Thảm Kịch Bí Ẩn Ở Styles - Agatha Christine (12 chương + 1 chương kết)

Thảo luận trong 'Các Thể Loại Khác (Kinh Dị, Trinh Thám..)'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. piipp

      piipp Well-Known Member

      Bài viết:
      1,619
      Được thích:
      565
      Thảm kịch bí ở Styles

      [​IMG]

      Tác giả: AGATHA CHRISTIE

      Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: La Mysterieuse Affaire De Styles

      Người dịch: PHAN THỊ NGỌC THƯ

      Nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1989)

      Độ Dài: 12 chương + 1 chương kết

      Thể Loại: Trinh Thám

      Nguồn: http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?&m=611520&mpage=1
      Last edited: 7/10/14
      Prunus Ngọc, snowbellChris thích bài này.

    2. piipp

      piipp Well-Known Member

      Bài viết:
      1,619
      Được thích:
      565
      KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ

      Trong 56 năm theo đuổi nghề viết, nữ văn sĩ Agatha Christie cho ra đời 66 cuốn tiểu thuyết và 147 truyện ngắn trinh thám, hai tập thơ, hơn ba chục kịch bản sân khấu cùng với hai cuốn tự truyện. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn trăm ngôn ngữ khác nhau, với hai tỷ bản in, phát hành rộng rãi toàn thế giới...

      Theo Sách kỷ lục Guinness, Agatha Christie là nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại về thể loại trinh thám, và đứng thứ hai nếu tính cả các thể loại khác (sau William Shakespeare). Với việc "thực " khoảng hai trăm "vụ án mạng" và đưa ra ánh sáng cũng ngần ấy vụ giết người, Agatha Christie đưa người đọc từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác...

      Trong số ba tác gia của thể loại tiểu thuyết trinh thám: Arthur Conan Doyle, George Simenon và Agatha Christie, chỉ có mình bà là nữ. Ở Việt Nam, tên tuổi của bà gắn liền với hai thám tử tài ba Hercul Poirot và Bà Marple, trong những thiên tiểu thuyết li kỳ, hấp dẫn: "Đêm bi thảm", "Người thiếu phụ tuyệt vọng", "Vụ án chuyến tàu tốc hành phương Đông", "Mười người da đen bé ", "Ngòi bút tẩm độc", "Người tình của Shalott", "Những chiếc đồng hồ kỳ lạ"… do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành trong mấy thập niên vừa qua.

      Agatha Christie là nữ văn sĩ , sinh ngày 15 tháng 9 năm 1890, tại Torquay Devon. Cha của bà làm nghề giao dịch chứng khoán, còn mẹ là người đàn bà thuộc dòng dõi quý tộc, có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến cuộc đời và nghiệp của "Nữ hoàng trinh thám" sau này.

      Bắt đầu nghiệp viết với thể loại tiểu thuyết trinh thám, Agatha Christie thực trở thành " tượng" trong văn đàn thế giới.

      Đến với nghề văn mà hề trải qua bất cứ trường lớp đào tạo nào, những gì Agatha Christie cống hiến cho văn học thực là tài năng, là "duyên" trời định. Cũng giống như số tác gia thế giới, Agatha Christie cầm bút viết văn, ban đầu chỉ là để giết thời gian nhàn rỗi. Rồi sau đó mới là để thỏa mãn cầu của độc giả và tự thỏa mãn sở thích của mình, để sống và tạo dựng chỗ đứng trong xã hội.

      Người đời từng , tình là món quà quý giá nhất mà tạo hóa ban tặng cho con người. Trong suốt cuộc đời "Nữ hoàng truyện trinh thám" Agatha Christie, tình luôn hữu, là cội nguồn của mọi thăng hoa và sáng tạo. Trong tự truyện của mình, Agatha Christie cho biết, chính tình đưa bà đến với nghề viết, và chính tình vinh danh tên tuổi của bà.

      Mười sáu tuổi được mẹ cho sang Paris học hát và piano, nhưng chỉ năm sau đó Agatha Christie quay trở lại London, gia nhập thế giới thượng lưu. độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời, với nhan sắc rực lửa, tính cách lãng mạn, Agatha Christie như ngôi sao chói sáng, thu hút chú ý của các chàng trai con nhà danh giá, trong đó có Archibald Christie - phi công thuộc lực lượng quân Hoàng gia .

      Cuộc tình của đôi trai tài sắc như lửa nồng Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra. Archibald Christie được điều động sang Pháp chiến đấu. giấy mực nào có thể chép hết nỗi nhớ mong trong lòng trẻ. Ngày lại ngày, Agatha Christie chỉ còn biết viết thư gửi cho người nơi trận mạc và chờ đợi thư hồi … Rồi trong kỳ phép ngắn ngủi, đôi uyên ương làm đám cưới.

      Khi chàng phi công trở lại chiến trường, Agatha Christie sống lẻ loi, thầm, độc như người góa bụa. Trong xa cách chờ đợi và nhớ nhung ấy, Agatha Christie bắt đầu tập viết tiểu thuyết. Nhưng chưa biết nên bắt đầu bằng thơ, tiểu thuyết tình cảm hay truyện trinh thám…

      Mấy em họ của Agatha Christie bảo rằng, tiểu thuyết trinh thám rất chán, vì chỉ cần xem vài trang là độc giả biết ngay ai là thủ phạm rồi. Họ còn thêm rằng, thể viết tiểu thuyết trinh thám được vì đó là lĩnh vực của đàn ông. Nghe thấy thế, Agatha Christie bảo rằng: "Chẳng có ai cấm phụ nữ viết truyện trinh thám cả, và chị viết giỏi hơn cả đàn ông cho các em xem". thế và làm thế, Agatha lao vào viết truyện trinh thám, và viết với "tốc độ" mà ngay cả cánh đàn ông cũng phải nể.

      Cuốn sách đầu tay "Vụ Styles bí mật" được viết khi Archibald Christie ở chiến trường, còn Agatha Christie là trợ lý dược ở trạm cứu thương. Agatha Christie đánh máy tác phẩm của mình cẩn thận, đính kèm lá thư rồi gửi tới số nhà xuất bản danh tiếng ở London. ra đời của tác phẩm trinh thám đầu tay mang lại nhiều hứng khởi, cũng là khẳng định tính đúng đắn cho lựa chọn ban đầu của cây bút trẻ.

      Chiến tranh kết thúc, chàng phi công của Agatha Christie trở về lành lặn, nhưng tâm tính trở nên thất thường. Việc chăm sóc Archibald Christie lấy của Agatha Christie rất nhiều thời gian, nhưng bù lại, khi cùng chồng thực thi những chuyến công vụ vòng quanh các nước thuộc địa của , Agatha Christie thu lượm được đầy ắp vali tư liệu để sau này "dựng" thành các tác phẩm trinh thám li kỳ và hấp dẫn. xuất liên tiếp các tiểu thuyết: "Vụ giết ông Roger Ackroyd", "Vụ án mạng ở Me'sopotamic", "Vụ án chuyến tàu tốc hành phương Đông"… khiến tên tuổi của nữ nhà văn trẻ nổi như cồn. Nhưng hình như đối với cuộc đời của rất nhiều người đàn bà, nổi tiếng và danh vọng đồng hành cùng hạnh phúc. mối tình từng được thử thách trong lửa đạn tưởng như trở thành bất tử, "cáo chung" bởi người đàn bà nhan sắc khác.

      Khi nghe Archibald Christie tuyên bố trót người đàn bà khác, Agatha Christie héo rũ như tàu lá và bỏ biệt tích trong mười ngày liền. Cảnh sát tìm thấy chiếc xe của bỏ ở vệ đường, ở nơi cách nhà vài chục cây số và sau đó tìm thấy Agatha Christie tại khách sạn, trong tình trạng mất trí nhớ. quên tất cả, trừ tên cái người đàn bà cướp chàng phi công dũng cảm của

      Sau thời gian điều trị, Agatha Christie gửi con vào trường nội trú và lao vào những chuyến viễn du bất tận. Những chuyến ấy đưa đến với tình mới. Max Mallowan - nhà khảo cổ học, kém Agatha Christie tới 14 tuổi thay chàng phi công Hoàng gia đem lại niềm vui và nghị lực để nữ văn sĩ tiếp tục nghiệp còn dang dở. Agatha Christie lại cùng Max Mallowan vượt đại dương sang Trung Đông, đến với những di chỉ khảo cổ ngủ sâu dưới lòng đất. Ngoài việc chăm sóc và trợ giúp công việc cho chồng, Agatha Christie tìm kiếm thêm rất nhiều tư liệu để hoàn thành những tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch bản sân khấu sau này… Cuộc hôn nhân với Max Mallowan thực bền vững trước mọi thử thách của số phận. Agatha Christie ít lần khẳng định, đằng sau những thành công của bà văn đàn là bờ vai vững chắc của chồng, rằng "Những nhà khảo cổ học là những người chồng lý tưởng - vợ của họ càng già họ càng thích thú"...

      điểm tương đồng giữa các chuyên gia về tiểu thuyết trinh thám: Những thám tử tài danh thường được tác giả "nuôi dưỡng" trong thời gian rất dài, xuất trong rất nhiều tác phẩm. Arthur Conan Doyle "nuôi" thanh tra Sherlock Holmes, George Simenon nâng niu, chiều chuộng thanh tra Maigret, còn Agatha Christie lại "đeo mang" tới những bảy thám tử. Trong đó nam thám tử Hercule Poirot và nữ thám tử Marple được Agatha Christie cho tham gia nhiều điệp vụ hơn cả và cũng được nhà văn cho "sống" lâu nhất.

      Nam thám tử Hercule Poirot xuất ngay từ tiểu thuyết đầu tay của Agatha Christie và chỉ "chết" trước tác giả có năm. Hình tượng Hercule Poirot được giới thiệu với độc giả có khuôn mặt rất đàn ông, để râu con kiến, đầu đội mũ phớt, ăn mặc kiểu cách, thông minh, kiêu hãnh.Vị thám tử điển trai này luôn coi thường hiểm nguy, ít biết đến thất bại, nhưng bị đối phương đánh giá là kẻ "gàn dở", bởi ta luôn mồm đến những giá trị đạo đức. Hercule Poirot liên tiếp xuất trong 30 tiểu thuyết và 50 truyện ngắn của Agatha Christie. Trong thời gian đầu, Agatha Christie rất mến chàng thám tử của mình. Nhưng đến khi "nuôi" Hercule Poirot được mười năm, Agatha Christie nảy ra ý định “khai tử" cho nhân vật này. Do công chúng quá thích chàng thám tử đẹp trai, tài ba Hercule Poirot nên bà đành để cho thám tử tiếp tục sống và phá án, mặc dù nhiều lần bà kêu rằng chán Hercule Poirot đến tận cổ.

      Trái ngược với Hercule Poirot, nữ thám tử Marple xuất muộn và ít hơn rất nhiều, nhưng lại được Agatha Christie hết mực cưng chiều. Tuy nhiên, khi ở độ tuổi 85, cái chết cận kề, Agatha Christie nỡ lòng nào để cho hai thám tử huyền thoại của mình bơ vơ nơi trần thế, nên cho cả hai cùng lần lượt "được" chết trong hai tác phẩm cuối cùng của mình. Hercule Poirot chết năm 1975, trong "Curtain: Vụ án cuối cùng của Hercule Poirot". Bà Marple "tạ thế" sau Hercule Poirot năm, trong cuốn "Sleeping Muder: Vụ án cuối cùng của bà Marple"…

      Là phụ nữ dấn thân vào lĩnh vực xưa nay được coi là lãnh địa của giới mày râu, nghệ thuật tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie đạt tới trình độ điêu luyện. Phần lớn các các tiểu thuyết của bà đều được xây dựng những nghi vấn cách đầy đủ và vận hành như cuộc chơi đầy kỳ thú, trong đó độc giả chạy đua với thám tử vì cả hai đều nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án và đều có khả năng ngang nhau trong việc lật mặt nạ thủ phạm trong gian luôn mở.

      Agatha Christie mất ngày 12 tháng 1 năm 1976 ở tuổi 86, tại Wallingford, Oxfordshire. Toàn bộ bản quyền tác phẩm của Agatha Christie được cháu trai của bà, Mathew Prichard lưu giữ.
      snowbellChris thích bài này.

    3. piipp

      piipp Well-Known Member

      Bài viết:
      1,619
      Được thích:
      565
      LỜI GIỚI THIỆU

      [​IMG]
      Tên tuổi của Agatha Christie lạ gì trong số những nhà văn nổi tiếng thế giới chuyên viết truyện trinh thám.

      Tính chất hấp dẫn của thể loại truyện này còn phải bàn cãi, sách thường được in với số lượng lớn, được nhiều tầng lớp độc giả hâm mộ bởi cốt truyện gay cấn, bố cục chặt chẽ, tiến triển nhanh, gọn, bất ngờ, cách xử lý thông minh, chính xác… Đó là ưu điểm của thể loại truyện trinh thám, nhưng ở ít nhà văn lại cũng là nhược điểm bởi thiếu vắng của tâm lý nhân vật, tính cách, chiều sâu của nội tâm, bối cảnh xã hội, lý tưởng đạo đức…

      Nhưng ở Agatha Christie hầu như những nhược điểm đó được khắc phục, những truyện của bà bao giờ cũng giản dị, tránh những tình huống cách bất ngờ vô lý, các nhân vật đều có tính cách, bối cảnh xã hội nét, nhất là lòng nhân hậu, lý tưởng đạo đức bao giờ cũng thắm đượm trong hầu hết các trang sách. Bên cạnh đó, chất “trinh thám” trong truyện lại thiếu, truyện đọc vào là lôi cuốn ngay, các kiện dồn dập, mới lạ nhưng hợp lý, các tình huống đan chéo vào nhau được xử lý cách thông minh, bất ngờ thể đoán ra được, cuối cùng đến kết cuộc nhiều người đọc thấy ngỡ ngàng đồng thời lại thấy có gì hợp lý hơn.


      “Thảm kịch bí ở Styles” chúng tôi giới thiệu với bạn đọc sau đây nằm trong số những truyện như vậy.

      Cốt truyện giản dị, hầu như là thông thường. gia đình gồm người mẹ kế, hai người con trai và tài sản lớn của người cha để lại. Trong gia đình có chuyện phải quan tâm là vấn đề thừa kế gia sản xảy ra chuyện người mẹ kế lúc đó sáu mươi lăm tuổi, đâm say mê người đàn ông hơn mình đến hai mươi tuổi. Người đàn ông vào nhà mang theo mình đầy những nghi ngờ sau đó người mẹ kế bị đầu độc chết.

      Mọi lời buộc tội ràng là chĩa vào người đàn ông và ngay bản thân ta cũng cố tình để lộ những cử chỉ, hành động cho mọi người nghi ngờ mình.

      Trong lúc đó cuộc điều tra của cảnh sát lại bắt gặp những dấu vết buộc tội ở người con trai lớn. bị bắt. Phiên tòa diễn ra, nghi ngờ của mọi người lại hướng về người em kế.

      Ai là thủ phạm? Tình thế rối ren, nhưng viên thám tử người Bỉ, người nhắn, sống khiêm tốn, dật theo dõi suốt quá trình diễn ra vụ án. Ông bỏ sót kiện nào, nối kết chúng lại với nhau thành chuỗi mắc xích hợp lý, bằng tài nhận xét thông minh và cách xử lý khôn khéo, nhanh nhạy ông vạch mặt được thủ phạm, minh oan cho những người vô tội và hơn nữa, giữ gìn được tình của họ. Đó là ý nghĩa lớn nhất của cuộc điều tra và cũng là tính nhân bản trong cuốn truyện của Agatha Christie.


      Xuất bản cuốn “Thảm kịch bí ở Styles” của Agatha Christie, chúng tôi mong muốn giới thiệu với bạn đọc tác phẩm gần như là mẫu mực cho thể loại truyện trinh thám với hình thức và nội dung đích thực của nó, trái với nhiều loại sách “vụ án” khác chỉ nhằm lôi cuốn người đọc bằng những tình tiết giật gân rẻ tiền, những cảnh sa đọa để thỏa mãn những thị hiếu thấp. Bởi thông qua trình bày những tội ác và bọn tội phạm, cuốn sách có ý nghĩa khi nó hướng con người tới cuộc sống lương thiện hơn.

      NHÀ XUẤT BẢN MŨI CÀ MAU - Năm 1989
      Prunus Ngọc, snowbellChris thích bài này.

    4. piipp

      piipp Well-Known Member

      Bài viết:
      1,619
      Được thích:
      565
      CHƯƠNG I: TÔI ĐẾN STYLES

      Tiếng vang to lớn gây nên trong quần chúng bởi cái được mệnh danh là “Vụ án ở Styles” đến nay giảm bớt đôi chút. Tuy vậy, do tiếng tăm có tầm cỡ quốc tế gắn liền với việc đó, tôi được ông bạn Poirot cũng như gia đình ấy đề nghị viết lại tóm lược vụ việc. Chúng tôi hy vọng qua đó chấm dứt được những lời đồn đại giựt gân vẫn còn lan truyền.
      Do đó tôi ghi lại cách ngắn gọn những tình huống qua đó tôi có dính líu đến vụ án này.
      Hồi đó, tôi được đưa về từ mặt trận do bị thương, và sau khi nằm điều trị vài tháng trong quân y viện, tôi được nghỉ phép tháng để dưỡng sức. Vì người họ hàng gần nào, và cũng chẳng có người bạn thân nào cả, tôi suy nghĩ đến cách tận hưởng tốt nhất kỳ nghỉ này , tình cờ, tôi gặp John Cavendish. Tôi gần như mất liên lạc với ta từ vài năm nay rồi. Hơn nữa, tôi chưa bao giờ chơi thân với ta lắm. lớn hơn tôi ít ra là mười lăm tuổi, mặc dầu trông chưa đến cái tuổi bốn mươi lăm của mình. Nhưng, lúc còn , tôi thường đến chơi ở Styles, khu đất của mẹ , trong vùng Essex.
      Chúng tôi hàn huyên với nhau khá lâu về thuở xa xưa ấy và, cuối cùng rủ tôi đến nghỉ phép ở Styles.
      - Mẹ tôi vui mừng khi gặp được cậu sau bấy nhiêu năm - .
      - Bà ấy vẫn khỏe mạnh chứ? Tôi hỏi.
      - Ồ, vâng. Cậu có biết rằng mẹ tôi tái giá ?
      Tôi e rằng để lộ ngạc nhiên của mình quá . Tôi nhớ đến bà Cavendish (người kết hôn với cha của John lúc ông này góa vợ và có hai người con trai) như người phụ nữ đẹp ở tuổi trung niên. nay bà ta chắc chắn thể dưới sáu mươi lăm tuổi. Tôi nhớ lại tính cách cương nghị, độc tài của bà, với lòng ham mê được nổi danh vì những việc làm từ thiện của giới thượng lưu, với ý thích về những ngày khai mạc các buổi lễ từ thiện và khuynh hướng muốn đóng vai trò nhà hảo tâm. Vô cùng rộng lượng, bà có gia sản riêng kếch xù.
      Khu đất của họ ở vùng quê, Styles Court, do ông Cavendish mua vào thời gian đầu của cuộc sống chung của họ. Ông này hoàn toàn chịu chi phối của vợ đến độ, khi qua đời, ông dành cho bà toàn quyền sử dụng khu đất và phần lớn thu nhập của mình. sắp xếp đó khiến cho hai cậu con trai của ông bị thiệt thòi. Nhưng bà mẹ kế luôn luôn tỏ ra vô cùng rộng lượng đối với họ, và do họ còn khi hai người lấy nhau nên lúc nào họ cũng xem bà như mẹ đẻ của mình.
      Laurence, người em út, thuở nên thiếu đầy những khó khăn. tốt nghiệp y khoa, nhưng lại từ bỏ nghiệp bác sĩ và chỉ muốn sống ở Styles Court để theo đuổi ảo tưởng về thơ văn, mặc dù những vần thơ của cho đến nay vẫn chưa đạt được thành công vang dội nào cả.
      John thời gian hành nghề luật sư, rồi quyết định sống cuộc đời an nhàn của người thượng lưu ở vùng thôn quê. Cách đây hai năm, lập gia đình và đem người vợ trẻ đến Styles. Tôi có cảm tưởng muốn bà mẹ kế tăng thêm trợ cấp cho mình để có thể ra ở riêng. Nhưng bà Cavendish thích tự mình lên kế hoạch và muốn người khác phải tuân theo. Trong tình huống đó, bà chắc chắn có ưu thế hơn đối với , bởi vì bà là người nắm giữ túi tiền.
      John nhận thấy ngạc nhiên do cái tin mẹ tái giá gây nên cho tôi, và mỉm cười hơi chua xót.
      - Đó là người đàn ông bất tài - bực bội - Tôi giấu cậu, Hasting ạ, điều đó làm cho cuộc sống của chúng tôi khó chịu. Còn về phần Evie… Cậu nhớ Evie chứ?
      - .
      - Ồ, có lẽ cậu chưa quen biết ấy phải. Đó là người mẹ tôi mướn để bầu bạn với bà ta. ấy lo toan mọi việc… phụ nữ tốt, cái Evie ấy… trẻ, cũng chẳng đẹp, nhưng tốt bụng.
      - định gì thế?
      - Về tên đàn ông đó, đúng là rơi từ trời xuống, tự xưng là người bà con xa của Evie gì đó, này, giữa chúng ta thôi, có vẻ gì vui mừng về mối liên hệ họ hàng này cả. Bất cứ ai cũng có thể thấy đó là con người cơ hội và thô kệch. có bộ râu dài màu đen và mang giày đánh véc-ni bóng loáng bất kỳ lúc nào. Nhưng mẹ tôi thích ta ngay và bà thâu nhận vào làm thư ký. biết rằng bà phụ trách lô các hội từ thiện khác nhau chứ?
      Tôi gật đầu.
      - Chiến tranh nhân chúng lên gấp bội. Có lẽ rất có ích cho bà. Nhưng chúng tôi muốn té ngửa khi, cách đây ba tháng, bà bất ngờ tuyên bố với chúng tôi rằng bà đính hôn với Alfred. Dễ phải trẻ hơn bà đến hai mươi tuổi. Đối với , ràng đó là cuộc săn tiền. Nhưng thế đấy, mẹ tôi hoàn toàn tự do làm theo ý mình, và bà lấy .
      - Có lẽ đó là tình huống khó khăn đối với tất cả các .
      - Khó khăn ư? Hãy thể chịu nổi!
      Và thế là, ba ngày sau, tôi đáp xe lửa đến Styles Saint-Mary, nhà ga có lý do gì để tồn tại cả, nằm giữa những cánh đồng xanh và những con đường làng. John Cavendish đón tôi sân ga và đưa tôi ra xe hơi.
      - Cậu thấy đấy, chúng tôi cũng còn chút ít xăng - nhận xét - chủ yếu là nhờ vào các hội từ thiện của mẹ tôi.
      Làng Styles Saint-Mary nằm cách nhà ga khoảng hai dặm, còn Styles Court xa hơn dặm. Ngày hôm đó ấm áp và yên tĩnh, ngày của tháng bảy. Và cứ nhìn phong cảnh bằng phẳng của miền Essex trải dài xanh tươi và yên bình dưới ánh nắng mặt trời buổi trưa gần như thể nào tin rằng ở đằng kia, xa lắm, dù gì nữa cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn. Dường như tôi bất ngờ bước vào thế giới khác.
      Khi chúng tôi vượt qua cửa rào của khuôn viên, John bảo:
      - Tôi e rằng cậu thấy cuộc sống ở đây yên tĩnh, Hasting ạ.
      - bạn thân mến ơi, đó chính là điều tôi mong muốn.
      - Ồ! khá dễ chịu nếu như người ta muốn có cuộc sống an nhàn. Mỗi tuần hai lần, tôi cùng những người tình nguyện lao động và đến phụ giúp các nông dân. Vợ tôi thường xuyên làm việc đồng áng. ấy dậy từ năm giờ mỗi sáng để vắt sữa bò và ngừng tay cho đến giờ ăn trưa. Nhưng, suy cho cùng, dễ sống hơn nếu như có tên khốn khiếp ấy, Alfred Inglethorp.
      thắng xe bất thình lình và liếc nhìn đồng hồ.
      - Tôi tự hỏi biết chúng ta có kịp ghé qua đón Cynthia đây? Chắc là rồi. ta có lẽ rời bệnh viện.
      - Cynthia ư? phải là vợ sao?
      - . Cynthia là người được mẹ tôi nhận đỡ đầu. ta là con người bạn học nội trú xưa của bà, người kết hôn với luật sư mấy lương thiện. Ông này bị phá sản và con họ trở thành mồ côi xu dính túi. Mẹ tôi giúp ta và ấy đến sống với chúng tôi gần hai năm nay rồi. ta làm việc ở bệnh viện của hội chữ thập đỏ ở Tadminster, cách đây khỏang mười cây số.
      Trong khi những lời này, chúng tôi ngừng xe trước ngôi nhà cũ kỹ nhưng rất đẹp. Nghe thấy tiếng xe của chúng tôi, người phụ nữ mặc bộ đồ bằng vải tuýt cúi luống hoa ngẩng đầu lên.
      - Chào Evie, đây là người hùng bị thương của chúng ta. Ông Hasting, Howard.
      Cái bắt tay Howard dành cho tôi mạnh, gần như đau đớn. Tôi cảm kích bởi đôi mắt xanh gương mặt rám nắng. Đó là phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, vẻ khả ái. ta có giọng trầm, với những sắc vang to, gần như của phái nam, vóc dáng vuông vức với đôi chân to lớn xỏ trong đôi giày thô cũ kỹ. Chẳng mấy chốc, tôi phát ra rằng ta phát bằng giọng văn điện tín.
      - Cỏ dại mọc nhiều như cỏ gà. làm sao ngăn chúng được. Quý vị giúp tôi. Hãy cẩn thận.
      - Tôi cam đoan rằng tôi rất vui được giúp ích cho - tôi đáp.
      - Đừng thế. thận trọng. Sau này ông hối hận.
      - Sao bi quan thế, Evie? - John mỉm cười - Hôm nay chúng ta dùng trà ở đâu? Trong nhà hay ngoài vườn?
      - Ngoài vườn. Trời quá đẹp để phải giam mình trong nhà.
      - Thế hãy thôi. Hôm nay làm vườn như thế là đủ rồi. Người làm ruộng rất xứng đáng được hưởng thù lao. Hãy nghỉ giải lao .
      - Thế đấy - Howard vừa tháo găng tay làm vườn ra vừa - tôi gần như hoan nghênh ý kiến đó của .
      dẫn đường cho chúng tôi và, vòng qua ngôi nhà, chúng tôi đến chỗ bữa trà được dọn lên, dưới bóng mát của cây sung lớn.
      Thấy chúng tôi đến gần, phụ nữ trẻ ngồi trong chiếc ghế bành mây đứng lên và bước đến trước mặt chúng tôi.
      - Nhà tôi, Hasting ạ - John bảo.
      Tôi bao giờ quên giây phút đầu tiên gặp mặt Mary Cavendish. Dáng vóc cao và mảnh mai của bà lên tương phản với ánh nắng gay gắt; ánh sáng dịu của ngọn lửa ỉ dưới đống tro rạng lên trong đôi mắt đẹp màu hung, ở bà toát ra yên bình vô bờ, nhưng lại làm cho người ta nghĩ đến tâm hồn hoang dã và khó khuất phục trong cơ thể văn minh tuyệt diệu.
      Bà đón tôi bằng vài lời chào hỏi với chất giọng trầm nhưng rất , và rồi tôi gieo mình xuống ghế, rất hài lòng vì nhận lời mời của John. Mary Cavendish rót cho tôi tách trà và vài lời nhận xét nghiêm túc mà bà đưa ra củng cố thêm trong suy nghĩ của tôi rằng bà là phụ nữ hoàn toàn khả ái. luôn luôn đáng khích lệ khi được người chăm chú nghe mình, và tôi tự hào tả lại vài biến cố trong thời gian dưỡng bệnh ở nhà an dưỡng với cao hứng đầy tính khôi hài khiến cho bà rất thích thú. Bởi vì John, mặc dù là người đàn ông tuyệt vời, vẫn thể tự hào là người chuyện có duyên.
      Vừa lúc đó, giọng mà tôi nhớ rất , vọng qua tai chúng tôi qua khung cửa để mở gần nhất.
      - Thế nào, Alfred, viết cho bà công chúa sau bữa trà chứ? Em đích thân viết cho phu nhân Tadminster để cầu bà ta chủ tọa ngày bán thứ hai. Hay tốt hơn nên đợi bà công chúa trả lời ? Nếu bà này từ chối, phu nhận Tadminster có thể chủ tọa ngày thứ nhất, và bà Crosbie ngày thứ hai. Và cũng phải viết cho bà công tước về vấn đề buổi lễ của nhà trường nữa.
      Chúng tôi nghe thấy tiếng thầm của người đàn ông và giọng bà Inglethorp đáp lại:
      - Vâng, tất nhiên rồi. rất tiện, sau bữa trà. nghĩ đến mọi việc, Alfred thân ạ.
      Cánh cửa mở ra thêm chút và phụ nữ luống tuổi, rất quý phái và còn khá đẹp, với những nét độc đoán, bước ra tiến về phía bãi cỏ. người đàn ông theo sau, hơi khúm núm.
      Bà Inglethorp đón tiếp tôi cách nồng nhiệt.
      - Ồ, ông Hasting! Tôi rất vui mừng được gặp lại ông sau bao nhiêu năm. Alfred thân , đây là ông Hasting. Còn đây là chồng tôi.
      Tôi nhìn “Alfred thân ” với chút tò mò. ta quả là nhân tố khá lạc lõng trong môi trường này. Tôi lấy làm lạ là tại sao John lại ghét bộ râu của ta. Đó là bộ râu dài nhất và đen nhất mà tôi từng thấy. ta đeo chiếc kính kẹp mũi bằng vàng và nét mặt ta trông thản nhiên cách lạ lùng. Tôi tự nhủ có lẽ ta rất tự nhiên sân khấu, nhưng lại thích hợp cách kỳ lạ đối với cuộc sống hàng ngày. Giọng ta khá trầm và cảm động. ta đặt bàn tay bất động trong tay tôi và :
      - Rất hân hạnh được biết ông, ông Hasting.
      Rồi quay sang vợ:
      - Em Emily thân , e rằng chiếc gối này hơi ẩm ướt đấy.
      Bà nhìn chồng tình tứ trong khi ta thay chiếc gối dựa khác với tất cả ân cần và âu yếm. Quả là hài lòng kỳ quặc ở phụ nữ biết điều về biết bao mặt khác.
      Cùng với diện của Alfred Inglethorp, cảm giác gượng ép và đầy ác cảm kín đáo dường như xâm chiếm mọi người. Nhất là Howard, hề tìm cách giấu diếm tình cảm của mình. Tuy vậy bà Inglethorp dường như chả nhận thấy điều gì bất thường cả. Bà vẫn giữ được vẻ liếng thoắng mà tôi nhớ mãi mặc dù bao năm qua, và bà tuôn ra hàng tràng lời lẽ về buổi hội chợ do bà tổ chức sắp tới đây. Thỉnh thoảng bà lại hỏi chồng về ngày tháng nào đó. Thái độ chăm chú và chu đáo của này vẫn thay đổi. Ngay từ đầu, tôi có ác cảm lớn đối với ta, và tôi tự hào rắng những cảm tưởng ban đầu của mình thường khá sáng suốt.
      Chẳng mấy chốc, bà Inglethorp quay sang Evie để căn dặn về các bức thư và chồng bà lại với tôi bằng giọng chăm chút:
      - Ông Hasting, ông có phải là nhà binh chuyên nghiệp ?
      - . Trước chiến tranh tôi làm việc ở Lloyds.
      - Ông quay lại đó khi chiến tranh kết thúc chứ?
      - Có lẽ như vậy. Hoặc có thể tôi bắt đầu ở lĩnh vực khác.
      Mary Cavendish chồm ra phía trước:
      - Ông chọn nghề gì nếu ông được tự do làm theo ý thích của mình?
      - Điều đó cũng còn tùy.
      - Ông có những ý muốn thầm kín sao? - Bà thêm.
      - Bà cười tôi cho mà xem.
      Bà mỉm cười:
      - Có thể lắm.
      - Thế này nhé, tôi vẫn luôn có ước mơ thầm kín được làm thám tử đấy.
      - Thế ư? Scotland Yard phải ? Hay Sherlock Holmes?
      - Ồ, tất nhiên là Sherlock Holmes rồi. Nhưng, nghiêm túc mà , tôi bị cuốn hút ghê gớm bởi lãnh vực đó. hôm ở Bỉ, tôi gặp nhà thám tử rất nổi tiếng mà tôi rất thích. Đó là người đàn ông nhắn nhưng rất đáng kính ngạc. Ông ta cho rằng, để trở thành thám tử giỏi, chỉ đơn giản cần phải có phương pháp thôi. Cách thức của tôi cũng dựa cách của ông ta, mặc dù tất nhiên là tôi có xa hơn. Đó là người đàn ông kỳ quặc, rất trau chuốt, nhưng lại giỏi cách tuyệt vời.
      - Tôi cũng rất thích câu chuyện trinh thám hay - Howard - nhưng người ta chỉ viết toàn những điều bậy bạ. Thủ phạm chỉ được phát vào chương cuối cùng mà thôi. Mọi người đều kinh ngạc. Còn trong vụ án , người ta đoán được ngay ai là thủ phạm.
      - Tuy nhiên có khá nhiều vụ án bao giờ được đưa ra ánh sáng - tôi nhấn mạnh.
      - Bởi cảnh sát tôi làm gì… Nhưng còn những người có liên can trong vụ án… Những người bà con…Tôi cho rằng thể nào bịp được họ.
      - Thế nghĩa là - tôi , khá thích thú - cho rằng nếu như dính líu vào vụ án, vụ giết người chẳng hạn, biết được ngay ai là thủ phạm chứ gì?
      - Tất nhiên rồi! Có thể tôi thể chứng minh được điều đó với các luật sư, nhưng tôi tin chắc rằng tôi biết được. Tôi cảm nhận được điều đó ngay, nếu như đến gần tôi.
      - Có thể thủ phạm là phụ nữ chứ.
      - Vâng. Nhưng giết người là hành vi thô bạo. Đó thường là hành động của người đàn ông hơn.
      - Nhưng trong trường hợp vụ đầu độc lại khác - Giọng trong trẻo của Mary Cavendish khiến tôi giật mình - Bác sĩ Bauerstein hôm qua bảo với tôi rằng, nhờ vào hiểu biết của các bác sĩ về các loại độc dược tinh vi, rất có thể có nhiều trường hợp đầu độc mà hề bị nghi ngờ gì cả.
      - Ồ! Mary, quả là những lời gở! - Bà Inglethorp kêu lên - Tôi tưởng chừng như nghe thấy tiếng ai đó nấm mồ của mình. À, Cynthia đây rồi.
      thiếu nữ trong bộ đồng phục của đội phụ tá tình nguyện băng ngang qua bãi cỏ.
      - Cynthia này, hôm nay về trễ đấy. Đây là ông Hasting. Murdoch.
      Cynthia Murdoch là thiếu nữ rất tươi, đầy sức sống và sinh lực. cởi bỏ chiếc nón và tôi có thể ngắm nhìn những lọn tóc hung, bàn tay nhắn và trắng muốt mà chìa ra để xin tách trà. Với đôi mắt và cặp lông mày sẫm màu, có lẽ thân của sắc đẹp. gieo mình xuống đất, gần John và tươi cười với tôi khi tôi trao cho đĩa bánh săng-uých.
      - Ông hãy ngồi xuống thảm cỏ đây này. thoải mái hơn.
      Nghe theo lời , tôi ngồi xuống bên cạnh.
      - làm việc ở Tadminster phải , Murdoch?
      gật đầu.
      - Vâng, vì những tội lỗi của mình.
      - Bộ người ta làm khổ lắm sao? - Tôi hỏi thế để trêu ghẹo .
      - Đừng hòng! - Cynthia kiêu hãnh kêu lên.
      - Tôi có người em họ làm y tá - tôi nhận xét - ta bị bà y tá trưởng làm cho khiếp vía.
      - Tôi lấy làm lạ đâu. Nếu ông được biết họ ra sao, ông Hasting ạ. Ông thể nào tưởng tượng được đâu. Nhưng, lạy Chúa, tôi phải là y tá; tôi làm việc trong bịnh xá.
      - Và đầu độc bao nhiêu người rồi? - Tôi tươi cười hỏi.
      - Ồ! Hàng trăm…
      - Cynthia! - Bà Inglethorp gọi - có thể viết hộ tôi mấy bức thư ?
      - Rất sẵn sàng, dì Emily ạ.
      vụt đứng dậy, và điều gì đó trong cách cư xử của nhắc tôi nhớ rằng vị trí thấp trong nhà bà Inglethorp, và bà này, dù có tốt đến đâu nữa cuối cùng cũng cho phép quên điều đó.
      Bà chủ nhà quay sang tôi:
      - John chỉ phòng cho ông. Chúng ta ăn tối lúc mười chín giờ ba mươi. Cách đây ít lâu, chúng ta bỏ việc ăn tối trễ hơn thế. Phu nhân Tadminster, vợ của vị đại diện của chúng ta tại Hạ viện (bà này là con của ngài cố nghị viện Abootsbury) cũng làm như vậy. Bà ấy cũng đồng quan điểm với tôi, chúng ta cần làm gương trong việc tiết kiệm. Quả là chúng ta sống trong thời chiến. Ở đây có gì bị bỏ phí cả: mỗi mẩu giấy đều được cẩn thận nhặt lại và sử dụng.
      Tôi bày tỏ ngưỡng mộ của mình trước cách tổ chức hoàn hảo đến như vậy. John dẫn tôi đến tận nhà, ở đó chúng tôi leo lên cầu thang lớn, giữa chừng chia làm hai nhánh đưa đến hai cánh khác nhau bên trái và bên phải của ngôi nhà. Căn phòng của tôi nằm bên cánh trái và trông ra khu vườn.
      John rời tôi và, ít phút sau, tôi trông thấy ta chậm rãi băng ngang thảm cỏ, vai sánh vai cùng với Cynthia Murdoch. Tôi nghe bà Inglethorp nóng nảy gọi “Cynthia!” và thấy thiếu nữ giật mình chạy vào nhà. Cùng lúc đó, người đàn ông xuất từ bóng mát của cái cây và cũng từ từ tiến về ngôi nhà. Trông ta khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt đăm đăm và nhẵn nhụi đượm đầy vẻ u sầu. Khi ngang qua chỗ tôi, liếc nhìn lên cửa sổ phòng tôi và tôi liền nhận ra , mặc dù thay đổi nhiều trong vòng mười lăm năm nay, kể từ buổi gặp trước đó của chúng tôi. Đó là cậu em kế của John, Laurence Cavendish. Tôi tự hỏi điều gì có thể tạo nên sắc mặt đỏ của .
      Rồi tôi nghĩ đến chuyện đó nữa và trở lại với những suy nghĩ của riêng mình.
      Buổi tối trôi qua khá dễ chịu và đêm hôm đó tôi mơ thấy người đàn bà lạ lùng đó - Mary Cavendish.
      Buổi sáng hôm sau, trời trong và nắng, tôi tự nhủ rằng được hưởng những ngày nghỉ tuyệt vời. Tôi chỉ gặp bà Cavendish vào giờ ăn trưa. Sau đó bà rủ tôi dạo và chúng tôi lang thang trong rừng suốt buổi chiều. Chúng tôi quay về vào khoảng lúc mười bảy giờ. Bước vào tiền sảnh, John ra dấu cho chúng tôi theo vào phòng hút thuốc. Tôi thấy ngay qua nét mặt của biến cố hay gì đó xảy ra. Chúng tôi bước theo vào phòng và đóng cửa lại sau lưng chúng tôi.
      - Mary này, quả là chuyện hay. Evie vừa cãi nhau với Alfred Inglethorp xong, và ta định bỏ .
      - Evie?
      John gật đầu buồn rầu.
      - Phải. ta đến gặp mẹ và… đích thân Evie đây rồi.
      Howard bước vào, tay cầm chiếc va-li. Trông ta xúc động nhưng rất cương quyết và hơi thủ thế.
      - Dù sao nữa - kêu lên - tôi cũng với bà ấy cách nghĩ của mình.
      - Evie thân mến - bà Cavendish - thể như thế được. thể bỏ chúng tôi đâu cả.
      Howard gật đầu.
      - Hoàn toàn đấy. Tôi e rằng mình với Emily vài điều mà bà ấy thể nào quên hoặc tha thứ được trong khoảng thời gian dài. càng tốt nếu như điều đó khiến bà ta phải suy nghĩ lại. Nhưng có lẽ chỉ như nước đổ đầu vịt đối với bà ấy thôi. Tôi bảo thẳng thừng với bà ta: “Emily ạ, bà là phụ nữ luống tuổi, và có gì ngu ngốc hơn là bà già ngốc nghếch. Người đàn ông đó thua bà đến hai mươi tuổi. Đừng tìm hiểu tại sao cưới bà. Vì tiền của bà đấy. Ông nông dân Raikes có bà vợ khá xinh đẹp. Hãy hỏi chàng Alfred của bà xem ta ở chỗ họ trong bao lâu?” Bà ta tức điên lên. Tự nhiên thôi. Tôi lại bảo: “Tôi cần phải lưu ý bà, dù cho bà có thích hay nữa. Người đàn ông đó thích giết bà ngay giường hơn là nhìn thấy bà nằm ở đó. tên vô lại. Bà có thể gì với tôi cũng được hết. Nhưng đừng quên rằng tôi báo trước cho bà rồi đấy. tên vô lại”.
      - Thế bà ấy bảo sao?
      Howard nhăn mặt cách đầy ý nghĩa:
      - Rằng “Alfred quý ấy… và Alfred cưng ấy… những lời vu khống bỉ ổi… những lời bịa đặt khủng khiếp… quả là người vợ xấu mới buộc tội chồng quý của mình như vậy…” Tôi càng rời căn nhà sớm chừng nào càng tốt cho tôi chừng ấy. Do đó, tôi đây.
      - Nhưng phải ngay lập tức chứ?
      - Ngay bây giờ.
      Chúng tôi đứng đó nhìn ta chăm bẵm lúc. Cuối cùng, thấy những lý lẽ của mình làm được gì cả, John Cavendish xem bảng chỉ dẫn về các tuyến đường xe lửa. Vợ bước theo sau, vừa bảo rằng bà thử tìm cách làm cho bà Inglethorp đổi ý. Khi bà bước ra khỏi phòng, gương mặt Howard thay đổi ngay. nghiêng người về phía tôi.
      - Ông Hasting, trông ông lương thiện. Tôi có thể tin ở ông ?
      Tôi hơi ngơ ngác. đặt bàn tay mình lên cánh tay tôi và giọng của chỉ còn là tiếng thầm:
      - Hãy trông chừng bà ấy, ông Hasting ạ. Cái bà Emily đáng thương của tôi. Tất cả bọn họ đều là cá mập cả. Ồ, tôi biết mình gì chứ? người nào trong bọn họ mà lại túng thiếu và tìm cách moi tiền của bà ấy cả. Tôi che chở cho bà ấy bằng tất cả sức mình. Nhưng bây giờ, khi tôi còn ở đây nữa, họ bòn rút tiền của bà ấy cho mà xem.
      - Tất nhiên, Howard ạ - tôi - có thể trông cậy ở tôi để làm hết sức mình. Nhưng tôi cho rằng hơi mệt và hơi quan trọng hóa vấn đề này.
      lúc lắc ngón tay trỏ để ngắt lời tôi.
      - Hãy tin ở lời tôi , ông bạn trẻ ạ. Tôi sống trong thế giới này lâu hơn ông chút. Tất cả những gì tôi đòi hỏi ở ông là hãy mở to mắt ra. Ông hiểu tôi muốn gì.
      Tiếng máy xe hơi nổ vọng lên qua khung cửa sổ để mở. Howard đứng lên và tiến về phía cửa. Giọng của John vang lên bên ngoài. Tay đặt nắm cửa, ta quay sang ra dấu cho tôi.
      - Và nhất là, ông Hasting ạ, hãy canh chừng con quỷ ấy, chồng bà ấy.
      ta giờ để gì thêm nữa.
      Howard bị chìm ngập trong những tiếng chúc tụng và lời từ biệt. Ông bà Inglethorp ló mặt ra.
      Trong khi chiếc xe rời xa, bà Cavendish bỗng tách khỏi nhóm và băng qua thảm cỏ để ra đón người đàn ông cao lớn để râu, tiến về phía căn nhà. Bà hơi đỏ mặt khi đưa tay cho ông ta bắt.
      - Ai đấy? - Tôi bỗng hỏi, vì bất giác tôi đâm ra nghi ngờ người đàn ông đó.
      - Đó là bác sĩ Bauerstein! - John trả lời cộc lốc.
      - Ông ta là ai thế?
      - Ông ta nghỉ an dưỡng trong làng sau cơn suy nhược thần kinh nặng. Đó là bác sĩ chuyện khoa ở London, trong những nhà chuyên môn về độc dược học của thời đại chúng ta.
      - Và là người bạn thân của Mary - Cynthia mạnh dạn thêm.
      John Cavendish nhíu mày và vội đổi đề tài.
      - Hãy dạo vòng, Hastings ạ. là rắc rối. Evelyn Howard luôn luôn tỏ ra rất nóng tính nhưng có người bạn nào đáng tin hơn ấy.
      Chúng tôi xuống đến làng bằng cách băng qua những khu rừng bao quanh phía của khu đất.
      Lúc quay về, khi vượt qua trong những cửa rào, chúng tôi gặp phụ nữ rất đẹp thuộc tuýp di-gan, đến từ phía đối diện chúng tôi và tươi cười chào chúng tôi.
      - phụ nữ đẹp! - Tôi nhận xét.
      Khuôn mặt John đanh lại.
      - Đó là bà Raikes.
      - Người mà Howard…?
      - Đúng vậy! - John đáp cộc lốc.
      Tôi nghĩ đến người phụ nữ luống tuổi, tóc bạc trắng, trong căn nhà rộng lớn, đến khuôn mặt nhắn và sáng sủa tươi cười với chúng tôi, và cái rùng mình khiến tôi ớn lạnh bất ngờ, như linh tính mà tôi vội gạt ngay .
      - Styles quả là nơi tuyệt vời - Tôi với John.
      gật đầu với vẻ u buồn.
      - Phải, đó là lãnh địa đẹp. ngày nào đó nó thuộc về tôi, lẽ ra ngay bây giờ nó phải thuộc về tôi, nếu như cha tôi để lại tờ di chúc hợp lý. Và như thế tôi bị túng quẫn đến như vậy.
      - túng lắm ư?
      - Hasting thân mến ạ, tôi có thể thú nhận với cậu, tôi biết xoay sở ra sao để có tiền nữa.
      - Cậu em của giúp được gì cho sao?
      - Laurence ư? Nó ngốn hết những gì nó có để cho xuất bản những bài thơ đáng thương của mình ở những nhà xuất bản thuộc loại có tiếng. , chúng tôi đều sạch túi. Nhưng tôi phải thừa nhận, mẹ tôi luôn luôn tỏ ra rộng lượng đối với chúng tôi, ít nhất là cho đến bây giờ… Tất nhiên, sau đám cưới của bà…
      ngưng bặt và nhíu mày.
      Lần đầu tiên, tôi có cảm giác rằng ra của Evelyn Howard làm thay đổi bầu khí. có mặt của ta đồng nghĩa với an toàn. Bây giờ, an toàn đó mất khí bị nhuốm đầy ngờ vực. Tôi nghĩ đến khuôn mặt nham hiểm của bác sĩ Bauerstein và, bất giác, tôi linh cảm tai họa sắp giáng xuống.

    5. piipp

      piipp Well-Known Member

      Bài viết:
      1,619
      Được thích:
      565
      CHƯƠNG II: NGÀY MƯỜI SÁU VÀ MƯỜI BẢY THÁNG BẢY

      Tôi đến Styles vào ngày mùng năm tháng bảy. Bây giờ tôi viết đến những biến cố của những ngày mười sáu và mười bảy cùng tháng. Để tiện cho bạn đọc, tôi kể lại những việc trong hai ngày đó với chính xác lớn nhất có thể có được. Sau này, chúng được xác lập lại tại phiên tòa, nhờ vào những cuộc hỏi cung dài và đáng chán.
      Hai ngày sau khi ra , tôi nhận được thư của Evelyn Howard, cho biết xin vào làm y tá tại bệnh viện Midlingham, thành phố công nghiệp lớn cách Styles hai mươi cây số. tha thiết mong tôi báo cho biết ngay khi bà Inglethorp tỏ vẻ muốn có cuộc giảng hòa.
      Chỉ có điều phật ý đến khuấy động yên tĩnh của tôi thôi. Tội buộc lòng phải nhận thấy ý thích quái gở mà về phần tôi, tôi tài nào hiểu nổi, dường như bà Cavendish có đối với quan hệ giữa bà và bác sĩ Bauerstein. Tôi làm sao hình dung được điều gì ở ông ta lại khiến bà ấy bị lôi cuốn, nhưng bà ngừng mời ông ta đến nhà chơi và thường dạo rất lâu cùng ông ta.
      Ngày mười sáu tháng bảy là ngày thứ hai. ngày đầy rắc rối. Buổi hội chợ nổi tiếng diễn ra hôm thứ bảy và vào tối hôm mười sáu, người ta tổ chức buổi lễ mà trong đó bà Inglethorp phải đọc bài thơ về chiến tranh. Chúng tôi đều rất bận rộn trong buổi sáng để trang trí căn phòng nơi diễn ra buổi lễ. Chúng tôi ăn trưa muộn và bỏ cả buổi chiều để nghỉ ngơi trong khu vườn. Tôi nhận thấy thái độ của John hơi kỳ quặc. có vẻ nóng nảy. Sau bữa trà, bà Inglethorp nghỉ chút trước khi đương đầu với những mệt nhọc của buổi tối, còn tôi rủ Mary Cavendish làm ván quần vợt.
      Khoảng mười chín giờ kém mười lăm, bà Inglethorp cho gọi chúng tôi để báo rằng chúng tôi muộn mất thôi vì bữa tối được dọn lên sớm hơn thường lệ. Chúng tôi phải vội vã để kịp bữa ăn và xe hơi đợi chúng tôi ngoài cửa ngay trước khi bữa ăn chấm dứt.
      Buổi lễ thành công lớn. Buổi ngâm thơ của bà Inglethorp được vỗ tay nồng nhiệt. Còn có cả vài hoạt cảnh với tham gia của Cynthia nữa. ấy trở về cùng với chúng tôi vì được mời ở lại ăn cơm và ngủ đêm tại nhà những người bạn cùng tham dự vào các hoạt cảnh.
      Sáng hôm sau, bà Inglethorp, hơi mệt mỏi, dùng điểm tâm giường. Nhưng đến mười hai giờ ba mươi tỏ ra rất nhanh nhẹn và dẫn Laurence cùng tôi đến ăn trưa tại nhà hàng xóm.
      - Tôi nhận được lời mời dễ thương của bà Rolleston. Bà ta là chị của phu nhân Tadminster, ông biết đấy. Gia đình Rolleston đến đây cùng với gia đình Le Conquérant… trong những dòng họ lâu đời nhất của chúng ta.
      Mary cáo từ, viện cớ có cái hẹn với bác sĩ Bauerstein.
      Bữa trưa diễn ra rất thoải mái, và khi chúng tôi trở về bằng xe hơi, Laurence đề nghị ghé thăm Cynthia ở bịnh xá. Bà Inglethorp bảo rằng đó là ý kiến hay, nhưng vì còn nhiều thư từ để viết, bà thả chúng tôi xuống đó. Chúng tôi có thể về cùng với Cynthia bằng xe kéo.
      Chúng tôi bị người gác cổng bịnh xá chặn lại và giữ cho đến lúc Cynthia ra bảo lãnh cho chúng tôi vào. ta trông rất đẹp và rất tươi trong chiếc áo bờ-lu dài và trắng. mời chúng tôi bước vào phòng làm việc và giới thiệu chúng tôi với bạn đồng nghiệp, thiếu nữ có vẻ khá dữ dằn tên là Nibs.
      - Biết bao nhiêu là chai lọ! - Tôi kêu lên trong khi nhìn quanh căn phòng - có biết những gì chứa trong các chai đó ?
      - Ồ! Hãy tỏ ra độc đáo hơn. - Cynthia thở dài - Mỗi người vào đây đều tuôn ra câu đó. Chúng tôi đến phải suy nghĩ cách nghiêm túc để trao tặng phần thưởng cho người đầu tiên : “… biết bao nhiêu là chai lọ…”. Và tôi cũng biết các ông tiếp là: “ đầu độc bao nhiêu người rồi?”.
      Tôi mỉm cười thú nhận tội lỗi của mình.
      - Nếu như ông biết rằng việc đầu độc người nào đó do bất cẩn dễ đến chừng nào ông cười nổi đâu. Nào, hãy dùng tách trà . Chúng tôi có cả đống thực phẩm dự trữ bí mật trong chiếc tủ này đây. , Laurence ạ, đó là tủ đựng độc dược… Cái tủ lớn kìa. Phải, cái đó đấy.
      Bữa chiều trôi qua rất vui vẻ và sau đó chúng tôi phụ Cynthia rửa dọn. Chúng tôi vừa cất chiếc muỗng cuối cùng có tiếng gõ cửa. Khuôn mặt của Cynthia và Nibs bỗng lộ vẻ nghiêm nghị.
      - Mời vào - Cynthia với giọng quan chức.
      y tá trẻ, khá nhút nhát, ra, tay cầm cái chai mà ta trao cho Nibs, này phác cử chỉ trao lại cho Cynthia vừa nhận xét cách khó hiểu:
      - Tôi trực nhật ở đây hôm nay.
      Cynthia cầm lấy cái chai và quan sát với vẻ nghiêm khắc của quan tòa.
      - Lẽ ra phải đem nó đến cho tôi hồi sáng nay.
      - Bà y tá trưởng quên mất. Bà ta rất lấy làm tiếc.
      - Và bây giờ tôi thể pha chế lọ thuốc này trước sáng ngày mai được.
      - thể làm cho chúng tôi ngay chiều nay sao?
      - Thế này nhé - Cynthia duyên dáng bảo - chúng tôi rất bận, nhưng tôi cố hết sức để pha thuốc.
      y tá cáo lui còn Cynthia lấy lọ thuốc chiếc kệ rót đầy chai và đặt lên chiếc bàn sau cánh cửa.
      Tôi mỉm cười.
      - Cần phải duy trì kỷ luật - tôi .
      - Đúng thế. Hãy bước ra bao lơn của chúng tôi. Từ đó có thể trông thấy tất cả các văn phòng phía trong.
      Tôi bước theo sau Cynthia và bạn, họ chỉ cho tôi xem những căn phòng khác nhau. Laurence ở lại trong phòng, nhưng Cynthia rủ ta nhập bọn với chúng tôi ngay. Rồi nhìn đồng hồ.
      - còn gì phải làm sao Nibs?
      - .
      - Tốt lắm. Nào, chúng ta có thể đóng cửa và về thôi.
      Trong buổi trưa này, Laurence ra khác lạ dưới mắt tôi. Tâm tính khó hiểu về mọi mặt và trái ngược hẳn với ông , nhút nhát và dè dặt. Tuy vậy, cũng có chút duyên gì đó và tôi cho rằng, nếu hiểu hơn, có thể gây nên ở người khác mến mộ sâu sắc. Tôi cho rằng trước mặt Cynthia, cảm thấy lúng túng, còn ta lại tỏ ra hơi rụt rè khi gần . Nhưng ở đây, cả hai đều rất vui vẻ và cùng chuyện như hai đứa trẻ.
      Khi chúng tôi ngang qua làng, tôi bày tỏ ý định muốn mua ít tem, và chúng tôi ngừng lại trước bưu điện.
      Ở bưu điện bước ra, tôi va phải người đàn ông nhắn vào. Tôi hơi tránh qua bên, vừa lên tiếng xin lỗi, ông ta bỗng ôm chầm lấy tôi trong tay và nồng nhiệt hôn tôi, vừa kêu lên ngạc nhiên:
      - bạn Hastings của tôi! Đúng là bạn Hastings của tôi rồi.
      - Poirot! - Tôi kêu lên.
      Và quay sang những người ngồi chiếc xe kéo sau kiểu :
      - cuộc gặp gỡ lý thú đối với tôi, Cynthia ạ. Đây là ông bạn cũ của tôi, ông Poirot, mà tôi gặp từ bao nhiêu năm rồi.
      - Ồ! Ông quen ông Poirot ư? - Cynthia vui vẻ hỏi - Tôi biết ông ấy là bạn ông.
      - Quả vậy! - Poirot nghiêm túc - Tôi có biết Cynthia đây. Sở dĩ tôi có mặt ở đây, đó là nhờ vào lòng từ thiện của bà Inglethorp tốt bụng đấy.
      Rồi, thấy tôi đưa mắt nhìn dọ hỏi, ông tiếp:
      - Phải, bạn ạ, bà ấy vui vẻ bảo trợ cho bảy người đồng hương của tôi, hỡi ôi đều là dân tỵ nạn cả. Đối với người Bỉ chúng tôi, chúng tôi luôn luôn nghĩ đến bà ấy với lòng biết ơn.
      Tôi bảo rằng Poirot là con người kỳ lạ. Mặc dù dáng người nhắn, ông có phong thái đáng kính. Đầu ông to, hình quả trứng, gần như luôn luôn hơi nghiêng về bên. Bộ râu chải chuốt, rất thẳng, tạo cho ông vẻ nhà binh. Ăn mặc rất cầu kỳ, luôn luôn bảnh bao từ đầu đến chân, tỉ mỉ cách quá đáng, tôi cho rằng hạt bụi thôi cũng có thể làm ông đau lòng như vết thương do viên đạn gây nên vậy. Tuy vậy, người đàn ông nhắn và lạ lùng ấy, với dáng điệu của người bảnh bao, xưa kia lại là trong những nhân vật nổi tiếng của cảnh sát Bỉ. Với tư cách là nhà thám tử, giác quan của ông đáng kinh ngạc, và ông thực được những kỳ công khi đem được ra trước ánh sáng những vụ việc rắc rối nhất của thế kỷ.
      Ông chỉ cho chúng tôi xem ngôi nhà mà ông ở cùng với các đồng hương của mình, và tôi hứa đến thăm ngày gần đây. Rồi ông phác cử chỉ chào Cynthia và chúng tôi tiếp tục lên đường.
      - Đó là người đàn ông khả ái - Cynthia bảo - Tôi hề nghĩ là ông quen ông ấy.
      - quen biết người lừng danh mà hề hay biết - tôi đáp.
      Và, vừa tôi vừa kể lại cho họ nghe những thành tích và chiến công của Hercule Poirot.
      Chúng tôi về đến Styles khá vui vẻ. Đúng lúc chúng tôi bước vào hành làng bà Inglethorp từ thư phòng của mình ra. Trông bà có vẻ nóng nảy, mặt đỏ bừng.
      - Ồ! Quý vị đấy ư? - Bà .
      - Có chuyện gì xảy ra vậy, dì Emily? - Cynthia hỏi.
      - đâu, chả có gì cả - bà Inglethorp vui vẻ đáp - Làm sao có chuyện gì được cơ chứ?
      Rồi, trông thấy Dorcas, người hầu phòng, tiến về phía phòng ăn, bà gọi lại và sai đem tem vào thư phòng cho mình.
      Người gia nhân già tỏ vẻ do dự lát, rồi dè dặt :
      - Bà cho rằng mình nên nằm sao? Bà có vẻ mệt đấy.
      - Có lẽ bà có lý đấy, Dorcas ạ. Nhưng chưa đâu. Tôi cần viết xong vài lá thư trước giờ bỏ thư. Bà nhóm lửa trong phòng như tôi căn dặn chưa?
      - Rồi, thưa bà.
      - Thế tôi nằm ngay sau bữa tối.
      Bà trở vào thư phòng và Cynthia nhìn theo chưng hửng.
      - Tôi tự hỏi biết xảy ra chuyện gì vậy? - với Laurence.
      ta dường như nghe thấy bởi vì, năng gì cả, quay gót và bước ra khỏi nhà.
      Tôi rủ Cynthia chơi ván quần vợt trước bữa tối và chạy lên phòng lấy chiếc vợt.
      Bà Cavendish bước xuống cầu thang. Có lẽ đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của tôi thôi, nhưng tôi dường như nhận thấy rằng bà ấy cũng có vẻ rối trí và khó ở.
      - Bà dạo với bác sĩ Bauerstein có vui ? - Tôi hỏi bằng giọng cố gắng để làm ra vẻ dửng dưng.
      - Tôi hề ra ngoài - bà sẵng giọng đáp - Bà Inglethorp đâu rồi?
      - Trong thư phòng.
      Bà dường như cứng người lại như trước cuộc đối diện khó chịu và, bước nhanh qua trước mặt tôi, bà tiếp tục xuống thang gác, bước vào thư phòng và đóng cửa lại.
      Vài phút sau, để đến sân quần vợt, tôi bắt buột phải ngang qua khung cửa sở mở toang của thư phòng, và thể nào nghe thấy mẩu đối thoại sau đây. Mary Cavendish, bằng giọng cho thấy cố gắng để tự kiềm chế, :
      - Thế nào, bà từ chối cho tôi xem ư?
      Và bà Inglethorp đáp:
      - Mary thân mến ạ, cái đó liên quan gì đến vụ này cả.
      - Thế hãy cho tôi xem nào.
      - Tôi phải như nghĩ đâu, và cũng liên quan gì đến cả.
      Còn Mary đáp cách cay đắng:
      - Được thôi, lẽ ra tôi phải biết rằng bà bao che cho ấy.

      * * *

      Cynthia đợi tôi và đón tiếp tôi bằng cách sôi nổi :
      - Này! Dường như xảy ra trận cãi vã kinh khủng đấy. Dorcas kể cho tôi nghe.
      - Dorcas cũng tham dự vào đấy ư?
      - đâu. Bà ta “vô tình” có mặt gần cánh cửa. Ồ! trận tuyệt vời. Tôi muốn biết về vấn đề gì.
      Tôi nghĩ đến gương mặt sắc sảo của bà Raikes và những lời báo trước của Evelyn Howard, nhưng tôi quyết định giữ im lặng, trong khi Cynthia nêu lên tất cả các giả thuyết có thể và mong sao cho “dì Emily đuổi cỗ tên Inglethorp và đừng bao giờ đến nữa”.
      Tôi rất muốn gặp John nhưng ta biến đâu mất. tất nhiên rồi, có biến cố nghiêm trọng nào đó xảy ra vào buổi trưa. Tôi cố quên những câu mà tôi nghe thấy, nhưng tài nào loại được chúng ra khỏi tâm trí mình. Mary Cavendish quan tâm đến điều gì trong việc ấy chứ?
      Khi xuống ăn tối, tôi thấy Inglethorp ngồi trong phòng khách, khuôn mặt dửng dưng như mọi khi, và lần nữa, vẻ lạnh lùng của người đàn ông đó khiến tôi chú ý.
      Cuối cùng bà Inglethorp cũng xuất . Bà có vẻ còn xúc động, và bữa ăn bị im lặng gượng ép làm cho nặng nề thêm. Inglethorp rất bình thản. chăm sóc vợ từng li từng tí, đặt chiếc gối sau lưng bà, đóng rất đạt vai người chồng trung thành. Bữa ăn kết thúc, bà Inglethorp lui về thư phòng ngay.
      - Mary, hãy vui lòng đem cà-phê đến cho tôi - bà - Tôi chỉ có năm phút thôi để khỏi hụt chuyến thư.
      Cynthia bước theo tôi đến ngồi gần cửa sổ phòng khách mở. Mary Cavendish đem cà-phê đến cho chúng tôi. Bà có vẻ rất bực bội.
      - Quý vị có muốn bật đèn lên ? - Bà hỏi - Hay là quý vị thích ngắm buổi chiều tà hơn? Cynthia, làm ơn đem cà-phê lên cho bà Inglethorp hộ tôi. Tôi rót sẵn đây.
      - Xin đừng bận tâm, Mary ạ. - Inglethorp bảo - Tôi tự tay đem đến cho Emily.
      Vừa , ta vừa rót cà-phê và bước ra khỏi phòng, cẩn thận cầm chiếc tách tay. Laurence theo sau còn bà Cavendish đến ngồi bên chúng tôi.
      Cả ba chúng tôi đều im lặng trong giây lát. Buổi tối tuyệt đẹp, rất nóng và yên tĩnh, bà Cavendish khẽ quạt chiếc quạt làm bằng tàu lá dừa.
      - Trời gần như quá nóng - bà - chắc chắn sắp có bão.
      đáng tiếc! Tại sao lại thể kéo dài mãi mãi những lúc như thế này? Tôi bỗng bị dứt ra khỏi giấc mơ của mình bởi giọng rất quen thuộc và tình là đáng ghét, vọng lại từ hành lang.
      - Đó là bác sĩ Bauerstein! - Cynthia kêu lên - là lạ khi đến chơi vào giờ này.
      Tôi phóng cái nhìn ghen tức về phía Mary Cavendish nhưng bà chả có vẻ gì là bối rối cả và đôi má nhợt nhạt của bà cũng chả hồng thêm lên chút nào.
      lát sau, Alfred Inglethorp đưa viên bác sĩ vào, ông này tươi cười xin lỗi và phản đối rằng ông ta quả là được dễ coi lắm. Và vậy, trông ông ta thảm hại, vì dính bùn từ đầu đến chân.
      - Ông làm sao thế này, ông bác sĩu? - Bà Cavendish kêu lên.
      - Tôi phải xin lỗi quý vị - ông bác sĩ - Tôi muốn vào chơi nhưng ông Inglethorp cứ ép mãi.
      - Bauerstein này, trông ông đẹp đấy! - John vừa bước vào lúc ấy, nhận xét - Hãy dùng cà-phê và kể cho chúng tôi nghe những cuộc phiêu lưu của ông .
      - Cám ơn, tôi rất vui lòng.
      Ông ta vừa cười vừa thuật lại là phát ra loại dương xỉ rất hiếm mọc ở nơi thể với đến được. Ông cố gắng hái và trượt chân rời xuống ao nước bên cạnh.
      - Ánh nắng nhanh chóng hong khô cho tôi - ông - nhưng tôi cho rằng tình trông tôi rất khó coi.
      Đúng lúc đó, bà Inglethorp gọi Cynthia từ hành lang và vội chạy ra.
      - Hãy đem chiếc rương đựng thư từ vào phòng cho tôi, cưng ạ, tôi nằm đây.
      Cánh cửa thông ra hành lang khá rộng. Tôi đứng lên cùng với Cynthia, và John đứng sát bên đó. Như vậy có ba nhân chứng có thể thề rằng bà Inglethorp cầm trong tay tách cà-phê còn nguyên chưa uống giọt nào.
      diện của bác sĩ Bauerstein làm cho buổi tối của tôi bị mất vui hẳn. Tôi cứ nghĩ rằng ông ta chả bao giờ ra về cả. Cuối cùng ông ta cũng đứng lên và tôi thở phào nhõm.
      - Tôi cùng ông xuống làng - ông Inglethorp bảo - vì tôi phải giải quyết số việc với người quản lý của chúng tôi.
      Quay sang John, :
      - nên chờ tôi làm gì. Tôi đem chìa khóa theo.
      Prunus Ngọcsnowbell thích bài này.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :