Tắt Đèn Kể Chuyện Ma - Loan Bảo Quần (Tập 1)

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Phần 2


      Vẫn bắt đầu bằng Tôn Hành Giả, con khỉ này quệt mực lên sổ sinh tử, tiếp đó còn ăn đào tiên của Vương Mẫu nương nương, ăn linh đơn của Thái Thượng Lão Quân, như vậy Tôn Hành Giả quả “thị cùng với trời đất, sống cùng với tháng năm”. Nhưng lão Tôn lại ngờ rằng, hóa ra trường sinh bất lão cũng thoát khỏi bệnh tật, hơn nữa lão Tôn rất nhanh được nếm trải nỗi khổ đó. Ngọc Hoàng Đại Đế mời Phật Tổ từ Tây Thiên tới, nhốt con khỉ dưới Ngũ Hành Sơn, chỉ cho lộ ra chiếc đầu khỉ. Khi khỉ đói cho ăn sắt viên nung đỏ, khi khát cho uống nước đồng nung, gió sương đâm xé da thịt, mưa băng, nắng gắt đốt da đó là chuyện thường tình, còn thả côn trùng chui vào hai lỗ tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng, đủ để lão Tôn chịu đựng. Lúc này lão Tôn đâu có hy vọng “năm trăm năm sau thành hảo hán”, vậy cái “bất tử”của ông trở thành “mong chết mà được”, trở thành nỗi khổ hình vô hạn. Vậy là, cho dù lúc đó ông nghĩ những gì, là “ có tự do, thà chết còn hơn”, hay là “ chết thanh thản còn hơn sống vật vờ”, tất cả đều vô dụng, mà mục tiêu khác trong đời người được thể rất ràng, đời người chỉ là dài hay ngắn, mà còn có thêm vấn đề chất lượng, cũng có nghĩa là “chỉ số hạnh phúc”. Ai cũng có thể nhận ra rằng, “chỉ số hạnh phúc” của lão Tôn dưới Ngũ Hành Sơn hạ thấp đến con số .

      Đời người - nội dung quan trọng này đương nhiên cũng được thể trong sổ sinh tử. Quan lại trong điện Diêm la dường như cũng rất có ý thức hướng tới tương lai, vì thế họ định ra “chỉ số hạnh phúc” cho xã hội loài người và đến nay cũng hề bị lỗi thời, đó chính là ăn uống, trai và thăng quan phát tài. Từ đó các loại sổ thực phẩm, sổ công danh được ra đời.

                1


      Trong các câu chuyện ma quỷ, ngoài sổ sinh tử, loại sổ được bàn đến khá nhiều đó là “sổ thực phẩm”. Sổ thực phẩm là hồ sơ để các quan phủ ghi lại tất cả các loại thực phẩm, số lượng thực phẩm mà người dùng trong suốt cuộc đời. cá nhân được chỉ định có thể hưởng dùng lượng và chủng loại thực phẩm nhất định, sau khi dùng hết, còn gì nữa, hoặc là bày thức ăn ra trước mặt cũng thể nuốt nổi nữa, lúc này muốn gặp Diêm Vương cũng được.

      Động cơ sáng tạo quyển “sổ thực phẩm” này đương nhiên cũng xuất phát từ thuyết định mệnh. Trong quyển Tiền định lục của Trọng Lộ, người thời Đường có ghi, dưới phủ có chức quan chuyên quản lý vấn đề thực phẩm trần gian, vấn đề thực phẩm của mỗi cá nhân lại được phủ quản lý bằng quyển sổ riêng. Những người có chức quan từ tam phẩm trở lên, thực phẩm hằng ngày do Diêm phủ cấp phát, chức quan ngũ phẩm trở lên được cấp phát theo tuần, chức quan từ lục phẩm đến cửu phẩm được cấp phát theo quý, người dân thường có lộc vị được cấp phát theo năm. Quy định cấp phát như vậy cũng khá hợp tình hợp lý, bậc quan nhân quý tộc hễ tổ chức ăn uống là coi như tương đương với gia sản của gia đình trung lưu, làm sao quy ra được số lương thực ít ỏi cả năm của những người dân lao khổ! Nhưng việc cấp phát ở đây lại có tầng nghĩa khác, đó là số thực phẩm dùng hằng ngày của lớp quan nhân quý tộc đều có quy định, cho dù là bữa ăn giá trị vạn tiền của Nhiệm Khải, hay lối sống xa hoa của Vương Tế, cũng đều được Diêm Phủ sắp xếp, còn đối với tầng lớp thảo dân, cấp cho lượng củ cải đường dùng cho năm, khi bận ăn khô, khi nhàn tản ăn canh, muốn chế biến thế nào đó là việc của , có trời mới rảnh rỗi giúp soạn thực đơn hằng ngày! Đương nhiên cũng có thể gọi cách dễ nghe hơn là “sống theo tập thể thiếu tự do”.

      Dựa theo những kiến thức trong xã hội loài người, việc này quá hợp tình hợp lý, tuy nhiên nó cũng chỉ là cách của riêng Tiền định lục. Nếu như việc ăn uống đều phải được sắp đặt trước, Phật gia và chúng sinh bình đẳng với nhau, ngay cả những loài động vật bé như chim sẻ, chuột cũng phải là ngoại lệ, mỗi đĩa cải, đĩa rau của người dân thường cũng được ăn tự do. Vì thế, quan điểm thường thấy là phân biệt giàu nghèo, có Đế Vương, dưới là ăn mày, thực phẩm sử dụng trong cả cuộc đời họ đều được chuẩn bị trước. Nhưng cách này cũng phân ra làm hai trường phái, phái gian và phái thời gian.

      Theo quan điểm của phái thời gian, tất cả mọi người trong thiên hạ đều ăn uống theo sắp đặt trước, thời gian, địa điểm đều do trời định, ăn ít hay ăn nhiều phải cứ muốn là được. Mỗi ngày, mỗi bữa ăn những gì, trong sổ thực phẩm đều ghi , chỉ định cho ăn, muốn ăn ít miếng cũng được, tương tự, chỉ định có phúc ăn uống, dù thức ăn có bày ra trước mặt cũng cho được vào miệng. Trong quyển Dật sử, thời Đường có câu chuyện như sau: “Tại huyện Vạn Niên có vị quan bắt trộm họ Lý, hôm ông tổ chức bữa tiệc chiêu đãi, mời bạn bè tới ăn món cá lát xào tại nơi làm việc. Trong đó có vị khách bất ngờ đến, chần chừ chịu , ràng là muốn tới đây ăn cơm, nhưng vẻ mặt lại tỏ ra rất kiêu căng, tỏ ý muốn ở lại. Quan Lý thấy vậy rất tức giận, bèn hỏi người đó có tài năng gì. Người đó đáp: “Ta biết hôm nay ngài dùng những thực phẩm gì.” Quan Lý lại hỏi: “Vậy ngươi xem trong bữa cơm ngày hôm nay, những người ở đây ai ăn được?” Ý ông muốn muốn cho người này ăn. ngờ vị khách này mỉm cười đáp: “Trong tất cả những người ở đây chỉ có ngài là được ăn.” Quan Lý nổi giận: “Làm gì có lý đó! Bữa cơm này do ta làm chủ, sao ta lại được ăn?” , quan Lý thấy người thúc ngựa tới, Triệu Dẫn đại nhân nơi kinh thành cần triệu Lý mỗ gấp. Quan Lý dám , bèn bảo mọi người ăn trước, còn nhắc nhà bếp để lại cho mình hai đĩa. Rất lâu sau, quan Lý mới trở về, mọi người đều ăn xong, bàn bày hai đĩa cá để lại phần ông. Vị quan bổ đầu cởi áo ngồi xuống ghế, cầm đũa lên, miệng mắng vị pháp sư vừa rồi, rằng: “Chẳng phải bây giờ ta được ăn cá sao, ngươi còn ngồi đây làm gì?” Vừa dứt lời, từ trần nhà có miếng vữa to chừng ba mươi centimet rơi xuống giữa bàn, khiến đĩa cá vỡ tan thành từng mảnh, thịt cá và vụn vữa hòa lẫn vào nhau. Lúc này Lý bổ đầu vẫn cố nén cơn giận, nuốt miếng cá như nuốt cục rác vào bụng.

      Tương tự, trong cuộc đời, có lúc muốn ăn cũng được. Quyển mười, cuốn Tử bất ngữ có ghi lại câu chuyện về người tuy nghèo khổ nhưng cũng thấy vui, đấy được coi là đại diện cho phái này: “Bờ bắc sông Trường Giang có vị Trương tú tài, mỗi năm đều đến Nam kinh dự thi, và đều sống trong chùa Báo Ân. Sau khi trụ trì của chùa là Ngộ Tây qua đời, Trương tú tài cũng tỏ lòng đau xót vô hạn, nhiều ngày bỏ ôn bài. Năm nay, học trò của Ngộ Tây qua sông tới thăm, nằm mơ gặp thầy của mình, bảo ông giục Trương công tử ứng thí, rằng lần này nhất định Trương công tử trúng bảng. Trương tú tài nghe vậy vô cùng vui mừng, liền hứng khởi qua sông ứng thí. Nhưng khi kết quả được đưa ra, tú tài vẫn “trượt”. Trương tú tài vô cùng tức giận, chửi mắng vị hòa thượng nọ, trù cho ông ta chết được yên. Đêm hôm đó Trương tú tài nằm mơ thấy Ngộ Tây đến rằng: “Năm nay Diêm phủ phái lão tăng phân tán chỗ cơm cháo chuẩn bị cho khoa trường. Nhưng người tới, lão tăng biết tống tán chúng đâu. Trong đời công tử tham gia ba kỳ khoa trường, vậy công tử phải ăn mười bát cơm và cháo, vì thế ta nhờ tên học trò ngu ngốc của ta tới mời công tử .”

      Nếu như ăn cái gì cũng đều do số phận sắp đặt, vậy người nào, vật nào bị ăn cũng ngoại lệ. Cũng có nghĩa là, chỉ cần số phận sắp xếp phải làm đồ ăn cho người khác đừng mong thoát khỏi lưới trời. Bắt đầu từ thời Đường, ít những câu chuyện đều tới những chú cừu, chú dê bị giết lấy thịt, sau đó đến chỗ Diêm Vương kêu kiện, kết quả khi tra sổ phủ, đó là số mạng sắp đặt như thế, nên phải làm đồ ăn cho vị đại nhân nọ. Vì thế, những oan hồn này cuối cùng lại trở thành những hồn ma gian xảo. Bò dê như vậy, vậy nếu là những người dân ra sao? Bò, dê, người dân hiểu được những điều này, hòa hợp tốt đẹp giữa dương hai giới tất được bảo đảm, những năm tháng thái bình địa ngục, nhục hình còn xa nữa.

      Còn theo quan điểm của phái gian, chỉ quản lý vấn đề thực phẩm cả đời của con người, vậy tổng số lượng phải là số nhất định, thế còn thời gian, địa điểm ăn lại được quản lý chặt như vậy, cũng có nghĩa là, cho dù là lúc nào, chỉ cần ăn hết đồ ăn là được mời đến báo cáo Diêm Vương. Trong Ngọc đường hiếm thoại của Vương Nhân Dục thời Ngũ Đại viết, Diêm phủ những có kho hồ sơ chuyên lưu giữ “sổ thực phẩm” của nhân gian, mà còn có cả “kho thực phẩm” thực . Bất kỳ ai trong đời cần ăn bao nhiêu thực phẩm đều được để mảnh đất trống dưới phủ, bên có cắm tấm biển ghi họ tên của người đó. Đương nhiên, những chú gà, vịt, bò, dê mà người này phải ăn cũng đều được nuôi ở đó, hơn nữa còn được ghi chú tên chủ sở hữu. (Còn như con bò hoặc con dê này là do mấy người cùng ăn, giải quyết như thế nào? Còn có Vương Tam Tỉ mười bảy năm rưỡi ăn rau dại, lẽ nào cũng có mấy hec ta đất chuyên trồng rau dại dành cho Tam Tỉ? Hơn nữa lại lo cho chúng?) Trong Liêu trai có mẩu truyện Lộc số viết, có kẻ làm quan từng làm rất nhiều việc bất đạo. người tu luyện tự xưng có thể biết được tuổi thọ của người khác, rằng kẻ nọ chỉ có thể ăn thêm được hai trăm đấu gạo, bốn trăm đấu bột mỳ nữa. Kẻ nọ tính toán lượng gạo và bột mỳ người ăn năm quá hai mươi đấu, như vậy ít nhất mình có thể sống thêm được hai mươi năm nữa, thế là ông ta càng kiêng kỵ gì. Chẳng ngờ ông ta bỗng nhiên mắc bệnh lạ, ngày ăn mười bữa, chưa đến năm ông ta ăn hết chỗ gạo và bột mỳ còn lại của cuộc đời mình. Điều khiến người ta thể hiểu nổi, đó là ông ta biết số gạo và bột mỳ là có hạn, “tại sao ăn thịt nhỉ?”

      Nếu rằng phái thời gian thay cho giới Phật môn, phái gian lại bị các nhà đạo đức học lợi dụng, vì thế cho rằng ti tạo ra sổ thực phẩm, mục đích là khiến con người biết “trân trọng phúc phận” của mình. Nếu như kiếp này có lượng thực phẩm với số lượng cố định, vậy càng trân trọng thực phẩm càng trường thọ. Ngược lại, nếu lãng phí của trời, tức ăn hết chúng sớm, đương nhiên rời bỏ thế gian này sớm. Tác phẩm Lạc thiện lục của Lý Xương Linh có viết, trong trường Thái học có hai học trò sinh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, có lẽ số mệnh của họ cũng giống nhau, số lượng thực phẩm bọn họ ăn ít nhiều cũng như nhau. Hai người sau này được làm quan, trong đó người chết sớm, bèn báo mộng cho người kia rằng: “Trước đây ta sinh ra trong giàu sang phú quý, tiêu dùng quá lãng phí, vì thế mà ta chết sớm. Còn các hạ sinh ra trong hoàn cảnh hàn vi, chưa được hưởng thụ nhiều, vì thế mà vẫn sống.” Rồi người đó kết luận rằng: “Con người nên hưởng thụ và sử dụng quá mức.” Câu này nghe rất hay, nhưng hai chữ “quá mức” ở đây lại vô cùng linh hoạt, con người mỗi người có “mức” khác nhau, vẫn còn gian lớn dành cho các đại nhân và lão gia thả sức xa xỉ.

                2


      Sổ thực phẩm và sổ sinh tử tạo nên hai loại thước đo, là lấy thời gian sống làm giới hạn, lấy số lượng thực phẩm phải ăn trong đời làm giới hạn, người ta nên nghiên cứu xem nên dựa theo tiêu chuẩn nào để kết thúc cuộc đời của mình. Nhưng từ câu chuyện của Lý Xương Linh có thể thấy rằng, nếu như coi phóng túng và tiết kiệm thực phẩm là chiếc van khống chế cuộc đời, vậy giữa hai quyển sổ này vẫn có thể thông cảm được cho nhau. Nhưng điều này dường như chỉ phù hợp với những người giàu sang phú quý, còn đối với người nghèo, chút thực phẩm đó nếu “trân trọng” chút bụng lập tức đứng lên đấu tranh, còn nếu làm cho no bụng lại đoản thọ. Trong quyển Chí lâm của Tô Đông Ba có đoạn viết vui thế này: Nhan Hồi ăn cơm bằng rá, uống nước bằng vầu nên tránh khỏi cái chết yểu, nếu như ông ta mỗi lần có thể ăn được hai rá cơm, hai vầu nước chắc chắn muốn sống đến năm hai mươi tuổi xem chừng cũng khó!

      Tuy nhiên, những kẻ giàu sang phú quý lại muốn “trân trọng phúc phận”, cứ mở tiệc rượu là lên tới hàng ngàn, hàng vạn đồng, ăn hết đổ , hề tiếc rẻ. Nếu bạn với ta rằng, tuy chỗ đồ ăn đó được kê khai vào quỹ công, nhưng lại nằm trong sổ thực phẩm của , liệu ta có tin ? ta tin, và người dân thường cũng tin, ràng là mồ hôi nước mắt của chúng tôi, dựa vào cái gì mà các người tính đó là phúc phận của tôi? Cho đến lúc bệnh gan nhiễm mỡ tìm đến, cholesterol trong máu tăng cao, làm điều ác giờ đây bị báo ứng, có lẽ lúc này ta mới nghĩ tới việc “trân trọng phúc phận”, nhưng cũng như viên quan tham ô, ngồi trong tù rồi mới nghĩ tới “bà con, bác nơi quê nhà”. Đến lúc này, mệnh trời định, có điều chỉnh lượng thực phẩm của mình như thế nào cũng vô tác dụng mà thôi.

      Tác phẩm Tuyên thất chí của Đới Phù có viết, Lý Đức Dục là tướng quốc nhà Đường, bị cách chức Lĩnh Nam. Trước khi lên đường, ông hỏi vị hòa thượng xem liệu ông có được quay trở lại miền Bắc hay . Vị hòa thượng : “Lúc bình sinh, tướng quốc chỉ được ăn vạn con dê, nay tính ra được chín nghìn năm trăm con rồi. Vì thế ngài trở lại miền Bắc là vì vẫn còn năm trăm con dê chờ ngài quay trở lại ăn.” Ai ngờ vừa xong, quan sai của Tiết độ sứ Trấn Vũ trình lên lá thư, đồng thời tặng cho tướng quốc năm trăm con dê (Khi vị quan sai này xuất phát chắc chắn vẫn chưa nhận được tin Lý Đức Dục bị giáng chức.) Lý Đức Dục vô cùng kinh hãi, với hòa thượng rằng: “Ta ăn chúng, như vậy chắc có thể tránh được chứ?” Hòa thượng đáp: “Dê được đưa đến nơi này, chúng thuộc quyền sở hữu của tướng quốc, ăn hay chúng cũng được ghi dưới tên của ngài rồi.” Vì thế, Lý Đức Dục giáng chức Triều Châu, sau đó Nhai Châu, và trút hơi thở cuối cùng tại nơi hẻo lánh của tỉnh Hải Nam. Cũng câu chuyện đại loại như vậy, Dung ảm bút ký của Tiết Phúc Thành kể, có người lúc bình sinh rất thích ăn vịt, mỗi bữa đều phải giết con làm thịt ăn. ngày, ta nằm mơ thấy mình lạc tới đầm nước. Trong đầm nước có đàn vịt béo bơi lội, người trông vịt : “Đàn vịt này là để cho ngươi ăn!” Lúc tỉnh dậy người này tự cảm thấy rất vui, và giết vịt ăn cách vô độ. Nhưng về sau ta lại mơ thấy mình đến đầm nước nọ, lúc này số vịt trong đầm còn lại nhiều. Sau khi tỉnh lại, ta vội vã lệnh cho người nhà được giết vịt nữa. trùng hợp, lâu sau ta mắc bệnh nằm liệt giường, họ hàng, bạn bè đến thăm nom, ai đến cũng mang cho con vịt được làm chín. ta đếm, trùng khớp với số vịt mà thấy trong mơ, vừa ngạc nhiên vừa sợ, rồi đột nhiên ta kêu lên tiếng buồn bã. Thường ngày thích ăn thứ đó, bỗng nhiên bị cấm được ăn, thói quen đó làm sao có thể thu lại được. Xem ra phái gian cuối cùng cũng vẫn phải quy thuận phái thời gian, càng nhiều càng khó tránh (chết sớm).

      Tiết kiệm ăn uống có thể giảm béo, nhưng có thể cứu được mạng sống hay rất khó . Nhưng nếu muốn sống nữa, cứ việc ăn nhiều, uống nhiều, cho dù đạt đến cấp độ căng bụng mà chết, nhưng việc giảm thọ có khả năng thành công rất lớn. Nhưng có kẻ nào khờ khạo đến vậy ? Đương nhiên là có, hơn nữa, chưa hẳn tất cả đều là những kẻ khờ khạo. Bậc đại hiền như Tín Lăng Quân - Tứ công tử thời Chiến Quốc từng dẫn quân binh năm nước đánh bại quân Tần, lập công lớn gây chấn động các bậc đế vương, bị kẻ xấu lên kế hoạch hãm hại, đồng thời bị giáng chức. Từ đó, ông “ngày đêm rượu chè, khách khứa, ham vui tửu sắc”, chỉ trong bốn năm ông mắc bệnh nặng mà chết. Tín Lăng Quân chết được mười tám năm nước Ngụy suy vong, giang sơn chuyển sang quyền cai quản của nhà Đại Lương. Đó là hậu quả mà Tứ công tử nước Ngụy cho dù chết sớm cũng mong được chứng kiến.

      Có lẽ mọi người cho rằng câu chuyện ở đây hề nhắc tới sổ thực phẩm, vậy tôi lại kể đến việc khác. Tuy chỉ là câu chuyện, nhưng nhân vật trong đó là có thực, cả họ cả tên.

      Câu chuyện được kể trong Tử bất ngữ xảy ra vào năm Khang Hy. Huyện lệnh huyện Thạch Khang là Uông Dĩ Hân, có người bạn thân họ Lâm. Lâm Mỗ chết sớm, sau đó được làm thần thổ địa vùng Thạch Khang. Hai người tuy dương cách biệt nhưng hằng đêm họ vẫn gặp nhau trong mơ, vui vẻ như khi còn sống. đêm, Lâm thổ địa với Uông Dĩ Hân rằng: “Nhà huynh gặp nạn, đệ dám cho huynh biết, trời định mẫu thân của huynh bị sét đánh chết.” Uông Dĩ Hân kinh ngạc, kêu khóc van xin Lâm Mỗ cứu mẫu thân mình. Nhưng Lâm thổ địa : “Đây là cái nghiệt của kiếp trước, đệ chỉ là viên quan , làm sao có thể cứu được?” Uông Dĩ Hân vừa khóc vừa van xin, Lâm Mỗ : “Chỉ có cách, huynh nhanh chóng tận hiếu đạo làm con, tất cả những đồ ăn, đồ uống, chăn màn, quần áo thường ngày bà dùng, tất cả chuẩn bị gấp mười lần bình thường, huynh chịu lãng phí chút, như vậy tất cả số lộc trong đời cụ hưởng hết, lúc đó cụ ra , huynh có thể tận hiếu đến việc cuối cùng, khi đó Lôi thần có đến cũng chẳng có việc để làm nữa rồi.” Uông Dĩ Hân làm đúng theo lời Lâm thổ địa, quả nhiên tiễn mẫu thân của mình lên đường sớm. Ba năm sau, trong trận mưa gió bão bùng, Lôi thần ghé thăm nhà Uông Dĩ Hân, tia điện cứ lia vòng quanh chiếc quan tài bà cụ nằm, mùi sulfur bốc lên nồng nặc khắp nhà, nhưng tìm thấy mục tiêu, tia sét đó đánh xuống được. Lôi thần biết phải báo cáo với Diêm phủ thế nào, đành giáng xuống phá tan ngôi nhà rồi , tượng thần thổ địa bị đánh cho nát vụn,

      Tận hiếu là phẩm chất tốt đẹp, nhưng nên tận hiếu đến quá mức, phá hoại thiên vật để mang danh tận hiếu, như vậy lại thành mang cái chết đến nhanh, hiển nhiên thể chọn phương án này được, trừ phi chết muộn hơn nhưng phải chịu bị sét đánh. Nhưng từ đó chúng ta cũng phải nghĩ rằng, tự tìm đường chết để tránh né trừng phạt của trời, cũng có thể coi đó là kế sách hay giúp đưa lũ dân tặc ngu ngốc vào nhà đá.

      Vũ An Hầu Điền Phẫn sau khi chết lâu, vụ việc ông câu kết với Hoắc Nam Vương bị bại lộ, Hán Vũ Đế căm hận rằng: “Tiếc là chết sớm, nếu ta diệt cả dòng tộc nhà !” Có lẽ vào thời bấy giờ, người chết rồi được miễn truy cứu của pháp luật. Vì thế, số tham quan khi có dự cảm việc được thuận lợi, bọn chúng “hi sinh vì nhiệm vụ” trước, như vậy những bảo toàn được số tiền tham nhũng và cuộc sống hạnh phúc của người thân, mà bản thân mình còn được truy điệu tử tế. Người dân : “ phải báo ứng, mà là thời điểm chưa chín muồi.” Nhưng nếu đợi thời điểm đến mà trốn thoát, vậy còn báo ứng cái gì đây? Vì thế, kẻ tham quan sáng suốt tốt nhất là hãy biết “chọn ngày mà chết”, chỉ cần chú ý đừng chết giường của điếm trong khách sạn là được, thông thường trường hợp đó thể gọi là hi sinh trong lúc thi hành nhiệm vụ được, mặc dù “nghề” của vốn là làm những việc như vậy.

                3


      Gần giống với sổ thực phẩm là sổ lợi lộc, có điều, sổ thực phẩm chỉ giới hạn trong nội dung ẩm thực, còn sổ lợi lộc lại bao gồm tất cả thu nhập trong đời, chỉ có tiền lương, lương thực được cấp phát, mà cả những khoản tham ô, bóc lột của quan lại, thổ phỉ cũng nằm trong đó, chỉ cần bị tóm và nôn chúng ra. rằng mỗi người đều có quyển sổ này, nhưng thực ra nó chẳng liên quan gì đến người nghèo, hỏi “lợi lộc” của người nghèo chẳng khác nào tìm ăn mày đòi danh thiếp, như vậy có khác nào định lấy họ ra làm trò cười. Nhưng Diêm phủ lại khăng khăng đòi bình đẳng, có tiền hay có tiền đều phải ra ngân hàng lập tài khoản, thôi đành vậy, chỉ có điều sổ tiết kiệm của người nghèo cũng chỉ là những phiếu cơm bắt buộc phải tiết kiệm mà thôi.

      Lộc có hai loại, cũng có thể là ba loại, đối với quan thần là “lộc quan”, là lượng thóc gạo, vàng bạc do triều đình cấp, đối với người bình thường nó là “lộc lãi”, nếu ngay cả “lộc lãi” cũng chỉ có “lộc ăn uống” - là những phiếu ăn. Nhưng trong sổ Diêm phủ, lộc quan được sạch như bảng lương hằng tháng, mà tất cả những khoản thu nhập đen, bao gồm các nguồn thu phi pháp như tiền hối lộ, quà tặng, cướp bóc, chỉ cần “đời nên có” chắc chắn chúng được ghi vào sổ này. Về mặt pháp luật ở dương thế, chúng được coi là bất hợp pháp, chỉ cần phủ ghi án vào sổ lợi lộc, “số mệnh được chỉ định”, đó những hợp lý mà còn hợp pháp, hơn nữa đó còn là cái mà thần thánh thể xâm phạm, bởi “mệnh” là thứ ông trời an bài mà ai có thể can thiệp được. Trong chương Núi phá tiền, quyển sơn bát cảnh, tôi từng tới câu chuyện giữa Lô Hoài Thận và Trương Thuyết, Diêm phủ mở xưởng đúc tiền dành riêng cho Trương Thuyết, vậy có thể những khoản thu nhập đen này là hợp pháp ư? Vì vậy, nhìn thấy người ta vàng bạc, của cải đầy cửa, núi vàng, núi bạc lần lượt khuân về nhà, những ngưởi dân thường chúng ta tốt nhất đừng nên than thở gì, càng cần đem luật pháp dương gian ra để , chỉ cần nhớ rằng, đó là số mệnh của người ta! Đây chính là chân lý mà “sổ lợi lộc” muốn nhắc nhở chúng ta.

      Đương nhiên, chỉ nay, mà ở thời cổ đại, những tên tham quan cỡ lớn chỉ là thiểu số, bởi mồ hôi xương máu của người dân là có hạn. “ ngàn dặm để nhận chức quan, cũng chỉ vì vấn đề ăn mặc”, làm quan là bát cơm của người đọc sách, vì thế làm quan sớm hay muộn, quan to hay quan , giữ chức lâu hay chỉ tạm thời, cuối cùng cũng quy kết về chữ “lộc”. ngược lại cũng vậy, sổ lợi lộc chính là quyển sổ ghi lại hành trình phía trước của những kẻ làm quan.

      Trong những cuốn tiểu thuyết, người ta chưa xác định các danh mục của sổ lợi lộc, có quyển ghép lợi lộc và tuổi thọ lại cùng nhau để bàn luận, rồi gọi chung là “sổ lộc thọ”. Chương Trong ruộng có chôn tiền, quyển mười, cuốn Di Kiên chí bổ của Hồng Mại viết, huyện Thụy An - Ôn Châu có người thợ mộc tên Vương Tuấn, năm đó mười bảy, mười tám tuổi. hôm, cậu ta nằm mơ thấy mình vào phủ quan, gặp quan phủ ôm hồ sơ qua. Vương Tuấn liền hỏi, viên quan đó đáp: “Đây là sổ lộc thọ của người trần thuộc quản lý của ta.” Mà huyện Thụy An lại vừa đúng nằm trong quản lý của ông ta. Thế là Vương Tuần van xin mãi, mong được biết những gì mình được hưởng trong đời. Sau khi lật tìm, viên quan phủ để cậu ta xem, bên viết: “Ruộng quá sáu mươi mẫu, thọ quá tám mươi tuổi.”

      Dựa theo quyển sổ đó, lộc và thọ cùng với nhau, đây là kiến thức mà người thường nào cũng biết: người chết rồi, tiền lương hay tiền dưỡng lão được cấp phát nữa. Nhưng rất ít người có “tư duy ngược chiều” như vậy, nếu dứt khoát lĩnh nhận khoản tiền lương mà mình được phép có trong đời, có phải kéo dài tuổi thọ, thậm chí có thể chết hay ? Và thế là có người thông minh biết trước số lương thực của mình lúc bình sinh là có hạn, bèn dùng cách tẩy chay các khoản lộc mà mình được hưởng để kéo dài tuổi thọ. Di kiên chi chí đinh tập, quyển có câu chuyện như sau: “Quách Đại Nhiệm nhận lệnh tới làm tri phủ huyện Vu Tiềm, Hàng Châu. Trước khi nhậm chức, ông nằm mơ có người đến đưa cho ông trăm quan tiền và thưng gạo, rằng: “Lộc khoa của lão huynh lúc bình sinh chính là đây.” Sau khi tỉnh dậy, Quách Đại Nhiệm tỏ ra buồn rầu, nếu như lộc ta được hưởng chỉ ít như vậy, chẳng khác nào vừa nhận chức chết hay sao, vậy tiền đồ của ta còn gì nữa đây? Thế là ông ta thà chết chứ chịu nhận chức. Ông ta nhận phần bổng lộc này, và đương nhiên cũng chết được, cứ như vậy nhiều năm trôi qua. Nhưng về sau, triều đình điều tra ra việc đó, lại bổ nhiệm cho Quách Đại Nhiệm làm huyện lệnh huyện Kiến Đức, Nghiêm Châu. Vốn là thư sinh nghèo, lúc này kinh tế gia đình eo hẹp, người nhà cầu xin ông nhận chức để giải quyết tình hình túng thiếu nay, đương nhiên phải chỉ vì “ trăm quan và thưng gạo” phần bổng lộc hàng tháng. Quách Đại Nhiệm đành chấp thuận, sau khi nhận chức, lần đầu tiên ông nhận “ trăm quan và thưng gạo”, nhưng trước ngày phát bổng lộc của tháng thứ hai ngày, Quách Đại Nhiệm qua đời.

      Có thể thấy, chỉ cần Quách Đại Nhiệm lĩnh khoản bổng lộc “ trăm quan và thưng gạo” đó ông ta có thể sống mãi mãi. Như vậy, Quách Đại Nhiệm quá vớ bở rồi còn gì! Nhưng ông trời dễ bị chơi khăm như thế, bởi đến khi nhà túng đến mức có gì ăn, lĩnh khoản lộc quan đó cũng vẫn chết vì đói mà thôi, do vậy, cuối cùng Quách Đại Nhiệm vẫn phải nhận chức quan. mãi, cuối cùng vẫn thoát khỏi cái “mệnh”.

      Hơn nữa còn có cách rằng, nếu giữ chức quan mà chỉ ăn ngồi rồi tuổi thọ của người đó cũng bị quan dưới ti cắt bớt, giống như Quách Đại Nhiệm trốn ở nhà nhận chức, khéo đến ngày nào đó, ngay cả khoản bổng lộc “ trăm quan và thưng gạo” cũng bị bốc hơi mất. Điều này cũng có câu chuyện để chứng minh. Trong Bắc đông viên bút lục tục biên của Lương Cung Thần, quyển năm có chương Dung sư chiết lộc, đây là chương ghi lại câu chuyện tách rời thọ và lộc: “Huyện Ngân tỉnh Chiết Giang có người học trò, viết văn cũng khá nhưng luôn lận đận lúc khoa cử. ngày, ta nằm mơ thấy mình xuống phủ, ở đó gặp viên quan , người đó lại chính là người bạn mất của mình. Thế là ta liền hỏi dò số công danh bổng lộc của mình ra sao. Viên quan kiểm tra trong sổ phủ, rồi : “Thọ của huynh chưa hết nhưng lộc hết rồi, lâu sau huynh được ghi vào danh sách chết, còn trông mong gì về công danh nữa!” Người này : “Thường ngày ta chỉ biết dạy học kiếm sống, càng chưa từng phung phí quá mức bao giờ, vậy tại sao lộc của ta lại hết trước?” Quan phủ thở dài, : “Huynh nhận tiền học phí của người ta mà lại dạy dỗ qua loa, nghiêm túc. Theo luật pháp phủ, ngồi mát ăn bát vàng, làm đòi hưởng lợi thuộc vào tội lãng phí, bị phạt trừ hết mọi bổng lộc mà người đó được hưởng, để bù vào những gì lấy của người khác. Người có bổng lộc làm quan cắt bổng lộc, người có lộc làm quan cắt lộc ăn uống.” Quả nhiên lâu sau, vị thư sinh này mắc chứng nghẹn khi ăn, nuốt được gì hết, lúc này dù tuổi thọ của chưa hết vẫn thể chết.

      Nhưng những chuyện đó đều là việc của người dân có lộc quan, còn những kẻ gian ác số như Tần Hội lại thấy Diêm phủ động đến sợi lông chân của ông ta, hằng ngày ông ta vẫn ăn no ngủ say, khi chết được chết tại nhà. Nhưng cũng phải lại, có thể Tần Hội lại chính do ông trời phái xuống để thực nhiệm vụ đặc biệt cũng nên. Vì thế, đừng ai nghĩ có thể tìm ra lỗi của ông Trời. Đặc biệt là luật trời, “người có lộc quan cắt lộc quan, người có lộc quan cắt lộc cơm”, nó cũng giống như ở trần gian, quan chức là mạng sống thứ hai của con người, quan càng cao “mạng sống” giữ được càng nhiều, tương tự trong trường hợp phạm tội, quan cao bị giáng chức, quan thấp bị cách chức, còn đám dân thường chúng ta có chức tước đành phải để bạn dùng để ăn cơm kia nghỉ hưu sớm mà thôi. “ bạn” ở đây là đầu hay là bát cơm kết cục cũng như nhau cả, chỉ có điều, nó có phân biệt nhanh tức khắc hay từ từ mà thôi, vì thế ít tham gia vào việc của người khác thôi, từ câu chuyện này chúng ta chỉ cần lĩnh hội được rằng, thọ và lộc luôn tương thông với nhau, hết thọ lộc cũng tự hết, mà hết lộc muốn sống cũng được, dân thường chúng ta phải biết nắm chặt lấy bát cơm đó của mình.

      Ngoài ra, giống như việc có sổ thực phẩm lại có “kho thực phẩm”, dưới cõi , ngoài “sổ lợi lộc” ra còn có “kho lộc tài”, tương ứng với sổ lợi lộc. Quyển Khuê xa chí của Quách Thoán có câu chuyện như sau: “Huyện Giang Sơn, Cù Châu có người họ Mao, hôm ông mơ thấy mình lạc xuống phủ, quan phủ dẫn ông ta tới nơi, ở đó có hai dãy nhà lớn, bên trong đầy tiền, nhưng bên trong lại lấy chức quan của từng người làm mốc đánh dấu, hóa ra đây là bổng lộc của các quan trần gian. Những khoản tiền này đều có hạn định. Thử nghĩ, nhân vật có cấp bậc như Hòa Thân sợ phải xây dựng nhà kho riêng để chứa bổng lộc của . Diêm phủ phải đặc biệt mở trăm chiếc lò rèn ngày đêm ngừng đúc tiền, như vậy cũng chưa chắc theo kịp tốc độ nhận quà cống tặng của ở dương gian.”

                4


      phủ có sổ sách ghi lại công danh khoa cử của con người, danh mục cũng xác định. Trong Di kiên giáp chí, quyển mười tám, chương Dương Công Toàn mơ gặp cha gọi loại sổ đó là “sổ văn”, còn trong Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển mười , chương Thú dân sách lại gọi là “sổ khoa giáp”. Tiếp đến, ngoài danh mục thứ tự khoa cử như “Đỉnh giáp”, “Tiến sĩ hiếu liêm”, “Minh kinh tú tài” ra, còn có sổ “Tú dân” được coi như sáng tạo mới lạ. Gọi là “Tú dân”, tức chỉ những người có học vấn mà có bổng lộc, học vấn rộng, viết văn hay, nhưng có duyên với khoa bảng, và tất nhiên được hưởng lộc quan rồi. Tuy Diêm Vương : “Người trần coi “Đỉnh giáp” là số trời coi “Tú dân” là số ”, nhưng số trời thực tế bằng chiếc bánh ngô dưới hạ giới, vì thế, vị học trò giữ vị trí đầu tiên trong sổ “Tú dân” rất tỉnh táo, hề hứng thú với chiếc đầu rùa trời chút nào.

      Bởi công danh chốn khoa trường do Diêm phủ quyết định, vì thế vào thời Đường, mỗi đêm trước ngày công bố bảng vàng, Diêm phủ lại phái các quan đưa danh sách tới những nơi tổ chức thi cử. Việc giao nhận giữa dương hai giới có phần rất bí , quan phủ mang công văn tới trường thi, đương nhiên các quan chủ khảo nhìn thấy quan phủ, cũng nhìn thấy công văn, nhưng hiểu làm sao mà các quan chủ khảo bỗng xúc động, họ lĩnh hội ý chỉ từ phía phủ cách so đo thắc mắc, dù nội dung những bài thi được xem như thế nào, nhưng căn cứ để điền tên lúc đó hoàn toàn là do thiên ý. Tác phẩm Tục huyền quái lục của Lý Phức Ngôn, người thời Đường có kể câu chuyện thuộc thời vua Đường Đức Tông: “Lý Tuấn thi tiến sĩ nhiều lần đỗ, năm nay Lý Tuấn nhờ người bạn cũ của mình là Bao Cát - giữ chức Quốc tử tế tửu (chủ quản Quốc tử học) giúp đỡ, cũng coi như chạy được qua cửa quan chủ khảo. Trước ngày phát bảng, quan quản lý định mang danh sách những người trúng bảng báo lên tể tướng. Hôm đó vừa qua canh năm, Lý Tuấn liền chạy tới nhà Bao Cát hỏi thăm tình hình, giờ này cửa trong vẫn chưa mở, Lý Tuấn bèn đứng bên ngoài chờ đợi. Bên cạnh có quầy bán bánh ngọt, lại có viên thư lại ở đó, viên thư lại này nhìn như người từ nơi khác tới kinh thành đưa công văn, nhìn chằm chằm vào chỗ bánh ngọt mà nuốt nước miếng. Lý Tuấn thấy đáng thương, bèn mời ăn bữa no say. Viên thư lại rất cảm kích, bèn : “ , ta là quan lại dưới phủ, được cử tới đây đưa danh sách kết quả thi tiến sĩ. Có phải huynh đợi thông tin này ? Danh sách những người đỗ bảng ở đây, huynh cầm lấy mà xem.” Kết quả khiến Lý Tuấn kinh ngạc, bảng vàng hề có tên ta, hóa ra người khác có quan hệ còn ghê gớm hơn ta, đá ta ra khỏi danh sách. Nhưng quan hệ có ghê gớm cỡ mấy cũng bằng có ra tay trước của viên thư lại dưới phủ, Lý Tuấn bỏ thêm ít tiền, quả nhiên khiến viên thư lại này sửa tên người trúng tuyển thành tên Lý Tuấn bảng vàng. Tất nhiên, danh sách của phủ là có thực, danh sách do chủ quản viết vẫn cần có người sửa chữa, nhưng nếu như danh sách của phía phủ được sửa lại, coi như thông qua được cửa quan chủ quản, danh sách phía dương gian muốn sửa cũng được.

      Nhưng như vậy, lẽ ra mười năm sau Lý Tuấn mới đỗ bảng vàng giờ đây được làm tiến sĩ trước, điều này chẳng phải ngược lại với “định mệnh” sao? hẳn thế, bởi “định mệnh” ở đây chính là do “Diêm phủ quyết định”, bàn tay của phủ quyết định tất cả. Ngày nay chẳng phải ta vẫn có câu: “Tháng Sáu học sinh thi, tháng Bảy phụ huynh thi” sao? Vậy phải xem những bậc phụ huynh này có qua được kỳ khoa cử của Diêm phủ hay !

      chỉ kỳ thi tiến sĩ, mà cả thi cử nhân, tú tài, thậm chí cả các kỳ thi tuyển học trò tại các phủ huyện cũng đều do thiên mệnh sắp đặt, đều được ghi vào sổ phủ. Những câu chuyện về đề tài này có quá nhiều, chỉ riêng trong Liêu trai chí dị có vài chuyện, nếu kể ra khiến mọi người mất hứng, khiến các bậc hùng trượt bảng vàng khó tránh khỏi thốt lên câu rằng: “Nếu sớm biết như vậy có phải tốt hơn !” Nhưng thực ra những câu chuyện này đa phần viết về những bậc hùng rớt bảng, chúng ta có , có kể cũng là để tự an ủi mỉnh phần nào.

      Cuối cùng ta bàn tới cơ quan khác của cõi , đó là “Phòng mũ ô sa” - chuyên quản lý mũ ô sa của dương gian. Tác phẩm Canh tỵ biên, quyển hai, chương Thích biên tu của Lục sán, người triều Minh có ghi lại những việc Thích Lan nhìn thấy khi xuống phủ thời trẻ. Thích Lan lâm bệnh mà chết, rồi xuống phủ, nhưng hóa ra lần này Diêm phủ lại hồ đồ bắt nhầm người, thế là phải trả Thích Lan trở lại dương gian. đường gặp trận mưa rào, tất cả bèn vào ngôi chùa Phật đường tránh mưa. (Rất ít tài liệu ghi phía dưới aa6m phủ cũng có mưa, có chùa chiền, vì thế tôi đặc biệt chú ý đến điểm này.) vào phòng đầu tiên, nền nhà đều là khung cốt của mũ ô sa, Thích Lan đưa tay định cầm lên nhưng thể di chuyển được nó. Lúc này, người bên cạnh mới : “Những cái này liên quan đến ngươi, cái của ngươi ở đây cơ.” rồi người đó chỉ cho Thích Lan thấy, Thích Lan đưa tay nhấc nó lên, quả nhiên khẽ đưa tay nhấc được, bên phía trong cốt mũ có hai chữ “thất phẩm”. Quả nhiên sau này Thích Lan làm đến chức quan Biên tu tại Hàn lâm viện qua đời, vừa đúng là chức thất phẩm. Trong tập khác của quyển Canh tỵ biên còn , Thích Lan sau này trở thành thủy thần ở hồ Bà Dương, biết đó là chức quan mấy phẩm, cho dù là “thần thông minh chính trực”, chắc chức vị cũng cao lắm. Nhân vật sau khi chết trở thành thần, lúc sống chẳng qua cũng chỉ là viên quan bé, có người nhìn thấy đầu lợn, đầu chó có đội mũ san hô, mũ lông công, bèn giận dữ than trời bất công, có cần thiết như vậy nhỉ?

      Những câu văn vụng về đến đây cũng nên được kết thúc, nhưng phần kết tránh khỏi cảm giác khô khan, cứng nhắc. Cũng may hôm đó gặp mấy người bạn, rồi cùng bàn về “sổ phủ” và “sổ dương gian”, sổ nào “thắng thế” hơn. người bạn bèn : “ rằng sổ phủ “giống ở dương gian”, thậm chí còn phúc tạp và nghiêm ngặt hơn so với dương gian, tôi cho rằng chưa chắc. Để tôi kể cho nghe về quyển “sổ dương gian” mà tôi tận mắt nhìn thấy, trong các loại sổ phủ mà biết chưa chắc có.” Sau khi bạn kể xong, tôi thử quy nó vào loại “sổ sinh tử”, thấy thỏa đáng, quy vào “sổ thực phẩm” cũng phù hợp. Nay tôi xin thuật lại câu chuyện đó phía dưới, xin quý độc giả phân loại giúp. Tuy ở đây có chút trật thứ tự, nhưng nó cũng chính là lối “ có căn cứ”.

      Bỉ nhân theo học khoa,làm quan năm mươi năm nay, lộc thu về đương nhiên cũng có, nhưng xem ra vẫn chưa đủ để gia nhập bảng xếp hạng đại gia tại các trường đại học bây giờ. Nhưng khoa chúng tôi cũng có những tích đủ để lưu danh thiên cổ, tuy đến mức kinh thiên động địa, nhưng đôi khi cũng khiến quỷ thần phải rơi nước mắt. Người xưa : “Thà làm miệng gà, chứ làm đuôi trâu.” Người nay : “ sợ Xuy Phá Thiên [6] , tôi có chiêu riêng.” việc tuy nhưng cũng phải là thể gia nhập Vô song phổ [7] . Có điều đáng tiếc là, nay, tuy hầu hết các trường đại học danh tiếng đều viết lịch sử trường, nhưng hiểu vì ai mà người viết kỵ húy viết những điều như vậy vào quyển “chính sử” của họ.

      [6] Tên nhân vật biểu diễn của diễn viên xiếc nổi tiếng Hà Thụ Sâm.

      [7] Quyển sách tổng hợp thơ, văn, hình ảnh của bốn danh nhân nổi tiếng thời xưa của Trung Quốc là Hạng Vũ, Tô Vũ, Lý Bạch, Tư Mã Thiên.

      Đó chính là vào thời kỳ đấu tranh giai cấp gay gắt, còn khoa chúng tôi lại luôn có thể tạo ra thực để luận chứng cho chữ “gay gắt” này. Tôi xin lấy tài liệu tại chỗ luôn, tài liệu ở đây chính là những sinh viên cần bỏ tiền mua chỗ ngồi trong trường học, bình quân mỗi năm có thể gây ra hai vụ “phản động”, hơn nữa chủ đề luôn thay đổi theo thời gian, bắt kịp với thay đổi của tình thế. Ví dụ, thời kỳ 1963 -1964, đây là thời kỳ “phản đối chủ nghĩa sửa đổi”, năm đó những sinh viên trúng tuyển có đặc điểm là thích chạy dài và học tiếng Nga, hai môn học này đủ để giúp họ đào tẩu sang biên giới Trung - Xô (Nga). Chủ đề của giai đoạn 1964 - 1965 là “tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp”, thế là năm đó, bí thư chi bộ Đoàn của lớp sinh viên tốt nghiệp lập tức rơi vào sa đọa, còn kẻ tay chân được sạch cho lắm được giai cấp vô sản chúng tôi cứu vớt, trở thành ngôi sao chính trị cấp khoa. Đến nửa cuối năm 1965, chúng tôi gia nhập lớp “sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp”, chủ đề tuy vẫn chưa ràng, nhưng kẻ xử lý và kẻ bị xử lý đều thấy căng thẳng trong thầm lặng. Lúc này, có sinh viên bất ngờ gia nhập Đảng. Dùng từ bất ngờ là vì, thứ nhất thư ký chi bộ Đoàn là lớp trưởng còn chưa vào Đảng, mà người này ràng thuộc loại “siêu đẳng” rồi, hai là người này lại ngầu như Thổ Hành Tôn trong “bảng Phong Thần” mà Thẩm Mạn Vân vẽ, thường ngày luôn miệng cười, vui vẻ làm trò gây cười cho người khác, hiểu, rốt cuộc cấp thấy được điểm gì ở cậu ta nhỉ? Lúc đó nghĩ lại, mọi người mới nhớ ra cậu ta thường lén lút ghi chép cái gì đó vào vở, nhìn thấy người khác tới là vội vã giấu ngay. Có ngày, cậu ta ở trong ký túc giả vờ “khờ khạo” chọc cười cho người khác, có lẽ là muốn nhân cơ hội để tiếp tục thu thập số thông tin tình báo chăng? Mọi người bèn nghĩ kế, nhân lúc huyên náo lộn xộn, người cướp lấy quyển vở người cậu ta. Khi lật ra xem, ngạc nhiên, đó phải là những bí mật ghi chép người nào ở đâu, làm gì, gì, mà là ghi lại chi tiết việc bạn sinh viên mỗi sáng ăn mấy cái bánh bao (sau này mới biết, bạn sinh viên này là đối tượng bồi dưỡng được chỉ định trước, chuẩn bị trở thành sinh viên phản động của khóa tiếp theo), nếu ngày nào cậu sinh viên này ăn thiếu nửa cái, bên dưới được ghi chú hôm đó trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Việt Nam bắn rơi mấy chiếc máy bay của Mỹ, ràng cậu ta thể tinh thần “ con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” mà. Cái phiền phức là, báo chí lúc đó dường như ngày nào cũng đăng tin máy bay bị bắn rơi, vì thế chỉ cần người này ăn ít vài miếng bánh bao có thể cậu ta câu kết với chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Những ghi chép này thực đáng sợ, những lời nhảm nhí có thể , những điều vô căn cứ có thể bàn luận, nhưng mỗi bữa ăn hằng ngày đều phải suy xét xem có nên “liên hệ” đến thế lực phản động trong và ngoài nước hay là khó.

      Trước vụ việc đó, ngày tôi ăn ba bữa, sáng, trưa, tối mỗi bữa đều ba cái bánh bao (năm 1965, nền kinh tế chuyển biến tốt đẹp, nhà ăn trường tôi giới hạn suất ăn của sinh viên), tuyệt đối có trường hợp ngoại lệ. Có bạn học tôi thực “kế tự bảo vệ mình”, đó là câu đùa đầy thiện ý, nhưng sau này nghe trong “nội bộ” có người từng hoài nghi tôi cố ý “đối phó” với tổ chức. Đó quả là nỗi oan ghê gớm.


    2. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Phần 3



                1



      Sổ sinh tử của Diêm phủ được chuẩn bị từ nhiều năm nay, cuối cùng chẳng qua cũng chỉ vì câu: “ cũng đến rồi à!” Câu này nghe có cảm giác như “cháy nhà hàng xóm vỗ tay reo mừng” vậy, để rồi việc tiếp theo là lấy linh hồn của người sống. Sau đó là giam cầm, dùng hình, phán tội, và rồi người đứng đầu Diêm phủ tìm thấy niềm vui từ đó, giống như nông dân vui mừng khi vụ mùa bội thu, còn Diêm Vương hạnh phúc khi những vất vả biên soạn sổ sách trước đây cuối cùng cũng được đền đáp.

      tay thần Chết của Tây phương luôn cầm lưỡi hái, đối với Diêm phủ ở Trung Quốc, vụ mùa của họ cũng được bắt đầu từ việc câu kéo linh hồn của người sống. Từ những câu chuyện ma được đọc, nha sai cõi khi làm nhiệm vụ câu kéo linh hồn, thường tỏ ra rất uy phong. hỏi qua tên tuổi, sau đó mới dùng xích sát trói lại? Chà, vậy là quá khách khí rồi đấy! Thông thường, chẳng chẳng rằng, vừa xông vào cửa trói chặt rồi cứ thế dắt . Có lẽ cũng do chịu ảnh hưởng từ phong cách bắt người của các nha sai dương gian chăng? Nhưng khi xin chỉ thị hoặc bẩm báo công việc với Diêm phủ lại được sơ suất như vậy. Bởi cho dù là Diêm La Vương bắt người, theo lý mà ông cũng phải làm các bước “thủ tục” . Giống như ở dương gian, khi bắt tội phạm, có thể bỏ qua thủ tục tuyên bố quyền lợi của hai bên, nhưng tục ký phát lệnh bắt giữ là thể bỏ qua. Vì thế, khi Diêm phủ muốn bắt giữ các linh hồn với số lượng lớn cần có “sổ bắt linh hồn”, bắt giữ linh hồn cần có “thẻ bắt giữ”.

      Đương nhiên, việc bắt giữ linh hồn cần phải có thủ tục, phải hoàn toàn chứng tỏ tính nghiêm ngặt về mặt pháp trị tại Diêm phủ, mà là vì Diêm Vương và các Phán quan lo sợ khi lũ quỷ con kia có quy củ, tất cả mọi mưu kéo bè kéo cánh nhằm mưu lợi riêng kia lọt vào tay bọn Đổng Siêu, Tiết Bá.

      Những bằng chứng bắt linh hồn này xác định về tên gọi, nhưng nếu giữa nó và lệnh bắt giữ của dương gian có tương đồng về tính chất là sai. Lịch sử của nó có thể bắt đầu truy cứu từ đời Hán, nhưng khi đó, dân gian gọi loại sổ này là “sổ người chết”. Tác phẩm Sưu thần ký của Can Bảo, người đời Tấn có ghi lại câu chuyện của Chu Thức - người sống vào thời nhà Hán: “Chu Thức ngồi thuyền về hướng quận Đông Hải, đường , Thức gặp viên thư lại. tay cầm mấy quyển sách, nhìn rất mệt mỏi, viên thư lại nhờ Thức đỡ dùm chỗ sách đó. Chu Thức rất vui vẻ giúp đỡ. Thuyền được hơn mười dặm, viên thư lại với Chu Thức rằng: “Tôi phải ghé qua vùng này chút, sách tôi gửi lại thuyền nhờ huynh trông giúp, huynh được mở chúng ra.” Câu “huynh được mở chúng ra” chính là ám thị “chỗ này có ba trăm lạng bạc”, là kẻ ngốc nếu Châu Thức “ mở nó ra”. Thế là Châu Thức lén mở chỗ sách ra xem, hóa ra đó là “sổ ghi tất cả những người và sắp chết” trong đó có tên của mình.

      Loại sổ đó còn gọi tắt là “sổ chết”, có thể gặp trong tác phẩm Chân dị lục của Đới Tộ, người đời Tấn: “Sau khi qua đời bảy năm, Hoa Dật hình trở về nhà, tìm gặp trai chuyện về đứa con trai cả của mình, rằng: “Thằng Ngu bị ghi tên trong sổ chết, nó còn sống được mấy ngày nữa.”

      Tiếng Bạch thoại có thể gọi trực tiếp là “sổ người chết”. Sách Triện dị ký của Lý Mai, người đời Đường có viết: “Núi Thái Sơn triệu tập linh hồn của con người, sổ người chết được giao cho phía Đông Nhạc, phía Đông Nhạc có nhiệm vụ bắt những linh hồn ấy.”

      Nếu gọi là “thẻ trời”, xem chừng có vẻ trang trọng quá mức. Di kiên bính chí, quyển ba, chương Lý Bật Vi kể: “Lý Bật Vi : “Thẻ trời ở đây, ngươi có thể xem qua.”. rồi ông lấy từ trong tay áo ra quyển văn thư đưa cho người kia xem, quyển văn thư đều là họ tên người. Bật Vi chỉ quyển văn thư, : “Tất cả những người có tên trong văn thư này đều sắp chết.” Quyển thiên phù này chưa chắc là do Ngọc Hoàng đại đế soạn ra, mà chỉ là công văn của Diêm Vương, để cho quyển công văn thêm phần khí thế nên cho thêm vào tên gọi những từ ngữ kiểu “chiếu theo chỉ thị của Ngọc Hoàng đại đế” mà thôi.”

      đây đều là những quyển sổ được viết sẵn, hoặc như trong Sưu thần ký, thư lại chốn phủ phải mang theo quyển sổ hoàn chỉnh để bắt linh hồn với số lượng lớn, trường hợp này rất ít xảy ra, trừ phi dương gian xuất “cơn sốt” địa ngục. Nhưng nếu bắt linh hồn trai tráng với số lượng lớn, ví như trong Thạch hào lại , cũng bắt buộc phải có sổ sách theo. Dù sao cũng là bắt người, dù bắt vì mục đích gì phương pháp và cách làm cũng khác nhau là mấy.

      Nếu như có sổ sách, có thể chấp nhận thẻ, mỗi người tấm thẻ, tất cả phải giống loại giấy tờ bắt giữ người của quan phủ chốn dương gian. Trong Dị văn lục của Đường Dật Danh có câu chuyện giống chuyện Châu Thức thuyền, chỉ có điều quyển sổ của viên lại chốn phủ đó được đổi thành chiếc tay nải, người xem lén mở tay nải ra xem, thấy “mỗi chiếc túi có chứa năm trăm chiếc thẻ, gần giống giấy, chữ viết phải chữ triện hay chữ lệ, nên nhận được ra chữ gì.” Chỗ thẻ này có cách thức rất giống “giấy câu hồn”, chỉ có điều nó sử dụng loại mật mã để viết. Như vậy, tuy nó thể bị tiết lộ cho người khác biết đó là gì, nhưng làm thế nào để giúp người bị bắt biết thẻ đó dùng để bắt linh hồn mình? Những tấm thẻ này trong các điệu hò dân gian được gọi là “thẻ câu hồn”, còn “giấy câu hồn” lại xuất nhiều trong các vở kịch, tiểu thuyết hoặc dân ca thời Minh - Thanh. Từ “giấy” này thuộc thuật ngữ pháp luật, từ “giấy mời” nay có lẽ cũng liên quan đến vấn đề này.

      Liên quan đến vấn đề này còn có loại “thẻ bài câu hồn”, đây thực là đạo cụ trong tay những tên quỷ vô thường. Hình dáng của nó giống chiếc cuốc , được làm từ gỗ, bên có viết mấy chữ như chữ “truy nã”, có lẽ nó hoàn toàn là cách làm của đám sai dịch nha môn. Nhưng trong tiểu thuyết cũng xuất những trường hợp quỷ cầm thẻ bài câu hồn. Trong Di kiên giáp chí, quyển chín, chương Giấc mơ của sứ thần Trương Kỳ có viết, viên lại phủ tới bắt người, tay cầm chiếc thẻ bài sơn đen và “chu thư”, “chu thư” là chỉ thẻ bài có viết họ tên của tên quỷ sống cần bắt, còn thẻ bài sơn đen là do quan phủ tự chế, bên chắc có ấn tín, hoặc hình thù gì đó khó bắt chước, nghe có vẻ rất quyền uy. sân khấu thường có những câu háy kiểu như “Thẻ vàng điều tới, thẻ bạc cho ”, xem ra, từ “bài” ở đây nghiêm túc, trang trọng hơn thẻ giấy nhiều lần, như vậy dù có bị bắt cũng chỉ những nhân vật lớn mới xứng được dùng.

      Nếu như thẻ bài câu hồn giống lệnh bắt giữ ngày nay, vậy suy luận ra, nếu sai dịch cõi mang theo loại giấy tờ này, người bị bắt có quyền cự tuyệt việc bắt giữ. Quyển bốn, sách Quỷ đổng của Vô Danh Thị, người thời Tống có ghi lại câu chuyện rất thú vị như sau:

      Trần Sinh lâm bệnh nặng. Sinh nhìn qua khe tường thấy có kẻ mặt khỉ từ ngoài vào, mặc quần áo người, con khỉ : “Diêm phủ muốn bắt ngươi.” Trần Sinh : “Có thẻ lệnh bắt ?” Khỉ đáp: “Lẽ ra phải có thẻ, nhưng có thẻ ta thể bắt ngươi được sao?” Trần Sinh mắng: “Luật lý dương là , nếu quả muốn bắt ta, phải có thẻ làm nghiệm chứng chứ? Những tên quỷ khác luôn mạo danh để xin cái ăn mà thôi. Hơn nữa Diêm phủ thiếu người hay sao mà lại sai con khỉ xuống?” Con khỉ cho gọi thần thổ địa và thần táo lên: “Án này rất cấp bách, trong lúc vội vã ta quên mang theo thẻ, nay người này tin, hai ngươi có thể làm chứng cho ta được chứ?” Hai vị thần đáp: “Vâng.”

      Chỉ cần mặc lên người bộ quần áo của “kẻ chức trách”, đừng là “khỉ mặc áo người”, trông rất giống người rồi, ngay cả là loài súc sinh như “động vật linh trưởng” cũng thể làm việc chểnh mảng được. Trần Sinh những đòi kiểm tra công văn, mà còn trông mặt để bắt hình dong, coi khinh quyền uy của những bộ quan phục, ràng đó chỉ là tên điêu dân. Cũng may con khỉ này gặp được vị thần thổ địa thấu tình đạt lý và vị Táo Quân “ăn cây táo, rào cây sung”, sau vài tiếng vâng vâng dạ dạ, tất cả đồng tâm hợp lực đưa Trần Sinh lên đường xuống suối vàng. có thẻ bài, quan sai giới có thể tìm thần thổ địa và Táo Quân làm chứng, đồng thời hỗ trợ quan sai trong việc bắt bớ, đó là quan điểm. Còn quan điểm nữa ngược lại, khi quan sai muốn bắt linh hồn người, đầu tiên phải đưa thẻ bài câu hồn trình đến miếu thổ địa, nhờ thổ địa lập hồ sơ (xem Tục thoại khinh đàm, tập hai, Qua Bằng gặp ma của Chiêu Kỷ Đường, người đời Thanh), có người lại rằng phải đến chỗ thần thổ công kiểm tra thẻ trước (xem Xuân chử kỷ văn, quyển hai của Hà Liên, thời Nam Tống), nếu đừng nghĩ tới chuyện bắt người.

      Tôi nghĩ, ngay cả xã hội phong kiến cũng có bạo loạn, có cai trị, nếu là cai quản xã hội, phải luôn cần số trình tự pháp luật, thể dù là người hay , chỉ cần mặc bộ quần áo của nhà chức trách là có thể tùy tiện bắt người. Hơn nữa, chiếu theo quy tắc, loại văn tự dùng những thẻ bài câu hồn đó cũng phải tuân theo những quy phạm nhất định, vì vậy, Diêm phủ muốn viết thẻ bài bắt người, nên dùng những người mà trong bụng người đó phải có chút ít chữ nghĩa, nếu , khi gặp phải những kẻ cứng đầu thích quấy phá, lúc đó những người thi hành luật pháp phải đau đầu vì chúng. Trong nhà Kỷ Hiểu Lam quả có người như vậy, đó là đầu bếp do cha ông khi làm quan ở tỉnh ngoài dẫn về, ông ta cứng đầu phải là vì có quan lớn nâng đỡ phía sau, mà là vì ông ta cũng có chút ít chữ nghĩa.

      Người này họ Dương, tên Nghĩa, chữ “义” (nghĩa) có cách viết chuẩn theo thể phồn thể là “義”. hôm, ông Dương nằm mơ, ông gặp hai con quỷ tay cầm thẻ Chu đến bắt ông, nhưng thẻ lại viết “杨义” (Dương Nghĩa). Ông Dương : “Ta tên là “杨 義”(Dương Nghĩa), phải là “杨 义” (Dương Nghĩa), các người tìm nhầm người rồi.” Hai con quỷ : “Ông già nhìn kỹ lại xem, đây là “乂” (Nghệ), bên còn có nét chấm, là chữ “義” (Nghĩa) giản thể. Bọn ta nhầm đâu.” Ông Dương vẫn phục, cãi lại rằng: “Tên của ta lẽ nào ta lại ! Từ trước tới nay ta chưa thấy chữ “義” (Nghĩa) được viết như vậy bao giờ, chắc là chữ “乂” (Nghệ) bị quệt nhầm nét lên đó.” Hai con quỷ thuyết phục được ông Dương, đành quay về nha môn sửa lại thẻ. (xem Duyệt vi thảo đường bút ký, quyển năm)

      Người này tuy cãi bừa, nhưng cũng phải có căn cứ, còn những người làm chức trách có thể giảng giải đạo lý với phạm nhân như vậy, dù là ở giới hay dương gian chúng ta cũng đều rất ít gặp. Nhưng từ việc này có thể thấy rằng: Muốn người dân biết chữ là việc nên làm, nhưng biết chữ rồi còn biết giảng lý lẽ với quan phủ, có lẽ đó lại là dấu hiệu hay.

      Trong Dữ Ngô Chất thư, Tào Phi nhớ tới bảy đại văn hào Kiến An:

      Ngày xưa, khi chu du các xứ, cùng , mệt cùng dừng lại nghỉ, khi đó nào ai nghĩ phải nếm trải giây phút biệt ly!... Nào ngờ sau bao năm các huynh ra gần hết, nhắc đến đau lòng. Những tập thơ văn viết vội của các huynh, ta tập hợp lại thành tập. Nhìn tên tuổi các huynh nay bị liệt vào danh sách của quỷ, nghĩ lại những ngày tháng du ngoạn cùng nhau trước đây, tôi vẫn còn ghi nhớ mãi nơi con tim này, tuy nay các huynh là người của quá khứ, nhưng ta ngàn lần nhớ tới các huynh!

      Đào Uyên Minh cũng có tác phẩm Nhạc truy điệu - Vãn ca:



                Có sinh ắt có tử,



                Cớ sao vội vã



                Đêm qua còn là người,



                Sáng nay thành ma.



      Hai tác phẩm thơ văn có nhắc tới “sổ ma”, phải giống như “sổ chết” đến ở phần trước. “Sổ chết” là quyển sổ câu hồn được dùng khi bắt linh hồn người sống, còn “sổ ma” lại là quyển “sổ hộ khẩu” dưới giới. Ở thế giới địa phủ được nhắc tới trong thuyết luân hồi lục đạo, vong hồn cần có hộ khẩu, họ chỉ quanh quẩn chốc lát trong lúc chờ chuyển thế tại điện Diêm La mà thôi, vì vậy hộ khẩu tạm thời, giấy đăng ký tạm trú…. tất cả đều cần tới, để sau đó họ lại tiếp tục lên đường. Vì thế, “sổ ma” là loại sổ câu hồn kiểu Trung Quốc, bởi linh hồn tổ tiên của chúng ta cần đăng ký hộ khẩu, an cư tại giới. Chỉ có điều từ này rất ít gặp trong các câu chuyện ma, chỉ thi thoảng được nhắc tới trong thơ văn, là cách gọi nhã nhặn cho “người mất”. Trong Trẻ em tìm về nguồn - quyển sách dạy trẻ em cách nhận biết từ, chữ, có giới thiệu các từ có liên quan đến chữ “tử - chết”: thay áo, thay chiếu, tất cả đều dùng để chỉ từ “tử - chết”; người cổ, tên trong sổ ma, là đến từ “vong - chết”, chính là nó. Chung Tự, người triều Nguyên trở thành bậc văn nhân quá cố với sở trường về văn từ, tác phẩm của ông với tên gọi Lục quỷ bạ - Danh bạ quỷ, chính là lấy từ nghĩa đó.

      Người thời xưa sinh con cái cũng cần đăng ký nhập sổ, ngoài bản hồ sơ lưu, còn cần bản để trình báo lên chính quyền. Đó là quyển sổ hộ khẩu sớm nhất được gặp trong Lễ ký - Nội tắc, có thể đó cũng là quyển sổ hộ khẩu đầu tiên thế giới, tuy nó mang chút tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng cũng rất đáng để chúng ta tự hào.

      Cũng với lập luận này, hộ khẩu ở cõi cũng có vai trò quan trọng đối với người chết. Nếu linh hồn nào có hộ khẩu, tức là được ghi tên vào trong sổ nhân khẩu dưới ti linh hồn đó chỉ có thể làm hồn ma lang thang. Và hậu quả của nó, nếu xét theo mặt tốt, có lẽ hồn ma đó được miễn nộp thuế và lao dịch cho Diêm phủ, nhưng nếu xét theo mặt hại, có thể hồn ma đó mất nhiều hơn được, linh hồn đó nhận được chút đãi ngộ nào từ phía giới. tuy đến bây giờ tôi cũng lắm về cái lợi thế khi đăng ký hộ khẩu ở giới rốt cuộc là gì, nhưng đến khi quan niệm luân hồi ở Tây phương hòa trộn với quan niệm của Trung Quốc, những điều phải là lợi thế của việc đăng ký hộ khẩu giới “lộ ”, chính là hồn ma đó mất tư cách được đầu thai chuyển thế. Những điều này tôi bàn luận nữa, dẫu sao dù lựa chọn cõi ti kiểu Trung Quốc hay của Tây phương, hay chế độ phủ Trung Quốc - Tây phương kết hợp những hồn ma lang thang và những u hồn luôn hy vọng được Diêm phủ tiếp nhận vào danh sách quỷ, nếu được chấp nhận, linh hồn của họ được yên ổn, phải làm kẻ xấu tại chốn dương gian, mang đến bất an, lo lắng cho người sống. Tại sao vậy? Bởi vì người sống cần phải chịu trách nhiệm trong việc họ sa đọa thành nhân vật xã hội đen ở thế giới phủ. Quyển ba, tập tiếp quyển Dậu dương tạp trở của Đoạn Thành Thức có kể, có chàng lỗ mãng, ban ngày chuyên phá đám người khác, hôm sau khi uống say, ta ra nghĩa địa, ngã vật lên ngôi mộ đắp cao rồi ngủ lúc nào biết, nửa đêm tỉnh dậy, ta nhìn thấy căn phòng rách nát, dưới ánh đèn vàng mờ ảo có phụ nữ sắc mặt tiều tụy, đó ràng là ma nữ. Ma nữ kể cho ta nghe về thân thế của mình, rằng: “Chồng tòng quân thấy trở về, bản thân ta mắc bệnh mà chết, ngoài ra ta chẳng còn họ hàng thân thích, được hàng xóm giúp nhập quan nhưng chưa đem chôn mà vùi xác tại đây, hơn mười năm rồi có người đến chuyển mộ cho ta. Phàm là người chết, nếu xương cốt được chôn cất lần thứ hai, linh hồn của họ được ti ghi nhận vào sổ, linh hồn hoang mang, mơ hồ. Nếu huynh thương cảm cho u hồn này, xin hãy chuyển hài cốt của ta tới khu đất bên bờ suối, để linh hồn ta được siêu thoát, đây là tâm nguyện duy nhất của ta.”

      Tại sao hài cốt “chưa được chôn cất lần hai” linh hồn đó được ti ghi tên vào sổ? Lý do có lẽ là vì ti coi ta như người thực chết, mà lý do của dương gian lại là người chết cần phải được mai táng kịp thời, phải chôn cất người chết mới được yên ổn. Nếu vùi xác lâu mà được chôn tinh khí và hồn phách được siêu thoát. Cảm giác “lo lắng, li tán” rốt cuộc là cảm giác như thế nào? Nếu phải “năm loại được ghi trong danh sách đen” (là địa chủ, phú nông, phần tử phản cách mạng, phần tử xấu, phần tử cánh hữu), chỉ có cảm giác đơn, lạnh lẽo nơi đồng mông quạnh, như thế chắc vẫn chưa thực cảm nhận được hết cái cảm giác đó. Cũng may vào thời Đường, ma quỷ vẫn còn hiền lành tử tế, chỉ lặng lẽ ở bên cạnh con người, chứ đến thời Minh - Thanh, chúng ta biến thành những xác chết di động chuyên gây chuyện rồi.

      lý do khác để ti ghi nhận người chết, đó là người này vẫn chưa đến lúc phải chết. Quyển Quế Lâm phong thổ ký của Mạc Hưu Phù, người đời Đường có ghi lại câu chuyện như sau:

      Tô Thái Huyền là nông phu, người vùng Dương Sóc. Vợ ông ta họ Từ, sau khi sinh được ba người con trai qua đời. Thái Huyền đưa xác vợ an táng. Bỗng ngày, Thái Huyền trở về nhà, ông nghe thấy tiếng vợ mà nhìn thấy bóng dáng vợ đâu, người vợ : “Mạng thiếp vẫn chưa hết, nên Diêm phủ chấp nhận cho thiếp ở dưới đó.”

      Thọ của con người chưa hết, Diêm phủ đón nhận hồn ma của người đó, điều này là hoàn toàn đúng. Nhưng khi muốn quay trở lại, bên này người ta kịp thời đưa người vợ “nhập thổ”. chôn được, mà chôn nhanh quá cũng đúng, hai giới dương đều phạm phải chủ nghĩa quan liêu, chỉ khổ cho những linh hồn chẳng phải sống mà cũng chẳng phải chết, bị mắc kẹt ở giữa hai thế giới này.

      Nếu có người cho rằng ma quỷ có thể được tự do tự tại tại chốn ti, giống như những vị tiên bay lượn bầu trời, vậy người đó quá ngây thơ rồi. Hóa ra thần Thành Hoàng lại có trách nhiệm thu nhận những u hồn và những hồn ma lang thang được ghi tên vào danh sách ma, coi họ là những kẻ lưu manh mù quáng, sợ họ gây chuyện khi đêm về, vì vậy cần giam họ lại. Chương Nguyễn Công Minh trong Di kiên chi đinh, quyển ba có hồn ma đáng thương than thở rằng:

      Ta xuống cõi từ lâu, nhưng do tuổi thọ của ta chưa hết, ti dứt khoát chấp nhận, nhưng sau bị Thành Hoàng bắt giữ, ban ngày ta có thể ra ngoài, nhưng ban đêm lại nhốt trong chiếc giếng cạn ở Ngô Sơn. Những người giống như ta ở đô thành rất nhiều, mỗi khi hoàng hôn buông xuống, tất cả những người thắt dây buộc lưng vàng đường, đầu và người cúi thấp xuống đất mà , đó chính là những người như ta.

      Vào thời Nam Tống, miếu Thành Hoàng tại Hàng Châu được xây dựng núi Kim Địa ở phía nam núi Ngô Sơn, nay miếu Thành Hoàng mới được tu sửa lại ở đỉnh núi Ngô Sơn, chắc cách ngôi miếu cũ xa, có điều biết chiếc giếng cạn đó nằm ở nơi nào [8] . Hoàng hôn là thời điểm những hồn ma này được “hít thở khí trong lành”, “thắt dây buộc lưng vàng” có lẽ là để đánh dấu quỷ xấu, “cúi đầu, người rạp xuống đất để ” chính là chỉ loại “cắp đuôi làm người” của dương thế.

      [8] Dưới núi Ngô Sơn còn có chiếc giếng có nước, chiếc giếng này cũng rất nổi tiếng. Trong quyển Tiền thị tư chí của Tiền Thế Chiêu, người thời Nam Tống đặc biệt nhắc tới chiếc giếng này, rằng bên trong có hồn ma trượt chân rơi xuống, nó thường xuyên lôi người xuống đó, cuối cùng người ta lấy khối đá lớn chèn miệng giếng lại.

      Những linh hồn lang thang vốn chưa đến lúc chết mà phải chết, họ có suất hộ khẩu tại ti. Cách giải quyết cuối cùng chỉ có thể là đợi ngày dương thọ của mình kết thúc, lúc đó Diêm phủ mới cho phép họ đăng ký hộ khẩu. Nếu thời gian chờ đợi quá dài, họ chỉ có thể nhờ bạn bè, người thân hoặc những người tốt bụng dương gian chuẩn bị bữa cơm chay tế cúng, giúp linh hồn họ được siêu độ nơi giới, có thể đây như việc cửa sau, tìm quan hệ cới các quan ở giới, để thời gian chờ đợi được rút ngắn. Nhưng trong chương Mao liệt ngục, quyển mười chín, cuốn Di Kiên giáp chí lại có chút mâu thuẫn với cách . Chương này rằng, những linh hồn lang thang thể hưởng công đức từ những người ở dương gian: “Vốn dĩ chưa phải chết nên đăng ký được hộ khẩu ở chốn ti, muốn nhờ người dương thế giúp đỡ để được nhận phúc lợi từ cõi , đó là điều thể.” Những quan điểm này tuy có khác nhau, nhưng thống nhất với nhau khi những linh hồn lang thang có hộ khẩu dưới phủ và có những ngày tháng êm đẹp dưới đó. Đến sau đời Nguyên - Minh, người ta quyết định lập ra “thành oan hồn” ở dưới phủ, coi như giúp những linh hồn lang thang tìm thấy nơi thể là tốt đẹp để trú mình.

      về thành oan hồn, ở đây tôi cần làm chút, coi như bổ sung cho “ sơn bát cảnh”, cũng coi như tạm thời đưa “điện Diêm Vương” làm cảnh thứ mười dành cho những người thích “Thập toàn”, đồng thời cũng là vì, người ta luôn cho rằng ở đó chỉ chấp nhận những linh hồn chết oan, nhưng suy nghĩ này thực chính xác.

      Từ “thành oan hồn” có lẽ có nguồn gốc từ dân gian, tất nhiên những bậc quan lại dùng nó, vì thế nó xuất nhiều trong các cuốn tiểu thuyết hay ca kịch, mà sớm nhất là xuất trong các điệu hò. về tên và ý nghĩa của nó, thành oan hồn là trại tập trung dành cho những người chết oan phải xuống phủ. Nhưng tổng hợp tất cả những tài liệu có liên quan thực lại hoàn toàn như vậy. Tất cả những linh hồn có dương thọ chưa hết, bao gồm chết vì hình, chết trận, chết bờ bụi, chết vì gặp phải thầy lang dởm, cho đến những người chết vì tình cũng đều được vào thành oan hồn. Hơn nữa hãy xem vài ví dụ sau:

      Trong vở tạp kịch thời Nguyên Mạnh nương đạo cốt, Dương lệnh công đâm vào bia Lý Lăng mà chết, linh hồn của ông bị đưa vào thành oan hồn. Trong Tây du ký, tập mười, Lý Thế Dân đến cõi , “ qua sông Nại, huyết bồn khổ giới, rồi lại đến thành oan hồn”, nhìn thấy đám hồn ma mất tay mất chân, hoặc có tay chân mà có đầu, tất cả đều là hồn ma của những tên giặc cỏ và những người chết trận. Trong chương Thẩm Tiểu Hà tương hội xuất sư biểu trong Dụ thế minh ngôn, Thẩm Cổn, Thẩm Bảo chịu đựng nổi, cả hai chết dưới cán roi, đây là chết do bị dùng hình, đương nhiên cũng thuộc loại gánh oan mà chết. Còn trong Viết tiếp Kim Bình Mai của Đinh Nhiêu Cang viết sau khi Phan Kim Liên bị Võ Tòng giết, linh hồn của ả được đưa đến khu thắt cổ tại thành oan hồn, việc này thể coi là quá oan uổng được. Tiểu thuyết Đều là do ảo giác, chương có kể, vụ vỡ đê tại sông Vô Triều dìm chết vô số dân thường, tất cả linh hồn họ đều gia nhập thành oan hồn. Trong thành oan hồn, người đẹp nổi tiếng nhất tất nhiên là Đỗ Lệ Nương chết vì tình. Còn trong Hữu đài tiên quán bút ký, quyển bảy có kể, người chết dưới tay lang băm khi dương thọ vẫn còn, nhưng “theo luật , phàm là những người dương thọ chưa hết, tất phải đến thành oan hồn”.

      Ngoài ra, thành oan hồn còn có hai điểm đặc biệt thể . là bên trong toàn là ma đói. Đương nhiên phải cứ gặp ma đói là bắt vào thành, mà là những hồn ma vào thành đều bị cấm ăn uống, ngay cả những hồn ma có hộ khẩu bên ngoài thành được ăn ba bữa năm cũng có. Trong Thố hồ lô của Phục Thư giáo chủ, chương hai mươi viết, hồn ma trong thành oan hồn được lo cho ăn cho mặc, vô cùng đau khổ. Còn Dã tẩu bộc ngôn của Hạ Kính Cừ, chương mười tám đem những đạo sĩ khi nhìn thấy đậu phụ rau xanh là lao vào tranh cướp so sánh với những “ma đói trong thành oan hồn”.

      Đặc điểm thứ hai của nó là hồn ma trong thành oan hồn rất khó được hóa kiếp. Trong vở tạp kích thời Nguyên Bao đãi chế trí trám sinh kim các : “ oan hồn nào được tiêu tán, ngày đêm vất vưởng trong thành oan hồn. Chỉ đến khi báo được oan, giải được hận, lúc đó mới thoát khỏi ti rồi hóa kiếp.” Trong Viết tiếp Kim Bình Mai, Võ Đại Lang sau khi bị giết đến khu thuốc độc tại thành oan hồn, cũng giống như Phan Kim Liên bị đưa đến khu treo cổ, mười mấy năm được đầu thai. Trong Thuyết nhạc toàn truyện, người phục vụ : “Phía trước là quỷ môn quan, bên phải là thành oan hồn. Tất cả những kẻ phạm tội đều phải vào thành oan hồn, vào đó rồi khó mà được chuyển kiếp.”

      Những linh hồn chết bờ chết bụi hoặc chết thảm lại bị đưa đến thành oan hồn chịu đói nhịn khát, oan khuất được giải thể hóa kiếp chuyển thế. Đạo lý này quả có chút bất công. Nhưng nghĩ kỹ lại, đây chính là bản sao của tù ngục ở trần gian, trừ phi gặp được Bao Thanh Thiên những tù nhân bị bắt oan này mới có thể thoát khỏi bể khổ, nếu họ đành phải ngồi trong đó chịu đói, chịu rét cho đến chết. Vì thế, tác phẩm thích những điều mờ ám Ngọc lịch bảo sao có chương Thành oan hồn thỉnh thoảng được vài câu khá thấu tình, tuy rằng nó vẫn có chút “mờ ám”:

      Phong Đô đại đế : Thành oan hồn ở phía bên phải điện ta. Người đời hiểu nhầm đó là nơi đón nhận tất cả những hồn ma bị chết oan, rồi truyền tai nhau làm người ta tưởng . Phải biết rằng những người chết oan liệu có thể bắt họ chịu những nỗi khổ vô cớ nũa được ? Xưa nay vẫn cho phép các oan hồn tìm hung thủ, tận mắt nhìn thấy chịu khổ, từ đó giải tỏa được mối hận trong lòng, cho đến khi oan hồn của họ được đầu thai. Nếu là những người trung hiếu, nghĩa khí hoặc những quân binh xả thân vì nước, hoặc sau khi chết thành thần, hoặc ban phước cho họ được đầu thai, như vậy há chẳng phải có lý khi để họ vào thành oan hồn chịu khổ sao?

    3. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793

                3


      Chỉ có quyển sổ ti mà tôi huyên thuyên quá nhiều, những độc giả nóng ruột có lẽ đặt ra câu hỏi: “Liệu ông sắp xong chưa vậy?” thực, sổ sách ở dưới ti nhiều vô kể, những quyển sổ được đây chỉ là phần trong đó thôi. Ví như trong Mai hương ảo, tiểu thư Trương Doanh Doanh hát “phu thê hoạn nạn do trời định, sổ nhân duyên sớm ghi tên”, khi đó “sổ nhân duyên” vẫn chưa được con người biết tới. Đáng tiếc người xưa quá cẩn thận, việc này lại được liệt vào danh mục “chuyện riêng tư khó ”. Thực ra sổ nhân duyên của người xưa đơn giản hơn rất nhiều so với sổ đăng ký kết hôn ngày nay, nay con người dành rất ít thời gian để lo cái ăn cái mặc, vấn đề nam nữ được đưa ra bàn luận nhiều hơn. Cơ quan phát hành sổ nhân duyên của phủ chắc chắn cũng phải làm việc căng thẳng hơn nhiều, biết bao nhiêu “sổ chính”, “sổ phụ” khó phân loại , rồi “vợ bé thứ nhất”, “vợ bé thứ hai”, cách sắp xếp này cũng bị chê là quá đơn giản rồi. Còn trong những ghi chép của người xưa, tôi nhớ ngoài quyển sổ chính ra chỉ có quyển “sổ phu thê sương mai”. Viết tiếp Tử bất ngữ của Viên Mai, quyển ba có câu chuyện về ma nữ với nhân vật nam rằng: “Tra sổ phu thê sương mai, có đến duyên phận với huynh, nhưng được chỉ định chỉ nên giao cấu trăm mười sáu lần. Nếu chuyện này ai biết, ở với nhau lâu dài được, còn duyên phận hết, cả hai phải ly tan.” trăm mười sáu lần vẫn được coi là “sương mai”, sợ người ta cười là quá “phóng khoáng” hay sao? Dẫn ra ví dụ này là để điểm xuyết chút thôi, bởi đề tài này thực quá rộng, thôi để dành cho các học giả thời Xuân Thu viết những tác phẩm chuyên sâu về nó.

      Cùng là chết, chỉ có điều cách chết của từng người giống nhau, chúng cũng cần được phân làm các loại sổ khác nhau, từ đó có thể thấy được tính tỉ mỉ trong công việc ở giới. Tác phẩm quả tùy bút của Giới Hiển, người đời Thanh có ghi, Ngụy Ứng Chi mơ mình xuống phủ, ta tìm trong sổ sinh tử, thấy có tên mình, hóa ra nó nằm trong “sổ chết do thắt cổ”, bên dưới ghi chú “ ngày ba năm sau thắt cổ tự tử trong thư phòng”. Tử bất ngữ, quyển tám viết, dưới phủ, ngoài “sổ chính mệnh” ra, còn có “sổ hỏa tự”, tức chết trong hỏa hoạn. có thể suy rộng ra ba mươi thứ, phủ có “sổ thủy tự”, “sổ thổ tự”, từ đó có thể suy ra người ta chết bằng cách nào, còn “chính mệnh”, tức là chỉ những người khi hết dương thọ được chết chiếc giường của mình, còn chết giường trong khách sạn bị liệt vào loại sổ khác (theo cách bất nhã của Đinh Nhiêu Cang, thành oan hồn nên để loại người này xuống khu biệt lập cho chúng). Trong quyển hai mươi tư lại , linh hồn người chết ở nơi biên ải, khi đưa vào “sổ họa hoắc vân” được phân ra làm hai loại, tức “sổ người” và “sổ thú”, thú chết nhiều hơn người, vì thế có câu “nhân tam thú ngũ”. Trong Duyệt vi thảo đường bút ký của Kỷ Tuân, quyển mười, “sổ người” được chia ra làm các loại sổ vàng, đỏ, tím, đen: “Hy sinh vì nước, phấn đấu quên mình, người này được ghi vào sổ vàng . Làm theo quân lệnh, thà chết lui, người này được ghi vào sổ đỏ. Làm theo số đông, chuyển chiến mà chết, được ghi vào sổ tím, chết khi chạy trốn, còn đường lui, được ghi vào sổ đen.” Phân ra kỹ như vậy, xem ra nếu Diêm phủ có ngành hồ sơ học, nhất định phải người tài cao mới đảm nhận được vị trí này.

      chỉ vậy, các loại sản phẩm dưới phủ cũng tăng dần theo thời gian. Đến thời nhà Thanh, thuốc phiện du nhập vào Trung Quốc, Diêm phủ lại hình thành “sổ khói đen”, trong số này có “sổ họa khói đen”. Trong Dực quynh bề biên, quyển bảy, chương Họa khói đen về sổ họa khói đen như sau:

      Chính điện dùng ngói lưu ly, cao tới tận thiên hà. điện có năm vị thần ngồi hàng ngang, có người mặc áo mũ thời cổ đại, có người mặc trang phục của tại, người ngồi chính giữa có chòm râu dài bạc trắng, khuôn mặt nghiêm nghị của bậc đế vương. Phía dưới bày hàng trăm chiếc chum lớn, bên trong chứa nước đen. Các hồn ma nườm nượp vào, Thẩm Tư hỏi trong chum chứa thứ gì, trả lời: “Là dầu gạo, ở dương gian gọi là khói thuốc phiện. Tất cả những kẻ gây tai họa được lệnh phải uống chút nước này, sau khi nhập thế hễ ngửi thấy mùi là nghiện ngay tức khắc.”

      Tất cả những người chết do tai họa, Diêm phủ đều cho vào quyển sổ riêng, chỉ có điếu người chết quá nhiều, nhập sổ kịp, đành phải thuê người viết từ dương gian. Câu chuyện này được viết với mục đích trào phúng thời thế tại, nhưng từ đó cũng thấy được rằng, con người tìm ra nhận thức chung, chỉ cần có nhu cầu loại sổ sách nào Diêm phủ cũng có thể tạo ra được. Những loại sổ sách được tạo ta cách ngẫu hứng này rất hay xuất trong tiểu thuyết, như trong Viết tiếp Kim Bình Mai có hai loại sổ “nguyên hội kiếp vận” và sổ “chu thiên nhân quả”, từ tên gọi của chúng có thể thấy, chúng thuộc vào loại văn hóa vĩ mô, nằm ngoài năng lực hiểu biết của kẻ tiểu dân.

      Những loại sổ đều được phân loại theo nội dung, còn về mặt hình thức bên ngoài, sổ phủ cũng có phân biệt khác nhau. Nghe sổ phủ được phân ra làm ba loại vải lụa mỏng, lụa dai, và giấy. Ba loại nguyên liệu này được phân theo giá trị đắt rẻ, người được ghi tên trong đó đương nhiên cũng có phân biệt như vậy. Ở đây nội dung quyết định hình thức: quý nhân ghi vào sổ lụa mỏng, tiếp đến ghi vào sổ lụa dai, còn sổ giấy dành cho những thường dân nghèo hèn. Việc phân loại như thế này có tác dụng gì? Suy nghĩ chút là hiểu ra ngay thôi. Trong Di kiên đỉnh chí, quyển hai mươi của Hồng Mại có chương Ô sơn uẩn, ghi lại dịch ôn dịch, đói khát hoành hành liên tục trong thời gian dài tại huyện Tân Kiến, tỉnh Giang Tây vào năm Can Đạo đời vua Tống Hiếu Tông, đó là do ông trời muốn “thu” tất cả người của nơi này. Đầu tiên “thu” hết những người trong sổ giấy, nếu chưa đủ số lượng, tiếp tục thu người thuộc sổ lụa dai, thu được nửa là đạt số lượng cầu, những người trong sổ lụa mỏng đương nhiên bị lấy mạng sống. Tất nhiên, nếu trời có hạ xuống chính sách ưu đãi nào đó, chắc chắn phải bắt đầu từ những người trong sổ lụa mỏng.

      Diêm phủ quản lý sổ phủ, nhưng ở Trung Quốc, từ nhà Tần cho đến triều đại Minh - Thanh, hình thái của Diêm phủ luôn có thay đổi. Như “thổ phủ” được ở phía chỉ là trong những hình thái của nó. Tuy thể chế của nó được truyền lại và kế thừa sang hình thái khác nhưng xét từ danh mục, thời gian tồn tại của chúng rất ngắn, hơn nữa chúng thường biến mất ở thế hệ sau. Nhưng số hình thái Diêm phủ lại có sức sống mãnh liệt, hình thái mới có rồi, nhưng hình thái cũ vẫn chưa biến mất, ví như hình thái Diêm phủ sớm nhất được quy cho Bắc Đẩu tư mệnh quản lý dưới giám sát của Thiên đế, giữa thời Hán Ngụy xuất Thái Sơn phủ quân, thời kỳ Lục triều xuất Diêm La Vương, những hình thái Diêm phủ này lại cùng lúc tồn tại ở thời Đường, gọi là “nhất quốc tam công” [9] có vẻ ổn lắm, nên sau đó được gọi thành “nhất quốc tam chế” [10] nghe có vẻ xác đáng hơn.Vậy sổ phủ lúc bấy giờ cũng được chia làm ba loại, và tất nhiên tin ai sổ phủ của do người đó quản lý. Cũng ví như môn đồ của Nguyên thủy thiên tôn bao giờ đến điểm danh chỗ của thần Jehovah hay thần Allah. Nhưng nếu gặp phải những người có tín ngưỡng, vậy sau khi chết linh hồn của họ phải đối mặt với lựa chọn cuối cùng, nhưng cũng cần phải lo lắng về việc ai thu nhận .

      [9] Nhất quốc tam công: quốc gia ba hoàng đế.

      [10] Nhất quốc tam chế: quốc gia ba chế độ.

      Trong Quảng di ký của Đới Phù có chương Trương Dao kể rằng, Trương Dao rất thích sát sinh, linh hồn của ta sau khi chết được áp tải về chỗ Diêm La Vương. ta nhìn thấy tất cả những con vật mà mình giết tập trung tại sảnh chính của điện Diêm La, tất cả bọn chúng đều kêu oan đòi mạng. Nhưng vị hòa thượng bệnh tật mà khi còn sống ta từng nuôi dưỡng cũng có mặt tại đó, hòa thượng rằng, Trương Dao đọc rất nhiều kinh Phật, phúc nhiều tội ít, vì vậy ta đáng phải chết như thế này. Có phải chết hay chỉ cần nhìn vào sổ sinh tử. Thế là Diêm Vương lệnh cho người tra “sổ tư mệnh”. Quyển sổ này được quản lý bởi đại thần tư mệnh, thuộc hạ của Thiên đế. Tra xong, tên của Trương Dao bị che mất, phải chết, lại lấy quyển sổ thứ hai là “sổ Thái Sơn”, cũng chính là sổ thuộc quyền quản lý của Thái Sơn phủ quân, cái tên đó cũng bị che mất, phải chết, cuối cùng lấy quyển sổ bản các, tức sổ của điện Diêm La, ngờ: “Tên của ngươi bị che nửa, ngươi chưa chết được.” Thế là Trương Dao được thả về dương gian, tiếp tục vùa sát sinh vừa đọc kinh Phật.

      Câu chuyện này có vẻ như “tam giáo sống chung”, trong con mắt của các tín đồ Phật giáo, hai vùng Diêm phủ của tư mệnh và Thái Sơn phủ quân đều tồn tại tính hợp lý, mỗi người đều có sổ phủ ở ba nơi, giống như người mà có trong tay hộ chiếu của ba nước vậy. Nhưng nay ta phạm lỗi rồi, chiếu theo pháp luật của tư mệnh và Thái Sơn ta phải chịu hình phạt xử bắn, nhưng theo luật của Diêm La Vương ta chỉ là tội che được phúc, có tội phải thả ra, vậy ta phải tới đâu để mở phiên tòa đây? tiến hành so sánh giữa ba nhà, ba loại tôn giáo, vậy là dụng tâm của câu chuyện được hé lộ, hóa ra câu chuyện dùng tuyên truyền về sổ phủ làm vũ khí, để mở ra trận chiến chính thức, lôi kéo khách hàng đọc kinh Phật. Kết quả của cuộc đấu tranh này là, đến đời sau, người ta còn nghe thấy có loại sổ tư mệnh hay sổ Thái Sơn nào nữa, từ đó, sổ phủ do mình điện Diêm La lũng đoạn, biết nó còn chính sách ưu đãi như trước kia , lại xem những việc cúng tế, siêu độ vong hồn, lại là hòa thượng và đạo sĩ mỗi người chiếm bên, hóa ra họ liên hợp với nhau để chèn ép dân thường.

      Tất cả những loại sổ phủ đều được xây dựng quan điểm “ thể thay đổi”, tất cả thọ, lộc, công danh của con người đều do thiên mệnh sắp đặt sẵn, khe hở để thay đổi. Thực chất phải như vậy, dưới Diêm phủ cũng có chính sách gọi là “trọng biểu ”, nếu người sống có biểu tốt phúc, lộc, sinh, tử của người đó đều bị ảnh hưởng. Cái gọi là biểu ở đây có các tiêu chuẩn khác nhau, trong đó, mục quan trọng nhất cần phải chú ý đó là “phái tính”. Ví như để hòa thượng ra phán xét, mặc dù tham ô vô độ nhưng chỉ cần thích đọc kinh (đương nhiên phải là kinh của Phật Như Lai), được tăng lộc thọ. Vì thế, trong các câu chuyện do các tín đồ Phật giáo biên soạn, Diêm Vương nhìn thấy linh hồn được bắt về, câu đầu tiên ông ta hỏi là: “Nhà ngươi có đọc kinh ?” Nghiễm nhiên đó là ranh giới giữa người tốt và người xấu, ít nhất người đọc kinh cũng được giảm tội bậc. Xin độc giả đừng nghĩ Diêm Vương là kẻ ngờ nghệch, thực ra ông ta cũng giống chúng ta những năm tháng trước đây, cứ có người tới thành phố là hỏi “xuất thân của cậu thế nào?” mà thôi. Những năm đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, chúng tôi con đường lớn ở trung tâm thành phố này, người nông dân già chiếc xe đạp phanh, chuông đâm vào bà lão khiến bà đứng dậy được. Cảnh sát tới giải quyết, định giữ xe đạp của người nông dân lại, nhưng dù họ có hỏi ta cái gì, ta đều giữ chặt tay lái chiếc xe đạp miệng lặp lặp lại câu: “Tôi là nông dân nghèo”, khiến những người đứng xem xung quanh và cảnh sát đều nhịn được cười. Người nông dân già mặt mày tái nhợt, có lẽ trong bụng cũng thắc mắc: “Mình mình là nông dân nghèo rồi, sao họ vẫn còn muốn truy cứu nhỉ? Người thành phố chẳng hiểu đạo lý gì cả!” Vì thế Diêm Vương hỏi câu: “Ngươi có đọc kinh ?”, chính là muốn xác định xem ta là người nhà hay người ngoài, chứng tỏ tính giác ngộ giai cấp của Diêm phủ vẫn rất cao.

                4


      Sổ sách dưới Diêm phủ nhiều như vậy, tạm thời quản chúng nữa, để có những tài liệu đó, Diêm phủ phải sắp xếp biết bao nhiêu quan sai, mật thám ở dương gian, nếu như muốn ghi chép tất cả những tài liệu đó vào trong các loại sổ sách, e rằng hàng vạn người viết cũng kịp. Nếu cho rằng tất cả mọi thứ ở thế giới ma quỷ đều thần kỳ khó đoán, vậy những tài liệu kia cần có người ghi chép, tự nó lên sổ cách kỳ lạ và khó hiểu, nhưng thực tế đâu có được như vậy. Phía chúng ta tới “sổ họa khói đen”, chẳng phải nhờ người ở dương gian viết giúp đấy sao? Thực ra đây là quy tắc cũ, chỉ cần Diêm phủ bắt nhiều sinh linh dương gian, cũng chính là lúc dương gian gặp nhiều tai họa lớn nhất, số lượng người lo sổ phủ luôn đủ, lúc này cần tìm giúp đỡ từ phía dương gian.

      Tác phẩm Quảng dị ký của Đới Phù có chương Lý Cập, kể rằng Lý Cập bị bắt nhầm xuống Diêm phủ:

      Lý Cập nhìn thấy hàng trăm chiếc xe bò chở thứ gì đó, bèn hỏi viên quan lại, những cái đó để làm gì. Viên lại đáp: “Phía Lộc Sơn tạo phảm, dân thường bị giết nhiều vô kể, hôm nay xe bỏ chở hồ sơ người chết tới đây.” Khi đó Lộc Sơn vẫn chưa xảy ra cố tạo phản, nên Lý Cập hỏi vặn: “Lộc Sơn vẫn chưa tạo phản, làm sao ngài biết?” Viên lại : “ tạo phản ngay thôi.” Rồi Lý Cập lại nhìn thấy hàng trăm người, tất cả đều vội vàng lo xử lý hồ sơ người chết.

      “Hồ sơ người chết” tới ở đây chính là danh sách người sống chuẩn bị bị câu hồn, mấy trăm người vùi đầu vào sao chép danh sách, số sổ sách đó nhiều đến mức cần hàng trăm chiếc xe bò để vận chuyển. Quyển Hữu đài tiên quán bút ký, quyển tám của Du Việt, người đời Thanh ghi:

      Trong nhân gian, mỗi lần gặp tai họa như lũ lụt, hạn hán, binh đao… đều có người nằm mơ thấy dưới Diêm phủ ghi chép sổ sách, nên có lẽ chuyện này là có . Đầu năm Hàm Phong, đám giặc cỏ ở Quảng Đông tạo phản, người ở Hải Diêm nằm mơ thấy mình đến nơi, ở đó văn thư chất cao như núi, mấy chục người cặm cụi viết lách.

      Câu chuyện này chỉ là cuộc chiến tranh giữa Thái Bình Thiên Quốc và chính quyền nhà Thanh khiến rất nhiều người thiệt mạng. Liêu trai chí dị, quyển tám, chương Chiếc quan tài có phần Ngô đường phụ ký kể, trước khi vụ án Thanh Hà bị bại lộ, “liên tiếp có người bị ma ám, rằng Diêm phủ cấp bách làm sổ”, ý chỉ những người chết trong vụ án này rất nhiều nên Diêm phủ gấp gáp làm sổ hồ sơ cho họ. Sau khi làm xong, sổ sách đó được dùng xe chở tới chỗ Diêm Vương và các Phán quan, có thể còn cần thêm mấy trăm người viết thẻ câu hồn. Còn trường hợp cầm sổ đến trường điểm danh mà chúng tôi nhắc tới trước đó lại mang tính chất bán buôn, có thể bỏ qua việc viết thẻ câu hồn.

      Cần phải chút, đó là có sổ sinh tử, sổ ẩm thực, tuổi thọ của con người được hạn định, đến lúc đó chỉ cần đưa số người hết dương thọ có mặt vào tờ danh sách, như thế cũng được rồi. Vậy việc gì phải “làm sổ” nữa? Có lẽ nó được áp dụng theo trình tự của “ngục Hưng Đại” dương gian. Ngục Hưng Đại triều nào cũng có, nhưng hình như cứ cách vài năm mới có lần đủ để thể uy phong của hoàng quyền. nhà ngục được xây lên là hàng trăm, hàng vạn người được đưa vào đó, cho dù số lượng đó chỉ chiếm năm phần trăm tổng dân số nhưng cũng đủ mệt cho bậc làm quan lo xử lý công tác làm sổ, nhưng cũng may dương gian cần làm sổ vẫn có thể bắt giết tùy tiện, sợ làm lỡ việc, cho dù sau này có phát ra sai sót cũng chỉ long ân đại xá cho chút, đưa tất cả những nhân vật tên tuổi viết vào các bản chính văn, liệt vào bậc hùng trung hậu, viết đến mức những tên tuổi đó rất huy hoàng trong cả hai mươi lăm bộ sử của Trung Quốc, còn những người khác là người được các bậc hùng đại diện.

      Thực ra, ngoài những đợt tai họa lớn mấy năm nay xảy ra lần, ngay cả lúc bình thường, việc làm sổ dưới ti vẫn rất tất bật. Chỉ có điều, sổ câu hồn được làm đơn giản hơn, bỗng chốc câu kéo hồn của mấy chục người, mấy trăm người cũng thành vấn đề. Vấn đề ở chỗ Diêm phủ có nhiều loại sổ sách như vậy, đặc biệt là các loại sổ thiện ác, sổ công danh tội lỗi, bình thường cần lượng lớn đặc vụ và thư lại… khó để tưởng tượng ra lượng công việc lớn như vậy. Theo quan điểm trong phần Sổ thổ địa, quyển ba, cuốn Tập di tân sao của Lý Hạc Lâm, người đời Thanh, loại sổ này cần được làm từ chỗ thần Thổ Địa, nhưng thần Thổ Địa thỉnh thoảng cũng bắt người dương gian. Nghe trong miếu thổ địa:

      Hơn chục người ngày đêm ngừng viết lách, theo báo cáo của Táo Quân trong các gia đình, tất cả những điều thiện ác lớn đều được thông báo từng ngày, từng giờ, ngay cả những điều xảy ra trong lúc ăn, lúc uống, thậm chí ngay cả những lời thủ thỉ trong màn, tất cả đều được ghi lại thiếu từ.

      Phạm vi cai quản của thần Thổ Địa có thể tương đương với ủy ban khu dân cư hoặc cảnh sát phường. Ông ta lại đặt tai mắt ở từng nhà dân , các vị Táo Quân ngày ngày đến thông báo những công to việc , sót thứ gì. Nếu dùng những quyển sổ này để ghi chép lại biết kiếm nơi nào để chất cho hết chỗ sổ sách, nhưng phí hỗ trợ công tác lại tương đối khả quan.

      Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những việc , thư lại vất vả cực nhọc, chí ít cũng chỉ đến mức “cổ tay” rã rời, thực vất vả phải là những biệt phái viên ở dưới làm công tác thu thập thông tin tình báo. Chỉ riêng ghi chép việc “xem sách khi đại tiện”, họ phải “bám sát” các nhà vệ sinh, đối với Táo Quân, ông làm việc trong nhà dân, mấy nhân khẩu trong nhà vệ sinh lúc nào Táo Quân nắm mồn , vì thề ông cần làm chiếc “hố xí lá” nữa, ông chỉ cần để ý chút là xong. Nhưng đáng thương là những đặc vụ ngồi trong các nhà vệ sinh công cộng, đặc biệt là nhà vệ sinh ở các thành phố sầm uất, các cơ quan, trường học, người nhiều phức tạp cần , cái chính là mùi ở những nơi đó khiến càng cảm thấy khó chịu, nên công việc thu thập tình báo này thực rất vất vả, ít nhất người thường như chúng ta thể chịu đựng được trong mấy phút. Chắc chắn ít quỷ mật thám oán hận luật “cấm mang sách vào nhà xí” nhiều chuyện, họ nhớ nhung những ngày tháng thái bình khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi, ai lẩm bẩm sách thơ là bị chặt đầu, nhưng chắc chắn cũng có người ham vui mà thấy mệt bao giờ. Viết vẽ đến đây, rồi chịu được cũng phải lệch dòng vẹo chữ.

      Đương nhiên vẫn chưa có kẻ ngu ngốc bám sát đến cùng chỉ để ghi chép việc “xem sách khi vệ sinh”, nhưng những việc tương tự cũng phải có, đó là để có được những thông tin tình báo quan trọng hơn. cậu học sinh bị theo dõi vừa từ nhà vệ sinh ra, lập tức có đôi chăm chú nhìn người bạn học khác của cậu ta vào, cậu ta lần tìm trang giấy dùng qua trong cuộn giấy cầm tay, nghiên cứu chút xem tờ giấy đó viết gì. Bởi hồi đó, sinh viên nghèo vệ sinh chỉ dùng giấy nháp viết chữ, còn những chỗ trống tờ giấy nháp cũng được dùng để luyện chữ, việc này có khả năng vô tình tiết lộ ra điều gì đó. Ngày này qua ngày khác. Cũng phải những vất vả như vậy nhận được thành quả. Nghe sau này phòng cất giữ hồ sơ của khoa chúng tôi phát ra bao “tài liệu” được cất giấu rất kỹ càng, sau khi tháo bỏ liên tiếp mấy lớp giấy, cuối cùng bên trong là chiếc khăn tay giấy bên có viết chữ. Tôi thường nghĩ, ông trời nếu giáng xuống trần gian những nhân tài bất đắc dĩ, có những sinh viên thường ngày phân biệt được đâu là tân ngữ đâu là bổ ngữ, khi gặp phải những việc có gian tế như thế này, học lại có linh cảm sắc xảo, có thể đưa ra những phương án rất kỳ diệu.

      Khăn giấy trở thành thông tin tình báo, việc này phải có khả năng xảy ra. Nếu đối phương là đặc vụ Tưởng của quân Mỹ, có lẽ chiếc khăn giấy này có thể tiết lộ vụ án lớn kinh thiên động địa như các vụ án phản Đảng phản quốc, vậy việc này còn có trở thành đề tài để các cây viết sắc xảo phát triển thành bài văn hay, biên soạn vào sách giáo khoa trung học. Thử nghĩ mà xem, hằng ngày cậu sinh viên bị theo dõi này đều thầm nghiên cứu, kiểm tra, nhận biết mọi thứ, cậu ta làm việc chăm chú, quên mình, mà người này thực ra lại trung hậu đến mức đọc hiểu những ám hiệu của bọn phản cách mạng, vì thế chỉ có thể đưa cậu ta đến chỗ lãnh đạo chờ định đoạt, và rồi bàn làm việc của lãnh đạo có bày hàng đống các loại giấy tờ như vậy, do các nhà chơi trò đầu tranh giai cấp với khứu giác siêu phàm nghiên cứu, phân tích từng chữ, từng câu , cuối cùng lựa chọn được ra tờ giấy này. Cả quá trình khiến người ta cảm động! Chỉ đáng tiếc, tờ giấy ăn đó hề để lộ ra những thông tin kinh thiên động địa của bất kỳ vụ trọng án nào, vì nó chỉ tạm thời phải nằm trong phòng hồ sơ, chờ đợi các thông tin tình báo khác có được sau này, sau đó gắn lại thành án, lúc đó mới thực việc mưu sát cả cuộc đời người thanh niên kia.

      Tôi ghi chép những điều này, để độc giả biết được rằng chúng tôi từng sống trong thời đại như vậy, từng tự hào được làm việc dơ bẩn như vậy. Những người chủ trì công tác đó nay cũng bảy, tám mươi tuổi, có lẽ cũng sắp đến lúc “để nhớ lại chuyện xưa” như Ostrovsky , vậy các bạn có nên nghiêm túc kiểm điểm mình khi nghĩ lại những việc trong quá khứ, quốc gia và nhân dân giao con cái của họ cho các , hy vọng các đào tạo chúng trở thành những nhân tài có ích cho đất nước, còn các - những “giáo viên”, các làm những gì? Các huấn luyện số người trở thành mật thám, để lợi dụng họ tìm cách cho số người khác trở thành kẻ thù giai cấp, từ đó dạy dỗ đa số sinh viên còn lại thành những người dân ngoan ngoãn mất khả năng tư duy, đó là nghiệp mà các từng thề cống hiến “cả tính mạng và toàn bộ tinh lực của mình” cho nó ư? Hoặc đó chỉ vì muốn nhuộm đỏ chiếc mũ đầu và thỏa mãn việc vận dụng những biến thái tinh thần, căn cứ theo nhu cầu các có thể tùy lúc chi phối điên đảo thủ đoạn xu thời?

      Sau thời kỳ cải cách văn học, nghe những thứ trong túi hồ sơ được thanh lý nhiều, những tài liệu mật giả tạo để vu cáo kia cũng bị tiêu hủy. Lúc đó, lòng người thảnh thơi, nhưng sau đó nghĩ lại tránh khỏi cảm giác lỗ mãng, thực ra nên lưu lại chút chứng cứ mang tính đại diện hơn. Bởi chúng chỉ chứng thực rằng con người có thể đê tiện đến mức độ nào, mà còn ghi lại hy sinh xương máu của biết bao người vô tội do đê tiện đó gây ra.


    4. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793
      Chương 15: Xác chết sống lại - đọc thuyết cương


      Trong tác phẩm Thuyết cương, tôi từng dẫn chứng Kỳ Quân và Chu Tác Nhân, xác chết di động có hai loại. Trong chương trước mới chỉ về loại thứ hai, chưa loại thứ nhất, tức “người mới chết chưa liệm, bỗng nhiên bật dậy tóm lấy người”, Liêu trai chí dị gọi đó là “xác chết sống lại”.

      Xác chết sống lại trong Liêu trai chí dị thực ra chính là “sạ thi” mà người miền Bắc Trung Quốc thường . cách chung chung, xác chết di động chính là thể dị biến của thi thể người vừa mới chết, nó vốn là tên gọi chung của mấy loại “ tượng”, “sạ thi” chỉ là loại trong số đó. cụ thể hơn, xác chết di động nên chia làm hai loại, loại hung (xấu), xác chết lại, nhảy múa… loại cát (tốt), thi thể người chết bỗng tỏa ra mùi thơm kỳ lạ hoặc cơ thể mềm ra chứ cứng đơ. Những xác chết di động “cát - tốt”, tức khi sống sắc mặt vàng vọt, lúc này bỗng trở nên hồng hào lạ thường, nhưng cũng thể đặt ở đó cho mọi người tới tham quan được, cuối cùng vẫn phải đưa mai táng. Quả loại xác chết này cũng hấp dẫn. Vì thế, ở đây tôi chỉ về loại xác chết di động mà mọi người hứng thú hơn, đó tất nhiên là loại xác hung rồi.

                1


      Miền Bắc trong giai đoạn gần đây, là gần đây nhưng thực chất cũng cách thời điểm tại đến bốn, năm chục năm rồi, mỗi lần có việc tang, thế hệ người già, đặc biệt là những cụ già làm nghề “khiêng đòn” trong đám tang, họ ngồi lại với nhau bàn về những quy định trong tang lễ, và ở đó thể nhắc tới “xác chết sống lại”, ý để chỉ phải đề phòng nếu xảy ra, nhưng lũ trẻ con chúng tôi lại đón nghe chúng như những câu chuyện ma. Đại khái là có người chết nhưng chưa liệm, thi thể được đặt linh sàng (đối với các gia đình bình thường linh sàng cũng chỉ là tấm gỗ được mua với giá hai tệ hoặc đôi khi chỉ là tấm cưa gỗ), thi thoảng vì nguyên nhân nào đó mà xác chết bỗng nhiên đứng bật dậy, hơn nữa có trường hợp còn lao về phía người sống. Thế là cần có số điều cấm kỵ, liên quan đến nguyên nhân mà xác chết sống lại được. Có người đó là do lôi chấn, tia điện tử sấm sét truyền qua xác chết, có người lại đó là cảm ứng của chó và mèo, cụ thể là nếu có chó nằm dưới xác chết, mà phía lại có con mèo nhảy qua xác chết, gây ra tượng hai luồng khí dương giao nhau qua xác chết. Có lẽ còn có những nguyên nhân khác, đáng tiếc các cụ còn nhớ rõ được. Tóm lại, đó là sự phát huy “của hai luồng năng lượng giữa thần và quỷ”, kết quả dẫn tới xác chết xảy ra sự biến dị, bỗng nhiên có thể hoạt động, thậm chí ngồi dậy, nhảy xuống, thậm chí còn đuổi theo người sống. Người sống nên sỡ hãi khi thấy xác chết cử động, bởi phần đầu của xác chết đã bị cương cứng, thể hoạt động được nữa, vì thế, nếu gặp phải trường hợp này bạn chỉ cần vòng, như vậy xác chết sẽ bị mất mục tiêu, hoặc bạn cũng có thể tránh vào phía sau những đồ dùng gia ̀nh như bàn ghế, như vậy xác chết sẽ bị kẹt ở một bên, chỉ có thể ở một chỗ cử động mà thôi. Nhưng trò chơi đuổi bắt hay đứng đối diện với xác chết mà nhìn nhau như vậy cũng có gì thú vị, vì thế cách tốt nhất là “xử lý” nó. Nếu gan bạn lớn, có thể dùng một chiếc gậy, linh nghiệm nhất là dùng một cán chổi hạ gục nó, khi đã bị ngã gục xuống thì nó thể đứng dậy được nữa, lúc đó nó cứng đờ mặt đất, sự việc coi như đã được xử lý xong [1] .

      [1] Khi đối phó với xác chết di động, cái khiến người ta khâm phục nhất chính là sự dũng cảm, to gan của người đó, nghe nói đó là sự việc xảy ra tại trường đại học Sơn Đông vào thời Dân Quốc. Một sinh viên bị bệnh rồi chết đột ngột, do người nhà chưa tới, nên xác của cậu sinh viên đó chưa được liệm, bốn người bạn học thay nhau trông chừng linh cữu của cậu. Nửa đêm, bốn người bạn chơi mạt chược để giết thời gian, người ngồi quay lưng lại với xác chết muốn hút thuốc mà có diêm. Một sinh viên nói, linh sàng (giường đặt xác chết) có diêm. Cậu sinh viên kia lấy diêm châm thuốc, rồi lại ngồi về vị trí cũ. Bỗng xác chết kia ngồi dậy, đứng ngay phía sau cậu sinh viên hút thuốc. Cậu sinh viên ngồi đối diện nhìn thấy, vội hô lớn: “Xác chết sống lại rồi, cậu đừng động đậy!” Nói rồi cậu ta bảo hai người bạn ngồi bên trái và bên phải nhấc chiếc bàn lên để người kia chui xuống gầm bàn sang phía bên này, rồi lại đặt bàn xuống, còn xác chết kia đã ngã rạp mặt bàn.

      Các cụ già truyền lại cho chúng tôi những câu chuyện ma này, đó cũng là những kinh nghiệm cuộc đời của họ, làm chúng tôi chú ý khi trông coi linh cữu người ta được cho chó mèo vào linh đường, nhỡ đâu cẩn thận, khi xuất hiện xác chết sống lại cũng còn có kế sách ứng phó. Nhưng việc này giống như thuật bắt rồng vậy, ngàn năm mới có một cơ hội để thực hiện, mà nếu gặp phải rồi, thì lại biết có linh nghiệm hay . Khi các bậc đại sư huynh Nghĩa Hòa Đoàn phò Thanh phản Dương (Tây phương), đã từng đem thủ thuật đó truyền lại cho nhân dân, dùng nó để đối phó với liên quân tám nước, nào ngờ, cái thể cử động được chỉ là viên đạn của súng tây, còn đám quỷ tây dương kia vẫn biết quay người di chuyển.

      Trong dân gian truyền lại, những xác chết sống lại đa phần đều đã mất ý thức, còn trong các câu chuyện ma, chúng lại trở thành những con quỷ quấy nhiễu cuộc sống của con người. Trong đó đáng sợ nhất phải thuộc về chương Xác chết sống lại trong Liêu trai. Nhưng chương này hình như phải của Bồ Tùng Linh, mà nó là câu chuyện trong dân gian, bởi những câu chuyện với các tình tiết tương tự đã xuất hiện ít trong những tác phẩm bút ký khác, ví như chương Xác chết bật dậy trong Đàm thị bút thừa - U minh của Đàm Thiên, người đời Minh: “Huyện Lạc Xuyên có một người nọ qua đời, họ hàng trông coi linh cữu qua đêm, từng người luân phiên ngủ. Bỗng nhiên xác chết bật dậy, hít dương khí từ miệng người canh. Người này sợ hãi chạy vào nhà trong, xác chết chạy theo, xác chết và người kia cách nhau một cánh cửa. Sáng sớm tất cả mọi người tập trung lại, tạt máu chó vào xác chết, xác chết ngã rạp xuống, chưa đầy một tháng sau, người bị xác chết hít dương khí từ miệng cũng qua đời.” Đây có thể là phiên bản gốc mà Bồ Tùng Linh dựa theo, tuy ông chuyển việc hít dương khí thành thổi khí cho người sống, nhưng đạo lý khắc dương là như nhau. Muộn hơn so với Bồ Tùng Linh là Dung Nột, cư sĩ với tác phẩm Chỉ văn lục, trong đó, ở quyển ba có chương Âu Dương Giả lại một lần nữa mang đến cho người đọc những nội dung cũ rích, chỉ là ngoài thổi khí vào người sống, người đó sẽ chết, mà còn bị xác chết cắn vào đầu, sau đó hút mất não. Chi tiết này được pha trộn từ tình tiết “la sát mỵ” trong những câu chuyện bút ký thời Đường. Rồi cuối cùng là chi tiết xác chết đuổi người cũng có chút khác biệt, trong Liêu trai, xác chết sau khi nghe thấy tiếng gà kêu sẽ tự ôm gỗ mà chết thực sự, còn trong Chỉ văn lục nó được sửa thành khi xác chết gặp một ông lão râu tóc bạc phơ đưa tay chỉ vào xác chết, xác chết lập tức quay đầu chạy trở về. Tự nhiên lại xuất hiện một lão thần tiên cứu mạng, những sợ hãi như trong Liêu trai mà cách chiến đấu giữa thần tiên và xác chết sống lại cũng thật buồn cười.

      Rất rõ ràng, nguyên nhân tâm lý khi sáng tác những câu chuyện ma quỷ chính là sự kinh hãi của bản than đối với xác chết. Một xác chết chắn ngang đường , dù ta có là Nhiếp Chính hay Đậu Nga cũng đều khiến người thường cảm thấy kinh hãi, đặc biệt là lúc đêm hôm vắng vẻ. Nhưng xác chết sống lại cũng hoàn toàn là những điều bịa đặt vô căn cứ. Người sau khi chết, xác được đặt giường, do cơ thịt và các dây thần kinh xuất hiện sự co giật, nghiêm trọng hơn có thể xuất hiện những động tác nhỏ như “cử động ngón chân ngón tay”, những chuyện này là có thực.

      Tôi đã từng hỏi một cụ già làm nghề “khiêng đòn” đã mấy chục năm, rốt cuộc ông đã gặp trường hợp xác chết sống lại nào chưa. Ông nói chưa, nhưng có một lần, khi ông và người nhà của người chết trông linh cữu, thấy cánh tay của người chết bỗng nhiên co giật một cái, vị người nhà kia lập tức sợ hãi, chuẩn bị sẵn tư thế để chạy thật nhanh bất cứ lúc nào. Ông vội thì thầm: “Các đừng vội chạy, ai chạy càng nhanh thì nó càng đuổi theo người đó.” Một hiện tượng khác tương tự được ghi sách ̉, gần nhất là Quân lang ngẫu bút, quyển hạ của Tống Lạc, người đời Thanh, viết: “Giả Tĩnh Tử tiên sinh chết giường, rất nhiều người đến khóc ông, thấy tay tiên sinh khẽ động đậy vài lần, như muốn nói lời cảm ơn họ.” Càng thực tế hơn là trường hợp “xác chết sống lại” của hoàng đế Tống Tông, Cường Chí, người Bắc Tống có viết Hàn trung hiến công di sự, trong đó từng ghi lại sự việc này:

      Tống Tông vừa mới băng hà, người ta vội vã triệu Thái tử tới (Tống Thần Tông là Thái tử lúc bấy giờ). Người chưa kịp tới, tay Tông khẽ động đậy. Thầy tu (Tăng Công Lượng) thấy kinh ngạc, vội vàng bảo Hàn Kỳ ngăn việc triệu Thái tử đến. Hàn Kỳ đồng ý mà rằng: “Tiên đế sống lại, thì vẫn là Thái thượng hoàng.” Sau đó giục người cho gọi Thái tử tới.

      Cường Chí từng vào thăm phủ mộ của Hàn Kỳ, việc này là việc lớn, ai dám bịa đặt linh tinh, vì thế sự việc này đã được Từ Can Học, người đời Thanh ghi chép vào Tư trị thông giám hậu biên. Xem ra xác chết sống lại cũng chỉ có vậy, xin nói một câu xin lỗi tới Lão Thao, nó na ná với món “cá sống chua ngọt”, chạm vào mang thì đuôi động đậy mà thôi, chứ nó thể ngoe nguẩy bơi trong nước được nữa rồi. Ví von như vậy cũng có gì là bất kính đối với những xác chết tác oai tác quái, nhưng lại thể để các bậc Vạn tuế gia biết được. Nếu những nhân vật đế vương có hứng thú “làm thực nghiệm” thì đó mới là đáng sợ nhất, có người từng chặt cẳng chân của con người để nghiên cứu tủy xương như thế nào, có người mổ bụng phụ nữ mang thai để nghiên cứu về phôi thai, nếu các bậc đế vương muốn cảm nhận sự giãy giụa của con cá sốt chua ngọt, từ đó liên tưởng đến việc người sống chưa thử thì chưa thể sốt chua ngọt đoýc, vậy chẳng phải là hỏng bét sao? Cái hỏng ở đây chỉ là ở nỗi đau và cái chết của người bị đem ra làm thí nghiệm, mà nó còn hỏng hơn nữa nếu thí nghiệm thành công, sau khi thử nghiệm ông ta có thể lại nhảy ra từ trong quan tài. Hàn Ngụy Công nói rất nhẹ nhàng: “Dù có sống lại thì cũng chỉ có thể để ngài làm Thái thượng hoàng”. Chỉ dựa vào câu nói này ông ta có thể bị chu di cửu tộc, nếu hoàng thượng nhảy ra từ trong quan tài, chỉ cho ông ta làm Thái thượng hoàng liệu ông ta có chịu ? Vì thế kết quả chỉ có thể là, nếu muốn xác chết này sống lại, hãy lấy một cán chổi cán ông ta trở lại vị trí cũ.

                2


      Những ghi chép nói về xác chết sống lại ta đã bắt gặp rất nhiều. Có người cho rằng xác chết sống lại được ghi lại sớm nhất là trong Sử ký - khốc lại liệt truyện: “Y Tề là người tàn tác nhưng thanh liêm, khi còn sống ông đảm nhiệm chức Đô úy Hoắc Dương, ra tay rất nặng với bọn cường hào ̣a phương, đã từng giết ít người trong số chúng. Ông qua đời tại nơi mình nhậm chức, tất cả những kẻ thù của ông đều muốn thiêu cháy xác ông, nhưng xác ông đã chạy trốn khỏi nơi an táng.” Một cách nói khác, sau khi Y Tề chết, ông biết rõ kẻ thù sẽ bỏ qua cho mình, nên “sợ kẻ thù tới đốt, nên xác ông đã bay .” Từ Hoắc Dương, An Huy đến quê nhà Trang Bình, Sơn Đông cách nhau mấy trăm dặm, dù là bay hay thì xác chết cũng đều khiến người khác thấy sợ. Nhưng tôi đoán rằng, chân tướng sự việc chẳng qua chỉ là Y Tề đoán được sau khi mình chết sẽ bị báo thù, nên ông đã căn dặn người than của mình trước, kẻ thù chưa kịp ra tay thì xác ông đã được nhanh chóng chuyển về quê nhà. Nhưng sự việc một khi đã bị lan truyền thì nó đã trở thành câu chuyện đầu tiên ghi chép về xác chết di động. Nếu xác chết của Y Tề thực sự có thể nhảy ra từ trong quan tài, vậy chẳng phải “Gia Cát đã chết vẫn đánh đuổi được Trọng Đạt sống” sao? Kẻ thù có dọa thì bản thân cũng đã chết rồi, hà tất phải chạy trốn về quê làm gì? [2]

      [2] Tác phẩm Nhật tri lục của ́ ̀nh Lâm tiên sinh là một trong số những tác phẩm kinh điển được nhiều người thích, nhưng những đoạn cãi bừa của ông cũng rất gây cười. Trong truyện Hỏa táng, để chứng minh quan điểm cho rằng hỏa táng là vô nhân đạo của mình, ông một mực cho rằng Y Tề tuy chết rồi nhưng vẫn rất linh, khi nghe kẻ thù nói muốn đốt xác ông, đã khiến ông sợ hãi mà bay mất.

      Nhưng ngoài chính sử ra, những câu chuyện ghi chép về xác chết sống lại thực sự nhiều, hơn nữa, nếu có cũng thường được viết với những tình tiết khác nhau. Dưới đây tôi xin giới thiệu vài loại dựa theo mức độ nghiêm trọng khác nhau của chúng.

      Một loại là xác chết bỗng nhiên bật dậy linh sàng, ngồi đơ ở đó, có cử động nào khác. Trong Di Kiên chi đinh của Hồng Mại, quyển hai có chương An thiếp Nhu nô, viết: “Nhu nô mắc bệnh phù thũng, người ta mời hòa thượng tới làm pháp sự. Pháp sự vừa mới bắt đầu, xác chết bỗng nhiên ngồi dậy. Mọi người thấy vậy, sợ hãi chạy toán loạn, chỉ riêng lão hòa thượng vẫn một mình đứng đó. Hòa thượng nói: “Đây là xác chết sống lại, sao phải sợ hãi như vậy?” Hòa thượng đưa chân đạp đổ xác chết xuống, rồi nhanh chóng khiêng xác bà cho vào trong quan tài, mọi chuyện thế là xong.” Vai xác chết được hoán đổi rất nhanh, lúc nằm giường thì vẫn được mọi người thương cảm, khóc thương, nhưng khi ngồi dậy lại khiến người ta sợ hãi, chịu một đòn nặng tay là lập tức ngoan ngoãn trở lại. Nhưng thực tế chưa chắc đã có chuyện như vậy. Theo chương Thi quệ trong Đàm thị bút thừa - U minh đã nói ở phía trước, “thi quệ” chỉ là một cách gọi khác của “sạ thi”. Thông thường, sau khi ngồi ậy, xác chết sẽ nhảy xuống đất. Nhưng bà Di hề làm tất cả những động tác đó, tưởng tượng thần thái lúc đó, hình như xác chết vừa bừng tỉnh sau một giấc mộng dài, băn khoăn hiểu tại sao mình lại nằm đây. Nếu ta bạo gan có thể suy luận rằng, đó là một dạng tỉnh lại sau cái “chết giả”. ngờ bà ta tỉnh dậy đúng lúc, bị lão hòa thượng mắc bệnh chủ nghĩa kinh nghiệm nhận nhầm là xác chết sống lại, một cước đạp thẳng xuống, khiến bà Di chết thật.

      Một loại là “xác trương”, tức thi thể trương phềnh bình thường. Di Kiên chi đinh, quyển một có chương Vương đại khanh, nói tri phủ huyện Bình Giang Vương Quý Đức, vào cung mới được một tháng thì đột tử. “Các quan trong cung hợp sức lo tang lễ, lúc sắp nhập liệm, thi thể bỗng nhiên trương phềnh, thể nhét vừa quan tài.” Mãi đến khi chiếc quan tài mà bị tri huyện này đã chuẩn bị từ trước được đưa tới, thi thể mới hồi phục lại nguyên dạng. Hóa ra người chết cũng giống như một số người ngủ phải kén chọn giường, quan tài của người khác khiến ông ta thoải mái. Đương nhiên cũng có thể bổ sung khi đọc lời truy điệu, xem ra vị quan tri huyện này muốn nhân thể chiếm lợi bất chính từ công quỹ, vì thế mới xảy ra trường hợp đặc biệt này, từ đó tạo tấm gương lớn cho tất cả các cán bộ của chúng ta. Nhưng theo chương Tiết lục sự ngư phục chứng tiên, quyển hai mươi sáu, cuốn Tỉnh thế tuyên ngôn, loại xác trương phềnh này dường như phải hiện tượng gì đặc biệt:

      Chỉ thấy người ta thường nói: “Thời tiết tháng Bảy nắng nóng, nếu nghe thấy một tiếng sấm, xác chết lập tức trương phềnh, như thế làm sao mà nhét vào quan tài được?

      Quyển một, cuốn Ngũ tạp trợ của Tạ Triệu Chế, người thời Minh nói:

      “Phong tục thông” có ghi: “Nổi sấm thì đậy hũ tương”, tiếng sấm phát ra từ vùng khí, các vật trong trạng thái co rút, nếu chạm vào nó, vật sẽ xuất hiện sự biến đổi. Ngày nay người mới chết nếu chưa được liệm, nghe thấy tiếng sấm, thi thể lập tức trương phềnh.

      “Nổi sấm thì đậy hũ tương” hay còn nói “có sấm thì làm tương”, có rất nhiều cách giải thích, nhưng tôi cho rằng, cách giải thích của Tạ Triệu Chế khá hợp lý, tiếng sấm vừa nổi, tương trong hũ sẽ trương lên (chính là lúc tương lên men), phải bỏ nắp đậy hũ tương ra. Nhưng nếu nói xác chết và hũ tương giống nhau trong trường hợp này lâu dần cũng khiến người ta phục, hơn nữa sợ rằng nếu sấm nổ liên hồi thì xác chết kia sẽ trương đến mức vỡ quan tài ra sao? Thôi kệ, tóm lại, trong dân gian vốn đã quen với cách nói nghe tiếng sấm, xác trương phềnh, nó thuộc vào loại hiện tượng tự nhiên, nên cũng cần bới móc nhiều.

      Một loại xác khác là “xác nhảy múa”, xác chết nhảy múa, uốn lượn theo tiếng nhạc. Sự việc này chỉ thấy trong quyển mười ba, cuốn Dậu dương tạp trở của Đoạn Thành Thức, người thời Đường:

      Ở Hà Bắc, vợ của một trưởng thôn vừa mất, chưa liệm. Cuối ngày, con cái bà ta bỗng có cảm giác có tiếng nhạc càng lúc càng gần, khi tiếng nhạc đến phía gian nhà chính, xác chết bỗng cử động. Tiếng nhạc vào trong phòng, chỗ giữa hai chiếc ̣t nhà, xác chết liền đứng lên nhảy múa. Tiếng nhạc lặp lại rồi ra ngoài, xác chết cũng múa lượn theo ra cửa, cứ thế, tiếng nhạc tới đâu, xác chết tới đó. Người nhà thấy vậy vô cùng kinh sợ. Đến khi đêm khuya, trăng đã lên, họ dám tìm xác người chết nữa. Canh một, trưởng thôn trở về, sau khi biết chuyện, ông chặt một cành dâu to bằng cánh tay, mang theo chai rượu tìm, vừa tìm ông vừa quát mắng. Khi đến một khu nghĩa ̣a cách nhà khoảng năm, sáu dặm, ông nghe thấy tiếng nhạc ở phía một cây bách. Trưởng thôn tiến gần đến chỗ cây đó, dưới cây lửa cháy bập bùng, ông giơ gậy dâu lên tấn công, xác chết ngã xuống, tiếng nhạc cũng tắt theo. Trưởng thôn vác xác vợ trở về nhà.

      Tôi thấy câu chuyện này khá thú vị. Rất nhiều câu chuyện tương truyền về thần tiên đều có nhắc đến một người tu đạo nào đó. Khi người này chết, người khác nghe thấy tiếng nhạc, gọi đó là nhạc tiên, người ta nói tiếng nhạc đó do thần tiên trời phái đội danh dự đến đón người chết về trời. Nhưng vợ của trưởng thôn ở đây chưa từng đọc truyện tiên, hiểu trình tự của việc “áp giải xác chết”, vừa nghe thấy tiếng nhạc liền hưng phấn quá mức, linh hồn chưa được giải thoát đã nhảy múa tưng bừng, kết quả là trong nháy mắt từ tiên nhân biến thành nghiệt, cuối cùng phải chịu một gậy trời giáng mới ngoan ngoãn để người chồng vác về nhà. Nhưng từ câu chuyện này ta có thể thấy, vị trưởng thôn kia rất thật thà, rất tốt bụng. Nếu khéo léo một chút, chỉ cần kể nửa trước (khi đội nhạc tiên đến đón), thì đó sẽ là cái lộc trời ban, cả phủ huyện, thậm chí cả triều ̀nh sẽ phong vợ ông trưởng thôn làm nhân vật làm cả Đại Đường phải cảm kích, và trong Thần tiên thông giám, tỉnh Hà Bắc sẽ có thêm một vị tiên .

      Một loại xác chết sống lại khác, đương nhiên bản thân nó có hại cho ai, nó là loại xác chết tuân theo quy tắc, nó báo cáo với ai mà đã rời khỏi nơi mà nó nên ngoan ngoãn ở đó. Điều này đương nhiên là đúng, bởi nó thật đáng sợ. Mộng xưởng tạp trứ của Du Giao, người Thanh, quyển tám có phần Xác chết sống lại kể rằng:

      Tôn Bích Cửu giữ chức phó quận. Một đêm thu, ông xách đèn lồng chơi trò ú tìm ở chân núi Ngọa Long. Bỗng nhiên một luồng gió lạnh thổi tắt ngọn nến trong đèn, ông nhìn phía xa xa bên bìa rừng có ánh lửa như hình con đom đóm, liền tới đó. Thấy một ngôi nhà đất có hai ̣t chống, cánh cửa gỗ khép hờ, thấy thế ông giả vờ là người đường vào xin lửa, nhưng gọi mấy câu mà thấy ai đáp lời, ông liền bước vào nhà. Bên trong có ai, ông nhóm xin ít lửa rồi bước ra. Khi ra đến ngoài, ông nhìn thấy một người đàn ông đứng thẳng sau cánh cửa, ông Tôn bèn cười nói: “Huynh ở nhà, sao ta hỏi thấy huynh lên tiếng?” Ông Tôn đưa nến lên soi, đầu tóc người này rối bù, mắt hơi nhắm, miệng mở hoác, mặt trắng bệch, đây chắc chắn là một xác người vừa chết. Ông Tôn sợ dựng tóc gáy, cuống cuồng chạy như bay về nhà. Ngày hôm sau, ông thăm dò về ngôi nhà đó thì được biết đó là nhà của một người bán rau, chỉ có vợ, con cái, sau khi ông ta chết, vợ ra ngoài mua đồ về liệm. Xác chết làm thế nào lại đứng nấp sau vửa, đó là điều chưa ai giải thích được.

      Thực ra chẳng có gì là “ giải thích được”. Tôn Bích Cửu thích chơi trò ú tim, đã làm cán bộ cỡ trung ở phủ nha rồi mà nửa đêm vẫn xách đèn lồng chơi, vừa khéo gặp người đàn ông vừa chết cũng có nhã hứng với trò chơi này, mượn câu nói của Triệu Bản Sơn thì đây cũng chỉ là là “thực ra tôi cũng thích giấu mèo” mà thôi.

      Đáng sợ hơn tất cả đó là “xác chết lại” hoặc “xác chết lao chạy”. Một cách nói tế nhị hơn là “tẩu ảnh”, hậu quả của nó vô cùng nghiêm trọng, bởi cái “chạy” của nó lại lấy người sống làm mục tiêu. Trong Liêu trai có chương Xác chết sống lại chính là một ví dụ điển hình.

    5. CQH

      CQH ^^!

      Bài viết:
      192
      Được thích:
      41,793

                3


      Xác chết xuất hiện hiện tượng dị biến, một thân sĩ, một gái tốt bụng bỗng chốc có thể trở thành một con quỷ chuyên gây hại, thậm chí nó có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng, vậy trách nhiệm này nên thuộc về ai? Tuy thường ngày mọi người đều tin thần tin quỷ, nhưng đến lúc này lại nhận ̣nh “người chết vô tri”, thể chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Vậy thì sẽ giống như đối xử với những kẻ mắc bệnh thần kinh, người ta sẽ chỉ trích người nhà của người chết lơ là trông coi, như vậy quả hợp tình hợp lý, vốn dĩ người chết phải ngoan ngoãn nằm ở nhà, và chắc chắn thể dùng dây thừng ̣t người ta lại được. (Cách này phải thể thực hiện, nghe nói ngày xưa người phương Bắc cũng có tập tục “dùng dây thừng buộc chân” người chết khi mai táng, đó là khi người chết được đặt lên linh sàng thì dùng thừng buộc hai chân lại.) Vì thế, khi mong muốn một việc xảy ra, người ta cần tìm một số nguyên do, vừa phải giúp người chết thoát khỏi trách nhiệm, vừa phải bảo vệ danh dự của người chết, Trung Quốc từ trước tới nay thiếu những nhân tài như vậy, và thế là họ sáng tạo ra vô số những quan điểm, trong đó có ảnh hưởng lớn nhất là cách nói “quỷ mượn xác người”.

      Loại xác chết di động thông thường sẽ đuổi theo người sống một cách vô thức, nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, chúng còn gây ra những việc khác nữa, ví như những việc trai gái trăng hoa chẳng hạn. Trong Phong tục thông nghĩa của Niên Ứng Thiệu, cuối thời Đông Hán có ghi lại một loại xác chết di động như sau: “Trạm dịch ở cửa Tây huyện Nhữ Dương, quận Nhữ Nam thường xuyên có ma, khách phương xa ngang qua ghé vào ở lại đa phần đều tử vong, hoặc nếu chết cũng bị cắt mất tóc, sau đó trở thành kẻ tâm thần. Trong quận có một viên quan nhỏ tên là Trịnh Kỳ Hưu, hôm đó đánh xe ra ngoài làm công vụ. đến đoạn cách trạm dịch khoảng sáu bảy dặm, ta gặp một người phụ nữ xin nhờ xe. Trình Kỳ Hưu giả vờ suy nghĩ trong giây lát rồi để người phụ nữ lên xe. đến trạm dịch, ta ̣nh dắt người phụ nữ lên gác qua đêm ở đó. Tên lính canh nói gác rất độc, thể lên. Nhưng Trịnh Kỳ Hưu nghe, khăng khăng đòi lên đó. Đêm hôm đó, Trịnh Kỳ Hưu đã có một đêm mây mưa vui vẻ với người phụ nữ xinh đẹp. Trời chưa sáng, Trịnh Kỳ Hưu lại phải lên đường, đến khi người của trạm dịch lên gác quét dọn, chỉ thấy xác một người phụ nữ nằm ở đó, người này bèn vội vã báo cáo trạm trưởng. Trạm trưởng triệu tập thuộc hạ đến điều tra, hóa ra cách trạm dịch tám dặm về phía tây bắc có gia ̀nh họ Ngô, bà vợ vừa chết, nửa đêm khi chuẩn bị chon, thì đèn đuốc bỗng nhiên tắt hết, khi đèn được thắp lại thì xác chết đã còn ở đó nữa. Việc nhà họ Ngô đến lãnh xác về nói nữa, mà nói về Trịnh tiên sinh, khi được khoảng vài dặm, ta bỗng thấy đau bụng, khi đến trạm dịch Lợi Dương ở Nam Đôn, cơn đau trở nên dữ dội, vài giây sau Trịnh Kỳ Hưu tắt thở.

      Câu chuyện này khác với những câu chuyện giao cấu giữa người và ma khác, người phụ nữ này phải là hồn ma, mà là một xác chết, sau khi người ta mang xác bà về nhà, ngoài sự buồn bã vì mất mặt ra, có lẽ cũng chẳng có hành động thương xót nào dành cho bà nữa. Cái chết của Trịnh Kỳ Hưu chắc chắn có quan hệ với xác chết của người phụ nữ này, nhưng gác của trạm dịch vốn cũng phải nơi thanh tịnh, có người nói đó có hồn mà luôn thừa cơ hại người có lẽ cũng phải vô lý, thậm chí có thể căn cứ vào những ám thị trong từ ngữ để suy luận, một loạt những hành vi rời khỏi chỗ nằm, xin nhờ xe, giao cấu với người sống của xác chết này đều là do sự thao túng của con ma gác trạm dịch.

      Sự việc này đã cung cấp cho con người một “ví dụ thực” trong việc tìm hiểu nguyên nhân các xác chết di động, phải bản thân xác chết tác oai tác quái, mà là một con quỷ khác lợi dụng xác chết để làm trò ám muội, cũng có nghĩa là “quỷ mượn xác người” quấy phá. Đây thực sự là lý do tuyệt hảo để giải thích về trường hợp các xác chết sống lại, sau này nó được áp dụng khá phổ biến, và người tiết lộ sớm nhất có lẽ là Hồng Mại thời Nam Tống.

      Di kiên đinh chí, quyển năm có chương Người Cú Dung, một sai nha phủ Kiến Khang làm công vụ bên ngoài, ta phải trở về gấp nên nửa đêm vẫn phải dong duổi đường. Lúc đó vào mùa đông lạnh giá, ra đến đất Cú Dung, nhìn thấy dưới chân núi có một ngôi nhà nhỏ vẫn sáng ánh lửa, bèn ghé qua xin sưởi ấm. Sau khi vào nhà, nhìn thấy bảy, tám người dân trong thôn trông coi một xác chết nằm đất, hóa ra người đó thắt ̉ chết trong căn nhà này, người dân trong thôn hạ người đó xuống, đợi quan phủ tới nghiệm xác. Viên nha dịch thấy mấy người dân làng người thì ngủ, người thì ngồi, bèn ngồi ở đó một lát rồi lại tiếp tục lên đường. Nhưng vừa ra đến cửa, có cảm giác như có người trong nhà theo mình. nha sai nhanh, người phía sau cũng nhanh theo. Cứ như vậy, người trước người sau được hơn hai dặm. Nhìn thấy phía trước là một con rạch, nha sai nhảy phắt qua bờ bên kia, còn người phía sau thì “òm” một tiếng cả đầu và người rơi xuống con rạch. nha sai nhảy xuống vớt ta lên thì người này đã chết. Hóa ra, theo chính là xác chết treo ̉ kia! Và Hồng Mại có giải thích rằng: “Đó là “cưỡng hồn”, mượn xác người để gây hại.” “Cưỡng hồn” chỉ một hồn ma khác, chứ phải hồn của xác chết.

      Ý kiến này của Hồng Mại về xác chết di động cũng được khẳng ̣nh lại trong một câu chuyện khác, đó là chương Chứng quả tự tập nghiệp, quyển sáu, cuốn Di kiên chi đinh. Một người họ Vương là người có học tại đất Minh Châu. Vương mỗ thuê một căn phòng yên tĩnh tại chùa Chứng Quả để đọc sách chuẩn bị ứng thì kỳ thi năm nay, trong chùa chỉ có ba, bốn vị hòa thượng. Đêm hôm đó, tại một ngôi làng cách chùa khoảng mười dặm, người ta làm pháp sự siêu độ cho một vong hồn. Đến nửa đêm, Vương mỗ tắt đèn ngủ. Bỗng nhiên có người gõ cửa, Vương mỗ hỏi ai, hóa ra là một người bạn cũ, bèn vội vàng mời người đó vào phòng. Người bạn cũ nói: “Vì đường vội quá nên kịp thuê phòng trọ, muốn qua đây ngủ nhờ một đêm.” Vương mỗ vui vẻ giữ người đó ở lại, còn bảo người đó lên giường cùng nằm với mình. Nói chuyện một lúc, người bạn mới vừa cười vừa nói: “Có một việc tôi thể nói thật với huynh, xin huynh đừng sợ. Tôi đã chết được hơn một năm rồi, hôm nay đến đây là vì thực sự có việc cần nhờ huynh giúp.” Lúc đó Vương mỗ thực sự sợ đến toát mồ hôi lạnh, nhưng còn cách nào khác, đành phải tiếp tục nghe người bạn nói. Người bạn tiếp: “Sau khi tôi chết, vợ tôi đã cải giá, quẳng lại đứa con thơ biết sống ra sao. Lúc tôi còn sống có tích cóp được hai trăm lạng tiền dạy học, chôn ở một chỗ, xin huynh hãy nói cho con trai tôi biết.” Nói xong, người đó liền đứng dậy, giơ tay chào biệt. Vương thấy vui mừng vì người bạn đã ra , nhưng trong bóng tối vẫn có cảm giác như bên cạnh mình vẫn có người nằm đó. Tâm trạng lo lắng, khiến cả đêm sao ngủ được, khó khăn lắm mới trải qua được đêm hôm đó. Sáng hôm sau, vội mở cửa chạy ra ngoài. Đúng lúc các hòa thượng cũng trở về, họ nói về chuyện lạ xảy ra hôm qua, kinh đã đọc đến mười lần, đến lúc khiêng xác nhập liệm, nhưng đưa tay sờ, dưới tấm chăn hoàn toàn trống , xác chết biết đã chạy đâu mất. Nghe vậy, Vương mỗ dẫn mấy vị hòa thượng đến căn phòng của mình, thấy một người nằm thẳng cẳng giường, người này chính là ông cụ vừa mới chết.

      Có bạn từ phương xa tới, thì dù người đó có mượn xác để tới, ta vẫn phải vui mừng như khi người đó còn sống, đó chính là “tử hữu”. Nhưng sau khi căn dặn xong, bạn từ biệt ra , để lại cái xác mượn ở đó, hậu quả của việc gánh trách nhiệm này vô cùng nghiêm trọng. Câu chuyện này còn có một phiên bản khác, đó là Thặng huyện sơn am trong Di kiên chí bổ, quyển mười sáu, người bạn căn dặn xong, chào hỏi một câu mà lặng lẽ rời . Ai ngờ, xác chết bị bỏ lại vẫn còn chút linh khí, gây ra những phiền phức lớn, chủ nhân ngủ ngáy, xác chết cũng ngáy theo, chủ nhân mệt mỏi nghiêng người tựa vào tường, xác chết cũng làm thế nửa ngồi nửa nằm, chủ nhân kéo màn ra ngoài khạc nhổ, xác chết cũng bắt chước khạc nhổ theo… Chủ nhân làm gì, xác chết làm nấy, như hình với bóng. Lúc này người chủ mới thấy có gì đó ổn, bèn nhẹ nhàng xuống giường chạy ra ngoài, xác chết kia cũng chạy theo sau. May mà vị này biết xác chết di đông thể quặt hay chuyển hướng được, bèn chạy vòng một đoạn, xác chết cứ chạy thẳng, đâm sầm vào ̣t nhà rồi động đậy nữa. Kết luận là: “Ma cũ muốn tìm chỗ nhờ vả, nên mượn xác người mới chết để tới. Tóm lại, hồn ma có thể trở lại chỗ cũ, nhưng xác ma mới lại có nơi dựa giẫm, nên mới dẫn đến chuyện lạ như vậy.”

      Quan điểm này của Hồng Mai nhận được ít sự đồng thuận của các thế hệ về sau, điển hình nhất là Đông Hiên, người đời Thanh. Tác phẩm Thuật dị ký của ông có kể câu chuyện về “xác chết di động”, câu chuyện đã thuật lại rất hình tượng và rõ ràng về chuyện ma mượn xác người. Câu chuyện như được ghép từ những “cảnh lừa bịp” trong dân gian, nó có nhiều trắc trở hơn so với các câu chuyện về xác chết sống lại:

      Trong một ngôi nhà ở một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông có một xác ma di động, ngày ngày đều hại người. Thời Khang Hy có hai viên nha dịch cùng giải một phạm nhân qua nơi đó, đúng lúc trời mưa to, xung quanh nơi nào có thể dừng lại trú tạm. Đến nửa đêm, phía xa thấp thoáng có ánh lửa yếu ớt như ánh đèn, ba người vội vàng qua đó. Đó là một ngôi nhà rách nát, trước sau hai gian, bên trong một tiếng người. Ba người vào trong nhìn ngó, một người phụ nữ ngồi quay lưng lại phía đèn khóc rưng rức. Một người cất tiếng xin ngủ nhờ ở đây một đêm. Người phụ nữ nói: “Chồng tôi vừa mới qua đời, xác vẫn ở đây, chỉ sợ các người ở lại yên tâm.” Ba người vẫn đồng ý trú lại, ngồ nghỉ bên cạnh xác chết. Hai viên sai dịch đã ngủ say, còn tên phạm nhân thấy lo lắng, trăn trở sao ngủ được. Lúc này xác chết bỗng nhiên đứng dậy, phẩy tay thổi tắt cây đèn, tất cả trở nên tối đen. Xác chết đưa tay huơ huơ trước mặt hai tên sai dịch, hai tên này có động tĩnh gì. Rồi xác chết đưa bàn tay về phía tên phạm nhân, tên này sợ quá thét lớn rồi chạy ra ngoài cửa, xác chết chạy đuổi theo. Cả hai chạy qua hai cây cầu, xác chết vẫn chưa chịu buông tha. Tên phạm nhân chạy vào một ngôi chùa bị bỏ hoang, rồi nhảy qua một bức tường thấp ra bên ngoài, còn xác chết kia chạy đâm nhào vào tường ngã xoài mặt đất, tên phạm nhân cũng ngất lịm ở phía ngoài tường. Trời sáng, những người đường nhìn thấy vậy, bèn làm nước gừng cho tên phạm nhân uống, sau khi tỉnh lại tên phạm nhân cùng những người đường lần đường quay trở lại ngôi nhà kia. Nhưng khi đến đó, hai tên nha dịch đã chết ở chỗ đất bên cạnh ngôi nhà hoang.

      Rất rõ ràng, ác quỷ giết người thực sự phải là xác chết, mà là người phụ nữ ngồi khóc phía sau chiếc đèn. Ả được gọi là “xác chết di động”, nhưng ả lại phải là xác chết di động, mà là con quỷ chuyên mượn xác người mới chết để giết người.

      Nữu Tú sống vào đầu triều Thanh cũng cho rằng xác chết di động là do một thứ khác nhập vào, nhưng ông cho rằng thứ đó là ma quỷ, mà là “loại khí bất chính của trời đất”, đó chính là tà khí. Chương Xác chết di động trong quyển năm, cuốn Thặng kể, một người nhà quê chết những chưa liệm, nửa đêm bỗng nhiên bật dậy, chạy đuổi theo người trong linh cữu đến nỗi người đó sợ tè cả ra quần. Nhưng người này bỗng nhanh trí, nhảy lên bức tường, nhưng ai ngờ tay chân lại nhanh bằng bộ óc, một chân người đó bị xác chết ôm được. Người và ma giằng co nhau mãi đến khi trời sáng mới kết thúc. Người kể câu chuyện này nói: “Đó chắc chắn là loại khí bất chính trong trời đất, nhập vào người, người sẽ biến thành . Như chuyện con lơn biết đứng ở nước Tề, viên đá biết nói ở nước Tấn, vậy thì những thứ phải lợn, khong phải đá cũng có thể bị như vậy.” Ở đây đã dẫn ra những ví dụ kinh điển, như lợn biết đứng, viên đá biết nói, tất cả đều là những thứ bị ám, vì thế trong trường hợp này xác người cũng phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào.

      Viên Mai cũng cho rằng, xác chết di động là do “khí” ám vào, nhưng giống với Nữu Tú, thứ khí đó phải là “loại khí bất chính của trời đất”, mà là “dương khí”. Dương khí vốn là nguồn của sự sống, có thể chuyển yếu thành mạnh, cũng có thể chuyển chết thành sống. Nhưng nếu nhầm cửa, người chết đã trở nên cương cứng, lúc đó nó chỉ có thể trở thành một xác chết biết nhảy. Quyển năm, cuốn Tử bất ngữ có chương Thạch môn thi quái được tác giả viết rất hay, rất ghê rợn, nhưng cũng khiến người ta phải suy ngẫm: “Huyện nha Thạch Môn tỉnh Chiết Giang có vị tên Lý Niệm Tiên xuống dưới thôn thúc thuế. Đêm đến, ông vào một ngôi làng hoang sơ. Thấy một người qua, ông bèn đánh đá lửa lên soi. Người này đầu tóc rồi bù, thân hình gầy nhẳng, mặt dài chừng mười centimét, mắt nhắm tịt và chảy máu, nhìn như xác chết di động. Lý Niệm Tiên sợ dựng tóc gáy. Sau đó Lý lùi một bước, xác chết tiến một bước, Lý bèn bỏ chạy, xác chết lập tức chạy đuổi theo thôi.” Hóa ra, ngôi làng này từng mắc bệnh ôn dịch, chết rất nhiều người, xác chết này trước đó chưa được liệm, “bị ám dương khí nên mới lại được”. Ngàn thôn xơ xác, vạn hộ tiêu điều, các ông còn đòi thuế lương thực, bây giờ thì ngược lại, để cho lũ các ông biết thế nào là cảm giác khi bị kẻ khác đánh đuổi.

      Chương Xác chết quắp người, hạt táo có thể chữa trị, quyển tám, cuốn Viết tiếp tử bất ngữ cũng lặp lại thứ “dương khí” này: “Nếu xác mới chết chạy lung tung, người ta gọi đó là ‘xác chết di động’, nguyên nhân là do chịu sự tiếp xúc của dương khí mà thành như vậy.” Nhưng đến quyển năm, chương Xác chết di động, Viên Mai lại còn kiên trì cách nói đó nữa, ông sửa lại rằng xác chết di động có hai loại, một loại là xác chết di động thể nói chuyện, đó là do bị “dương khí ám”, nếu có thể nói chuyện được thì đó là do “ma quỷ nhập vào”. Xem ra, một phần nào đó ông vẫn tiếp nhận ý kiến của Hồng Mại.

      Ngoài những loại , còn có cách nói về tiếng sấm, cách nói liên quan đến chó mèo. Như ở đã nói, từ khoảng năm mươi năm về trước đến thời điểm hiện tại, ở nông thôn vẫn giữ cách nói đó, nhưng nếu truy cứu về nguồn gốc của nó, có lẽ nó đã xuất hiện sớm hơn nhiều so với những “tri thức được tổng kết” của các nhà văn hóa từ thời Bắc Tống đến nay. Tác phẩm Thông u ký của Trần Thiệu, người thời Đường có ghi lại sự việc về xác chết di động: “Buổi tối khi liệm, một tiếng sấm vang lên, xác chết đứng dậy bước ra, nhưng biết về hướng nào.” Nhưng xác chết di động này lại có thể nhảy qua tường để vào nhà người khác, chỉ có điều biết nói chuyện mà thôi. Qua một đêm, người này trở lại là một xác chết cứng đờ. Một kết cục tốt hơn là trong tác phẩm Nguyên hóa ký của Hoàng Phủ Thị, người thời Đường: “Con gái nhà Vương thị đột ngột chết khi chuẩn bị lên kiệu hoa, lúc đó xác chưa được liệm. Đêm đến bỗng có tiếng sấm, xác chết đã bỏ mất.” Xác chết chạy đến nghĩa ̣a thì lại trở về trạng thái cứng đờ. Cũng may khi đó có mấy thư sinh qua, họ thách nhau xem ai to gan hơn để vào khiêng xác chết, một người trong số đó đã vác xéc chết về nhà. Xác chết được ra ôm trong lòng, ngờ lại sống trở lại, rồi sau đó họ thực sự thành vợ chồng. Từ đó có thể suy luận rằng “xác chết di động” trong truyền thuyết chưa chắc tất cả đều có thật, mà những trường hợp có thật chính là sự sống lại của những người chết giả, nếu biết cứu chữa kịp thời, thì người có thể sẽ sống trở lại, còn nếu đã có thành kiến về “xác chết sống lại” thì chỉ cần một đòn là có thể đưa xác chết về vị trí ban đầu của nó.

      Còn việc khi đặt quan tài ở nhà kiêng kỵ chó và mèo, quyền Huyệt chôn xác chết trong Dậu Dương tạp trở của Đoạn Thành Thức, người thời Đường ghi “kỵ chó gần xác chết, tránh bị trùng tang”. Cái gọi là trùng tang, tức trong nhà lại có người sắp chết, những nói rõ nguyên nhân vì sao lại chết. Còn trong Ỷ lầu trùng mộng của Lan Cao có viết:

      Chỉ thấy bà mẹ chạy tới nói: “Thằng Tư nhà bà bị dọa cho sợ đến mức mặt mày nhợt nhạt như quỷ ấy, nó bảo con bé ngồi dậy được, bảo bà mau mau về xem sao.” Vương phu nhân nói: “Chắc là có con mèo vừa nhảy qua rồi, xác chết được rồi, mau lấy cán chổi đánh ngã nó.”

      gái thật may mắn đã sống lại được ( gái đã chết là con gái của Hương Lăng, lúc đó là do Tình Văn mượn xác trả hồn), người ta cũng xem thế nào đã coi đó là xác chết di động, thực sự khiến người ta liên tưởng tới những người chết giả ở nơi hỏa táng, nghĩ đến mà dựng tóc gáy. Nhưng một số người chết giả tỉnh lại chưa chắc đã là vì chó hay mèo, nếu quả là như thế, cho dù chỉ chiếm tỉ lệ một phần vạn thôi thì khi nhà có tang sự, sống chết thế nào cũng sẽ cho các loại chó mèo tới nhảy qua xác chết.

                4


      Thông thường, xác chết di động tuy có hung hãn, phân biệt được tốt xấu, nhận họ hàng thân thích nhưng chúng cũng có mấy điểm yếu chí mạng sau: một là chúng chỉ biết thẳng, thể vòng quặt, hai là gặp phải rãnh nước, chúng thể nhảy qua, gặp phải vật cản chúng sẽ bị đánh đổ, ba là tuy đối tượng chúng đuổi là người, những nếu chạm vào bất cứ vật gì là chúng ôm chặt buông, bốn là cho dù chúng chạy đuổi hung hãn như vậy, những chỉ cần nghe thấy một tiếng gà gáy, chúng lập tức “đứng im”. Tóm lại nó là một kẻ chết cứng bị tan chảy, quan ́ nhưng linh hoạt, và chỉ có thể hoạt động trong bóng đêm. Nhưng xác chết di động phải kết quả của việc “ma mượn xác người” sao? Con ma kia rất linh hoạt, nó có đầu óc, có động cơ, thậm chí có cả gánh nặng, có dã tâm, nhưng tất cả những thứ này khi nhập vào xác chết thì chỉ biết thở dài, bởi cái mà nó nhập vào là một xác chết cứng đơ, huyết mạch thông, tứ chi như gỗ đá. Nhưng, nếu là một cơ thể sống thì ai sẽ đồng ý để cho con quỷ ác độc này chỉ huy? Ngoài ra còn có một nguyên nhân nữa, thi thể đó thuộc về linh hồn kia, cũng giống như việc bạn mượn tay người khác để gãi ngứa vậy, dù có ́ gắng dùng sức như thế nào vẫn đạt được kết quả mong muốn.

      Nhưng vẫn còn một loại xác chết di động nữa, chúng rất tinh nhanh, biết tốt biết ác, cử chỉ như người bình thường, chỉ có điều nó là xác chết.



      Trong Tị sát chi mê, tôi đã từng nhắc tới câu chuyện Kỷ văn của Ngưu Túc, người thời Đường. Có một vị quan trong triều qua đời, người ta mời Nghi Quang thiền sư của chùa Trương An Thanh Long đến làm pháp sự. Đến ngày linh hồn trở về, cả gia ̀nh chủ nhà đều lẻn tránh hết, chỉ còn một mình lão thiền sư ngồi trước ban thờ nhẩm kinh. Đến nửa đêm, bỗng nghe trong phòng có tiếng người đứng dậy, mặc quần áo, mở cửa, vừa lúc đó thấy một phụ nữ ra khỏi phòng thờ, rồi vào bếp, người này dùng nước dập lửa, một lúc sau, bà ta mang đến cho thiền sư một bát cháo nóng. Đương nhiên người phụ nữ này là vợ vừa chết của vị quan triều, vong linh quay trở về nhập vào xác chết nằm linh sàng mà “sống” trở lại. Bây giờ nghĩ lại, nếu nói người vợ này “linh hồn trở về”, bằng coi đó là một loại “xác chết di động” khác.

      Lại như Trương Tấn trong Linh quán tập có kể câu chuyện tương tự như vậy:

      Vương Giám, người Duyện Châu, tính tình hung hãn, xưa này biết sợ hãi điều gì, thường xuyên lăng mạ quỷ thần. Trong dịp năm mới, ông ta trở về điền xá trong trạng thái say khướt. Nửa đêm, về đến điền xá thì cửa đã đóng, ông đập cửa nhiều lần nhưng vẫn có người ra mở, tức giận ông lớn tiếng mắng chửi. Đúng lúc đó một gia nhân ra mở cửa, Vương Giám hỏi: “Đám nô tỳ các ngươi hôm nay đâu cả rồi hả?” Người gia nhân vẫn giữ chiếc đèn, mặt mày đen xám. Ông ta thấy thế càng tức giân, ̣nh xông tới đánh người kia. Nô tài nói: “Mười ngày nay, một trận dịch bệnh đã cướp gần hết mạng sống của gia nhân chúng tôi.” Ông Giám hỏi: “Thế ngươi thì sao?” Đáp: “Cũng đã chết. Ông có thể nghe thấy những tiếng hô gọi đằng kia , xác của họ tới đấy.” Lúc này xác chết bỗng nhiên ngã sụp xuống, tắt thở.

      Xác chết di động này cũng là do hồn mình tự nhập vào xác mình, nếu như vậy thì tại sao họ dứt khoát sống trở lại ? Vấn đề này chỉ có quỷ mới biết được, nếu chúng ta suy đoán, có lẽ nó cũng giống như cục pin bị hết điện, tuy để một lúc có thể sáng lại thêm một chút, nhưng cuối cùng vẫn phải bỏ nó . Nhưng họ trở về dương gian trong một khoảng thời gian ngắn đó, trông họ hoàn toàn như người bình thường, thậm chí vẫn nghiêm chỉnh tuân thủ theo chuẩn tắc đạo đức trước kia của mình, bảo vệ sự tôn nghiêm của mình sau khi chết, chứ như những xác chết di động khác, chúng luôn gây chuyện một cách vô trách nhiệm. Như trong quyển tám, Viết tiếp tử bất ngữ của Viên Mai có câu chuyện về Xác chết di động: “Ở Phong Đô có một người tên là Thang A Đạt, nhà hàng xóm của ta có một gái vừa chết. Ban đêm, A Đạt và trai cùng sang giúp nhà hàng xóm trông thi thể gái. trai A Đạt xuống lầu lấy nước, A Đạt một mình trông xác chết nữ, càng nhìn càng thấy gái đó đáng , kiềm nổi mình mà nghĩ đến chuyện này kia. Bỗng nhiên xác chết nhảy dựng lên, lao thẳng về phía A Đạt. A Đạt chạy vòng quanh phòng, xác chết cũng chạy theo chịu tha, A Đạt ̣nh lao qua cửa để thoát ra ngoài, nhưng ngờ cửa lại bị chốt từ bên ngoài. Hóa ra khi trai A Đạt lấy nước về, nghe thấy bên trong có xác chết sống lại, sợ xác chết chạy ra ngoài sẽ liên lụy đến mình, bèn quyết ̣nh khóa cửa nhốt cả em trai mình trong đó. A Đạt đành phải nhảy từ lầu xuống, xác chết thể nhảy xuống được, đành đứng trơ ở lầu. Ba ngày sau, vào ban ngày, A Đạt vẫn nhìn thấy hồn ma của người con gái đó đường, chỉ tay vào A Đạt chửi mắng tâm ̣a hắn tốt. A Đạt biết làm thế nào, sợ hãi trốn khỏi quê nhà, hai mươi năm sau vẫn dám trở về.”

      Rõ ràng, sở dĩ người con gái này biến thành xác chết di động là vì vong hồn của ta phát hiện ra tà niệm của người trông xác, tự thấy vừa xấu hổ vừa tức giận mà bật dậy. Nếu ngày thường gặp phải chuyện này, ta có phẫn nộ đến mấy cũng bắt đối phương phải chết, nhưng giờ đã mang mình bản tính của một con quỷ gây rối, động tác của ta hoàn toàn là “hình dáng di động”, vì thế cái xác chỉ có thể chạy, , chứ thể nhảy qua cửa sổ. Còn chuyện vong hồn của ta một lần nữa nhìn thấy A Đạt, lại còn mắng chửi ta tâm ̣a bất lương, có thể thấy ta vẫn rất để tâm đến sự tôn nghiêm về xác thể của mình, nhưng lúc đó, chỉ là một vong hồn, thể có những hành động kịch liệt như trước nữa. Ngoài ra, Viên Mai đã biểu thị quan niệm đạo đức bên trong câu chuyện này, đó là sự tôn trọng người chết, đặc biệt được nảy sinh tà niệm đối với thi thể của người con gái trẻ tuổi. Điều này xem ra có phần ́ chấp và ̉ hủ, nhưng nó lại hề chứa chất đạo học trong đó.

      Lại có Du Việt, trong quyển mười hai, cuốn Hữu đài tiên quán bút ký ghi lại câu chuyện về xác chết di động của một phụ nữ Nhật Bản, câu chuyện giống như trong mơ, xác chết di động của ta nhìn thấy những người có mặt tại đó, và tất nhiên nó sẽ gây phiền nhiễu đến ai. ta chỉ thẳng đến phòng ngủ của mình, tìm một chiếc hòm nhỏ, vừa ôm nó lên thì ngã sụp xuống. Mọi người ở đó biết là xác chết sống dậy, nên mở chiếc hòm nhỏ ra xem bên trong có vật gì quý giá, chỉ có một bức thư của người tình giử trước ngày kết hôn. “Người phụ nữ này tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn còn rất tỉnh táo, sợ rằng lá thư đó sẽ bị người khác đọc được nên muốn tự mình hủy nó, nhưng sức lực cho phép bà ta che giấu nó.”

      Linh hồn tỉnh táo đến mức có thể di chuyển được thể xác, nhưng chỉ có thể di chuyển được phần nào thôi, hơn nữa ta cũng chịu sự hạn chế về nguồn năng lượng, nếu như mục tiêu quá cao thì dù có “hạ quyết tâm” cũng thể hoàn thành được, biết chừng còn khiến mình bị bẽ mặt. Nhưng nếu biết lượng sức mình, tận dụng cơ hội ngắn ngủi đó một cách hợp lý thì có lẽ ta đã có thể hoàn thành một số việc nào đó. Thế là có một loại xác chết di động mà phải sống dậy để báo thù, khiến người ta cảm thấy xác chết sống lại chưa chắc đã là bị “khí bất chính của trời đất” ám vào.

      Trong Nam cao bút ký, quyển bốn của Dương Phượng Huy, người đời Thanh có chương Xác chết quái dị, đó là trường hợp xác chết ống lại để trình báo oan thù. Vị hôn thê của Dư Thị tử và họ Viên Mỗ có gian tình với nhau. Dưới sự ủng hộ của bà mẹ là Trương Thị, vị hôn thê của Dư Mỗ đã ám hại chồng, việc đó được thực hiện gọn gàng, để lại dấu vết gì. Đêm ngày hôm sau, hồn ma của Dư Mỗ tìm về nhà, sắc mặt vẫn như lúc còn sống, duy có máu tanh vẫy khắp người, nhuốm đỏ cả chiếc áo mặc. Hồn ma nói với mẹ rằng: “Cái chết của con thực sự là do nhà gái gây ra. Khi quan phủ xét nghiệm xác, hãy mời mẹ con nhà họ tới hiện trường, đến lúc đó trắng đen sẽ rõ ràng.” Khi quan phủ tới nghiệm xác, cũng đã cách thời điểm chết nửa ngày. Như lời con trai nói, mẹ Du Mỗ mời mẹ con bà Trương đến hiện trường đặt xac chết. Bên nhà gái sợ gian tình bại lộ, nên dám từ chối, liền bảo Viên Mỗ đánh xe đưa mẹ con Trương thị đến nơi đặt xác. Hai người vừa đến bên xác chết:

      Bỗng nhiên xác chết đứng dậy, một tay túm lấy tên họ Viên, một tay chỉ vào vị hôn thê của mình. Bọn chúng sợ hãi ̣nh bỏ chạy. Quan phủ lệnh cho đám tùy tùng tới gỡ tay Du Mỗ ra, nhưng gỡ được. Quan phủ liền biết ở đây có gì bình thường, bèn ra lệnh bắt tên họ Viên và hai mẹ con Trương Thị, xác chết nghe thế liền trở lại vị trí ban đầu. Mấy kẻ kia cúi đầu nhận tội. Tên họ Viên nhận án chém đầu…

      Câu chuyện xác chết sống lại phục thì trong Liêu trai chí dị, chương Điền thất lang là câu chuyện quen thuộc, được nhiều người biết đến, nên ở đây tôi chỉ xin trích dẫn một câu đầy tính tráng liệt:

      Viên tể tướng thấy kinh hãi, bắt đầu cho nghiệm xác chết, thấy Thất Lang nằm chết cứng trong vũng máu, tay như cầm đao. ̣nh dừng kiểm tra kỹ nữa thì xác chết bỗng nhiên đứng bật dậy, cắt ̉ viên tể tướng, rồi lại nằm phịch xuống.

      Linh hồn chưa bị tiêu tan, trong khoảnh khắc giữa hành động đứng lên và nằm phịch xuống, đầu tên cẩu quan đã lìa khỏi ̉, so với việc Nhiếp Chính đâm Hàn Vương, Kinh Kha đâm Tần Vương, sự việc này khiến người ra dễ nhận ra chân tướng vấn đề hơn.


    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :