lên được. Và nam phụ mà giết, máu chảy thần bếp, phật miếu đường kinh điển là dùng giấy ấn dấu lên, tất cả để lên vật tế lễ, chịu qua những khổ cực dưới phủ, được giải vào ao máu, vẫn dễ dàng được xuất đầu lộ diện.

      Du Việt trong cuốn Hừu đài tiên quản bút kỷ, quyển năm lại nhắc đến cách mới. Du Quân là người ra bất thường thuật lại: “Ao máu bẩn chuyên trị nam tử. Phàm là người đàn ông cưới vợ, phải vào ao này, lấy người thứ hai bị vào ao này lần, cưới ba lần, vào ao này hai lần. Nếu như là người có thiếp, xem số thê thiếp mà biết số lần mình phải vào ao máu.” Để ao máu bẩn biến thành địa ngục của những kẻ lắm thê nhiều thiếp, vị Du Quân tiên sinh ra cách bất thường này có quan niệm về nữ quyền, rất giống như trong những lời bóng gió của tác giả Du Lý Sơ trong Quý tị tồn cảo. Du Việt cho rằng, cách của vị bổn gia là “những người háo sắc có thể cai và bị như vậy”. Quà nhiên hổ thẹn là đệ tử của Tăng Quốc Phiên, đưa ý kiến của mình với phủ để sửa đổi, cải tiến cách dùng ao máu bẩn, chuyên dùng để trừng trị những kẻ ngoại tình, và những kẻ cùng nhau chạy trốn, những kiểu có mai mối theo phong tục tập quán, bất kể là nam hay nữ, đều phải vào đó.

      Có người dưới phủ có ao máu bẩn, thực tế là có, chuyên để trừng trị những đôi nam nữ tuân theo lễ nghĩa, có quan hệ bất chính ngoài vợ chồng, tất cả đều phải vào ao máu.

      Ao máu bẩn lại trở thành hình phạt dưới phủ, vì thế nó ở gần điện Diêm Vương. Nhưng cách xuất sớm nhất lại phải như vậy. Ở đoạn trước chúng ta có giới thiệu về sông Nại, có sách ao máu bẩn ở ngay dưới chân cầu sông Nại, chỉ cần trượt chân ở cầu là rơi vào ao này, và phân biệt nam - nữ, thiện - ác. Nghe ao máu bẩn ở quỷ thành Phong Đô cũng như vậy, nhưng chỉ là nước nông hơn chút, bẩn có thể, còn máu tuyệt đối có.

       
      <img alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                  Mạnh bà quán




      Mạnh bà quán là quán trà nơi chuyên cung cấp canh mê hồn. Tên quán như vậy là do tên của chủ quán là Mạnh bà, còn tên trà cũng giống như “cẩu bất lý” [26] và lấy tên của người để đặt cho tên đồ uống, gọi là “canh Mạnh bà”. Đây là quán mà hàng trăm năm nay chưa có bất cứ ai dám giả mạo tên hay ăn cắp thương hiệu cả.

      [26] Nghĩa là: chó đế ý tới.

      Từ rất nhiều năm trước đây, trong các câu chuyện thần thoại Hy Lạp có khái niệm “vong tuyền”, hoặc gọi là “vong xuyên”, nhưng canh Mạnh bà ở Trung Quốc cho đến mãi sau này mới xuất , chính xác là phải đến thời đại nhà Minh, người ta mới bắt gặp có sách viết về vấn đề này và điều này làm cho người ta cảm thấy xấu hổ. Nhưng trước khi xuất thứ canh mê hồn này có những cách khác nhau về trà dưới phủ và trần thế. Vì sao lại có đồng nhất trong cách như vậy? Bởi vì có người mặc dù xuống phủ rồi nhưng vẫn chưa được hoàn dương, cho nên thể uống trà dưới phủ được. Bởi khi uống vào rồi bao giờ có thể quay trở về trần gian được nữa. Trong tập Thái bình dị ký, cuốn ba trăm tám mươi lăm có tên gọi Huyền quái dị viết: Thôi Thiệu sau khi đến phủ, được vị Vương phán quan đến gặp mặt. Khi có người mang trà tới, vị phán quan : "Đừng uống, đây phải là trà ở nhân gian đâu!” Cuốn thứ tư, Trương Văn Quy trong Di kiên ất chí cua Hồng Mại thời Nam Tống ràng, cụ thể hơn về vấn đề này như sau: “Có những thứ nước đặc biệt mà người mới đến nhất định được uống, uống vào rồi thể trở về trần thế được.”

      Dưới phủ, những trà được uống mà các loại thực phẩm khác cũng thể ăn. Và lý do của nó có thể được giải thích cách đơn giản như sau, thức ăn dưới phủ là từ trần gian mà có, mà những thứ đồ cúng khi chôn cất nhất định bị biến chất, bị thối nát, thậm chí nó có thể biến thành đống bùn nhão. Những thực phẩm thối nát này cũng giống như áo quần bị rách vậy, nhìn theo khía cạnh nào đó ở dưới phủ nó lại rất tươi ngon. Linh hồn còn sống dưới phủ ăn những đồ nhìn còn rất tươi này, nhưng sau khi trở về trần gian, những thứ thối nát mà ta mang theo trong bụng từ phủ trở về cũng “hoàn trần”, và thế là dù chết ta cũng mắc trọng bệnh. Đối với việc uống trà mà , đáng ra cần phải để ý đến những vấn đề này, nhưng cũng thể để linh hồn còn sống uống được, bị cháo nóng làm bỏng môi, nhìn thấy đậu phụ thối cũng phải thổi qua chứ! Nhưng thực tế, những cái gọi là ngoại lệ cũng phải là ít, trong đó có truyền thuyết kể về việc hồn ma sống uống đồ uống. Cuốn Vương Quốc Lương trong tập Kế huyền quái lục của Lý Bá Ngôn, người đời Đường viết, dưới phủ có loại nước, chuyên cung cấp cho những người chỉ tạm thời đến phủ, nhưng vẫn phải quay về trần gian. Bởi vì sau khi uống, họ quên những gì mắt thấy tai nghe ở gian, để sau này khi trở về trần thế rồi, việc lớn việc bé ở gian đều được lãng quên, đặc biệt là tuyên truyền về việc bị quả báo dưới phủ, để khuyên răn người ở trần gian. là tuyệt vời, bởi dưới phủ có loại trà uống vào có thể chống lại việc mất trí nhớ, và tất nhiên cũng có loại trà làm phai mờ ký ức, khi nào cần sử dụng có thể tạo ra được ngay.

      Ngoài ra cũng có những ghi chép liên quan đến canh mê hồn, như cuốn thứ nhất Ký tiền sinh [27] trong tập Hà thượng chử đàm, có thể đây là những ghi chép sớm nhất mà chúng ta có được.

      [27] Nghĩa là: ghi nhớ lúc còn sống.

      kẻ tôi tớ khoảng mười hai, mười ba tuổi tự rằng kiếp trước là con của Hoài Dân, có tên là Tiểu Khuê Tử, chết năm lên chín tuổi, khi chết mọi người đều ra chỗ, nam nữ tụ họp, tất cả đều uống canh, chỉ có mình là trẻ con, nên có đồ để uống. Sau đó, do cố với cái đồ sành, bị ngã xuống dưới đất, phải ra ngoài và được uống nữa. Chính vì vậy mà sau khi được đầu thai trở lại nhân gian, mới nhớ được mình là con của gia đình Hoài Dân. Năm ba tuổi, phụ thân bế đến cây cầu mua bánh gặp lại phụ thân từ kiếp trước của mình, liền chìa tay ra và : “Con là Khuê Tử”, nhưng phụ thân thể nhận ra . vẫn luôn cầu mong được quay về nhà để gặp mẫu thân, và sau khi kết nối các việc từ kiếp trước ra hai gia đình lại có chung con.

      Loại canh mà mọi người uống đó chính là canh mê hồn, chỉ là tên của món canh đó mà thôi. có việc bắt buộc phải uống canh, nhưng hầu hết các hồn ma đều muốn uống, vì thế chỉ có những kẻ cố chen vào mới có thể uống được, mà canh mê hồn là khi chuẩn bị đầu thai chuyển thế mới uống, cũng rất hợp tình hợp lý, giống như những truyền thuyết trong dân gian, họ cho rằng con người sau khi chết , xuống đến phủ phải uống canh mê hồn trước, thế nên sau khi uống canh này xong, ngay cả bản thân mình là ai cũng biết chính xác, làm sao còn có thể đến thập Vương điện, qua từ đường được đây? Cái cách nghĩ khi xuống dưới phủ là phải uống canh đó chỉ có thể gặp ở tiểu thuyết, điển hình nhất là Tam sinh trong Liêu trai chí dị.

      Lưu Hiếu Liêm có thể nhớ được những việc ở kiếp trước của mình. Ông ta rằng đời làm quan, làm nhiều việc thất đức, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của mình, chết vào năm sáu mươi hai tuổi. Lần đầu tiên gặp Diêm Vương, ông ta được đối xử giống như lễ của Hương tiên sinh, cho phép được ngồi và được uống trà. Nhìn màu sắc trong cốc của Diêm Vương có thay đổi khác thường, ám chỉ đó là canh mê hồn nên uống, Dư U Vương tương kế tựu kế cầm chén quay vào góc nào đó rồi đổ .

      Cuốn Hồi dương ký cùa Trần Thục Văn cũng có đoạn viết:

      Khi trời bắt đầu tối, quỷ chui ra từ nóc, nhưng lại về phía phủ, cái này ràng là quả báo. Bỗng nhiên thấy bốn thần thổ địa dẫn Dư và dặn rằng: “Lần này có ba con đường, nhà ngươi cần phải đường ở giữa, hai con đường còn lại phải nơi thích hợp để ngươi , đường có canh được uống, có cầu được qua, nếu ngươi phạm phải ba lỗi , ngươi được sống trở lại nữa.” Dư đáp: “Vâng.” đường quả nhiên có bà lão bố thí canh, mùi thơm của canh vô cùng hấp dẫn, có rất nhiều người dừng ở đó uống canh. Dư đến nơi quả nhiên cũng được mời uống canh, Dư liền hất xuống đất. Quỷ liền đến đánh, bà bà : “Đây là của tam thế ban tặng, được đánh.” Và thế là Dư may mắn thoát nạn.

      Bà lão bố thí canh ở đây họ Mạnh, mà uống canh trước khi vào Quỷ môn quan là điều hợp tình hợp lý.

      Hồi thứ năm trong Kế Kim Bình Mai, tên của món canh mê hồn này bắt đầu có và còn xuất Mạnh bà: “ ra cơm rượu cùa Mạnh bà là canh mê hồn, ăn xong lập tức hôn mê, kể cả người thân của mình cũng nhận ra được.” Tác giả Đinh Xán Khang là người cuối đời Minh, đầu đời Thanh, vì thế nếu nhầm chúng tôi đều cho rằng cách về canh mê hồn này bắt đầu xuất từ cuối thời Minh.

      Trước đây có hai cách về Mạnh bà bà, đó là Mạnh bà bà chính là thần tại Phong thần và Thuyền thần, ơ đây, Mạnh bà bà phải là kiêm cả Phong thần, Thuyền thần, mà là do “Minh”, “Mạnh” hai chữ có đọc gần giống nhau, Mạnh bà cũng chính là Minh bà. Người thời Thanh có biên tập cuốn Ngọc lệ bảo tiền và trong đó có xuất lý lịch của Minh thần:

      Thần Mạnh bà sống ở thời Tiền Hán, lúc còn học sách Nho giáo, hiểu biết tinh thông về kinh Phật, phàm là những việc quá khứ nhớ đến, những việc của tương lai cần phải nghĩ, ở đời chỉ làm việc duy nhất là khuyên con người ăn chay, đừng sát sinh. Năm tám mươi mốt tuổi, tóc trắng như lông hạc, mặt hồng hào như mặt trẻ con, suốt đời là trinh nữ, chỉ biết mình họ Mạnh, người đời gọi là Mạnh bà bà, rồi vào núi tu hành. Đến thời hậu Hán, thế nhân có người biết chuyện về kiếp trước, liền nhận là người nhà, tiết lộ cơ. Là do thượng thiên sắc lệnh cho Mạnh thị nữ xuống làm thần tại phủ, xây dựng vọng đài, cho phép được sai khiến quỷ sứ, đem mười điện dự định phân phát các nơi để làm hồn ma của người, dùng giống như thuốc theo tục của trần thế, hợp thành loại canh giống rượu mà phải là rượu, chia thành các vị đắng, cay, ngọt, bùi làm ngũ vị, các hồn ma chuyển thế, sắp xếp cho uống loại canh này, làm cho quên tất cả các việc ở kiếp trước. Dẫn về phía dương gian, hoặc nghĩ chảy nước miếng, hoặc cười ra mồ hôi, hoặc chảy nước mũi, hoặc tức giận, hoặc sợ nước miếng... phân thành , hai, ba loại bệnh thường gặp. Người làm việc thiện làm cho mắt, tai, mũi, lưỡi, tứ chi dần nhớ về việc xưa kia, càng nghĩ càng thấy sáng suốt, tinh thông, ngày càng khỏe mạnh. Những người làm việc ác bị làm cho hao mòn trí tuệ, thần sắc, ngày càng mệt mỏi mà chết, có báo trước để cho con người hối hận mà hướng thiện.

      Ở đài Cự thập điện Diêm Vương, ngoài điện có sáu cây cầu cao to, bốn phía hành lang có trăm linh tám phòng, hướng phía đông có đường , chỉ rộng thước tư, phàm gặp hồn ma dù là nam hay nữ, đường trong hành lang thiết kế đều có đồ để mời uống loại canh này, bất luận là ăn nhiều uống ít. Nếu như có hồn ma chịu nuốt loại canh này, dưới chân xuất dao móc giữ lại, bên có ống đồng làm đau cổ họng, bị đau mà nuốt vào.

      Nơi Mạnh bà bà quản lý có tên là “Vọng đài”, vì thế canh mê hồn cũng gọi là “vọng đài” hoặc “trà Mạnh bà”. Nhưng tác dụng của trà chỉ làm cho người ta quên kiếp trước mà nó còn là loại canh thần bí, nhìn giống như cùng loại nhưng mỗi người uống canh này có kết quả giống nhau. Nhưng quả báo ở kiếp sau chẳng phải được Diêm Vương định sẵn rồi sao, hà tất phải để Mạnh bà bà làm việc này? hiểu được! Ngoài ra, Ngọc lịch bảo sao viết tất cà những nơi dưới phủ thành lao ngục, người từ bi như Mạnh bà bà mà bên cạnh mình lúc nào cũng đeo theo bộ ống dao móc, hình phạt trở nên đại hơn rất nhiều.

      vài tiểu thuyết hoặc câu chuyện dân gian lại phải như vậy, nơi Mạnh bà bà quản lý có tên gọi là thôn Mạnh bà hoặc quán trà Mạnh bà, cái tên cũng cho ta thấy nó có chút tình người hơn. Nhưng vẫn còn cách vô cùng cực đoan, biến canh mê hồn trở thành loại cực hình ép cung của thế hệ sau này. Đời Thanh có người tên là Phục Thư viết cuốn tiểu thuyết tên là Thố hồ lô, hồi thứ mười sáu có trích dẫn:

      ra dưới phủ, nếu ai ai cũng phải dùng pháp hình để lấy cung, ngày làm Diêm Vương cũng rất khó. Điều may mắn, kỳ diệu nhất ở đây chính là bát canh Mạnh bà. Theo cách trong dân gian “canh Mạnh bà giống như rượu lễ, giống như tương, người tốt ăn vào say ngất ngưởng, kẻ ác ăn vào phát điên”. Thảo nào Đỗ thị lúc khát uống bát canh này vào, cũng cần phải dùng hình phạt kẹp ngón tay kể lại hết mọi chuyện. Mạnh bà bà sau khi ghi lại mọi chuyện, làm tờ khai cung cáo trạng xong, đặt đến chỗ người khám nghiệm tử thi, rồi đem xuống dưới điện thứ mười.

      Ở đây, nụ cười của Mạnh bà bà lại trông giống như ngưu đầu a bang, nhưng cái này chỉ gặp ở tiểu thuyết Nhất gia chi ngôn và chưa từng được người khác tin tưởng vào tào địa phủ.

      Theo lý mà , cần biết là có hay có canh Mạnh bà bà, con người cũng nhớ được kiếp trước của mình. Trước thời đại nhà Minh cả ngàn năm đều như thế cả, và dường như cũng xảy ra đại loạn nào, vậy hà tất phải làm thêm việc này, đột nhiên thích uống bát canh này ư? Đương nhiên đó là luận cứ, và cách về việc luân hồi chuyển kiếp rất hay. Nhưng dường như phải chỉ cần có lý do này thôi.

      Trong các câu chuyện về ma, hồn ma ở dưới phủ có thể ghi nhớ những việc ở kiếp trước, bởi thế họ mới có thể có qua lại trong giấc mộng đối với người thân ở trần gian, có những cuộc hẹn lưu luyến bịn rịn như lúc sinh thời, giống hệt như cuộc sống ở dương thế được kéo dài vậy. Đến khi hồn ma đầu thai chuyển thế làm người lúc đó mới chính thức vĩnh biệt, và hồn ma chuẩn bị đầu thai làm người kia quên tất cả những gì thuộc về kiếp trước, ngay cả lúc đến nhân thế rồi, gặp mặt nhau mà như hề quen biết, còn đâu tìm mối nhân duyên tái thế? Pháp uyên châu lâm, quyển bảy mươi năm dẫn câu chuyện trong Chí quái truyền kể lại rằng: “Khi thành người ở trần thế, dung mạo giống ở kiếp trước nữa”, cái “đạo lý” này làm cho người và ma đều cảm thấy bị tổn thương. Đây cũng chính là xung đột giữa thuyết luân hồi của đạo Phật với tình cảm con người của người Trung Quốc, nhưng canh Mạnh bà đem đến cho con người chút hy vọng, hồn ma chuyển sinh uống canh Mạnh bà quên hết tiền duyên kiếp trước, nhưng nếu uống, khi tái thế cơ hội về mối nhân duyên từ kiếp trước. Đương nhiên, cơ hội này vô cùng mong manh, vì vậy có nhiều hơn cũng chỉ là gửi gắm tình cảm của hồn ma vào người sống mà thôi.

      Nhưng cần biết như thế nào, tang lễ trong dân gian đem việc trốn tránh uống canh Mạnh bà trở thành nghi lễ thể thiếu. Trung Hoa dân quốc phong tục chí về phong tục của Hồ Châu, Chiết Giang:

      Tục truyền rằng sau khi chết, con người cần phải ăn canh Mạnh bà để tâm hồn bị mê hoặc. Lúc lâm chung, ngoài việc trong miệng ngậm thỏi bạc ra còn phải dùng lá cam lộ làm thành lăng (củ ấu) mang theo, trong tay lại đặt túi lá chè, cho rằng người chết có hai thứ này trong tay, cần phải uống canh Mạnh bà.

      Mà ở Thọ Xuân, An Huy còn đơn giản hơn rất nhiều, là “lúc khâm liệm cần túi lá chè, kèm thêm ít đất đặt vào lòng bàn tay của người mất”. Có vài nơi làm các thủ tục mới hơn như Bắc Kinh, Ai Tân Giác Mộng... Doanh Sinh tiên sinh khi chuyện đến phong tục “đập chậu” lúc phát tang: “ phủ có vị “Vương ma ma”, ép người chết phải uống canh mê hồn, làm cho thần trí bị mê hoặc và được đầu thai, vì thế nhà có tang phải chuẩn bị chậu sứ có lỗ, lúc phát tang do “hiếu tử” đập mạnh xuống đất, nếu đập vỡ, cái chậu đó theo người chết xuống phủ, canh mê hồn của Vương ma ma bị rơi hết ra ngoài.

      Tuy là như vậy, nhưng chủ trương của tôi là thà mà uống hết bát canh mê hồn đó. Linh hồn của người chết khi qua Diêm La Đại vương, “nhiệt đường” của những quỷ đầu trâu mặt ngựa, ma canh ngục, cần phải đến cửu thập bát địa ngục, mà ngay cả khi tùy ý làm những tiểu tiết như cắt giải, dầu phanh, chậu bọ cạp đất, rắn dùi lỗ, cắt lưỡi, móc mắt để cho họ nhận biết được hai loại, chỉ cần đứng xem bên cạnh cũng đủ làm cho thần kinh của con người tan vỡ, sụp đổ, nếu còn nhớ được những điều đó khi vào bụng mẹ, e rằng đến khi chào đời bị thần kinh phân liệt rồi.

    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 8: Ân cừu nhị quỷ [1]


                [1] Nghĩa là: hai loại quỷ báo ân, báo oán.


      Về chuyện thi cử thời xưa, ít nhất là khoảng đầu đời nhà Thanh, thậm chí xa hơn chút là khoảng cuối đời nhà Minh, trong xã hội có quy định bất thành văn là vào đêm trước khi các thí sinh đến ứng thi, trong khu vực coi thi phải tổ chức nghi lễ mời hai loại quỷ báo ân và quỷ báo oán về chứng kiến. Nghe vào buổi tối hôm đó, các vị quan chức đến tham dự phải mặc quan phục rất long trọng, thắp hương thành kính mời các vị “quỷ thần” có liên quan từ khắp các ngả đường đến chứng kiến. Những vị “quỷ thần” tới tham dự có thể được phân làm ba loại lớn như sau: loại thứ nhất là thần Thiên địa minh, chuyên đến trường thi giúp các vị quan quản lý trật tự, chủ trì công đạo, loại này thuộc về công lý. loại khác là hồn ma tổ tiên các gia đình có con em đến dự thi, lũ lượt kéo nhau tới trường thi để động viên, cổ vũ con cháu của mình. Tuy nhiên, trà trộn vào nhóm những hồn ma này còn có nhiều tiểu nhân vô công rồi nghề cũng ra điều tò mò, lo lắng lắm, đứng ngoài ngó ngó, trông trông vào bên trong.

      Tất cả bọn họ cho cùng cũng chẳng giúp được gì cho việc thi cử, thậm chí có ít hồn ma còn đứng chen lấn trong phòng của quan coi thi. Mọi công - tư đều được xem xét cẩn thận, chu đáo và cũng rất phân minh. Loại thứ nhất dùng cờ màu đỏ, loại thứ hai dùng cờ màu xanh, còn loại thứ ba chính là “ân oán nhị quỷ”, tức là những hồn ma có ân, có oán với thí sinh hoặc gia chủ của thí sinh, và đơn thuần xuất phát từ ân oán cá nhân mà đến trường thi để gây sóng gió, tạo thêm khó khăn cho sĩ tử. Nhưng xuất của loại hồn ma này dường như lại hợp ý trời, được lòng thiên tử, vì vậy, rất có thể thực tế nhân vật chính lại là chính các vị quỷ thần. Tuy bọn họ bên là ân, bên là oán, vị trí tương phản, mâu thuẫn, đối lập nhau, nhưng khi dẫn họ vào trường thi phân biệt khu vực, tất cả đều dùng cờ màu đen cả. Các quân sĩ sợ các vị quỷ thần tìm thấy cổng lớn của trường thi, mặt vẫy cờ ở chốn u minh, mặt còn phải kêu gào thảm thiết:

      “Ai có ân báo ân, có oán báo oán…”

      Trong chốc lát, từ bốn phía bỗng ào ào kéo đến các đội quân quỷ thần, ai nấy đều cầm tay lá cờ của mình với màu sắc khác nhau, hăm hăm hở hở tiến vào cổng chính. Và ngay sau đó, các vị quân lính đem ba loại cờ biểu cắm vào bốn góc của trường thi. Dấu hiệu đó ám chỉ các vị thần linh hay ma quỷ đều đến đông đủ và đứng vào đúng vị trí của mình rồi. Đến ngày hôm sau, các thí sinh mới điểm danh vào phòng thi, còn tại hoặc vài vị ngồi sẵn trong phòng thi để chờ đợi.

      Câu chuyện này có lẽ làm cho người đọc, người nghe cảm thấy rất hoang đường và có phần rợn tóc gáy, nhưng đây phải chuyện tự nhiên mà có. Từ hàng nghìn năm nay, các câu chuyện ly kỳ cổ quái xảy ra trong và ngoài trường thi phải là hiếm. Nếu như có người muốn viết về lịch sử các câu chuyện ma quỷ ở trường thi của Trung Quốc, chẳng hạn như “có ma” hay “ma trêu” đều giống nhau ở chỗ là dễ mà có thể bỏ qua tình tiết này được.



                1


      Việc thi cử diễn ra sớm nhất có thể là vào thời nhà Tùy, nhưng từ thời nhà Tùy đến nhà Đường rồi đến nhà Tống, những câu chuyện ma quỷ ở trường thi thể so bì với thời Minh - Thanh. Tuy nhiên, có chi tiết khác biệt là ma quỷ ở đây phải phân thành ba loại như mà có khoảng bốn loại.

      loại có thể đến là “ma giúp đỡ”, dùng thân phận đặc biệt của mình để làm số việc giúp đỡ các thí sinh mà người thường thể làm được. Vi Huyến, người nhà Đường trong Lưu tân khách gia thoại lục [2] dẫn ra câu chuyện như sau: “Quách Thừa Hỗ ứng thi, khi nộp bài thi nộp nhầm cuốn binh thư mà mình thích lên và để bài thi của mình trong cái giỏ ở phòng thi. Khi ta đúng ở cổng trường thi lại lại, lão sứ đứng bên cạnh hỏi tình, rồi có thể giúp ta, nhưng phải trả tiền thù lao là ba vạn. Ngày hôm đó, mọi việc được giải quyết êm đẹp. Khi Quách Thừa Hỗ đem tiền đến nhà lão sứ, lúc này mới phát ra chủ nhân của ngôi nhà nghèo khổ đó chết được ba ngày, chính vì khòng cò tiền nên chưa thể chôn cất được.” Nhũng câu chuyện như thế về sau vẫn còn tồn tại nhưng tình tiết ngày càng ly kỳ hơn. Như ở thời Nam Tống trong Di kiên bính chí của Hồng Mai, tập bảy, Tề thập cửu lang có kể lại câu chuyện đơn giản chỉ là chuyện đổi bài thi. Thí sinh Lỗ mỗ sau khi ra khỏi trường thi mới nhớ ra lúc làm thơ quên gieo vần vận, thế là có tiểu sứ lấy trộm bài thi ra cho ta, sau khi chỉnh sửa xong liền đem về để ở chỗ cũ. Tiểu sứ này nhiều năm trước chết ở trường thi, vì nghĩ đến gia cảnh nghèo khó của mình nên ngấm ngầm giở trò ma mãnh để giúp đỡ gia đình. Mà có thù lao đó lại là việc làm ăn buôn bán rồi, về lâu về dài có thể trở thành nghề làm ăn theo mùa vận. Nhưng hồn ma mới chết mà có thể dùng “phép vận chuyện”, có thể vận khí di chuyển trong trung như vậy quả thực cũng rất hiếm gặp hơn nữa đến cả bài thi cũng có thể ăn cắp ra ngoài còn chuyện gì là làm được nữa đây.

      [2] Nghĩa là: ghi lại câu chuyện khách đến nhà họ Lưu.

      Loại ma quỷ thứ hai cũng tương tự như “ma giúp đỡ” nhưng tính chất lại đối lập hoàn toàn. Việc thường làm nhất của loại ma quỷ này là nịnh bợ kẻ có quyền thế, phiền có thể gọi là “ma bợ đỡ”. Cuốn thứ hai, Thiệu võ thí viện trong tập Di Kiên chi ất có đoạn kể lại “Mùa thu tháng Tám năm Thuần Hy thứ mười ba, Phúc Kiến thiệu võ thi đấu, có vị Sứ có khả năng nhìn thấy ma, nhưng nhìn mà chỉ thấy có vật đen từ rơi xuống, dáng mạo giống như ma, mang theo “đương tam” (hơn hai mươi đồng tiền lớn), rồi để ngay ngắn ở bàn. Con ma này qua các bàn của thí sinh, thi thoảng nở nụ cười vui sướng, để đồng tiền ở đầu án rồi . Khi hơn hai mươi đồng tiền được đặt hết dùng trượng đánh đuổi những người được nhận tiền, những sĩ tử và kẻ đầy tớ đứng hầu bên cạnh hoặc bị đánh, hoặc bút rơi mà bọn họ hề có cảm giác gì. Rồi vị Sứ này nghĩ: “Những người được tiền được tiến cử, còn những kẻ bị đánh bị loại khỏi khoa thi. Rồi đến bảng niêm yết, quả nhiên đúng như dự đoán những người thi đậu đều là “người có tiền”, còn kẻ thi rớt là những người ngược lại.” Cũng có cốt truyện giống như câu chuyện vừa kể đây, vào thời nhà Minh, lại có loại ma vào trường thi “cắm cờ”, người trúng cử ờ đầu cắm cờ màu đỏ, người bị loại cắm cờ màu trắng, tuy tránh việc bị lầm tưởng là vật cản đường, nhưng lại làm cho người ta hoài nghi rằng đấy chính là ma bị cọp vồ vào trường thi [3] . Loại ma bợ đỡ này thu phí, theo đánh giá chúng phải do Thượng Đế phái xuống. Giữa chốn trần gian thường có loại người tiểu nhân, gặp người có lợi thế hoặc sắp có lợi thế liền bỏ hết sĩ diện của bàn thân mà bám đuôi cầu cạnh người ta, thực ra chưa chắc có lợi lộc gì, nhưng chúng vẫn từ bỏ cái hành vi hèn hạ đó. Ma bợ đỡ cũng giống loại người này, chỉ khác ở chỗ là nó có thể nhìn thấy khí dương thịnh suy người của các thí sinh, điều mà kẻ tiểu nhân ở chốn trần gian thể nhìn thấy được.

      [3] Vương Triệu Vân, người đời Minh, trong Huy lộc tân đàn, quyển thượng, Phốc bạo tự nhập trường có ghi lại, nhìn chung có giống nhau, là cắm cờ đỏ kèm theo cờ vàng đăng khoa, nếu chỉ cắm cờ đỏ có cờ vàng cuối cùng cũng có tên trong bảng thứ hai.

      Trước khi các thí sinh bắt đầu làm bài thi, việc trúng cử hay được sắp đặt trước, bất luận là nhân lực hay thiên lực, đều làm cho nhân khí của người bị suy yếu dần. Hồng Mại từng cảm khái và viết rằng; “Ở phương Tây có người khẳng khái viết bài về quy chế thi cử ở Trung Quốc, người đó cho rằng việc lựa chọn nhân tài trong các trường thi ở Trung Quốc là việc làm rất cao minh nhờ đó chọn ra được nhiều nhân tài lỗi lạc phục dịch đất nước.” Mấy câu khen ngợi này làm ít học giả của chúng ta phấn khởi mà lựa chọn dùng làm dẫn chứng để tự hào lấy vài ngày. Nhưng đối với những bất cập trong trường thi như xảy ra ở thời Nam Tống khiến nhiều người tỏ ra thất vọng ghê gớm đối với việc lựa chọn nhân tài cho đất nước, tuyệt nhiên thấy họ nhắc đến, và giả như có nhắc đến họ cũng khéo léo dẫn dắt và quy kết nguyên nhân tất cà là do ý trời, liên quan đến các nhân tài. Trong truyện mặc dù có gây kích động chút, nhưng huynh đệ, phụ tử nhà họ Hồng vẫn được coi là hiền thần. Vì thế, những điều vừa cũng hẳn là đều xuất phát từ căm tức.

      Ngoài ra còn có loại ma khác, giống như những phần tử “phản động”, hành động theo hướng lưu manh, vô lại, chết mà vẫn chịu yên, có bản lĩnh tìm oan gia để tính sổ, lại đem tà khí gieo rắc lên những sĩ tử vô tội. Kiểu này có thể gọi là “ma vô lại”. Thời nhà Tống, trong Nhàn song quát dị chí của Lỗ Ứng Long có ghi: “Trường thi Gia Hưng trước đó từng là kham viện, nơi thẩm vấn, điều tra phạm nhân, có nhiều người chịu nổi cực hình mà chết ở đây. Sau khi chuyển thành trường thi, các oan hồn bắt đầu quấy phá. Mỗi lần thi có khoảng gần hai nghìn người, thường xuyên có thí sinh bị ma hại chết ở căn phòng thứ ba cạnh hành lang phía tây. Sau đó có vị khảo quan nằm mộng thấy có người tự xưng là “tướng quân trường thi” : “Ta chết tại nơi đây, nay làm thần. Mỗi thí sinh chết ở trường thi này đều là hậu bối của ta. Nếu lập miếu ở góc phía tây bắc, tránh được chuyện này.” Và thế là quan địa phương vì “ma vô lại” mà lập miếu thờ, các sĩ tử đến thi, đều quên chuẩn bị kim tiền, cầu phúc bảo hộ. Thí sinh chết ở trường thi những giảm bớt mà còn xảy ra liên tiếp, chỉ có hai lần, mà nhiều kể hết.” Trong văn học, những câu chuyện kiểu như thế này quả thực phải hiếm gặp. Đem cái oan ức, tội lỗi xảy ra ở trường thi đổ hết lên đầu ma quỷ, sau đó cầu thí sinh đến dự thi phải cầu bình an, nghĩ ra được chiêu trò lừa ma gạt quỷ như thế này, quan viên triều đình quả thực là thông minh hơn người. Thế là ác quỷ chuyên làm chuyện quấy phá người nay lại trở thành thần bảo hộ của trường thi, chính là nha dịch phụ trách việc trị an trong thành, chỉ cần nộp hào phí bảo hộ bị gây thêm phiền hà nữa.

      Còn có loại ma rất kỳ lạ. xuất của loại ma này những có liên quan đến vận mệnh của các thí sinh, mà chủ yếu là dự báo điều hung đến với đám quan coi thi vô đạo trong thành. Thời nhà Thanh, mỗi cuộc thi lớn đều có loại ma quỷ kỳ dị này đến giở trò quấy phá. Trong Tam cương thức lược của Đổng Hàm, cuốn ba, Hương vi dị biến có đoạn viết: “Suốt mười bốn năm Thuận Trị, ngày trước hôm diễn ra kỳ thi Hương ở Giang Nam, bỗng sương giá kéo đến dày ba tấc, phủ kín cả trường thi, ma quỷ khóc than ngớt. Sau khi bảng danh sách thí sinh trúng tuyển được công bố, chủ khảo tính mưu bày kế tìm cách ăn tiền hối lộ của thí sinh. Cảnh người nhà cùng sĩ tử khéo nhau đến nhà quan phủ đông như nêm, cuối cùng lựa chọn ra trong số đó mười tám người được coi là thi đỗ, cảnh tượng huyên náo như bán mua ngoài đường, ngoài chợ.” Cống Viên ở Bắc Kinh thời nhà Thanh còn lưu lại truyền thuyết về “đại đầu quỷ” có quan hệ mật thiết với những vụ án trường thi như . Tiết Phúc Thành trong Dung am bút ký, cuốn ba, Mậu ngọ khoa trường chi án có đoạn viết: “Vào buổi chiều tà của tám năm về trước, ở Hàm Phong bỗng nhiên vọng lại những thanh như tiếng khóc than thảm thương kỳ lạ, người ta đồn rằng thanh đó chính là dấu hiệu quỷ xuất . Các đạo sĩ trong vùng đều khẳng định: “Đại đầu quỷ dễ dàng vào được Cống Viên gấy náo loạn!” [4] Thế nhưng, kết quả lại cho thấy những phán đoán ban đầu của đạo sĩ là hoàn toàn sai lệch. Năm đó tại trường thi bất ngờ xảy ra biết bao chuyện lạ. Trong thi cử mà cảnh tượng mua quan bán tước diễn ra công khai như họp chợ giữa đường. Hình thức vẫn có các quan chủ quản đứng bên ngoài giám sát, trông coi, nhưng thực chất bên trong sĩ tử và quan chủ khảo vẫn miệt mài thương lượng. Sau hồi lâu “thi cử” mệt nhoài, cuối cùng cũng chọn ra được hơn mười người “xúng đáng”. Trong chuyện này ai có thể biết được liệu giữa tiếng khóc ma quái kia cùng với xuất của đại đầu quỷ và bè cánh quan chủ khảo có quan hệ ràng buộc hay ? ai có thể đưa ra câu trả lời chính xác. Chỉ có điều, nếu đại đầu quỷ xuất làm sao quan chủ khảo có cơ hội phô diễn những chiêu trò bịp bợm, lừa gạt trắng trợn của mình. Để có câu trả lời thích đáng cho vấn đề nêu , thiết nghĩ ngoại trừ những người trong cuộc ra chắc hẳn ai có bản lĩnh dám công khai mọi chuyện!

      [4] Căn cứ theo Châu lô bút ký của Tôn Tuyên, đại đầu quỷ là “mắt đỏ mở ra, đầu to hơn đầu của người bình thường vài lần”, mà còn hình ngay tại phòng của khảo quan.

      Tuy nhiên, ma quỷ trong trường thi đương nhiên chỉ có loại này. Có thể dẫn ra đây vài ví dụ điển hình khác, như trong tập của cuốn Di kiên bính chí có đoạn viết về trường thi Lâm An: “Trong thời gian sĩ tử làm bài thi, có người trông thấy người đàn ông và người phụ nữ dắt tay nhau tự do, thoải mái bước vào khu vực thi, lại có người nhìn thấy đàn ngỗng trắng, hay có khi là phụ nữ búi tóc cao, ngồi lan can, nhìn thấy chân, lúc , lúc , kỳ lạ vô cùng…” Những câu chuyện ma quái kiểu này cũng chẳng khác cảnh tượng người nông dân đuổi nhầm lợn vào trường thi, câu chuyện chẳng liên quan đến thi cử học hành mà chủ yếu chỉ là muốn mang đến sôi nổi, náo nhiệt cho trường thi vốn quá trầm lắng mà thôi.

                2


      kể ra mấy loại ma tiêu biểu thường xuất trong trường thi. Mặc dù từ đầu đến cuối chứng tôi chưa đưa ra lời bình phẩm khẳng định hay phủ định về của những câu chuyện kỳ lạ đó. Nhưng chuyện ma quỷ như thế này đến thời nhà Thanh loại bỏ dần những thứ được coi là hợp pháp ở trường thi như thế. Loại ma như đại đầu quỷ cần phải đến nữa, ngay như “ma giúp đỡ”, “ma bợ đỡ” được coi tương đương với tầng lớp thấp như nha sai là tay sai thân cận, giúp việc trực tiếp cho quan viên triều đình. Nếu đánh giá hành động, việc làm của những đối tượng này e rằng ảnh hưởng đến khoản “quỹ đen” của lũ quan chủ khảo. Còn việc được ví von với chuyện đuổi lợn vào trường thi chỉ là những hành động kỳ quái, để duy trì tôn nghiêm trong trường thi nên thể quản lý, mà việc quản lý những chuyện như thế này lại quá dễ dàng, gây thêm phiền phức gì. Ví dụ như trong Tam phong thức lược có khẳng định, trong phòng thi “có thần binh bảo vệ, thế lực ma quái dám đến gần”. Vậy chỉ có hai loại hồn ma là hồn ma của những người thân thích và những loại ma báo ân, báo oán là được quyền “đặc cách” tự do lại trong trường thi, những loại còn lại bị liệt vào “danh sách cấm”. Để duy trì trật tự và chủ trì công đạo, khảo quan có mời những vị minh thần thiên địa đến. Tuy nhiên, góp mặt của những vị minh thần này suy cho cùng cũng chỉ là hình thức mà thôi. Còn nguyên nhân chính nổ ra cuộc chiến đằng sau lại chính là mấy dạng hồn ma hợp pháp được “đặc cách” lại trong trường thi đó.

      Nhân vật chính được tới ở đây đương nhiên là hai loại ma báo ân báo oán ấy. Nhưng cũng thể bỏ qua vai trò mang tính xúc tác của loài ma gia quyến đó. Ma báo ân và ma báo oán khi xuất tại phòng thi, thí sinh chẳng may va vào giật mình, thậm chí còn bị kinh sợ đến suýt chết. khi chạm vào tà khí, đừng là vượt Long môn, đến tính mạng cũng khó mà bảo toàn được. Vì thế, ma gia quyến khi vào trường thi có nhiệm vụ bảo vệ con cháu của mình, tránh để con cháu họ gặp phải những tai họa đáng có. Nhưng dường như những vị tổ tông này phải ai cũng tuân thủ luật pháp. Trong số họ có ít trường hợp vào trường thi để tìm cách “ cổng sau”. Những vong hồn này vì lo cho con cháu mình đến ứng thi mà bắt tay thông đồng với quan lại. Những câu chuyện kiểu như thế này ở thời Nam Tống có rồi, hình thức lại vô cùng phong phú, từ khóc lóc than nghèo kể khổ đến cố ý khuếch đại, phô trương giàu có của gia đình… đều có cả. trong những câu chuyện đáng được nhắc đến nhất là tác phẩm Tử bất ngữ của Viên Tử Tài, trong đó có đoạn viết: “Huyện lệnh Dương Triều Quan được lệnh xuống huyện Hà Nam làm quan chủ khảo, đọc bài thi đột nhiên cảm thấy có phần hơi mệt mỏi, trong chốc lát chìm vào giấc mộng lạ kỳ…”

      Mơ thấy gặp tầm khoảng ba mươi tuổi, trang điểm nhàng, khuôn mặt thanh tú, thân hình vừa vặn, người mặc váy đều màu xanh, thoạt trông dáng vẻ giống người vùng Giang Nam. nhàng bước đến, vén tấm mành lan, cất giọng nhàng: “Sử quân làm ơn hãy để tâm đến bài thi của Quế Hoa Lý Hương, tôi xin nghìn lần cảm tạ!”

      Quân Hương Tiêu Ngọc chết cách đây hơn trăm năm bỗng dưng báo mộng về cho khảo quan nhờ giúp đỡ cháu của người bạn là Hầu Phương Vực (vị lão cống sinh cũng tầm khoảng năm mươi tuổi rồi), thông đồng với quan, là chuyện lạ lùng hiếm thấy. Theo như Viên Mai đây là chuyện mà chính Dương Triều Quan tự mình ra, hơn nữa còn “tự mình tưởng tượng thấy Hương Quân, giống như người hình trước mặt”. Nhưng sau khi người viết mượn chuyện để lên , lúc ấy Dương Quan Triều có chết cũng chịu nhận chuyện đó là nhằm ám chỉ mình. Chình vì việc này mà Viên Tử Tài phải viết thư chủ ý thực trong câu chuyện của mình. Quả thực, Tùy Viên cũng phải là người dễ dàng bỏ qua mọi chuyện, buồn giận vì chua ngoa, cay nghiệt bày ra trước mắt mà hề có nơi để thi thố, giãi bày, bèn viết liền lúc hai bức thư trả lời. Khổ thân cho vị Dương Triều Quan bảy, tám mươi tuổi này, thể giả vờ làm chính nhân quân tử, cả bụng bực tức đều bị lôi ra ngoài hết. Thư trả lời của Viên thị có thể gọi là bài văn tuyệt diệu, được đăng ở “Tiểu thương sơn phòng xích độc” [5] , các vị độc giả phiền có thể tìm đọc và suy ngẫm xem.

      [5] Nghĩa là: thư từ tại sơn phòng .

      quay cóp phải cuộc thi, nhưng người mà quay cóp có vương pháp xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng, ma quay cóp lại là điều hợp tình hợp lý, bởi lẽ người ta lúc ấy đâu có bị coi là “quay cóp” mà là báo ân đấy chứ! Lời dạy bảo lấy đức báo ân được ví như giọt nước tuôn chảy thành sông. Người Trung Quốc từ cổ chí kim đều xem việc báo ân là hành động nhận đức, cao đẹp. Vì thế xuất của “ma báo ân” tự nhiên trở thành chương mục ràng. Hồn ma đến trường thi để báo ân, thường là lúc gần đến Trung thu mà mang tặng hai hộp bánh Trung thu để làm thức ăn đêm quả thực chẳng có chút thành ý nào cả, vì vậy việc báo ân lúc này là giúp sĩ tử quay cóp. Mà cái quay cóp của ma so với của người trần cũng khác nhau là mấy.

      Vòng thứ nhất là vào mua đề. Trong Di kiên chi cảnh, tập ba, Tam sơn lục thương có ghi: “Truyền Trưởng người Duy Châu, Sơn Đông đến ngôi chùa ở Ngô Giang, tình cờ gặp cảnh ma chay chôn cất người chết, liền hỏi tăng nhân. Sau khi biết được người nằm trong quan tài là Lục Thương, vị khách ở quán trọ của tri huyện tiền nhiệm bị bệnh qua đời, do hoàn cảnh túng bấn mà thể mai táng ở quê hương. Truyền Trưởng chạnh lòng thương xót, giúp di chuyển quan tài đến chôn cất tại phần mộ công. Vào tháng Bảy năm đó, Truyền Trưởng tham gia thi cử, nằm mộng thấy Lục Thương đến, hết đề của ba vòng thi cho ta biết. Đến lúc ứng thi, đề thi đúng như những gì hồn ma báo mộng, ta chỉ việc chép nguyên những thứ mình thuộc.” Khi có kết quả, ta đỗ cao cũng là lẽ tự nhiên.

      Thứ hai là đánh dấu bài thi. Lã Đại Kính thời Nam Tống trong tập hai cuốn Hạc lâm ngọc lộ có đoạn viết: “Khi Vương Ngọc Sơn chủ trì việc thi cử, nhớ đến người bạn học nhiều lần nhưng đậu, liền viết thư mời ta đến ngôi miếu ở Phúc Dương, với ta: “Trong phần thứ nhất của bài thi nhớ dùng ba chữ “cổ”, tôi biết đó chính là bài của ông.” Sau khi thi xong, Vương Ngọc Sơn tìm trong đống bài thi, quả nhiên có bài dùng ba chữ “cổ”, liền đặt lên phía trước. Nhưng khi đối chứng tên và số báo danh phải bằng hữu của mình. Vài ngày sau người bạn đến tìm gặp, Ngọc Sơn liền quở trách, người bạn chỉ tay lên trời mà thề rằng: “Nếu vì bị bệnh nặng suýt nữa mất mạng tôi tự ý bỏ thi. Nhưng tôi thề có trời cao soi xét hề hé răng tiết lộ nửa lời.” lâu sau, người dùng ba chữ “cổ” mà trúng cử kia đến bái kiến. Vương Ngọc Sơn liền hỏi vì sao trong đoạn đầu lại dùng ba chữ “cổ”. Người này trả lời rằng: “Khi tôi đến ứng thi có ở nhờ trong miếu Phúc Dương. Tình cờ trông thấy cỗ quan tài, hỏi tăng nhân được biết trong quan tài là người con , chết mười năm nay mà có ai chôn cất. Tối hôm đó, tôi liền nằm mộng gặp người con , với tôi rằng, lần này thi, trong đoạn thứ nhất nếu dùng ba chữ “cổ”, nhất định đăng khoa, nhưng hy vọng sau này có thể chôn cất chu đáo đống tro cốt này. Tôi liền nghe lời và kết quả là đỗ đầu như ngày hôm này.” Đây là hồn ma trong miếu Phúc Dương vô tình biết được mấu chốt của câu chuyện, bèn tiện tay bán cho thi ân. [6]

      [6] Bạch Thoại, người đời Minh, trong tiểu thuyết Thạch điểm đầu có hồi “cảm ân quỷ tam cổ truyền thí chỉ” chính là diễn câu chuyện này.

      Thứ ba là cướp trong trường thi, phần này có nhiều chuyện thú vị, và cũng là phần có thể thấy xảo quyệt, gian trá của con người. Trong Di kiên chí đinh, cuốn thứ hai, Ngô Canh đăng khoa kể lại: Trong thời kỳ Thiệu Hưng, có năm tổ chức thi cử tại quê hương, Ngô Canh cũng tham gia ứng thi. Vốn phải là người chăm chỉ học hành, lại đúng phải năm coi thi với nguyên tắc “trong phòng thi được quay trước ngó sau”, vì thế ý định quay cóp của Ngô Canh rất khó thực . trong tình cảnh khó khăn, bỗng nhiên như gặp được thầy Trương Viên ngồi bên nhắc nhở, Ngô Canh bèn lấy bài thi của Trương Viên sao chép lại lượt. Mấy ngày liên tiếp sao chép toàn bộ, kết quả đỗ điểm cao. Sau khi thi xong, Ngô Canh đến nhà thầy Trương Viên cảm ơn mới biết Trương Viên hề vào phòng thi. Lúc đó Trương Viên câu: “Người ra tay giúp đỡ Ngô Canh phải ai khác mà chính là hồn ma hiển linh báo ân. Đó cũng là vì tổ tiên có tấm lòng nhân đức mà có ngày được báo đền.”

      ràng quay cóp trong thi cử là câu chuyện chẳng lấy gì làm tốt đẹp, vậy mà chỉ câu “tổ tông đức” [7] là có thể lý giải cho hành động gian lận của con cháu, là điều khó có thể làm vừa lòng người ngay thẳng. Lương Cung Thìn, người đời Thanh, trong Bắc đông viên bút lục sơ biên, quyển thứ ba, Bạch quyển hoạch tuyển cũng dẫn ra ví dụ điển hình: “ sĩ tử trong kỳ thi viết chữ nào, ba lần nộp giấy trắng vẫn đỗ cao và sau này nhậm chức đường đường trở thành Thái huyện. Đương nhiên đây cũng là nhờ có ma quỷ đến báo ân mà có được. Trong câu chuyện, chính người viết cũng bất mãn mà cất tiếng than rằng: “Báo đáp công ơn mà cũng cần gian lận như vậy sao?” Báo đáp công ơn hay chỉ là cái cớ để che dấu gian trá? Quả thực điều này chỉ có ma quỷ mới biết được. Câu chuyện quay cóp nhiều uẩn khúc này xin phí thời giờ bàn thêm ở đây nữa. Nhưng trong tác phẩm khác như Liêu trai chí dị, đoạn Trữ sinh có kể chuyện ma quỷ gặp lại bằng hữu nên vào trường thi để giúp đỡ. Bồ lão tiên sinh có câu: “Kỳ chí kỳ hành, khả quan nhật nguyệt!” Cảm kích vì việc ma quỷ biết dùng đức để báo ân, vì tấm lòng được coi là nhân đức ấy mà tôi quay cóp, gian lận trong thi cử, đến ngay cả bản thân lão tiên sinh còn như vậy, những người khác làm theo kể ra cũng có gì để oán trách. Nhưng xét cho cùng quan niệm ràng buộc giữa tình nghĩa và pháp lý của người Trung Quốc vốn là như vậy, khó có thể lý giải được hơn!

      [7] Nghĩa là: tổ tông làm công đức nơi trần gian.

      Cuốn thứ mười ba trong Hữu đài tiên quản bút ký của Du Việt có viết, quỷ báo ân đến làm bài thi hộ người khác là cách rất tự nhiên. Sau khi cậu con trai nhà phú hào vào trường thi, cầm bút suy nghĩ rất lâu nhưng cả buổi thi ta viết được chữ nào. Bỗng nhiên có cụ già đem bản phác thảo sẵn của mình đưa cho ta. Hai, ba môn thi đều như vậy, khi công bố bảng điểm, quả nhiên ta thi đỗ. ra chàng thiếu niên này làm việc tốt, đó là ta lấy , sau khi thành hôn mới biết, này hứa hôn với con trai của lão nho. Sau khi lão nho mất, con trai ông rất nghèo, bố mẹ của liền hối hận muốn gả cho người nghèo khó, nên gả cho chàng thiếu niên này. Và thế là chàng thiếu niên liền hỏi thăm đến nhà con trai của lão nho và coi con trai lão nho như chính là người thân của mình. Sau đó còn giới thiệu, mối mai cho người con khác, rồi làm lễ thành hôn cho họ, những vậy còn chuẩn bị đầy đủ lễ vật mang đến. Và đương nhiên lão ông trong phòng thi chính là hồn ma của lão nho hiển linh báo đáp.

      tri ơn, báo đáp quả nhiên là vô cùng khảng khái. Điều này thực làm cho các thí sinh kìm nén được cảm xúc, vội vàng làm việc thiện, ít nhất cũng được làm việc thất đức. Trong cuốn Thường đàm [8] của Lưu Thanh Viên, người đời Thanh, có kể lại việc chính bản thân mình từng trải qua: “Vào mùa hè năm đó, các sĩ tử chờ thi, ngày dài nhàn nhã bèn ngồi lại với nhau tán chuyện về buồng the của nhà nọ rất dâm loạn. người vội vàng ngăn lại: “ được đến chuyện này, kỳ thi đến gần, tránh vạ miệng, đợi thi xong rồi hãy chuyện này, lúc ấy sợ tai bay vạ gió.” Lưu Thanh Viên cảm khái : “Sĩ tập như vậy, có thể học là biết!” Có thể thấy những câu chuyện kiểu này cũng góp phần làm thay đổi phong tục vốn tồn tại lâu đời trong dân gian. Trong khi các sĩ tử cũng biết, nếu thực muốn nhận được báo đáp hậu hĩnh phải đầu tư vào các vị khảo quan, mà khảo quan có “ân quỷ” bảo hộ, người khác cần phải ba bốn đạo nữa, chỉ cần tự xem xét bản thân và tổ tông của mình xem có làm việc tốt tích đức hay chưa mà thôi.

      [8] Nghĩa là: chuyện hàng ngày.

      Nếu muốn được “ân quỷ” báo đức điều trước tiên là phải mời được vị “ân quỷ” này tới . Và mời là việc của mời, nhưng cũng được làm quá phô trương, vì từ trước tới nay, việc kêu cầu trong chiêu hồn đều được làm quá um xùm, huyên náo. Hơn nữa, trong cuộc thi cũng được có quá nhiều “ân quỷ” cùng đến, nếu đó chẳng phải là làm bài, đáp án của thí sinh mà lại là các vị “ân quỷ” dùng thủ đoạn làm giúp, đến lúc đó, vị “đại đầu quỷ” bí kia ắt xuất .

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 8: Ân cừu nhị quỷ [1]




      <img title="More..." alt="" src="http://cungquanghang.com/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif" />

                [1] Nghĩa là: hai loại quỷ báo ân, báo oán.

      3



      Loạt truyện “ân quỷ” báo ơn tuy xuất ít nhưng phần lớn đều rất khô khan và khó có thể làm người đọc cảm thấy hứng thú. Những loạt truyện như vậy, lại cũng chỉ có duy nhất câu cửa miệng là “có ma” mà thôi. Vốn dĩ cửa sau” may mắn công thành danh toại, còn giả sử may gặp người khảng khái phẫn nộ tiếp đãi, lúc ấy ai còn tin vào lời ma quỷ của nữa. Vì thế trong nhân gian lưu truyền câu chuyện kỳ quái nơi trường thi mục đích cũng chỉ để kể lại chuyện oan hồn báo ân báo oán. Có những trường hợp, người nào đó vốn thông tường kinh sử, khi vào trường thi hào hứng làm bài, thế nhưng trước khi rời phòng thi lại nộp giấy trắng, hoặc làm bài xong rồi đột nhiên bị đổ mực đầy trang giấy, đó là những việc thường tình. Sợ nhất là vào phải phòng thi mà có người tự nhiên phát điên, nhảy nhót, hò hét ầm ĩ, năm bảy lính cũng đối phó nổi. Còn có chuyện có người trong phòng thi vất sợi dây thừng lên xà nhà định tự sát. Đương nhiên đây phải việc làm quậy phá từ phía giám thị, cho nên người ta thoái thác trách nhiệm cho những oan hồn về báo thù, mà trách nhiệm đó sau cùng lại trút lên đầu thí sinh hoặc tổ tông của họ từng làm chuyện thất đức, hại người.





      Ghi chép chuyện chiêu hồn ma về, sớm nhất là vào thời Minh - Thanh, trong tác phẩm Tam cương thức lược của Tế Nhân Đổng, sau đó là ở Dạ đàm tùy lục của Nhân Trai Thị và Bắc đông viên bút sơ biên của Lương Cung Thìn. Mặc dù việc chiêu hồn ma về chính thức được coi là tập tục tế lễ bắt buộc, nhưng với các sĩ tử việc làm ấy trở thành điều thể thiếu trong các khoa thi. Cho nên, khi tuần phủ Giang Tô, chủ thí là Trương Bác Hành tiến hành chiêu gọi hai hồn ma, việc làm ấy được tác giả Tiền Vịnh của Lý viên thần thoại cho đó là hào kiệt. Trong Gia đại nhân của Lương Cung Thìn cũng kể lại câu chuyện tương tự ở Quảng Tây, khi Lương Chương Cự là chủ thí cũng cho chiêu gọi hai hồn ma. Ở Tiền Vịnh, khi Trương Bác Hành làm chủ thí được người đời nhắc đến và cho đó là dị số bởi trong trường thi những có thi sinh bị bệnh hoặc phát điên mà chuyện chết người cũng thường xuyên xảy ra.

      Trước khi về chuyện chết người, có lẽ chúng ta cũng nên ngần ngại mà bỏ qua việc tìm hiểu chút về tình hình trường thi. Cận Nhân Mã trong tác phẩm Thạch ốc tục trầm mạnh dạn đưa ra những so sánh rất cụ thể, đối với những miêu tả quý giá này, tôi tiến hành đối chiếu chúng với những tài liệu khác dưới đây:

      Các tỉnh tổ chức thi tại trấn phủ của mình được gọi là Cống viện. Cống viện là khu vực rộng lớn, nghe Cống viện Giang Nam được coi là lớn nhất (đó là mảnh đất rộng ở sau miếu phu tử Nam Kinh, giờ trở thành chợ văn hóa cổ), có thể tụ họp hơn hai mươi nghìn thí sinh. Ở Cống viện này xây lên từng hàng, từng hàng những dãy nhà đơn sơ, có đến trăm dãy nhà san sát nhau như vậy, mỗi dãy đánh số tới trăm và được sắp xếp theo thứ tự “Thiên tự văn”, “Thiên địa huyền hoàng”… Ví dụ như chữ “thiên” là số , cứ thế đánh số thứ tự nối tiếp nhau đến hết. Mỗi phòng này được gọi là trường ốc, cũng gọi là phòng thi, có cái gọi là phòng số, đặt số phòng ở nhà tù cũng cùng suy luận đó. Mà có tất cả bao nhiêu phòng? Chiều cao chỉ bằng đầu người, chiều rộng chỉ cần thò chân ra chút là đụng đến tường đối diện, kích thước chiều sâu nhiều hơn chút, bên trong có thể dựng được chiếc giường làm theo lối phương Bắc, là giường dùng để ngủ, tuy rộng rãi lắm nhưng cũng có thể dựa đầu vào đó được, chân có thể duỗi thẳng ra, cũng có khi phải duỗi ra bên ngoài cửa phòng thi. Giường này dùng để ngồi khi làm bài thi, như thế cũng là rộng rãi lắm rồi. tóm lại, nếu về phương diện xa hoa mà suy đoán, quy mô của những phòng thi này tương đương với phòng đơn thường gặp bây giờ. Phòng thi có cửa, chỗ cửa vào có miếng gỗ riêng biệt, nó được dùng để kê bài thi khi viết và cũng là bàn dùng để ăn cơm. Bên trong treo tấm rèm cũng nhằm mục đích giúp phân biệt là trong hay ngoài. Các thí sinh vẫn đùa với nhau rằng, đây là “nụy ốc phong quang”, trong đời phải may mắn lắm mới có dịp tá túc vài hôm.

      Đến mùa thu tháng Tám hàng năm, nhân tài toàn tỉnh tập hợp đến đây thi ba đợt, mỗi đợt ba ngày. Trước ngày thi ngày thí sinh được vào trường thi, sáng sớm hôm đó, thí sinh xem số thứ tự, mang hành lý, giống như hành khách chen chúc lên tàu trong dịp Tết, xếp hàng dài để đợi vào trường thi. Thường có câu “tú tài liễu kiến binh, hữu lý thuyết bất thanh” [9] . Bắt đầu ở khoảng thời gian ở Cống viện, đại đa số tú tài đều phải tìm cách khôn khéo mà kết giao với lính gác. Những lính gác đeo dao bên mình, dáng vẻ rất oai phong. Ngày thường, các cử nhân tú tài ngạo mạn, giờ đây trước mặt lính gác lại trở nên ngoan ngoãn chẳng khác gì đứa trẻ lên ba chỉ biết gật, lắc liên hồi, bơ phờ dưới cái nắng gay gắt, binh lính gọi họ đến uống nước, ngay cả buồn đánh hơi cũng chẳng dám. Cứ như thế, theo đúng quy trình kiểm tra. Các cử nhân tú tài bị khám xét hành lý từng người, từng người . Và các binh lính cũng nhân cơ hội này để thể thái độ coi thường, khinh miệt đối với các tú tài, cố ý kiểm tra cách tỉ mỉ, đến nỗi khám xét cả những chỗ riêng tư hay bắt cởi bỏ quần áo.

      [9] Nghĩa là: tú tài gặp lính có lý cũng khó giải thích ràng.

      Trong lịch sử trường thi ở Nam Kinh có câu chuyện có kể ra khỏi khiến bạn đọc cười ra nước mắt. Có khoa thi, thí sinh bị đám lính tìm ta cái ví giấu cẩn thận ở dưới hậu môn. Khi bị phát , ta đến chết cũng chịu nhận, cố tình biện hộ rằng cái ví đó là do người ở đằng sau bỏ vào. Đám binh lính hiểu tình, muốn tìm xem rốt cuộc đằng sau là người nào, cuối cùng người đằng sau cười lớn, đáp: “Phải, cứ cho là của ta để vào đó, nhưng sao nó là để ở bên , hay bên dưới mà lại nhằm vào đúng chỗ đó mà để? Hơn nữa, tại sao nó lại cứ ở phần hậu môn mà mãi chịu chỗ khác vậy?” xong lại đắc chí cười ha ha. Lúc đó, đại đa số đám binh lính thích bỡn cợt vẫn hiểu tình ra sao. Nhưng niềm vui đến với ta chưa được bao lâu phía sau lại tiến đến nhóm khác, tiếp tục lục soát, làm lúc họ cũng khiến cái phần giữa ta nhô lên cao như vậy. Đúng lúc đó, Tả Tông Đường làm trợ lý tại đó, dùng chân đá cho tên chỉ huy của đám binh sĩ vốn cao to hơn ông ta lăn lộn mặt đất (có ghi chép khác cho rằng ông ta tát vào miệng tên chỉ huy đám binh sĩ cái tát hoặc đá cái rồi mắng thêm câu: “Đồ khốn nạn!” Có lẽ lúc đó trong thâm tâm ông Tả Tước gia kia còn mong muốn đá cho cả đám binh lính kia lăn lộn khắp nơi đất). Nhưng có điều lạ lùng là sao ông ta lại bực dọc và hận thù dữ dội đến vậy? Bây giờ nghĩ lại, tôi đoán rằng trong thời gian ứng thi trước kia, ông ta cũng từng chịu mắng mỏ, sỉ nhục ghê gớm của đám binh lính cho nên nay ngồi ở cương vị này, phải chứng kiến cảnh tượng trước mặt, ký ức bỗng chốc về, mối thù xưa trỗi dậy sâu sắc đến nỗi quên hết cả địa vị và tư cách cao quý của mình. tóm lại, chỉ sau khi kiểm tra đạt đủ tiêu chuẩn, các thí sinh mới được đưa đến vị trí của mình. Khi hoàng hôn buông xuống, thân thể tuy mệt nhoài, mặt mày ủ rũ, nhưng cũng phải cố cổ vũ mình lấy tinh thần chuẩn bị bước vào vòng thi cử. Bởi ngay tối hôm đó là phát đề thi, cũng có nghĩa là bắt đầu tính thời gian làm bài.

      Thí sinh vào phòng thi phải ở đó làm mạch đến hết ba ngày ba đêm, ăn ngủ, đại tiểu tiện cũng ở đó, cộng thêm cái nóng oi bức của tiết trời tháng Tám khiến cho phòng thi ở đây bốc mùi hôi thối. Đặc biệt là ở vùng nóng ẩm như Giang Nam, ban ngày ruồi muỗi bay loạn xạ, tối đến muỗi tấn công ào ào, khí giống như chốn lao tù. Nhưng tù nhân trong tù đâu cần động não suy nghĩ để làm văn thơ, vì vậy cử nhân tú tài tương lai thực tế rất khổ và thậm chí còn khổ hơn cả tù nhân, vì được quyền tự do tự tại.

      Từ những bức ảnh cũ của Cống viện Bắc Kinh cho phép chúng ta hình dung hơn về những căn phòng ẩm thấp này. Địa chỉ cũ của Cống viện Bắc Kinh là Học viện xã hội học Trung Quốc, bên cạnh có ngõ hẻm vẫn được bảo tồn và được đặt tên là “Cống viện”. Vị trí lúc bấy giờ là gần cửa phía đông hẻo lánh và hoang vắng, nhưng nay trở nên sầm uất, nhộn nhịp hơn rất nhiều. Xem những bức ảnh cũ được lưu giữ lại, những căn phòng hẹp, ẩm thắp, sân bẩn thỉu làm người ta khó có thể tưởng tưởng nổi đây là “long môn” bước lên trời của các nhà trí thức. Cống viện ở nơi đô thành còn như thế, các trường thi ở tỉnh, phủ, châu, huyện chỉ xếp sau mà thôi. (Ghi chép của Giới Xuyên Long khi nhìn thấy hai nghìn sáu trăm phòng thi chi đặt ở chỗ, “ những mang lại cho người xem cảm giác tráng lệ, mà tương phản hoàn toàn, đó là lạnh lẽo, hoang mang đến rợn người”.) Từ hình ảnh này có thể suy đoán ra chế độ thi cử thời xưa “buồn tẻ”, “chán nản” đến mức nào. Nhà văn Nhật này hiểu về văn hóa Trung Quốc còn hơn cả tiền bối của Kanier. Cống viện Bắc Kinh vẫn còn chút lợi thế về điều kiện tự nhiên, đó là khí hậu mát mẻ, trừ khi gặp phải thời tiết nóng bức, oi ả của tháng Tám, cho nên ma quỷ ở đây xuất nhiều nhất ở cửa ngõ phía nam.

      Vào thời nhà Thanh, năm Đạo Quang thứ mười bảy, tức năm Đinh Dậu (1837) thi xã tại Phúc Kiến, thời tiết nóng bức, khắc nghiệt khác thường, trong ba vòng thi có nhiều sĩ tử mắc bệnh và bị ma ám. Quyển tam ký Li biêm hiên chất ngôn [10] của Đới Liên Phân có ghi chép lại câu chuyện thi Hương tại Nam Kinh vào năm Đinh Mão. Truyện kể rằng, vào đợt thi đó có nửa số thí sinh bị say nắng và có hơn bốn mươi người bị chết trong phòng thi. Người chết nhiều như vậy nên trường thi này, chuyện ma quỷ về đòi mạng đương nhiên là nhiều rồi.

      [10] Nghĩa là: đặc tính chữa trị của kim li.

      Cứ thi xong môn người ta lại thấy xác của mấy thí sinh được khiêng ra từ Cống viện, cộng thêm mấy vị mắc chứng tâm thần cũng được dẫn ra theo. Tạm gác chuyện này qua bên, phải điều tra nguyên nhân cố để còn có cái cớ dẹp tan mọi phẫn uất trong lòng người dân. Muốn giảm bớt những rắc rối này, họ bèn đưa ra lý do có sẵn là oan hồn báo oán hiển linh đòi mạng, lấy lý do ấy người dân còn biết gì đây? Nếu người nhà có hỏi tiếp, giải quyết xong nữa đưa chuyện đó vào “cửa vi đoạt mệnh lục”, hoặc viết thành đoạn kịch , cũng có khi chuyển thể thành tiểu thuyết Mãn thôn thính thuyết Thái Trung Lang [11] . Song chuyện ma báo thù rốt cuộc cũng chỉ là cớ của quan phủ và quan trọng hơn nữa là mục đích xoa dịu phẫn nộ của quần chúng đối với việc vô tình bạc nghĩa ấy thôi.

      [11] Nghĩa là: cả làng nghe truyện Thái Trung Lang.

                4



      Thi cử đối với những người trí thức chính là “long môn”, vượt qua được thân phận trở nên cao quý gấp bội lần, còn ở mức độ nhất định nào đó chế độ thi cử thực đem lại cho sĩ tử nghèo cơ hội tốt để đổi đời. Chuyện những thư sinh nghèo sau khi đỗ đạt làm quan vô tình bạc nghĩa làm cho người khác rất chú ý. Đến trường thi xuất ma báo thù, đại đa số hồn ma báo thù đều vì vô tình bạc nghĩa giữa vợ chồng, người , bạn bè với nhau. Vào trường thi, bạn bè thân thích của hai thí sinh kỳ vọng ta bao nhiêu kẻ thù và oan gia của ta nguyền rủa sâu nặng bất nhiêu. Lấy chuyện của người để đoán chuyện ma, giờ đây, tự nhiên hồn ma và thí sinh có liên quan đến chuyện ân oán và hận thù, tình tiết này thực cũng vô cùng hấp dẫn. Trường thi lúc này lại là nơi lý tưởng cho việc trả thù hay báo ân, báo oán.

      Nhưng việc báo ân, báo oán của ma cũng có giới hạn, nó được vượt quá phạm vi cho phép xảy ra cố trường thi. Dựa theo nguyên tác này mà có mấy cách báo thù dưới đây. Cách thứ nhất, “trục trường”, nghĩa là tìm cách khiến cho thí sinh thể làm bài cách bình thường rồi bị đuổi giữa chừng. Có lẽ đây là hình thức trừng phạt nhàng nhất. Trong đó, để thực cách gọn nhất oan hồn ma quỷ bất giác hình trong lúc thi, khiến cho thí sinh chột dạ, sợ sệt mà tự hiểu rằng, nếu càng gắng gượng càng làm cho việc trở nên to tát, biết điều hãy tự mình rời khỏi trường thi. Thí sinh kín đáo trốn chạy như vậy mục đích để có thể tránh khỏi hình phạt nghiêm khắc hơn. Mà mục đích của oan hồn cũng chỉ mong cho kẻ thù thành tài nên nếu mục đích đạt được rồi dễ dàng bỏ qua. Đó cũng là cách trừng phạt khoan hồng, độ lượng nhất rồi.

      Có trường hợp khác lại có chút dứt khoát hơn. Chưa gặp ma tính trước chuồn. Dực quynh bại biên của Thang Dụng Trung, quyển , Khoa trường [12] có ghi chép lại nhiều điều lạ lùng xảy đến trong trường thi: “Khoa Canh Thân, thí sinh nọ ở Tô Châu vào phòng thi, quân hào hỏi ta họ gì, liền đáp họ Trương, quân hào vui mừng : “Tôi đoán chắc khoa thi năm nay ông nhất định đỗ đạt. Tối qua tôi nằm mơ thấy người con cũng ngồi ở phòng này, tay cầm cành hoa quế, tôi hỏi vì sao ta , đợi người đàn ông họ Trương đến. Nay ông mang họ Trương, lại ngồi đúng vào chỗ đó, nhất định đỗ điểm cao.” Trương mỗ nghe xong, vẻ mặt vô cùng hoảng hốt, sợ hãi chạy ra khỏi phòng thi.

      [12] Nghĩa là: việc bí trong trường thi.

      Có trường hợp oan hồn cho thí sinh vào phòng thấp, sau đó nhập vào, tự địa chỉ nhà và kể chuyện xấu xa của bản thân họ để tự bôi nhọ thanh danh và làm mất danh tiếng. Bắc đông viên bút lục sơ biên, cuốn ba ghi chép chuyện xảy ra ở trường thi Giang Nam năm Bính Ngọ Càn Long [13] : “Khi vừa phát đề thi xong, sĩ tử liền ngớt cất cao giọng hát, rồi bỗng nhiên dán đề thi thứ nhất lên bảng: “Hồn phách phiêu bạt bao năm rồi, hôm nay gặp nhau trước cửa phòng thi. Lúc đầu còn cho rằng đó là lương duyên, nhưng sau sao lỡ ra tay làm mất hết công danh của tôi?” Hát xong để đề thi ở đó rồi lảo đảo ra ngoài. Cùng sách Tục biên [14] , quyển năm ghi chép câu chuyện về cuộc thi Hương năm đó: Có sĩ tử bỗng nhiên dang tay như ôm đàn tì bà, cất lên bài hát dân ca Mãn giang công [15] , vừa hát vừa trêu ghẹo xung quanh. Hát xong bỗng nhiên khóc nức nở và than vãn những chuyện buồn khổ của chính mình. Cuối cùng lấy giấy thi lau nước mắt, ngủ say mê mệt, sáng sớm hôm sau ra với bộ dạng thảm hại.

      [13] Năm Bính Ngọ Càn Long tức năm 1786.

      [14] Nghĩa là: biên soạn tiếp.

      [15] Nghĩa là: giang sơn màu đỏ.

      cách nữa là làm bẩn bài thi. Thí sinh làm bẩn, rách hoặc mất bài thi, khiến cho ta mất công làm bài mà chẳng có kết quả gì, đây cũng là hình thức trừng phạt rất khoan hồng. Độn trai ngẫu bút [16] của Từ Côn viết về việc mà chính bản thân tác giả trải qua: “Thời Khang Hy, năm Tân Mão, ở trường thi Giang Nam có thí sinh làm xong bài thi, sau đó ta vệ sinh, khi vào thấy bài thi của mình đâu nữa. lát sau, ở công đường có truyện dụ : “Đường Tự Hào bị mất bài thi, nay bài thi lại từ trời rơi xuống phía tây của trường thi, nhưng bị rách làm hai rồi.” Thí sinh này cầu thay giấy thi để làm lại, nhưng vị giám khảo từ chối ta, và : “Trong chuyện này ắt có quỷ thần, có thay bài thi cũng có tác dụng gì đâu.”

      [16] Nghĩa là: viết về việc từ chối ăn chay.

      Cuốn thứ hai trong Dạ đàm tùy lục của Nhân Trai Thị có viết về kỳ thi Hương: “Có vị tú tài say sưa làm văn, làm đến giữa đêm tự nhiên gặp người vén rèm cửa vào. Người này mặc quan phục thời cổ, mặt mũi rất kỳ dị. Tú tài chợt giật mình, ngây người ra, người đó liền chìa tay ra và : “Ta là thần minh hiển linh. Tổ tông của nhà ngươi có tích đức, vì thế môn thi này nhà ngươi nhất định đỗ với thành tích cao, ngươi hãy viết chữ vào lòng bàn tay ta, khi điền vào bảng (danh sách niêm yết) lấy chữ này để kiểm chứng.” Vị tú tài này vô cùng mừng rỡ, liền cầm bút, mài mực đen đậm rồi vẽ lên tay người đó chữ “khôi” rất to. Vừa viết xong nhìn thấy bàn tay đó đâu nữa, cũng thấy bóng dáng của vị thần minh kia đâu, mà chỉ thấy chữ “khôi” ở bài thi của mình. Màu vừa đen vừa đậm, thấm đẫm cả trang giấy. Và tất nhiên, vị đó phải thần minh gì cả, chỉ là oan hồn giả mạo mà thôi.”

      cách kỳ lạ khác đó là tượng thí sinh bỗng nhiên phát điên. Oan hồn hình hoặc nhập vào người làm cho các thí sinh thi phát điên, phát cuồng, những chuyện như thế này ở trong trường thi cũng ít. Cuốn thứ năm trong Bắc Đông Viên bút ký sơ biên viết thời Càn Long, năm Kỷ Hợi, trong kỳ thi Hương chỉ có trường thi mà có đến ba người bị điên.

      Người thứ nhất sau khi bước vào trường thi, phát đề thi xong, tự nhiên phát điên chạy vào trong thành, gặp người liền đọ sức quyết liệt. người khác sau khi nhận giấy làm bài, bước vào phòng thi, đột nhiên nổi cơn điên mà kêu rằng: “Tôi chỉ có thể viết tờ trình lên, có người muốn hãm hãi, ép tôi làm điều gian dối!” Còn người khác, bỗng dưng nổi con điên loạn, hét ầm ĩ: “Tìm kiếm năm năm, hôm nay gặp được, được nơi nào khác.” Liền sau đó ta chạy ta ra ngoài, tự tìm đến cái chết mà ai có thể ngăn cản được.

      khắc nghiệt nhất của việc trả thù chính là lấy mạng đền mạng. Ma báo thù lấy mạng người ở trường thi và cái oán độc này chắc chắn rất sâu nặng. Nhưng những kiểu lấy mạng ở trường thi thường núp dưới những hình thức như thí sinh tự sát hoặc bạo bệnh mà chết. Theo thống kê các con số được ghi chép lại, việc người tự sát tại trường thi nhiều hơn việc theo cổ tự vẫn, tuy có người rằng đó là bị oan quỷ hại chết sau đó giả dạng dưới hình thức tự thắt cổ chết, nhưng cái này chưa đủ cơ sở để thuyết phục người khác. Mà trong truyền thuyết viết về oan quỷ chính là “ải quỷ” cũng có rất nhiều, ví như Dư mạc ngẫu đàm tiết lục của Tôn Đàn có viết về cuộc thi vào mùa thu ở Hồ Nam, sau khi các sĩ tử vào trường thi, nửa đêm bỗng từ đâu đó vang lên bài thơ tuyệt cú. Mà điều lạ lùng là những câu thơ lại từ miệng của đọc lên, và câu thơ cuối cùng: “Kim dạ nguyệt minh nhân tĩnh hậu, thanh linh nhất bức kết tàn sinh.” [17] Quả nhiên là oan hồn của “ải quỷ” hiển linh. Ngoài ra, các thí sinh khi vào phòng thi thường mang theo con dao , vì thế việc tự kết liễu đời mình cũng là điều dễ dàng thực được. Trong cuốn Bàng biếm hiên trực ngôn của Tiền Thuật có viết: Vào năm Đinh Mậu, kỳ thi Hương ở Nam Kinh có đến hơn bốn mươi người chết, trong đó có ba trường hợp có thể là rất kỳ lạ, được ghi lại dưới đây:

      [17] Nghĩa là: đêm nay trăng sáng, sau khi người tĩnh tâm lại, kết thúc cuộc sống tàn khốc này bằng đoạn vải màu xanh.

      thí sinh ở Dương Châu, vào đêm mồng Tám, khi tất cả mọi người tập trung ở bên ngoài chỉ có mình ta vào phòng ngủ. Đêm về khuya, mọi người nghe thấy trong phòng phát ra tiếng động lạ và nhìn thấy thí sinh này vén rèm cửa chạy ra ngoài, tay mang theo chiếc bát vỡ, rồi dùng các mảnh sành để rạch bụng, máu chảy thành suối, tay ta nắm lấy ngũ tạng của mình và gục xuống, nghiêm giọng : “ tin, nhìn tim tôi!”, xong ta ngã xuống đất và chết.

      Cái chết tuy rất thảm hại nhưng theo lão nô với thí sinh này , người huynh đệ của ta chết sớm, để lại nhi quả phụ, người này vì muốn chiếm tài sản nên ép chết em dâu mình, giết chết đứa cháu tội nghiệp, vì vậy có tội phải chịu tội.

      Những kiểu bị oan hồn lấy mạng, ngoài những người vong ân bội nghĩa còn có lượng lớn những người làm việc ác như cưỡng bức, cho vay nặng lãi, chiếm lĩnh tài sản, ruộng vườn của người khác, buôn bán thuốc phiện… Lương Cung Thần vào năm Canh Thân tham gia ứng thi. Số là bên cạnh có người thắt cổ chết trong nhà vệ sinh, trước khi chết tự viết vào bài thi của mình: “Dao bút giết người có ba, đồng tính luyến ái là , mời đại nhận thực thi chính pháp.” người chết đủ để che đậy tội lỗi, mà trời bắt chết, ràng mặt mũi phải úp xuống đất!

      Oan hồn đòi mạng quả nhiên là giả, nhưng điều tra về cái chết của những người này lại tìm ra được rất nhiều chuyện xấu xa, đó là những thu hoạch ngoài ý muốn. Từ đó chúng ta có thể thấy, các lão gia lợi dụng chức vụ của mình ở địa phương để làm những việc thất đức. Vì thế, cách về oán quỷ trong trường thi cũng phải là có ý nghĩa.

      Đương nhiên, người chết ở trong trường thi phải ai ai cũng là kẻ ác. Trước khi bước vào phòng thi, thí sinh phải chuẩn bị kỹ tâm lý, chỉ hy vọng gặp được đề thi mà mình cố công chuẩn bị kỹ càng. Đến khi phát đề thi tất cả đều ngỡ ngàng, thất vọng, bao nhiêu hy vọng, chờ đợi từ ba năm nay bây giờ trở thành con số , cơ hội tiếp theo phải khổ sơ, chờ đợi thêm ba năm nữa. Như Lưu Thanh Viên từng : “Vào lúc đó, gặp nhiều đề thi được như ý tự nhủ với lòng mình, năm nay chắc đỗ, có trăm cái cần phải suy nghĩ, hoặc là lo có thù thể trả, hoặc đói rét, hoặc bị người thân, bạn bè cười chê, hoặc bị chủ nợ đòi, hoặc bị người khác bắt nạt… Có bao nhiêu cái cần phải lo lắng, suy nghĩ, cách nghĩ ngắn nhất của người đần độn, phong hàn, vất vả, mệt nhọc và bệnh tật là tìm đến cái chết cũng là điều hợp tình hợp lý!”

      Vậy ở đoạn trước thuật lại việc tại các trường thi như vậy, khi về ma quỷ thể nhắc đến quỷ chính thức ở trường thi, nó có tên gọi là “khoa trường quỷ”. Những con ma đó đều là do “phong hàn lao tụy” hoặc các thí sinh tự tìm con đường ngắn nhất để giải thoát cho mình là chết ở trường thi. Trong Vô thườngNữ điều của Lỗ Tấn có hai lần nhắc đến điều này: “Trong phòng tối ở sau đại điện của miếu Thành Hoàng hoặc miếu Đông Nhạc, ở nơi biểu diễn kịch Mục Liên, “khoa trường quỷ”, “điêu tử quỷ” [18] , “yêm tử quỷ” [19] và “diệt tử quỷ” [20] xếp cùng với nhau, có thể xem như là những hồn ma vô tội. Dân chúng là những người hiền lương, trong mắt họ, những người thuộc tầng lớp thấp kém của xã hội mà cố gắng vượt lên số phận nhưng lại chết ở trường thi, đều đáng được cảm thông. Tuy có những người sau khi vượt lên số phận, đối với bản thân cũng chẳng được lợi ích gì, nhưng có vài việc làm cho người ta lo lắng, những hồn ma của điêu tử, yêm tử, diệt tử, trành tử đều cần tìm người thế thân cho mình, “khoa trường quỷ” cùng nhóm với bọn họ, có phải cũng cần đến trường thi để tìm người thế thân? Nếu đúng như vậy, những phiền phức có thể còn lớn hơn rất nhiều! [21]

      [18] Nghĩa là: ma thắt cổ chết.

      [19] Nghĩa là: ma chết chìm.

      [20] Nghĩa là: ma ngã mà chết.

      [21] Quách Trắc Vân sống ở thời cận đại, trong Đồng linh kế chí, cuốn sáu viết: “Sĩ tử chết tại Tỏa viên, thi thể được ra từ “long môn”, giá dây đỡ để , để lộ ra ngoài, gọi là đánh thái bình. Sau đó linh hồn tiêu tan hoặc vẫn lưu lại nơi đó và chịu cảnh khổ cực trong mưa gió.

       

    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 8: Ân cừu nhị quỷ [1]



                [1] Nghĩa là: hai loại quỷ báo ân, báo oán.


      <img class="aligncenter" alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />

                P/S: Lá thư trả lời đầu tiên của Viên Tử Tài gửi cho Dương Lạp Hồ


      Tần Thế huynh tới, giao tận tay rồi nhắc nhở, phải là huynh quá viển vông! Những truyện trong cuốn Tử bất ngữ đều là bịa đặt, nhăng cuội, sao xứng đáng được coi là tác phẩm điển hình, đáng tin cậy, vì thế ta cần nhớ tên tuổi tác giả. Huynh cho đó là những việc có trong chính sử, để chỉnh sửa từng chữ từng câu, huynh thấy phiền phức sao? Ví như trong câu chuyện viết về Lý Hương Quân, ta đọc mà thấy bức xúc, dường như cuốn sách cố ý bôi nhọ danh tiết của Hương Quân, vì thế bắt buộc ta phải dùng nhũng lời lẽ để giúp huynh tỉnh ngộ.

      Những bậc chí nhân bao giờ mơ mộng những chuyện viển vông, nhưng trong kỳ thi khoa cử vừa qua, huynh những có những ý nghĩ viển vông như vậy, mà còn kéo cả đàn bà phụ nữ vào cơn mộng mị đó, đó phải là cái sáng suốt của bậc chí nhân. Tuy nhiên, người muốn theo đuổi ảo tưởng cứ theo đuổi, người từ chối ảo tưởng cứ việc từ chối, như trong câu chuyện Phạm Văn Chính Công viết sử được ghi trong tác phẩm Họa mạn lục, cho dù người đó được coi là bậc chí nhân, nhưng vẫn có thể coi là bậc chính nhân. Còn huynh ngang nhiên nhận lời người ta để làm người giới thiệu cho cuốn sách, bậc chính nhân liệu có làm như vậy ? Khi việc của người ta hoàn thành, những thứ viển vông kia lại quá trống rỗng, người ta quên chúng. Có phải là vì năm Canh Dần huynh thuyền ghé qua chỗ Viên Mai, thơ của huynh được Viên Mai ca ngợi đến tận mây xanh? Tất cả những điều mà ta ghi lại đều là những điều mà huynh với ta, nếu , ta ảo tưởng như huynh, làm cách nào để biết đây là vụ trọng án đây? Quan chủ khảo là Đông Lộc Thị Lang, cũng như huynh , đó phải là những tưởng tượng chủ quan của ta. Nay huynh thừa nhận chuyện đó, còn Sư Đơn tuổi cao nên hay quên, vậy chuyện đó xảy ra bằng cách nào? Nhớ năm xưa khi huynh còn trai trẻ, đầu óc sáng suốt, tính tình thẳng thắn, có gì nấy, biết kiêng nể bất cứ ai, bất cứ điều gì, giờ đây cuộc sống vất vả, lúc nào cũng nghĩ sau này mình chết như thế nào, có phải vì thế mà huynh né tránh những gì trước kia? Vậy khi huynh gặp Hương Quân, biết huynh còn bôi nhọ nhân phẩm nàng ấy đến đâu? Đại nhân Hoàng Thạch Trai từng bị bạn bè trêu chọc, ông ngủ cùng phòng với phu nhân Cố Hoành Ba, nhưng ông phạm đến người kia, thậm chí ông cũng trách cứ gì vị phu nhân đó. Huynh chỉ gặp Hương Quân trong mơ mà huynh thấy sửng sốt vì nàng có chút uế bẩn, độ lượng và lòng hẹp hòi sao mà khác nhau đến vậy?

      Cổ nhân cũng giống như cổ vật. Những gì của thời cổ là những cái của quá khứ, khó có cơ hội được nhìn thấy. Bỗng nhiên nhìn thấy đỉnh đồng cổ, lu rượu cổ, ta phải thấy vui mừng vì điều đó, dẫu đó là viên gạch cổ, viên ngói cổ ta cũng thấy vui. Người xưa cũng là người của quá khứ, thể gặp lại được, bỗng nhiên gặp được Nhạc Vũ Mục, Dương Tiêu Sơn đương nhiên người ta thấy mừng vui khôn xiết, ngay cả khi gặp phải Tần Hội, Nghiêm Tung cũng cảm thấy vui. Tại sao vậy? Đó là vì rất hiếm có người gặp được họ mà thôi. Hương Quân là người của quá khứ đến nay cũng gần hai trăm năm, đâu phải ai cũng có thể gặp được nàng? Giả sử nàng vẫn còn giờ cũng trở thành bà lão tóc bạc phơ, chứ còn là trẻ trung xinh đẹp nữa. Người nghiêm khắc, chính trực như Lạp Hồ huynh gặp được nàng thấy vui và cũng chẳng hại gì, cũng như khi kẻ “khinh miệt đến mức hạ lưu” như Viên Mai gặp được nàng cũng vui mừng đấy thôi. Hương Quân tuy là kỹ nữ, nhưng vì vậy mà người khác có quyền được trách cứ nàng quá đáng hay sao? Khi họ Mã, họ Nguyễn uy hiếp họ Trương, cái duy nhất có thể giữ được đó là tiết khí của bậc quân tử, từ đó được nhiều người kính nể, phong thái đó là cái mà bao kẻ sĩ muốn có mà được, thể thấy người ta xuất thân bần hàn mà tỏ vẻ khinh thường. Xưa kia Uông Kỹ quý trẻ nhưng vẫn có thể cầm gươm giáo để bảo vệ xã tắc, kỹ nữ Mao Tích Tích cũng vậy, nàng có gan chửi mắng bọn gian tặc mà chết, sử sách ghi lại câu chuyện về nàng. Huynh được gặp Hương Quân, đó là vinh hạnh của huynh, đó chưa chắc phải là lòng hướng thiện quý quá khứ, mà chắc chắn là háo sắc, phóng đãng của huynh bị gò ép, khi tâm địa sạch như vậy, là tự mình coi rẻ mình mà thôi. Bốn chữ “Khiên liêm tư ngữ” (vén rèm chuyện riêng tư) trong sách được sửa thành “Sàng hạ quỳ cầu” (quỳ lạy dưới giường), thấy nực cười thay. Hương Quân chẳng qua chỉ muốn giới thiệu kẻ sĩ, lại bị giáo huấn oan uổng nơi công đường, vậy có gì cần quỳ lạy van xin ở đây? Huynh từ bỏ chức quan từ lâu, mà vẫn muốn ra uy ở huyện Nhật Châu, cộng thêm vào đó là vong hồn nữ giới từ hai trăm năm về trước, chẳng có ý nghĩa gì cả.

      Lại chỗ trong thư viết “vong hồn trinh nữ”, rồi lại viết “vong hồn trinh nữ”, Hương Quân có trinh tiết hay , huynh biết được bằng cách nào? Nếu phải là Hương Quân, mà là phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi có trang điểm , việc người ta còn trinh hay cũng phải việc huynh có thể biết được. Tạm thời huynh có chút tà niệm, vậy việc “vén rèm chuyện riêng tư” kia có gì hại ? Và nếu như có tà niệm, vậy kẻ quỳ dưới giường kia tại sao thể tiến đến ôm lấy chân đối phương? Ta còn nhớ tám chữ trong đề thi: “Y thượng nhã tố, hình dung đoan khiết” [22] , nếu xét kỹ lại đề thi này phạm vào điều kỵ “phi lễ vật thị” [23] , sau này khi bày tiệc mời khách, muốn ăn miếng thịt cũng nguy hiểm. Vì điều này mà chỉ có hòa thượng và phụ nữ là dễ được nổi tiếng. Chỉ bàn về tại, đương nhiên Lạp Hồ là người được kính trọng. Hương Quân là kẻ đê tiện, nhưng e rằng vài ba năm nữa, thiên hạ những biết có Lý Hương Quân, mà còn biết có Dương Lạp Hồ - bậc quân tử đầy nhân cách ngồi kiệu, phải là người khác kiệu, chứ cần tự mình kiệu.

      [22] Nghĩa là: quần áo chỉnh tề, dáng vẻ đoan trang.

      [23] Nghĩa là: được nhìn những gì hợp với lễ giáo.

      Trong thư còn : “Đệ phải ham mê cái đẹp, nhưng đệ đặc biệt ham cái đẹp của điếm.” Câu này nghe có vẻ ghê rợn quá! Thử hỏi, ham cái đẹp của điếm vậy huynh ham mê cái đẹp của người như thế nào? Người ham cái đẹp của điếm là tội , ham cái đẹp của con nhà lành mới là tội lớn. Sắc phải đôi với tửu, có người chưa từng uống giọt rượu nào cũng có người vô cùng điềm tĩnh. Lòng người khác nhau, tựa như khuôn mặt của từng người vậy. Ham mê cái đẹp cần né tránh, ham mê cái đẹp cũng thế. Nhân phẩm của con người là cao thượng hay thấp hèn phải được định đoạt bởi việc có háo sắc hay . Văn Vương háo sắc, Khổng Tử cũng vậy, nhưng cái háo sắc của Khổng Tử lại giống với cái háo sắc của Vệ Linh Công. Nhà Lô Kỳ tùy ý lấy thiếp, cuối cùng lại là kẻ tiểu nhân, Tạ An lấy kỹ nữ vùng Đông Sơn, cuối cùng lại là người quân tử. Tính tình huynh vốn nghiêm khắc, hiểu thế nào là háo sắc, điều này ta biết , và cũng thầm kính nể huynh vì điều đó, vậy hà tất vì ham mến cái danh háo sắc mà ép mình phải biết nó? Vốn được ghi tên là bậc thánh hiền, nay lại mạo nhận mình là háo sắc, kỳ lạ thay!

      Nghe tin huynh mừng thọ bảy tuổi, cùng vợ tổ chức lại lễ tân hôn, hai vợ chồng già dìu nhau vào động phòng. Ngồi giường trùm khăn đỏ, huynh tự gọi mình là háo sắc, hay là mượn cái đó để tự hào? Vương Long Khê có : “Tú tài nghèo ôm vợ già nhà mình rồi tự mình háo sắc, như thế phải xấu hổ lắm sao!” Xưa có người sợ vợ, hôm mơ thấy mình lập thiếp, người đó lại cho vợ biết, mụ vợ quát mắng, cho phép chồng được mơ như vậy nữa. Huynh hoài nghi, trốn chạy trong mơ, xem ra cũng là vì những gì chị nhà đối xử với huynh hằng ngày tích tụ mà thành chăng? Lý Cương quyết định thà tự gánh chịu chứ lừa dối chình mình, trong nhật ký ông có viết: “Đêm qua làm “chuyện đó” với vợ lần”, đến nay vẫn trở thành chủ đề để người ta bàn luận. Đến khi huynh là ông già tám mươi tuổi, cái hứng thú của huynh vẫn chưa giảm, khả năng làm “chuyện ấy” vẫn còn, cái háo sắc của huynh còn nữa. Bậc công tử hơn người ở cái nhìn xa trông rộng, kẻ tiểu nhân chỉ biết lo những cái tiểu tiết, những cái thiển cận. Hoàng Thúc vượt qua vạn trùng sông nước để tịnh tâm tu thân, huynh tu đạo bao năm nay nhưng tâm huynh tịnh, tầm nhìn của huynh thiển cận. Nước trong con rạch, nhìn trong nhưng dễ bị quấy đục. Mong huynh đừng quá tự mãn, hãy nghe lời khuyên can của ta, mau chóng gánh mười thùng nước suối Huệ Sơn, gội sạch đám khí độc lan tỏa trong lồng ngực huynh, làm như vậy có công dụng dưỡng sinh, còn tốt hơn cả việc uống linh chi đen và đọc Kim cương kinh đấy.

      Ta có tuổi rồi, cãi lý chút cho người quá cố liên quan gì đến mình như thế này dường như cũng là hơi quá. Chỉ e huynh khăng khăng coi trọng danh tiếng của mình để rồi phải chịu bôi nhọ này, khi học được cách nhìn nhận trinh trắng của người phụ nữ, huynh thấy hổ thẹn muôn phần, còn cuốn Tử bất ngữ những làm kinh động đến thánh nhân, mà nó còn ngấm ngầm giết chết các bậc hiền giả, ta thực thấy an tâm về nó. Tất cả những việc này cần mau chóng phân tích ràng như trong thư trước.

                Đính kèm lá thư của Dương Lạp Hồ


      Khi có được cuốn Tử bất ngữ xuất bản lần đầu tiên, đệ đọc hết cuốn sách từng hàng, từng chữ , thấy rằng tác phẩm được viết rất trơn tru, Tân tề hài, Tục quảng ký… tất cả đều viết rất hay. Chỉ khi đọc đến Lý Hương Quân tiến quyển, đệ bỗng thấy ngạc nhiên. việc trong kỳ thi năm Nhâm Thân giống như việc lúc đệ còn đương chức tại Cố Thủy. Thứ nhất, thời gian cách tại cũng lâu, quan chủ quản kỳ thi cũng chẳng còn nhớ đó là ai nữa. Hai là, chỉ tiêu trúng tuyển trong kỳ thi của xã Hà Nam chỉ có bảy mươi mốt người, nhưng tại sao lại có đến tám mươi ba người đỗ cử nhân? Thứ ba, người trúng tuyển là Hầu Sinh chỉ là cháu trai trong họ của Tráng Hối Đường, phải là người kế thừa của dòng họ. Thứ tư, có vẻ như việc này được thực quá dễ dàng, chắc chắn đúng thực, tất cả đều đủ để minh xét việc.

      Hơn nữa, bên trong còn có mấy chữ “hé lộ chuyện phòng the” làm bôi nhọ vong hồn trinh tiết! Vậy là cuối cùng có ai đó gặp được Lý Hương Quân, mỗi lần được người khác khen, ả cho rằng đó là niềm vinh hạnh. Kẻ được gọi là Lý Hương Quân chẳng qua chỉ là con điếm của Hầu Triều Tông ngày đó. Nếu như gặp Hương Quân còn sống, vậy ả còn thấy vinh, thấy hạnh như thế nào? Người ta còn ngợi khen ả ra sao? Thường ngày đệ cũng phải là người ham mê cái đẹp, nhưng chắc chắn đệ ham cái đẹp của điếm. Hai chữ “minh kỹ” [24] sao mà nghe chướng tai đến vậy! Tất cả những điều đó hoàn toàn tương phản với tính cách của đệ, biết có chỗ nào mạo phạm đến huynh hay , nhưng đệ vẫn xin được viết vài dòng như vậy. Vậy có phải là khinh mạn? So với kẻ hạ lưu, đệ giống và cũng đến mức thế. việc này thuộc loại vong hồn trinh nữ về báo đền ân đức trong mơ. Trong bản gốc cũng từng kể tới, nay ghi ra để người đời cùng đọc, liên quan đến “Lý Hương Quân” hay “Lý Xú Quân” [25] gì cả. Vì thế đệ sợ mạo phạm đến ai, việc cũng chỉ như việc chẻ đôi tấm gỗ mà thôi, hơn nữa, huynh lấy đó như điểm kết thúc của tình giao hữu, vậy càng đúng với nguyên tắc vốn có. Tên sách là Tử bất ngữ, ràng làm kinh động đến cả bậc thánh thần, để cái chết và hồi sinh đối mặt với nhau, khiến mọi người chú ý mà vươn lên từ đó. Huynh là người ham danh vọng, đệ đoán rằng chắc có ai dám khuyên răn huynh lấy câu. Đệ tự thấy hổ thẹn vì chỉ có thể chân thành khuyên huynh chứ thể thiện chí với huynh. Mong sớm nhận được thư hồi từ huynh!

      [24] Nghĩa là: điếm nổi tiếng.

      [25] Lý Xú Quân: chữ “xú” (thối) đối lập với chữ “hương” (thơm) ở tên Lý Hương Quân.


    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 9: hài hước của đầu lâu


               
      <img class="aligncenter" alt="" src="http://i.imgur.com/NdKoDDO.gif" width="800" height="30" />
                Có những người tự nhận mình có khiếu hài hước, nhưng cái hài hước, hóm hỉnh lại đều tìm đến với họ như định mệnh, ví dụ như: “quỷ bủn xỉn, giả đạo học, chủ nghĩa Mã Ly lão thái thái… Những chiếc đầu lâu đáng thương ấy, tuy họ rất an phận nhưng may lại có mối liên hệ với hài hước của con người.

      Đầu lâu, cũng chính là hộp sọ của con người, ngay cả khi các vị độc giả chưa hề nhìn qua trong thực tế cũng có thể suy đoán được hình dạng đại khái của nó như thế nào. Tôi tin rằng chỉ cần nghĩ đến ít người nảy sinh cảm xúc vui mừng đối với nó. Nhưng điều đó hề ảnh hưởng đến việc có số người dùng nó để vẽ lên cờ, làm huy hiệu, hay những thứ đại loại như vậy, thậm chí là làm dấu hiệu cảnh báo những thứ bị cho là nguy hiểm. Mục đính chính là làm cho con người cảm thấy sợ hãi, nhìn thấy hình ảnh đó lập tức tránh xa. Trung Quốc thời cổ đại, việc dùng đầu lâu làm con người có cảm giác kinh hãi, sợ sệt có những hiệu quả tích cực. Đó là vào khoảng thời gian sau khi diễn ra những cuộc đại chiến, người ta đem đầu lâu của kẻ địch hoặc của bách tính vô tội chất lên thành hàng nghìn đến hàng vạn đống như những ngọn núi , và gọi là “kinh quan”. Chỉ cần nhìn thấy vô số những đống “kinh quan” đó cũng đủ khiến cho kẻ thù hồn bay phách lạc, có gan để tiếp tục chiến đấu nữa. Còn ở nước ngoài, nghe họ dùng đầu lâu làm thành thiên đường và còn trở thành kỳ quan nổi tiếng thế giới. Mục đích của việc làm ấy chính là dùng đầu lâu để kêu gọi, thức tỉnh trái tim thương xót, đồng cảm của con người. Nhưng dường như cũng cần thiết phải dùng nhiều đầu lâu đến như vậy. Tóm lại, đầu lâu luôn gắn liền với những ý nghĩ và việc làm hài hước, hóm hỉnh của con người và khó có thể tách rời chúng ra được.

      Bởi lẽ, hài hước luôn tự tìm đến cửa. Lý Cao Tác, họa sĩ thời Nam Tống có bức họa Đầu lâu hoan hí đồ, lấy cái đầu lâu to đặt bên cái đầu lâu làm thành con rối, đến làm trò trẻ con ở chốn nhân gian. Ngô Lai Đình, người thời nhà Minh ông ta “chắc chắn giác ngộ”. Nhưng giác ngộ mà ông ta tới đây là giác ngộ cái gì? Phải chăng là ngộ ra những con rối sân khấu chính trị và người điều khiển nó, cũng chỉ là những đầu lâu làm trò cười mua vui cho thiên hạ? Hoặc giả ngộ ra hành động người sống dùng đầu lâu làm trò chơi mà lại nghĩ rằng đầu lâu cũng coi đời người như màn kịch? Điều này có lẽ cần phải dẫn dắt bạn đọc đến với bức họa đầu lâu và để mỗi người xem mình giác ngộ được đến đâu.

      Có lẽ bức họa Đầu lâu hoan hí đồ được xem là bức họa sớm nhất ở Trung Quốc. Ý nghĩa châm biếm và khuyên răn nhân thế phản ánh qua bức tranh là giá trị tuyệt đối thể phủ nhận được. Phong nguyệt bảo giám lập ý của Tào Tuyết Cần cũng hàm chứa những ý nghĩa tương tự như vậy. Sống và chết, vinh và nhục, xưa và nay, trí tuệ và đần độn, giữa những cái thị phi và những cái chuyển đổi, con người đều gặp phải, trải qua [1] . Vậy nhưng tất cả những cái đó thực tế lại đủ súc khái quát thành bài học cảnh báo bằng việc dùng hình tượng đầu lâu làm phát ngôn viên, lên tất cả mọi chuyện cách ngắn ngọn, hình tượng mà lại vô cùng hài hước.

      [1] Viện bảo tàng Cố cung có bức họa này, ngoài ra còn có Hoàng Công Vọng về bức họa này: “ có chút da với thịt, có sầu và khổ, con rối vẫn rút những sợi dây, làm con rối giống như con thỏ đê mua vui cho người khác”.

      Đương nhiên, tổ tiên của đầu lâu hài hước ấy chính là Trang Tử - Chí lạc biên, trong đó có dẫn ra câu chuyện rất nổi tiếng. Trang Tử đường đến nước Sở, tình cờ trông thấy cái đầu lâu ven đường, bỗng trào lên xúc động, xót thương nghẹn ngào, muốn mời Mệnh sứ đại tư làm cho sống lại. Nhưng chiếc đầu lâu đó liền vội vàng : “Ta ở trời Nam, cuộc sống vui vẻ vô lo, vô nghĩ, nếu sống lại làm người ở chốn nhân gian, như vậy chẳng phải vất vả lắm sao!” Lời từ chối của đầu lâu vô tình khiến cho việc thương xót, đồng cảm của Trang Tử trở thành chuyện nực cười, hài hước. Sau này, Trương Hoành thời Đông Hán lại bắt chước, tiếp tục làm theo phong cách đó, viết bài Đầu lâu phú, ám chỉ chủ nhân của chiếc đầu lâu đó chính là Trang Tử. Trang Tử mượn đầu lâu để lời của chính mình, Trương Bình Tử phá vỡ điểm này, thậm chí có phần sáng tạo hơn. Trong Chí Lạc của Lỗ Tấn cải biên cuốn kịch tiểu thuyết Khởi tử, đem huyền đàm trong giấc mộng của Trang Tử để lên phần thực tế trong đời sống của con người, khơi gợi nỗi đau đớn trong hài hước, ai ai cũng biết chuyện này, vì vậy tôi nhắc đến nó nữa. tóm lại, đầu lâu trong các tác phẩm văn học của Trung Quốc tưởng như chỉ đóng những vở kịch thoải mái, nhàng nhưng ngẫm lại, kỳ thực đó lại là vai diễn vô cùng nặng nề và phức tạp. Nhưng đạo lý to lớn của Nam Tất chân nhân gửi gắm qua những câu chuyện đó đọng lại sau cùng chính là chữ “huyền”, huyền hoặc, huyền hồ, huyền ảo… Sau khi đọc xong câu chuyện, gấp trang sách lại nó vẫn còn ám ảnh, dẫn dắt con người ta theo hướng khác rồi rơi vào cái vòng quái quỷ của Hamlet. biết là có bao nhiêu “tâm đắc” để có thể hiểu hết ý nghĩ của nó mà cắt nghĩa được ý nghĩ đơn giản của cuộc sống. Sống hay chết? Đó là cả vấn đề. Vì thế chương truyện này bắt đàu từ các câu chuyện về loại đầu lâu hóm hỉnh mà thiền tục. nhắc đến hai chữ thiền tục khó tránh khỏi những đoạn đùa ác ý nhiều hơn chút, nhưng cũng hẳn là có lợi trong việc giáo dục nhân cách của con người. Trang Tử chẳng phải từng đưa ra mệnh đề “đạo và phân tiểu” hay sao? Vậy hãy chuyện về đầu lâu cà phân tiểu.

      Tác phẩm sớm nhất tới vấn đề này là U minh lục của Lưu Tống, Lưu Nghĩa Khánh: Phổ đại tư, Mã Hoàn Ôn khi làm quan cai quản ở Giả Kỳ (nay thuộc tỉnh An Huy), dưới quyền có tham quân họ Hà, buổi sáng sớm ra ngoài, trong lúc điều tra, tự nhiên muốn vệ sinh gấp, mà gấp quá còn thời gian để tìm vị trí thích hợp, liền xà ngay tại chỗ, làm rơi vãi vào cái đầu lâu. Đến khi ta quay về chỗ ở, khi ngủ trưa liền nằm mộng, gặp người phụ nữ nghiêm nghị, chửi thẳng vào mặt ta: “Đồ khốn nạn! Tôi vốn là giai nhân, hà tất phải làm tôi chịu ô uế như vậy? Hãy đợi đến khi màn đêm buông xuống, ngươi tự hiểu ra minh bạch lợi hại như thế nào?” Lúc đó, ở khu vực này có rất nhiều mãnh hổ, ban ngày có ít người lại, đến ban đêm lại càng có ai dám ra ngoài. Nhưng vị Hà tham quân có cái tật là phàm là việc gì chứ việc khó ấy thể nhẫn nhịn được. ta khoét lỗ bức tường của khuôn viên, đêm đến muốn tiểu tiện, liền ra chỗ đó biến nó thành chỗ vệ sinh. may cho ta, đêm nay ta lại mắc tiểu, vội vã ra ngoài “huyệt đạo”, “dở việc”, đúng lúc có con hổ đến nơi này. biết đột nhiên có linh cảm từ đâu đó, con hổ quay đầu lại, hung dữ cắn phát vào chỗ kín của ta. Và thế là cái mạng của Hà tham quân được “chu du” xuống nơi phủ. Đến phủ rồi, Hà tham quân mới thực hiểu được cái “minh bạch lợi hại” mà người phụ nữ trong giấc mộng nhắc tới. Bởi lẽ, theo quan niệm con người khi chết có hình dáng như thế nào, đến khi đến làm ma dưới địa phủ vẫn giữ cái dáng vẻ ban đầu đó. Điều đó cũng có nghĩa chỉ trong tích tắc Hà tham quân từ người đàn ông mạnh mẽ bỗng chốc trở thành “yêm quỷ”.

      Điều kỳ lạ trong câu chuyện này là làm sao cách bức tường mà hổ vẫn có thể cắn được (có thể bức tường ấy chỉ là bức tường làm bằng bùn đất?). Những tình tiết cụ thể cần phải tìm hiểu sâu nữa, chỉ đến việc chủ nhân của chiếc đầu lâu đó có tâm địa tăm tối chút. Hà tham quân chỉ là gấp quá, thể giữ thể diện nên đành phải làm bừa, vì để ý nên vô tình mà chuốc vạ vào thân. Nhưng cũng có thể cái đầu lâu vốn chôn nửa dưới đất, nửa lộ thiên, có như thế mới lĩnh đủ cái hành động vô tâm của tên quan họ Hà. Hơn nữa, chiếc đầu lâu đó, chắc chắn nếu phải chuyên gia rất khó phân biệt là nam hay nữ. tóm lại, Hà tiên sinh tuyệt đối phải cố ý phạm phải ba điều đại kỵ đó. Nếu như cộng thêm hình phạt nữa, cũng thôi thôi, thể để linh hồn nhập vào mãnh hổ rồi thiến của quý của người ta được! Người phụ nữ này có thủ đoạn rất độc ác, hành động ấy làm cho thiếu nữ khuê các cảm thấy ngại ngùng, xấu hổ. Vì vậy, mặc dù câu “trồng cây nào ăn cây đấy” là sai nhưng mà câu bình phẩm “bản thân là giai nhân, hà tất phải cắn “của quý” người khác” phải trả lại cho vị nữ sĩ này.

      Nhưng bất luận thế nào, “tiểu tiện bừa bãi” lên đầu lâu của người khuất là điều đúng, cho dù đó là nơi hoang dã, quy tắc là được để nó biến thành thùng rác đựng những thứ bỏ , mà phải coi đấy là di thể của người trưởng thành. Vẫn có người chưa được thực coi những thứ đó là thành “nhân”, mà lại cho rằng đó là kẻ yếu đuối, tùy tiện bắt nạt và đương nhiên người này chắc chắn bị báo thù. Quyển , Đầu lâu báo thù trong Tử bất ngữ của Viên Mai có viết câu chuyện có nội dung tương tự với câu chuyện liên quan tới Hà tham quân, nhưng nhân vật chính lại là kẻ ác, làm cho người ta có cảm giác hoàn toàn giống nhau.

      Tôn Quân Thọ bản tính ngông cuồng, ác bá, luôn vô lễ với thần thánh và ngược đãi ma quỷ. hôm, dạo núi cùng mọi người, bỗng đau bụng và muốn vệ sinh, tìm chỗ kín đáo chút, thấy cái đầu lâu gần đó, liền đến và ngồi xổm lên, lại dám đem miệng của người ta làm bồn cầu cho mình. Sau khi giải quyết xong, vị hán tử này còn chưa hết đắc ý, liền đùa với chiếc đầu lâu: “Nhà ngươi ăn có ngon ?” ngờ chiếc đầu mở to miệng : “Ngon!” Bản lĩnh của người này thực cũng rất tầm thường, lúc này vội vàng kéo quần lên và bỏ chạy, còn chiếc đầu lâu kia giống như quả bóng lăn theo ta, mãi đến chỗ cây cầu, vì chiếc đầu lâu này bị rơi xuống dưới nên đành phải quay về. Nhưng việc bị báo ứng mới chỉ là bắt đầu mà thôi. quay về nhà, mặt mũi giống như người chết. Sau đó mắc loại bệnh kỳ quái, cứ đại tiểu tiện rồi bốc lên ăn, mà còn tự : “Nhà ngươi ăn có ngon ?”, đúng là ứng với câu “tự ăn hậu quả của mình”. cứ thế ăn ba ngày liền, nhưng mà cái “ba ngày” phải là giới hạn trừng phạt của , mà đó là ngày tận thế của ta.

      Làm người cũng nên có chút nhân tâm, bạn có thể tin vào quỷ thần nhưng cũng nhất định phải sỉ nhục quỷ thần. Giống như vị ác nhân vừa rồi, sỉ nhục quỷ thần thực tế là phát sinh từ ngày bình thường quen áp bức người lương thiện, giống như kẻ thống trị khai quật mộ của người khác, sỉ nhục tiền bối của người khác là cách mà chúng chuyên dùng để khống chế muôn dân trăm họ vậy, đó đơn giản là chuyện “ tin vào tà ma”. Vì vậy, nếu chỉ là tự ăn phân của của mình cũng có thể tính là “trị bệnh cứu người”, nhưng người này làm điều ác quen rồi, chết cũng có gì đáng tiếc.

      Nhưng quay trở lại việc, ngay cả khi chúng ta “ tin vào tà ma” cũng cần phải thể ra bằng cách dùng thái độ sỉ vả, làm nhục quỷ thần. Người dũng sĩ đối với thi thể của kẻ thù còn tỏ thái độ tôn trọng, những việc như đạp phá bài vị, đạp đổ tượng gỗ, khai quật mộ cổ, ngay cả khi làm người có bản lĩnh cũng vẫn có những người dùng ý chí mạnh mẽ của mình để chèn ép người khác. (Về việc đẩy tượng gỗ ra khỏi vị trí của nó là vì muốn dành chỗ ngồi cho bản thân mình, cái đó dường như là chuyện khác, nhưng thực tế đó là kết quả của việc “có nước chảy là thành mương”, làm việc ác nhiều lần liền trở thành quen tay, quen tính.) Đạo lý rất đơn giản, bởi vì người bạn làm tổn thương phải là những người được bạn tôn trọng, bởi vốn dĩ bạn cho rằng thần quỷ là hư vô, hành động đó chính là bạn làm tổn thương đến con tim của những tín đồ tin vào thần quỷ. Ngay đến đầu lâu, bạn vẫn có thể thấy rằng, giữa trời đất này nó là vật bỏ , nhưng đối với con cháu của chiếc đầu lâu kia quyết cam tâm ngồi xem đâu. Đến xem tên lưu manh vô đạo sống dưới gầm trời này cũng vậy, chắc chắn họ lấy đầu lâu của tổ tiên mình làm bình đựng nước tiểu, nhưng họ lại đem tổ tiên nhà người khác ra làm trò chơi, lúc này họ cho rằng việc đó vấn đề gì, thậm chí còn cảm thấy rất vui sướng. Nghĩ mình mà nhớ đến người, những hành động như vậy quả thực vô cùng thất đức.

      Mà kết quả của những hành động thất đức là khó tránh khỏi việc đầu lâu của tổ tiên mình có thể bị người khác hành xử tương tụ, thậm chí còn vô tình làm bỉnh đựng nước tiểu của chính mình. Theo Kỳ Vân trong Việt vi thảo đường bút ký, quyển bốn, Bạch sắc u mặc dẫn ra câu chuyện: “ tiểu tử tiểu vào đầu lâu, cũng là đầu lâu chết chìm, chiếc đầu lâu này tức giận kêu to, nhảy lên cao lớn như người. Tên tiểu tử hỗn láo này sợ quá, liền chạy mạch về nhà, nhưng ngờ rằng chiếc đầu lâu lại dẫn theo đám hồn, dã quỷ đánh đến tận nhà. Hai bên cùng thỏa thuận để hòa giải, mới biết chủ nhân của chiếc đầu lâu bị chết chìm chính là cao tổ mẫu của tên tiểu tử hỗn láo này! Lão thái thái thương nhớ con cháu nên tính toán với nữa. Nhưng chuyện đồn khắp làng xóm dưới, chỉ cần nhắc đến gia đình này, mọi người đều : “Trương gia tiểu vào miệng của bà tổ mẫu.” Nếu bị đồn thổi như vậy bị Kỳ Hiểu Phong ghi vào dã thừa rồi.

      Những thứ ô uế như vậy, nhiều làm người khác vui, vậy thêm thắt những thứ khác vào chắc hẳn tạo cảm giác thú vị hơn nhiều. Mã Việt thời nhà Minh có viết bài Mã thị nhật sao, trong đó có đoạn nhắc đến việc đem củ tỏi to nhét vào miệng đầu lâu.

      Đồ ngự phòng của Thái giám Lai Định, sáng tinh mơ ra khỏi thành, đến buổi trưa đến Dương Phòng, bọn họ ngồi dưới gốc cây liễu to, bỏ rượu thịt mang theo ra để ăn. Lai Định dùng tỏi băm ăn kèm với thịt hun, ăn rất ngon lành, khi quay đầu lại, bỗng nhìn thấy có chiếc đầu lâu ở bên cạnh mình, liền lấy hai miếng thịt kẹp với tỏi rồi nhét vào miệng đầu lâu. Nếu việc chỉ đến đây thôi cũng cần phải thêm nữa, nhưng Lai Định lại đùa câu, hỏi đầu lâu: “Cay ?” ngờ chiếc đầu lâu này liền đáp lời: “Cay!” Sau đó kêu liên tục ngừng, ngay cả khi miếng thịt trong miệng đầu lâu được lấy ra rồi, nó vẫn ngừng kêu. Lai Định còn cách nào khác, liền nhanh đến Nam Hải Tử, nhưng tiếng kêu cay kia lúc nào cũng văng vẳng bên tai, mãi đến khi vào thành Bắc Kinh, lúc đó tiếng kêu mới dừng lại. Nhưng việc vẫn chưa kết thúc, Lai Định về đến nhà liền mắc bệnh, vài ngày sau chết.

      thể đùa giỡn với chiếc đầu lâu côn đồ này được, nó thích đùa, chỉ câu đùa mà trở thành kẻ thù. Con người bất luận giàu, nghèo, thiện, ác, khi mạo phạm đến đầu lâu việc diễn ra có khác nhau thế nào cũng chịu chung hậu quả cuối cùng. Nhưng thực tế hẳn vậy, vì cũng có những đầu lâu vẫn còn tồn tại bản tính khi làm người. Đối với chiếc đầu lâu quen biết, cũng giống như người đến ngõ hẹp, gặp người hỏi chuyện, trước tiên phải quan sát chút về đối phương, thân phận là gì, để tránh việc cẩn thận lại đập vỡ đồ gốm, mạo phạm người ta. Ngày thường vị thái giám này có thói quen đùa với các vị “lão tiên sinh” trong triều đình, nhưng ngờ lại giẫm phải đầu lâu của tên lưu manh.

      Dương Phụng Huy, người cuối đời Thanh, trong Nam cao bút ký của mình cũng có những câu chuyện tương tự như vậy. Ông dẫn ra hình ảnh đầu lâu của các dân tộc thiểu số gần ngôi chùa ở Cam Túc, so với đất ở ngoại thành Bắc Kinh dày hơn rất nhiều. Có vị thương gia nhiều chuyện nhét vào miệng đầu lâu quả ớt, rồi tiện miệng : “Khắc cánh nhất khắc cánh?” “Khắc cánh” trong tiếng dân tộc thiểu số có nghĩa là “cay”. ngờ đầu lâu đáp lại: “Khắc cánh! Khắc cánh!” Sau đó chiếc đầu lâu theo ta đến khắp nơi, và tiếng “Khắc cánh! Khắc cánh!” lúc nào cũng văng vẳng bên tai vị thương gia này. Thương gia thấy phiền muộn bèn kêu cứu: “Tôi chỉ là đùa vậy thôi, lão huynh theo tôi suốt như vậy đến bao giờ mới thôi đây?” Lúc này nghe thấy có tiếng người đáp lại: “Xương cốt của tôi bị lộ ra ngoài, linh hồn thể quay trở về được, chịu cảnh phong hàn nơi hoang dã, cỏ hoang núi , nếu là người quân tử nhìn thấy ít nhất cũng phải tỏ ý thương tiếc chứ, đằng này ông lại đem tôi ra làm trò đùa! Tôi “Khắc cánh” vĩnh viễn bên cạnh ông.” Vị thương gia này biết ngọn nguồn, liền vội vàng quay lại nơi hoang dã vừa nãy, tìm thấy chiếc đầu lâu đó, chôn cất tử tế, và quả nhiên từ đó còn nghe thấy tiếng “khắc cánh” nữa.

      Chôn cất xương cốt là việc làm của người nhân từ, nhưng cũng có lúc lại gây phiền phức cho chính mình. Du Việt trong Hữu đài tiên quán bút ký, quyển năm có viết về việc ở gần thị trấn Lâm Bình, Giang Tây: “Có người nông dân cắt cỏ dại, gặp chiếc đầu lâu, người nông dân cảm thương vì chiếc đầu lâu lộ ra bên ngoài, liền đào huyệt để chôn cất. Người nông dân này nghĩ rằng ta làm việc thiện, nhưng ngờ khi ta về đến nhà liền mắc bệnh sốt rét, có quỷ nhập vào người rồi rằng: “Tôi ở bên ngoài rất vui vẻ, hà cớ gì ông phải đem tôi chôn xuống đất, tôi thực cảm thấy rất khó chịu, phải giết chết ông!” Cuối cùng, gia đình người nông dân này phải cúng tế bằng rượu thịt, hóa vô số tiền vàng mới có thể đuổi được tên khốn kiếp đó .

      Có vẻ như chúng ta quá lan man lạc đề mất rồi. Bây giờ quay lại vấn đề cũ, đó là việc tiểu tiện vung vãi khắp nơi như ở phần đầu. Cần phải biết rằng những câu chuyện như vậy xảy ra chỉ ở nơi mà khắp nơi, nhiều vùng đất nước Trung Hoa rộng lớn, từ phương Bắc chốn kinh kỳ đến vùng Giang Nam, từ nơi văn minh hưng thịnh đến những nơi xa xôi như Tây Chùy, có khái niệm về khoảng cách gần xa, tất cả đều có thể là vạn lý đồng phong rồi. Nhưng trong cái đại đồng nhất cũng có cái dị nhất, làm cho người ta phải nhận ra khác biệt về tình cảm của con người và khám phá ra nhiều điều thú vị về ma (và đương nhiên những điều đó đều thuộc về những người sáng tạo ra các câu chuyện), vì thế sau khi tìm kiếm được chắc hẳn cũng có đóng góp chút ít giá trị cho ngành nghiên cứu dân tộc học. Xuất phát từ những tình cảm sâu sắc của mình đối với mảnh đất quê cha đất tổ, ít người, trong đó có cả tôi từng lật lật lại từng trang sách để tìm ra những câu chuyện tương tự như vậy về quê hương mình. Song do việc đọc sách có giới hạn, kết quả là làm cho tôi vô cùng thất vọng, nhưng xấu hổ đó bằng cảm giác lạc lõng của con người. Những câu chuyện như thế này so với những câu chuyện cùng loại được phát ra, quả thực, cách vô thức bản thân tôi cùng có chút ngưỡng mộ. Nhưng hy vọng những câu chuyện “vô duyên” kể ra ở đây lúc nào đó lại gặp được những độc giả có cùng sở thích.

      Lục Trường Xuân, người thời nhà Thanh, trong Hương ẩm lầu binh đàm, cuốn ba có kể lại việc xảy ra ở Quảng Châu, khu thương mại phát triển nhất đất nước thời kỳ đó. Có người tử quê lên, mang theo chiếc ô vào thành, trong lúc buồn vệ sinh gấp, nhìn thấy bên cạnh có chiếc đầu lâu, liền diễn lại kỹ thuật như trong câu chuyện của Hà tham quân, lại còn diễn kịch và hỏi: “Mùi vị tốt chứ?” Chiếc đầu lâu đó há miệng ra đấp lại: “Tốt!” Người nhà quê vô cùng sợ hãi, cầm lấy cái ô và cắm đầu cắm cổ mà chạy. ngờ ở đằng sau cũng như có người đuổi theo, vừa chạy vừa kêu “Tốt! Tốt! Tốt!” ta sợ quá liền chốn vào miếu Thành Hoàng, ở đó ma quỷ vào được. Rất lâu sau ta nghĩ rằng cái vị “Tốt! Tốt! Tốt!” đó khỏi đây rồi, nhưng khi vừa bước ra khỏi cửa miếu những tiếng “Tốt! Tốt!” lại tiếp tục đuổi theo ta. Người nhà quê ở Quảng Châu đều là những thương gia tài giỏi trong tương lai, và điều tự nhiên là họ rất thông minh, trong đầu bỗng nghĩ ra kế thoát thân. ta liền chạy đến cửa hàng gần đó mua đồ. Thương lượng giá cả xong, lại là quên mang theo tiền, liền để lại chiếc ô làm vật làm tin, là đợi tôi lấy tiền rồi quay lại. ta ra khỏi cửa liền chạy nhanh, quả nhiên còn thấy tiếng kêu “Tốt! Tốt!” đuổi theo nữa. Chủ quán đợi đến khi trời tối mịt mà vẫn thất người nhà quê đó đâu, chỉ còn biết đóng cửa hàng, nhưng đêm hôm đó quỷ bắt đầu làm loạn. Con quỷ “Tốt! Tốt!” đó kêu “Tốt! Tốt!” nữa, mà nhập vào người ta rồi lý luận: “ dựa vào đâu mà dám đại tiện lung tung vào miệng ta? rồi, nhưng lại để chiếc ô ở quán nhà ngươi, ta đến tìm ngươi tính sổ!” Chủ quán và ma lý luận đến nửa ngày, xem ra đây cũng là tinh ranh trong giới thương trường, đem vật đến để đặt làm tin. Cuối cùng, chủ quán chỉ còn cách bày tiệc rượu, hóa tiền giấy, lại còn mời thêm mấy vị hòa thượng tới tụng kinh mới tiễn được quỷ “Tốt! Tốt!” này khỏi. (Câu chuyện cũng tương tự như trong Quyển tám, Quỷ quai quai trong Tử bất ngữ của Viên Mai.)

      Câu chuyện cuối cùng càng thể ra, bởi vì câu chuyện này tuy nằm trong Nhĩ thực lục của Lạc Quân rồi nhưng đây lại là chuyện đại danh nhân La Sính vẽ quỷ kể lại, mà địa điểm xảy ra lại ở Dương Châu, nơi ở của tay ranh mãnh, khôi hài, chuyên ngấm ngầm giở trò mà mãnh, Vi Tiểu Bảo.

      Ở những vùng đất hoang ngoại thành Dương Châu có rất nhiều đầu lâu, nếu như có người khinh thường những cái đầu lâu đó, nặng bị ám, bị mắng. Bị mắng cũng chẳng phải việc gì to tát lắm, nhưng nếu bị chiếc đầu lâu mắng chắc hẳn phải cảm thấy rấy xúi quẩy rồi. Hôm đó, có người đàn ông ngông cuồng cùng vài người bạn ra khỏi thành. Những người bạn cẩn thận dặn dò nhau những điều cấm kỵ, mọi người đều muốn gây rắc rối với những chiếc đầu lâu kia, nhưng người đàn ông ngông cuồng này lại muốn trổ tài, liền về phía chiếc đầu lâu, bắt đầu “tưới”, và còn luôn miệng : “Hay để ta mời ông uống rượu nhé!” ngờ chiếc đầu lâu này lại là ma men, nghe thấy có rượu uống cũng để ý những lời tục tĩu vừa rồi nữa, liền chạy theo đòi rượu uống. Người đàn ông ngông cuồng biết là có trốn cũng được, chỉ còn cách là cùng mấy người bạn quay về thành, vào quán rượu. Chiếc đầu lâu tuy cùng nhưng linh hồn lên lầu từ rất sớm rồi. Mọi người ngồi vào bàn, sắp xếp chỗ ngồi trống, cũng bày bát đũa lên, đấy là chỗ của chiếc đầu lâu ma men đó. Mọi người mỗi lần uống chén đều phải hướng về nơi hư đó rót chén, và cũng biết là cho vị ma men đầu lâu đó uống bao nhiêu rượu rồi, rượu đó thấm qua các tấm gỗ, chảy cả xuống tầng dưới. Khi tất cả mọi người đều cảm thấy đủ rồi, liền hỏi: “Lão huynh say rồi sao?” ngờ, chiếc đầu lâu này lại có khí phách của Phàn tướng quân, kiền đáp: “Chết cũng như cây gỗ mục, rượu kia mới chỉ đến chân tôi thôi, làm sao được?” Chiếc đầu lâu này uống đến mức còn biết trời đất là gì nữa, những người cùng uống chịu nổi, đều tìm cách mất, còn tên ngông cuồng kia khó mà thoát thân. Cuối cùng, cũng lấy lý do vệ sinh, xuống tầng dưới đặt ngân lượng lên quầy tính tiền rồi chạy mất. Tiểu nhị của quán nghe tầng hai vẫn còn người kêu mang rượu lên, khi lên nhìn thấy có bóng người, chỉ nghe trong hư có tiếng người : “Mang rượu lên đây”, trong phút chốc tiểu nhị bị giật mình đến suýt chết.

      Lã Lương Phong thích đem những chuyện nhân tình thế thái của nhân gian họa vào tranh vẽ. Câu chuyện đây thực tế là ta mượn đầu lâu mắng ma men, trong các câu chuyện về đầu lâu cũng có chủ tâm gì khác.

      Chỉ cần có rượu, chết cũng có gì đáng sợ cả, đổ lên đống phân cũng sao cả! Vào thời đó cũng có thể được gọi là hùng trong thế giới của tửu, nhưng nếu như bây giờ, e rằng khiến mọi người phải dương mắt nhìn. Tất nhiên, cũng tránh được “hậu sinh khả úy”.


      <img class="aligncenter" alt="" src="http://i.imgur.com/5B6b66S.png" width="90" height="90" />

      Đầu lâu và ma thuật của thầy mo


      hài hước của đầu lâu ngẫm lại còn có cay đắng, xót xa vô cùng, nhưng điều đó với họ vẫn chưa là gì, bởi trong cuộc sống đôi khi họ còn phải chịu nhiều cái may hơn thế. Bởi vì bản thân mỗi chiếc đầu lâu đều có linh tính nên chúng thường xuyên bị quái nhân, quái vật lợi dụng, trở thành công cụ làm hại dân sinh, đó mới là điều đáng buồn nhất.

      Cũng như việc con người cho rằng đầu chính là bộ phận quan trọng nhất cơ thể, đầu lâu làm thi hài cũng là điều tự nhiên. khi xương cốt của người chết phân tán tứ phía vong hồn của họ cũng cần phải có chỗ để nhập vào, nhưng nhập vào bộ phận nào đây, bất kể là người hay ma nếu lựa chọn, e rằng họ chỉ chọn đầu lâu, mà nếu đầu lâu cũng bị vỡ nát, phân tán khắp nơi, vậy bộ phận quan trọng nhất lúc này chính là xương đỉnh đầu. Các câu chuyện ở về việc đầu lâu có thể giống như trái bóng, càng nhảy càng cao, có thể giống như chiếc bánh xe lăn lăn lại đuổi theo người, điều rất ràng là, chỉ có đầu lâu mới có thể làm được như vậy, xương cốt của các bộ phận khác làm được việc này. Tuy có linh tính, nhung lại là chiếc xương khô thể tự chủ được, vì thế cho nên, vào thời cổ đại, đầu lâu và xương đỉnh đầu mới được cả thầy mo và những người luyện thuật rất coi trọng, bởi nó chính là nguyên liệu luyện pháp của họ.

      Trong tiểu thuyết chí quái thời Minh - Thanh thường nhắc đến quái hồ ly “bái nguyệt luyện hình”, đầu phải có chiếc xương đỉnh đầu hoặc đầu lâu của con người, đó là điều mà độc giả biết rồi. về xuất xứ cũng rất sớm, như trong Dậu dương tạp trở của Đoàn Thành Thức người đời Đường có nhắc đến hồ ly hoang dã đầu đeo đầu lâu bái Bắc Đẩu, chỉ cần đầu lâu rơi xuống lập tức có thể hóa thành hình người. Điều này trong Tập dị ký của Tiết Dung Nhược được viết lại cụ thể, ràng hơn:

      Đột nhiên có quái lảo đảo tới, với lấy đầu lâu và đặt lên đầu, lắc lắc lại, nó rơi xuống đất, quái để ý đến nữa, bởi vì còn có lựa chọn khác. bốn năm, chọn được cái, khâu thành hình ngọn núi cao vút. Vén lên và ngắt lá cây, hoa có thể che lấp hình thể, phải để ý nhìn trước ngó sau rồi tạo thành cái áo. Trong chốc lát hóa thành người phụ nữ, yểu điệu bước .

      chỉ có hồ ly, tất cả những quái quấy phá, làm hại đều phải mượn đầu lâu làm phép. Quyển hai mươi, Hoàng Tư Thâm trong Di kiên đinh chí của Hồng Mại dẫn ra đoạn: “Có con chó mẹ đeo lên chiếc đầu lâu có thể hóa thành người phụ nữ, hấp dẫn những kẻ háo sắc.” chỉ có vậy, đáng sợ nhất là ma đầu cũng muốn mượn đầu lâu để làm trò quậy phá, tình tiết kinh khủng đó còn ghê tởm hơn việc ác quỷ họa bì trong Liêu trai. Ví như quyển chín trong Mộng am tạp trước của Du Giao người đời Thanh có viết về câu chuyện, về thư sinh mê hồn mỹ nữ, nhưng đó lại là con ma đầu, đoạn sau của câu chuyện như sau:

      Vào đêm trăng sáng, bỗng nhiên cây liễu lung lay, người trèo từ cây xuống, thân chưa đầy thước, nhìn thấy hai chân mà nhìn thấy đầu. lát sau, hình hài đó móc dưới dòng nước lên chín cái đầu lâu liên kết lại với nhau làm thành chiếc mũ đội lên đầu, sau đó biến thành người con xinh đẹp. Người con đó dùng hai tay vén mái tóc dài chấm đất, nhàng lại dụ dỗ người qua đường.

      chiếc đầu lâu còn có linh khí như vậy, giả dụ đem trăm linh tám cái luồn vào với nhau, rồi đội lên đỉnh đầu, có khi trở thành Minh Vương Bồ Tát mất. Vì vậy linh khí của đầu lâu tất nhiên được các thầy mo trong dân gian chú ý và biến nó trở thành nhân tố quan trọng trong tà thuật. Trong Thiên đài bồ tát giới từng nhắc đến việc “người phương Tây đánh vào xương đầu của người khác, đó là nguyên nhân chính để gây cái chết”. Thủ thuật dùng đầu lâu để gieo quẻ, ở các nước phương Tây có và người Trung Quốc cũng có, ở đây, phương thức ấy được gọi là “thần đầu lâu”. Vị thần đầu lâu này cũng giống như thần Chương Liễu (thần cây long não), nhưng cơ sở ban đầu của nó phải là dùng đầu gỗ có linh khí, mà là dùng đầu lâu của người rồi cho nhập hồn vào đó.

      Cuốn Hồ hải tân văn Di kiên kế chí của Kim Thiết Danh có đoạn ghi lại việc xảy ra vào năm Lý Tông Gia Hy, thời Nam Tống. Câu chuyện liên quan đến quá trình “chế tạo” thần đầu lâu. Công đoạn này vô cùng tàn nhẫn, đến nỗi làm cho người ta ghê tởm.

      Hằng ngày đều rót giấm từ đỉnh đầu xuống gót chân, xương khớp, tĩnh mạch đều bị đóng đinh, vô cùng tàn khốc. Đợi đến khi chết thu những xương khô này lại, bốc lấy hồn ma và gọi là thần đầu lâu.

      Trong cuốn sách này có đoạn viết: “Hôm nay người ta tới điều lành, dữ, bắt cóc con trai nhà người về làm pháp thuật.” Nhưng đây cũng chỉ là cách nhìn nhận về việc quái lừa gạt, làm hại trẻ con được lưu truyền trong dân gian. Thực tế phần lớn cũng chỉ là truyền thuyết mà thôi, chắc chắn chuyện này là có hoặc việc nghiêm trọng đến như vậy. Vì thế, có cách lý giải khác về thần đầu lâu, tuy vẫn gắn liền với hình ảnh những thầy mo nhưng có vẻ đáng tin hơn chút. Trong Đông Pha tiên sinh vật loại tương cảm chí của Thích Tán Ninh, người đời Tống, quyển sau có trích dẫn:

      Những chiếc đầu lâu được dùng cỏ bồng xuyên qua để kết lại với nhau, ban đêm có thể cùng nhau chuyện trò, trước khi ra trận được đến hỏi, lần đầu dùng dùng nước thơm để rửa, vẫn dùng cây cỏ xuyên vào, làm cho khó chịu, sau đó hỏi: hoặc là chôn vùi xuống đất, trồng cây đậu, đêm đến hỏi việc cát hung (bản này có thể có chữ sai, nhưng đại ý sai).

      Lấy cái đầu lâu, dùng nắm cỏ kích thích vào những lỗ hổng như mắt, thậm chí có người còn đem đầu lâu này làm chậu hoa, trồng cây lên, làm cho rễ cây ở bên trong mọc lung tung, do việc này có thể ép đầu lâu phải dự báo cát hung, chủ ý này quả thực rất tàn nhẫn. Bởi vì theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc, xương khô trong những ngôi mộ sợ nhất là bị giày vò. Trong Thuật dị ký của Hoàn Trung Chi có đến hồn ma báo mộng cho người, là trong mắt mình có vật gì đó đâm vào, làm ơn hãy rút nó ra. Người này tìm được thi thể của hồn ma, quả nhiên là ở đầu lâu có mọc lên cây cỏ. Trong Quảng dị ký của Đới Phú viết về việc thi thể của hồn ma bị rễ của cây mang làm hỏng, hồn ma thấy vô cùng đau đớn. Lại có câu chuyện khác cũng kể về việc hồn ma kêu khổ: “Thân xác tôi bị rễ cây mọc qua, vô cùng đau đớn, thể chịu đựng được nữa rồi!” Vì vậy, việc dùng cỏ đâm vào đầu lâu để hỏi cát hung cũng chẳng khác nào việc dùng cực hình để ép cung trong các nhà tù thuở xa xưa.

      Kiểu thầy mo dùng pháp thuật tà ma như vậy chưa phải hoàn toàn thất truyền, thậm chí còn phát triển hơn nữa. Giống như tiểu thuyết Hải du ký đời Thanh có viết về việc luyện thần Chương Liễu, dùng xương đỉnh đầu của nam, nữ chia ra làm bốn mươi chín mảnh, có thể biến hóa thành cái gì đó, ít ra cũng để thần Đầu Lâu và thần Chương Liễu hợp lại làm . Từ thời Nam Tống, trong dân gian có những hồn ma có xương đỉnh đầu, có xương đỉnh đầu nên thể chuyển kiếp được (xem Di kiên giáp chí, quyển mười bảy, Giải tam nương). Xương đầu là bộ phận quan trọng nhất của đầu lâu, đối với người chết khi chôn cất, tuyệt đối được quên xương đỉnh đầu, cách này tuy là dựa vào tính quan trọng của đầu lâu, nhưng cũng có ai thử đem vứt ra nơi hoang dã để người khác khinh thường hoặc bị đối xử tàn ác.

      Nhưng cái đáng sợ nhất của các thủ thuật này phải là tà thuật của thầy mo, mà chính là thuật dùng “ngự nhân” của các bậc Đế vương ngày trước. Đối với đầu lâu chính là cách dùng linh hồn người chết để trừng trị người sống. Đương nhiên đó phải là những đầu lâu tinh , được Đế vương đội ở đầu, thậm chí còn làm quầng sáng, nhưng hoàn cảnh của họ so với bị người vô lại ngồi lên còn khó coi hơn rất nhiều lần. Bởi là những tinh , họ coi trọng tính độc lập hơn cả tính mạng của mình, lúc sinh thời họ có thể từ chối bất cứ những gì cố cho thêm vào như giấy hồ, hoặc là mũ quan giấy, nhưng khi đầu lâu trở thành đồ trang trí của Đế vương bị mấy quyền được chuyện, chỉ là để họ tự bày biện, tùy hứng đánh phấn lên, nếu như đầu lâu linh thiêng, sâu thẳm trong con tim vô cùng đau đớn.

      Tần vương Doanh Chính đọc thư Côi phẫn, Ngũ đố của Hàn Phi, liền : “Nếu quả nhân được gặp người này và cùng viễn du, chết cũng hối hận!” Đấy là do lầm tưởng Hàn Phi là cổ nhân chết, vì thế bỏ tôn trọng của bậc đế vương để làm học sinh. Nhưng khi Hàn Phi còn sống đến trước mặt lại là chuyện khác. Hàn Phi viết bài Thuyết nan, : “Rồng có vẩy cá ngược, nếu bị xúc phạm nhất định giết người. Người có vẩy cá ngược có thể là chủ nhân của vảy cá ngược!”, biết là khó, vậy có thể “ ? Hàn Phi thể , bởi vì ông ta phải là đầu lâu, mà ông ta bị mắc bệnh lắp, lại biết hát lời nịnh nọt, bởi ông đồng ý làm trò hề, làm những bài văn nịnh bợ. Vậy kết quả của “thuyết” mọi người đều biết, đó là bị giam trong ngục tù, và chết thảm ở đó.

      Thái sử công viết Hàn Phi truyện, có đến bảy mươi phần trăm các bài thi có dẫn cứ nguyên văn từ Thuyết nan, cuối cùng ông than rằng: “Dư độc bi thương Hàn Tử vì Thuyết nan thể tự mình thoát khỏi tai ương.” Đây là thương xót cho Hàn Phi hay thương xót cho chính bản thân mình? Là “dư thừa tâm sức có thể trừng phạt” hay là “chết xuống cửu tuyền cũng hối hận”? Vì vậy, trong lịch sử tuy ghi chép về nguyên nhân cái chết của ông nhưng có vài nhà sử học cho rằng, cuối cùng ông chết dưới tay Hán Vũ Đế, và điều này có thể được coi là điều tất yếu xảy ra.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :